LÃNH THỔ MỘT NƯỚC GDP THỂ HIỆN MỨC SX ĐẠT ĐƯỢC DO TẤT CẢ ĐƠN VÒ THƯỜNG TRÚ Ở MỘT NƯỚC KHÔNG PHÂN BIỆT QUỐC TÒCH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LÃNH THỔ MỘT NƯỚC GDP THỂ HIỆN MỨC SX ĐẠT ĐƯỢC DO TẤT CẢ ĐƠN VÒ THƯỜNG TRÚ Ở MỘT NƯỚC KHÔNG PHÂN BIỆT QUỐC TÒCH":

Công thức và bài giải môn kinh tế vĩ mô

CÔNG THỨC VÀ BÀI GIẢI MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Câu 1: Phân biệt hai chỉ tiêu GDP và GNP những chỉ tiêu này được sử dụng như thế nào? Hãy tìn những số liệu GDP và GNP Việt NamTổng sản phẩm nội địa hay GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia. Sản phẩm cuối cùng (tránh tính trùng)Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là chỉ tiêu phản ánh = tiền (giá thị trường) tòan bộ sp (hh và dvụ) cuối cùng do công dân 1 nước sx ra trong 1 tkỳ I định (thường là 1 năm). GNP là tổng thu nhập mà công dân of 1 quốc gia tạo ra.GDP giống GNP chổ: đều là hàng hóa và dvụ cuối cùng, thời gian thường là một nămGDP khác với GNP chỗ: GDP được sx ra trong fạm vi lãnh thổ, GNP lòa do công dân 1 nước tạo raVí dụ: Một nhà máy sản xuất đồ ăn nhanh đặt tại Việt Nam do công dân Mỹ đầu tư để tiêu thụ nội địa. Khi đó mọi thu nhập từ nhà máy này sau khi bán hàng được tính vào GDP của Việt Nam, tuy nhiên lợi nhuận ròng thu được (sau khi khấu trừ thuế phải nộp và trích nộp các quỹ phúc lợi) cũng như lương của các công nhân Mỹ đang làm việc trong nhà máy được tính là một bộ phận trong GNP của Mỹ.Số liệu GNP và GDP Việt Nam:- GDP đạt 5,3% (năm 2009); bình quân trong 5 năm (2006-2010), tốc độ tăng GDP đạt 7,5%.- Tỷ lệ GNP/GDP năm 2000 là 98,6% nhưng đến năm 2009 chỉ còn 94,5%, có thể sẽ thấp hơn vào năm 2010 và các năm sau.Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, quý I năm nay tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta đạt7,2%, thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái (7,4%). Như vậy, để đạt tốc độ tăng trưởng 8- 8,5%trong năm nay, trong những quý còn lại, tốc độ tăng GDP phải đạt 7,8- 8,5%.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Địa Lí 11 Bài 1 – Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các nhóm nước

ĐỊA LÍ 11 BÀI 1 – SỰ TƯƠNG PHẢN VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA CÁC NHÓM NƯỚC

Địa Lí 11 Bài 1 – Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các nhóm nướcTrên thế giới, nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển đang có sự tương phản rõ rệt về trình độ kinh tế-xã hội. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thếgiới, chuyển dần nền kinh tế thế giới sang một giai đoạn phát triển mới gọi là kinh tế tri thức.I-Sự phân chia thành các nhóm nước.1. Thế giới có trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau về tự nhiên, dân cư, xã hội, trình độ phát triển kinh tế và được xếp vào hai nhóm : phát triển và đang phát triển.2. Các nước phát triển có tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (GDP/người) lớn, đầu tư ra ngước ngoài (FDI) nhiều, chỉ số phát triển con người (HDI) cao.3. Các nước đang phát triển thường có GDP/ người nhỏ, nợ nước ngoài nhiều và HDI thấp.4. Trong nhóm nước đang phát triển, một số nước và vùng lãnh thổ đã trải qua quá trình công nghiệp hóa và đạt được trình độ phát triển nhất định về công nghiệp gọi là các nước công nghiệp mới (NICs) như Hàn Quốc, Xing-ga-po, Hồng Công, Đài Loan, Bra-xin, Ác-hen-ti-na,…II-Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các nhóm nước.5. GDP có sự chênh lệch lớn giữa nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển.6. Các nhóm nước có sự khác biệt về các chỉ số xã hội.Tuổi thọ bình quân năm 2005 của các nước phát triển là 76, của các nước đang phát triển là 65 (trung bình của thế giới là 67). Tuổi thọ trung bình thấp nhất thế giới thuộc các nước Đông Phivà Tây Phi là 47.III-Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.7. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, nhân loại tiến hành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với đặc trưng là xuất hiện và bùng nổ công nghệ cao. Đây là các công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới với hàm lượng tri thức cao. Bốn công nghệ trụ cột, có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến phát triển kinh tế-xẫ hội là : công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng, công nghệ thông tin.8. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã làm xuất hiện nhiều ngành mới, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, tạo ra những bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ.9. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tác động ngày càng sâu sắc, làm cho kinh tế thế giới chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp sang một loại hình kinh tế mới, dựa trên tri thức, kỹ thuật, công nghệ cao, được gọi là nền kinh tế tri thức.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Kiến thức cơ bản Địa lý 11

KIẾN THỨC CƠ BẢN ĐỊA LÝ 11

I-Một số vấn đề tự nhiên.1. Phần lớn lãnh thổ châu Phi là cảnh quan hoang mạc, bán hoang mạc và xa-van,có khí hậu khô nóng. Đây là những khó khăn lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội củanhiều nước châu Phi.2. Khoáng sản và rừng là những tài nguyên đang bị khai thác mạnh. Rừng bị khaithác quá mức để lấy chất đốt và mở rộng diện tích đất canh tác dẫn đến sự hoang hóa đấtđai của nhiều khu vực, nhất là ven các hoang mạc, bán hoang mạc. Việc khai thác khoángsản mang lại lợi nhuận cao cho nhiều công ty tư bản nước ngoài đã làm cho nguồn tàinguyên này bị cạn kiệt và môi trường bị tàn phá.3. Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và áp dụng các biện phápthủy lợi nhằm hạn chế khô hạn là những giải pháp cấp bách đối với đa số quốc gia châuPhi.II-Một số vấn đề về dân cư và xã hội.4. Dân số châu Phi tăng rất nhanh. Tuổi thọ trung bình của người dân châu Phi rấtthấp, chỉ đạt 52 năm, trong khi cả thế giới là 67 năm.5. Dân số châu Phi chiếm 14% dân số thế giới nhưng hơn 2/3 tổng số người nhiễmHIV tập trung châu lục này.6. Các cuộc xung đột tại Bờ Biển Ngà, Công-gô, Xu-đăng … đã cướp đi sinh mạngcủa hàng triệu người.7. Trình độ dân trí thấp, nhiều hủ tục chưa được xóa bỏ, xung đột sắc tộc, đóinghèo, bệnh tật đe dọa cuộc sống của hàng trăm triệu người châu Phi, là những tháh thứclớn đối với châu lục này.8. Các nước nghèo châu Phi đang nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức quốctế như Tổ chức y tế, giáo dục, lương thực của Liên Hợp Quốc, qua các dự án chống đóinghèo, bệnh tật. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã gữi chuyên gia sang giảng dạyvà tư vấn kỹ thuật cho một số nước châu Phi.III-Một số vấn đề kinh tế.9. Nền kinh tế của châu Phi đang phát triển theo chiều hướng tích cực, tỉ lệ tăngtrưởng GDP tương đối cao trong thập niên vừa qua.10. Có nguồn tài nguyên phong phú, song đa số các nước châu Phi là những nước
Xem thêm

40 Đọc thêm

dề thi học kì 1 k10

DỀ THI HỌC KÌ 1 K10

đất nước …, cũng hạn chế nhiều đến sự phát triển của châu Phi.Một số vấn đề của châu lục và khu vựcMột số vấn đề của Mỹ La tinhCách đây trên 200 năm, những người dân nhập cư (chủ yếu đến từ Nam Âu) dã tiến hành đấu tranh để tách các quốc gia Trung và Nam Mỹ khỏi các nước chính quốc và tuyên bố độc lập. Đó là điều kiện thuận lợi để các nước khu vực này phát triển kinh tế-xã hội. Song nền kinh tế của hầu hết các nước Mỹ La tinh vẫn đang phụ thuộc vào nước ngoài, đời sống của người dân lao động ít được cải thiện, chênh lệch giàu nghèo của các nhóm dân cư quá lớn đang là những khó khăn mà khu vực này tiếp tục phải giải quyết.I-Một số vấn đề tự nhiên, dân cư và xã hội.1. Mỹ La tinh có nhiều tài nguyên khoáng sản, chủ yếu là quặng kim loại màu, kim loại quý và nhiên liệu. Tài nguyên đất, khí hậu thuận lợi cho phát triển rừng, chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả nhiệt đới. Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn tài nguyên giàu có trên chưa mang lại nhiều lợi ích cho đại bộ phận dân cư Mỹ La tinh.2. Tình trạng đói nghèo của dân cư và mức độ chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu với người nghèo diễn ra hầu hết các nước Mỹ La tinh. Cho tới đầu thế kỷ XXI, số dân sống dưới mức nghèo khổ của Mỹ La tinh còn khá đông, dao động từ 37% đến 62%. Các cuộc cải cách ruộng đất không triệt để đã tạo điều kiện cho chủ trang trại chiếm giữ phần lớn đất canh tác. Dân nghèo không có ruộng kéo ra thành phố tìm việc làm, dẫn đến hiện tượng đô thị hóa tự phát. Dân cư đô thị Mỹ La tinh chiếm tới 75% dân số và 1/3 trong số đó sống trong điều kiện khó khăn.3. Tình trạng trên ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết các vấn đề xã hội và tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia Mỹ La tinh.II-Một số vấn đề về kinh tế. 4. Đa số các nước Mỹ La tinh có tốc độ phát triển kinh tế không đều. 4.1 Tình hình chính trị không ổn định đã tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế và các nhà đầu tư. Nguồn đầu tư từ nước ngoài vào khu vực này giảm mạnh. Cuối thập niên 90, FDI vào Mỹ La tinh đạt 70-80 tỉ USD/năm, đến năm 2003 xuống còn 31 tỉ USD, năm 2004 tăng lên được 40 tỉ USD. 4.2 Trên 50% nguồn đầu tư đến từ Hoa Kỳ và Tây Ban Nha, còn lại là từ một
Xem thêm

39 Đọc thêm

Nguyên tắc kết hợp giữa quản lí ngành với quản lý lãnh thổ

NGUYÊN TẮC KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÍ NGÀNH VỚI QUẢN LÝ LÃNH THỔ

quốc gia.- Quản lý, kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia trên địa bàn lãnh thổ.- Quản lý, kiểm soát việc xử lí chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn lãnh thổ.3. Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.3.1 Khái niệmNguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa quảnlý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế. Cả hai chiều quản lý đều phải có tráchnhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ. Sự kết hợp này sẽ tránh được tưtưởng bản vị của bộ, ngành, trung ương và tư tưởng cục bộ địa phương của chính quyền địa phương. Theo đó, Bộchỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế do mình thành lập và Ủy ban nhân dân địa phương chỉ quan tâmđến lợi ích của các đơn vị kinh tế của địa phương. Từ đó, dẫn đến tình trạng tranh chấp, không có sự liên kết giữacác đơn vị kinh tế trên cùng một địa bàn lãnh thổ, do đó hiệu quả thấp.3.2 Nội dung kết hợpSự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau:- Thực hiện quản lý đồng thời cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Có nghĩa là,các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ) đồng thời nó cũng phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chínhquyền địa phương trong một số nội dung theo chế độ quy định.- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, không trùnglặp, không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.- Các cơ quan quản lý nhà nước theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theo thẩmquyền của mình trên cơ sở đồng quản hiệp quản, tham quản với cơ quan nhà nước thuộc chiều kia, theo quy địnhcụ thể của Nhà nước. Đồng quản là cùng có quyền và cùng nhau ra quyết định quản lý theo thể thức liên tịch.Hiệp quản là cùng nhau ra quyết định quản lý theo thẩm quyền, theo vấn đề thuộc tuyến của mình nhưng có sựthương lượng, trao đổi, bàn bạc để hai loại quyết định của mỗi bên tương đắc với nhau. Tham quản là việc quảnlý , ra quyết định của mỗi bên phải trên cơ sở được lấy ý kiến của bên kia.3.3 Sự cần thiết phải kết hợp quản lí theo nghành với lãnh thổNhằm đảm bảo cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ trong nền kinh tế quốc dân. Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế -kĩ thuật nằm trên các địa bàn lãnh thổ khác nhau cũng đều chịu sự quản lí nhà nước theo ngành của các bộ (trungương) và của các cơ sở chuyên môn ( địa phương). Trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của luật pháp,quản lí theo ngành bảo đảm cơ cấu ngành phát triển hợp lí trong phạm vi cả nước và có hiệu quả nhất. Các đơn vị
Xem thêm

5 Đọc thêm

Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các nhóm nước ppt

SỰ TƯƠNG PHẢN VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA CÁC NHÓM NƯỚC PPT

quý và nhiên liệu. Tài nguyên đất, khí hậu thuận lợi cho phát triển rừng, chăn nuôi đại gia súc,trồng cây công nghiệp và cây ăn quả nhiệt đới. Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn tài nguyêngiàu có trên chưa mang lại nhiều lợi ích cho đại bộ phận dân cư Mỹ La tinh.2. Tình trạng đói nghèo của dân cư và mức độ chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa ngườigiàu với người nghèo diễn ra hầu hết các nước Mỹ La tinh. Cho tới đầu thế kỷ XXI, số dânsống dưới mức nghèo khổ của Mỹ La tinh còn khá đông, dao động từ 37% đến 62%. Các cuộccải cách ruộng đất không triệt để đã tạo điều kiện cho chủ trang trại chiếm giữ phần lớn đất canhtác. Dân nghèo không có ruộng kéo ra thành phố tìm việc làm, dẫn đến hiện tượng đô thị hóa tựphát. Dân cư đô thị Mỹ La tinh chiếm tới 75% dân số và 1/3 trong số đó sống trong điều kiện khókhăn.3. Tình trạng trên ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết các vấn đề xã hội và tác động tiêucực đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia Mỹ La tinh.II-Một số vấn đề về kinh tế. 4. Đa số các nước Mỹ La tinh có tốc độ phát triển kinh tế không đều. 4.1 Tình hình chính trị không ổn định đã tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế vàcác nhà đầu tư. Nguồn đầu tư từ nước ngoài vào khu vực này giảm mạnh. Cuối thập niên 90, FDIvào Mỹ La tinh đạt 70-80 tỉ USD/năm, đến năm 2003 xuống còn 31 tỉ USD, năm 2004 tăng lênđược 40 tỉ USD. 4.2 Trên 50% nguồn đầu tư đến từ Hoa Kỳ và Tây Ban Nha, còn lại là từ một sốnước phát triển khác. 5. Giành độc lập sớm nhưng các nước Mỹ La tinh đã duy trì cơ cấu xã hội phong kiếntrong thời gian dài, các thế lực bảo thủ của Thiên Chúa giáo tiếp tục cản trở sự phát triển xã hội.Chưa xây dựng được đường lối phát triển kinh tế-xã hội độc lập, tự chủ, nên nền kinh tế các nướcMỹ La tinh phát triển chậm, thiếu ổn định, phụ thuộc vào tư bản nước ngoài, nhất là Hoa Kỳ. 6. Những năm gần đây, nhiều quốc gia Mỹ La tinh đã tập trung củng cố bộ máy nhà nước,phát triển giáo dục, cải cách kinh tế, quốc hữu hóa một số ngành kinh tế, thực hiện công nghiệphóa đất nước, tăng cường và mở rộng buôn bán vi nước ngoài. 6.1 Tình hình kinh tế các nước Mỹ La tinh từng bước được cải thiện. Biểu hiện rõnhất là xuất khẩu tăng nhanh, khoảng 10% năm 2003 và 21% năm 2004. Nhiều nước đã khốngchế được lạm phát, tỉ lệ tăng giá tiêu dùng giảm.
Xem thêm

32 Đọc thêm

Tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế

TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÁC NGÀNH KINH TẾ

“ Tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế ” là một ngành học mặc dù mới chỉ xuất hiện và phát triển hơn hai thế kỷ, nhưng nó đã được hầu hết tất cả các nước trên thế giới đón nhận nghiên cứu và vận dụng vào trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội đạt hiệu quả. Ở nước ta trong những năm gần đây, nhất là từ khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước,” tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế “ ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều. Hơn nữa, đây là ngành học có mối quan hệ mật thiết với địa lý kinh tế xã hội, do vậy việc nghiên cứu nó càng trở lên bức thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm

51 Đọc thêm

Tài liệu NGHỆ AN THỰC HIỆN NHỮNG LỜI CỦA HỒ CHỦ TỊCH DẠY TRONG HAI LẦN NGƯỜI VỀ THĂM QUÊ docx

TÀI LIỆU NGHỆ AN THỰC HIỆN NHỮNG LỜI CỦA HỒ CHỦ TỊCH DẠY TRONG HAI LẦN NGƯỜI VỀ THĂM QUÊ DOCX

6 Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt ấy, Nghệ an có 240 Hợp tác xã nông nghiệp đạt 6 tấn thóctrên 1 ha mỗi năm.Trong đó có 67 Hợp tác xã đạt từ 6 tấn trở lên.Riêng huyện Yên Thành ngoàisố lương thực phải nạp vì nghĩa vụ,huyện còn bán cho Nhà nước 22.000 tấn thóc.Tổng kết năm1972,cùng với các tỉnh trọng điểm lúa:Thái Bình,Nam Hà,Hà Tây,Hải Dương,Nghệ An được ghitên vào Bảng vàng 5 tấn của cả nước.Sau 5 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch,năm1975,Nghệ An đạt 431.459 tấn lương thực quy thóc,bình quân 17kg/tháng/đầu người.Về sảnphẩm từ cây công nghiệp,Nghệ An thu được 6.500 tấn lạc vỏ,82.680 tấn mía.Nghề rừng,NghệAn khai thác theo quy hoạch 90.000 mét khối gỗ.Tổng sản lượng công nghiệp năm đó,tỉnh nhàđạt được 123,734 tỷ đồng.7 Tuy nhiên,vẫn như lời nhận xét của Hồ Chủ tịch trong Thư Người gửi ngày 21-7-1969:Như thếlà có tiến bộ nhưng phải cố gắng nhiều vì kinh tế của Nghệ An tiến còn chậm. Sau khi có Nghị quyết Đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đạihội Đảng toàn quốc Khoá VII(1986) đề ra , thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch, Nghệ An đã phấnđấu không ngừng. Đến năm 1995 thì trên địa bàn tỉnh nhà,đồng ruộng được quy hoạch lại,mở ranhiều cơ sở sản xuát công nghiệp mới như Nhà máy đường Phủ Quỳ,Nhà máy xi-măng HoàngMai và Nghi Sơn,tiến hành xây Trạm thuỷ điện Bản Cánh Kỳ Sơn,bảo vệ rừng nguyên sinh PùMát 100.000ha...Năm đó,tỉnh đạt tổng sản lượng lương thực là 70 vạn tấn. Cùng với thu nhập từcông nghiệp và các ngành nghề khác, GDP đạt 271 USD/ người dân, bằng 80% mức bình quân8
Xem thêm

22 Đọc thêm

TÌM HIỂU NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH GIỮA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM VÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ LÍ GIẢI SỰ KHÁC BIỆT ĐÓ

TÌM HIỂU NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH GIỮA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM VÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ LÍ GIẢI SỰ KHÁC BIỆT ĐÓ

các cấp thì nhóm người nước ngoài không có quyền này. Nhà nước ta không thừa nhận việc người nước ngoài tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước, tuy nhiên trên thực tế họ vẫn có thể được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước đối với những công việc không liên quan đến bí mật quốc gia và an ninh quốc phòng+ Quyền tự do đi lại và cư trú Thực tế cho thấy, quyền tự do đi lại & cư trú của người nước ngoài bị hạn chế hơn rất nhiều so với công dân Việt Nam. Đây là một quyền chính trị quan trọng mà nhà nước ta đã quy định rõ đối với công dân trong Hiến pháp. Là công dân Việt Nam, ngoài quyền được tự do đi lại, cư trú trong nước còn có quyền ra nước ngoài học tập, nghiên cứu khoa học, du lịch… Điều 68 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định về quyền này của người nước ngoài rất chặt chẽ và cụ thể. Người nước ngoài muốn cư trú Việt Nam phải làm các thủ tục nhập cảnh; phải đăng kí mục đích, thời hạn và địa chỉ cư trú tại Việt Nam. Đây là sự hạn chế về quyền của người nước ngoài Việt Nam. Tuy nhiên, nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài xuất nhập cảnh. Pháp luật quy định người nước ngoài không được cư trú, đi lại những khu vực, địa điểm cấm người nước ngoài cư trú, đi lại. Đó là các khu vực vành đai biên giới, các khu vực công nghiệp quốc phòng, khu quân sự, các khu vực có yêu cầu bảo vệ anh ninh đặc biệt… Muốn vào những khu vực này, người nước ngoài phải có giấy phép của Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ công an, Bộ trưởng Bộ quốc phòng (đối với khu vực địa điểm quốc phòng)+ Các quyền khác Đối với một số người nước ngoài, nhà nước Việt Nam còn dành một số quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, miễn trừ lãnh sự khi xét xử trong khi công dân Việt Nam không cần thiết và không có những quy định này. Vấn đề trục xuất người nước ngoài cũng là một sự khác biệt, công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khi có hành vi phạm tội nghiêm trọng mà bị xét xử theo pháp luật Việt Nam.+ Nghĩa vụ đối với Nhà nước Việt Nam Công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam đều phải có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhưng so với người nước ngoài, công dân Việt Nam còn có các nghĩa vụ và trách nhiệm khác, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ tổ quốc. Ngoài ra công dân Việt Nam phải có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (giữ gìn bí mật nhà nước), mọi hành vi phản bội đều bị trừng
Xem thêm

7 Đọc thêm

Lòng yêu nước trong văn bản trung đại SGK ngữ văn 8

LÒNG YÊU NƯỚC TRONG VĂN BẢN TRUNG ĐẠI SGK NGỮ VĂN 8

Văn học Trung Đại là một bộ phận quan trọng của văn học dân tộc. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình ở trường phổ thông và là phần mở đầu cho nền văn học viết của dân tộc. Nếu văn học dân gian, ở không ít tác phẩm tiếng Việt còn mộc mạc, giản dị, thì ở nhiều tác phẩm văn học trung đại, ngôn từ đã đạt mức điêu luyện, tinh xảo, đặc biệt với những tác phẩm văn học thể hiện lòng yêu nước, chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, mỗi câu chữ, giọng văn, thể văn đều thể hiện thống thiết tính dân tộc sâu sắc. Biểu hiện cao nhất của tính dân tộc là lòng yêu nước. Mỗi văn bản thời trung đại được viết ra đều nhằm một mục đích duy nhất là giáo dục, định hướng con người đồng nhất cao nhất về đoàn kết dân tộc, mà biểu hiện của nó, cụ thể hơn bao giờ hết thể hiện khi Tổ Quốc lâm nguy. Giọng văn hùng hồn, dõng dạc, đĩnh đạc, nhiệt huyết của người viết.Yêu nước bằng những việc làm hiện hữu. Mỗi người thể hiện yêu nước bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhỏ lớn tùy vào khả năng, điều kiện. Thời Trung Đại, yêu nước chủ yếu gắn liền với bảo vệ núi sông, lập công danh bằng những chiến công hiển hách. Tuy nhiên, yêu nước cũng lập công danh bằng khoa bảng.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Khả năng cạnh tranh giữa hai nền kinh tế TQ & VN trong giai đoạn đổi mới part1 potx

KHẢ NĂNG CẠNH TRANH GIỮA HAI NỀN KINH TẾ TQ & VN TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI PART1 POTX

đó chính là nguyên nhân kìm hãm hai nớc trong tình trạng trì trệ, kém phát triển lâu dài. Thứ ba tuy hai nớc bắt đầu cải cách và đổi mới không cùng thời gian nhng bối cảnh quốc tế suốt thời kì đó 5 không có sự thay đổi lớn và những yếu tố tác động đến cuộc cải cách này vẫn tồn tại. Đáng kể nhất là việc Liên Xô và các nớc Đông Âu đang trong quá trình từ bỏ mô hình Chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết và chuyển sang nền kinh tế thị trờng. Đặc biệt lúc này kinh tế Nhật Bản và nền kinh tế công nghiệp mới NIEs trong khu vực đã đạt đợc những thành tựu nổi bật và kinh nghiệm quý báu. Điều đó thúc đẩy Việt Nam và Trung Quốc phải đổi mới để theo kịp các nớc. Đây cũng là lúc thế giới đang đi đến đòi hỏi sự hợp tác phân công lao động của tất cả các nớc, xu hớng hợp tác hoá, quốc tế hoá ngày càng cao bất kể sự khác nhau về chính trị, văn hoá. Đồng thời nguy cơ các thế lực T bản chủ nghĩa và phản động đang tìm mọi cách phá hoại cách mạng, thực hiện âm mu diến biến hoà bình để thay đổi, xoá bỏ chế độ Chủ nghĩa xã hội. Thứ t là sự yếu kém về năng lực lãnh đạo, tổ chức và sự trì trệ trong phát triển kinh tế xã hội đã làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, vào nhà nớc Xã hội chủ nghĩa. Vì thế cần phải sáng tạo trong đờng lối kinh tế và công tác lãnh đạo phải triệt để sáng suốt. 6 2. Về sự khác biệt: Thứ nhất về điều kiện tự nhiên
Xem thêm

8 Đọc thêm

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA LÀ ÁNG VĂN TRÀN ĐÂY LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC. DỰA VÀO VĂN BẢN NƯỚC ĐẠI VIỆT TA CỦA NGUYỄN TRÃI HÃY LÀM SÁNG TỎ NHẬN ĐỊNH TRÊN

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA LÀ ÁNG VĂN TRÀN ĐÂY LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC. DỰA VÀO VĂN BẢN NƯỚC ĐẠI VIỆT TA CỦA NGUYỄN TRÃI HÃY LÀM SÁNG TỎ NHẬN ĐỊNH TRÊN

đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này,tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là chỗ kết hợp chạt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Quảđúng như vậy! Người anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nướcViệt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:Núi sông bờ cõi đã chiaPhong tục Bắc Nam cũng khácNhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc - Nam khác biệt. Ta cónền độc lập vững vàng được xây bằng những trang sử vẻ vang. Hùng cứ cùng Hán, Đường, Tống,Nguyên phương Bắc là các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần phương Nam. Hơn thế nữa, bao đời nay:Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhauSong hào kiệt đời nào cũng cóSo với ý thức về quốc gia dân tộc trong bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc - bài thơ “Sông núinước Nam” - thì tác phẩm này của Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy vàhoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài Sông núi nước Nam được xác định haiphương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài: Nước Đại Việt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâusắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sungthành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anhhùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.Trong phần văn bản “Nước Đại Việt ta”, tác giả sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên,vốn có lâu đời của nước Đại Việt ta. Các từ như: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác,... Bêncạnh đó, biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận (tác giảđặt nước ta ngang hàng với Trung Hoa về nhiều phương diện như: trình độ chính trị, văn hoá,...). Đặcbiệt, những câu văn biền ngẫu, chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật vàchân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.Với tư cách là phần văn bản mở đầu áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, văn bản“nước Đại Việt ta” đã khẳng định lí tưởng yêu nước, thương dân của những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩaLam Sơn. Hơn thế, đoạn trích còn khẳng định vị thế dân tộc trên nhiều phương diện, từ đó thể hiện lòng
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỂ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN ĐỘC LẬP CỦA DÂN TỘC, NGUYỄN TRÃI ĐÃ DỰA VÀO CÁC YẾU TỐ NÀO? SO VỚI BÀI THƠ NAM QUỐC SƠN HÀ, ĐÂU LÀ NHỮNG YẾU TỐ KẾ THỪA, ĐÂU LÀ NHỮNG YẾU TỐ PHÁT TRIỂN

ĐỂ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN ĐỘC LẬP CỦA DÂN TỘC, NGUYỄN TRÃI ĐÃ DỰA VÀO CÁC YẾU TỐ NÀO? SO VỚI BÀI THƠ NAM QUỐC SƠN HÀ, ĐÂU LÀ NHỮNG YẾU TỐ KẾ THỪA, ĐÂU LÀ NHỮNG YẾU TỐ PHÁT TRIỂN

Ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơnnhiều so với thế kỉ X.Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố như: nền văn hiến lâuđời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này,tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bài thơ Sông núi nước Nam, thì Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa cósự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bàiSông núi nước Nam được xác định hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài Nước ĐạiViệt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độclập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tụctập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâusắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo

PHÂN TÍCH ĐOẠN 1 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

Phân tích đoạn 1 Bình Ngô Đại CáoTác giả Nguyễn Trãi sinh năm 1380 quê Chí Linh Hải Dương là bậc kì tài về chính trị, quân sự, văn học từng theo Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh lập nhiều công lao cho nước nhà. Về sự nghiệp văn chương ông có nhiều tác phẩm lớn như Bình Ngô Đại Cáo, Quân Trung Từ Mệnh Tập, Quốc Âm Thi Tập, ức Trai Tập… bài “Bình Ngô Đại Cáo” là một thiêng cổ hùng văn của lịch sử trung đại nhất là đoạn một của tác phẩm đã nói lên gần hết mục đích bài cáo.Mở đầu bài cáo, tác giả nêu lên một tư tưởng lớn làm nguyên lí cho toàn bài. Việc nhân nghĩa cốt yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Đó là tư tưởng nhân nghĩa, nhưng không phải nhân nghĩa chung chung, mà gắn với mục đích “yên dân”, “trừ bạo”, mang nội dung yêu nước, thương dân. Nó đã được chứng minh bằng sự tồn tại của nước Đại Việt ta như một chân lí lịch sử:Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Nước non bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác; Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương; Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt thời nào cũng có.Có đủ tất cả các yếu tố của một quốc gia độc lập tự chủ : quốc hiệu (tên nước), văn hiến, lãnh thổ, phong tục, con người và đặc biệt là “nền độc lập” đã được xây dựng từ bao đời.Những lời văn mạnh mẽ, dứt khoát, có ý khẳng định chắc chắn, Nguyễn Trãi đã khẳng định một cách hùng hồn chủ quyền dân tộc.Nguyễn Trãi nêu bật lịch sử các triều đại bằng phép liệt kê, song hành, đã khẳng định lịch sử dài lâu của đất nước, đồng thời khẳng định tư thế độc lập ngang hàng của Đại Việt với các triều đại phong kiến phương Bắc Nó còn như khẳng định về hậu quả thất bại tất yếu của kẻ thù khi chúng xâm phạm đến độc lập chủ quyền của dân tộc ta: Vậy nên: Lưu Cung tham công nên thất bại; Triệu Tiết chí lớn phải vong thân; Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô MãViệc xưa xem xét. Chứng cứ còn ghi. “ Nguyễn Trãi đã cho ta thấy những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn tự do của Tổ quốc.Cách nêu dẫn chứng rõ ràng cụ thể bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào dân tộc. => Nói về nước Đại Việt ta, cảm hứng của tác giả tràn đầy niềm tự hào dân tộc. Câu văn biền ngẫu sóng đôi, cân xứng tạo nên giọng điệu trang nghiêm, khẳng định khi nói về quốc gia độc lập, tự chủ: và đặc biệt nghệ thuật so sánh lại càng tôn cao và khẳng định thêm điều đó: Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần của Việt Nam ngang hàng với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc. Không có một niềm tự hào dân tộc mãnh liệt thì cũng không thể có một sự so sánh như vậy.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo - văn mẫu

PHÂN TÍCH ĐOẠN 1, 2 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - VĂN MẪU

biệt nghệ thuật so sánh lại càng tôn cao và khẳng định thêm điều đó: Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại Triệu, Đinh, Lí, TRần của VN ngang hàng với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc. Không có một niềm tự hào dân tộc mãnh liệt thì cũng khống thể có một sự so sánh như vậy.Đoạn 2 là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của quân xâm lược nhà Minh.Nguyễn Trãi đã lột trần âm mưu thâm độc của chúng: lợi dụng nhà Hồ chính sự đổ nát, giặc mInh đã thừa cơ vào cướp nước ta:Nhân họ Hồ chính sự phiền hàĐể trong nước lòng dân oán hận.Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa…….Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kếGây binh kết oán trải hai mươi năm.Tác giả khẳng định đó là tội ác “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” và kể ra những hành động tội ác man rợ của chúng. Nào là tàn sát, giết hại nhân dân kể cả các em nhỏ cũng không tha: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”.Rồi chúng lại bóc lột dân ta bằng thuế khoá nặng nề, ra sức vơ vét tài nguyên đất nước, đẩy người dân đến chỗ đường cùng, thậm chí tính mạng không được đảm bảo:Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồngKẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.Còn dã man, tàn bạo đến mức:-Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.-Nặng nề những nỗi phu phen,Tan tác cả nghề canh cửi.Hậu quả bọn chúng để lại thật là tàn khốc: gia đình tan nát, vợ mất chồng, con cái thì nheo nhóc, muôn loài bị phá huỷ, tiêu diệt, sản xuất thì trì trệ, nhân dân khổ cựcĐể nêu rõ tội ác của quân xâm lược, tác giả đã dụng phương pháp liệt kê có chọn lọc, sử dụng những câu văn giàu hình tượng, giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc.Lúc thì tỏ ra căm phẫn, tức giận đến thấu xương cái lũ xâm lược tàn bạo, lúc thì lại thể hiện sự xót xa, đau đớn cho nhân dân ta. phần đầu bản cáo trạng là một hình ảnh đầy ấn tượng: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”, để rồi két thúc bằng một hình ảnh có giá trị tổng kết cao: “Độc ác thay, trúc
Xem thêm

2 Đọc thêm

VIỆT NAM TRONG TỔNG THỂ NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KHI VỰC

VIỆT NAM TRONG TỔNG THỂ NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KHI VỰC

Là các nước phát triển nông công nghiệp còn lạc hậu.còn lạc hậu. -Hàng xuất khẩu mới chủ yếu là nông, lâm, Hàng xuất khẩu mới chủ yếu là nông, lâm, thuỷ hải sản và khoáng sản.thuỷ hải sản và khoáng sản.-Bình quân GDP dưới mức trung bình của Bình quân GDP dưới mức trung bình của thế giới, mức sống thấp, dân số tăng thế giới, mức sống thấp, dân số tăng nhanh.nhanh.Trong thập niên 80 do hoàn cảnh lịch Trong thập niên 80 do hoàn cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế xã hội và các quan hệ sử, địa lý, kinh tế xã hội và các quan hệ quốc tế thay đổi, nhóm nước đang phát quốc tế thay đổi, nhóm nước đang phát triển có xu thế triển có xu thế phân thành 3 nhóm nhỏphân thành 3 nhóm nhỏsau:
Xem thêm

35 Đọc thêm

Ý nghĩa của các cặp chỉ tiêu GDP,GNP pps

Ý NGHĨA CỦA CÁC CẶP CHỈ TIÊU GDP,GNP PPS

GDP phản ánh những hàng hoá dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế nhưng hàng hoá cao cấp nhất của con người là thời gian, sự nghỉ ngơi,…. thìkhông thể ghi chép và tính vào GDP 1.2 GDP bình quân đầu người Là tỉ lệ giữa GDP tổng số với tổng dân số của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. GDP tổng số GDP bình quân đầu người = Dân sốDùng để đánh giá và phân tích sự thay đổi mức sống dân cư thông qua GNP bình quân đầu người hay GDP bình quân đầu người.Ý nghĩa:-GDP bình quân đầu người cho biết mức sống của một nước phụ thuộc vào số lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ sản xuất ra và quy mô dân số của nước đó -GDP bình quân đầu người là một thước đo tốt hơn về số lượng hàng hóa dịch vụ sản xuất ra tính bình quân cho một người dân.Qua bảng số liệu ta thấy từ năm 1995-2007 GDP bình quân đầu người của việt nam tăng đều qua các năm tiêu biểu từ năm 2006-2007 GDP bình quân đầu người tăng từ 723USD đến 835USD, tăng 100USD/1 năm. Thu nhập bình quân của người dân Việt Nam ngày càng nâng cao. Thế nhưng cuộc sống của người dân Việt Nam có được nâng cao hơn không?  Năm 2008, thế giới phải trải qua 1 cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều nước. Điều này đã ít nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2008 tăng lên nhưng thựctế là chỉ số giá tiêu dùng còn tăng nhiều hơn với tỉ lệ là 21-22%. Theo ý kiến của TS.Nguyễn Minh Phong,Viện phát triển Kinh tế xã hội Hà Nội thì : “Lạm phát của Việt Nam năm nay ước tính 22%. Còn GDP tăng lên phản ánh quy mô nền kinh tế tăng lên mà trong trường hợp của chúng ta là tăng nhờ đầu tư trực tiếp và cả gián tiếp (đầu tư FDI chiếm khoảng 40% GDP). Do vậy, tuy có chỉ số GDP tăng nhưng thu nhập thực tế của người dân chưa chắc đã tăng lên.GDP không phản ánh tất cả.
Xem thêm

7 Đọc thêm

MỘT SỐ CHỈ TIÊU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI pdf

MỘT SỐ CHỈ TIÊU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾXÃ HỘI

MỘT SỐ CHỈ TIÊU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI ● Tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Đây là tiêu thức thường được nêu ra đầu tiên, để so sánh, đánh giá qui mô, mức độ phát triển kinh tế và mức sống giữa các nước. GNP là tổng giá trị toàn bộ các sản phẩm cuối cùng và các hoạt động dịch vụ được tạo ra hàng năm của mỗi nước; GNP không kể các sản phẩm trung gian và các phần giá trị phải chi trả cho người nước ngoài, nhưng lại bao gồm cả phần giá trị được tạo ra nước ngoài mà thuộc quyền sở hữu của người trong nước. ● Tổng sản phẩm trong nước (GDP). Là tiêu thức so sánh cũng thường được dùng với GNP (hoặc thay thế GNP). GDP khác GNP chỗ GDP không bao gồm phần giá trị của người trong nước được tạo ra nước ngoài, nhưng lại bao gồm cả những phần giá trị của người nước ngoài được tạo ra trong lãnh thổ quốc gia. GNP nhấn mạnh khía cạnh chủ sở hữu của các giá trị được tạo ra, bất kể được tạo ra nơi nào. Còn GDP nhấn mạnh khía cạnh không gian lãnh thổ của các giá trị được tạo ra, bất kể nó thuộc về ai, về quốc gia nào. Như vậy, trong cùng một niên hạn thống kê, cùng một biểu tính và chuyển đổi thì các chỉ số GNP và GDP chỉ bằng nhau trong 3 trường hợp sau: (1) Khi tổng hợp trên qui mô toàn thế giới, không phân biệt quốc gia, lãnh thổ và chủ sở hữu. (2) Những quốc gia có nền kinh tế khép kín, không đầu tư kinh doanh sản xuất nước ngoài, cũng không buôn bán, liên doanh, nhận đầu tư của các nước ngoài. (3) Nước có phần giá trị thu về từ nước ngoài cân bằng với phần giá trị
Xem thêm

5 Đọc thêm

Lịch sử Quốc hiệu của Việt Nam ppt

LỊCH SỬ QUỐC HIỆU CỦA VIỆT NAM PPT

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước ta giành được độc lập lấy tên nước là VIệt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hiệu này được dùng từ năm 1945 đến năm 1976. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nhà nước vùng Đông Nam Á có lãnh thổ trên danh nghĩa bao gồm cả nước Việt Nam hiện nay từ năm 1945 đến năm 1954 và là một nước độc lập theo chủ nghĩa xã hội có lãnh thổ chính thức là miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1976. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975) kết thúc, hai miền Bắc - Nam được thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 nước Việt Nam được đặt Quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Xem thêm

7 Đọc thêm

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DNNN TẠI PHÒNG KIỂM TRA THUẾ SỐ 3 CỤC THUẾ HÀ NỘI

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DNNN TẠI PHÒNG KIỂM TRA THUẾ SỐ 3 CỤC THUẾ HÀ NỘI

Trong những năm qua, doanh nghiệp nhà nước đã góp phần chủ yếu để KT nhànước thực hiện được vai trò chủ đạo, chi phối được các ngành, các lĩnh vực, sản phẩmthen chốt của nền KT. Đồng thời, đây cũng là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng KT,xuất khẩu, bảo đảm các sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và đóng góp cho ngânsách nhà nước (NSNN), bảo đảm các cân đối lớn và ổn định KT vĩ mô. Cơ cấu và quymô doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang được điều chỉnh hợp lý hơn; năng lực sảnxuất tiếp tục tăng, trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ; hiệu quả KT-XH vàsức cạnh tranh từng bước được nâng lên.Hiện nay, nền KT nước ta đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ từ khithực hiện tiến trình mở cửa, hội nhập với nền KT thế giới. Ngày càng có nhiều doanhnghiệp được thành lập và phát triển mạnh mẽ, đóng góp nguồn thu lớn cho NSNN.Hiện có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nhưng DNNN vẫn luôn đóng gópvai trò quan trọng cho tăng trưởng GDP, cho đầu tư phát triển xã hội, cho kim ngạchxuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho đông đảo người lao động. Bên cạnh đó, cácDNNN luôn chú trọng học tập các mô hình quản lý mới, và hiện đại hóa dây truyền sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh từng bước được nâng lên.Hơn nữa, DNNN đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng nềnKT thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Loại hình doanh nghiệp này luôn pháthuy vai trò to lớn trong mọi thời đại, mọi hoàn cảnh nên được nhà nước đặc biệt quantâm. Song trong quá trình quản lý thuế đối với DNNN, đặc biệt là thuế TNDN còn gặp5nhiều vướng mắc. Luật thuế TNDN chưa thật sự rõ ràng, minh bạch, khiến phía doanhnghiệp hiểu sai hoặc cố tình lách luật làm cho việc quản lý gặp không ít những khókhăn.Trong quá trình thực tập tại phòng kiểm tra thuế số 3 – Cục thuế Hà Nội, nhậnthấy công tác quản lý thuế TNDN đối với DNNN tuy đã đạt đc những kết quả nhấtđịnh nhưng vẫn còn một số những khó khắn, vướng mắc nên em đã chọn đề tài nghiên
Xem thêm

79 Đọc thêm

Cùng chủ đề