LỊCH SỬ TỔ CHỨC CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LỊCH SỬ TỔ CHỨC CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC":

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCThạc sỹ. Nguyễn Duy LongTrường Chính trị Trần Phú Hà TĩnhK4. Đại Nài. TP Hà TĩnhĐT: 039.885053NR: 039.858575; DĐ: 0913029682E-mail: longlawyer2004@yahoo.comTỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCI. KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCII. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCI. KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC1. Khái niệm về tổ chức lao động khoa học.2. Tổ chức lao động khoa học.3. Mục đích.4. Ý nghĩa1. Khái niệm về tổ chức lao độngLà một quá trình do con người thực hiện các biện pháp lao động cụ thể thông qua các công cụ lao động tác động lênđối tượng lao động nhằm đạt đước mục đích của quá trình lao động.2. Tổ chức lao động khoa họcLà quá trình con người thực hiện các biện pháp lao động một cách hợp lý, đảm bảo tính khoa học, áp dụng nhữngthành tựu khoa học tiên tiến nhất để đạt được mục đích lao động, không gây lãng phí về thời gian, sức lực và tiếtkiệm được của cải vật chất cho xã hội.3. Mục đíchĐạt hiệu quả tối ưu về kinh tế;Đạt hiệu quả tối ưu về xã hội;Đạt hiệu quả tối ưu về tâm sinh lý;Đạt hiệu quả tối ưu về kỹ thuật.4. Ý nghĩa+ Tạo điều kiện để cán bộ, công chức phát huy tối đa khả năng và trình độ chuyên môn, nâng cao năng suất laođọng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.+ Giảm tối đa biên chế và các bộ phận thừa, khắc phục được tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, góp
Xem thêm

2 Đọc thêm

tiểu luận cao học Về nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN CAO HỌC VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP QUYỀN LỰC GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội trong tất cả các thời đại. Theo suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại kể từ khi nhà nước ra đời đến nay đã có bốn kiểu nhà nước thay thế nhau và kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước. Giai cấp cầm quyền qua các thời đại đã dựa trên hai nguyên tắc cơ bản để tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước, đó là nguyên tắc tập quyền và nguyên tắc phân quyền.Tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước dân chủ dù được xây dựng trên bất cứ nguyên tắc nào đều phải đảm bảo những cơ sở pháp lý để nhà nước đó tiến hành có hiệu quả các hình thức hoạt động cơ bản đó là hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chỉ có trên cơ sở đó nhà nước mới thực hiện được đầy đủ các chức năng nhiệm vụ của mình.Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang từng bước tổ chức, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng đó luôn được khẳng định qua các kỳ đại hội từ năm 1946 trở lại đây và nó được thể chế hoá vào Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi) tại điều 2: “ Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ tri thức... quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Xem thêm

32 Đọc thêm

Phân tích Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

PHÂN TÍCH QUỐC HỘI LÀ CƠ QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CAO NHẤT

Phân tích Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Đề bài: Phân tích quy định: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Bài làm: Sự ra đời và phát triển của Quốc hội là kết quả của quá trình đấu tranh cách mạng và gắn liền với sự phát triển của đất nước ta trong suốt hơn 60 năm qua. Trong quá trình phát triển, Quốc hội ngày càng thực sự thể hiện là cơ quan kết hợp chặt chẽ và hài hòa hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp, là hiện thân của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ ngày thành lập đến nay, Quốc hội đã thể hiện hai thuộc tính đặc biệt mà chỉ duy nhất Quốc hội mới có, đó là: cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Theo quy định của hiến pháp – đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước CHXHCNVN: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCNVN” (điều 83 – hiến pháp 1992) Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất trong toàn bộ cơ cấu tổ chức của các cơ quan Nhà nước Việt Nam. Sở dĩ nói như vậy vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do dân toàn quyền trực tiếp bầu ra. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội thực hiện quyền lực Nhà nước tối cao của mình. Việc quy định trong hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao còn thể hiện quan điểm, nguyên tắc chỉ dạo việc thành lập các cơ quan Nhà nước ta: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực đó thông qua Quốc hội, do dân trực tiếp bầu ra. Và việc tổ chức quyền lực Nhà nước ta theo nguyên tắc tập quyền XHCN, tất cả quyền lực Nhà nước tập trung trong tay Quốc hội. Điều này hoàn toàn không có ý nghĩa Quốc hội trực tiếp thực hiện mọi nhiệm vụ của Nhà nước, mà thành lập ra các cơ quan Nhà nước khác, quy định những nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước đó và thực hiện quyền giám sát của mình đối với cơ quan Nhà nước. Hơn 60 năm qua, Quốc hội các khóa đã không ngừng chăm lo công tác xây dựng pháp luật. Mặc dầu đến nay, hệ thống pháp luật của Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, nhưng nhìn chung trên nhiều lĩnh vực của đời sống Nhà nước và xã hội từ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đến các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, giao lưu dân sự, hành chính, tư pháp... đã có luật hoặc bộ luật điều chỉnh. Nhiều bộ luật với trình độ pháp điển hóa cao lần lượt được ban hành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự... nhiều đạo luật mới lần đầu tiên ra đời ở nước ta như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật các Tổ chức tín dụng... nhờ đó mà tạo lập được môi trường pháp lý bình đẳng thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tồn tại và phát triển, các chủ trương phát huy nội lực, tăng nhanh vốn đầu tư trong nước và nhất là từ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân từng bước đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực. Bên cạnh đó, thông qua nhiệm vụ lập hiến và lập pháp, Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ khác của mình như quyết định các chính sách đối nội, đối ngoại, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ và lĩnh vực tổ chức hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác. Qua quá trình phát triển, Quốc hội các khóa đã thực hiện ngày càng có hiệu lực và hiệu quả chức năng quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Các nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm; về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; về dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước; về các công trình trọng điểm quốc gia; về tổ chức nhân sự của bộ máy Nhà nước; về chính sách dân tộc; về an ninh quốc phòng và đối ngoại... đã góp phần phát triển ổn định đất nước. Ngoài ra, giám sát là một trong những chức năng quan trong của Quốc hội. Thông qua việc thực hiện chức năng này, cho phép Quốc hội thể hiện mình là cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao. Giám sát của Quốc hội là giám sát tối cao, xuất phát từ vị trí của Quốc hội. Quốc hội có quyền giám sát tất cả mọi cơ quan Nhà nước từ Chủ tịch nước đến công dân. Nhưng Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao chỉ tập trung giám sát Chính phủ với tư cách là cơ quan chấp hành có trách nhiệm tổ chức thực hiện các đạo luật và nghị quyết của Quốc hội. Các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội về đầu tư, về xây dựng cơ bản, về các dự án trọng điểm quốc gia, về giáo dục đào tạo, và các lĩnh vực xã hội quan trọng khác, về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao... đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội đã đề ra, đấu tranh phòng chống các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy Nhà nước, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước. Tóm lại, hơn sáu mươi năm qua, Quốc hội Việt Nam đã thực sự trở thành một thiết chế dân chủ đại diện cao nhất, ngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất với chức năng lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Chức năng phối hợp của tổ chức

CHỨC NĂNG PHỐI HỢP CỦA TỔ CHỨC

Có thể thấy rằng, tổ chức hành chính Nhà nước là một hệ thống rộng lớn của các cơ quan hành chính, được thiết lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước. Đây là một hoạt động quản lý hết sức phức tạp, rộng lớn, đặc thù và do vậy, để hoạt động quản lý có hiệu quả, một vấn đề hết sức cấp bách đặt ra đó là phải tăng cường hơn nữa công tác, vai trò phối hợp giữa các cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình hoạt động của mình. Phối hợp là một trong những chức năng cơ bản của các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính Nhà nước nói riêng, cùng với các chức năng khác như chức năng lãnh đạo, tài chính – nhân sự, tổ chức, kiểm tra…để đảm bảo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động quản lý hành chính Nhà nước đạt hiệu lực, hiệu quả.Tuy vậy, có một vấn đề thực tế đặt ra hiện nay đó là, mặc dù sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính Nhà nước đã được nhận thức, thiết lập thông qua một số quy định cơ bản trong Hiến pháp và pháp luật, cũng như một số các văn bản dưới luật khác, tuy nhiên trên thực tế, việc phối hợp giữa các cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình hoạt động của mình vẫn còn nhiều vấn đề hết sức phức tạp và bất cập như vấn đề phân định trách nhiệm quyền hạn của các bên tham gia phối hợp đến đâu, hay như vấn đề trách nhiệm của các bên tham gia phối hợp là gì, ai sẽ là cơ quan, cá nhân chịu trách nhiệm chính nếu có các sai phạm, vấn đề phát sinh. Đó đã, đang và sẽ tiếp tục là một bài toán nan giải và chưa có lời giải trong thời gian tới do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để có thể làm rõ được các vấn đề trên, thiết nghĩ chúng ta phải hiểu được rõ bản chất của sự phối hợp, các hình thức, đặc điểm, cơ chế, nguyên tắc, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng phối hợp giữa các cơ quan hành chính Nhà nước. Chính vì vậy, nhóm 4 lớp Kh12 – Nhân sự 01 đã quyết định chọn đề tài: “Chức năng phối hợp của tổ chức hành chính Nhà nước” để tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu với hy vọng phần nào có thể phản ánh được chân thực nhất việc phối hợp hiện nay giữa các cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình hoạt động, quản lý của mình, để từ đó có một vài đề xuất đưa ra góp phần cải thiện tốt hơn nữa việc phối hợp giữa các cơ quan này trong quá trình hoạt động, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước nói riêng và quản lý Nhà nước nói chung.
Xem thêm

53 Đọc thêm

Đề cương tổ chức lao động khoa học và trang thiết bị văn phòng

ĐỀ CƯƠNG TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC VÀ TRANG THIẾT BỊ VĂN PHÒNG

Việc Tổ chức lao động khoa học lại cần thiết ở các cơ quan hành chính nhà nước tại vì: Việc tổ chức LĐKH trong các cơ quan HCNN từ trung ương đến địa phương tất nhiên cũng phải dựa trên các nguyên tắc chung của tổ chức LĐKH; Trong một cơ quan HCNN, các thông tin đc thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau như từ các đơn vị, bộ phận thuộc cơ quan quản lý, từ các cơ quan cấp trên, các cơ quan cấp dưới, từ các cơ quan hữu quan và từ nhân dân

15 Đọc thêm

CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật. Nhận định sai Vì chỉ có những các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền mới có quyền ban hành văn bản pháp luật.Mọi văn bản pháp luật có thể đánh số theo loại văn bản, theo loại việc hoặc đánh số tổng hợp. Nhận định sai Vì căn cứ vào điều 7 Luật BHVBQPPL năm 2008 văn bản quy phạm pháp luật chỉ được đánh số theo loại văn bản.Ký thay được áp dụng khi cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới ký khi vắng mặt. Nhận định Sai vì: theo điều 10 nghị định 1102004NĐCP về Công tác văn thư quy định: “ở cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả các văn bản của cơ quan tổ chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.
Xem thêm

7 Đọc thêm

NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

Nguyên tắc tập trung dân chủ Bài tập cá nhân Luật Hành chính Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Hành chính Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, nguyên tắc tập trung – dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất và là cơ sở để thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Điều đó được thể hiện rõ nhất theo quy định tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001): “ Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Cụ thể, vừa phải đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ; vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Trong quản lý hành chính nhà nước, tập trung nhằm đảm bảo thâu tóm quyền lực nhà nước vào chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạo việc thực hiện chính sách và pháp luật một cách thống nhất. Dân chủ nhằm hướng tới việc mở rộng quyền cho các đối tượng quản lý với mục đích phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động quản lí, phát huy khả năng tiềm tàng của đối tượng quản lí trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật. Trong quản lí hành chính nhà nước, cần đảm bảo phối hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ cả hai yếu tố này. Nếu chỉ lãnh đạo một cách tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo điều kiện cho các hành vi lạm quyền, hách dịch, quan liêu, tham nhũng phát triển. nếu không có sự lãnh đạo tập trung thống nhất thì sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, vô chính phủ. Trong quản lí hành chính nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở: Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp: Cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, sát nhập hoặc giải thể các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp: Quốc hội thành lập ra Chính phủ và trao cho chính phủ quyền hành pháp. Ở địa phương, các ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và thực hiện hoạt động quản lí hành chính ở địa phương. Các cơ quan khác trong bộ máy hành chính nhà nước như bộ, cơ quan ngang bộ đều do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập, thay đổi hay bãi bỏ. Trong hoạt động, cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời có trách nhiệm báo cáo hoạt động với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Sự phụ thuộc đó nhằm đảm bảo hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước phải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời đảm bảo tập trung quyền lực vào hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước –cơ quan do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Trong thực hiện hiến pháp, pháp luật yếu tố dân chủ được thể hiện rõ nét thông qua việc cơ quan quyền lực nhà nước trao quyền chủ động, sáng tạo cho các cơ quan hành chính nhà nước. Đồng thời không can thiệp vào hoạt động, mà tạo điều kiện thuận lợi, cần thiết để các cơ quan hành chính hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ quản lí của mình trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung ương: Sự phục tùng này đảm bảo cho cấp trên và trung ương tập trung quyền lực để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và của địa phương trên cả phương diện tổ chức và hoạt động. Nếu thiếu sự phục tùng trên sẽ dẫn đến sự buông lỏng lãnh đạo, quản lí tập trung của trung ương và cấp trên, làm nảy sinh tình trạng tùy tiện, vô chính phủ. Đồng thời cấp trên, trung ương cũng cần tôn trọng ý kiến cấp dưới, địa phương về công tác tổ chức, hoạt động và các vấn đề khác trong quản lý hành chính nhà nước; tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc phân cấp quản lí: Là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được hiệu quả trong quản lí hành chính nhà nước. Trong việc phân cấp quản lí, có sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp. trong phạm vi thẩm quyền được giao, mỗi cấp quản lí được tiến hành những hoạt động nhất định nhàm phát huy tính năng động sáng tạo của mình. Phân cấp quản lí là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ, tuy nhiên việc phân cấp phải đảm bảo: Trung ương có quyền quyết định những vấn đề có ý nghĩa then chốt, chiến lược nhằm đảm bảo sự phát triển của toàn xã hội và đảm bảo sự quản lí tập trung, thống nhất trong cả nước; Trung ương thực hiện giao quyền cho các địa phương, các đơn vị cơ sở nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lí, thúc đẩy sản xuất phát triển phục vụ đời sống, trên cơ sở đó hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên việc phân cấp quản lý cần phải thực hiện cụ thể, hợp lí trên cơ sở những quy định của pháp luật. Hướng về cơ sở: Trong bộ máy hành chính nhà nước, các đơn vị cơ sở là nơi tạo ra của cải vật chất, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì thế việc tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế, văn hóa xã hội hoàn thành tốt nhiệm vụ là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lí tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa –xã hội trực thuộc. Nhà nước quan tâm, hướng dẫn, cung cấp những trang thiết bị cần thiết, giúp đỡ về vật chất, tinh thần nhằm tạo những điều kiện tốt nhất để các đơn vị này hoạt đông hiệu quả. Đồng thời, nhà nước có các chính sách, biện pháp quản lí thống nhất và chặt chẽ tổ chức, hoạt động của hệ thống các đơn vị cơ sở. Có như vậy mới thúc đẩy hoạt động của các đơn vị cơ sở phát triển mạnh mẽ và hiệu quả. Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: Sự phụ thuộc này thể hiện cả ở hai mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và được pháp luật quy định cụ thể. Ở địa phương, cơ quan hành chính phụ thuộc vào cơ quan quyền lực cùng cấp đồng thời phụ thuộc vào cơ quan hành chính ở cấp trên trực tiếp. Theo luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ( sửa đổi) thì ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và phải được chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn và ủy ban nhân dân có trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban nhân dân cấp trên. Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với hội đồng nhân dân tỉnh và Chính phủ. Mối quan hệ như trên tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy dân chủ, phát huy thế mạnh vốn có của địa phương để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời, giúp cấp trên có thể tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo hoạt động của cấp dưới một cách thống nhất. Nguyên tắc này đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nước với lợi ích địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích vùng lãnh thổ.
Xem thêm

4 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TẾ TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TẾ TỈNH VĨNH PHÚC

Giám sát hành chính (hay còn gọi là giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước) bao gồm giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp và giám sát xã hội (giám sát của các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan báo chí v.v...). Mục đích của giám sát hành chính là phát hiện các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, ngăn ngừa, uốn nắn những sai lầm, lệch lạc, thực hiện mục tiêu quản lý hành chính nhà nước, góp phần hỗ trợ cho hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp. Với vai trò quan trọng đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có ý nghĩa hết sức to lớn và cần thiết.
Xem thêm

130 Đọc thêm

SO SÁNH LUẬT KẾ TOÁN 2003 VÀ LUẬT KẾ TOÁN 2015

SO SÁNH LUẬT KẾ TOÁN 2003 VÀ LUẬT KẾ TOÁN 2015

toán khi phát hiện các vi phạm pháp luật về tàib) Tổ chức điều hành bộ máy kế toán theo quy chính, kế toán trong đơn vị; trường hợp vẫnphải chấp hành quyết định thì báo cáo lên cấpđịnh của Luật này;trên trực tiếp của người đã ra quyết định hoặcc) Lập báo cáo tài chính.cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không2. Kế toán trưởng có quyền độc lập về chuyên phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thihành quyết định đó.”môn, nghiệp vụ kế toán.1. Kế toán trưởng có trách nhiệm:3. Kế toán trưởng của cơ quan nhà nước, đơn vịsự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhànước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phíngân sách nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, ngoàicác quyền đã quy định tại khoản 2 Điều này còn cóquyền:a) Có ý kiến bằng văn bản với người đại diện theopháp luật của đơn vị kế toán về việc tuyển dụng, thuyênchuyển, tăng lương, khen thưởng, kỷ luật người làm kếtoán, thủ kho, thủ quỹ;b) Yêu cầu các bộ phận liên quan trong đơn vị kếtoán cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu liên quan đếncông việc kế toán và giám sát tài chính của kế toántrưởng;c) Bảo lưu ý kiến chuyên môn bằng văn bản khicó ý kiến khác với ý kiến của người ra quyết định;Về trách nhiệm của kế toán trưởng,
Xem thêm

Đọc thêm

Những vấn đề chung về công tác văn thư trong các cơ quan

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC VĂN THƯ TRONG CÁC CƠ QUAN

I. Nguyên tắc quản lý công tác lưu trữ Theo quan điểm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, tài liệu lưu trữ được xem là tài sản của toàn dân, vì vậy cần được nhà nước quản lý tập trung thống nhất. Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể như sau: 1. Quản lý tập trung thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia Tài liệu lưu trữ là di sản văn hóa dân tộc, là tài sản quốc gia nên cần có sự quản lý thống nhất của nhà nước. Theo Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia 2001, tài liệu lưu trữ quốc gia là những tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn. Cũng theo Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, toàn bộ tài liệu lưu trữ quốc gia được tập hợp lại thành Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam do cơ quản của Đảng và Nhà nước thống nhất quản lý. Hiện nay, Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam gồm hai phông lớn: Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam và Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam. Trong đó, Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam do Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng quản lý và Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam do Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (trực thuộc Bộ Nội vụ) quản lý. Tuy nhiên, hai phông này đều chịu sự điều chỉnh chung của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công tác lưu trữ như: Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia 2001; Nghị định 1112004NĐCP của Chính phủ ngày 08 tháng 4 năm 2004 quy định thi hành chi tiết một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia; Các thông tư hướng dẫn như: Thông tư số 302004TTBTC ngày 0742004 của Bộ Tài chính hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ… Nói cách khác, toàn bộ tài liệu lưu trữ của các cơ quan thuộc Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam cho dù được bảo quản ở lưu trữ lịch sử, lưu trữ cố định hay lưu trữ hiện hành đều chịu sự quản lý thống nhất của Đảng và Nhà nước. Theo Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, trong thời gian tới cần có một cơ quan lưu trữ quốc gia quản lý tập trung thống nhất toàn bộ tài liệu của Đảng và Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước (Điều 3). 2. Quản lý tập trung thống nhất về tổ chức và nghiệp vụ lưu trữ Để quản lý tập trung thống nhất tài liệu lưu trữ, cần phải thiết lập một hệ thống các cơ quan lưu trữ từ trung ương tới địa phương bao gồm: các cơ quan quản lý ngành lưu trữ và mạng lưới các kho, các trung tâm lưu trữ. Hệ thống các cơ quan quản lý ngành lưu trữ ở Việt Nam bao gồm: + Đứng đầu là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (thuộc Bộ Nội vụ): Đây là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực văn thư, lưu trữ và quản lý tài liệu lưu trữ quốc gia thuộc Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam theo quy định của Pháp luật. + Cơ quan, bộ phận phụ trách công tác lưu trữ ở các Bộ, ngành và các địa phương được tổ chức thống nhất theo các văn bản hướng dẫn của Nhà nước. Trước đây, theo Thông tư số 401998TTTCCP ngày 20 tháng 01 năm 1998 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) thì tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ thành lập các Phòng Lưu trữ. Phòng Lưu trữ Bộ,
Xem thêm

15 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH TẠI VĂN PHÒNG TỔNG CỤC QUẢN LÍ ĐẤT ĐAI, BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH TẠI VĂN PHÒNG TỔNG CỤC QUẢN LÍ ĐẤT ĐAI, BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chương 1 Lý luận chung về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ quan nhà nước 1.1. Khái quát về cơ quan nhà nước 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cơ quan nhà nước 1.1.2. Hệ thống các cơ quan nhà nước Việt Nam 1.2. Nội dung cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ quan nhà nước 1.2.1. Khái niệm – Mục tiêu – Nguyên tắc 1.2.2. Nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ quan nhà nước 1.3. Yêu cầu khách quan cần nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các cơ quan nhà nước Chương 2 Thực trạng triển khai cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Văn phòng Tổng cục quản lí đất đai 2.1. Khái quát chung về Tổng cục quản lí đất đai 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 2.1.2. Cơ cấu tổ chức 2.1.3. Vụ tài chính kế hoạch, Tổng cục quản lí đất đai 2.1.4. Văn phòng Tổng cục quản lí đất đai, Bộ tài nguyên và môi trường 2.2. Thực trạng triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại văn phòng Tổng cụcquản lí đất đai, Bộ tài nguyên và môi trường 2.2.1. Nguồn tài chính tại Văn phòng Tổng cục quản lí đất đai 2.2.2. Về hoạt động quản lý và sử dụng kinh phí 2.2.3. Về quy chế chi tiêu nội bộ 2.2.4. Phân phối kết quả hoạt động tài chính 2.3. Đánh giá kết quả thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Văn phòng tổng cục 2.3.1. Những kết quả đạt được 2.3.2. Những hạn chế 2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Chương 3 Một số định hướng phát triển và giải pháp nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Văn phòng Tổng cục quản lí đất đai, Bộ tài nguyên và môi trường 3.1. Một số định hướng phát triển của Văn phòng tổn cục 3.1.1. Định hướng sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.1.2. Định hướng sự nghiệp khoa học 3.1.3. Định hướng quản lý tài chính 3.2. Một số giải pháp nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Văn phòng tổng cục 3.2.1. Nâng cao hiểu quả từ các khoản chi 3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ 3.2.3. Nâng cao vai trò và năng lực của đội ngũ cán bộ tài chính kế toán 3.3. Một số kiến nghị với chính sách của Nhà nước
Xem thêm

54 Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC LUAT KE TOAN 2003

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC LUAT KE TOAN 2003

6. Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và cóthể so sánh đượcĐiều 7. Nguyên tắc kế toán1. Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vậnchuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác đến khi đưa tàisản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Đơn vị kế toán không được tự điều chỉnhlại giá trị tài sản đã ghi sổ kế toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.2. Các quy định và phương pháp kế toán đã chọn phải được áp dụng nhất quántrong kỳ kế toán năm; trường hợp có sự thay đổi về các quy định và phươngpháp kế toán đã chọn thì đơn vị kế toán phải giải trình trong báo cáo tài chính.3. Đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế vàđúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.4. Thông tin, số liệu trong báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải đượccông khai theo quy định tại Điều 32 của Luật này.5. Đơn vị kế toán phải sử dụng phương pháp đánh giá tài sản và phân bổ cáckhoản thu, chi một cách thận trọng, không được làm sai lệch kết quả hoạt độngkinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.6. Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sáchnhà nước ngoài việc thực hiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều nàycòn phải thực hiện kế toán theo mục lục ngân sách nhà nước.Điều 8. Chuẩn mực kế toán1. Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản đểghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.2. Bộ Tài chính quy định chuẩn mực kế toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế về kếtoán và theo quy định của Luật này.Điều 9. Đối tượng kế toán1. Đối tượng kế toán thuộc hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước, hành chính,sự nghiệp; hoạt động của đơn vị, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà
Xem thêm

24 Đọc thêm

Tìm hiểu về chính quyền địa phương Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và Kiểm toán nhà nước

TÌM HIỂU VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN VÀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

A. Hội Đồng Nhân Dân 1 I. Nêu vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội Đồng Nhân Dân. 1 1. Vị trí, chức năng. 1 2. Nhiệm vụ, quyền hạn. 2 3. Cơ cấu tổ chức. 8 II. Nêu hoạt động chủ yếu và mối quan hệ của cơ quan Hội Đồng Nhân Dân. 11 1. Hoạt động chủ yếu. 11 2. Mối quan hệ với các tổ chức. 12 III. Nêu, bình luận những điểm mới trong luật tổ chức Hội Đồng Nhân Dân. 14 1. Chức năng, nhiệm vụ 14 2. Về cơ cấu tổ chức của HĐND: 15 B. Ủy Ban Nhân Dân 16 I. Nêu vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy Ban Nhân Dân. 16 1. Vị trí, chức năng. 16 2. Nhiệm Vụ, quyền hạn. 16 3. Cơ cấu tổ chức. 18 II. Nêu hoạt động chủ yếu và mối quan hệ của cơ quan Ủy Ban Nhân Dân. 19 1. Hoạt động chủ yếu của Ủy Ban Nhân Dân. 19 2. Mối quan hệ của Ủy Ban Nhân Dân. 21 III. Nêu, bình luận những điểm mới trong luật tổ chức Ủy Ban Nhân Dân. 25 C. Kiểm Toán Nhà Nước 27 I. Nêu vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan Kiểm Toán Nhà Nước. 27 1. Vị trí, Chức năng 27 2. Nhiệm vụ quyền hạn 28 3. Cơ cấu tổ chức 30 II. Nêu hoạt động chủ yếu và mối quan hệ của cơ quan Kiểm toán Nhà nước 31 1. Hoạt động chủ yếu 31 2. Mối quan hệ của KTNN 33 III. Nêu, bình luận những điểm mới trong luật tổ chức Kiểm Toán Nhà Nước so với năm 2003. 36 1. Sự cần thiết của sửa đổi luật Kiếm Toán nhà nước. 37 2. Những điểm mới của luật Kiếm Toán Nhà Nước 2015. 38
Xem thêm

3 Đọc thêm

BAO CAO THUC TAP TOT NGHIEP CONG TAC VAN THU

BAO CAO THUC TAP TOT NGHIEP CONG TAC VAN THU

Công tác quản lý văn bản đi ở trường ĐHYHN năm 2011 LỜI NÓI ĐẦU Công tác Văn thư là hoạt động đảm bảo thông tin bằng văn bản, phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành công việc của cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân (gọi chung là các cơ quan, tổ chức). Công tác Văn thư là một hoạt động không thể thiếu của bộ máy quản lý nói chung và của Trường Đại học Y Hà Nội nói riêng. Công tác Văn thư là nội dung quan trọng và chiếm một phần rất lớn trong nội dung hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Như vậy, công tác Văn thư gắn liền với hoạt động của trường Đại học Y Hà Nội và được xem như một bộ phận của hoạt động quản lý Nhà nước của nhà trường có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý Nhà nước. Vì vậy, công tác Văn thư có ý nghĩa rất quan trọng đối với xã hội nói chung và đối với trường Đại học Y Hà Nội nói riêng. Ý nghĩa của công tác Văn thư đối với xã hội Công tác văn thư đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết phục vụ quản lý Nhà nước nói chung của mỗi cơ quan, đơn vị nói riêng. Công tác quản lý Nhà nước đòi hỏi phải có đủ thông tin cần thiết. Thông tin phục vụ quản lý được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn thông tin chủ yếu, chính xác nhất là thông tin bằng văn bản. Về mặt nội dung công việc, có thể xếp công tác Văn thư vào hoạt động bảo đảm thông tin cho công tác quản lý Nhà nước mà văn bản chính là phương tiện chứa đựng, truyền đạt phổ biến những thông tin mang tính pháp lý. Làm tốt công tác văn thư sẽ góp phần giải quyết công việc của cơ quan được nhanh chóng, chính xác, năng suất, chất lượng, đúng chính sách, đúng chế độ, giữ gìn bí mật của Đảng và Nhà nước; hạn chế được bệnh quan liêu giấy tờ, giảm bớt giấy tờ vô dụng và việc lợi dụng văn bản của Nhà nước để làm những việc trái pháp luật. Công tác văn thư bảo đảm giữ lại đầy đủ chứng cứ về mọi hoạt động của cơ quan cũng như hoạt động của các cá nhân giữ các trách nhiệm trong cơ quan. Nếu trong quá trình hoạt động của cơ quan, các văn bản giữ lại đầy đủ, nội dung văn bản chính xác, phản ánh chân thực các hoạt động của cơ quan khi cần thiết thì các văn bản sẽ là bằng chứng pháp lý chứng minh cho hoạt động của cơ quan một cách chân thực. Công tác Văn thư bảo đảm giữ gìn đầy đủ hồ sơ, tài liệu, tạo điều kiện làm tốt công tác lưu trữ. Nguồn bổ sung chủ yếu, thường xuyên cho tài liệu lưu trữ quốc gia là các hồ sơ tài liệu có giá trị trong hoạt động của các cơ quan được giao nộp vào lưu trữ cơ quan. Trong quá trình hoạt động của mình, các cơ quan cần phải tổ chức tốt việc lập hồ sơ và nộp hồ sơ tài liệu vào lưu trữ. Hồ sơ lập càng hoàn chỉnh, văn bản giữ càng đầy đủ bao nhiêu thì chất lượng tài liệu lưu trữ càng được tăng lên bấy nhiêu; đồng thời công tác lưu trữ có điều kiện thuận lợi để triển khai các mặt nghiệp vụ. Ngược lại, nếu chất lượng hồ sơ lập không tốt văn bản giữ lại không đầy đủ thì chất lượng hồ sơ tài liệu nộp vào lưu trữ không đảm bảo, gây khó khăn cho lưu trữ trong việc tiến hành các hoạt động nghiệp vụ, làm cho tài liệu phông Lưu trữ Quốc gia không hoàn chỉnh.
Xem thêm

38 Đọc thêm

Hệ thống cơ quan hành chính Việt Nam

HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

MỤC LỤCLời mở đầuI. KHÁI NIỆM VÀ ÐẶC ÐIỂM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước2. Ðặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước2.1 Ðặc điểm chung.2.2. Ðặc điểm đặc thù.II. HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC1. Các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp trung ương.1.1. Chính phủ61.2. Bộ, cơ quan ngang Bộ.2. Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.2.1. Ủy ban nhân dân (UBND)2.2. Các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn thuộc UBND3. Các đơn vị cơ sở trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước.III. SO SÁNH HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC.IV. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA.1. Cải cách thể chế hành chính2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.4. Cải cách hành chính công.Kết luậnTÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem thêm

33 Đọc thêm

Chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

VII.Chế độ pháp lý về việc giải quyết các khiếu nại,tố cáo 2.Tố cáo và chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo a.Khái niệm,đặc điểm của tố cáo Theo Luật Tố cáo 2011: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định,báo cho cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,tổ chức,cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước,quyền,lợi ích hợp pháp của công dân,cơ quan,tổ chức. Đặc điểm của tố cáo: + Người tố cáo là cá nhân công dân thực hiện quyền tố cáo.Việc tố cáo có thể gây ảnh hưởng đến uy tín,danh dự của người khác,vì vậy,để phòng ngừa,ngăn chặn sự lợi dụng quyền tố cáo nhằm vu khống,xúc phamjdanh dự,nhân phẩm của người khác,pháp luật qui định chỉ có cá nhân mới có quyền thực hiện việc tố cáo.các tổ chức không phải là chủ thể của quyền tố cáo. + Đối tượng của việc tố cáo là những hành vi vi phạm pháp luật của mọi cơ quan,tổ chức và cá nhân mà người tố cáo biết được.Với trách nhiệm công dân mà pháp luật quy định,người tố cáo thông báo về hành vi vi phạm pháp luật đó,đồng thời yêu cầu các cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền xử lý nhằm bảo đảm kỷ cương và trật tự an toàn xã hội. + Khi thực hiện việc tố cáo,người tố cáo không vì lợi ích của bản thân mà với mục đích để bảo vệ lợi ích của nhà nước,của các tổ chức và cá nhân khác. b.Chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo Luật tố cáo năm 2011 phân biệt hai loại tố cáo: b.1:Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức,viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ: Là việc công dân báo cho cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức,viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ. Theo điều 12 của Luật Tố cáo năm 2011,nguyên tắc xác định thẩm quyền được quy định như sau: + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiêm vụ,cong vụ của cán bộ,công chức,viên chức do người đứng đầu cơ quan,tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ,công chức,viên chức đó giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của người đứng đầu,cấp phó của người đứng đầu cơ quan,tổ chức do người đứng đầu cơ quan,tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan tổ chức đó giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của cán bộ,công chức,viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan,tổ chức do người đứng đầu cơ quan,tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ,công chức,viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan,tổ chức có liên quan giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của cán bộ,công chức,viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Theo điều 13,14,15,16,17 Luật Tố cáo 2011: Thẩm quyền giải quyết tố cáo: + Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành,vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước là: Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã;Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện;Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh;Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh;Tổng cục trưởng,Cục trưởng và cấp tương đương;Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;Thủ tướng Chính phủ. + Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiêm vụ,công vụ của cán bộ,công chức trong cơ quan khác nhà nước là: Chánh án tòa án nhân dân,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp;Tổng Kiểm toán nhà nước;Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành,Kiểm toán nhà nước khu vực…(điều 14). + Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. + Người đứng đầu cơ quan của tổ chức chính trị,tổ chức chính trịxã hội có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ,công chức,viên chức do mình quản lý trực tiếp. + Người đứng đầu cơ quan,đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ,công vụ mà không phải là cán bộ,công chức,viên chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ. b.2: Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: Là viêc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,tổ chức,cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Theo điều 31 Luật Tố cáo năm 2011,quy định như sau: + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan,tổ chức,cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó chịu trách nhiệm giải quyết.Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. + Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết;tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. b.3: Trình tự,thủ tục giải quyết tố cáo Trình tự: Tiếp nhận,xử lý thông tin tố cáo Xác minh nội dung tố cáo Kết luận nội dung tố cáo Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Công khai kết luận nội dung tố cáo,quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo. Thủ tục: Theo điều 19 Luật Tố cáo năm 2011,việc tố cáo được thực hiên bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.Người tố cáo phải gửi đơn tố cáo có đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật đến cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền;đơn tố cáo phải ghi rõ họ,tên,địa chỉ người tố cáo.Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách nhiệm tiếp nhận phải ghi lại nội dung tố cáo,họ,tên,địa chỉ của người tố cáo,có chữ ký của người tố cáo.Các tố cáo nặc danh là bất hợp pháp,không được xem xét,giải quyết.Tuy nhiên,khi nhận được đơn tố cáo nặc danh,các cơ quan có thẩm quyền cũng phải có trách nhiệm kiểm tra,xác minh để kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật mà xử lý hoặc bảo vệ uy tín,danh dự của người bị tố cáo. Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày,kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo;đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày.Trường hợp cần thiết,người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày,đối với vụ việc phức tạp không quá 60 ngày. Khi nhận được tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình,cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải thụ lý để giải quyết.Trong trường hợp cấp thiết,cơ quan,tổ chức,cá nhân tiếp nhận tố cáo phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật;áp dụng biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tố cáo khi họ yêu cầu.Cơ quan,tổ chức,cá nhân tiếp nhận,giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo;không được tiết lộ họ,tên,địa chỉ,bút tích của người tố cáo. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo,kết luận và giải quyết việc tố cáo;công khai kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết quả giải quyết cho người tố cáo khi được yêu cầu.Việc giải quyết tố cáo cũng phải được lập thành hồ sơ và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo theo thời hạn và thủ tục do Tố cáo quy định. Các cơ quan Thanh tra trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ cũng có thẩm quyền xác minh hoặc xem xét,kết luận về các nội dung tố cáo;đồng thời kiến nghị với người có thẩm quyền về biện pháp xử lý tố cáo theo quy định của pháp luật. c.Bảo vệ người tố cáo,trách nhiệm của cơ quan,tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo Theo điều 34,35 chương V Luật Tố cáo 2011: Việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại nơi cư trú,công tác,làm việc,học tập,nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định. Đối tượng bảo vệ gồm có:người tố cáo,người thân thích của người tố cáo Thời gian bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc,mức độ,tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ.
Xem thêm

11 Đọc thêm

De thi kiem tra lan 2

DE THI KIEM TRA LAN 2

Câu hỏi kiểm tra quản lý nhà nước bậc chuyên viên:Phân biệt quản lý nhà nước theo ngành với quản lý nhà nước theo lãnh thổ. Nhận xét thực trạng quản lý này ở địa phương nơi công tác.Bài làm:Để phân biệt quản lý nhà nước theo ngành và quản lý nhà nước theo lãnh thổ trước hết ta phải hiểu thế nào là quản lý nhà nước theo ngành, thế nào là quản lý nhà nước theo lãnh thổ?Đầu tiên ta tìm hiểu quản lý nhà nước theo ngành:Khái niệm: Quản lý nhà nước theo ngành là là hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị ngành phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng đáp ứng được yêu cầu của nhà nước và xã hội. Như vậy thực chất quản lý nhà nước theo ngành là quản lý chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu thực hiện trên phạm vi cả nước từ trung ương đến địa phương.Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành ở trung ương: Bộ và cơ quan ngang bộ hiện tại có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ.
Xem thêm

10 Đọc thêm

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TỈNH AN GIANG HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TỈNH AN GIANG HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEOCƠ CHẾ “MỘT CỬA”1.1. Những vấn đề chung về cải cách thủ tục hành chính:1.1.1. Khái niệm:Nền hành chính Nhà nước là hệ thống tổ chức và định chế Nhà nước (về cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động) có chức năng thực thi quyền hành pháp, tức quản lý công việc hằng ngày của Nhà nước.Cải cách theo nghĩa chung nhất là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định.Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đật mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu tổ chức, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức.) nhằm ây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại.Thủ tục hành chính là cơ sở và điều kiện cần thiết để cơ quan Nhà nước giải quyết công việc của dân và các tổ chức theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người và cơ quan có công việc cần giải quyết.Cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận của cải cách thể chế hành chính Nhà nước, nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo những chuẩn mực nhất định. Đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng; hoạt động theo đúng quy trình, quy phạm thích ứng với từng loại đối tượng, từng loại công việc, phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái cách hành chính thực chất là cải cách trình tự thực hiện thẩm quyền hành chính trong mối quan hệ tới quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và trong nội bộ cơ quan hành chính Nhà nước.Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận, yêu cầu giải quyết hồ sơ, thủ tục đến trả lại kết quả thông qua một cầu nối là “ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại cơ quan hành chính nhà nước.
Xem thêm

32 Đọc thêm

Công tác văn thư, lưu trữ tại UBND tỉnh tuyên quang (mẫu tham khảo)

CÔNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ TẠI UBND TỈNH TUYÊN QUANG (MẪU THAM KHẢO)

CÔNG TÁC VĂN THƯ TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANGHỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLý do chọn đề tài Những người làm công tác văn phòng nói riêng và những người giữ các chức vụ lãnh đạo nói chung luôn thấm nhuần lời của bác Hồ “Công tác văn phòng có tầm quan trọng đặc biệt, giúp cho cán bộ lãnh đạo nắm được tình hình. Cán bộ văn phòng nắm tình hình sai thì lãnh đạo sẽ giải quyết công việc không đúng”. Nói như vậy để thấy rằng văn phòng có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của một cơ quan, đơn vị. Vì vậy, Văn phòng là nơi tập trung những con người hiểu biết, luôn phấn đấu vươn lên, luôn tích cực, chủ động, sáng tạo, trung thành, tận tụy, biết hy sinh thời gian của cá nhân cho đơn vị để đảm bảo công tác. Do đó, cần phải thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá khách quan cũng như cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác văn phòng để hoạt động của cơ quan, đơn vị thông suốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.Nói đến công tác văn phòng là chúng ta đang nói đến những công việc thiên nhiều về công tác hành chính, trong đó phải kể đến công tác văn thư, lưu trữ.Đúng vậy, công tác văn thư, lưu trữ đã có từ rất lâu, tồn tại song song với chiều dài lịch sử của dân tộc, chiều dài lịch sử hình thành của các cơ quan, tổ chức và trách nhiệm thực hiện thuộc về tất cả các cá nhân trong một cơ quan, tổ chức. Công văn giấy tờ là một trong những phương tiện cần thiết trong hoạt động quản lý của Nhà nước. Hồ sơ tài liệu ghi lại các hoạt động của cơ quan vì vậy cần được giữ gìn để tra cứu và sử dụng khi cần thiết. Mặt khác, công việc của một cơ quan, tổ chức được tiến hành nhanh hay chậm, thiết thực hay quan liêu do công văn giấy tờ có làm tốt hay không, do việc giữ gìn hồ sơ tài liệu có cẩn thận hay không, điều đó có tác dụng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và lãnh đạo. Mặt khác những thông tin tài liệu chứa đựng những thông tin bí mật về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia nên việc bảo quản tài liệu lưu trữ không chỉ chú ý đến góc độ vậy lý của tài liệu mà còn phải sử dụng biện pháp ngăn chặn việc đánh cắp thông tin trong tài liệu và sự phá hoại tài liệu lưu trữ. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của các cơ quan, tổ chức. Mỗi cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đều có một đặc điểm chung là trong quá trình hoạt động đều sản sinh những giấy tờ liên quan và những văn bản, tài liệu có giá trị đều được lưu giữ lại để tra cứu, sử dụng khi cần thiết. Bởi đây là những bản gốc, bản chính, là căn cứ xác nhận sự việc đã xảy ra và có giá trị pháp lý rất cao. Do đó, khi các cơ quan, tổ chức được thành lập, công tác văn thư, lưu trữ sẽ tất yếu được hình thành vì đó là huyết mạch trọng hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức. Công tác văn thư, lưu trữ nhằm đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ kịp thời cho việc lãnh đạo, quản lý điều hành công việc, cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải quyết công việc hằng ngày, tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức.Nhận thấy sự cần thiết của việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác văn thư tại Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, tôi sinh viên lớp Quản trị văn phòng 1406QTVB quyết định chọn nội dung về công tác văn thư làm đề tài nghiên cứu với tên gọi: “Công tác văn thư tại Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang”.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THẾ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT

Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất Bài tập học kỳ Luật Hành chính Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hành chính Các cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước. Việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, chức năng, địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ giúp chúng ta phân biệt chúng với các cơ quan Nhà nước khác và để thấy được vì sao cơ quan hành chính Nhà nước lại là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất trong bộ máy Nhà nước. Do đó nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Phân tích khái niêm, đặc điểm của các cơ quan hành chính Nhà nước. Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất”. NỘI DUNG I – KHÁI NIỆM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Định nghĩa Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành điều hành, có cơ cấu tổchức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. 2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước 2.1. Đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước tức là được sử dụng quyền lực nhà nước, các biện pháp cưỡng chế nhà nước và được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước với mục đích vì lợi ích tập thể, lợi ích công cộng. Ví dụ: chủ tịch ủy ban nhân dân huyện A kí hợp đồng xây mới trụ sở ủy ban nhân dân với công ty xây dựng Y thì chủ tịch ủy ban nhân dân là người kí kết hợp đồng không phục vụ lợi ích cá nhân mà vì lợi ích tập thể, công cộng. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định. Ví dụ: Luật tổ chức Chính phủ 2001, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, …. Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện quyền lực theo nguyên tắc: Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phối hợp giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giống như cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính; có quyền thực hiện các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật trên thực tế; có quyền xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm… Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008. 2.2. Đặc điểm đặc trưng của cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước. (hoạt động chấp hànhđiều hành). Hoạt động chấp hànhđiều hành được hiểu là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Luật và áp dụng luật vào thực tế đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.Đây là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan nhà nước.Các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động nhằm hoàn thành chức năng cơ bản của mình.Ví dụ: Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm ông Trần Quốc Vương vào chức viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hoạt động này nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức của hệ thống tư pháp nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tốt hơn… Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở và tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, sau đó là các bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các cấp.Giữa các cơ quan hành chính các cấp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cơ quan hành chính cấp dưới phải phục tùng cơ quan hành chính cấp trên.Ví dụ: Bộ và cơ quan ngang bộ phải chịu sự quản lý của Chính phủ. Chính phủ lãnh đạo công tác của bộ và cơ quan ngang bộ, quy định về cơ cấu tổ chức, cách thức, phương pháp thực hiện của bộ và cơ quan ngang bộ. Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Chính phủ có thẩm quyền chung đối với tất cả các tỉnh, thành phố trong nước. Ủy ban nhân dân các cấp chỉcó thẩm quyền trong phạm viđịa phương mà mình quản lý. Ví dụ: Quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ có hiệu lực trong phạm vi mà mình quản lý, nếu ra ngoài phạm vi của mình quản lý thì quyết định đó không còn hiệu lực. Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước. Trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp do cơ quan quyền lực lập ra. Ví dụ: Quốc hội trực tiếp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thủ tướng chính phủ, phê chuẩn đề nghị của thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra… Mọi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và phải báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực. Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Ví dụ: Các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo, các bệnh viện trực thuộc Bộ y tế; các tổng công ty, công ty, nhà máy trực thuộc Bộ công thương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ giao thông vận tải…Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, bảo đảm công bằng, vì lợi ích chung của xã hội. II – CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THỂ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT 1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan chức năng khác nhau và cơ quan chức năng của cơ quan hành chính nhà nước được xác định là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành điều hành).Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý thường xuyên trên mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý của nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về xã hội…. thông qua các hình thức được pháp luật quy định. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính khác nhau. Đó có thể là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc cũng có thể là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn có chức năng quản lý hành chính nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong một phạm vi rất hẹp khi cần thiết, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân, chức năng công tố và kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… và việc thực hiện hoạt động đó nhằm hoàn thành chức năng quản lí hành chính nhà nước. Các cán bộ nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước thường xuyên, liên tục trong nhiệm kì công tác của họ. Nhưng hoạt động của họ phụ thuộc nhiều vào cơ quan mà họ đang công tác, không thể có chuyện cán bộ có quyền độc lập, vượt quá thẩm quyền pháp luật quy định cho cơ quan họ đang công tác. Một số cá nhân và tổ chức cũng được trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng họ chỉ được trao quyền ấy trong một số trường hợp cụ thể, như cơ trưởng máy bay khi đang bay, thuyền trưởng tàu, thuyền đang hoạt động trên biển… 2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất Các quan hệ thuộc phạm vi quản lí hành chính được chia thành 3 nhóm cơ bản sau: + Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lí hành chính nhà nước là nhóm quan hệ thứ nhất.Bởi lẽ đây là nhóm quan hệ khá phong phú, diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó, cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng nhất so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.Ví dụ: Trong khi Quốc hộicơ quan quyền lực nhà nước cao nhất họp một năm hai kì (Luật tổ chức Quốc hội 2001) để ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, luật và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước thì Chính phủcơ quan hành chính nhà nước cao nhất họp thường kì mỗi tháng một lần (Luật tổ chức Chỉnh phủ 2001) để giải quyết những vấn đề phát sinh đang xảy ra hàng ngày trong thực tiễn đời sống xã hội. Đó là những hoạt động quản lí của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc (như Chính phủ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (như Chính phủ với Bộ công an) hay với cơ quan chuyên môn trực thuộc của nó; của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương đó (như Ủy ban nhân dân quận Đống Đa với Trường Học Viện hành chính); của cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc (như Bộ Tư pháp với Trường Đại học Luật Hà Nội); của cơ quan hành chính với các tổ chức xã hội, kinh tế; và hoạt động quản lí của cơ quan hành chính với công dân người nước ngoài, người không quốc tịch (như giữa cơ quan có thẩm giải quyết khiếu nại với người khiếu nại)....Các hoạt động quản lí nhà nước nêu trên luôn diễn ra hàng ngày hàng giờ, để đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên để xây dựng đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững. Hơn nữa hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (chính phủ, bộ cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân) có sự thống nhất c hặt chẽ với nhau, lại được trao trong tay quyền hành pháp nên đương nhiên là chủ thể quản lí hành chính thường xuyên nhất. Đối với nhóm quan hệ thứ 2, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình ví dụ như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức...Hoạt động này chỉ tạo điều kiện cho các cơ quan thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình. Nhóm quan hệ thứ 3 cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Trong một số trường hợp pháp luật có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các cơ quan nhà nước khác, hay các tổ chức cá nhân...nhưng đây không phải là hoạt động quản lí hành chính nhà nước thường xuyên mà chỉ khi được pháp luật quy định. Ví dụ: chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo ( Điều 39 Luật xử lí vi phạm hành chính). 3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ là các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực thi quyền quản lí hành chính nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay gồm có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ (Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ). + Ủy ban nhân dân các cấp: + UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương – gọi chung là cấp tỉnh) + UBND huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (hiện nay có 48 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 quận, 46 thị xã và 556 huyện – gọi chung là cấp huyện) + UBND xã, phường, thị trấn (hiện nay có 1366 phường, 625 thị trấn, 9121 xã gọi chung là cấp xã) Bên cạnh đó, để giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình còn có một đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia vào hoạt động quản lí hành chính nhà nước. 4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước Các hình thức quản lí hành chính nhà nước bao gồm: Hình thức mang tính chất pháp lí: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật và thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý. Hình thức không mang tính pháp lý: áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp, thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có quyền năng thực hiện tất cả các hình thức quản lý trên. Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành chứa những quy định mang tính khái quát cao. Trong khi hoạt động quản lí hành chính nhà nước bao hàm nhiều lĩnh vực của đời sống, rất rộng lớn và phức tạp, đòi hỏi phải được giải quyết cụ thể và chi tiết. Nhiệm vụ cụ thể hóa thuộc về cơ quan hành chính nhà nước.Ví dụ: Chính phủ được ban hành nghị quyết (như nghị quyết Nghị quyết số 13NQCP của Chính phủ : Về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường), nghị định (Nghị định 1292013NĐCP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế); bộ trưởng được ban hành thông tư (Thông tư 092013TTBTC của Bộ Tài chính quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của quản lí thị trường); ủy ban nhân dân được ban hành quyết định, chỉ thị (Quyết định số 212011QĐUBND của UBND tỉnh về việc ban hành đơn giá thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai). Về hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật: chủ tịch ủy ban nhân dân được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Về hoạt động khác mang tính chất pháp lý: áp dụng các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật; đăng kí những sự kiện nhất định; lập và cấp một số giấy tờ nhất định. Ví dụ: ủy ban nhân dân xã cấp giấy đăng kí khai sinh, giấy đăng kí kết hôn,... Về áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp: đảm bảo sự kết hợp đúng đắn giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách trong hoạt động của Chính phủ, ủy ban nhân dân; chuẩn bị và tiến hành các phiên họp của Chính phủ,... Về thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật: chuẩn bị tài liệu cho việc ban hành nghị định, làm báo cáo, công tác lưu trữ hồ sơ,...Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) không ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, không thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý. Cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát tuy cũng thực hiện các hình thức trên nhưng không nhiều như cơ quan hành chính nhà nước và chủ yếu để thực hiện chức năng chính của các cơ quan đó (xét xử, kiểm sát). Chẳng hạn, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật rất hạn chế, chỉ được quy định cho Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và văn bản do các chủ thể này ban hành cũng rất hạn chế, thường là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. KẾT LUẬN Tóm lại, cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước, là chủ thể quan trọng nhất thực hiện chức năng quản lí hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, về cơ cấu tổ chức, xác định mục tiêu, về đội ngũ cán bộ, công chức…, các cơ quan này còn có những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lí. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tích cực đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải cách cơ cấu tổ chức của các cơ quan này, đồng thời mỗi người dân cũng có ý thức tham gia hoạt động quản lý ở địa phương một nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài..
Xem thêm

13 Đọc thêm

Cùng chủ đề