NHỮNG ĐỐI TƯỢNG NÀO CẦN LÀM SÀNG LỌC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP2

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NHỮNG ĐỐI TƯỢNG NÀO CẦN LÀM SÀNG LỌC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP2":

Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với biến đổi hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

NGHIÊN CỨU SỰ LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ NT-PROBNP HUYẾT TƯƠNG VỚI BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI VÀ CHỨC NĂNG THẤT TRÁI Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

ĐẶT VẤN ĐỀ “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa” dự báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở thành hiện thực. Trong đó đái tháo đường được xem là vấn đề cấp thiết của thời đại [3]. Bệnh đái tháo đường chủ yếu là type 2 (85% - 95% trong tổng số bệnh nhân) đang là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu với tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay (Ung thư, Tim mạch và Đái tháo đường) [21]. Theo Liên đoàn đái tháo đường quốc tế, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển. Hàng năm nhân loại đã phải tiêu tốn hàng ngàn tỷ USD chi phí trực tiếp cho bệnh [3]. Biến chứng của bệnh thường rất phổ biến, khi nói đến đái tháo đường người ta liên tưởng ngay đến biến chứng tim mạch chiếm 75% bệnh nhân và trên 50% bệnh nhân bị biến chứng tim mạch ngay lần đầu phát hiện bệnh. Điều đó có nghĩa là biến chứng đã hình thành từ giai đoạn tiền đái tháo đường [22]. Bệnh thường tiến triển âm thầm không có triệu chứng trong một thời gian dài, nếu không được phát hiện và điều trị đúng đắn sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Nhất là các biến chứng về tim mạch trong đó bệnh cơ tim đái tháo đường là một bệnh liên quan đến vi mạch vành, xảy ra âm thầm và sớm với các biểu hiện của các rối loạn chức năng tâm trương, sau đó rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Đái tháo đường làm tăng nguy cơ suy tim từ 2 – 5 lần so với người không đái tháo đường [69]. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2- 3 lần ở nam giới và 3 – 5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các rối loạn hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong việc theo dõi điều trị cũng như phòng bệnh [21]. Trước đây việc thăm dò chức năng thất trái chủ yếu dựa vào các phương pháp thăm dò có xâm nhập như thông tim, chụp buồng tim ... Trong những năm gần đây với sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh, siêu âm tim đã trở thành phương pháp không xâm nhập, dễ sử dụng. Nó cho phép thăm dò về hình thái và chức năng thất trái. Bên cạnh đó các nhà khoa học đã tìm ra các peptide lợi niệu nhóm B, đặc biệt nồng độ NT-proBNP huyết tương có vai trò trong chẩn đoán rối loạn hình thái và chức năng tim, ước lượng độ nặng và tiên lượng suy tim [46]. Xét nghiệm này được phát triển một cách nhanh chóng sẽ góp phần vào việc kiểm soát và điều trị suy tim có hiệu quả hơn. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dấu ấn sinh học này, Pudil R ghi nhận nồng độ NT-proBNP liên quan một cách có ý nghĩa với đường kính cuối tâm thu, cuối tâm trương thất trái và phân suất tống máu [75].Theo Tschope C, nồng độ NT-proBNP huyết tương là một yếu tố dự báo độc lập của rối loạn chức năng tâm trương [85]. Tại Việt Nam cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng [2]. Việc định lượng NT-proBNP còn khá mới mẽ và chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có các công trình nghiên cứu nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân suy tim [10],[26], suy thận mạn[27], nhưng chưa có nghiên cứu trên người bệnh đái tháo đường. Việc sử dụng dấu ấn sinh học này để phát hiện sớm suy tim ở giai đoạn im lặng có tầm quan trọng đối với hiệu quả quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường nhất là tại các tuyến y tế cơ sở. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với biến đổi hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường type 2” Đề tài nhằm các mục tiêu sau : 1. Đánh giá nồng độ NT- proBNP huyết tương, hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. 2. Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với hình thái, chức năng thất trái và tình trạng suy tim theo tiêu chuẩn Framingham, NYHA, ACC/AHA.
Xem thêm

116 Đọc thêm

Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì

NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ SỐ MỠ CƠ THỂ, MỠ TẠNG VÀ MỠ DƯỚI DA Ở BỆNH NHÂN THỪA CÂN-BÉO PHÌ

ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường ở một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ giao động trong một giới hạn nhất định.Tuy vậy, hiện nay, thừa cân và béo phì là một bệnh dinh dưỡng thường gặp nhất và mang tính chất toàn cầu. Tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển tỉ lệ mắc và tần suất của bệnh đang gia tăng một cách rõ rệt và đáng báo động. Béo phì là một bệnh dịch toàn cầu, số người béo phì trên thế giới lên đến 1,5 tỉ người. Tại Việt nam, năm 2006 Viện dinh dưỡng quốc gia Việt Nam đã công bố kết quả điều tra về thừa cân béo phì trên quy mô toàn quốc gồm 7600 hộ gia đình với 14.245 người trưởng thành (25 đến 64 tuổi) cho thấy có 16,8% người thừa cân béo phì [39]. Theo tác giả Trần Hữu Dàng, Nguyễn Đức Hoàng qua nghiên cứu 50 đối tượng béo phì tại Huế cho thấy: Tăng huyết áp chiếp tỉ lệ 70%, đái tháo đường chiếm tỉ lệ 16%, rối loạn dung nạp glucose chiếm tỉ lệ 16%. Có sự tương quan giữa tăng huyết áp, đái tháo đường và béo phì. Tác giả cho thấy những triệu chứng trên liên quan đến hội chứng chuyển hóa. Đái tháo đường cũng như rối loạn đường huyết gia tăng ở béo phì, gia tăng với tuổi tác. Tỉ lệ béo phì tăng cao ở những người vừa tăng huyết áp vừa đái tháo đường nhất là đái tháo đường type 2 [9]. Trên lâm sàng béo phì được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như BMI, đo vòng bụng và chỉ số vòng bụng/vòng mông, trong đó vòng bụng được ưu tiên hơn do liên quan mô mỡ dưới da bụng và nội tạng. Được xem như béo phì dạng nam khi mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng, tỉ lệ vòng eo/vòng mông ≥ 1 [42]. Hiện nay mô mỡ được xem là một cơ quan nội tiết phóng thích nhiều adipokine gây kháng insulin và phóng thích nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch. Về phương diện lâm sàng, gần đây người ta chú ý đến tỉ lệ mỡ cơ thể (Body Fat Percentage = BFP) và mức mỡ nội tạng (Visceral Fat Level = VFL). Hai thông số này được xem như những chỉ số nhân trắc tương đương với BMI và vòng bụng trong đánh giá nguy cơ tim mạch [40]. Đề kháng insulin (KI) được định nghĩa là tình trạng của (tế bào, cơ quan hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đáp ứng sinh học bình thường. Trên người đề kháng insulin được xác định khi nồng độ insulin tăng cao lúc đói hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Có thể nói cách khác KI xảy ra khi tế bào của tổ chức đích không đáp ứng hoặc bản thân các tế bào của tổ chức đích chống lại sự gia tăng của insulin máu [42]. Năm 1998 TCYTTG (WHO) đã đưa ra định nghĩa thống nhất: “Được xem là KI khi chỉ số HOMA lớn hơn tứ phân vị cao nhât trong nhóm chứng”.Theo những thống kê mới nhất từ NHANES III (National Health and Nutrition Examination Survey III), 35% người trưởng thành và hơn 40% người ngoài 50 tuổi mắc hội chứng chuyển hóa [7]. Hội chứng chuyển hóa ảnh hưởng 20-30% dân số ở độ tuổi trung niên và tỉ lệ này ngày càng tăng do sự gia tăng của béo phì và lối sống tĩnh tại. Kể từ khi hội chứng chuyển hóa được định hình năm 1998, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau đồng thời tỉ lệ đái tháo đường , nhất là đái tháo đường type 2, béo phì, tăng huyết áp cũng gia tăng trên mọi quốc gia. Tỉ lệ đái tháo đường típ 2 tăng bùng nỗ ở các nước công nghiệp mới phát triển ở Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương. Tuy nhiên các nghiên cứu dùng hình ảnh học cho thấy dù chỉ số khối cơ thể (BMI) như nhau nhưng khối lượng mỡ tạng của người Châu Á (Ấn Độ) cao hơn người Châu Âu. Ngoài ra các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỉ lệ các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường và tim mạch bắc đầu gia tăng ở mức BMI và vòng eo thấp hơn người da trắng nhiều [7]. Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì, cũng như mối tương quan giữa các chỉ số mỡ với tình trạng đề kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. Trước thực tế khách quan đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì”. Nhằm 2 mục tiêu: 1) Đánh giá tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. 2) Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì.
Xem thêm

129 Đọc thêm

tim hieu dinh duong trong dieu tri benh tieu duong

tim hieu dinh duong trong dieu tri benh tieu duong

I. Tổng quan về bệnh đái tháo đường21. Khái niệm22. Phân loại và đối tượng42.1. Đái tháo đường týp I42.2. Đái tháo đường týp II42.3. Đái tháo đường thai kỳ43. Triệu chứng và biến chứng43.1. Triệu chứng43.2. Biến chứng54. Tiêu chuẩn chuẩn đoán bệnh75. Phương hướng điều trị bệnh75.1. Điều trị bằng dinh dưỡng kết hợp hoạt động thể lực75.1.1. Cơ sở của dinh dưỡng điều trị học75.1.2. Phân loại một số chế độ ăn điều trị75.1.3. Hoạt động thể lực85.2. Điều trị bằng thuốc85.2.1. Điều trị bằng insulin85.2.2. Điều trị bằng thuốc uống9II. Dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường91. Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường92. Cách xây dựng thực đơn cho bệnh nhân đái tháo đường10
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ enzyme myeloperoxidase huyết tương với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

NGHIÊN CỨU SỰ LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ ENZYME MYELOPEROXIDASE HUYẾT TƯƠNG VỚI BỀ DÀY LỚP NỘI TRUNG MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đái tháo đường là một bệnh lý nội tiết chuyển hóa phổ biến, ngày càng có khuynh hướng gia tăng trên khắp thế giới cũng như ở nước ta và đang trở thành một thách thức chính trong Thế kỷ XXI [4], [42], [171]. Đây là một nhóm bệnh chuyển hóa với đặc trưng là tăng glucose máu do thiếu hụt tương đối hay tuyệt đối về tiết và hay là tác dụng của insulin trên tế bào đích. Khi nói đến bệnh đái tháo đường nhất là đái tháo đường týp 2 người ta thường liên tưởng đến biến chứng tim mạch trong đó là tổn thương mạch máu lớn thường gặp như bệnh lý mạch máu não, động mạch vành và động mạch hai chi dưới. Biến chứng mạch máu lớn trong đái tháo đường thực chất là một thể xơ vữa động mạch vì đái tháo đường liên quan tới rối loạn chuyển hóa bao gồm tăng glucose máu, tăng huyết áp, rối loạn lipid và đề kháng insulin [86]. Xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 xảy ra sớm hơn, nặng hơn, lan rộng hơn so với người không bị bệnh đái tháo đường và ảnh hưởng không những đến các động mạch gần mà còn ở vị trí xa gốc. Các biến chứng mạch máu lớn làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não cao gấp 2 – 4 lần ở người đái tháo đường so với người không bị đái tháo đường [45]. Biến cố mạch vành là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên bệnh nhân đái tháo đường (hơn 65%) và tổn thương động mạch hai chi dưới đã và đang trở thành nguyên nhân chính gây cắt cụt chi ở bệnh nhân đái tháo đường [36]. Bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống gây xơ vữa động mạch như béo phì, tăng huyết áp, tăng glucose máu mạn tính, rối loạn lipid máu… đã gây những bất thường ở thành mạch, rối loạn chức năng nội mạc mạch máu, tăng ngưng tập tiểu cầu và tăng đông máu dẫn đến nguy cơ tổn thương mạch máu lớn. Gần đây vai trò của các yếu tố nguy cơ không truyền thống đã được đề cập như chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1, protein phản ứng C, microalbumin niệu...[86] và nhất là myeloperoxidase được nghiên cứu ghi nhận có liên quan đến xơ vữa động mạch ở những đối tượng có nguy cơ cao trong đó có bệnh đái tháo đường [106]. Viêm và stress oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong tiến trình xơ vữa động mạch [88]. Myeloperoxidase là enzyme được tiết ra từ bạch cầu, hoạt động như yếu tố viêm và stress oxy hóa. Myeloperoxidase có vai trò quan trọng trong tiến triển xơ vữa động mạch. Cơ chế gây xơ vữa động mạch của myeloperoxidase thể hiện bằng nhiều con đường bao gồm myeloperoxidase hoạt động như chất xúc tác làm tăng LDL oxy hóa, kết quả làm tăng thu nhận LDL vào lớp nội mạc, góp phần hình thành và phát triển tế bào bọt, hình thành mảng bám; làm rối loạn chức năng bảo vệ nội mạc của HDL đưa đến rối loạn chức năng nội mạc; Myeloperoxidase trực tiếp quét dọn nitric oxide, hạn chế sinh khả dụng của NO dẫn đến co mạch và thúc đẩy tổn thương nội mạc mạch. Rối loạn chức năng nội mạc phát triển sớm trong giai đoạn sớm của đái tháo đường trước khi biểu hiện lâm sàng bằng xơ vữa động mạch. Giảm nitric oxide và tăng stress oxy hóa là những yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của biến chứng đái tháo đường. Các mẫu oxy hóa phản ứng đóng vai trò quan trọng trong rối loạn chức năng nội mạc qua trung gian tăng đường huyết và biến chứng mạch máu. Myeloproxidase là dấu chỉ điểm cho rối loạn chức năng nội mạc và là chất tạo ra các mẫu oxy hóa phản ứng tăng trong đái tháo đường. Nồng độ myeloperoxidase tăng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đã được ghi nhận. Biến chứng tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người bị đái tháo đường. Vì vậy việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà chuyên môn. Do đó làm thế nào để phát hiện sớm và điều chỉnh kịp thời các yếu tố nguy cơ tim mạch là điều rất quan trọng vì nó giúp người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Song song với việc phát hiện yếu tố nguy cơ, nhiều phương pháp để đánh giá xơ vữa động mạch giai đoạn sớm như đo độ dày lớp trung nội mạc ở động mạch cảnh qua siêu âm là phương pháp không xâm nhập, có độ nhạy cao cũng được ứng dụng trên lâm sàng. Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã chấp thuận đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh để đánh giá nguy cơ tim mạch [45]. Liên quan giữa nồng độ myeloperoxidase huyết tương và bất thường cấu trúc nội mạc mạch máu ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại Việt Nam chưa thấy đề cập. Xuất phát lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1. Xác định một số yếu tố nguy cơ tim mạch, bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và nồng độ myeloperoxidase huyết tương trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2. 2.2. Đánh giá mối liên quan và tương quan giữa nồng độ myeloperoxidase huyết tương với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và một số yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống (tuổi, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu) và không truyền thống (HbA1C, CRP, fibrinogen huyết tương, bạch cầu..) trên những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 này. 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3.1. Ý nghĩa khoa học Nồng độ myeloperoxidase là dấu chỉ điểm sớm của xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 liên quan đến viêm và stress oxy hóa đưa đến rối loạn chức năng mạch máu. Đánh giá tổn thương động mạch cảnh bằng phương pháp đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là kỹ thuật không xâm nhập, dễ thực hiện, có độ tin cậy cao, hữu ích để đánh giá xơ vữa động mạch và nguy cơ tim mạch. Phương pháp nghiên cứu có thể giúp đánh giá cũng như tiên lượng sớm ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có sự thay đổi nồng độ myeloperoxidase huyết tương và tổn thương động mạch. Đề tài nhằm góp phần phát hiện yếu tố nguy cơ mới trong mục tiêu điều trị tích cực, nâng cao chất lượng sống bệnh nhân một cách khoa học dựa trên y học chứng cứ. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn Đo nồng độ myeloperoxidase và đo bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là hai phương pháp đơn giản, có thể được ứng dụng trong lâm sàng nhằm: - Phát hiện các đối tượng đái tháo đường týp 2 có nguy cơ cao về biến chứng mạch máu ở giai đoạn sớm của xơ vữa động mạch để đưa ra các biện pháp giải quyết tích cực. - Kết quả nghiên cứu có thêm chứng cứ ứng dụng nhằm làm cải thiện rối loạn chức năng nội mạc và cấu trúc bất thường trong thành động mạch góp phần làm chậm biến chứng tim mạch, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2. 4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Là luận án đầu tiên trong nước nghiên cứu nồng độ enzyme myeloperoxidase trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và mối liên quan giữa nồng độ chất chỉ điểm sinh học này của xơ vữa động mạch với bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh. Là luận án giúp có một cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của myeloperoxidase trong xơ vữa động mạch. Kết quả nghiên cứu gợi mở hướng sử dụng thuốc điều trị để dự phòng xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Xem thêm

170 Đọc thêm

Nghiên cứu sự giãn mạch qua trung gian dòng chảy động mạch cánh tay và độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 mới phát hiện

Nghiên cứu sự giãn mạch qua trung gian dòng chảy động mạch cánh tay và độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 mới phát hiện

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đái tháo đường là một bệnh nội tiết chuyển hóa thường gặp và ngày càng có xu hướng gia tăng trên khắp thế giới cũng như tại nước ta, trong đó phần lớn là đái tháo đường týp 2 [156]. Biến chứng mạch máu là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở người đái tháo đường. Người đái tháo đường có nguy cơ bị các biến chứng mạch máu cao gấp 2 đến 4 lần so với người không đái tháo đường [70],[112],[140]. Bệnh lý tim mạch chịu trách nhiệm đến 80% các trường hợp tử vong sớm ở người đái tháo đường [132]. Những thay đổi bệnh lý của mạch máu xảy ra rất sớm ngay ở giai đoạn tiền đái tháo đường [7]. Vì vậy, một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân đái tháo đường đã có biến chứng mạch máu ngay từ khi phát hiện bệnh. Vữa xơ động mạch là nguyên nhân chủ yếu của các biến chứng mạch máu lớn ở người đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường týp 2 [8],[16],[49]. Vữa xơ động mạch khi đã lộ rõ trên lâm sàng thường để lại hậu quả nặng nề rất khó khắc phục như nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, tắc mạch chi dưới phải cắt cụt chi. Do vậy việc khảo sát vữa xơ động mạch ở giai đoạn tiền lâm sàng đang rất được quan tâm vì những lợi ích to lớn cho người bệnh nếu chúng ta ngăn chặn hoặc làm chậm tiến triển của vữa xơ động mạch. Tăng độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh từ lâu đã được thừa nhận là dấu hiệu thay đổi sớm về cấu trúc mạch máu do vữa xơ động mạch và có giá trị dự báo các hậu quả tim mạch trong tương lai [86],[102]. Đo độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh bằng siêu âm đã được ứng dụng khá rộng rãi trên lâm sàng. Gần đây nhiều nghiên cứu đã chứng minh rối loạn chức năng nội mạc mạch máu có vai trò quan trọng trong bệnh sinh vữa xơ động mạch và có thể là biểu hiện sớm nhất của tiến trình này [149],[150]. Rối loạn chức năng nội mạc có liên quan với nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch và là yếu tố dự báo độc lập các biến chứng tim mạch [92],[151],[161],[162]. Các biện pháp can thiệp lên các yếu tố nguy cơ cũng giúp cải thiện chức năng nội mạc ở những đối tượng có nguy cơ cao như đái tháo đường, tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa [17],[25],[78], [98],[155]. Có thể đánh giá rối loạn chức năng nội mạc mạch máu bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó đo giãn mạch qua trung gian dòng chảy động mạch cánh tay bằng siêu âm với kích thích gây xung huyết là phương pháp đáng tin cậy và được sử dụng nhiều nhất hiện nay [67],[72],[83],[91], [143]. Đo giãn mạch qua trung gian dòng chảy động mạch cánh tay giúp phát hiện sớm thay đổi về chức năng mạch máu trong tiến trình vữa xơ động mạch và đánh giá hiệu quả của các biệp pháp can thiệp lên chức năng mạch máu. Nghiên cứu giãn mạch qua trung gian dòng chảy động mạch cánh tay và độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh đã được thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu ở người đái tháo đường týp 2 mới phát hiện. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự giãn mạch qua trung gian dòng chảy động mạch cánh tay và độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 mới phát hiện”. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1. Khảo sát sự giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD) động mạch cánh tay và độ dày lớp nội trung mạc (IMT) động mạch cảnh bằng siêu âm Doppler và 2D ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mới phát hiện. 2.2. Đánh giá sự tương quan giữa FMD động mạch cánh tay với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mới phát hiện.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu mối liên quan giữa biểu hiện tim với mục tiêu điều trị theo khuyến cáo ESC-EASD ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA BIỂU HIỆN TIM VỚI MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ THEO KHUYẾN CÁO ESC-EASD Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 CÓ TĂNG HUYẾT ÁP

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đái tháo đường (ĐTĐ) và Tăng huyết áp (THA) là hai bệnh lý mãn tính không chỉ chiếm tỷ lệ khá cao mà còn đang gia tăng với tốc độ nhanh chóng trên toàn cầu. Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới năm 2013 cho thấy có 382 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [43]. Tương tự, THA cũng gia tăng từ 972 triệu người mắc bệnh năm 2000 (26%) lên đến 1,56 tỷ người vào năm 2025 (29%) [45]. Bệnh THA thường đi kèm với ĐTĐ đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu [68], [69], [96], với tần suất ước tính dao động từ 40% đến 80% [45], [47], [48]. Kết hợp không mong muốn của THA và ĐTĐ đã tạo nên gánh nặng cho hệ thống tim mạch. Thật vậy, các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ số khối cơ thất trái gia tăng một cách đáng kể trên bệnh nhân đái tháo đường có kèm tăng huyết áp. Grossman và cộng sự ghi nhận tỷ lệ phì đại thất trái trên bệnh nhân đái tháo đường có tăng huyết áp chiếm 72%, nhưng tỷ lệ này chỉ chiếm 32% ở bệnh nhân tăng huyết áp không có đái tháo đường với cùng mức độ tăng huyết áp [63]. Phì đại thất trái đã được chứng minh là yếu tố dự báo các biến cố tim mạch, vì thế kết quả này cho thấy sự gia tăng phì đại thất trái cũng đồng nghĩa với sự gia tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong trên đối tượng đái tháo đường có tăng huyết áp. Nghiên cứu Framingham cũng đã chứng minh rằng THA kết hợp ĐTĐ làm tăng 30% nguy cơ tử vong chung và 25% các biến cố tim mạch [45]. Kết quả này góp phần khẳng định lại nhận định của các nghiên cứu trước đây rằng THA thật sự là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra các biến chứng tim mạch trên bệnh nhân ĐTĐ [45]. Sự gia tăng đáng kể của gánh nặng bệnh tật và tử vong do tim mạch trên đối tượng ĐTĐ kèm THA [63], [94], đã thúc đẩy các hiệp hội tim mạch và đái tháo đường đưa ra khuyến cáo đánh giá nguy cơ tim mạch trở thành mục tiêu hàng đầu trong những năm gần đây. Tuy nhiên, trong số các khuyến cáo của các hiệp hội đái tháo đường hay hiệp hội tăng huyết áp, chỉ có khuyến cáo của hội tim mạch và nghiên cứu đái tháo đường Châu Âu (ESC-EASD) là có sự kết hợp thống nhất của các chuyên gia có kinh nghiệm trong cả hai chuyên ngành Tim mạch và Nội tiết nhằm đưa đến cách tiếp cận tối ưu nhất. Cụ thể khuyến cáo đã đề nghị tầm soát bệnh tim đái tháo đường từ giai đoạn chưa có biểu hiện lâm sàng thông qua đánh giá toàn diện các yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có THA. Bên cạnh các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống, ESC-EASD đã kiến nghị nên tầm soát thêm nhóm yếu tố nguy cơ tim mạch không truyền thống bao gồm các dấu chỉ điểm sinh học và hình ảnh học giúp phát hiện sớm tổn thương cơ quan đích ở giai đoạn tiền lâm sàng [54], [98]. Bệnh nhân ĐTĐ khi có tổn thương cơ quan đích sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch độc lập với các nguy cơ có sẳn của bệnh nhân [60], vì thế các đối tượng này sẽ được xếp vào nhóm có nguy cơ tim mạch cao hay rất cao [98]. Tại Việt Nam, áp dụng khuyến cáo ESC-EASD trong thực hành lâm sàng và trong nghiên cứu vẫn còn riêng lẻ, cũng như nhận thức để tầm soát bệnh tim đái tháo đường ở giai đoạn tiền lâm sàng vẫn còn khá hạn chế. Vì thế, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải nâng cao tầm quan trọng của đánh giá nguy cơ tim mạch toàn diện và tầm soát bệnh tim đái tháo đường ở giai đoạn sớm, thông qua việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu mối liên quan giữa biểu hiện tim với mục tiêu theo khuyến cáo ESC-EASD ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp”. Mục tiêu nghiên cứu 1- Đánh giá theo mục tiêu khuyến cáo điều trị của ESC-EASD, một số yếu tố nguy cơ tim mạch và biểu hiện tim (nồng độ NTproBNP huyết thanh, hình thái, cấu trúc và chức năng thất trái qua siêu âm tim) trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp không có bệnh tim thiếu máu cục bộ. 2- Xác định mối liên quan và sự thay đổi giữa mục tiêu khuyến cáo và yếu tố nguy cơ tim mạch với biểu hiện tim trước và sau 12 tháng theo dõi.
Xem thêm

172 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THEO TIÊU CHÍ ĐỒNG THUẬN CỦA ADA VÀ EASD TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THEO TIÊU CHÍ ĐỒNG THUẬN CỦA ADA VÀ EASD TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường đang là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu. Tỷ lệ mắc bệnh tăng theo thời gian, theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới, số người mắc bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới năm 2011 là 366 triệu người và sẽ tăng lên 552 triệu người vào năm 2030 [85], trong đó đái tháo đường týp 2 chiếm vào khoảng 85 - 95%. Bệnh đái tháo đường týp 2 cần thiết điều trị sớm tích cực khi đã phát hiện bệnh, nhằm ngăn ngừa biến chứng, hoặc làm chậm tiến triển các biến chứng đã có. Các thử nghiệm lâm sàng và dịch tể học cho thấy lợi ích của việc kiểm soát glucose máu tích cực trên các biến chứng mạn tính [26], [80]. Nghiên cứu bệnh đái tháo đường tại Vương quốc Anh (UKPDS) cho thấy nhóm kiểm soát glucose máu tích cực với giảm mỗi một phần trăm HbA1c, thì giảm tất cả các biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường 12%, nhồi máu cơ tim giảm 16%, biến chứng mạch máu nhỏ giảm 25% [80]. Ngoài việc kiểm soát glucose máu là nền tảng trong điều trị bệnh đái tháo đường, bệnh nhân cũng cần kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ làm dễ xuất hiện biến chứng hay làm nặng thêm biến chứng làm tăng bệnh suất và tử suất nhất là nguy cơ tim mạc, như huyết áp, tăng lipid máu, béo phì và béo bụng [17]. Trong nghiên cứu can thiệp đa yếu tố và bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 (STENO - 2) cho thấy nhóm kiểm soát đa yếu tố tích cực làm giảm 53% nguy cơ tim mạch, 61% nguy cơ bệnh thận, 58% nguy cơ bệnh võng mạc [46]. Tuy nhiên, điều trị bệnh đái tháo đường để đạt và duy trì HbA1c tối ưu không phải là dễ. Trong nghiên cứu STENO - 2 cho thấy với nhóm điều trị tích cực thì tỷ lệ HbA1c < 6,5% chỉ gần 20% [46]; theo Trung tâm khảo sát dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ (NHANES) 1999-2004 chỉ có 52,2% bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c < 7% ở Mỹ [43]. Theo Diabcare Asia 2003 việc kiểm soát glucose máu tại các quốc gia Châu Á rất kém, HbA1c > 7,5% chiếm 51,8%. Tại Việt Nam, tỷ lệ kiểm soát glucose máu tốt (HbA1c < 7%) chiếm tỷ lệ thấp 38,5% [52],[62]. Tại Bình Định, theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Chất tỷ lệ kiểm soát glucose máu chấp nhận được (HbA1c ≤ 7,5) là 29,8% [3]. Vấn đề chọn lựa phác đồ điều trị như thế nào là thích hợp cho mỗi bệnh nhân đây là vấn đề cần cân nhắc kỹ, vì mỗi bệnh nhân đái tháo đường týp 2 không phải ai cũng như nhau, có người ở giai đoạn sớm tương ứng với pha I tức pha còn tăng tiết insulin, người pha II tương ứng với bình tiết insulin, hoặc pha III là pha bắt đầu giảm tiết, chưa kể người chưa có biến chứng, người có biến chứng nặng, người dung nạp thuốc tốt hoặc không. Do vậy qua nhiều thập niên, có nhiều phác đồ điều trị bệnh ĐTĐ, nhưng mục tiêu cân bằng nồng độ glucose máu đói, trước ăn hay 2 giờ sau ăn cũng như HbA1c không khác biệt nhau nhiều, việc quan trọng là chọn phác đồ điều trị thích nghi từng cá nhân, và thay đổi phác đồ theo đáp ứng của HbA1c. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn phác đồ đồng thuận của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ và Hiệp hội nghiên cứu bệnh đái tháo đường Châu Âu năm 2009 (ADA/EASD) [63]. Đây là phác đồ có giá trị thực tiễn trong lâm sàng, dễ áp dụng, dễ lựa chọn [41]. Vì thế chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm của Đái tháo đường týp 2 và hiệu quả điều trị theo tiêu chí đồng thuận của ADA và EASD tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định” nhằm 2 mục tiêu sau: 1.Tìm hiểu đặc điểm Đái tháo đường týp 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định. 2.Đánh giá hiệu quả điều trị theo tiêu chí đồng thuận của ADA và ESAD.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Nghiên cứu hiệu quả điều trị bằng thay đổi lối sống và Metformin trên bệnh nhân tiền đái tháo đường

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG THAY ĐỔI LỐI SỐNG VÀ METFORMIN TRÊN BỆNH NHÂN TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh lý ngày càng phổ biến, gây nhiều biến chứng trầm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân. Trên 85% bệnh nhân đái tháo đường là týp 2 béo, mà béo phì nhất là béo dạng nam là nguy cơ cao gây đề kháng insuline, mà đề kháng insuline sẽ phát triển tiền đái tháo đường và đái tháo đường týp 2 và bệnh tim mạch [7]. Thật vậy, khi vòng bụng càng tăng, thì mỡ tạng nhiều, hậu quả gây tiết nhiều hormone kháng insuline, bên cạnh đó còn có nhiều hormone gây viêm gây chết tế bào theo chương trình làm xấu thêm tình trạng tăng glucose máu, tăng lipid máu và gây xơ vữa sớm Có từ 20-40% bệnh nhân đái tháo đường týp 2 khi mới phát hiện đã có biến chứng nhất là biến chứng xơ vữa động mạch lớn [2]; điều này gợi ý là các rối loạn viêm và xơ vữa đã có ngay trong giai đoạn tiền lâm sàng hoặc giai đoạn tiền đái tháo đường. Tiền đái tháo đường được chẩn đoán khi có mức glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa vượt quá mức của chẩn đoán đái tháo đường, mức này còn được gọi là rối loạn glucose máu đói hay tổn thương dung nạp glucose. Tại Mỹ năm 2007, theo thống kê đã có 57 triệu người có tiền đái tháo đường. Khoảng 40-50% những người tiền đái tháo đường có nguy cơ phát triển thành đái tháo đường týp 2 trong vòng 10 năm; và tiền đái tháo đường cũng tăng nguy cơ bệnh tim mạch làm tăng bệnh suất và tử suất [17]. Theo Chương trình Phòng bệnh đái tháo đường (Diabetes Prevention Program/DPP) và nhiều nghiên cứu lớn cho rằng người tiền đái tháo đường có thể điều trị được, và ngăn chặn được tiền đái tháo đường chuyển qua đái tháo đường týp 2. Do vậy để ngăn ngừa đái tháo đường týp 2 cũng như các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thì phải ngăn ngừa ngay từ giai đoạn tiền đái tháo đường bằng cách thay đổi lối sống, tránh tĩnh tại, tránh béo phì; bằng cách tập luyện thể dục kèm tiết thực nhằm giảm cân, ví dụ theo DPP, đi bộ 30 phút mỗi ngày, và 5 ngày trong tuần, thì giảm từ 5 đến 7% trọng lượng cơ thể, ngăn được tiền đái tháo đường hay ngăn chuyển qua ĐTĐ gần 60%; thậm chí phải dùng thuốc cải thiện tính đề kháng insuline. DPP cũng chứng minh rằng dùng Metformin giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 đến 31%. Bên cạnh đó còn phải điều chỉnh huyết áp tốt cũng như lipid máu theo mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới. Tiền đái tháo đường và tăng insuline máu thường không có biểu hiện lâm sàng; tuy nhiên có vài bệnh nhân có ít dấu chỉ điểm lâm sàng gợi ý như chứng gai đen, dấu sừng hóa hay da đen vài vị trí như ở vòng cổ (còn gọi là Acanthosis Nigricans), khủy tay, đầu gối, vùng nách...mà các dấu này chỉ có bác sĩ chuyên khoa mới biết được. Do vậy phát hiện sớm tiền đái tháo đường là một việc làm hết sức quan trọng trong phòng chống đái tháo đường, cũng như thăm dò sớm các rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và đề kháng insulin trên bệnh nhân tiền đái tháo đường nhằm điều trị sớm, góp phần hạn chế tiến triển đến đái tháo đường týp 2. Vì vậy, Tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả điều trị bằng thay đổi lối sống và Metformin trên bệnh nhân tiền đái tháo đường” với hai mục tiêu: 1. Xác định sự rối loạn lipid máu, glucose, HbA1c, vòng bụng, BMI ở bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau điều trị bằng thay đổi lối sống và Metformin trong thời gian 3 tháng. 2. Đánh giá mối liên quan và tương quan giữa glucose máu, HbA1c trước và sau điều trị Metformin với các yếu tố nguy cơ (tiền sử gia đình, tuổi bệnh nhân, BMI, vòng bụng, huyết áp, rối loạn lipid máu).
Xem thêm

111 Đọc thêm

Nghiên cứu nồng độ NT - proBNP trên bênh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ NT - PROBNP TRÊN BÊNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CÓ BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa trong đó có sự gia tăng đường máu kéo dài phối hợp thiếu hụt tương đối hay tuyệt đối tiết và hay là tác dụng của insulin, gây nhiều biến chứng cấp và mạn tính [9], [3], [4]. “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa” dự báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở thành hiện thực. Trong đó đái tháo đường được xem là vấn đề cấp thiết của thời đại.[29],[7] Đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường type 2 chiếm đến 80 - 90%, thường âm thầm, không có triệu chứng lâm sàng trong một thời gian dài, nếu không được phát hiện và điều trị đúng đắn sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm]. Biến chứng của bệnh thường rất phổ biến, khi nói đến đái tháo đường người ta liên tưởng ngay đến biến chứng tim mạch chiếm 75% bệnh nhân và trên 50% bệnh nhân bị biến chứng tim mạch ngay lần đầu phát hiện bệnh. Điều đó có nghĩa là biến chứng đã hình thành từ giai đoạn tiền đái tháo đường [18]. Biến chứng tim mạch cũng là nguyên nhân gây tử vong của hơn 75% bệnh nhân ĐTĐ trong đó nguyên nhân chính liên quan đến bệnh mạch vành (BMV) chính vì thế bệnh ĐTĐ hiện nay được xem là một yết tố nguy cơ độc lập của BMV, khoảng 20% bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim(NMCT) và 20% bênh nhân có hội chứng mạch vành không ổn định là bệnh nhân ĐTĐ [22],[40 ].[8] Đái tháo đường làm tăng nguy cơ suy tim từ 2 - 5 lần so với người không đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2- 3 lần ở nam giới và 3 - 5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong việc theo dõi điều trị cũng như phòng bệnh [17]. Trong những năm gần đây với sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh, siêu âm tim đã trở thành phương pháp không xâm nhập, dễ sử dụng. Nó cho phép thăm dò về hình thái và chức năng thất trái. Bên cạnh đó các nhà khoa học đã tìm ra các peptide lợi niệu nhóm B, đặc biệt nồng độ NT-proBNP huyết tương có vai trò trong chẩn đoán rối loạn hình thái và chức năng tim, ước lượng độ nặng và tiên lượng suy tim [76]. Xét nghiệm này được phát triển một cách nhanh chóng sẽ góp phần vào việc kiểm soát và điều trị suy tim có hiệu quả hơn. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dấu ấn sinh học này, Pudil R ghi nhận nồng độ NT-proBNP liên quan một cách có ý nghĩa với đường kính cuối tâm thu, cuối tâm trương thất trái và phân suất tống máu. Theo Tschope C, nồng độ NT-proBNP huyết tương là một yếu tố dự báo độc lập của rối loạn chức năng tâm trương [29]. Tại Việt Nam cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng [5]. Việc định lượng NT-proBNP còn khá mới mẽ và chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có các công trình nghiên cứu nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân suy tim, suy thận mạn, nhưng ít có nghiên cứu trên người bệnh đái tháo đường. Việc sử dụng dấu ấn sinh học này để phát hiện sớm suy tim ở giai đoạn im lặng có tầm quan trọng đối với hiệu quả quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường nhất là tại các tuyến y tế cơ sở. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nồng độ NT - proBNP trên bênh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ” Đề tài nhằm các mục tiêu sau: 1.Xác định nồng độ NT - ProBNP huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ theo tuổi và giới tính 2.Xác định mối liên quan giữa nồng độ NT - ProBNP huyết tương với các yếu tố nguy cơ, lâm sàng, cận lâm sàng và chức năng tâm thu thất trái.
Xem thêm

102 Đọc thêm

XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH BỆNH TẬT CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CỦ CHI

XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH BỆNH TẬT CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CỦ CHI

9Mặt khác tại các bệnh viện, mô hình bệnh tật và tử vong đã có thay đổi nhiều sovới những năm trước đòi hỏi ngành y tế Việt Nam phải đáp ứng cơ bản nhu cầukhám chữa bệnh của đại đa số nhân dân trên cả nước với chất lượng dịch vụ ngàycàng cao và chi phí hợp lý, được nhân dân chấp nhận.Việc chăm sóc sức khỏe và giải quyết các vấn đề bệnh tật cần theo quan điểm dựphòng tích cực và chủ động, đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh, rèn luyệnthân thể, đi đôi với hiệu quả điều trị. Quan điểm này thể hiện sự coi trọng y tế côngcộng, các giải pháp cộng đồng và chú trọng tới các dịch vụ y tế.Mô hình bệnh tật ở nước ta đan xen giữa các bệnh lây nhiễm và không lâynhiễm. Các bệnh không lây, các bệnh do tai nạn, ngộ độc, chấn thương có xu hướnggia tăng cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong nhất là các bệnh tim mạch, khối u, sức khỏetâm thần, các chấn thương do tai nạn...Theo số liệu thống kê trong hệ thống thôngtin y tế, tỷ trọng mắc của nhóm các bệnh lây nhiễm chiếm khoảng 55,5% năm 1976đã giảm xuống 25,2% vào năm 2008, Nhóm các bệnh không lây nhiễm ngày cànggia tăng qua các năm từ 42,7% năm 1976 lên 63,1% năm 2008. Nhóm các bệnh dongộ độc, chấn thương, tai nạn vẫn duy trì ở tỷ lệ 10%.Các yếu tố kinh tế, xã hội, đô thị hóa, lối sống, dinh dưỡng..., trong những nămvừa qua gây ra những yếu tố nguy cơ dẫn đến sự gia tăng các bệnh không lây nhiễmnhư đái tháo đường, thừa cân béo phì, tăng huyết áp và các bệnh tim mạch, sangchấn tinh thần, ung thư...Chi phí điều trị cho bệnh không lây nhiễm trung bình caogấp 40-50 lần so với điều trị các bệnh lây nhiễm (do đòi hỏi kỷ thuật cao, thuốc đặctrị đắt tiền, thời gian điều trị lâu, dễ bị biến chứng). Chẳng hạn một ca mổ tim có chiphí từ 100-150 triệu đồng; một đợt điều trị cao huyết áp cũng từ 20 -30 triệu đồngvà phải tiếp tục điều trị duy trì để giữ mức ổn định với chi phí trung bình hàngtháng từ 3-5 triệu đồng, tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh, Đồng thời các cơ sởcung ứng dịch vụ y tế phải tăng đầu tư các trang thiết bị y tế đắt tiền để phát hiện và
Xem thêm

119 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH NGOÀI SỌ Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TRÊN LỀU GIAI ĐOẠN CẤP CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH NGOÀI SỌ Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TRÊN LỀU GIAI ĐOẠN CẤP CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ não là một vấn đề thời sự của y học, thế giới mỗi năm có khoảng 15 triệu người mắc trong đó 5 triệu người tử vong, 60% trường hợp đột quỵ não và 2/3 số trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư [67]. Tuổi thọ con người ngày càng được nâng cao, cùng với các bệnh thời đại như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa, đột quỵ não có xu hướng tăng nhanh. Theo Tổ chức Y tế thế giới: đột quỵ não là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót thần kinh, thường khu trú hơn là lan toả, tồn tại quá 24 giờ, các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương. Đột quỵ não gồm hai thể: nhồi máu não và chảy máu não trong đó nhồi máu não chiếm tỷ lệ cao hơn. Đánh giá tình trạng vữa xơ động mạch cảnh có ý nghĩa lớn trong điều trị: với mảng vữa xơ lớn gây hẹp tắc lòng mạch thì can thiệp phẫu thuật giúp làm giảm tỷ lệ nhồi máu não tái phát. Để đánh giá tình trạng vữa xơ, hẹp tắc động mạch cảnh có nhiều phương pháp thăm dò như chụp động mạch, siêu âm động mạch cảnh, chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu. Chụp động mạch não là phương pháp thăm dò có độ chính xác cao nhưng có những biến chứng nhất định. Siêu âm Doppler là một phương pháp rất được ưa chuộng vì có thể tiến hành rộng rãi ở nhiều bệnh viện, có độ chính xác khá cao mà không gây biến chứng [95]. Cùng với đột quỵ não, đái tháo đường là bệnh lý thời đại với số bệnh nhân ngày một tăng. Biến chứng của đái tháo đường lên mạch máu thường được nghĩ nhiều đến là tổn thương vi mạch (tắc mạch máu nhỏ trong não). Tuy nhiên đái tháo đường còn làm tăng vữa xơ các mạch máu vừa và lớn đặc biệt là hệ động mạch cảnh từ đó gây tắc các động mạch trong não. Đái tháo đường không những là nguyên nhân mà còn có thể ảnh hưởng đến tiên lượng và mức độ hồi phục của nhồi máu não [108]. Ở nước ta, bệnh lý hẹp tắc động mạch thuộc hệ động mạch cảnh trong đã được các bác sĩ chuyên khoa thần kinh chú ý đến từ đầu những năm 1980, đơn cử ba công trình nghiên cứu năm 1983, 1985, 1987 của các tác giả Ngô Đăng Thục, Lê Văn Thính và Lâm Văn Chế. Từ khi máy siêu âm Doppler được trang bị ở nhiều bệnh viện, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về hệ động mạch cảnh và mối liên quan giữa vữa xơ động mạch cảnh với các tình trạng bệnh lý khác. Tuy nhiên nước ta chưa có nhiều nghiên cứu sâu mối liên quan giữa hình ảnh siêu âm Doppler động mạch cảnh với lâm sàng của nhồi máu não và các yếu nguy cơ gây vữa xơ đặc biệt là đái tháo đường. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh siêu âm Doppler động mạch cảnh ngoài sọ ở bệnh nhân nhồi máu não trên lều giai đoạn cấp có đái tháo đường” được tiến hành với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh vữa xơ động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng siêu âm Doppler ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp có đái tháo đường. 2. Đánh giá mối liên quan giữa lâm sàng, hình ảnh siêu âm động mạch cảnh ngoài sọ và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp có đái tháo đường.
Xem thêm

135 Đọc thêm

Nghiên cứu nồng độ homocystein ở bệnh nhân tiểu đường

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN Ở BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG

Trong những năm gần đây nhiều tác giả đã chú ý đến yếu tố nguy cơ độc lập xuất hiện sớm các biến chứng trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2, đó là homocystein (Hcy). Homocystein là một acid amin, được tạo thành từ quá trình khử nhóm methyl của methionin. Homocystein là yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành, liên quan chặt chẽ tới tiên lượng bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường týp týp 2, kháng insulin, tăng nguy cơ xuất hiện và mức độ trầm trọng bệnh thận, bệnh lý võng mạc, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tăng homocystein làm tăng nguy cơ xuất hiện và liên quan đến biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Xem thêm

123 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm xạ hình chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Nghiên cứu đặc điểm xạ hình chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Bài viết trình bày nghiên cứu đặc điểm xạ hình chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tìm hiểu mối liên quan giữa mức lọc cầu thận với đường máu, HbA1 c, tăng huyết áp và albumin niệu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Đọc thêm

BÀI GIẢNG ỨNG DỤNG CỦA HORMON TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

BÀI GIẢNG ỨNG DỤNG CỦA HORMON TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Tất cả các loại insulin đều được dùngđể điều trị cho mọi thể đái tháođường. Bệnh nhân đái tháo đường type 1 bắt buộc sử dụnginsulin để điều trị. Bệnh nhân đái tháo đường type 2 cần được điều trịbằng insulin trong trường hợp: cấp cứu (tiền hôn mê,hôn mê do đái tháo đường), sút cân nhiều, suy dinhdưỡng, có bệnh nhiễm khuẩn kèm theo, chuẩn bị vàtrong khi phẫu thuật, có biến chứng nặng do đái tháođường (bệnh lý võng mạc, suy gan, suy thận nặng,nhồi máu cơ tim, bệnh lý tim mạch nặng); dùngthuốc uống với liều tối đa không có tác dụng; bệnhnhân là phụ nữ có thaiGây các tác dụng không mongmuốn Thường gặp nhất là hạ đường huyết (vã mồ hôi, hạthân nhiệt, co giật, thậm chí hôn mê) Thường gặpnhất là hạ đường huyết (vã mồ hôi, hạ thân nhiệt, cogiật, thậm chí hôn mê) Có người bị dị ứng, xuất hiện sau khi tiêm lần đầuhoặc sau nhiều lần tiêm insulin, tỷ lệ gặp thấp. Một tác dụng phụ khác là phản ứng tại chỗ tiêm nhưngứa, đau, cứng hoặc u mỡ vùng tiêm; cần phòngngừa bằng cách thay đổi vị trí tiêm thường xuyên vàcác mũi tiêm cách nhau 3-4 cm.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2018

Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2018

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2018. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Đọc thêm

Nghiên cứu bệnh tim đái tháo đường qua chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2

NGHIÊN CỨU BỆNH TIM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG QUA CHỈ SỐ TEI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những căn bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu và cũng là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay (ung thư, bệnh tim mạch và đái tháo đường). Theo Hiệp Hội Đái Tháo Đường Quốc Tế bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển.Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giớivào năm 2013 có khoảng 382 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [53]. Đái tháo đường (ĐTĐ) đặc biệt ĐTĐ type 2 là một bệnh rối loạn về chuyển hóa do sự suy giảm chức năng tế bào beta trên nền đề kháng insulin. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu vả rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong đó sự gia tăng glucose máu lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm của nhiều cơ quan[3]. Vì thế khi nói đến đái tháo đường type 2 người ta thường nghĩ ngay đến biến chứng tim mạch. Đây là các biến chứng có thể đặc hiệu hay không đặc hiệu xảy ra sớm và thường gặp. Đặc điểm biến chứng như bệnh cơ tim đái tháo đường, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim và bệnh lý thần kinh tự động tim thường xảy ra sớm ở phần lớn các trường hợp và cũng thường thầm lặng trong nhiều năm trước khi có biểu hiện lâm sàng cần phải can thiệp. Theo nghiên cứu dịch tễ của Frangminham tỷ lệ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 2 lần ở nam, gấp 5 lần ở nữ so với người không bị ĐTĐ, thậm chí sau khi đã loại trừ bệnh mạch vành, bệnh tim do thấp và các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp (THA), béo phì, rối loạn lipid máu thì tỷ lệ bệnh cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ vẫn cao gấp 4 – 5 lần so với người không bị bệnh này. Bệnh tim đái tháo đường là một bệnh lý liên quan đến vi mạch mạch vành, thường đi kèm tăng huyết áp và xơ vữa động mạch vành (động mạch vành thượng tâm mạc), xảy ra âm thầm và sớm với các biểu hiện của rối loạn chức năng tâm trương, sau đó rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Các biến chứng của đái tháo đường ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống cũng như gây nhiều tốn kém về kinh tế cho người bệnh. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2-3 lần ở nam giới và 3-5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các rối loạn về cấu trúc và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong vấn đề theo dõi, điều trị cũng như phòng bệnh.Việc chọn lựa một phương pháp thăm dò không thâm nhập, hiện đại với tỷ lệ phát hiện cao bệnh lý tim đồng thời khảo sát được cấu trúc và chức năng của tim, có thể nói siêu âm tim là một trong những phương tiện thăm dò ưu việt đối với bệnh nhân đái tháo đường hiện đang được sử dụng tại các trung tâm tim mạch trên thế giới, tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đái tháo đường, tại địa phương chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tương đối phổ biến nhưng chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách đúng mức nhất là lĩnh vực siêu âm Doppler tim [25]. Gần đây nhất một thông số siêu âm Doppler tim mới do Tei và cộng sự đề xuất nhằm đánh giá chức năng toàn bộ thất trái bằng chỉ số chức năng cơ tim hay chỉ số Tei (Tei index), một chỉ số đơn giản, dễ thực hiện, ít bị ảnh hưởng bởi tuổi, huyết áp, tần số tim, tiền gánh so với các chỉ số kinh điển khác. Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số Tei trong đánh giá chức năng thất trái ở các bệnh như nhồi máu cơ tim, thông liên nhĩ, tăng áp phổi, suy tim, tăng huyết áp nguyên phát [61]. Ở Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu về chỉ số Tei ở người bình thường và gần đây nhất là trong đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, tuy nhiên đối với đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường chưa thấy đề cập nhiều trong y văn [10]. Mục tiêu của đề tài: 1. Đặc điểm yếu tố nguy cơ, một số chỉ số đánh gía hình thái và chức năng thất trái qua siêu âm và chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường type 2. 2. Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số Tei và một số thông số hình thái và chức năng thất trái với một số yếu tố nguy cơ liên quan trên những bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Mục đích của luận án nhằm Phân tích một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Bước đầu nhận xét điều trị trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Đọc thêm

Nghiên cứu hình ảnh cắt lớp vi tính đột quỵ não ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Nghiên cứu hình ảnh cắt lớp vi tính đột quỵ não ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh đột quỵ não ở bệnh nhân có đái tháo đường típ 2 trên chụp CT-scan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu tiền cứu mô tả. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 73 trường hợp đột quỵ não được chụp CT-scan não.

Đọc thêm

BỆNH LÝ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

BỆNH LÝ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bệnh lý Đái tháo đườngThường ở trẻ em từ 0 – 14 tuổi. Với tỷ lệ khoảng 57.000 ca/100.000 ca một năm ởPhần Lan, 39.000 ca/100.000 ca ở Macedonia và được thể hiện rõ hơn ở Atlas củaIDF (International Diabetes Federation).1. Đái tháo đường typ 1 Là một thể bệnh nặng Do tế bào bêta của tiểu đảo Langerhansbị tổn thương gây nên tình trạng thiếuinsulin tuyệt đối thường xuất hiện ở tuổi  Do cơ chế:•••Tiểu đường ở người trẻ hoặc tiểu đường phụthuộc insulinĐặc trưng: sự hủy hoại tế bào β của đảoLangerhans tụy và thiếu hụt gần như tuyệt đốiinsulinLà bệnh tự miễn dịch. Tế bào β là nơi sản xuấthormone Insulin cho phép đường từ thức ăn vào
Xem thêm

19 Đọc thêm

Khảo sát liên quan giữa chỉ số ACR và MLCT với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

Khảo sát liên quan giữa chỉ số ACR và MLCT với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

Bài viết khảo sát mối liên quan giữa chỉ số ACR và MLCT với một số đặc điểm, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ĐTĐ typ 2. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 173 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện nội tiết trung ương.

Đọc thêm

Cùng chủ đề