DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN TẠI VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN TẠI VIỆT NAM":

Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Đi cùng với xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng thương mại ở nước ta đang từng bước chuyên môn hoá các nghiệp vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và nhanh chóng tiếp cận và phát triển dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng ở nước ta đang phát triển hết sức nhanh chóng, đem lại tiện ích cho người dân, thúc đẩy chu chuyển vốn trong xã hội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sự phát triển của công nghệ ngân hàng, sự đòi hỏi cao hơn của khách hàng tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại. Chính sự cạnh tranh gay gắt trong ngành ngân hàng đòi hỏi mỗi ngân hàng thương mại phải lựa chọn cho mình một hướng đi cụ thể. Với mục tiêu chung của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam là trở thành ngân hàng tầm cỡ quốc tế ở khu vực trong thập kỷ tới, hoạt động đa năng, kết hợp với điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện tốt phương châm “Luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt” trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói riêng đang trong quá trình hội nhập, Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đã phát triển với nhiều dịch vụ khác nhau phục vụ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa. Tuy nhiên trên thực tế số lượng các dịch vụ còn hạn chế, chất lượng các dịch vụ vẫn còn một số bất cập, thách thức vẫn còn phía trước. Nhằm tồn tại và phát triển bền vững trong nền kinh tế cạnh tranh cùng với chiến lược phát triển của Sở Giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương, đề tài: “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” được lựa chọn. 2. Mục đích nghiên cứu của luận văn -Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương mại và các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển các dịch vụ ngân hàng. -Nghiên cứu thực trạng dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá những thuận lợi, thành công cũng như khó khăn, hạn chế trong phát triển dịch vụ, qua đó tìm hiểu được những nguyên nhân của hạn chế đó. -Đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch -Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới. 3. Phạm vi nghiên cứu -Phạm vi không gian: tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. -Phạm vi thời gian: Trong thời gian khoảng từ năm 2007 đến 2009 -Nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng cung ứng và phát triển dịch vụ ngân hàng của Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Các dịch vụ ngân hàng ở đây giới hạn trong phạm vi là các dịch vụ mà Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam cung ứng cho các khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp 4. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tư duy lô gíc và điều tra để làm rõ nội dung nghiên cứu của đề tài. 5. Những đóng góp mới của luận văn: -Làm rõ thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân. -Đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng trong thời gian tới. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày với ba chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng Chương 2: Thực trạng dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Xem thêm

Đọc thêm

(Đề tài NCKH) đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng TMCP công thương việt nam thông qua sự hài lòng của khách hàng bằng thang đo SERVQUAL

(Đề tài NCKH) đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng TMCP công thương việt nam thông qua sự hài lòng của khách hàng bằng thang đo SERVQUAL

(Đề tài NCKH) đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng TMCP công thương việt nam thông qua sự hài lòng của khách hàng bằng thang đo SERVQUAL (Đề tài NCKH) đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng TMCP công thương việt nam thông qua sự hài lòng của khách hàng bằng thang đo SERVQUAL (Đề tài NCKH) đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng TMCP công thương việt nam thông qua sự hài lòng của khách hàng bằng thang đo SERVQUAL
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà Nội

Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà Nội

Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà NộiNghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà NộiNghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà NộiNghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà NộiNghiên cứu sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hà Nội
Xem thêm

Đọc thêm

Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO: Trường hợp Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Nguyễn Xuân Nghĩa

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO: TRƯỜNG HỢP NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM NGUYỄN XUÂN NGHĨA

Luận văn Thạc sỹ: Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO: Trường hợp Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Nguyễn Xuân NghĩaMời các bạn cùng tham khảo nội dung luận văn Thạc sỹ Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO: Trường hợp Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam dưới đây để hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động dịch vụ ngân hàn bán lẻ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và ...
Xem thêm

7 Đọc thêm

Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại NHTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh KCN Phú Tài

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH KCN PHÚ TÀI

Với xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề cạnh tranh được đặt ra cực kỳ quan trọng đối với hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế nước ta, trong đó cạnh tranh lĩnh vực ngân hàng rất được chú trọng bởi hiện nay lĩnh vực ngân hàng Việt Nam còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực và thế giới. Thêm vào đó, sự gia nhập của các Ngân hàng nước ngoài, những tập đoàn Tài chính đa quốc gia với sự dày dạn về kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ hiện đại…, đã làm cho các ngân hàng trong nước đứng trước những thách thức to lớn. Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các Ngân hàng Việt Nam phải có những nỗ lực hết mình để bắt kịp tiến trình hiện đại hóa ngân hàng. Cùng lúc đó, Sự thâm nhập mạnh mẽ của công nghệ thông tin, điện tử viễn thông vào ngành tài chính ngân hàng đã tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới với hàm lượng công nghệ cao, trong đó có dịch vụ ngân hàng điện tử. Lợi ích đem lại của ngân hàng điện tử là rất lớn nhờ tính tiện ích, nhanh chóng, chính xác và bảo mật. Đối với khách hàng, sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử đem lại sự tiện nghi, tiết kiệm được thời gian và chi phí; đối với ngân hàng, phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử không những tiết kiệm chi phí và đem lại lợi nhuận mà còn giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; như vậy đối với nền kinh tế dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần làm tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa, hiện đại hóa hệ thống thanh toán và góp phần thúc đẩy sự phát triển của thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử . Tuy nhiên, do đây vẫn là một dịch vụ mới mẻ nên mức độ quan tâm của các tổ chức tín dụng có khác nhau, có nơi người ta nhắc đến nó như một cái gì đó xa xôi, có nơi dịch vụ này lại được quan tâm đặc biệt và được coi là một chiến lược cạnh tranh tất yếu trên bước đường phát triển của ngân hàng mà điển hình là ở Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam cũng đang nỗ lực hết mình để bắt kịp tiến trình hiện đại hóa, chú trọng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử bên cạnh việc phát triển các dịch vụ truyền thống khác nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập và phát triển. So với các chi nhánh khác trong hệ thống, Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương chi nhánh KCN Phú Tài tuy tham gia vào lĩnh vực ngân hàng điện tử muộn hơn, nhưng bước đầu đã thu được những kết quả nhất định. Song, thực tiễn phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh KCN Phú Tài vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế. Việc tìm ra biện pháp nhằm triển khai, phát triển thành công dịch vụ ngân hàng điện tử là một yêu cầu đặt ra khá bức thiết. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, cùng với sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Trương Bá Thanh, tôi đã chọn đề tài “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh KCN Phú Tài” cho khoá luận tốt nghiệp của mình. CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 8 1.1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 8 1.1.1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử 8 1.1.2. Các giai đoạn phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử 9 1.1.3. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử 11 1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 13 1.2.1. Nội dung phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử 13 1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử.. 13 1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 16 1.3.1. Các nhân tố bên ngoài 16 1.3.2. Các nhân tố bên trong 19 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH KCN PHÚ TÀI 23 2.1. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA VIETINBANK CHI NHÁNH PHÚ TÀI 23 2.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Phú Tài 23 2.1.2. Mô hình tổ chức quản lý 26 2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh 29 2.2. THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIETINBANK CHI NHÁNH PHÚ TÀI 33 2.2.1. Tình hình chung về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam 33 2.2.2. Thực trạng về dịch vụ ngân hàng điện tử tại Vietinbank Phú Tài 44 2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG KCN PHÚ TÀI 63 CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH KCN PHÚ TÀI 64 3.1. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 64 3.1.1. Những cơ hội của Vietinbank Phú Tài 65 3.1.2. Những thách thức của Vietinbank Phú Tài 66 3.2. CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIETINBANK PHÚ TÀI 67 3.2.1. Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử 67 3.2.2. Hoàn thiện chất lượng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử đang cung cấp 69 3.2.3. Lựa chọn và phát triển kênh phân phối 71 3.2.4. Đẩy mạnh hoạt động marketing 74 3.2.5. Tăng cường đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở của dịch vụ NHĐT . 77 3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 79 3.2.7. Tăng cường khả năng kiểm soát chi phí 82 3.2.8. Hoàn thiện chính sách định giá dịch vụ nhằm gia tăng hiệu quả dịch vụ ngân hàng điện tử 84 3.2.9. Hoàn thiện kỹ năng quản trị rủi ro trong hoạt động NHĐT 86 3.2.10. Nâng cao khả năng nhận thức và sự hợp tác của khách hàng 87 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 88 3.3.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Ngân hàng Công Thương Việt Nam 88 3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 89 3.3.3. Kiến nghị đối với Chính phủ 90 KẾT LUẬN 93
Xem thêm

106 Đọc thêm

Tìm hiểu hệ thống dịch vụ tại ngân hàng TMCP hàng hải việt nam tại thừa thiên huế

TÌM HIỂU HỆ THỐNG DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM TẠI THỪA THIÊN HUẾ

Tìm hiểu hệ thống dịch vụ tại ngân hàng TMCP hàng hải việt nam tại thừa thiên huế Tìm hiểu hệ thống dịch vụ tại ngân hàng TMCP hàng hải việt nam tại thừa thiên huế Tìm hiểu hệ thống dịch vụ tại ngân hàng TMCP hàng hải việt nam tại thừa thiên huế Tìm hiểu hệ thống dịch vụ tại ngân hàng TMCP hàng hải việt nam tại thừa thiên huế

22 Đọc thêm

Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)

Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)

Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)Phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Từ Sơn (LV thạc sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế(23-6)

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ(23-6)

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1. Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, nền kinh tế của cả nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên - Huế đã có những bước phát triển ổn định. Đời sống và thu nhập của người dân ngày càng được hoàn thiện và nâng cao. Cùng với sự phát triển như vũ bão khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin thì con người ngày càng đòi hỏi những nhu cầu về cuộc sống cao hơn. Nhận thức của người tiêu dùng đã thay đổi theo họ mang thẻ ATM trong người, sử dụng thẻ để thanh toán khi giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ. Vì vậy một chiếc thẻ ATM là hoàn toàn không thể thiếu đối với mỗi cá nhân. Đó là một sự cần thiết vậy tại sao chúng ta không tìm hiểu kỹ thêm về vấn đề này? Hiện nay, trên địa bàn thành phố Huế có không ít ngân hàng tham gia vào thị trường dịch vụ thẻ, trong đó Vietinbank - Huế là một trong những ngân hàng hàng đầu về loại hình kinh doanh này. Tuy nhiên, trong những năm gần đây khi Việt Nam bước vào thị trường thế giới, gia nhập WTO đã mở ra một sân chơi với tính cạnh tranh quyết liệt, do đó vấn đề đặt ra là Ngân hàng phải có các biện pháp thích hợp nhằm giữ vững vị trí trên thị trường, đồng thời phát huy các điểm mạnh, thể hiện tiềm lực trong hoạt động kinh doanh và cung cấp các dịch vụ thanh toán nội địa và quốc tế của mình. Nắm bắt được nhu cầu, sau nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Huế đã thu được những thành tựu nhất định. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn không ít những khó khăn, hạn chế để có thể phát triển dịch vụ thẻ trở nên phổ biến và hiệu quả. Nhận thấy tầm quan trọng ấy, tác giải quyết định thực hiện “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế” cho luận văn của mình. Mong rằng qua đó có thêm nhiều kiến thức về dịch vụ hiện đại, đầy mới mẻ này. Đồng thời cùng với việc đưa ra một số giải pháp, góp phần phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế cao hơn trong thời gian tới.
Xem thêm

78 Đọc thêm

Phát triển dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (FULL TEXT)

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xu thế hội nhập quốc tế đa tạo ra những cơ hội và thách thức cho hệ thống NHTM Việt Nam. Sự phát triển ngày càng sâu rộng của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế có tiềm lực tài chính, kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm lâu năm sẽ tao ra cuộc canh tranh khôc liêt vơi cac NHTM Việt Nam (NHTMVN). Vơi đăc trƣng “độc canh tín dụng” , đa số nguồn thu nhập hiên nay của NHTMVN là từ hoạt động tín dụng , một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn các DVNH khác. Chính vì vậy , đinh hƣơng vê phát triển DVNH ngoài dịch vụ truyền thống đƣợc nhận định là chiến lƣợc mang lại triển vọng lớn cho NHTMVN. Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (sau đây gọi tắt là BIDV) là định chế tài chính chủ yếu cung cấp vốn và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Nhiều tài liệu tin cậy cho rằng, các ngân hàng thƣơng mại hiện đại trên thế giới hiện nay cung cấp khoảng 6.500 DV tài chính cho khách hàng. Trong những năm qua, BIDV đã đạt đƣợc những kết quả nhất định trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng về DVNH cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cƣ, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, DV của BIDV vẫn còn nhiều hạn chế: tính đa dạng kém (chủ yếu là các dịch vụ truyền thống: huy động vốn, cho vay, thanh toán), quy mô nhỏ, chất lƣợng thấp, rủi ro cao, chƣa tạo ra đột phá trong việc cung cấp những DV chƣa cạnh tranh đƣợc với những ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới. Bởi vậy, việc phát triển DV là một tất yếu của các NHTM Việt Nam nói chung, BIDV nói riêng, vấn đề đặt ra là phát triển DVNH nhƣ thế nào để không đồng nhất nó với việc dàn trải nguồn lực. Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các DVNH mà xã hội có nhu cầu, thực hiện DV đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh. Đây là một bài toán khó nhƣng buộc các NHTM phải giải để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc phát triển và hội nhập. Đã có đề tài nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học, luận án tiến sĩ bàn về nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trên nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, phát triển DVNH trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh gay gắt trên thị trƣờng tài chính hiện nay vẫn có tính thời sự ở Việt Nam. Với lý do nhƣ vậy, nghiên cứu phát DVNH tại BIDV là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết và mang lại kết quả tích cực cho BIDV nói riêng mà còn đối với hệ thống TCTD và khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng. Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài "Phát triển dịch vụ ngân hàng tai ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam" để nghiên cứu.
Xem thêm

210 Đọc thêm

Đa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt Nam(TT)

Đa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt Nam(TT)

Đa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt NamĐa dạng hóa dịch vụ tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Xem thêm

Đọc thêm

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

- Cơ sở hạ tầng mạng viễn thông của Việt Nam còn nhiều hạn chế, đặc biệt là mạngthông tin di động, rất thương hay xảy ra tình trạng mất sóng hoặc quá tải. Điểm yếunày gây khó khăn trong việc phát triển Ngân hàng điện tử tại Việt Nam. Ví dụ khikhách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán qua Mobile Banking mà tin nhắn bị kẹt lại từkhách hàng đến Ngân hàng hoặc từ Ngân hàng phản hồi lại khách hàng thì giao dịchsẽ rất khó có thể diễn ra thành công.- Hệ thống ngân hàng điện tử của các ngân hàng chưa được đầu tư mạnh, thừơngxuyên xảy ra lỗi và nghẽn mạng do xử lý giao dịch quá tải trong khi hệ thống còn yếuchưa đủ đáp ứng như cầu giao dịch online khi nhu cầu khách hàng gia tăng. Điển hìnhnhư trường hợp tại VCB: Trong hai ngày gần tết 24 -25/1/2014 Website Vietcombankliên tục rơi vào tình trạng quá tải, khiến nhiều giao dịch không thể thực hiện quaInternet banking. Khách hàng chuyển tiền online không được thường nhận thông báogiao dịch không hợp lệ, hoặc phải chờ rất lâu mới nhận mã giao dịch SMS từ hệthống, thậm chí có lần còn không thể truy cập trang web. Phó tổng giám đốc ĐàoMinh Tuấn cho biết nguyên nhân là lượng giao dịch, chuyển tiền tăng đột biến. Riêngtrong ngày 24/1, toàn hệ thống Vietcombank có hơn 11.000 giao dịch chuyển tiền, caogấp đôi ngày thường làm cho hệ thống quá tải. Việc này đã làm cho khác hàng lo ngạikhi sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử.- Tình trạng lừa đảo, trộm tiền thông qua mạng Internet ngày càng nhiều, điều nàycũng mang không ít âu lo cho khách hàng khi sử dụng các dịch vụ Ngân hàng điện tử.Đây cũng là một trong những lý do nhiều NH chưa phát triển dịch vụ thanh toán quaInternet.- Mặt bằng dân trí tại Việt Nam chưa đồng đều giữa các vùng nông thôn và thành thịnên hiện nay Ngân hàng điện tử chỉ phát triển mạnh ở TP HCM và còn hạn chế ở cáckhu vực ngoài thành phố.- Cơ sở pháp lý đối với Ngân hàng điện tử tuy đã có nhưng việc ban hành còn chậmtrễ, vẫn còn chung chung, chưa có hướng dẫn chi tiết và vẫn còn hạn chế đối với mộtsố giao dịch nên một số khách hàng sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử nhưng có
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ - Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Công thương Hoàng Mai

LUẬN VĂN THẠC SỸ - PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀNG MAI

1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - Tổ chức Thương mại đa phương lớn nhất toàn cầu. Ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh mẽ và phát triển nhất, nó là một kênh trung gian chuyển tải vốn ra thị trường và điều chỉnh nguồn vốn của thị trường. Đồng nghĩa với đó, thị trường tài chính - tiền tệ Việt Nam cũng là một sân chơi chung cho các Tổ chức Tín dụng trong và ngoài nước, và từ đó, các ngân hàng nước ngoài sẽ được thiết lập sự hiện diện thương mại của mình tại Việt Nam. Một hệ thống cạnh tranh mới về dịch vụ cũng được khẳng định và chiếm lĩnh, các quan hệ thương mại theo đó sẽ trở nên ngày càng phát triển và đa dạng. Điều này đã đặt ra những đòi hỏi và thách thức đối với các ngân hàng thương mại trong nước. Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam đang từng bước thiết chế cho mình các mạng lưới, đổi mới các hình thức hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh để có thể đứng vững trên thị trường. Đối với một ngân hàng hiện đại và phát triển như các nước ngoài, hoạt động dịch vụ phát triển rất mạnh, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng nhất định đến ngân hàng. Trong khi đó, đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, thu chủ yếu vẫn tập trung vào các hoạt động truyền thống như cho vay, bảo lãnh, tiền gửi. Nguồn thu từ các dịch vụ hoặc chưa có, chưa khai thác hết hoặc rất khiêm tốn trong tổng thu của ngân hàng, trong khi hoạt động tín dụng và bảo lãnh lại là hoạt động có nhiều rủi ro và rủi ro cao. Bởi vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là một chiến lược đúng đắn và cần thiết. Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam, quy mô tài sản nợ và tài sản có hàng năm tăng từ 20% - 25%. Tuy vậy, hiện nay trước bối cảnh thực hiện lộ trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế thì quả thực hệ thống ngân hàng Thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng hết sức hạn chế. Chính vì vậy, bằng cách nào, biện pháp nào, và giải pháp nào để nhanh chóng phát triển thị trường tiềm năng này đang là bài toán lớn mà các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói chung và Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng cần có lời giải. Là một Chi nhánh mới thành lập của Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Hoàng Mai cũng đang trong quá trình tìm kiếm những giải pháp tốt nhất để có thể phát triển hơn nữa thị trường tiềm năng này. Xuất phát từ nhận thức nói trên, tôi đã chọn đề tài: "Phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Công thương Hoàng Mai". 2. Mục đích nghiên cứu của luận văn: - Làm rõ vai trò, nội dung cơ bản của các loại hình dịch vụ tại Ngân hàng thương mại. - Tiến hành phân tích thực trạng tại Ngân hàng công thương Hoàng Mai. Do Ngân hàng Công thương Hoàng Mai là chi nhánh cấp 1 của Ngân hàng Công thương Việt Nam mới chính thức đi vào hoạt động từ quý I năm 2007. Nên việc phân tích đánh giá thực trạng chủ yếu lấy số liệu năm 2007. - Kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tại ngân hàng Công thương Hoàng Mai trong thời gian tới. 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn: - Các loại hình dịch vụ ngân hàng thương mại - Hoạt động dịch vụ của Ngân hàng công thương Hoàng Mai 4. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, kết hợp giữa lý luận và tình hình thực tế hoạt động của Ngân hàng. Đồng thời vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá báo cáo tổng kết để đưa ra nhận định và giải pháp. 5. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, bảng biểu và các tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ của Ngân hàng Chương 2: Thực trạng dịch vụ của Ngân hàng Công thương Hoàng Mai. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ tại Ngân hàng Công thương Hoàng Mai.
Xem thêm

93 Đọc thêm

THIẾT KẾ FLY FLOWERS ENTERTAIMENT

THIẾT KẾ FLY FLOWERS ENTERTAIMENT

1.3.1. Trung tăm thương mại hạng ỉCó diện tích kinh doanh từ 50.000 m: trơ lên và có nơi trông giữ xe phùhợp với quy mô kinh doanh của Trung tâm thương mại.Các công trình kiến trúc được xây dựng vừng chắc, có tính thấm mỹ cao,10có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại đam bảo các yêu cầuphòng cháy chừa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, thuận tiện chomọi đôi tượng tham gia hoạt động kinh doanh trong khu vực.Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hóa và kinh doanh cácloại hình dịch vụ, bao gồm: khu vực dê bố trí các cửa hàng bản buôn, bán lẻhàng hóa. nhà hàng, khách sạn, khu vực để tồ chức hội chợ triển lãm, trưngbày giới thiệu hàng hóa. khu vực dành cho hoạt dộng vui chơi giải trí, chothuê văn phòng làm việc, hội trường, phòng họp đê tô chức các hội nghị, hộithảo, giao dịch và ký kết các họp đồng thương mại trong, ngoài nước, khu vựcdành cho các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông,tin học. tư vấn, môi giới đằu tư. du lịch.1.3.2. Trung tâm thu ong mại hạng IICó diện tích kinh doanh từ 30.000 m2trở lên và có nơi trông giữ xe phùhợp với quy mô kinh doanh của trung tâm thương mại.Các công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ, cóthiết kế và trang bị kv thuật tiên tiến, hiện đại đảm bảo các yêu cầu phòngcháy chừa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, thuận tiện cho mọi đốitượng tham gia hoạt động kinh doanh trong khu vực.Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hóa và kinh doanh cảcloại hình dịch vụ, bao gồm, khu vực đề bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ,
Xem thêm

36 Đọc thêm

Tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh thái bình”

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÁI BÌNH”

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Cơ sở lý luận về huy động vốn trong NHTM. 1.1.1. Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế hiện nay 1.1.1.1. Khái niệm về NHTM Thuật ngữ ngân hàng xuất hiện từ rất lâu đời, bắt nguồn từ yêu cầu giữ hộ tiền của những nhà tư bản phương Tây. Cho đến nay, ngân hàng ngày càng phát triển lớn mạnh với rất nhiều loại hình khác nhau cùng những chức năng riêng biệt để phục vụ cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng, các quốc gia phát triển trên thế giới đã đưa ra những khái niệm cũng như quy định về hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể: Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Theo định nghĩa của Peter S.Rose thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hình thành và phát triển trên 20 năm, trên cơ sở nền tảng pháp lý ban đầu gồm 2 Pháp lệnh: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (có hiệu lực từ 1101990) và từ 1997 đến nay là các bộ Luật về Ngân hàng. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. 1.1.1.2. Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng được xem là quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người cho vay. Chức năng thanh toán: NHTM thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán tiền hàng, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng “tạo tiền” cho nền kinh tế: tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện được chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. 1.1.1.3. Hoạt động chủ yếu của NHTM a. Hoạt động huy động vốn NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại hình tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam, các TCTD nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của NHNN. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. b. Hoạt động cấp tín dụng Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức: + Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay thấu chi: mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi khách hàng tạm thời thiếu hụt trong thanh toán, khách hàng không cần phải thế chấp. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong khoảng thời gian nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngoài hạn mức tín dụng cấp ban đầu, ngân hàng áp dụng hạn mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án, nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh tăng thêm… Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu … bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể chiết khấu các thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với các TCTD khác. Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng theo Nghị định của Chính phủ. Bao thanh toán: NHTM thực hiện bao thanh toán như một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp như: Bao thanh toán truy đòi, miễn truy đòi, ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu, bao thanh toán khi đáo hạn trong phạm vi buôn bán nội địa lẫn quốc tế. Tài trợ xuất nhập khẩu: Mở LC thanh toán hàng nhập khẩu; Cho vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế xuất nhập khẩu; Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, nguyên vật liệu, cho vay đầu tư, bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài; Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn; Chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu, chứng từ thanh toán LC. c. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM gồm: Cung cấp phương tiện thanh toán; Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; Thu hộ, chi hộ; Các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN; Tham gia, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép; Thu và phát tiền mặt cho khách hàng; Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng. d. Các hoạt động khác Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD khác trong nước; góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN, thông qua hình thức mua bán các công cụ thị trường tiền tệ. Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước, quốc tế. Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác và nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý. Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm. Tư vấn tài chính: NHTM được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng. Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, GTCG, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ và các dịch vụ có liên quan. 1.1.2. Vốn huy động và công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. 1.1.2.1. Khái niệm về vốn huy động. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn nhất và quan trọng nhất của NHTM. Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011, NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau đây: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. 1.1.2.2. Vai trò của huy động vốn a. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Trong suốt quá trình vận hành của mình, nền kinh tế luôn xảy ra tình trạng có nơi thừa vốn và cũng có nơi thiếu vốn. Thông qua hoạt động huy động vốn, hệ thống ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động giúp cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, đẩy nhanh hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ và thu hồi vốn giúp gia tăng tốc độ quay vòng vốn, tăng số vòng quay, mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn. Không những vậy, huy động vốn còn là kênh thông thương giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh tế thế giới: thông qua hoạt động huy động vốn của các NHTM, thu hút nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới sẽ tham gia vào nền kinh tế trong nước, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước trên cơ sở các bên cùng có lợi. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư phát triển bên cạnh đó hoạt động huy động vốn còn là công cụ giúp NHNN kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, …). Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp lên mối quan hệ tích lũy và tiêu dùng. Việc đẩy mạnh hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển và điều hành chính sách tiền tệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện của nước ta hiện nay. b. Đối với Ngân hàng thương mại Huy động vốn là hoạt động nền tảng và quan trọng trong hoạt động của NHTM. Mặc dù không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là yếu tố chính giúp NHTM thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định, cơ sở vật chất… cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó gia tăng thị phần, quy mô hoạt động cũng như nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường. Do đó, NHTM không ngừng hoàn thiện và phát triển hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. c. Đối với khách hàng Huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai mà không tốn nhiều thời gian, công sức; Là nơi an toàn để cất giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Có thể nói gửi tiền qua ngân hàng là kênh đầu tư có rất ít rủi ro. Ngoài ra, hoạt động huy động vốn giúp cho khách hàng tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng với các giá trị gia tăng kèm theo và dịch vụ cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Thông qua huy động vốn, NHTM là trung gian giúp khách hàng chuyển vốn từ nơi thặng dư sang nơi thiếu hụt vốn một cách kịp thời với chi phí tương đối thấp so với việc sử dụng các nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay từ các tổ chức khác.
Xem thêm

106 Đọc thêm

TIEU LUAN EBANKING (cao hoc)

TIEU LUAN EBANKING (CAO HOC)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ (EBANKING) I. KHÁI NIỆM VÈ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ Ngân hàng điện tử là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử. Thuật ngữ Ngân hàng điện tử đối với nhiều người cỏ vẻ khó hiểu và xa lạ. Thực ra rất nhiều ứng dụng của Ngân hàng điện tử đang phục vụ cho bạn. Bạn rút tiền từ một máy rút tiền tự động, trả tiền cho hàng hoá và dịch vụ bằng thẻ tín dụng, kiêm tra số dư tài khoản qua mạng hay điện thoại; công ty của bạn giao dịch, thanh toán, chuyển khoản với các đối tác qua internet, điện thoại... II. CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Thanh toán điện tử tại điếm bán hàng (EFTPOS Electronic Funds Transfer at Point of Sale) Khách hàng sử dụng thẻ tín dụng (credit card) hoặc thẻ ghi nợ trực tiếp (direct debit card) để thực hiện các giao dịch mua bán. Máy đọc thẻ tại các điểm bán hàng sẽ kết nối với trung tâm chứng thực khách hàng của ngân hàng để thực hiện việc chứng thực thẻ, chấp thuậntừ chối giao dịch mua bán.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Hoàn thiện kênh phân phối migoikinhdo

HOÀN THIỆN KÊNH PHÂN PHỐI MIGOIKINHDO

MỤC LỤC Phần 1: Giới thiệu chung 2 1.1. Giới thiệu công ty 2 1.2. Giới thiệu sản phẩm 3 1.3. Lợi thế cạnh tranh của công ty 4 1.4. Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm 4 Phần 2: Xây dựng kênh phân phối 6 2.1. Kênh phân phối hiện tại ở Kinh Đô 6 2.2.1. Trong nước 6 2.2.2. kênh ngoài nước 7 2.2. Các dòng chảy trong kênh và sự quản lý các dòng chảy trong kênh. 7 2.2.3. Dòng chuyển quyền sở hữu (litle flow) 7 2.2.4. Dòng đàm phán 8 2.2.5. Dòng vật chất. 8 2.2.6. Dòng thanh toán. 8 2.2.7. Dòng thông tin 8 2.2.8. Dòng xúc tiến. 8 2.2.9. Dòng đặt hàng 9 2.2.10. Dòng chia sẻ rủi ro 9 2.2.11. Dòng tài chính 9 2.3. Xây dựng kênh phân phối cho Mì gói của Kinh Đô 9 2.3.1. Xây dựng kênh phân phối 9 2.3.2. Cải thiện kênh phân phối cũ 10 2.3.3. Tiếp tục mở rộng hệ thống phân phối: 11 Phần 3: Khuyến nghị 12 Danh mục hình ảnh, biểu đồ Hình 1. Logo Kinh đô 4 Hình 2. Các dòng sản phẩm của Kinh Đô 6 Hình 3. Kênh phân phối hiện tại của Kinh Đô 8 Hình 4. Hệ thống tập đòan Kinh Đô 11   Lời nói đầu Tập đoàn Kinh Đô là một hệ thống tích hợp và đồng bộ gồm các công ty hoạt động trong các lĩnh vực thực phẩm, bán lẻ, địa ốc và tài chính nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người đồng thời không ngừng gia tăng giá trị cho cổ đông. Sự tin cậy, tầm nhìn, tính sáng tạo, sự năng động, niềm tự hào và sự phát triển không ngừng của đội ngũ nhân viên là những giá trị cốt lỗi làm nền tảng tạo ra những sản phẩm và dịch vụ, góp phần đưa Kinh Đô trở thành tên tuổi hàng đầu trên thị trường. Sử dụng những chiến lược quản lý rủi ro tinh vi như là một thành phần bắt buộc và quan trọng đi kèm với các giải pháp tài chính. Việc quản lý rủi ro hiệu quả làm cho cổ đông và đối tác an tâm với những khoản đầu tư của họ. Với sự thành công của các sản phẩm như bánh AFC, Cosy, Slide, bánh Trung thu,…hay các loại kẹo, kem, Merino, Celano,…thì sắp tới đây Mì ăn liền Kinh Đô sắp được tung ra thị trường với diện mạo, bao bì, và đem đến cho khách hàng một sản phẩm chất lượng nhất. Phần 1: Giới thiệu chung 1.1. Giới thiệu công ty Kinh Đô được thành lập từ năm 1993, trải qua 21 năm hình thành và phát triển, đến nay Kinh Đô đã trở thành một hệ thống các công ty trong ngành thực phẩm gồm: bánh kẹo, nước giải khát, kem và các sản phẩm từ Sữa. Định hướng chiến lược phát triển của Kinh Đô là Tập Đoàn Thực phẩm hàng đầu Việt Nam và hướng tới một Tập đoàn đa ngành: Thực phẩm, Bán lẻ, Địa ốc, Tài chính nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai. Hình 1. Logo Kinh đô TẬP ĐOÀN KINH ĐÔ Trụ sở chính: Địa chỉ: 141 Nguyễn Du, Bến Thành, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh, Việt nam Tel.: (84) (8) 38270838 Fax: (84) (8) 38270839 Email: infokinhdo.vn Website: www.kinhdo.vn Từ quy mô chỉ có 70 cán bộ công nhân viên khi mới thành lập đến nay Kinh Đô đã có tổng số nhân viên là 7.741 người. Tổng vốn điều lệ của Kinh Đô Group là 3.483,1 tỷ đồng. Tổng doanh thu đạt 3.471,5 tỷ đồng trong đó doanh thu ngành thực phẩm chiếm 99.2%, tổng lợi nhuận đạt 756,1 tỷ đồng. Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thành thông qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc gồm hơn 600 nhà phân phối, 31 Kinh Đô Bakery và 200.000 điểm bán lẻ cũng như các thống phân phối nhượng quyền với tốc độ tăng trưởng 30%năm. Thị trường xuất khẩu của Kinh Đô phát triển rộng khắp qua 35 nước, đặc biệt chinh phục các khách hàng khó tính nhất như Nhật, Mỹ, Pháp, Đức, Singapore... Với phương châm ngành thực phẩm làm nền tảng cho sự phát triển, trong những năm qua, Kinh Đô đã liên tục đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, thực hiện các chiến lược sáp nhập, liên doanh liên kết và hợp tác như mua lại nhà máy kem Wall từ tập đoàn Unilever, mua lại Tribeco, Vinabico, đầu tư vào Nutifood, Eximbank... Đặc biệt năm 2010, Kinh Đô đã tiến hành việc sáp nhập Công ty CBTP Kinh Đô Miền Bắc (NKD) và Công ty Ki Do vào Công ty Cổ Phần Kinh Đô (KDC). Định hướng của Kinh Đô là thông qua công cụ MA, sẽ mở rộng quy mô ngành hàng thực phẩm với tham vọng là sẽ trở thành một tập đoàn thực phẩm có quy mô hàng đầu không chỉ ở Việt Nam mà còn có vị thế trong khu vực Đông Nam Á. Song song đó, với việc định hướng phát triển để trở thành một tập đoàn đa ngành, Kinh Đô cũng mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như đầu tư kinh doanh bất động sản, tài chính và phát triển hệ thống bán lẻ. Theo đó, các lĩnh vực có mối tương quan hỗ trợ cho nhau, Công ty mẹ giữ vai trò chuyên về đầu tư tài chính, các công ty con hoạt động theo từng lĩnh vực với các ngành nghề cụ thể theo hướng phát triển chung của Tập Đoàn. 1.2. Giới thiệu sản phẩm Với hệ thống 5 công ty, 4 nhà máy sản xuất các loại như bánh Cookies, Cracker, Bông Lan, Bánh mì tuơi, kẹo, Sôcôla, Kem, Sữa và yoghurt. Thương hiệu Kinh Đô được nhiều người biết đến và là một trong 10 thương hiệu hàng đầu tại Việt Nam. Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thành thông qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc gồm 300 nhà phân phối và 200.000 điểm bán lẻ với tốc độ tăng trưởng 20%30%năm. Thị trường xuất khẩu của Kinh Đô cũng phát triển rộng khắp qua hơn 30 nước như Nhật, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Myanmar, Thái Lan, Nam Phi, Đài Loan, Hongkong, Trung Quốc, Lào, Campuchia... Hiện nay công ty chế biến thực phẩm Kinh Đô Miền Bắc đang kinh doanh với 11 ngành hàng chính. Có thể chia các sản phẩm của Kinh Đô thành 2 loại chính. Loại 1: Bao gồm những sản phẩm thuộc các ngành Cracker, Cookie, Solite, kẹo cứng – kẹo mềm, bánh mì mặn – ngọt, snack là những ngành sản xuất với đơn hàng lớn, giá trị đơn vị thấp, đòi hỏi ít dịch vụ đi kèm. Những sản phẩm thuộc ngành 1 có thời gian sử dụng dài, không khắt khe trong khâu bảo quản sản phẩm. Loại 2: Bao những sản phẩm thuộc các ngành: Socola, kẹo Socola, bánh kem, bánh bông lan, kem đá kido’s, đặc biệt là bánh trung thu Kinh Đô là những ngành hàng đặc biệt của công ty bởi nó rất quan trọng trong dịch vụ sau bán hàng. Đối với các sản phẩm thuộc loại 2 thì khác hẳng so với những sản phẩm thuộc loại 1, đó là rất khắt khe trong các yêu cầu cất giữ, bảo quản sản phẩm, dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng khá nhiều và thường chỉ mang tính mùa vụ. Khách hàng mục tiêu chung cho tất cả các ngành hàng của công ty đó là những người ưa thích các sản phẩm ăn nhanh, là những người bận rộn, có cá tính năng động, trẻ trung. Khách hàng mục tiêu của công ty tập trung vào giới trẻ ở độ tuổi từ 1939 tuổi. Hình 2. Các dòng sản phẩm của Kinh Đô 1.3. Lợi thế cạnh tranh của công ty Hiện nay, tập đoàn Kinh Đô là nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam. Kinh Đô cũng đang sở hữu một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam. Lợi thế nổi bật của công ty so với các doanh nghiệp trong cùng ngành là: Sản phẩm của Kinh Đô đa dạng, nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, giá cả hợp lý Công nghệ sản xuất của Kinh Đô vượt trội so với các doanh nghiệp cùng ngành Sản phẩm của Kinh Đô có sự đột phá về chất lượng, được cải tiến, thay đổi mẫu mã thường xuyên với ít nhất trên 40 sản phẩm mới mỗi năm. Một điểm khác biệt của Kinh Đô so với các doanh nghiệp khác là ngoài công nghệ hiện đại, Công ty rất chú trọng vào kỹ thuật chế biến sản phẩm, nhất là công thức pha chế phụ gia, nhờ đó mà các loại bánh kẹo của Kinh Đô có mùi vị hấp dẫn và riêng biệt. Đây chính là một lợi thế cạnh tranh lớn của Kinh Đô, ngay cả đối với những đối thủ trong ngành bánh kẹo có công nghệ tương đương. 1.4. Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm Những sản phẩm hiện có của công ty vẫn còn mang nhiều tính thời vụ, doanh thu kém tại những thời gian bình thường của 1 năm. Kinh Đô muốn bán thêm những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của khách hàng. Việc sở hữu một phạm vi rộng về nhóm hàng thực phẩm sẽ giúp Kinh Đô tận dụng tối đa mạng lưới phân phối đem về lợi ích kinh tế lớn hơn trong năm, ông Wong nhấn mạnh. Theo số liệu của IMF, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm vừa qua đạt mức thấp nhất kể từ năm 1999. Theo nhận xét của ông Michel Tosto, trưởng bộ phận khách hàng tổ chức và môi giới công ty chứng khoán Bản Việt, Kinh Đô là một thương hiệu nội địa mạnh và khá phổ biến tại Việt Nam, điều này sẽ giúp cho việc tung ra sản phẩm mới có chi phí quảng cáo rẻ hơn so với các công ty khác trên thị trường.Cạnh tranh trong ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam sẽ tăng lên đáng kể khi chính phủ thương lượng để gia nhập vào hiệp định TPP với sự cạnh tranh đáng kể từ các nước Nhật Bản, Mỹ. Giám đốc tài chính của Kinh Đô cũng thừa nhận các tập đoàn đa quốc gia là một thách thức lớn đối với Kinh Đô. Ông Wong nhấn mạnh “Họ sẽ không dễ gì bỏ qua một thị trường tiềm năng lên tới 90 triệu người”. Theo giám đốc hãng tư vấn Baker McKenzie Việt Nam Fred Burke, khi những điều khoản trong hiệp định TPP có hiệu lực, thuế nhập khẩu các sản phẩm thực phẩm cạnh tranh với Kinh Đô sẽ có khả năng hạ xuống. Một trong những đối thủ lớn đối với dòng sản phẩm mới của Kinh Đô phải kể đến tập đoàn Masan, vốn đứng đầu thị trường nước mắm Việt Nam và Acecook đang dẫn đầu thị trường mì ăn liền. Kinh Đô sẽ tập trung vào hoạt động lõi là kinh doanh thực phẩm. Công ty sẽ không cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ tầm cỡ, mà sẽ chú tâm vào những phân khúc nhỏ hơn. Tuy nhiên, tại đây, KDC vẫn phải cạnh tranh với Acecook ở dòng sản phẩm mỳ Hảo Hảo và các đại gia ở phân khúc thấp là Miliket, Vifon... Đặc biệt, KDC đang gặp vấn đề về kênh phân phối. Dù sở hữu sẵn hệ thống phân phối bánh kẹo trên khắp cả nước, nhưng KDC không dễ gì để đưa sản phẩm mỳ gói vào mọi ngóc ngách của thị trường, nếu không mở kênh mới. Cùng với đó, nhân sự của KDC luôn biến động, tầm quản lý cấp trung luôn luôn thay đổi, khiến độ ổn định không được đảm bảo, làm việc thiếu chuyên nghiệp. Chính thế, nếu KDC muốn vươn lên chia sẻ thị phần với các doanh nghiệp nói trên, họ sẽ phải có một chiến lược marketing suất sắc, chuyên nghiệp và dài hơi. Như vậy, mục tiêu trong tương lai gần sẽ chiếm nhiều nhất là 5% thị trường mỳ gói. Phần 2: Xây dựng kênh phân phối 2.1. Kênh phân phối hiện tại ở Kinh Đô Hiện nay Kinh Đô Hiện nay Kinh Đô miền Bắc có 40 đại lý bán buôn và 195 nhà bán buôn, hơn 168.000 điểm bán lẻ do đó để đảm bảo sự thông suốt trong lan truyền thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng thì Kinh Đô chỉ xây dựng trên 1 khu vực thị trường về mặt địa lý 1 đại lý bán buôn và 5 nhà bán buôn theo cấu trúc ngũ giác đều. Kinh Đô nhận định với việc cấu trúc thành viên kênh như thế này thì rất dễ dàng cho việc quản lý và trao đổi thông tin từ 2 phía. 2.2.1. Trong nước Kinh Đô xây dựng kênh phân phối đa dạng và rộng khắp: Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp.Đối với mọi doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ hàng hóa của doanh nghiệp nhằm mục đích cuối cùng là tiêu thụ càng nhiều càng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để tiêu thụ được hàng hóa của mình, mỗi doanh nghiệp đều sử dụng những phương thức phân phối hàng hóa sản phẩm cho phù hợp với đặc thù ngành nghề kinh doanh cũng như các đặc tính của sản phẩm mà doanh nghiệp muốn tiêu thụ. Công ty cổ phần Kinh Đô sử dụng kênh phân phối theo sơ đồ như sau: Hình 3. Kênh phân phối hiện tại của Kinh Đô  Kênh 1: Theo dòng kênh này sản phẩm của công ty đến tay người tiêu dùng một cách trực tiếp từ các cửa hàng Bakery của Kinh Đô. Kênh tiêu thụ này không những giúp công ty tiết kiệm được chi phí trung gian mà còn giúp công ty có điều Kinh Đô bakerySiêu thịĐại lýNgười tiêu dùng cuối cùngBán lẻ Công ty CP Kinh Đô kiện để tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Trong kênh này công ty có thể nhận được các phản hồi trực tiếp từ khách hàng. Được xây dựng từ năm 1999, hiện nay hệ thống này đã có 36 Bakery trên cả nước, trong những năm tới hệ thống Bakery có triển vọng phát triển mạnh nhờ việc công ty triển khai mô hình kinh doanh nhượng quyền.  Kênh 2: là kênh phân phối qua hệ thống siêu thị, công ty ký kết hợp đồng với các siêu thị để họ bày bán sản phẩm của công ty, hệ thống siêu thị có chức năng như người bán lẻ trong kênh phân phối.Kênh phân phối này tiêu thụ khoảng 10% doanh số của công ty.  Kênh 3: Đây là kênh có chiều dài lớn nhất trong hệ thống kênh phân phối của công ty, là kênh tiêu thụ chính của công ty, khối lượng sản phẩm lưu chuyển qua kênh này chiếm khoảng 85% tổng khối lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty. Từ các đại lý này, sản phẩm của công ty tiếp tục thông qua các nhà bán lẻ để tới tay người tiêu dùng cuối cùng.Cho đến nay, hệ thống phân phối của Kinh Đô được coi là hoàn hảo nhất trong số các công ty sản xuất bánh kẹo tại thị trường Việt Nam. Đối với kênh phân phối truyền thống, Kinh Đô có 82 nhà phân phối và 65000 cửa hàng bán lẻ ở khu vực phía nam, công ty còn có lợi thế từ 26 hệ thống Bakery , ở khu vực phía bắc, công ty có 51 nhà phân phối, 15000 cửa hàng bán lẻ và 10 Bakery. Tổng cộng, Kinh Đô có 133 nhà phân phối, 80.000 cửa hàng bán lẻ và 36 Bakery. Đối với kênh phân phối hiện đại, Kinh Đô cung cấp sản phẩm trực tiếp cho 132 siêu thị. Ngoài các hình thức phân phối trên, Kinh Đô còn triển khai kế hoạch liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp tiêu dùng lớn, đối tác đầu tiên là Pepsi theo đó sản phẩm của Kinh Đô sẽ được bán độc quyền tại trên 200.000 điểm bán lẻ của Pepsi và ngược lại.Với việc hợp tác với một trong những công ty nước giải khát hàng đầu thế giới, không những giúp cho Kinh Đô gia tăng sản lượng tiêu thụ mà còn làm gia tăng giá trị thương hiệu khi thương hiệu của Kinh Đô sánh vai cùng với thương hiệu của Pepsi.Với mạng lưới phân phối trải khắp, các sản phẩm của Kinh Đô được bán rộng rãi hầu như ở mọi khu vực từ thành phố đến nông thôn, đưa Kinh Đô trở thành nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với thị phần gần 30%, đối với bánh trung thu, thị phần của công ty lên tới 70%.Hệ thống phân phối của Kinh Đô được coi là hoàn hảo nhất trong số các công ty sản xuất bánh kẹo tại thị trường Việt Nam. 2.2.2. kênh ngoài nước Ngày 24072005 là mốc đánh dấu đầu tiên cho hoạt động xuất khẩu bánh trung thu của Kinh Đô ra nước ngòai. Thị trường vẫn là Mỹ, Singapore, Campuchia, Malaysia và Đài Loan… 2.2. Các dòng chảy trong kênh và sự quản lý các dòng chảy trong kênh. 2.2.3. Dòng chuyển quyền sở hữu (litle flow) Sản phẩm được xuất xưởng và được chuyển về đại lý bán buôn của công ty. Sau đó công ty sẽ có yêu cầu đối với đại lý bán buôn cung cấp hàng hóa cho nhà bán buôn theo đơn đặt hàng của họ lên công ty. Sản phẩm từ nhà bán buôn cũng sẽ được phân bổ cho nhà bán lẻ theo đơn đặt hàng và chuyển đến tay người tiêu dùng cuối cùng. 2.2.4. Dòng đàm phán Giữa nhà sản xuất, đại lý phân phối và nhà bán buôn thương lượng với nhau về các điều khoản như điều kiện bán hàng, mức công nợ tối đa cho phép, mức tồn kho tối đa … thông qua hợp đồng nhà bán buôn. Trong hợp đồng này ngoài việc thảo thuận các vấn đề trên hai bên còn xem xét đến sự quản lý hệ thống nhà bán kẻ như thế nào? Giữa 4 nhà bán buôn và nhà bán lẻ 70% trong số đo mọi trách nhiệm hay vai trò phân phối được thực hiện qua cam kết không qua giấy tờ. Tuy nhiên có sự tham gia điều phối của ban kiểm soát. 2.2.5. Dòng vật chất. Sản phẩm từ nhà sản xuất sẽ được chuyển tiếp tới đại lý bán buôn qua đội ngũ vận tải của công ty. Từ đại lý bán buôn đến nhà bán buôn qua đội ngũ vận tải của đại lý bán buôn. Giữa nhà bán buôn với nhà bán lẻ thông qua sự thỏa thuận của hai bên để xem xét ai là người chịu trách nhiệm về việc vận chuyển hàng hóa. 2.2.6. Dòng thanh toán. Các đại lý bán buôn, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoàn toàn có thể tự do lựa chọn phương thức thanh toán cho nhà sản xuất có thể bằng chuyển khoản hoặc bằng tiền mặt cho kế toán viên của công ty. 2.2.7. Dòng thông tin Trong hệ thống kênh phân phối của Kinh Đô Miền Bắc, thông tin được truyền đi dưới 2 hình thức. Hình thức thứ nhất: Các thông tin về sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, thông tin các chương trình xúc tiến sẽ được truyền trực tiếp từ nhà sản xuất đến đại lý bán buôn, nhà sản xuất đến nhà bán buôn, nhà sản xuất đến nhà bán lẻ và nhà sản xuất đến người tiêu dùng thông qua các chương trình quảng cáo, các event của nhà sản xuất hay các công văn chuyển đến các TVK. Hình thức thứ hai: Thông tin truyền đến đại lý bán buôn, rồi đến nhà bán buôn, tiếp đó đến nhà bán lẻ và cuối cùng đến người tiêu dùng. Hai hình thức này được công ty sử dụng kết hợp lẫn nhau, có tác dụng nhất định trong việc bảo đảm thông tin được truyền đi một cách chính xác và sự giám sát lẫn nhau giữa các thành viên trong kênh. Thông tin phản hồi từ phía khách hàng sẽ được công ty thu thập và phân tích sau mỗi tháng kinh doanh. 2.2.8. Dòng xúc tiến. Đối với dòng xúc tiến thì dòng này được thể hiện thông qua việc thiết kế bày bán cũng như hoạt động trưng bày sản phẩm của công ty: Kinh Đô sẽ hỗ trợ 100 % kinh phí cho nhà bán buôn và bán lẻ. Tuy nhiên các TVK phải dành 0,4 m2 không gian trưng bày cho một sản phẩm của Kinh Đô, nếu thành viên nào sai phạm sẽ bị phạt 150% lần giá trị đơn hàng mà thành viên mua trước đó. 5 Các hoạt động khác như các chương trình khuyến mãi, vật dụng trưng bày phục vụ quảng cáo tùy theo mức độ mà nhà sản xuất sẽ có hỗ trợ thích đáng. 2.2.9. Dòng đặt hàng Các đơn đặt hàng lớn của Kinh Đô hoàn toàn có thể được đáp ứng trong vòng 24 giờ trong phạm vi khu vực thị trường bán kính 150 km. 2.2.10. Dòng chia sẻ rủi ro Công ty không thu hồi sản phẩm quá hạn sử dụng mà chỉ cho ban kiểm soát kiểm tra và yêu cầu các thành viên kênh tiêu hủy số sản phẩm quá hạn đó. Công ty sẽ hỗ trợ phí cho công việc này đối với các thành viên trong kênh 5% giásản phẩm. 2.2.11. Dòng tài chính Kinh Đô sẽ hỗ trợ 15% chi phí lưu kho cho các thành viên trong kênh tính đến đại lý bán buôn và nhà bán buôn. 2.3. Xây dựng kênh phân phối cho Mì gói của Kinh Đô 2.3.1. Xây dựng kênh phân phối Năm 2010 đánh dấu một thập niên mới và Kinh Đô tiếp tục phát triển là một tập đòan Thực Phẩm hàng đầu Việt Nam và hướng tới một tập Đoàn hoạt động đa ngành: Thực phẩm, địa ốc, tài chính, bán lẻ.
Xem thêm

14 Đọc thêm

CHUYEN DE TOT NGHIÊP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH

CHUYEN DE TOT NGHIÊP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển nhất định phải có phương án kinh doanh đạt hiệu qủa kinh tế. Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới WTO, điều này mở ra rất nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng tạo ra không ít thách thức mới đối với các doanh nghiệp trong nước. Nó đặt các doanh nghiệp vào cuộc cạnh tranh gay gắt trên thương trường. Các doanh nghiệp lúc này đứng trước hai con đường hoặc phát triển bền vững lâu dài, hoặc giải thể phá sản. Vì thế, các doanh nghiệp trong nước cần cố gắng tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Để tìm hiểu xem một doanh nghiệp được coi là đang phát triển, có khả năng phát triển hay đang trong nguy cơ phá sản, chúng ta cần tìm hiểu về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Những thông tin này do kế toán thu thập, tổng hợp và cung cấp. Ta có thể biết tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào qua báo cáo tài chính mà kế toán cung cấp. Đồng thời đó cũng là cơ sở để các đối tác, các tổ chức tài chính và các cơ quan chức năng nhà nước dựa vào để xem xét hợp tác, làm việc. Việc tổ chức hạch toán kế toán của doanh nghiệp có nhiều khâu quan trọng, trong đó công tác tổ chức kế toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là một khâu cơ bản của hạch toán kế toán. Doanh thu bán hàng cho thấy sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được tiêu thụ như thế nào, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ra sao, từ đó giúp các nhà quản trị đưa ra các đối sách phù hợp. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập tại Công ty CP Quỹ Đầu Tư BĐS Ngân Hàng Thương Mại CP Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Việt Nam. được sự hướng dẫn tận tình của Th.S Ngô Thị Luyến, cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ kế toán tại công ty, em đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài: “ Hoàn thiện công tác kế toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty CP Quỹ Đầu Tư BĐS Ngân Hàng Thương Mại CP Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Việt Nam”. Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương: CHƯƠNG I: Những vấn đề lí luận cơ bản doanh thu bán hàng và xác định kêt quả bán hàng trong doanh nghiệp. CHƯƠNG II: Thực trạng về kế toán doanh thu bán hàng và xác định kêt quả bán hàng tại công ty CP Quỹ Đầu Tư BĐS Ngân Hàng Thương Mại CP Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Việt Nam. CHƯƠNG III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán doanh thu bán hàng và xác định kêt quả bán hàng tại công ty CP Quỹ Đầu Tư BĐS Ngân Hàng Thương Mại CP Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Việt Nam. Hoàn thành bài chuyên đê này, trước hết em xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành tới các anh chị trong phòng kế toán của Công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại Chi nhánh. Đặc biệt em xin cảm ơn tới cô giáo Th.S Ngô Thị Luyến, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu chuyên đề này. Tuy nhiên, do còn hạn chế về trình độ và thời gian không nhiều nên bài viết chắc sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

57 Đọc thêm

CÁC MÔ HÌNH PHÂN PHỐI THUỐC TỪ NHÀ SẢN XUẤT ĐẾN NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI

CÁC MÔ HÌNH PHÂN PHỐI THUỐC TỪ NHÀ SẢN XUẤT ĐẾN NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI

chúng có thể liên kết với nhau. Ở Lithuania, nhà bán buôn lớn nhất được sở hữu chuỗinhà thuốc .II.1.4 Bản chất thay đổi của mô hình phân phốiĐiểm nổi bật là sự phát triển của việc phân phối thuốc trực tiếp từ các nhà sản xuất đếnnhà thuốc, sử dụng một số lượng hạn chế các nhà bán buôn là đại lý độc quyền đểphân phối sản phẩm trực tiếp đến các nhà thuốc (Direct-To-pharmacy hoặc DTP), hoặcsử dụng nhà bán buôn như các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần cho các mục đích tươngtự. Trong khi phần lớn các nhà thuốc nhận hàng từ các nhà bán buôn. Tại một số quốcgia, tỷ lệ bán hàng dược phẩm có nguồn gốc trực tiếp từ các nhà sản xuất là hơn 10%(Đan Mạch, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Hà Lan, Vương quốc Anh) và có thể hơn20% (Cộng hòa Séc, Pháp, Italy).Tại Áo thuốc có thể được phân phối trực tiếp đến các nhà thuốc, tuy nhiên, phần lớncác thuốc được phân phối thông qua nhà bán buôn, và ở Bulgaria đa số các nhà sảnxuất đều có cơ sở bán buôn. Tại Hungary, giấy phép sản xuất thường đi kèm với giấyphép bán buôn. Tại Pháp, phân phối thuốc trực tiếp áp dụng đối với các sản phẩm códoanh thu cao, và tại Ý nhà sản xuất được phép phân phối trực tiếp đến các bệnh việnvà phòng khám ngoại trú. Tại Anh, phân phối trực tiếp áp dụng cho các thuốc genericcho đến gần đây, nhưng, hiện nay, xu hướng này đang giảm dần. Ở Anh, đã có thunhập đáng kể từ hình thức DTP trong 3 năm qua. GSK là đầu tiên, Pfizer thứ hai (hiệnnay bao gồm Wyeth). Chỉ với Astra Zeneca và Eli Lilly đã chiếm hơn 30% của thịtrường. Ngoài ra còn có nhiều lựa chọn bởi các công ty là bán trực tiếp hoặc thông quabán buôn, ví dụ như Roche và Bonviva thông qua Williams, Takeda và Prostap thôngqua Clarity DTPChương trình Reduced Wholesaler Model (RWM) thường được sử dụng để cung cấpsản phẩm cho các nhà thuốc. Trong RWM (hoặc Reduced Wholesaler Agreements,RWA), các nhà sản xuất dược phẩm sử dụng một số lượng rất nhỏ các nhà bán buôntheo cách thức truyền thống để phân phối sản phẩm. Trong trường hợp này, nhà bánbuôn mua cổ phiếu, do đó, họ có thể yêu cầu được chiết khấu. Gần đây bằng chứngtrên thực tế cho thấy một số nhà sản xuất đã chọn con đường này; ởAnh có SanofiAventis, Novartis, Janssen-Cilag, Roche, Novo Nordisk và Bayer Schering đã áp dụng
Xem thêm

15 Đọc thêm

Cùng chủ đề