NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI TỐ TỤNG HÌNH SỰ":

Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp Bài tập học kỳ Luật Tố tụng Hình sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Hình sự Bắt người là một biện pháp ngăn chặn quan trọng trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam góp phần đảm bảo cho hoạt động tố tụng có thể diễn ra bình thường và đạt được hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, bắt người cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, do đó mà khi tiến hành bắt người phải tuân thủ chặt chẽ và nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm đảm bảo những quyền và lợi ích chính đáng của công dân được tôn trọng và đảm bảo. Nhằm có thêm những hiểu biết cho bản thân cũng như làm rõ những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp bắt người, em xin chọn đề tài số 15 làm đề tài nghiên cứu cho bài tập học kì: “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp”. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Bắt người trong khoa học Luật Tố tụng hình sự: 1. Khái niệm. “Bắt” theo giải thích của từ điển tiếng Việt thì được hiểu là: “nắm lấy, giữ lại, không cho hoạt động tự do, khiến phải làm gì hoặc không cho phép làm điều gì” và đồng nghĩa với các từ: “Buộc, ép”footnoteRef:1. Như vậy hiểu theo nghĩa của từ “bắt” thì bắt người là việc giữ một người lại, không cho người đó hoạt động tự do. Ép, buộc, cưỡng chế họ phải làm những việc nhất định theo ý của người khác. 1: http:tratu.soha.vndictvn_vnB%E1%BA%AFt Bộ luật TTHS không đưa ra định nghĩa về biện pháp ngăn chặn bắt người. Tuy nhiên, trong khoa học luật TTHS, biện pháp ngăn chặn bắt người được hiểu như sau: Bắt người trong TTHS là biện pháp ngăn chặn do những người có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.footnoteRef:2 2: Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam – Vũ Gia Lâm Luận văn thạc sĩ luật học – năm 2000 2. Mục đích của biện pháp ngăn chặn bắt người. Bắt người thường là biện pháp ngăn chặn đi liền trước hoặc là tiền đề cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Với tính chất của một biện pháp ngăn chặn, việc bắt người trong TTHS luôn gắn với mục đích nhất định. Thứ nhất: Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm. Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để tội phạm xảy ra hoặc hoàn thành hay không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm rất cần thiết và cấp báchfootnoteRef:3. Đây cũng là một trong những mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người như bắt người trong trường hợp khẩn cấp (điểm a khoản 1 Điều 81 Bộ luật TTHS) hay bắt người phạm tội quả tang (khoản 1 Điều 82 Bộ luật TTHS). 3: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB. Tư pháp – năm 2006 Thứ hai: Ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử. Sự có mặt của bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng là rất cần thiết. Nếu họ trốn tránh hoặc có hành vi xoá dấu vết, tiêu hủy vật chứng, chứng cứ, tẩu tán tang vật của vụ án ... sẽ làm cho việc giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn, kéo dài, thậm chí bế tắc, vụ án không giải quyết được. Vì vậy, việc bắt người sẽ đảm bảo sự thuận lợi, khách quan trong quá trình thu thập chứng cứ của vụ án, loại trừ những khó khăn mà họ có thể gây ra.footnoteRef:4 4: Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam – Vũ Gia Lâm Luận văn thạc sĩ luật học – năm 2000 Thứ ba: Ngăn chặn không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội. Để tránh áp dụng biện pháp bắt người tràn lan, không cần thiết, BLTTHS quy định không phải bất kỳ bị can, bị cáo nào cũng có thể bị bắt để tạm giam. Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội chỉ được áp dụng với những người đã bị Toà án khởi tố về hình sự hoặc đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được xác định trên phương diện nhân thân hay hành vi của bị can, bị cáo. Thứ tư: Ngăn chặn hành vi gây khó khăn, cản trở việc thi hành án. Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự. Việc tạo những điều kiện để đảm bảo cho hoạt động thi hành án đạt hiệu quả không chỉ cần thiết khi kết thúc hoạt động xét xử tại phiên toà mà còn phải được thực hiện ngay từ thời điểm vụ án chưa xét xử và có thể được thực hiện bằng biện pháp ngăn chặn bắt người. 3. Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt người. Quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong TTHS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm: Là điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền khác đạt hiệu quả, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra trong các giai đoạn tố tụng một cách chính xác, nhanh chóng. Bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ trong pháp luật, thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định. Điều này thể hiện ở chỗ việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp bắt người không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của cơ quan Nhà nước mà xuất phát từ pháp luật và sự đòi hỏi của thực tiễn.footnoteRef:5 5: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB. Tư pháp – năm 2006 Những quy định cụ thể về thẩm quyền, căn cứ, thủ tục bắt có ý nghĩa là cơ sở pháp lý để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật khi áp dụng biện pháp. II. Quy định của BLLTHS 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khần cấp: Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định các trường hợp bắt người sau: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80); Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81); Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82). Với yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc bắt người cần phải được tiến hành kiên quyết, kịp thời. Tuy nhiên, không thể vì bất cứ một lý do gì mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn tràn lan, sai tính chất, sai đối tượng, không đảm bảo các yêu cầu của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân. Do đó, những quy định về bắt người thường được ghi nhận rất rõ, đầy đủ về căn cứ, các trường hợp áp dụng, về thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Để thấy rõ được điều đó, chúng ta đi sâu phân tích cụ thể trường hợp bắt người trong tố tụng hình sự, đó là: bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự có thể hiểu: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là trường hợp bắt người chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hoặc bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm hoặc bắt người mà qua điều tra thấy có dấu vết tội phạm ở người hoặc chỗ ở của họ. Đây là trường hợp bắt có tính chất cấp bách, nếu không thực hiện sẽ không thể kịp thời ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, không chặn đứng được hành vi trốn tránh, gây khó khăn, cản trở việc điều tra.footnoteRef:6 6: Nguyễn Hồng Ly, Biện pháp ngăn chặn bắt người và thực tiễn áp dụng của cơ quan cảnh sát điều tra, viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2011 1. Đối tượng áp dụng. Đối tượng áp dụng của bắt người trong trường hợp khẩn cấp là người chưa bị khởi tố về hình sự. Nhưng bên cạnh đó không loại trừ cả người đã bị khởi tố hay đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử với tư cách là bị can, bị cáo của vụ án khác nếu hành vi của họ thuộc một trong ba trường hợp mà Khoản 1 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự quy định làm căn cứ để bắt khẩn cấp. 2. Các trường hợp bắt khẩn cấp. Khoản 1 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ ba trường hợp bắt khẩn cấp: Thứ nhất, khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện: + Có căn cứ khẳng định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm, tức là người đó có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội xảy ra hoặc có thể xảy ra được thuận lợi, dễ dàng như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm. + Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, tức là tội phạm gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Do vậy chỉ khi nào có căn cứ khẳng định hành vi chuẩn bị thực hiện một tội phạm là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì mới bắt khẩn cấp. Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp này là để ngăn ngừa không cho tội phạm rất nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng đang được chuẩn bị, có khả năng gây nguy hại cho mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Thứ hai, khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thầy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Trong trường hợp này, việc bắt người cũng cần đáp ứng hai điều kiện: + Phải có người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng người đã thực hiện tội phạm. Như vậy, theo quy định của luật hiện hành, trường hợp một người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng lại không tận mắt chứng kiến hành vi phạm tội hoặc không có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng được người khác trực tiếp chứng kiến mô tả lại, kể lại cũng không được coi là căn cứ bắt khẩn cấp. Hoặc trường hợp người đó không tận mắt chứng kiến, mà chỉ nhận biết tội phạm bằng giọng nói, ví dụ như do trời tối, không quan sát được… cũng không đủ điều kiện để bắt khẩn cấp trong trường hợp này. + Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, tức là người đã thực hiện hành vi phạm tội đang có hành động trốn hoặc chuẩn bị trốn hoặc xét thấy có những khả năng để cho rằng người đó có thể trốn, khó có thể triệu tập khi cần thiết như: không có nơi cư trú rõ ràng, đối tượng lưu manh, côn đồ, chưa xác định được nhân thân… Việc xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn tùy thuộc vào sự đánh giá của cơ quan, người có thẩm quyền vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, thông qua hành vi thực tế của người phạm tội như đang chuẩn bị trốn hoặc người thực hiện hành vi phạm tội không có nơi cư trú rõ ràng, là đối tượng có nhân thân xấu, nhiều tiền án, tiền sự, lý lịch không rõ ràng… Thứ ba, khi có dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần thiết ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Việc bắt khẩn cấp trong trường hợp này cũng cần đáp ứng đủ hai điều kiện: + Phải tìm thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm. Trong trường hợp này, cơ quan, người có thẩm quyền có những tài liệu, chứng cứ nghi một người thực hiện tội phạm và qua quá trình điều tra đã phát hiện những vật, những tài liệu có liên quan đến tội phạm hoặc những dấu vết khác do tội phạm để lại. Việc phát hiện thấy dấu vết này chính là sự khẳng định nghi ngờ của cơ quan, người có thẩm quyền là chính xác. + Xét thấy cần ngăn chặn việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ, ví dụ như cất giấu công cụ phương tiện phạm tội, xóa bỏ giấu vết tội phạm… Để nhận định đúng việc người đó có thể trốn theo quy định tại các điểm trên, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ và đánh giá một cách toàn diện về các mặt, như nhân thân người bị bắt (có tiền án, tiền sự, lang thang, không nơi cư trú rõ ràng…), tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và loại tội phạm được thực hiện mà thực tiễn cho thấy người phạm tội thường trốn, như tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội giết người, mua bán trái phép chất ma túy… (Điểm 3.1 Thông tư liên tịch số 052005TTLTVKSTCBCABQP ngày 0792005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003). 3. Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Theo khoản 2 Điều 81 BLTTHS, những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị bộ đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng; 4. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng được tiến hành như trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Nghĩa là việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh bắt. Người thi hành lệnh bắt phải đọc, giải thích lệnh và phải lập biên bản về việc bắt. Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng chứng kiến. Với tính chất và đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp là rất cấp bách nên BLTTHS đã quy định việc bắt người trong trường hợp này không cần có sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho tính chính xác và tránh lạm dụng bắt khẩn cấp, BLTTHS quy định, trong mọi trường hợp việc bắt khẩn cấp phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản và kèm theo tài liệu liên quan để xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Theo quy định tại Điểm 3.3 Thông tư liên tịch số 052005TTLTVKSTCBCABQP ngày 0792005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rõ: Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp gồm tài liệu sau: Công văn đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; lệnh bắt khẩn cấp (trong đó phải ghi rõ bắt khẩn cấp trong trường hợp nào theo quy định tại Khoản 1Điều 81); biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp; tin báo, tố giác về tội phạm; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc quyết định bắt khẩn cấp đối với từng trường hợp; tài liệu về nhân thân người bị bắt; lời khai của người bị bắt (nếu có); bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra. Trong trường hợp có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ của việc bắt khẩn cấp, hoặc còn thấy băn khoăn trong việc quyết định phê chuẩn như lý do bắt khẩn cấp không rõ ràng, người bị bắt không nhận tội, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo… thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành việc hỏi người bị bắt để làm rõ những điểm nghi ngờ và củng cố căn cứ mà Cơ quan điều tra đã dựa vào đó để ra lệnh bắt khẩn cấp, từ đó quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Khi cần gặp hỏi người bị bắt thì Kiểm sát viên phải thông báo trước để Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ hoặc để phối hợp trong quá trình gặp, hỏi người bị bắt. Biên bản ghi lời khai của người bị bắt do Kiểm sát viên lập phải được chuyển cho Cơ quan điều tra để đưa vào hồ sơ vụ án. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt. Trong mọi trường hợp, thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của Viện kiểm sát chỉ trong 12h kể từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ đề nghị phê chuẩn. Việc bắt khẩn cấp được tiến hành vào bất kỳ lúc nào, không kể ban ngày hay ban đêm. III. Thực tiễn áp dụng và phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong TTHS: Từ những phân tích trên có thể thấy pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ và chi tiết về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên bên cạnh đó, các quy định pháp luật còn bộc lộ tính thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, gây khó khăn cho quá trình áp dụng trong thực tiễn. 1. Thực tiễn áp dụng. Từ khi Bộ luật TTHS đầu tiên ra đời và hiện nay, Bộ luật TTHS 2003 đã phát huy được vai trò to lớn trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Các quy định về bắt người trong Bộ luật TTHS đã tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả đồng thời góp phần bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên trải qua gần 10 năm thi hành, một số quy định của Bộ luật TTHS 2003 về bắt người đã bộc lộ những hạn chế bất cập nhất định, cũng như thực tế áp dụng cũng phát sinh một số vấn đề cần phải sớm khắc phục, hoàn thiện. Cụ thể bao gồm một số vấn đề sau: Vẫn còn xảy ra tình trạng bắt người trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thẩm quyền, thủ tục mà Bộ luật TTHS đã quy định: Việc bắt người, tạm giam, tạm giữ oan sai chưa phải là hiện tượng phổ biến tuy nhiên nhưng đã xảy ra tại nhiều địa phương, gây nên sự bất bình trong nhân dân, có trường hợp cơ quan cấp dưới giữ người nhưng không báo cáo cơ quan có thẩm quyền, xử lý vụ việc tùy tiện, xâm hại nghiêm trọng đến quyền tự do, quyền được bảo hộ về danh dự, nhân phẩm của con người. Ví dụ, một vụ việc vừa qua vào ngày 2182011 công an Quận Hoàn Kiếm đã tiến hành bắt giữ gần 50 người biểu tình chống Trung Quốc ngày 2182011, đặc biệt đối với 6 người bị bắt giữ trong 5 ngày, công an Quận Hoàn Kiếm đã vi phạm hàng loạt điều khoản của Luật Tố tụng hình sự như: điều 79, 83, 84, 85, 86, cụ thể, các trình tự, thủ tục khi tạm giữ như: không có cơ sở để bắt giữ, không có lệnh bắt, không có biên bản giữa người bị tạm giữ với cơ quan tạm giữ, không thông báo cho người thân của người bị tạm giữ, việc bắt giữ không có người chứng kiến, không giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ.... Sau đó 2582011 Viện trưởng VKSND quận Hoàn Kiếm ký quyết định hủy bỏ việc tạm giữ đối với gần 50 người trên. Số lượng những trường hợp bị bắt oan sai ngày càng có xu hướng tăng lên: “Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong năm 2008 toàn quốc có 17.791 người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 93 trường hợp. Trong năm 2009 toàn quốc có 16.347 người; viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 44 trường hợp. Đặc biệt trong năm 2009 vẫn còn 405 trường hợp bắt khẩn cấp phải trả tự do. Những trường hợp viện kiểm sát không phê chuẩn đều đã được trả tự dofootnoteRef:7. 7: Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Thị Minh Sơn, Bảo đảm quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tạp chí luật học số 032011. Một số quy định của Luật TTHS về bắt người trong trường hợp khẩn cấp còn chưa hoàn thiện. Đối với việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, quy định tại Điều 81 BLTTHS về các trường hợp bắt cơ bản là phù hợp với thực tiễn, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn xảy ra oan hoặc sai nên vẫn còn những trường hợp VKS không phê chuẩn. Một trong những nguyên nhân xảy ra bắt oan hoặc sai là do không hiểu đúng đắn về quy định của pháp luật và vận dụng không đúng luật. Chẳng hạn, không hiểu đúng như thế nào là hành vi đang chuẩn bị thực hiện tội phạm, không đảm bảo đầy đủ các điều kiện bắt trong từng trường hợp quy định tại Điều 81 BLTTHS đã ra lệnh bắt. Cụ thể: Thứ nhất, pháp luật hiện hành không quy định “căn cứ” (điểm a khoản 1 Điều 81) để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cụ thể là những căn cứ nào? Việc xác định tội phạm mà người đó đang chuẩn bị thực hiện có phải là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay không để có căn cứ bắt khẩn cấp là một việc rất khó khăn. Trong Bộ luật hình sự có những tội luôn là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, khi có căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện tội này thì việc xác định đó có phải là tội rất nghiêm trọng hay không để quyết định áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp là một điều đơn giản (Ví dụ: Tội giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự). Nhưng đối với những tội phạm mà cấu thành cơ bản của tội đó là tội nghiêm trọng, còn cấu thành tăng nặng của tội đó lại là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và một trong các tình tiết định khung tăng nặng này là căn cứ vào hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì khi quá trình thực hiện tội phạm mới ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, chưa gây ra hậu quả và người chưa thực hiện tội phạm chưa thực hiện các hành vi được quy định ở tình tiết định khung tăng nặng thì không thể xác định được người đó đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để tiến hành bắt khẩn cấp đối với họ. Do vậy việc không thống nhất trong việc giải thích và áp dụng trong thực tế là không tránh khỏi. Thứ hai, bắt khẩn cấp trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81 sử dụng thuật ngữ “người bị hại” là chưa đúng về hình thức vì chỉ khi vụ án đã được khởi tố, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận thì họ mới trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Thứ ba, quy định về trường hợp bắt khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS và khoản 2 Điều 303 BLTTHS là không thống nhất nhau đồng thời không thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước. Cụ thể, căn cứ áp dụng bắt khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 81 chỉ đặt ra đối với người đã thành niên khi họ chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng còn trong khoản 2 Điều 303 không chỉ áp dụng cho người chưa thành niên (từ 16 đến 18 tuổi) chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà ngay cả người đó chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng do cố ý cũng đã bị bắt khẩn cấp. Trong khi đó Điều 17 BLHS quy định chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Thứ tư, khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, trong đó có người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định về nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 BLTTHS, nhưng ở trên tàu bay, tàu biển thì không thể có đủ thành phần chứng kiến như khoản 2 Điều 80 BLTTHS quy định. Khoản 4 Điều 81 BLTTHS quy định thẩm quyền xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là VKS cùng cấp, nhưng đối với lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển thì VKS cùng cấp là VKS nào cũng không được quy định rõ trong luật. 2. Phương hướng và các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên thực tiễn. Cần sớm hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS quy định về bắt người. Từ những tồn tại đã phân tích trong phần thực trạng áp dụng, em xin đề xuất một số ý kiến sau: Thứ nhất, đối với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 81, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về những “căn cứ” để xác định người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội đủ căn cứ bắt khẩn cấp. Theo quan điểm của em, có thể hướng dẫn cụ thể căn cứ do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác minh thông qua theo dõi đối tượng và các biện pháp nghiệp vụ, qua kiểm tra xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp… Thứ hai, điều luật nên sửa đổi thuật ngữ “người bị thiệt hại do tội phạm gây ra” thay từ “người bị hại” trong trường hợp bắt khẩn cấp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81. Thứ ba, về quy định bắt khẩn cấp đối với người chưa thành niên: cần sửa đổi điều luật theo hướng quy định áp dụng việc bắt khẩn cấp đối với người chưa thành niên khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng để phù hợp với quy định tại Điều 81 BLTTHS và Điều 17 BLHS. Bổ sung vào Điều 303 BLTTHS một khoản (khoản 1) với nội dung sau: “Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên chỉ được áp dụng như một biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Thứ tư, đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại Điều 81 Bộ luật TTHS phải chú ý đến một số nội dung nhằm đảm bảo tính khả thi khi áp dụng trên thực tế, cụ thể như sau: Tại điểm c khoản 2 Điều 81 quy định Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp. Quy định này là cần thiết và phù hợp với yêu cầu của bắt khẩn cấp. Tuy nhiên việc bắt người trong trường hợp này phải tuân theo thủ tục được quy định tại khoản 3 Điều 81: Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này. Khoản 2 Điều 80 quy định việc bắt người phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc bị bắt và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Như vậy đối với trường hợp bắt khẩn cấp trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng sẽ không đáp ứng được điều kiện về người chứng kiến khi bắt người. Do vậy trong trường hợp nay về thủ tục bắt người là sai quy định của pháp luật. Đồng thời việc phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của Viện kiểm sát sau khi bắt trong trường hợp này sẽ là Viện kiểm sát nơi nào? Do đó Bộ luật TTHS cần quy định rõ hơn về trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển ra lệnh bắt khẩn cấp như sau: Khoản 3 Điều 81 cần sửa thành: “Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này. Trường hợp thi hành lệnh bắt của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng thì cần 2 hành khách đi cùng hoặc nhân viên trên chuyến tàu bay, tàu biển đó chứng kiến việc bắt. Khoản 4 Điều 81 Bộ luật TTHS cần bổ sung thêm: Lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển do Viện kiểm sát nơi tàu bay, tàu biển đó hạ cánh, cập bến phê chuẩn. Cần chú trọng công tác đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ không chỉ với những người tiến hành tố tụng mà một số cán bộ công chức cấp xã cũng cần phải được đào tạo và nâng cao nghiệp vụ, đặc biệt là lực lượng công an xã. Việc đào tạo về chuyên môn ở đây không chỉ chú trọng đến những quy định của Bộ luật TTHS mà còn phải chú trọng đến những quy định của Bộ luật Hình sự. Việc đào tạo chuyên môn cho cán bộ công chức cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS nói chung và chế định bắt người nói riêng. Một người không được đào tạo về chuyên môn thì khó có thể xác định được đâu là hành vi chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng, hay đặc biệt nghiêm trọng để có thể xác định căn cứ bắt khẩn cấp. Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với những người tiến hành tố tụng cố ý làm trái các quy định của Bộ luật TTHS về bắt người. Việc bắt người là biện pháp ngăn chặn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt. Việc bắt người không đúng quy định của pháp luật sẽ gây tác hại nhiều mặt như xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của nhà nước và của các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận, làm cơ sở cho các thế lực thù địch chống phá nhà nước, nói xấu chế độ. Ví dụ như vụ bắt người biểu tình trước đại sứ quán Trung Quốc ngày 21082011 vi phạm hàng loạt các quy định của luật TTHS đã tạo cơ sở cho các trang web, các báo phản động có cơ sở phê phán và bôi nhọ nhà nước ta. Do đó việc bắt người cần phải được quyết định kĩ càng. Đồng thời, đối với những hành vi bắt người có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cần phải chấn chỉnh kịp thời, những hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì Viện kiểm sát, Thủ trưởng cơ quan điều tra cần phải nâng cao vai trò và trách nhiệm của mình để mọi hành vi vi phạm pháp luật về bắt người đều phải được xử lý. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Trên đây là những vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp và việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện những quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã khắc phục được một số khó khăn, vướng mắc do quy định trước đây của Bộ luật tố tụng hình sự 1988 nhưng trên thực tế cũng đã có những vấn đề mới nảy sinh. Vì vậy, việc liên tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật để luôn đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn là việc làm hết sức cần thiết.
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN THI VẪN ĐÁP HÀNH CHÍNH

TÀI LIỆU ÔN THI VẪN ĐÁP HÀNH CHÍNH

b: Công chức không phải chịu trách nhiệm khi thi hành quyết định hành chính màđã báo cáo với cấp có thẩm quyền về tính trái pháp luật của quyết định?Sai, phải báo cáo bằng văn bảnĐề số 18: 1. Hãy nêu các biện pháp cưỡng chế hành chính áp dụng khi k vi phạmHC (nhớ nêu khái niệm cưỡng chế)2. a) Luật cán bộ công chức là quyết định hành chínhSai, là quyết định lập phápb) Các cá nhân được nhà nước trao quyền tham gia quản lí hành chính nhà nướckhông được thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước mang tính hợp phápSai, nhớ phân tích tính hợp pháp trong quản lí HCNNĐề 19: 1. mặt chủ quan của vi phạm hành chính.Đề 20:1. 1. phân biệt trách nhjệm kỉ luật vs trách nhjệm hành chính. 2.2. 2. a. Tất kả các văn bản pháp luật đều là nguồn của LHC.Sai, Bộ luật hình sựb. Người từ 18t trở lên đều được tham gja vào mọi quan hệ pháp luật hành chính.Sai, 1 số qhệ đòi hỏi trình độĐề 2:1. So sánh giữa hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật và hình thức banhành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật2.a, Có phải mọi cá nhân làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập đều là viên chứcSai, có thể là công chứcb. Văn bản là nguồn của luật hành chính đều là quyết định hành chínhSai, Hiến pháp là nguồn nhưng không phải QĐHCĐề số..1.Trách nhiệm kỉ luật của cán bộ , công chức2.Khẳng định đúng saia.Công chức vi phạm kỉ luật bị xét xử theo luật tố tụng hình sự có đồng thời phảichịu xử lý kỉ luật
Xem thêm

10 Đọc thêm

CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (TT)

CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (TT)

trật tự an toàn xã hội của đất nước, nhất là trong giai đoạn hiện nay.Xét trên khía cạnh hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp thì cùngvới các Cơ quan điều tra khác, Cơ quan CSĐT chiếm một vị trí hết sức quantrọng. Mặc dù Cơ quan CSĐT không có quyền quyết định một người có phải làngười phạm tội hay không, nhưng để chứng minh tội phạm và người phạm tộilàm cơ sở cho việc ra quyết định đề nghị truy tố hoặc quyết định truy tố bị cantrước Toà án, cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, cần thiết phải tiến hànhhoạt động điều tra của Cơ quan điều tra nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng.Theo PGS,TS. Trần Đình Nhã thì: “ Điều tra là khâu đột phá, là giaiđoạn đầu giữ vai trò thành bại đối với cả tiến trình tố tụng hình sự. Những kếtquả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọttội phạm, làm oan người vô tội … thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra. Vịtrí quan trọng của giai đoạn điều tra đối với công tác xét xử không chỉ giớihạn ở số lượng chất lượng chứng cứ mà Cơ quan điều tra có thể cung cấp choToà án, mà thậm chí nhiều trường hợp, sự nhận định, đánh giá tội phạm của cơquan điều tra và của Viện kiểm sát còn quy định giới hạn việc xét xử” [26, tr2].Như vậy, có thể khẳng định: hoạt động điều tra của Cơ quan CSĐT nóiriêng và Cơ quan điều tra nói chung là hoạt động không thể thiếu được trongtố tụng hình sự. Toà án muốn xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thìtrước đó, Cơ quan điều tra phải thu thập được những chứng cứ cơ bản, baogồm những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội,những chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng cũng như những chứng cứ xácđịnh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Hay nói cách khác, đểgiải quyết được vụ án hình sự thì phải có đủ chứng cứ xác định những tình tiếtcủa vụ án hình sự, mà những chứng cứ này phải được thu thập bởi các Cơquan điều tra.Từ những điều đã trình bày trên, có thể thấy vị trí quan trọng của Cơquan CSĐT trong bộ máy Nhà nước nói chung và hoạt động tố tụng hình sự
Xem thêm

17 Đọc thêm

Bài tập bán trắc nghiệm bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế

Bài tập bán trắc nghiệm bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế

Bài tập bán trắc nghiệm Bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế Nhận định sau đúng hay sai? Giải thích ? 1. Nếu hai công dân Việt Nam kết hôn tại nước ngoài thì theo pháp luật ViệtNam, quan hệ hôn nhân đó phải là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đây là một nhận định sai. Bởi vì, Giữa 2 công dân việt nam với nhau kết hôn ở nước ngoài mà quan hệ đó được xác lập,thực hiện,thay đổi,chấm dứt ở nước ngoài (có nghĩa là quan hệ đó phải phát sinh ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài) liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài mới được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên trong trường hợp 2 công dân việt nam đăng kí kết hôn ở đại sứ quán hay lãnh sự quán của việt nam đặt trụ sở tại nước ngoài thì sẽ kết hôn trong vùng lãnh thổ đặc biệt và tuân theo pháp luật việt nam nên không được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. 2. Xung đột pháp luật chỉ phát sính trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng). Đây là một nhận định đúng. Bởi vì, xung đột pháp luật chỉ phát sinh trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng (hôn nhân gia đình,tố tụng dân sự,thương mại,lao động,dân sự có yếu tố nước ngoài) còn trong các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác như hình sự,hành chính…..v.v…tuy pháp luật các nước khác nhau cũng quy định khác nhau nhưng không xảy ra xung đột.vd trong quan hệ hình sự,hành chính mang tính hiệu lực theo lãnh thổ rất nghiêm ngặt và không bao giờ có quy phạm xung đột và cho phép áp dụng luật nước ngoài 3. Tất cả các quan hệ có yếu tố nước ngoài đều thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Đây là một nhận định sai. Bởi vì, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là nhứng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng.Còn những quan hệ phát sinh trong đời sống quốc tế giữa các quốc gia và rộng hơn là giữa các chủ thể của công pháp quốc tế thì thuộc đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế.
Xem thêm

Đọc thêm

TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

thẩm quyền tương ứng được quy định trong pháp luật mỗi quốc gia.Thứ hai, về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, nếu được hiểu theonghĩa hẹp thì chỉ bao gồm các hành vi tố tụng riêng biệt do các bên thỏa thuậnhợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Điều này cũng đồng nghĩa với bản chất của vấn đềtương trợ tư pháp là việc hỗ trợ cho nhau trong thực hiện các hành vi tố tụngriêng biệt (như tống đạt giấy tờ, thực hiện ủy thác điều tra, thu thập chứng cứ,dẫn độ tội phạm, thi hành án...). Còn hiểu theo nghĩa rộng thì các vấn đềtương trợ tư pháp ở đây còn bao gồm cả dẫn độ, chuyển giao người bị kết ánvà một số hoạt động khác hỗ trợ việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.Thứ ba, cơ sở pháp lý để thực hiện tương trợ tư pháp là điều ước quốctế (song phương hoặc đa phương) giữa các nước và pháp luật các nước liênquan về tương trợ tư pháp. Điều ước quốc tế giữa các nước liên quan về tươngtrợ tư pháp được ưu tiên áp dụng; nếu không có điều ước quốc tế liên quan thìtương trợ tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu thựchiện, chủ yếu tuân theo nguyên tắc có đi có lại - nguyên tắc phổ biến trong đờisống quốc tế được nhiều nước áp dụng.Thứ tư, mục đích của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân của cácquốc gia trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm quốc tế,tội phạm có tính chất quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữunghị, hợp tác giữa nước ta và các quốc gia hữu quan.1.2. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự13Việc xác định các nguyên tắc trong tương trợ tư pháp về hình sự có ýnghĩa rất quan trọng để định hướng nội dung, hình thức hợp tác. Tương trợ tưpháp về hình sự là một trong các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hìnhsự, là một phần quan trọng của quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia. Sự hợp
Xem thêm

Đọc thêm

quy định về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự

quy định về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự

MỤC LỤC A.MỞĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài : 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4 4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5 6. Cơ cấu của khóa luận : 5 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN 6 1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân : 6 1.2 Vị trí vai trò của hội thẩm nhân dân : 7 1.3 Nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân : 9 1.3.1 Quyền nghiên cứu hồ sơ : 10 1.3.2 Tham gia xét xử : 11 1.3.3 Tiến hành các hoạt động tố tụng : 12 1.3.4 Trách nhiệm : 13 1.4 Nguyên tắc hoạt động của hội thẩm nhân dân 15 1.4.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 15 1.4.2 Nguyên tắc xét xử của tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia 16 1.4.3 Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 18 CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM . THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 21 2.1 Các quy định về hội thẩm nhân dân trước khi bộ luật tố tụng hình sự 2003 ra đời 21 2.1.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1959 21 2.1.2. Giai đoạn từ 1959 đến 1980 23 2.1.3. Giai đoạn từ 1980 đến trước khi ban hành bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 26 2.2 Đánh giá các quy định pháp luật về hội thẩm nhân dân trong bộ luật tố tụng hình sự 2003 28 2.3 . Thực tiễn hoạt động của hội thẩm nhân dân tại tỉnh quảng trị 35 2.3.1 Số lượng, chất lượng hội thẩm nhân dân tại tỉnh Quảng trị 35 2.3.2. Thực tiễn tham gia tố tụng hình sự của Hội thẩm nhân dân 41 2.3.3 Số vụ án hình sự Hội thẩm nhân dân tỉnh Quảng Trị đã tham gia xét xử từ năm 2012 đến năm 2014 42 2.4 Các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội thẩm nhân dân quy định trong luật tố tụng hình sự 44 2.4.1 Giải pháp hoàn thiện các nguyên tắc hoạt động của hội thẩm nhân dân 44 2.4.2 Các giải pháp khác 52 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Xem thêm

Đọc thêm

Vai trò của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn tố tụng

Vai trò của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn tố tụng

vai trò của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn tố tụng Bài tập học kỳ Tâm lý học tư pháp 9 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tâm lý học tư pháp ĐẶT VẤN ĐỀ Như chúng ta đã biết, cấu trúc tâm lí của hoạt động tư pháp là tổng hòa các mục đích của hoạt động tư pháp, được thực hiện bằng các hoạt động tâm lí nhất định; trong đó nhận thức là một hoạt động có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt khi tiến hành các giai đoạn của hoạt động Tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay, vấn đề về vai trò của hoạt động nhận thức càng cần thiết hơn nữa. Vì thế, để hoạt động nghiên cứu tâm lí này có thể giữ được vai trò cơ bản và quan trọng đó cũng như làm cho nó được thực hiện một cách có hiệu quả trong quá trình tố tụng thì vấn đề đặt ra là cần phải nâng cao hơn nữa sự hiểu biết về hoạt động nhận thức đến từng chủ thể tiến hành tố tụng cũng như các chủ thể khác. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, e xin trình bày : “Phân tích vai trò của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng ( Điều tra vụ án hình sự, xét xử vụ án hình sự, giáo dục cải tạo phạm nhân). Rút ra kết luận cần thiết” GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Khái niệm , 1. Hoạt động nhận thức trong tố tụng hình sự. Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lí phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các cơ quan cảm giác và dựa trên những hiểu biết vốn liếng kinh nghiệm đã có của bản thân.( Theo giáo trình Tâm lí học Tư pháp_ Trường Đại học Luật Hà Nội) 2. Hoạt động điều tra. Theo tài liệu Từ điển bách khoa toàn thư, thì hoạt động điều tra được hiểu là “ hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm của người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội hoặc vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can. Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc và thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.” 3. Hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử là hoạt động của các toà án được tổ chức và tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định và theo một trật tự do luật định nhằm xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình và những vụ việc khác do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân. (Theo Từ điển bách khoa toàn thư) 4. Hoạt động giáo dục, cải tạo. Hiện nay, hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân là biện pháp chế tài của nhà nước áp dụng đối với những người phạm tội mà đã có bản án của tòa án tuyên người đó là có tội và phải chịu hình phạt. hoạt động cải tạo diễn ra khi người đó đang chấp hành hình phạt tù, hoạt động này nhằm giáo dục nhân cách cũng như nghề nghiệp cho phạm nhân để sau khi đã chấp hành xong hình phạt tù học có thể nhanh chóng hòa nhập được vào cộng đồng xã hội. II. Vai trò của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng. 1. Khái quát về hoạt động nhận thức trong hoạt động tư pháp Như trên ta đã trình bày về khái niệm của hoạt động nhận thức. qua đó ta có thể thấy : Hoạt động nhận thức là một bộ phận, một mặt hoạt động rất cơ bản và không thể thiếu được của hoạt động tư pháp. • Mục đích của hoạt động nhận thức: nhằm thu thập tất cả các chứng cứ tài liệu liên quan đến vụ án; phân tích, đánh giá các chứng cứ để làm sang tỏ sự thật của vụ án; tìm hiểu thái độ, hành vi xử sự của những người tham gia tố tụng; nắm bắt được đặc điểm tâm lí của những người tham gia tố tụng; đưa ra các cách thức, phương pháp tác động tâm lí đến những người tham gia tố tụng. • Đặc điểm của hoạt động nhận thức trong hoạt động tư pháp Quá trình nhận thức là quá trình phát triển của tất cả các thành phần của hoạt động tư pháp. Nhận thức chính là phương tiện để thực hiện các hoạt động khác trong hoạt động tư pháp. Hoạt động nhận thức trong hoạt động tư pháp chủ yếu mang tính chất gián tiếp. Hoạt động nhận thức trong hoạt động tư pháp liên quan chặt chẽ với các thủ tục tố tụng. Hoạt động nhận thức trong quá tình tố tụng luôn mang sắc thái tình cảm cao, được tiến hành trong trạng thái tâm lí căng thẳng. Nhận thức bị hạn chế về thời gian. • Các giai đoạn: Tri giác các sự việc bằng các cơ quan cảm giác Thiết lập và tìm ra các cách thức phương hướng thu thập chứng cứ tài liệu liên quan đến vụ án Xây dựng mô hình tư duy năng động về vụ án đã xảy ra trên cơ sở các chứng cứ tài liệu đã thu thập được 2. Vai trò của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự. 2.1 Vai trò của hoạt động nhận thức trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Dựa trên những đặc điểm trên của hoạt động nhận thức, ta nhận thấy, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, hoạt động nhận thức được đánh giá là thành phần chủ yếu trong cấu trúc tâm lí của hoạt động điều tra tội phạm. Trong quá trình này, hoạt động nhận thức nhằm thu thập, xác minh các thông tin có liên quan đến vụ án như: động cơ mục đích của tội phạm, diễn biến, hậu quả của tội phạm, đặc điểm nhân thân của người phạm tội và của các đương sự có liên quan… Bên cạnh đó, thông qua hoạt động này, điều tra viên có thể nghiên cứu nhân cách của bị can để từ đó có hướng điều tra đúng đắn. Hoạt động nhận thức trong quá trình tiến hành điều tra vụ án hình sự chủ yếu dựa vào quá trình nhận thức của các Điều tra viên. Cụ thể: + Trong quá trình nhận thức, các Điều tra viên không chỉ tự mình giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình tư duy mà còn tự mình đưa ra những nhiệm vụ tư duy để có thể khôi phục lại những sự kiện đã xảy ra, hoặc ủy nhiệm cho người khác khôi phục lại những sự kiện đã xảy ra. Việc nhận thức những sự kiện của vụ án thực hiện thông qua việc xây dựng mô hình tội phạm trên cơ sở những thông tin thu thập được cùng với các thông tin bổ trợ khác. Ngoài ra, Điều tra viên cũng phải xây dựng mô hình tư duy về mối liên hệ biện chứng giữa các sự kiện đã xảy ra với những sự kiện thực tại. vì thế, đòi hỏi các điều tra viên phải nghiên cứu kĩ lưỡng các thông tin, đánh giá chính xác các sự kiện và đề ra hướng hành động, kiểm tra các giả định. + Điều tra viên phải luôn chủ động để phân tích các nguồn thông tin. Sự phong phú về thông tin vụ án, kết hợp cùng với những tin tức chưa đầy đủ hiện có là điều kiện giúp quá trình tư duy của điều tra viên về vụ án gặp nhiều thuận lợi, từ đó mà nhanh chóng xây dựng được mô hình chính xác về vụ án đã xảy ra. Đặc biệt, trong quá trình điều tra vụ án hình sự thì hoạt động nhận thức của các điều tra viên được thể hiện ở sự tâp trung thần kinh cao độ. Vì thế mà đòi hỏi các điều tra phải có sự chuẩn bị tâm lí. Thông qua hoạt động nhận thức, điều tra viên có thể khôi phục lại mô hình của sự kiện đã xảy ra theo các phương thức: trực tiếp nhận thức những sự kiện của thực tế khách quan hoặc nhận thức về các nguồn tin do người khác cung cấp khi không có điều kiện trực tiếp xem xét. Vì thế, khi thực hiện hoạt động nhận thức thì ở điều tra viên thường nảy sinh hai quá trình liên quan mật thiết với nhau, đó là: Nhận thức về sự kiện cần thiết cho việc xây dựng mô hình xảy ra và nhận thức về những người cung cấp thông tin có liên quan đến vụ án. Như vậy, qua sự phân tích cụ thể trên có giai đoạn điều tra vụ án hình sự, vai trò của hoạt động nhận thức chủ yếu thể hiện thông qua quá trình nhận thức của các điều tra viên. Và nó đóng vai trò chủ đạo, có vị trí trung tâm(vì nó có tầm ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động khác sẽ diễn ra ở các giai đoạn sau), và là hoạt động có tính chất cơ sở, là phương tiện để tiếp tục thực hiện các giai đoạn sau. Sở dĩ trong giai đoạn này hoạt động nhận thức giữ vai trò chủ đạo, bởi vì mục đích của giai đoạn này là thu thập các thông tin về vụ án nhằm để xác minh sự thật mang tính khách quan của vụ án. Do đó, các điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án cần có sự nhận thức đúng đắn và khách quan về các sự kiện, những tình tiết của vụ án cũng như xây dựng nên mô hình tư duy đúng đắn về vụ án. 2.2. Vai trò của hoạt động nhận thức trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Như ta vừa phân tích ở trên, trong giai đoạn điều tra thì hoạt động nhận thức giữ vị trí cơ bản, chủ yếu; nhưng bước sang giai đoạn xét xử thì hoạt động giữ vai trò cơ bản và chủ đạo không phải là hoạt động nhận thức nữa mà là hoạt động thiết kế. Nhưng hoạt động thiết kế của Tòa án chỉ có thể diễn ra và thực hiện có kết quả khả thi chỉ sau khi đã thực hiện đúng đắn các yêu cầu của hoạt động nhận thức trên cơ sở kiểm tra, đánh giá những chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ điều tra vụ án của cơ quan điều tra chuyển sang. Tòa án muốn thực hiện được hoạt động thiết kế một cách dễ dàng và có kết quả đúng đắn thì mọi thông tin cần thiết phải được thu thập tương đối đầy đủ và chính xác ngay từ trong giai đoạn điều tra. Bởi vì, tài liệu điều tra sẽ tạo ra điều kiện để Tòa án có thể dễ dàng xác định được mô hình vụ án và hành vi phạm tội cũng như mối quan hệ giữa chúng. Dựa trên cơ sở của hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và tìm kiếm những thông tin cần thiết mà Tòa án có thể chọn lọc và hệ thống hóa thông tin, qua đó mà có thể nhận thức về các tình tiết của vụ án cũng như tình tiết liên quan đến vụ án được dễ dàng hơn. Bởi vì, tất cả các thông tin về vụ án cũng như mô hình của vụ án đã được thể hiện khá rõ ràng và cụ thể trong hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra , qua nghiên cứu hồ sơ đó sẽ giúp cho Tòa án có cách nhìn toàn diện và đúng đắn về vụ án. Tuy hoạt động nhận thức của cơ quan điều tra giúp cho công tác xét xử của Tòa án được dễ dàng hơn, nhưng kết luận về tài liệu của cơ quan điều tra chỉ mang tính sơ bộ. Vì thế, Tòa án phải có quá trình nghiên cứu và kiểm tra lại mô hình này tại tòa. Do đó, xét hỏi về các tình tiết của vụ án là giai đoạn trung tâm của hoạt động xét xử, là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn độc lập trong hoạt động xét xử để nhằm xác minh sự thật của vụ án. Đây chính là yếu tố tìm kiếm của hoạt động nhận thức. Hoạt động nhận thức của Tòa án là quá trình nhận thức những chứng cứ mang tính gián tiếp cao. Lí do chủ yếu là vì trong các vụ án hình sự, Tòa án không tiếp xúc trực tếp với vụ án, không tham gia vào giai đoạn điều tra mà chỉ tiếp nhận chứng cứ, tài liệu thông qua điều tra viên. Từ đó, trong giai đoạn điều tra, điều tra viên phải có những biện pháp củng cố tài liệu thu thập một cách đầy đủ và các tài liệu đó phải giúp cho Tòa án nhận thức được chứng cứ, xây dựng mô hình tư duy về vụ án cần nghiên cứu một cách dễ dàng hơn. Trong quá trình nhận thức, Tòa án cần phải đối chiếu mô hình về hành vi phạm tội với điều luật cụ thể. Ở trong hồ sơ điều tra, các điều tra viên đã chỉ ra những điều luật có thể áp dụng đối với tội phạm. Nhưng các thẩm phán vẫn cần phải kiểm tra cẩn thận về tính đúng đắn của sự đối chiếu đó, thẩm phán phải đối chiếu một cách cụ thể và có khoa học, có căn cứ về các hành vi phạm tội với các điều luật tương ứng. Như vậy, ta thấy hoạt động nhận thức trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự tuy không đóng vai trò chủ đạo nhưng với mục đích kiểm tra tính đúng đắn của các thông tin, tài liệu của vụ án đã thu thập được trong giai đoạn điều tra sẽ tạo ra cơ sở, căn cứ để Tòa án có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về tội phạm và hình phạt tương ứng. Đồng thời qua đó cũng khẳng định rằng tuy hoạt động thiết kế giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn này, nhưng nó sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu đi vai trò của hoạt động nhận thức trong giai đoạn điều tra cũng như trong quá trình xét xử. 2.3. Vai trò của hoạt động nhận thức trong quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân. Muốn giáo dục phạm nhân có hiệu quả, cần phải hiểu bản chất nhân cách của họ, ảnh hưởng của điều kiện, hòan cảnh sống ở trại giam đến quá trình giáo dục.. Vì vậy hoạt động nhận thức trong giai đoạn cải tạo là cơ sở của hoạt đông giáo dục. Hoạt động nhận thức trong giai đoạn cải tạo giúp cán bộ tư pháp nhận thức các vấn đề như: + Nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện phạm tôi của từung phạm nhân. Trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử vấn đề này cũng đã được các cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu. Tuy nhiên, để giáo dục phạm nhân có hiệu quả, cơ quant hi hành án cần nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện phạm tội của từng phạm nhân một cách cụ thể, rõ rang hơn. Điều này cho phép những người làm công tác giáo dục phạm nhân thấy được những đặc điểm tiêu cực trong nhân cách cảu từng phạm nhân, nguyen nhân hình thành và phát triển chúng, từ đó dự kiến con đường và biện pháp giáo dục họ. + Nghiên cứu đặc điểm tâm lí, nhân cách của phạm nhân. Việc nghiên cứu đặc điểm tâm lí, nhân cách của phạm nhân cần chỉ ra được những yếu tố tích cực trong nhân cách của họ cân được củng cố, phát huy; những yếu tố tiêu cực cần hạn chế, loại bỏ. Nếu được phát hiện, được khơi dậy, những yếu tố tích cực, những điểm sáng còn lại trong con người phạm nhân sẽ là cơ sở thuận lợi để cải tổ con người của họ , đưa họ trở thành người có ích cho xã hội + Nghiên cứu quá trình chuyển biến về tâm lí của phạm nhân trong thời gian chấp hành án phạt tù. Việc nghiên cứu vấn đề này cho phép giám thị, quản giáo trại giam đánh giá được hiệu quả của các biện pháp giáo dục đã được áp dụng, từ đó xác định kế hoạch và những biện pháp giáo dục cần thiết tiếp theo. Một nội dung quan trọng nữa của hoạt động nhận thức trong giai đoạn cải tạo là nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện, hoàn cảnh sống, các quan hệ giao tiếp ở trại đối với phạm nhân. Việc làm rõ điều kiện, hòan cảnh sống, của các quan hệ giao tiếp ở trại đến từng phạm nhân giúp cho việc xác định, điều chỉnh các biện pháp giáo dục cần thiết đối với họ, phòng ngừa những tình huống xấu có thể xảy ra. Vai trò của hoạt động nhận thức trong giai đoạn này chủ yếu là nhằm giáo dục cảm hóa phạm nhân, đảm bảo cho họ sẽ không tái phạm sau khi đã chấp xong hình phạt tù hay được mãn hạn tù. Nhưng mục đích của hoạt động nhận thức phải đảm bảo cho hoạt động giáo dục, cải tạo của phạm nhân đạt kết quả tốt. Để giáo dục, cải tạo phạm nhân, cán bộ quản lí không những phải biết trạng thái tâm lí của họ trong hiện tại mà còn phải biết những thiếu sót tâm lí xã hội của họ đã nảy sinh bằng cách nào trong quá trình hình thành những tập quán, thói quen, cách cư xử chống đối pháp luật của họ. Vì thế, cán bộ quản giáo phải thu thập cả nhưng thông tin về điều kiện phát triển của cá nhân phạm nhân khi nghị án: thông tin về gia đình, về mối quan hệ giữa họ với gia đình… Điều tra viên điều tra vụ án hình sự do phạm nhân này thực hiện có thể giúp cán bộ quản giáo thực hiện hoạt động nhận thức ở giai đoạn cải tạo. Nếu trong quá trình nghiên cứu, điều tra viên thu thập và tổng hợp lại những thông tin quan trọng để tổ chức quá trình giáo dục, cải tạo nhằm xác định ai là người có ảnh hưởng tích cực đến phạm nhân…thì sẽ thông báo những thông tin này cho ban giám thị trại giam có khả năng giúp cho lựa chọn đúng biện pháp giáo dục, cải tạo phạm nhân. Cán bộ quản giáo cần phải nghiên cứu tỉ mỉ về thái độ, hành vi, hứng thú…của phạm nhân. Kết quả nghiên cứu giúp cán bộ quản giáo hiểu rõ hơn về những phẩm chất của phạm nhân: tính cách, phẩm chất, ý chí của phạm nhân…đã hình thình ở họ. Quá trình nghiên cứu nhân cách phạm nhân cho phép cán bộ quản giáo phát hiện cả những nét phẩm chất tích cực, nó tạo cơ sở củng cố nhân cách của họ và để tác động giáo dục đến những phạm nhân khác, tạo cơ sở để thành lập một nhóm phạm nhân tích cực. Như vậy, từ những yếu tố trên, có thể kết luận: Tuy hoạt động giáo dục đóng vị trí quan trọng nhất trong giai đoạn này, nhưng bên cạnh đó ta cần phải hiểu vấn đề là để hoạt động giáo dục có vai trò đó là phải dựa trên những sự tác động của hoạt động nhận thức, bởi vì ở trong giai đoạn này thì hoạt động nhận thức đã tạo ra các cơ sở về nhận thức tâm lí bên trong của phạm nhân, để từ đó mà các cán bộ quản giáo mới có những phương pháp giáo dục cải tạo phạm nhân phù hợp, cảm hóa dần những sai làm của họ và hướng tới việc đảm bảo cho họ sẽ không thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nữa sau khi đã chấp hành xong hình phạt. III. Rút ra kết luận về vai trò của hoạt động nhận thức và một số quan điểm cá nhân. 1. Một số kết luận cần thiết. Với tất cả những phân tích trên, ta có thể rút ra được một số kết luận cơ bản sau: Thứ nhất, hoạt động nhận thức là một trong những dạng hoạt động cơ bản và không thể thiếu được trong hoạt động tư pháp. Bởi vì có nhận thức được đúng đắn thì chúng ta mới có thể đưa ra được những nhận xét đúng đắn và khách quan về đối tượng cần nghiên cứu. Dẫn chiếu vào bài viết này ta nhận thấy, nếu không có hoạt động nhận thức thì các điều tra viên sẽ không đánh giá được các nguồn tin, tài liệu nào là cần thiết cho vụ án. Thậm chí là có thể đánh giá sai về hành vi phạm tội, về người phạn tội… từ đó mà sẽ không xây dựng được mô hình phạm tội cũng như hành vi của người phạm tội. Ngoài ra, do không có nhận thức đúng đắn về vụ án nên cũng sẽ dẫn đến hiện tượng oan sai ngay từ giai đoạn điều tra. Vì thế, trong giai đoạn điều tra thì hoạt động nhận thức là trung tâm, có vai trò quan trọng nhất. Bước sang giai đoạn xét xử. Để Tòa án có thể ra được những quyết định tố tụng khách quan và đúng pháp luật, xử phạt đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không xét xử và làm oan sai người vô tội thì Hội đồng xét xử nói chung cũng như Thẩm phán giữ nhiệm vụ chủ tọa phiên tòa cũng cần có những nhận thức đúng đắn về vụ án thông qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát gửi lên cũng như đánh giá sự thật khách quan tại phiên tòa thông qua giai đoạn xét hỏi…Như vậy, bản án quyết định của Tòa án có đúng pháp luật hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào quá trình nhận thức khách quan về vụ án của các cơ quan tư pháp. Để cải tạo và giáo dục phạm nhân tốt, giúp cho phạm nhân hiểu được các hành vi sai trái của mình và ăn năn, hối cải thì việc nhận thức về tính cách, thái độ, hành vi… của phạm nhân sẽ giúp các quản giáo nhận biết được về phạm nhân, từ đó mà có những phương án cải tạo, giáo dục phù hợp để cảm hóa con người phạm nhân sẽ trở thành những con người tốt sau khi đã chấp hành xong hình phạt tù. Thứ hai, hoạt động nhận thức có tính chất là cơ sở và là phương tiện để thực hiện các hoạt động tư pháp tiếp theo. Đúng như vậy, đề hoạt động thiết kế và hoạt động cải tạo, giáo dục đạt được hiệu quả cao thì nhất thiết chúng ta phải dựa trên những căn cứ của hoạt động nhận thức. Tránh được tình trạng oan sai khi quyết định hình phạt cũng như giáo dục không đúng mục đích của hoạt động tư pháp. Thứ ba, hoạt động nhận thức và các hoạt động tư pháp khác (hoạt động thiết kế, hoạt động giáo dục, cải tạo) có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bởi vì trong hoạt động tư pháp, tuy các hoạt động có vị trí và vai trò khác nhau trong mỗi giai đoạn nhưng về mặt tổng thể thì chúng đều có sự tác động qua lại với nhau, hỗ trợ cho nhau và hướng tới mục tiêu cuối cùng là làm cho hoạt động tư pháp diễn ra thống nhất, khách quan và đúng pháp luật, tránh những tình trạng oan, sai trong quá trình tố tụng hình sự. 2. Thực trạng áp dụng và kiến nghị Hiện nay, có thể thấy hoạt động này đang bị xem nhẹ trong thực tế tố tụng hiện nay, vì thế mà các tình trạng “oan, sai”, “lách luật” vẫn thường xuyên diễn ra. Đồng thời, việc nhận thức về vụ án của các chủ thể tiến hành tố tụng cũng đang là vấn đề thời sự, đã có nhiều chủ thể có thẩm quyền đã cố tình làm sai lệch nội dung, diễn biến của vụ án. Chính điều này làm cho người dân ngày càng đánh mất lòng tin vào các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì thế, công tác cải cách tư pháp hiện nay cũng đang đặt ra việc hoàn thiện hơn nữa về nhận thức của các chủ thể tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành, phối hợp giữa các chủ thể cũng chính là điều kiện để phát huy hơn nữa hiệu quả của hoạt động nhận thức trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng. Ví dụ tình huống: A là ông chủ một tiệm trang sức ở thị trấn C. Vào ngày 05092010, do mất cảnh giác lúc nửa đêm, của hàng của ông A bị mất trộm lượng trang sứ lớn trị giá 30 triệu đồng. Ngay sau đó ông A đã báo lên cơ quan công an và các điều tra viên đã bắt tay vào điều tra. Sau một thời gian tìm hiểu điều tra đã bát được đối tượng H( thanh niên ăn chơi có tiếng, có nhiều tiền án tiền sự, ở gần nhà ông A) chính là thủ phạm của vụ án trên. A đã bị Tòa tuyên 3 năm tù vì tội trộm cắp tài sản. Phân tích tình huống. Trong trường hợp này, ở giai đoạn điều tra, hoạt động nhận thức có vai trò vô cùng quan trọng, cụ thể: giúp điều tra viên thu thập các thông tin như khoanh vùng đối tượng tình nghi, tìm hiểu rõ tiểu sử, gia đình của từng đối tượng để rút ra kết luận( mục đích phạm tội: do ăn chơi nợ nần, kẻ trộm cắp chuyên nghiệp…); hành vi phạm tội được thực hiện lúc nào( nửa đêm không cảnh giác của chủ nhà, ít người qua lại…); diễn biến( diễn ra nhanh chóng gấp rút, người bị hại không kịp phát hiện…); hậu quả: chỉ trộm cắp tài sản hay cả gây thương tích... Từ đó có thể rút ra kết luận về nhân cách phạm nhân. Chính từ quá trình nhận thức mới có thể giúp điều tra viên có được những thông tin đó. Trong giai đoạn xét xử, chính hoạt động nhận thức giúp cho Thẩm phán có thể nghiên cứu kĩ hồ sơ( nhân cách bị cáo là tay ăn chơi có tiếng, tiền án tiền sự, gia đình…)để đánh giá các tình tiết vụ án; đối chiếu với điều luật để đưa ra mức hình phạt phù hợp Đến giai đoạn cải tạo, với việc nhận thức về nhân cách phạm nhân là 1 người đã có tiền án tiền sự thì cần biện pháp giáo dục cứng rắn nhưng cũng phải kết hợp khuyên giải để phạm nhân nhận ra lỗi lầm, tìm được hướng đi đúng đắn trong tương lai… KẾT THÚC VẤN ĐỀ Trong hoạt động tư pháp nói chung, cũng như quá trình tố tụng hình sự nói riêng thì hoạt động nhận thức luôn được đánh giá là hoạt động giữ vai trò trung tâm, là tiền đề, cơ sở cho các hoạt động khác. Tuy nhiên, vai trò đó đang dần bị đánh mất bởi những tiêu cực trong nền tư pháp Việt Nam hiện nay. Vì thế, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có biện pháp, chính sách cải cách tư pháp mới nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, cũng như tầm quan trọng của hoạt động nhận thức trong quá trình tố tụng, trong hoạt động tư pháp Việt Nam trong giai đoạn hội nhập ngày nay.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

I. KHÁI QUÁT MÔN HỌC 1. Thông tin chung về môn học Tên môn học : Quyền con ngườitrong tư pháp hình sự Môn học : Bắt buộc Mã môn học : CRL6024 Số tín chỉ : 02 Giờ tín chỉ đối với các hoạt động: + Nghe giảng lí thuyết: 24 + Thực hành: 06 + Tự học: 06 2. Đối tượng học và điều kiện tiên quyết Đối tượng: + Học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự + Nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự chưa có bằng Thạc sĩ Môn học tiên quyết: không có 3. Chuẩn đầu ra của môn học Sau khi học môn học này, người học sẽ: Được trang bị một cách có hệ thống lý luận về quyền con người trong tư pháp hình sự, nội dung cơ bản những qui định liên quan đến quyền con người trong tố tụng hình sự và việc áp dụng nó trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Được trang bị kỹ năng phân tích, đánh giá đúng các vấn đề pháp lý xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Có khả năng vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề đặt ra trong hoạt động thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong việc viết luận văn tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC: QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự ở nức ta nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Hy vọng tài liệu là nguồn thông tin hữu ích cho quá trình học tập và nghiên cứu của các bạn.

17 Đọc thêm

bán trắc nghiệm hình sự

bán trắc nghiệm hình sự

.Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác có thể bị coi là tình tiết tăng nặng tội. Sai. Theo khoản 1 điều 48 bộ luật hình sự thì đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. 2.Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của tội bức tử. Sai. Tội bức tử được nêu ở điều 100 BLHS. Để xác định đúng tội phạm thì về phía

Đọc thêm

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Bài tập học kỳ Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được quy định tại chương 34 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, gồm bảy điều. Đây là một trình tự tố tụng đặc biệt nhằm điều tra, truy tố, xét xử nhanh những vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ và nhân thân người phạm tội rõ ràng. Thủ tục rút gọn là một phương thức quan trọng và cần thiết của tố tụng hình sự trong việc xử lý tội phạm ở các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Áp dụng thủ tục rút gọn sẽ thúc đẩy nhanh quá trình xét xử các vụ án có mức độ nguy hiểm không lớn; hạn chế việc tồn đọng án ở các địa phương, khắc phục tình trạng quá tải trong nhà tạm giữ, trại giam. Đồng thời còn tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian và lực lượng tập trung giải quyết tốt hơn những loại án nghiêm trọng. Vậy điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn là gì và trong tố tụng hình sự đã quy định những gì về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn chính là nội dung của bài làm dưới đây. B. NỘI DUNG CHÍNH 1. Cơ sở lí luận Trước khi đi vào phân tích những điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự tôi xin đi tìm hiểu qua một số khái niệm cũng như đặc điểm về thủ tục rút gọn, nhằm có một nền kiến thức làm cơ sở. Khái niệm thủ tục rút gọn: Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với những vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản , chứng cứ rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có căn cước, lai lịch rõ ràng Mục đích, ý nghĩa của thủ tục rút gọn: Mục đích: Việc áp dụng thủ tục rút gọn với những quy định đơn giản về thủ tục và rút ngắn về thời gian nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định này. Mặt khác, việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn vẫn phải đảm bảo chính xác, triệt để tuân thủ các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự . Sự thật của vụ án vẫn phải được xác định một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ… Ý nghĩa: Quy định về thủ tục rút gọn là căn cứ pháp lí cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng kịp thời nhiều vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, có tính chất quả tang, đơn giản, rõ ràng. Việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tạo điều kiện để những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhanh chóng được khắc phục, góp phần bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức. Thủ tục rút gọn đáp ứng nguyện vọng của nhân dân là xử lí kịp thời, chính xác các hành vi phạm tội và người phạm tội, qua đó phát huy tác dụng giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm. 2. Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Thủ tục rút gọn được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang. Theo quy định tại Điều 82 BLTTHS năm 2003, phạm tội quả tang là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội bị bawtsn khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Phạm tội quả tang thông thường là những trường hợp đã xác định rõ ràng về hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội. Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ ràng và đầy đủ; người làm chứng, người bị hại (nếu có) cũng thường được xác định cụ thể… Đây là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi và chính xác. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng Theo hướng dẫn tại thông tư số 10TATC năm 1974: “Tội phạm đơn giản, rõ ràng là : vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo”. Có thể hiểu sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định. Các tình tiết của hành vi phạm tội đơn giản; vụ án thường ít bị cáo hoặc có thể nhiều bị cáo nhưng không phải trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc đồng phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của từng đối tượng; lỗi; năng lực trách nhiệm hình sự; động cơ mục đích phạm tội rõ ràng. Việc giải quyết vụ án không liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn đề xã hội phức tạp khác. Chứng cứ rõ ràng là chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ ngay từ đầu, thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội, các tang vật thu được ở hiện trường… Các chứng cứ này không chỉ đầy đủ mà còn phải thống nhất và đảm bảo giá trị chứng minh. Những trường hợp phạm tội quả tang nhưng không đảm bảo điều kiện tính chất của sự việc phạm tội đơn giản, rõ ràng thì không áp dụng thủ tục rút gọn. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 8 BLHS 1999 thì: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù…”. Dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội của loại tội này là tính nguy hại không lớn cho xã hội, dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí của loại tội này là có thể phải chịu hình phạt đến mức cao nhất là 3 năm tù. Do hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội và hậu quả pháp lí mà người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng có thể phải chịu là không lớn nên việc xử lí có thể nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường hợp việc xử lí không chính xác thì hậu quả cũng không đến mức nghiêm trọng so với các trường hợp thực hiện loại tội phạm khác và dễ khắc phục. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng Lai lịch, căn cước của người phạm tội là vẫn đề cần làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án. Qua việc xác định lai lịch căn cước, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được nhiều yếu tố về nhân thân của người phạm tội; trên cơ sở đó có những quyết định đúng đắn trong việc định tội và quyết định hình phạt. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng được coi là điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn vì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không phải mất nhiều thời gian để điều tra xác minh nên có thể rút ngắn thời gian giải quyết vụ án mà vẫn đảm bảo cho việc xem xét, giải quyết những vấn đề của vụ án được chính xác. Nếu căn cước, lai lịch của người phạm tội chưa được xác minh chắc chắn thì không được áp dụng thủ tục rút gọn. 3. Những vướng mắc khi áp dụng quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiến và một số kiến nghị Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: “1. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; 2. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; 3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; 4. Người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng.” Như vậy, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi thỏa mãn bốn điều kiện nêu trên mà ở đó: Thứ nhất: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, theo quy định tại Điều 82 BLTTHS thì phạm tội quả tang là trường hợp người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Đây chính là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi và chính xác vì người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ ràng và đầy đủ. Thứ hai: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: là vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo… (Thông tư số 10TATC năm 1974). Có thể hiểu phạm tội đơn giản là những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp dễ xác định, vụ án ít bị cáo, các chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ từ đầu. Thứ ba: Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng: Đó là loại tội phạm tính nguy hiểm cho xã hội không lớn mà theo quy định tại Điều 8 BLHS thì “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù…” Thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng: Căn cước, lai lịch rõ ràng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được các yếu tố về nhân thân, gia đình, mối quan hệ xã hội… của người phạm tội một cách nhanh nhất, tạo điều kiện rút ngắn thời gian trong hoạt động tố tụng. Những quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn như đã phân tích ở trên, theo tôi là chưa đầy đủ, còn nhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng triệt để thủ tục tiến bộ này trong hoạt động tố tụng hình sự, dẫn đến nhiều địa phương bỏ quên không áp dụng thủ tục này trong hoạt động tố tụng hình sự. Những vướng mắc đó thể hiện như sau: Như trên đã phân tích, chỉ các vụ án hình sự thỏa mãn bốn điều kiện đã nêu thì mới được áp dụng thủ tục rút gọn, song điều kiện thứ nhất quy định bắt buộc người phạm tội bị bắt quả tang là chưa hợp lý, hạn chế tới việc áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn hiện nay bởi lẽ: Có rất nhiều vụ án tuy không phải thuộc trường hợp phạm tội quả tang, song sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, căn cước người phạm tội rõ ràng, song lại không được áp dụng thủ tục rút gọn vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang ví dụ: A trộm cắp của B một chiếc xe máy, hai hôm sau trên đường A đi tiêu thụ thì bị B phát hiện báo Công an bắt giữ A, A thừa nhận hành vi trộm cắp xe máy của B, tang vật được thu hồi trả lại ngay cho B. Hoặc có những trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình mà hành vi phạm tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm được thực hiện cũng là tội phạm ít nghiêm trọng, lai lịch, căn cước rõ ràng, nhưng vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng thủ tục rút gọn Ngoài ra, qua thực tiễn xét xử, có rất nhiều vụ án phạm tội nghiêm trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1, 2, 4 quy định tại Điều 319, song không thể áp dụng được thủ tục rút gọn vì không thỏa mãn với điều kiện thứ ba là “Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”. Như vậy, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 319 BLTTHS hiện hành chỉ được áp dụng trong trường hợp phạm tội quả tang, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, là không phù hợp với thực tiễn, bỏ sót rất nhiều vụ án có thể áp dụng được thủ tục rút gọn, nhưng lại không được áp dụng, làm mất nhiều thời gian, không hạn chế được lượng án tồn đọng, tốn kém về chi phí vật chất, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, đôi khi còn vi phạm cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Để khắc phục tình trạng trên cần bỏ điều kiện thứ nhất quy định tại Điều 319 BLTTHS, chỉ cần những vụ án mà sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét để quyết định có hay không việc áp dụng thủ tục rút gọn, chứ không nên quy định đóng khung như hiện nay. Có như vậy, thì những quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự mới được áp dụng rộng rãi hơn, đúng với ý nghĩa của thủ tục rút gọn là đơn giản hóa quá trình tố tụng, rút ngắn thời hạn tiến hành tố tụng nhằm giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết nhanh chóng vụ án. C. KẾT LUẬN Sau khi đi phân tích và tìm hiểu về quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, từ đó đưa ra được những đánh giá và kiến nghị quanh vấn đề này, tôi rất mong các cá nhân, cơ quan chức năng quan tâm hơn nữa nhằm điều chỉnh hợp lí hơn. Có như vậy hệ thống pháp luật mới ngày càng được hoàn thiện và kiện toàn, chỉ có như vậy thì giữa luật và thực tiễn mới không có một khoảng cách quá xa.
Xem thêm

Đọc thêm

MỐII LIÊN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

MỐII LIÊN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

phần mở đầu1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong giai đoạn xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền và cải cách t- pháp ởViệt Nam hiện nay, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạthiệu quả cao thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự ViệtNam là một trong những yêu cầu cần thiết và cấp bách. Khi nghiên cứu cácquy định của pháp luật hình sự Việt Nam đặc biệt là hai chế định tráchnhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự chúng tôi nhận thấy, hai chếđịnh này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật hình sự ViệtNam mà còn chi phối hầu hết các chế định khác đ-ợc quy định trong Bộluật hình sự.Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết vềchế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự. Tuynhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, khi đề cập đến hai chế địnhnày vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, hàng loạt vấn đề ch-ađ-ợc làm sáng tỏ nh-: khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở và những điềukiện áp dụng trách nhiệm hình sự, khái niệm, bản chất pháp lý và các hậuquả cụ thể của miễn trách nhiệm hình sự, việc quy định các tr-ờng hợpmiễn trách nhiệm hình sự ch-a rõ ràng và thống nhất...Mặt khác, thực tiễn áp dụng hai chế định này cũng đã đặt ra nhiềuv-ớng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết nhcơ sở, điều kiện của trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng miễn trách nhiệmhình sự, ranh giới khi nào một ng-ời lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sựnh-ng lại đ-ợc miễn trách nhiệm hình sự là rất mong manh, văn bản giảithích h-ớng dẫn áp dụng thiếu hệ thống, chồng chéo nhau, ch-a có sự vậndụng thống nhất từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, việc tiếp tục1nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống mối liên hệ giữa tráchnhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời đánh giá việc ápdụng hai chế định này trong thực tiễn để đ-a ra những kiến giải lập pháp
Xem thêm

22 Đọc thêm

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAn

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAn

Phần 1. MỞ ĐẦU 1.1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ ÁN Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn cơ quan cấu thành nên bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chế định về Viện kiểm sát nhân dân là một đặc điểm riêng có của kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo sáng kiến vĩ đại của V.I Lênin. Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước, thời gian qua Ngành Kiểm sát đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ khi ra đời ngày 2671960 đến năm 2001, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố. Từ năm 2002 đến nay, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân đó là: “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Chức năng này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Từ khi ra đời đến nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã phát huy được vị trí, vai trò và thực hiện tốt chức năng của mình, góp phần vào công cuộc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, duy trì và ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hội nhập khu vực và quốc tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội theo cơ chế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, kéo theo đó là tình hình tội phạm gia tăng ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đứng trước những đòi hỏi và yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, việc nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đó có Viện kiểm sát nhân dân là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện ở nhiều Nghị quyết của Đảng trong thời gian qua, cụ thể: Chỉ thị số 53CT ngày 2132000; Nghị quyết số 08NQTW ngày 02012002, Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 và Kết luận số 92KLTW ngày 1232014 của Bộ Chính trị. Với mục tiêu không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Nghị quyết số 08NQTW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh: Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…việc phán quyết của Hội đồng xét xử phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo để banh hành những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định 4. Thực tiễn đã chứng minh, trong thời gian qua ngành Kiểm sát trong đó có Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự. Qua đó góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền tự do dân chủ của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Ngành Kiểm sát vẫn còn những hạn chế nhất định, phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Một số nguyên nhân chính có thể nêu ra đó là: Chính sách hình sự, các quy định về tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi bổ sung; Việc chuẩn bị hồ sơ tài liệu, luận tội, đề cương xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa còn chưa được chú trọng; hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng trong vụ án còn hạn chế. Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với một người để đưa ra Tòa xét xử phải đảm bảo các điều kiện theo luật định, phải đảm bảo tính có căn cứ, đảm bảo đúng quy định của pháp luật (pháp luật hình sự và tố tụng hình sự). Nếu như điều tra thiếu chứng cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng, không chính xác, không được thu thập một cách hợp pháp hoặc với con người cụ thể và hành vi cụ thể của họ không cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì không thể bị truy tố xét xử. Trong quá trình tố tụng đối với một vụ án hình sự thì mỗi giai đoạn giữ vị trí, vai trò quan trọng khác nhau. Ví dụ để xét xử đúng người, đúng tội thì trước hết việc điều tra phải đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc điều tra theo pháp luật mới chỉ là một giai đoạn đầu, việc có kết tội bị cáo hay không phải được tiến hành tại phiên tòa. Kết quả điều tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ, là cơ sở để kết tội bị cáo. Do vậy, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên là rất quan trọng, đây là khâu quyết định của hoạt động tố tụng để Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ban hành bản án, quyết định đúng pháp luật. Từ những lý do nêu trên, học viên chọn và thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm đề án tốt nghiệp là vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN Trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời nghiên cứu thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ năm 2011 đến hết năm 2015, qua đó đề ra giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn hiện nay. 1.3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề án thực hiện các nhiệm vụ sau: Phân tích, làm rõ các khái niệm, những yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. 1.4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ ÁN Đối tượng: Đề án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tố, thực hành quyền công tố, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; thực trạng, một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Phạm vi: Đề án tập trung nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Về không gian: Đề án tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian là cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Về thời gian: Đề án nghiên cứu về mặt thực tế chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; đồng thời đưa ra các giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021. Phần 2. NỘI DUNG 2.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 2.1.1. Căn cứ khoa học, lý luận của đề án Khái niệm quyền công tố
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO

thiểu số. Đó là những vùng đất mới - nơi chưa có tôn giáo chính thống hoặc tôn giáo, tín ngưỡng cũ đang suythoái, mất uy tín, nơi đời sống dân sinh, trình độ dân trí thấp. Truyền đạo đến những vùng này, đạo Tin lànhkhông những phát huy lợi thế vốn có "đơn giản về luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo" mà còn nghiên cứu rấtkỹ đặc điểm lịch sử, văn hoá, tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của từng dân tộc, chủ động địa phương hoá,dân tộc hoá để dễ dàng hoà nhập.- Ra đời, phát triển cùng với giai cấp tư sản cho nên đạo Tin lành có mối quan hệ khá chặt chẽ với giai cấp tưsản. Giai cấp tư sản sử dụng đạo Tin lành như một thứ vũ khí trong các cuộc cách mạng tư sản ở thời kỳ đầu vàviệc tìm kiếm thị trường thuộc địa sau này. Ngược lại, đạo Tin lành nhờ dựa vào giai cấp tư sản để củng cố pháttriển lực lượng, kể cả việc lợi dụng các cuộc chiến tranh xâm thực mà giai cấp tư sản tiến hành.- Tổ chức giáo hội Tin lành không chặt chẽ mà tùy thuộc vào từng hệ phái, từng khu vực, từng quốc gia.* Yêu cầu trong công tác quản lý:- Tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước vềtín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đối với đạo Tin lành; đồng thời tổ chức thực hiện tốt các chương trình pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân và tạo điều kiện để đồng bàotheo đạo Tin lành gắn bó với cộng đồng, tham gia ngày càng tốt hơn các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, gópphần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động và tạo điều kiện thuận lợi để các chức sắc, tín đồ Tin lành thựchiện tốt chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đưa sinh hoạt tôn giáo của đạoTin lành đi vào nền nếp bình thường, phù hợp với pháp luật; động viên mọi chức sắc, tín đồ sống ''tốt đời, đẹpđạo'', ''phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc''. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tínngưỡng, tự do theo đạo và không theo đạo của mọi công dân; nghiêm cấm việc ép buộc đồng bào theo đạo hoặcbỏ đạo. Kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, đội lốtđạo Tin lành để kích động, lôi kéo đồng bào ta gây chia rẽ dân tộc, chống phá đất nước.- Hướng dẫn, giúp đỡ Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lànhViệt Nam (miền Nam) thực hiện các hoạt động tôn giáo đúng theo Hiến chương, Điều lệ của giáo hội và tuânthủ các quy định của pháp luật.- Thông báo công khai cho đồng bào biết rõ những người đội lốt chức sắc Tinlành để hoạt động chống phá đất nước, gây chia rẽ dân tộc và những hành vi vi phạm pháp luật của họ, cũngnhư biện pháp xử lý và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta. Xử lý nghiêm theo pháp luật những người hoạt
Xem thêm

24 Đọc thêm

Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự bài 4

Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự bài 4

Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế do pháp luật tố tụng hình sự quy định và được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, hoặc có những hành động gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Đọc thêm

BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

trỏch nhim hỡnh s = cú th b hn ch nhng cha mt ht kh nng nhn thc v iukhin hnh vi- t a mỡnh vo tỡnh trng ú nờn cú li)1d/ Tui chu trỏch nhim hỡnh s: t 16 tui tr lờn chu trỏch nhim hỡnh s v miti phm, t 14 n di 16: chu trỏch nhim ti phm rt nghiờm trng do c ý hoc tiphm c bit nghiờm trng; Di 14 tui l ngi khụng cú nng lc trỏch nhim hỡnh se/ Phõn loi ti phm theo B lut hỡnh s Vit NamTi phm ớt nghiờm trng: khung hỡnh pht cao nht 3 nm tự; Ti phm nghiờm trng:khung cao nht 7 nm tự; Tội phạm nghiêm trọng: mức cao nhất của khung hình phạt l 15nm tự; Tội phạm c bit nghiờm trng: trờn 15 nm tự, tự chung thõn, t hỡnh.4.2/ Hỡnh pht v cỏc bin phỏp t phỏpa/ Khỏi nimHỡnh pht l bin phỏp cng ch nghiờm khc nht ca nh nc c quy nh trongBLut Hỡnh s do Tũa ỏn ỏp dng i vi ngi phm ti, tc b hoc hn ch nhng quyn,li ớch nht nh ca ngi phm ti nhm trng tr, ci to giỏo dc ngi phm ti vngn nga ti phm.b/ H thng hỡnh pht* Đối với ng-ời phạm tội, chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính gm: Cảnh cáo; Phạttiền; Cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội; Tù có thời hạn; Tù chungthân; Tử hình.* Kèm theo hình phạt chính, có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung nh sau: Cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định; Cấm c- trú;Quản chế; T-ớc một số quyền công đân; T-ớc danh hiệu quân nhân; Tịch thu tài sản; Phạttiền khi không áp dụng là hình phạt chính.c/ Cỏc bin phỏp t phỏp: Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm;Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi th-ờng thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; Bắt buộc chữabệnh; Thời gian bắt buộc chữa bệnh.5. Trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật anh Câu hỏi nhận định đúng sai

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật anh Câu hỏi nhận định đúng sai

Khi nói về nguồn luật của nước Anh người ta thường nói đến hai loại nguồn chính là luật thành văn và luật bất thành văn. Luật thành văn theo như cách hiểu thông thường là các đạo luật do nghị viện và các văn bản phụ trợ do Chính phủ ban hành. Bên cạnh đó thì luật bất thành văn lại bao gồm ba bộ phận là: tập quán phổ biến từ thời thượng cổ hay chúng ta còn gọi là common law (các phán quyết của tòa án bao gồm cả án lệ); các tập quán hoặc luật lệ địa phương có ảnh hưởng đến những người sống ở một vùng địa phương nào đó; và cuối cùng là luật cá biệt.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập cá nhân môn luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Bài tập cá nhân môn luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Đề bài số 1: Những khẳng định sau đây đúng hay sai, tại sao?a)Không chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn.b)Viện kiểm soát không có quyền thu thập chứng cứ.

Đọc thêm

Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lý do chính đáng

Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lý do chính đáng

Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lí do chính đáng Bài tập cá nhân Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Chuyên mục Bài tập cá nhân, Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự Người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không được rút khiếu nại của mình nếu không có lí do chính đáng Khẳng định trên là sai , Vì : Cơ sở pháp lí : Theo Điểm c Khoản 1 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 : “Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại” Giải thích: Theo Điểm c Khoản 1 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, thì người đã khiếu nại có quyền rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào nào của quá trình giải quyết khiếu nại và cũng không quy định thêm điều kiện để được rút khiếu nại. Như vậy ta có thể hiểu rằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã không đặt ra điều kiện, giới hạn nào cho việc rút khiếu nại. Nên dù nếu không có lí do chính đáng người đã khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự vẫn có quyền được rút khiếu nại của mình. Vậy nên khẳng định trên là sai. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định như vậy là vì khiếu nại trong tố tụng hình sự là quyền quyền của Công dân, cơ quan, tổ chức (Điều 31), nên việc khiếu nại quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phải là nghĩa vụ bắt buộc. Vậy nên việc rút khiếu nại cũng phải là quyền của Người có quyền khiếu nại vì vậy không thể hạn chế việc rút khiếu nại bằng các điều kiện mà cụ thể như việc phải có lí do chính đáng. Mặt khác, các nhà làm luật đã lường trước được đến những trường hợp như: người khiếu nại không muốn tiếp tục khiếu nại do không còn hoặc không đủ căn cứ để tiếp tục khiếu nại,người bị khiếu nại đã tự mình khắc phục các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật hoặc đã có sự hòa giải thành giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại…
Xem thêm

Đọc thêm

Nhận định đúng sai môn Pháp luật về sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại EL36.019 (Luật KT ĐH Mở HN)

Nhận định đúng sai môn Pháp luật về sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại EL36.019 (Luật KT ĐH Mở HN)

Nhận định đúng sai có đáp án môn Pháp luật về Sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại EL36.019Nhận định đúng sai có đáp án môn Pháp luật về Sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại EL36.019Nhận định đúng sai có đáp án môn Pháp luật về Sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại EL36.019

Đọc thêm

Cùng chủ đề