MẪU ĐƠN KHÁNG CÁO BẢN ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM

Tìm thấy 1,468 tài liệu liên quan tới từ khóa "MẪU ĐƠN KHÁNG CÁO BẢN ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM":

MẪU ĐƠN KHÁNG CÁO ĐẤT ĐAI

MẪU ĐƠN KHÁNG CÁO ĐẤT ĐAI

không được giao.- Bị đơn – ...................... – xây nhà, sử dụng ổn định không tranh chấp, khiếu kiện trên năm,từ năm 1992 đến trước ngày lập hồ sơ giải phóng mặt bằng.- Trong trường hợp bị tước quyền sử dụng đất thì chắc chắn rằng cả gia đình bà ................ sẽkhông còn nơi cư trú nào khác.Vì những lý do trên tôi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm xét xử ngày ............... và kính đềnghị Quí Toà xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm theo hướng công nhận thoả thuận tặngcho giữa bà ............... với gia đình tôi, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đìnhtôi.Trên đây là nội dung và những yêu cầu kháng cáo, kính mong quí cơ quan xem xét.Tôi xin chân thành cảm ơn!Người làm đơn(ký, ghi rõ họ tên)http://luatminhgia.vn - Luật sư tư vấn trực tuyến (24/7) gọi: 1900 6169
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TIỂU LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

I.Khái niệm và các đặc trưng của việc dân sự1.Khái niệmTheo quy định tại Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự thì : Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức và cá nhân không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lí làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao độngTheo đó, việc dân sự bao gồm hai loại:•Các việc dân sự phát sinh từ yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình, của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Ví dụ: Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn, yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự…•Các việc dân sự yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Ví dụ: yêu cầu công nhận thuận tình li hôn, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết…Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 –sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định về phạm vi áp dụng các quy định tại chương XX của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Cụ thể là những việc dân sự quy định tại các Khoản1, 2, 3, 4, 6, 7, 8 Điều 26, các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7 Điều 28, Khoản 1, 4 Điều 30, Khoản3 Điều 32 của Bộ luật này.2.Đặc trưng của việc dân sựBản chất của việc dân sự là những vấn đề không có tranh chấp liên quan đến các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động do các chủ thể là cá nhân, cơ quan,tổ chức yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết nhằm để công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền hợp pháp làm căn cứ cho việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hoặc làm cơ sở cho việc hưởng các quyền , lợi ích hợp pháp. Do đó, việc dân sự được phân biệt với vụ án dân sự dựa trên các đặc trưng cơ bản sau:Thứ nhất: Căn cứ để Tòa án thực hiện việc thụ lý làm phát sinh việc dân sự không xuất phát từ hành vi khởi kiện mà từ hành vi gửi đơn yêu cầu. Người gửi đơn có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hơn nữa, người nộp đơn không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí mà nộp tạm ứng lệ phí, tiền lệ phí theo từng loại việc dân sự cụ thểThứ hai: Về thành phần đương sự việc dân sự không có nguyên đơn và bị đơn và thay vào đó là người yêu cầu và người liên quan. Điều này xuất phát từ bản chất của việc dân sự là không chứa đựng các yếu tố kiện tụng, tranh chấp nên không tạo ra hai bên đối kháng về lợi ích như vụ án dân sựThứ ba: Quá trình giải quyết việc dân sự có một số nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự không được áp dụng như: Nguyên tắc hòa giải (Trừ trường hợp giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, cụ thể tại Điều 88: “ sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn , Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự”), Nguyên tắc sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, Nguyên tắc xét xử tập thểThứ tư: Sự tham gia giám sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết việc dân sự là trực tiếp và bắt buộc. Điều này được cụ thể hóa tại các quy định như : Điều 21Bộ luật tố tụng dân sự “ Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm đối với các việc dân sự, Điều 313 Khoản2Bộ luật này cũng quy định “ Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp, trường hợp kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp”…•Thứ năm: Trong giải quyết việc dân sự , Tòa án chỉ mở phiên họp giải quyết việc dân sự mà không mở phiên Tòa. Kết quả của việc dân sự được tuyên bằng quyết định không được tuyên bằng bản án như trong các vụ án dân sự.•Thứ sáu: Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự ngắn hơn so với thời hạn kháng cáo,kháng nghị trong bản án dân sự. 3.Thành phần giải quyết việc dân sựTheo quy định tại Điều 55 về “Thành phần giải quyết việc dân sự” được quy định trongBộ luật Tố tụng dân sự hiện hành thì: Những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại Khoản5 Điều 26, Khoản6 Điều 28, Khoản2 và Khoản3 Điều 30, Điều 32 của Bộ luật này hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự do một tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết.Những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động không thuộc
Xem thêm

25 Đọc thêm

Tình huống thực tế có liên quan đến hành vi xâm phạm chỗ ở của công dân

TÌNH HUỐNG THỰC TẾ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN

tình huống thực tế có liên quan đến hành vi xâm phạm chỗ ở của công dân A.LỜI MỞ ĐẦU Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lí, chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của cá nhân,pháp nhân và chủ thể khác; quyền , các nghĩa vụ chủ thể về nhân thân, tài sản trong các quan hệ dân sự.Trong các quyền nhân thân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở là một quyền khá quan trọng của con người được pháp luật bảo vệ và quy định cụ thể tại điều 46 Bộ luật dân sự 2005: Ðiều 46. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Hành vi xâm phạm chỗ ở của công dân không những xâm phạm quyền nhân thân cơ bản của con người mà trên thực tế nó còn ảnh hưởng đến sự ổn định cuộc sống,những giá trị nhân văn khi có hành vi xâm phạm. Cùng tìm hiểu ba tình huống thực tế về hành vi này cũng như cách giải quyết của cơ quan có thẩm quyền để có cái nhìn toàn diện, hiểu đưuọc tầm quan trọng của quyền “bất khả xâm phạm về chỗ ở” được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. TÌNH HUỐNG 1 Nơi xảy ra sự kiện: xã Lợi Bình Nhơn, thị xã Tân An, tỉnh Long An. Chủ thể của vụ việc: + Đinh Thị Hương, ngụ tại ấp 2, xã Hướng Thọ Phú, thị xã Tân An. + Nguyễn Kha Luân, ngụ ấp 2, xã Hướng Thọ Phú, thị xã Tân An. + Nguyễn Quốc Bảo, ngụ ấp Rạch Chanh, xã Lợi Bình Nhơn, thị xã Tân An. Nội dung vụ việc Năm 1980, ông Nguyễn Văn Ngọc và bà Đinh Thị Hương (xã Lợi Bình Nhơn, thị xã Tân An, tỉnh Long An) cưới nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống chung, họ có hai người con trai là Nguyễn Kha Luân và Nguyễn Ngọc Quốc Bảo. Đến năm 2001, cuộc sống vợ chồng rạn nứt, bà Hương bỏ nhà đi, có quan hệ với người đàn ông khác. Ông Ngọc buồn, lâm bệnh, sau đó được bà Duy Thị Tám đến chăm sóc, dẫn đến nảy sinh tình cảm. Họ mua nhà, đất tại ấp 2, xã Hướng Thọ Phú (thị xã Tân An) chung sống như vợ chồng. Vào ngày 5102007, trên đường ra chợ, ông Ngọc bị tai nạn giao thông và tử vong. Ngay sau đó, nghe theo lời xúi giục của bà Nguyễn Thị Mười (em ruột ông Ngọc, Trưởng Phòng Tài nguyênMôi trường (TNMT) thị xã Tân An), bà Hương cùng hai người con trai đến ấp 2, xã Hướng Thọ Phú chửi bới, đánh đuổi bà Tám, quyết tâm giành lấy tài sản ông Ngọc để lại. Do bà Tám kiên quyết bám trụ, bà Mười đã đứng ra hậu thuẫn chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) của ông Ngọc sang tên bà Hương, làm cơ sở pháp lý để bà Hương tranh chấp với bà Tám. Sau khi có giấy tờ, bà Hương gọi các con đến bàn phương án san bằng căn nhà mà bà Tám đang ở với lí do là đã có giấy tờ, thích thì đập đi. Ngày 2012008, Luân, Bảo thuê người đến đập nát căn nhà tường kiên cố của ông Ngọc và bà Tám, những gì còn sử dụng được sau trận đập phá này, bà Hương thuê xe chở về nhà ở xã Mỹ Phú (Thủ Thừa) quản lý và sử dụng. Không còn nhà ở, bà Tám đành sống tạm dưới gốc cây, làm đơn tố giác hành vi hủy hoại, cướp tài sản và xâm phạm chỗ ở của bà Đinh Thị Hương trước pháp luật. Vụ việc này được các cơ quan vào cuộc Vụ việc này đã được cơ quan điều tra (CQĐT) công an thị xã Tân An chỉ khởi tố bà Hương và các đồng phạm hành vi xâm phạm chỗ ở, còn những hành vi khác sẽ làm rõ, xử lý sau. Ngày 30122008, Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Tân An tuyên xử Đinh Thị Hương 24 tháng tự, Nguyễn Kha Luân 15 tháng, Nguyễn Ngọc Quốc Bảo 12 tháng, Nguyễn Văn Long 12 tháng về tội “xâm phạm chỗ ở của công dân”. Tất cả các bị cáo đều được tòa cho hưởng án treo và không phải bồi thường thiệt hại phần tài sản bị đập phá. Không chấp nhận kết quả xét xử của tòa án bà Tám kháng cáo cho rằng bà Nguyễn Thị Mười mới là thủ phạm chính trong vụ án. Bà cũng không chấp nhận các bị cáo chỉ phạm duy nhất tội “xâm phạm chỗ ở của công dân”, vì như vậy là lọt người, lọt tội. Ngày 2942009, TAND tỉnh Long An đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa này, vị đại diện VKSND tỉnh Long An giữ quyền công tố tại tòa đề nghị hủy án sơ thẩm, điều tra lại vì có dấu hiệu bỏ lọt tội. Bởi lẽ, hành vi phạm tội của các bị cáo xâm hại đến hai khách thể là tài sản và chỗ ở của công dân. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử (HĐXX) cấp phúc thẩm đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND thị xã Tân An; giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra lại theo thủ tục chung. HĐXX đã nhận định, chủ trương đập phá, tháo dỡ căn nhà bà Tám đang ở, được thể hiện qua biên bản hòa giải ngày 10122007 của UBND xã Hướng Thọ Phú. Tại biên bản này, bà Mười với tư cách là trưởng Phòng TNMT thị xã Tân An đã phát biểu: Gia đình đã thống nhất đập phá, tháo dỡ căn nhà bà Tám đang ở. Trong lúc bà Hương cho người đập nhà, bà Mười có đến UBND xã Hướng Thọ Phú gặp ông Sang, phó chủ tịch UBND xã này, nói: “Ai có giấy thì có quyền tháo dỡ nhà”, nhưng CQĐT chưa làm rõ hành vi này. Trước đó, vào ngày 2632008, Công an thị xã Tân An gởi văn bản đến chủ tịch UBND thị xã Tân An, đề nghị thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ của bà Hương. Văn bản nêu rõ, đối với Phòng TNMT, cụ thể là bà Nguyễn Thị Mười lập tờ trình để UBND thị xã Tân An ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ từ ông Ngọc sang bà Đinh Thị Hương là vi phạm Luật Đất đai. Đối với UBND xã Hướng Thọ Phú, cụ thể là Chủ tịch Dương Văn Hải biết rõ đất đang tranh chấp giữa bà Hương với bà Tám (chính ông đứng ra hòa giải không thành), nhưng vẫn xác nhận vào đơn thừa kế QSDĐ của bà Hương hợp lệ, không tranh chấp là sai phạm. Trong vụ này còn có sự tiếp sức của công chứng viên Phòng Công chứng số 1 Ngô Văn Phúc đã không làm rõ việc bà Hương xin thừa kế đất của ông Ngọc có hợp pháp hay không mà còn tự ý kết luận bà Hương là vợ ông Ngọc và lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế cho bà Hương là vi phạm pháp luật. Những quyết định đúng của Tòa án nhân dân thị xã Tân An: Tòa án nhân dân thị xã Tân An đã cú quyết định đúng về việc tuyên xử bà Đinh Thị Hương 24 tháng tự, Nguyễn Kha Luân 15 tháng, Nguyễn Ngọc Quốc Bảo 12 tháng, Nguyễn Văn Long 12 tháng về tội “xâm phạm chỗ ở của công dân”. Những quyết định chưa đúng của Tòa án nhân dân thị xã Tân An: Tòa án đã không truy cứu việc người nhà bà Hương đã đập nhà, lấy tài sản của bà Tám, bà Hương đã phạm tội “phá hoại tài sản công dân” và “cướp đoạt tài sản của công dân”. Quyết định của tòa cho hưởng án treo và không phải bồi thường thiệt hại phần tài sản bị đập phá đối với tất cả các bị cáo. Nhận xét của nhóm và phương hướng giải quyết vụ việc của nhóm Nhóm hoàn toàn đòng ý việc Tòa án nhân dân thị xã Tân An đã cú quyết định tuyên xử bà Đinh Thị Hương 24 tháng tự, Nguyễn Kha Luân 15 tháng, Nguyễn Ngọc Quốc Bảo 12 tháng, Nguyễn Văn Long 12 tháng về tội “xâm phạm chỗ ở của công dân”. Đối với những quyết định chưa đúng của Tòa án,bà Hương đã phạm tội “ hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản” phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại phần tài sản bị đập phá đối với tất cả các bị cáo trước pháp luật. II. VỤ VIỆC THỨ HAI Nơi xảy ra sự kiện: số 101 Huỳnh Tấn Phát, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Chủ thể vụ việc: + Bà Lê Thị Chín, ngụ tại số 101 Huỳnh Tấn Phát, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. + Chị Trần Thị Hoằng, con dâu của bà Lê Thị Chín Nội dung vụ việc: Những năm sau giải phóng, đại gia đình bà Lê Thị Chín sống hòa thuận tại căn nhà do vợ chồng bà đứng tên ở số 101 Huỳnh Tấn Phát, quận 7, TP.HCM. Rắc rối phát sinh sau khi chồng bà Chín mất và chị Trần Thị Hoằng chính thức thành nàng dâu trong nhà. Vợ chồng chị Hoằng đã gây sự, đuổi mẹ cùng các em chồng ra khỏi nhà. Năm 1998, bà Chín yêu cầu lấy lại một phần đất nhỏ trong khuôn viên nhà trên để dựng túp lều dưỡng già. Tuy nhiên, chị Hoằng đã không chấp thuận. Đầu năm 2003, bà Chín đã kiện chị Hoằng ra tòa để đòi lại toàn bộ nhà, đất của mình. Vụ việc này đã được cơ quan giải quyết Tháng 72003, TAND quận 7 đã xử cho bà Chín thắng kiện. Chị Hoằng phải trả lại nhà, đất cho bà Chín, đồng thời được bà Chín giao trả hơn 33 triệu đồng tiền sửa chữa nhà và hơn bốn triệu đồng chi phí san lấp mặt bằng. Do phía chị Hoằng kháng cáo nên tháng 72004, TAND TP.HCM đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án. Tòa này cũng công nhận căn nhà trên là của bà Chín nhưng cho phép chị Hoằng được sử dụng hơn 900 m2 đất. Bà Chín phải hoàn trả cho chị Hoằng hơn 18 triệu đồng tiền sửa chữa nhà và hơn 398 triệu đồng giá trị đất chênh lệch. Lần này, đến lượt bà Chín khiếu nại giám đốc thẩm. Tại quyết định giám đốc thẩm ngày 2172005, TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND quận 7. Ngày 4122007, để thi hành quyết định giám đốc thẩm trên, Thi hành án dân sự TP.HCM đã cưỡng chế chị Hoằng ra khỏi nhà. Căn nhà được khóa cửa, niêm phong để chờ bà Chín dọn về. Bất ngờ, vào nửa đêm 22 (tức ngày 26 Tết Mậu Tý), chị Hoằng cùng các con đã mang kềm đến cắt hàng rào B40, bẻ khóa để tái chiếm căn nhà. Lúc đó, người bảo vệ do cơ quan thi hành án thuê để canh giữ nhà có hỏi thì mẹ con chị Hoằng nói “Cho ở nhờ mấy ngày Tết...”. Người bảo vệ không đồng ý nhưng mẹ con chị Hoằng cứ ở lỳ... Sáng hôm sau, khi tổ trưởng dân phố, công an phường, cảnh sát khu vực đến lập biên bản yêu cầu chị Hoằng dọn đi thì chị vẫn nhất định bám trụ đến cùng. Sau đó, công an phường mới kêu chị Hoằng viết cam kết là ở nhờ đến hết rằm tháng Giêng sẽ dọn đi. Ngày 42, Công an phường Phú Thuận đã báo cáo, đề xuất Công an quận 7 xử lý hành chính chị Hoằng về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản người khác (theo khoản 2a Điều 18 Nghị định 150 ngày 12122005 của Chính phủ) với mức phạt tiền 750 ngàn đồng. Song công an quận chưa có ý kiến phản hồi. Ông Vũ Duy Bội, chấp hành viên Thi hành án dân sự TP.HCM (người trực tiếp thi hành bản án trên), cho biết trách nhiệm xử lý vi phạm nêu trên của chị Hoằng thuộc về các cơ quan công an. Theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự, sau khi tổ chức cưỡng chế và bàn giao nhà cho bên được thi hành án, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án đã hết. Do chị Hoằng còn để lại một số đồ đạc trong nhà nên Thi hành án dân sự TP đã tống đạt văn bản yêu cầu chị Hoằng đến nhận đồ. Vì chị Hoằng không đến nên cơ quan này phải thuê người trông giữ để qua Tết chuyển về kho và nếu quá sáu tháng sẽ phát mại theo quy định. Cũng theo ông Bội, đã có đủ cơ sở để xử lý hình sự mẹ con chị Hoằng về hành vi ngang nhiên tái chiếm nhà của bà Chín chứ không chỉ phạt hành chính như đề xuất của công an phường. Hành vi của chị Hoằng đã có dấu hiệu của tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo Điều 124 Bộ luật Hình sự. Sẽ là sự thiếu sót lớn nếu công an phường, quận tiếp tục để chị Hoằng ở lỳ trong nhà. Được biết, hiện chị Hoằng và các con vẫn “vô tư” sống trong căn nhà trên, thậm chí họ còn thuê thợ về mở cơ sở làm lốp xe ngay trước mặt tiền. Trong khi đó, bà Chín (75 tuổi) đang bệnh nặng, phải tá túc trong căn nhà tình thương thuộc khu Gì Ô Môi, quận 7. Những quyết định đúng của cơ quan có thẩm quyền Tháng 72003 TAND quận 7 xử cho bà Chín thắng kiện,chị Hoằng phải trả lại nhà, đất cho bà Chín,được bà Chín giao trả hơn 33 triệu đồng tiền sửa chữa nhà và hơn bốn triệu đồng chi phí san lấp mặt bằng Tại quyết định giám đốc thẩm ngày 2172005, TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND quận 7. Ngày 4122007, để thi hành quyết định giám đốc thẩm trên, Thi hành án dân sự TP.HCM đã cưỡng chế chị Hoằng ra khỏi nhà. Những quyết định chưa đúng của cơ quan có thẩm quyền Tháng 72004, TAND TP.HCM vừa công nhận căn nhà trên là của bà Chín vừa cho phép chị Hoằng được sử dụng hơn 900 m2 đấtđòng thời bà Chín phải hoàn trả cho chị Hoằng hơn 18 triệu đồng tiền sửa chữa nhà và hơn 398 triệu đồng giá trị đất chênh lệch. Với hành vi “ở tạm, ở nhờ” nhà của mẹ con chị Hoằng,thay vì cú quyết định cưỡng chế, cơ quan chức năng công an phường lại cho chị Hoằng viết cam kết là ở nhờ đến hết rằm tháng Giêng sẽ dọn đi. Nhận xét của nhóm và phương hướng giải quyết Quyết định của các cơ quan chức năng không thật trùng khớp với nhau, có sự mâu thuẫn giữa các tòa,cũng như quyết đinh của cơ quan chức năng như công an phường. Tuy nhiên quyết định giám đốc thẩm ngày 2172005, TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND quận 7 là hoàn toàn đúng. Theo nhóm em, Công an phường Phú Thuận đã không cứng rắn, nghiêm khắc trong cách giải quyết với mẹ con chị Hoằng. Nếu với thái độ ở lì, không chịu chấp hành bản án, chấp hành pháp luật thì theo nhóm em, công an phường, các cơ quan chức năng có thầm quyền cần phải dựng biện pháp cưỡng chế mạnh mẽ theo đúng quy định của pháp luật. Về trường hợp của chị Hoằng đã đủ căn cứ để xét xử, vậy mà hiện chị Hoằng và các con vẫn “vô tư” sống trong căn nhà trên, thậm chí họ còn thuê thợ về mở cơ sở làm lốp xe ngay trước mặt tiền. Trong khi đó, bà Chín (75 tuổi) đang bệnh nặng, phải tá túc trong căn nhà tình thương thuộc khu Gì Ô Môi, quận 7. Nếu cứ để trường hợp đó tiếp tục diễn ra thì đó thật sự là 1 thiếu sót rất lớn của các cơ quan chức năng. Xét trên các tình tiết được nêu nhóm e xin đề xuất cách giải quyết như sau: Đối với việc xử lí hành vi “chị Hoằng cùng các con chị Hoằng cùng các con đã mang kềm đến cắt hàng rào B40, bẻ khóa để tái chiếm căn nhà”theo đề xuất Công an quận 7 xử lý hành chính chị Hoằng về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản người khác (theo khoản 2a Điều 18 Nghị định 150 ngày 12122005 của Chính phủ) với mức phạt tiền 750 ngàn đồng là chưa hoàn toàn hợp lí ,vì hành vi này theo bộ luật hình sự được quy định tại điều 304 sửa đổi, bổ sung năm 2009: Theo Điều 304. Tội không chấp hành án: Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ban năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Đồng thời đây còn là hành vi xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân quy định tai điều 46 Bộ luật dân sự được Bộ luật hình sự điều chỉnh tại điều 124. III. VỤ VIỆC THỨ 3 Nơi xảy ra sự kiện: căn nhà số 15A đườn Tây Sơn,phường Quang Trung,Tp quy Nhơn do trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh bán để thi hành án Chủ thể của vụ việc: + Ông Nguyễn Văn Châu đã mua trúng đấu giá căn nhà tại số 15A đưuòng Tây Sơn , phường Quang Trung, TP Quy Nhơn. + Ông Nguyễn Văn Bình – người phải thi hành án phải giao nhà cho ông Châu Nội dung tình huống Tháng 72004, ông Châu đã mua trúng đấu giá căn nhà 15A đường Tây Sơn, phường Quang Trung, TP Quy Nhơn do Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh bán để thi hành án. Tháng 32005, Đội Thi hành án dân sự (THADS)TP Quy Nhơn (nay là Chi cục THADS TP Quy Nhơn) đã cưỡng chế người phải thi hành án để giao nhà cho ông Châu. Nhưng vào khoảng 19 giờ cùng ngày, người phải thi hành án đã cắt khó cửa sắt, chiếm đoạt nhà và ở cho đến nay Xử lí của cơ quan có thẩm quyền Theo trình bày của ông Châu, ngay sau khi phát hiện vụ việc, ông đã báo ngay cho cơ quan chức năng nhưng không được giải quyết. Câu trả lời mà ông Châu nhận được chỉ là: “Các ngành chức năng chưa thống nhất điều luật làm căn cứ để xử lý trường hợp nói trên. Hiện Công an TP Quy Nhơn đang xem xét để tìm cách giải quyết, khi nào có kết quả thì UBND TP Quy Nhơn sẽ thông báo”. Bà Trần Thị Bích Hợp, Chi cục trưởng Chi cục THADS TP Quy Nhơn, nói: Theo điểm 4 Điều 8 Nghị định 582009 của Chính phủ, tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao nhận tài sản nhưng sau đó bị đương sự chiếm lại thì cơ quan THADS không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản. Về phía Cục THADS tỉnh, vào giữa năm 2009, cơ quan này có báo cáo đề xuất như sau: Người phải thi hành án rất ngoan cố, quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, tạo tiền lệ xấu trong công tác THADS trên địa bàn tỉnh. Do đó, đương sự cần bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Công an TP Quy Nhơn vẫn chưa có ý kiến hồi đáp. Về phía UBND TP Quy Nhơn, ông Dương Hiệp Hồ, Phó Chánh văn phòng UBND TP Quy Nhơn, cho biết: “Chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc họp với các đơn vị liên quan nhưng chưa tìm ra cơ sở để có thể xử lý hành chính hành vi chiếm dụng nhà trái phép. Chúng tôi đã chỉ đạo Công an TP điều tra, nghiên cứu để có thể đưa vụ việc ra xử lý hình sự”. Nhận xét của nhóm,và phương án đề xuất giải quyết Về cơ bản vụ việc vẫn chưa được giải quyết do không có căn cư truy cứu”Các ngành chức năng chưa thống nhất điều luật làm căn cứ để xử lý trường hợp nói trên. Hiện Công an TP Quy Nhơn đang xem xét để tìm cách giải quyết, khi nào có kết quả thì UBND TP Quy Nhơn sẽ thông báo”.Sự chậm trễ trong cách làm việc cũng như đùn đẩy trách nhiệm khiến cho sự thiệt thòi lớn nhất thuộc về người dân “Theo điểm 4 Điều 8 Nghị định 582009 của Chính phủ, tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao nhận tài sản nhưng sau đó bị đương sự chiếm lại thì cơ quan THADS không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản”.Đây chính là lỗ hổng pháp luật cũng như việc ban hành pháp luật chưa thực sự sát với thực tế dẫn đến việc không kiểm soát hết quyền năng của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên về mặt pháp lí căn nhà tại số 15A Tây Sơn, phường Quang Trung, Tp Quy Nhơn là của ông Nguyễn Văn Châu,hành vi “chiếm đoạt nhà và ở”của ông Nguyễn Văn Bình là hành vi xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân quy định tại điều 46Bộ luật dân sự, được điều chỉnh tại điều 124 –Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2009).Đồng thời đây còn là tội không chấp hành án, điều chỉnh tại điều 304Bộ luật hình sự Điều 304. Tội không chấp hành án Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ban năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. C.ĐÁNH GIÁ CHUNG Chỗ ở của một người là nơi người đó sống đời sống riêng thường ngày. Đó có thể là nhà ở, phòng ở, chỗ ở, trong nhà tập thể, nhà thuê tại nhà trọ, khách sạn…Trong phạm vi chỗ ở của mình, mỗi người có quyền tự tổ chức cuộc sống riêng của gia đình, cá nhân mình một cách độc lập. Chỗ ở của mỗi người cũng là nơi “ẩn chứa” những bí mật của cá nhân, của gia đình (những bí mật đời tư). Vì vậy, quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở dược xếp vào một trong số những quyền dân sự, hơn nữa là quyền nhân thân của mỗi người. Mọi cá nhân đều có quyền đối với chỗ ở của mình và dược pháp luật bảo hộ. Điều 73 Hiến pháp 1992 quy định về quyền bát khả xâm phạm chỗở: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước chỉ bảo hộ quyền đó của công dân để chống lại sự xâm phạm của vô căn cứ của những cá nhân và tổ chức khác. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân cũng bị giới hạn là phải tuân theo các quy định của pháp luật. Khi công dân lợi dụng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở để che giấu, hoặc có những hành động, hành vi vi phạm pháp luật, thì quyền này không còn được pháp luật bảo vệ. Khi công dân chấp hành đúng những quy đinh của pháp luật, thì việc xâm phạm vào chỗ ở của người đó mà không được người đó đồng ý là một hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử theo quy định của Bộ luật hình sự ngày 21121999 (Điều 124 – tội xâm phạm chỗ ở của công dân). Tuy nhiên trong những trường hợp có chứng cứ cho rằng một người có những hành vi phạm tội rõ ràng thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đối với từng trường hợp cụ thể ra quyết định cho phép khám nhà, và việc khám nhà cũng phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự hoặc pháp luật xử lý vi phạm hành chính.
Xem thêm

13 Đọc thêm

20 CÂU NHẬN ĐỊNH LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ1

20 CÂU NHẬN ĐỊNH LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ1

Cơ sở pháp lý: Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015Bởi vì: Căn cứ Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015 thì: Quyết định công nhận sự thỏathuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu cócăn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặcvi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.Do vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị kháng nghịgiám đốc thẩm.11 – Ở giai đoạn sơ thẩm, khi công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự,Tòa án phải ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.Nhận định Sai.Bởi vì: Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (giai đoạn sơ thẩm), sau khi công nhậnsự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự, Tòa án không ra ngay quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đương sự. Mà phải hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày biênbản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đóthì Tòa án mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.Cơ sở pháp lý: đoạn 1 khoản 1 Điều 212 BLTTDS 201512 – Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của bản án sơ thẩm là ngày Tòa ántuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa.Nhận định Sai.Bởi vì: Về nguyên tắc thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của bản án sơ thẩmlà ngày Tòa án tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, đối vớitrường hợp đương sự khong có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thờihạn kháng cáo không được tính bắt đầu từ ngày tuyên án, mà bắt đầu tính từ ngàyhọ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.Cơ sở pháp lý: đoạn 1 khoản 1 Điều 273 BLTTDS 2015
Xem thêm

11 Đọc thêm

Câu hỏi và đáp án học phần Lý thuyết bảo hiểm

Câu hỏi và đáp án học phần Lý thuyết bảo hiểm

Ngày 21 tháng 02 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Võ Lợi, trú tại: thôn Tân Thành 2, xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. 2. Bị đơn: Công ty Bảo hiểm Bình Định do ông Võ Minh Sang là đại diện theo uỷ quyền; địa chỉ: 62 Diên Hồng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Theo đơn khởi kiện ngày 15022000 và lời khai tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Định của ông Võ Lợi thì: Ông Võ Lợi là chủ sở hữu chiếc tàu đánh cá số đăng ký BĐ1025TS, có hợp đồng bảo hiểm với Công ty Bảo hiểm Bình Định, hiệu lực từ 06021999 đến 06022000. Khoảng 1h sáng ngày 15061999, trong khi đang kéo lưới tại phía Tây Nam đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng thì phát hiện có nhiều tàu neo đậu trong khu vực ông Võ Lợi đang thả lưới. Con ông Lợi là anh Võ Văn Lộc đã đề nghị các tàu này chuyển dịch ra khỏi khu vực tàu ông Lợi đang thả lưới. Một số tàu đã kéo neo bỏ đi nơi khác con lại 02 tàu không đi. Anh Lộc điều khiển tàu đến gần để yêu cầu hai chiếc tàu đi nơi khác, thì tàu không số do anh A Hoanh điều khiển kéo neo chạy tới đâm thẳng vào tàu của ông Lợi nhiều lần làm tàu bị vỡ, chìm tại ngư trường. Sau khi cấp cứu, vớt tàu, xác định thân tàu bị hư hỏng toàn bộ (như biên bản giám định của Bảo hiểm Hải Phòng đã kết luận). Bên tàu không số do anh A Hoanh điều khiển và ông Lợi đã thương lượng là anh A Hoanh bồi thường cho ông Lợi 165.000.000 đồng (gồm 75.000.000 đồng bồi thường cho máy và vỏ tàu, 90.000.000 đồng bồi thường cho tư trang, vật dụng và ngư lưới cụ) và đã thi hành xong. Khi tàu bị nạn, ông Lợi có điện báo ngay về Bảo hiểm Bình Định là nơi ông tham gia đóng bảo hiểm, Công ty Bảo hiểm Bình Định đã có công văn uỷ quyền cho Công ty Bảo hiểm Hải Phòng đến xem xét hiện trường và Công ty Bảo hiểm Hải Phòng đã có biên bản giám định việc hư hỏng tàu của ông Lợi. Sau khi hoàn thành các thủ tục pháp lý, Công ty Bảo hiểm Hải Phòng đã gửi toàn bộ hồ sơ vụ tai nạn cho Công ty Bảo hiểm Bình Định. Ông Lợi đề nghị giải quyết thiệt hại theo chế độ quy định của Bảo Việt, nhưng đến ngày 14101999 Công ty Bảo hiểm Bình Định trả lời từ chối bồi thường. Ông Lợi yêu cầu buộc Công ty Bảo hiểm Bình Định bồi thường cho ông đủ mức như đã thoả thuận trong hợp đồng. Công ty Bảo hiểm Bình Định trình bày: Tàu cá BĐ 1025 TS của ông Võ Lợi tham gia bảo hiểm ngày 06021999 theo giấy chứng nhận bảo hiểm số 034209, hiệu lực bảo hiểm từ ngày 06021999 đến ngày 06022000 theo mức trách nhiệm: Thân tàu 300.000.000 đồng; Trách nhiệm dân sự: 70.000.000 đồngvụ; Thuyền viên: 7.000.000 đồngngười. Nguyên nhân tai nạn do mâu thuẫn cá nhân nên anh A Hoanh đã điều khiển tàu đánh cá không số cố ý đâm vào tàu BĐ 1025 TS gây đắm tàu. Sự việc xảy ra vào ngày 1561999 tại vùng biển đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng. Theo biên bản thoả thuận ngày 2071999 giữa ông Lợi và anh A Hoanh thì anh A Hoanh bồi thường thiệt hại cho ông Lợi 165.000.000 đồng. Trong đó: tư trang vật dụng và ngư lưới cụ là 90.000.000 đồng và vỏ tàu là 75.000.000 đồng. Phần vỏ tàu còn lại thuộc quyền sở hữu của anh A Hoanh. Ông Lợi đã cam kết không có ý kiến nào khác, không thắc mắc hoặc khiếu nại gì trong việc tự thoả thuận bồi thường. Khi ông Lợi bị tai nạn, Công ty Bảo hiểm Bình Định có báo cho Công ty Bảo hiểm Hải Phòng để nhờ sự giúp đỡ hỗ trợ. Quá trình giải quyết vụ việc ông Lợi không bảo lưu quyền khiếu kiện cho Công ty Bảo hiểm. Hơn nữa anh A Hoanh đã cố ý đâm vào tàu ông Lợi cho nên đây là trách nhiệm dân sự của anh A Hoanh. Công ty Bảo hiểm Bình Định khước từ trách nhiệm bồi thường. Trong thời gian Công an thụ lý vụ án, ông Lợi có khó khăn nên Công ty có cho ông Lợi ứng 5.000.000 đồng để làm thủ tục tranh chấp với phía tàu Quảng Ngãi. Do đó, ông Lợi phải hoàn trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho cơ quan Bảo hiểm. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01DSST ngày 18012002, Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đã xử: 1) Buộc Công ty Bảo hiểm Bình Định (Bảo Việt) có trách nhiệm bồi thường một phần tổn thất cho ông Võ Lợi, chủ tàu BĐ 1025 TS số tiền là: 80.000.000 đồng (tám chục triệu đồng). Được khấu trừ khoản tiền bảo hiểm ứng trước cho ông Võ Lợi là 5.000.000 đồng, còn lại 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). 2) Kể từ ngày ông Lợi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Bảo hiểm không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng Bảo hiểm còn phải trả cho ông Lợi số tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. 3) Án phí dân sự sơ thẩm: theo diện án phí có giá ngạch 5% trên giá trị tranh chấp: 75.000.000đ ´ 5% = 3.750.000đ Công ty Bảo hiểm Bình Định chịu. Hoàn trả 50.000đ dự phí cho ông Lợi. Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bên đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngày 21012002, ông Lợi có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị buộc Công ty Bảo hiểm Bình Định có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm mà ông và Công ty Bảo hiểm đã ký kết. Ngày 29012002, Công ty Bảo hiểm Bình Định có đơn kháng cáo với nội dung: Tổn thất tàu BĐ 1025 TS hoàn toàn do lỗi cố ý của anh A Hoanh nên không thuộc phạm vi bảo hiểm. Theo biên bản thoả thuận ngày 2071999 giữa ông Lợi với anh A Hoanh, thì ông Lợi đã không làm các thủ tục cần thiết bảo lưu quyền khiếu nại cho Bảo Việt để Bảo Việt tranh chấp với anh A Hoanh. Ngoài ra, căn cứ vào giá trị tàu BĐ 1025 TS thì số tiền bồi thường của anh A Hoanh đã vượt quá mức thiệt hại tàu của ông Lợi. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 642002DSPT ngày 16122002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 69 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bác kháng cáo của ông Võ Lợi chấp nhận kháng cáo của Công ty Bảo hiểm Bình Định. Căn cứ khoản 1 Điều 578; khoản 1 Điều 581 Bộ luật dân sự; Tuyên xử bác yêu cầu của ông Võ Lợi đòi Công ty Bảo hiểm Bình Định phải trả tiền bảo hiểm. Ghi nhận sự thoả thuận của Công ty Bảo hiểm Bình Định đồng ý chi cho ông Võ Lợi số tiền 5.000.000 đồng mà ông Lợi đã nhận trước đây. Công ty Bảo hiểm Bình Định không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm. Ông Lợi phải nộp 50.000 đồng án phí phúc thẩm, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Võ Lợi. Nhận xét của nhóm về cách giải quyết của tòa án: Trong tình hướng trên, những quyết định của tòa là chưa đúng. Chúng ta phải xem xét những khía cạnh sau để giải quyết vấn đề này: • Thứ nhất, Thiệt hại chìm tàu của ông Võ Lợi do hành động cố ý của anh A Hoanh dùng tàu của mình đâm vào tàu của ông Võ Lợi, chứ không phải do hành động cố ý tự gây thiệt hại của bên tàu ông Võ Lợi. Theo quy định của hợp đồng bảo hiểm được ý kết giữa ông Lợi và Công ty Bảo hiểm Bình Định cũng như theo quy định của Quy tắc bảo hiểm thân tàu, ngư lưới cụ, đối với tàu, thuyền cá hoạt động trong vùng nội thuỷ và vùng biển Việt Nam ban hành ngày 20111996 của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam thì thiệt hại xảy ra nêu trên không nằm trong phạm vi loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. • Thứ hai, ông Lợi và anh Hoanh có thỏa thuận ngày 2072004 là anh Hoanh sẽ bồi thường cho ông Lợi 165 triệu đồng và hai bên đồng cam kết sau khi thoả thuận bồi thường xong sẽ không còn ý kiến, không thắc mắc hoặc khiếu kiện gì trong việc tự thỏa thuận bồi thường. Thỏa thuận này chỉ là thỏa thuận giữa ông Lợi và anh Hoanh, không có sự tham gia của công ty bảo hiểm Bình Định. Thỏa thuận này không hề có nội dung xác định ông Lợi không còn quyền yêu cầu Công ty bảo hiểm Bình Định bồi thường theo quy định của pháp luật bảo hiểm, đồng thời công ty bảo hiểm vẫn có quyền yêu cầu ông Lợi bồi hoàn số tiền đã nhận được phía A Hoanh sau khi công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại cho ông Lợi theo Điều 49 về Trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM số 242000QH10 ngày 09122000 . • Thứ ba, Cơ quan Bảo hiểm không có mặt khi ông Lợi và anh A Hoanh hoà giải là không đúng thủ tục, trong khi đó cơ quan Bảo hiểm chưa làm hết trách nhiệm khi hướng dẫn ông Lợi làm thủ tục bảo lưu quyền khiếu nại cho người thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo hiểm; vi phạm Điều 19 trong LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM số 242000QH10 ngày 09122000 về Trách nhiệm cung cấp thông tin. • Thứ tư, thực tế giá trị tài sản mà ông Lợi bị thiệt hại nhiều hơn so với số tiền mà anh Hoanh và ông Lợi đã thỏa thuận đền bù cho ông Lợi. Cách giải quyết của nhóm: Trong tình huống trên thì việc ông Lợi yêu kiện yêu cầu Công ty bảo hiểm Bình Định bồi thường cho mình là đúng. Vì việc thiệt hại tàu không phải do lỗi cố ý của ông Lợi gây ra mà do lỗi của anh Hoanh gây ra. Do đó, công ty bảo hiểm phải có nghĩa vụ trả bảo hiểm cho ông Lợi. Khoản 2 Điều 577 quy định: “Trong trường hợp bên được bảo hiểm đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại do người thứ ba trả, nhưng vẫn ít hơn số tiền mà bên bảo hiểm phải trả thì bên bảo hiểm chỉ phải trả phần chênh lệch giữa số tiền bảo hiểm và số tiền và người thứ ba đã trả; trừ trường hợp có thỏa thuận khác…” Vậy theo quy định này, thì Công ty bảo hiểm sẽ phải trả phần chênh lệch mà anh Hoanh đã trả và phần bảo hiểm phải trả. Và công ty Bảo hiểm có quyền yêu cầu anh Hoanh hoàn trả khoản tiền mà Công ty bảo hiểm sẽ trả cho ông Lợi. Tuy nhiên, trong tình huống trên, khi ông Lợi và anh Hoanh thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại thì không có mặt công ty bảo hiểm là không đúng. Chính vì vậy, khi 2 người này thỏa thuận thì cần có sự có mặt của công ty bảo hiểm. Công ty bảo hiểm Bình Định cũng phải trả cả phần lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả tiền bảo hiểm tương ứng với thời gian chậm trả được qui định tại Khoản 2 Điều 576.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ: TÌNH HUỐNG TRANH CHẤP RANH GIỚI ĐẤT ĐAI

BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ: TÌNH HUỐNG TRANH CHẤP RANH GIỚI ĐẤT ĐAI

Tình huống tranh chấp ranh giới đất đai Bài tập nhóm Luật Dân sự 2 LỜI MỞ ĐẦU – TÌNH HUỐNG Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi mức độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, nhu cầu về nhà ở của người dân ngày càng trở nên bức xúc, việc sử dụng đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng cao khiến cho giá đất nhiều khi tăng đột biến chỉ trong thời gian ngắn. Đây là nguyên nhân góp phần làm tăng các tranh chấp về đất đai. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, chúng em xin tìm hiểu tình huống đề bài nêu ra về vụ án tranh chấp ranh giới: Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Quốc Hoành sinh năm 1943; 2. Bà Lưu Thị Vân sinh năm 1945 (là vợ của ông Hoành); Đều trú tại nhà số 204K phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Bị đơn: 1. Ông Trần Văn Thái sinh năm 1950; 2. Bà Nguyễn Thị Đoan Nghiêm sinh năm 1950; Đều trú tại nhà số 206 phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. NỘI DUNG VỤ ÁN: Gia đình ông Nguyễn Quốc Hoành, bà Lưu Thị Vân hiện đang ở tại nhà số 204K phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, thuộc thửa đất số 21 tờ bản đồ số 24 lập năm 1991. Nguồn gốc của thửa đất này là của bà Nguyễn Thị Nguyện bán cho ông Hoành, bà Vân từ năm 1972, khi đó trên đất có một căn nhà nhỏ có diện tích khoảng 3m2, hai bên có lập hợp đồng nhưng không có chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chưa sang tên trước bạ. Thửa đất này có một phần đất giáp gianh với nhà đất của cụ Trần Văn Sỹ (là bố đẻ của ông Trần Văn Thái bị đơn trong vụ án). Năm 1978 vợ chồng ông Hoành xây dựng nhà và xây tường sát móng cũ của nhà cụ Sỹ. Theo nguyên đơn là vợ chồng ông Hoành thì năm 1989 cụ Sỹ phá nhà cũ xây nhà mới và do xây tường nhà 10cm nên có nhờ vợ chồng ông bà áp thêm 10cm vào tường nhà của ông, bà cho vững chắc. Tháng 7 năm 1993 gia đình ông được Sở Nhà đất Hà Nội thông báo xác nhận việc đăng ký kê khai nhà đất tại số 204K phố Đội Cấn với diện tích đang sử dụng là 127,35m2 trên có ngôi nhà 1 tầng có diện tích là 40m2 nhưng từ năm 1992 ông đã kê khai diện tích đất đang sử dụng là 129m2. Năm 2006 ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại số 204K thì ông Trần Văn Thái ở tại nhà số 206 phố Đội Cấn (liền kề nhà ông) không đồng ý vì cho rằng diện tích đất 3,375m2 là khe hở giữa hai nhà là tài sản thừa kế của cụ Sỹ để lại thuộc quyền sử dụng của ông Thái. Theo bị đơn là vợ chồng ông Trần Văn Thái, bà Nguyễn Thị Đoan Nghiêm thì khi vợ chồng ông Hoành xây nhà đã cố tình xây cột trụ sát vào tường nhà của gia đình ông mặc dù bố ông không đồng ý. Sau đó, ông Hoành tiếp tục xây hàng rào bằng gạch xỉ lên phần đất phía sau giáp gianh của hai nhà nhưng lại lấn sang đất của gia đình ông. Khoảng năm 1985 bố ông cho ông khoảng 58m2 đất giáp gianh với đất của vợ chồng ông Hoành. Năm 1989 ông xây dựng nhà mới, do hàng rào nhà ông Hoành vẹo sang đất nhà ông và ông muốn xây nhà vuông vắn nên đã xây nhà cách hàng rào nhà ông Hoành 40cm (phía sau là 20cm) và tạo ra khe hở giữa hai nhà, ông Hoành luôn tìm cách chiếm phần đất là khe hở giữa hai nhà, nhà ông mang số 206 phố Đội Cấn. Quá trình giải quyết tranh chấp giữa hai bên tại Ủy ban nhân dân phường Đội Cấn, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Địa chính Hà Nội đã đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của ông Hoành là 129,6m2. Vợ chồng ông Hoành khởi kiện yêu cầu xác định diện tích 3,375m2 trong diện tích 129,6m2 thửa số 21 tờ bản đồ số 24 năm 1991 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông. Vợ chồng ông Thái không đồng ý với yêu cầu của vợ chồng ông Hoành và cho rằng phần đất tranh chấp nêu trên là di sản thừa kế của cụ Sỹ và thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 032011DSST ngày 19012011, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với nhận định (tóm tắt) như sau: quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án không đương sự nào đưa ra được chứng cứ để chứng minh địa giới đất ở của mình là từ mộc giới đến đâu? Nguyên đơn không có chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; và quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Hoành về việc xác định địa giới sử dụng 3,375m2 đất trong diện tích 129m2 đất tại nhà số 204K Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội. Giữ nguyên mốc giới hiện tại giữa hai bên gia đình. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN Đầu tiên, ta xác nhận đây là vụ án tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề giữa hai bên. Nhìn nhận vụ án là việc tranh chấp gianh giới giữa các bất động sản liền kề. Các cơ sở pháp lí đã được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật tố tụng dân sự năm 2004 để giải quyết vụ án gồm có: Theo khoản 1 Điều 265 Bộ Luật dân sự Việt Nam năm 2005 về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản: “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp.” Theo đó thì hai bên cần tôn trọng ranh giới giữa bất động sản liền kề do ranh giới là thửa đất nhỏ ở giáp gianh hai căn nhà của gia đình ông Hoành và gia đình ông Thái tồn tại từ trước năm 1972, tức là hơn 30 năm so với thời điểm tranh chấp. Năm 1978, vợ chồng ông Hoành xây dựng nhà có tường sát móng nhà cụ Sỹ (là cha ruột của ông Thái, bị đơn trong vụ án). Vậy là ranh giới đã tồn tại hơn 30 năm mà không xảy ra tranh chấp. Nên hai gia đình phải có nghĩa vụ tôn trọng ranh giới này. Tại tình huống trên là tranh chấp về quyền sử dụng ranh giới giữa hai bất động sản liền kề mà các bên đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân không có thẩm quyền giải quyết vụ án: “a) Toà án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; b) Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết; c) Toà án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết; d) Toà án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài; đ) Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; e) Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài; g) Toà án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật; h) Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; i) Toà án nơi một trong các bên thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; k) Toà án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; l) Toà án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi; m) Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.” Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định tại khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự như sau: “a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.” Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, “Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan” (gồm cả nguyên đơn, bị đơn) theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004. Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo được quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, bao gồm: “1. Bản án, quyết định của Toà án. 2. Đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị. 3. Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự. 4. Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác. 5. Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.” Theo Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định về đương sự trong vụ án: “1. Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. 2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn. 3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Vậy, trong vụ án tranh chấp ranh giới đang xét, nguyên đơn là ông Hoành cùng vợ là bà Vân; bị đơn là ông Thái và bà Nghiêm. Năm 2006 ông Hoành đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại số 204K thì ông Thái không đồng ý và Ủy ban nhân dân phường Đội Cấn đã từng giải quyết tranh chấp giữa hai bên; tới khoảng năm 2010 – 2011 ông Hoành khởi kiện. Ông Hoành cho rằng quyền sử dụng ranh giới đất thuộc về mình nhưng quyền sử dụng đó lại bị gia đình ông Thái xâm hại nên ông đã kiện gia đình ông Thái và yêu cầu xác định diện tích ranh giới đất giữa hai nhà thuộc quyền sử dụng của ông và ông Thái có quyền khởi kiện. Tại khoản 3 Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự về việc nghị án thì quyết định của Hội đồng xét xử sẽ dựa trên các chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra: “Khi nghị án chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả việc hỏi tại phiên toà và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên.” Như vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong vụ án dân sự, Tòa án cần căn cứ vào các hồ sơ, giấy tờ địa chính, nhà đất được quản lý tại Ủy ban nhân dân, bao gồm cả thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự, vì chỉ các thông tin, tư liệu này mới đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp, chính xác và đáng tin cậy để sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải căn cứ vào các chứng cứ được xác định trong quá trình tố tụng và các quy định của pháp luật để chứng cứ được quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.” Cụ thể trong vụ án tranh chấp ranh giới giữa gia đình ông Hoành và gia đình ông Thái, cả hai gia đình không có chứng cứ chứng minh địa giới đất của mình là mộc giới đến đâu nên Tòa án sẽ căn cứ vào đó để đưa ra quyết định về vụ án. Theo Khoản 1 điều 168 Bộ luật Tố Tụng Dân sự: “1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: a) Thời hiệu khởi kiện đã hết; b) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; d) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; đ) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện; e) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”. Vậy, trong vụ án này, sau khi đã xem xét các chứng cứ và tài liệu liên quan, Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho ông Hoành theo điểm đ và e vì ông Hoành không có chứng cứ xác thực chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ. II. BÌNH LUẬN VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN Tại bản án dân sự sơ thẩm số 032011DSST ngày 19012011, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với nhận định (tóm tắt) như sau: quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án không đương sự nào đưa ra được chứng cứ để chứng minh địa giới đất ở của mình là từ mộc giới đến đâu? Nguyên đơn không có chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; và quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Hoành về việc xác định địa giới sử dụng 3,375m2 đất trong diện tích 129m2 đất tại nhà số 204K Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội. Giữ nguyên mốc giới hiện tại giữa hai bên gia đình. Đầu tiên, ta thấy trong điều 160 Nghị định Số 1812004NĐCP Về thi hành Luật đất đai của Chính phủ có quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất: “Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan hành chính để được giải quyết. Cơ quan hành chính các cấp giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau: 1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng. 2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng”. Ở trường hợp này, gia đình ông Nguyễn Quốc Hoành, bà Lưu Thị Vân có mua của bà Nguyễn Thị Nguyện thửa đất, hai bên có lập hợp đồng nhưng không có chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chưa sang tên trước bạ. Trong khi ông Nguyễn Quốc Hoành xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006 thì xảy ra tranh chấp với ông Trần Văn Thái ở tại nhà số 206 phố Đội Cấn (liền kề nhà ông). Vì ông Nguyễn Văn Hoành chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại số nhà 204K phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội trong khi gửi đơn kiện lên Tòa án. Nên vụ án tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn Hoành và ông Trần Văn Thái không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo khoản 1 Điều 160 Nghị định Số: 1812004NĐCP Về thi hành Luật đất đai của Chính phủ Ngoài ra, trong vụ án, cả hai bên đều không đưa ra được bằng chứng xác thực để chứng minh quyền sử dụng 3,375 m2 đất mà chỉ dựa trên ý kiến chủ quan của hai bên. Chính vì vậy, đơn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Hoành là vô hiệu, chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ việc tranh chấp ranh giới đất. Vì chưa có đủ điều kiện để khởi kiện và vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Tố Tụng Dân sự: “1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: a) Thời hiệu khởi kiện đã hết; b) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; d) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; đ) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện; e) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”. Vậy, trong vụ án này, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo điểm đ và e. Vậy, trong vụ án đang xét, quyết định không chấp nhận yêu cầu xác định diện tích 3,375m2 đất trong diện tích 129,6m2 thửa số 21 tờ bản đồ số 24 năm 1991 thuộc quyền sở hữu của ông Hoành, giữ nguyên mốc giới hiện tại giữa hai bên gia đình là hoàn toàn hợp lý nhưng thẩm quyền giải quyết vụ án không thuộc về Tòa án, Tòa án trả lại đơn khởi kiện của ông Hoành theo quy định tại điểm đ và e khoản 1 Điều 168 Bộ luật Tố Tụng Dân sự năm 2004. Theo Khoản 2 điều 192 Bộ luật Tố Tụng Dân sự: “Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại Điều 168 của Bộ luật này”. Vậy, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo Điểm đ và e khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án ra quyết định đình chỉ và sẽ có hậu quả pháp lý đi kèm: Điều 193, Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự “1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại các điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này và các trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước. 3. Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 192 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho người đã nộp tiền tạm ứng án phí. 4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”. III. QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN Đầu tiên, ta xác nhận đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng ranh giới giữa hai bất động sản liền kề giữa: • Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Quốc Hoành sinh năm 1943; 2. Bà Lưu Thị Vân sinh năm 1945 (là vợ của ông Hoành); Trú tại nhà số 204K phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. • Bị đơn: 1. Ông Trần Văn Thái sinh năm 1950; 2. Bà Nguyễn Thị Đoan Nghiêm sinh năm 1950; Đều trú tại nhà số 206 phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Điều 50 Bộ luật đất đai năm 2003 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất: a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất. 2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. 3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. 4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất...” Đối với gia đình ông Hoành, thửa đất ông mua từ bà Nguyễn Thị Nguyện từ năm 1972, hai bên có lập hợp đồng nhưng không có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chưa sang tên trước bạ, trên thửa đất khi đó có một căn nhà nhỏ diện tích 3,375m2. Như vậy, nếu trường hợp đất của ông Hoành không có tranh âcó các giấy tờ theo quy định tại khoản 4 điều 50 luật đất đai năm 2003. Tuy nhiên, năm 2006, ông nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhưng với diện tích kê khai là 129m2), nhưng lại có tranh chấp xảy ra giữa ông Hoành và ông Thái, ông Thái cho rằng ranh giới (3,375m2 đất) là thuộc quyền sở hữu của ông vì là di sản của bố ông là ông Sỹ để lại. Thông tư số 092007TTBTNMT ngày 0282007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc xác lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính quy định: “Trường hợp đang có tranh chấp về ranh giới thửa đất thì Đơn vị đo đạc có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã để giải quyết theo quy định của pháp luật đất đai và ranh giới thửa đất được đo đạc theo kết quả giải quyết tranh chấp đó. Trường hợp tranh chấp chưa giải quyết xong trong thời gian đo đạc ở địa phương thì đo đạc theo ranh giới thực tế đang sử dụng và đơn vị đo đạc có trách nhiệm lập bản mô tả thực trạng phần đất đang tranh chấp sử dụng đất thành 2 bản, một bản lưu hồ sơ đo đạc, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp xã để giải quyết”. Người sử dụng đất phải sử dụng đúng ranh giới, mốc giới của thửa đất mà mình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp không xác định được chính xác ranh giới, mốc giới của thửa đất thì người sử dụng đất có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận. Đối chiếu với các quy định nêu trên, để có cơ sở xác định gia đình bạn có lấn chiếm đất của hàng xóm hay không bạn cần phải gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để được xem xét, giải quyết. Sau khi nhận đơn, Ủy ban nhân dân sẽ cử cán bộ địa chính xuống kiểm tra trên thực tế ranh giới và mốc giới của thửa đất đang tranh chấp và đối chiếu với bản đồ địa chính đang lưu giữ tại ủy ban. Trong vụ án đang xét, ông Hoành muốn cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích ranh giới 3,375m2 trong diện tích 129,6m2 thửa số 21 bản đồ số 24 lập năm 1991 nên trong quá trình giải quyết vụ án tại Ủy ban nhân dân phường Đội Cấn, công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Địa chính Hà Nội đã đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của ông Hoành là 129,6m2. Trường hợp sau khi kiểm tra, nếu đủ cơ sở xác định gia đình bạn không lấn chiếm đất của nhà hàng xóm nhưng gia đình hàng xóm không chấp nhận thì Ủy ban nhân dân sẽ tổ chức buổi họp để giải quyết tranh chấp và và lập biên bản hòa giải giữa hai gia đình. Trường hợp hòa giải không thành, theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 7 Điều 25 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, do cả hai gia đình ông Hoành và ông Thái đều không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đât nên vụ án sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Uỷ ban nhân dân phường Đội Cấn sẽ dựa trên hiện trạng đã đo để hòa giải việc tranh chấp về ranh giới. Theo quy định tại khoản 1 Điều 265 Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản thì ranh giới giữa các hộ có thể được xác định là theo thỏa thuận hoặc theo tập quán hoặc tồn tại 30 năm. Ở đây, việc ông Hoành xây nhà từ năm 1978 cho đến nay là hơn 30 năm mới xảy ra tranh chấp. Hơn nữa, việc xây nhà của ông Thái năm 1989 đã nhờ vợ chồng ông Hoành việc áp thêm 10m vào tường nhà ông bà (như vậy đã có sự thỏa thuận giữa hai bên). Hơn nữa việc xây nhà của ông Hoành theo đề bài là hàng rào vượt quá mảnh đất của nhà cụ Sỹ, tuy nhiên việc làm này lại không có sự phản đối hay yêu cầu của từ phía gia ông Thái Và đến năm 2010 2011 mới kiện ra tòa án. Vì vậy, ta có thể xác định ranh giới giữa 2 nhà (cụ thể là 3,375m2 đất) do thỏa thuận giữa 2 bên và đã tồn tại hơn 30 năm mới xảy ra tranh chấp. Hơn nữa, theo khoản 1 điều 266 Bộ luật Dân sự Việt Nam thì trong trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu: “Chủ sở hữu bất động sản liền kề chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình. Những người sử dụng đất liền kề có thể thoả thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn, trồng cây trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của những người đó. Trong trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thoả thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn phải dỡ bỏ…” Như vậy, khẳng định ranh giới giữa hai nhà là 3,375m2 đất thuộc sở hữu chung giữa hai nhà ông Hoành và nhà ông Thái. Ngoài ra, hai bên lại không đưa ra được căn cứ nào chứng mình được phần đất này do đâu mà có (căn cứ hợp lí và hợp pháp) và thuộc quyền sử dụng của gia đình mình. Vậy, Ủy ban nhân dân sẽ không chấp nhận yêu cầu xác lập quyền sử dụng diện tích ranh giới 3.375m2 đất giữa hai nhà ông Hoành và nhà ông Thái thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Nguyễn Quốc Hoành cùng vợ là bà Lưu Thị Vân và giữ nguyên mốc giới hiện tại giữa hai bên gia đình. Yêu cầu hai gia đình ông Nguyễn Quốc Hoành và ông Trần Văn Thái có nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa hai nhà theo khoản 2 và 3 Điều 265 Bộ luật dân sự năm 2005: “2. Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác. 3. Trong trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng thì người sử dụng đất có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách.” KẾT LUẬN Tranh chấp đất đai, nhà ở là loại tranh chấp phức tạp và khó giải quyết nhất. Trên thực tế nếu không kịp thời giải quyết sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân, đánh mất tình làng nghĩa xóm, gây mất trật tự an ninh chung và nhiều trường hợp từ dân sự chuyển thành hình sự. Bởi vậy, Nhà nước ta cần có những biện pháp thiết thực hơn nữa nhằm giải quyết các tranh chấp trong đời sống nhân dân.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Bài tập nhóm Tố tụng Hình sự: Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử

BÀI TẬP NHÓM TỐ TỤNG HÌNH SỰ: NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ

Bài tập nhóm Tố tụng hình sự Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử Trong các hoạt động xét xử các loại vụ án thì xét xử vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, vì đây là hoạt động giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người đó. Hoạt động xét xử các vụ án này có thể dẫn tới một hậu quả pháp lý bất lợi cho người bị xét xử cũng như những người khác có liên quan. Vì vậy, bản án, quyết định của Tòa án khi xét xử phải chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi hoạt động xét xử các vụ án hình sự phải tuân thủ nhiều nguyên tắc cơ bản của luật Tố tụng hình sự khi xét xử. Những nguyên tắc này là những phương châm, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tố tụng hình sự. Nguyên tắc hai cấp xét xử là một nguyên tắc mới được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nguyên tắc này thể hiện sự thận trọng của Tòa án trong việc xét xử, đảm bảo cho việc xét xử chính xác, công bằng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, và một trong những nguyên tắc đó là nguyên tắc hai cấp xét xử. Việc quy định nguyên tắc này trong xét xử các vụ án hình sự là một tất yếu khách quan của thực tiễn xét xử để hoạt động này có thể thực hiện đúng được chức năng của nó và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan trong từng vụ án cụ thể. Bài viết sau đây sẽ đi nghiên cứu về ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nguyên tắc này trong hoạt động xét xử. II. NỘI DUNG. 1. Các khái niệm cần làm rõ trong vấn đề về nguyên tắc hai cấp xét xử: 1.1. Khái niệm cấp xét xử, cấp xét xử sơ thẩm, cấp xét xử phúc thẩm: Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử và xét xử lại các vụ án, hình thức tổ chức tố tụng này được đảm bảo thực hiện bằng việc quy định các thủ tục tố tụng cụ thể và tổ chức tố tụng xét xử cụ thể và tổ chức hệ thống Tòa án có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục tố tụng xét xử khác nhau, nhằm xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…được đúng đắn, khách quan. Cấp xét xử sơ thẩm là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử lần đầu các vụ án hình sự, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm. Cấp xét xử phúc thẩm là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử lại vụ án hình sự mà bản án, quyết định của cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay. 1.2. Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử: Nguyên tắc tố tụng hình sự là những quy định pháp luật cơ bản có tính bắt buộc chung, xác định phương châm và định hướng cho toàn bộ quá trình tố tụng hay một số hoạt động tố tụng nhất định, thể hiện bản chất của chế độ Nhà nước, bản chất của tố tụng hình sự, được quy định trong Bộ luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, trong đó xác định một vụ án hình sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) có thể được xét xử lại và chỉ có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 2. Pháp luật hiện hành về nguyên tắc thực hiện hai cấp xét xử: 2.1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Điều 20 BLTTHS quy định như sau: “1. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. 2. Đối với Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”. Điều 11 Luật tổ chức TAND năm 2002 về cơ bản cũng quy định tương tự như quy định tại Điều 20 BLTTHS. 2.2. Nội dung của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Qua các quy định này thì nội dung cụ thể của nguyên tắc hai cấp xét xử theo pháp luật hiện hành được hiểu như sau: Thứ nhất, bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo đối tượng và thẩm quyền theo lãnh thổ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại một lần nữa. Thứ hai, bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Khi xét lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung. Thứ ba, đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử, không xét lại vụ án về mặt nội dung mà chỉ xem xét lại bản án hoặc tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định đó. Khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án không thực hiện chức năng xét xử mà thực hiện chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. 3. Ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Bất cứ một quy định nào của pháp luật cũng đều mang trong nó những ý nghĩa nhất định. Trong pháp luật TTHS cũng vậy, việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong BLTTHS cũng chứa đựng những ý nghĩa riêng của nó. 3.1. Ý nghĩa pháp lý. Việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử qua hai cấp là một bảo đảm pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa án được chính xác và đúng đắn. Bởi vì qua hai cấp xét xử như vậy những vấn đề thuộc nội dung vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích, đánh giá kỹ càng, đấy đủ hơn. Trên cơ sở đó, các phán quyết của Tòa án đưa ra đảm bảo độ chính xác cao hơn. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án thể hiện thái độ không đồng tình với việc xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật TTHS để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm. Thông qua đó, chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình và trong nhiều trường hợp lợi ích của Nhà nước và xã hội cũng được đảm bảo. Việc quy định về nguyên tắc hai cấp xét xử cũng như quy định về việc bản án, quyết định sở thẩm có thể bị sửa, bị hủy tại cấp phúc thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các hành vi vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của HĐXX sơ thẩm, giúp họ có thái độ thận trọng và có trách nhiệm hơn trước khi đưa ra phán quyết của mình. Thông qua hoạt động xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm kịp thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm đã mắc phải, tự mình sửa chữa sai lầm, khắc phục thiếu sót hay đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm sửa chữa những sai lầm của mình. Đây cũng chính là một hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả to lớn giữa Tòa án cấp phúc thẩm với Tòa án cấp sơ thẩm, nhờ đó mà chất lượng xét xử tại các cấp ngày càng được nâng cao. Việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra nguyên nhân dẫn đến sai lầm hay những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và tòa án nói riêng. Từ đó, giúp tìm ra các giải pháp thích hợp để sửa chữa, khắc phục về lập pháp cũng như về hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng nhất là hoàn thiện tổ chức Tòa án, đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử và yêu cầu cải cách tư pháp. 3.2. Ý nghĩa chính trị, xã hội. 3.2.1. Ý nghĩa chính trị. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội là sự thể hiện nhận thức khoa học về hoạt động xét xử của Tòa án phù hợp với nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức thế giới. Đó là nhận thức luôn có sự vận động và phát triển, không phải trong mọi trường hợp nhận thức của con người về một sự vật hiện tượng đã đắn ngay từ lần nhận thức đầu tiên. Việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử khác nhau là phù hợp với quy luật của nhận thức nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của hoạt động xét xử. Quy định nguyên tắc hai cấp xét xử thể hiện thái độ thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra các phán xét về số phận pháp lý, sinh mạng chính trị, quyền lợi của người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự và những người có liên quan là sự thể hiện rõ ràng nhất bản chất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong đó, vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng và hợp pháp của công dân là một nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền. Tòa án với nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp của nhà nước trong phạm vi hoạt động của mình phải xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. “ Hơn bất kỳ một hoạt động nào của Nhà nước, hoạt động xét xử phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà nước, sai lầm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án chính là sai lầm của Nhà nước. Vì thế, đòi hỏi xét xử phải chính xác, công minh, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân”. Đây cũng là một hình thức thực hiện pháp luật có hiệu quả chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp, một lĩnh vực mà từ xưa đến nay bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thực hiện là vô cùng quan trọng. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS cũng tạo điều kiện để các chủ thể tham gia tố tụng có thể trực tiếp bảo vệ quyền lợi của mình nhiều lần tại các phiên tòa xét xử khác nhau. Đồng thời với việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng, việc xét xử ở hai cấp cũng giúp họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong vụ án để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình. Việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS với nội dung cơ bản là một vụ án hình sự có thể được xét xử và chỉ có thể xét xử ở hai cấp là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, giúp tránh được tình trạng vụ án bị xử ở quá nhiều cấp làm cho quá trình tố tụng kéo dài ảnh hưởng tới hiệu lực của bản án, quyết định nhất là các bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật. 3.2.2. Ý nghĩa xã hội. Việc quy định và thực hiện nguyên tức hai cấp xét xử trong TTHS góp phần rất lớn vào việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Bởi lẽ, việc xét xử phải nhằm đến mục đích cao nhất là đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, tránh oan sai, đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trong TTHS. Do vậy, sẽ là không công bằng nếu như tước bỏ quyền được bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án một lần nữa tại một phiên tòa xét xử khác, nếu như chưa thể có các điều kiện thực tế để khẳng định hay bảo đảm rằng phán quyết của lần xét xử đầu tiên là hoàn toàn chính xác. Với việc quy định và thực hiện nguyên tắc xét xử công khai ở cả cấp sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm, người dân có điều kiện biết rõ về hoạt động xét xử. Mặt khác, khi biết được kết quả xét xử phúc thẩm, thấy được sự đánh giá về tính đúng đắn hay không đúng đắn của cấp xét xử sơ thẩm, người dân mới thực hiện triệt để quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa án các cấp. Trên cơ sở đó mới có thái độ chính xác nhất về tính khách quan của hoạt động này trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, lợi ích chung của xã hội, cộng đồng và lợi ích của Nhà nước. 4. Thực tiễn thi hành nguyên tắc hai cấp xét xử và nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế: 4.1. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm. Trong những năm gần đây mặc dù số lượng vụ án phải thụ lý xét xử ở cấp sơ thẩm không giảm nhưng tốc độ giải quyết tại cấp này đã nhanh chóng hơn, lượng án tồn đọng ngày càng hạn chế. Đặc biệt chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao, số lượng các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị có chiều hướng giảm so với trước. Ví dụ năm 2004 trong số 808 vụ án có kháng nghị của VKS được xét xử phúc thẩm có 203 vụ không chấp nhận kháng nghị hoặc giải quyết khác, bằng 25,12% số vụ đã xét xử, năm 2005 trong số 780 vụ án có kháng nghị của VKS được xét xử phúc thẩm có 358 vụ Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị hoặc giải quyết, bằng 45,89% số vụ đã xét xử. Tình trạng xét xử oan sai có xu hướng ngày càng giảm so với trước đây. Ví dụ như năm 2002 có 23 người bị kết tội oan, năm 2007 có 7 người, năm 2004 có 5 người, năm 2005 có 4 người. Bên cạnh những kết quả khả quan đó việc xét xử ở cấp sơ thẩm thời gian qua vẫn còn những hạn chế nhất định như: Lượng án tồn đọng tại TAND cấp huyện hàng năm nhìn chung có xu hướng ngày càng giảm nhưng vẫn còn nhiều và có chiều hướng tăng, giảm không ổn định. Ví dụ như năm 2002 thụ lý 31.127 vụ tồn đọng 1.195 vụ bằng 3,83% số vụ đã thụ lý, năm 2005 thụ lý 41.518 vụ tồn đọng 1120 vụ bằng 2,69% số vụ đã thụ lý, năm 2006 theo thống kê chung lượng án tồn đọng tại các Tòa án cấp sơ thẩm là 2,40% số vụ thụ lý. Số lượng án sơ thẩm tồn đọng tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh tuy không lớn so với số lượng án thụ lý hàng năm nhưng nhìn chung vẫn còn cao. Ví dụ như năm 2002 thụ lý 15.374 vụ tồn đọng 294 vụ bằng 1,91%; năm 2003 thụ lý 13.355 vụ tồn đọng 372 vụ bằng 2,14%; năm 2004 thụ lý 18.190 vụ tồn đọng 1125 vụ bằng 6,18%; năm 2005 thụ lý 13.471 vụ, tồn đọng 459 vụ bằng 3,4%; năm 2007 thụ lý 11.266 vụ tồn đọng 329 vụ bằng 2,92%. Như vậy, có thể thấy rằng việc xét xử tại các tòa án cấp sơ thẩm còn nhiều hạn chế. 4.2. Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc hai cấp xét xử trong xét xử phúc thẩm. Nghiên cứu tình hình xét xử phúc thẩm trong các năm từ năm 2002 đến năm 2007 có thể kết luận như sau: Số lượng vụ án đã giải quyết, xét xử phúc thẩm chiếm tỉ lệ cao trên tổng số vụ Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý. Tuy nhiên tình trạng tồn đọng án tại Tòa án cấp phúc thẩm hàng năm vẫn còn tương đối cao. Chất lượng xét xử phúc thẩm ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều vụ án đã xét xử phúc thẩm nhưng bản án bị Tòa giám đốc thẩm hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại, thậm chí thời gian trước đây có nhiều trường hợp hủy án phúc thẩm, giữ nguyên án sơ thẩm. Việc xét xử ở cấp phúc thẩm nhìn chung đảm bảo chất lượng, góp phần sửa chữa kịp thời các sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử. Điều này thể hiện ở chỗ hàng năm số lượng án được xét xử phúc thẩm rất lớn và có chiều hướng gia tăng nhưng số lượng án bị kháng nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thụ lý ở TANDTC là không nhiều. Ví dụ: năm 2002 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 12.263 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC là 273 vụ; năm 2003 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 12.673 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC là 162 vụ; năm 2004 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 13.851 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC (tính quý 42003 đến hết quý 32004) là 92 vụ; năm 2005 Tòa án các cấp đã xét xử phúc thẩm 12.735 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC (tính quý 42004 và 9 tháng năm 2005) là 85 vụ; năm 2007 Tòa án các câp đã xét xử phúc thẩm là 12.238 vụ, số vụ thụ lý để xét lại giám đốc thẩm tại TANDTC là 83 vụ. 4.3. Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do sự hạn chế trong tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân các cấp chưa thật khoa học và hợp lý làm cho lượng án sơ thẩm Tòa án cấp tỉnh xét xử hàng năm tương đối lớn, do hiện nay còn nhiều Tòa án cấp huyện chưa được giao thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm đầy đủ theo khoản 1 Điều 170 BLTTHS nên có nhiều Tòa án cấp tỉnh phải xét xử lượng án sơ thẩm khá lớn. Nguyên nhân tiếp theo đó là do tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân cũng chưa được hoàn thiện, hoạt động kém hiệu quả. Vấn đề trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng còn hạn chế dẫn đến nhận thức không đúng tinh thần của điều luật như không nắm vững lý luận về cấu thành tội phạm nên định tội danh sai, định khung hình phạt và quyết định hình phạt không chính xác. Chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa chưa thật đảm bảo do Kiểm sát viên kém chuyên môn, yếu về lý luận nên lung túng, bị động khi tranh tụng với luật sư và người tham gia tố tụng khác. Hạn chế về mặt trình độ của các cơ quan điều tra cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như vi phạm các thủ tục tố tụng, không đảm bảo quyền bào chữa của bị can trong trường hợp pháp luật bắt buộc phải có người bào chữa. Bên cạnh các nguyên nhân trên còn do một số người tiến hành tố tụng do bị cám dỗ về vật chất nên có hành vi vi phạm pháp luật, dẫn đến xét xử sai sự thật, thiếu khách quan. Tiếp theo đó là do các quy định của pháp luật còn chưa thống nhất, đồng bộ và sát với yêu cầu thực tiễn nhất là trong công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật. 5. Giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử: 5.1. Đổi mới hệ thống Tòa án. Thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nguyên tắc đúng đắn của Nhà nước pháp quyền và tố tụng hiện đại mà các Nhà nước tiến bộ đều phải tuân thủ. Theo quan điểm của nhóm thì nên tổ chức Toà án theo cấp xét xử gồm Toà án tối cao, Toà án phúc thẩm và Toà án sơ thẩm. Tổ chức hệ thống tòa án như vậy sẽ có nhiều ưu điểm hơn như hệ thống tòa án hiện nay tổ chức theo mô hình hệ thống chính quyền và nó sẽ giúp hệ thống tòa án hoạt động hiệu quả. Thứ nhất, phân bố hợp lý cơ cấu các vụ án xét xử đỡ lãng phí vì có Toà án có rất ít án, có Toà án lại quá nhiều án và đảm bảo cho các Toà án độc lập thực sự trong xét xử. Thứ hai, tổ chức hai loại Toà án sơ thẩm. Việc dồn tất cả các loại án với tính chất, mức độ nghiêm trọng, phức tạp khác nhau vào thẩm quyền của một Toà án là bất hợp lý, gây rất nhiều bất cập về tổ chức, cán bộ, trang bị, phương tiện cũng như thủ tục tố tụng. Điều đó cũng khó phù hợp với xu thế xây dựng Nhà nước pháp quyền là mở rộng phạm vi tài phán các tranh chấp trong xã hội. Vì vậy, theo chúng tôi cần tổ chức hai loại Toà án sơ thẩm: Toà án xét xử các vụ án nghiêm trọng, phức tạp và Toà án xét xử các vụ án ít nghiêm trọng, đơn giản, rõ ràng.Với thẩm quyền xét xử của Toà án hiện nay thì để Toà án cấp huyện và Toà án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm tạm thời là hợp lý. Tuy nhiên, nếu mở rộng phạm vi tài phán của Toà án, thì cần tổ chức lại hệ thống Toà án sơ thẩm 2 cấp (cấp thấp nhất ở từng quận, huyện, liên quận, huyện hoặc mỗi quận, huyện có nhiều Toà án; cấp cao hơn có thể ở từng tỉnh hoặc mỗi tỉnh, thành phố có một số Toà án) với đa số các vụ án được xét xử ở Toà án cấp thấp nhất. Đồng thời cần nghiên cứu quy định thủ tục xét xử sơ chung thẩm đối với một số loại án tại Toà án cấp thấp nhất để đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả của hoạt động xét xử mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến các nguyên tắc tố tụng, nhất là nguyên tắc hai cấp xét xử. Thứ ba, thành lập các Toà án phúc thẩm độc lập ở các vùng (giống như các Toà Thượng thẩm trước đây). Không nên coi Toà án phúc thẩm là Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao. Với chức năng phá án, tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và làm án lệ, không nên có một Toà án tối cao với hàng trăm thẩm phán như hiện nay. Các thẩm phán Toà án phúc thẩm không nên là thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Toà án nhân dân tối cao chỉ gồm 15 đến 17 thẩm phán và cấu thành Hội đồng (toàn thể) thẩm phán; tất cả các thẩm phán này đều tham gia vào các hoạt động nghiệp vụ của Toà án nhân dân tối cao. 5.2. Cải cách hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định tại hiến pháp năm 1992 và luật tổ chức viện kiểm sát 2002 thì hệ thống viện kiểm sát ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc hành chính lãnh thổ giống như hệ thống tòa án và thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp. Qua những năm thực hiện thì hệ thống viện kiểm sát cũng bộc lộ những bất cập làm hạn chế hiệu quả hoạt động cơ quan này. Vậy nên cần có những thay đổi mới, những thay đổi này theo chúng tôi nó cần phù hơp với hệ thống tòa án được tổ chức như trên. 5.3. Nâng cao năng lực của thẩm phán. Thẩm phán là người được giao nhiệm vụ thực hiện quyền xét xử, bảo vệ công lý của chế độ, thẩm phán cần có những tố chất phù hợp, năng lực của thẩm phán quyết định chất lượng xét xử cũng như đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc hai cấp xét xử nói riêng. Thứ nhất, cần thay đổi cơ chế tuyển chọn để bổ nhiệm cũng như nhiệm kỳ thẩm phán. Nếu chúng ta có một cơ chế tốt thì thẩm phán sẽ không phải bận tâm đến vấn đề làm thế nào để nhiệm kỳ sau không bị đưa ra khỏi danh sách bổ nhiệm tạo tâm lý an tâm cho họ làm việc. Thứ hai, nhiệm kỳ cũng có hướng nên cho nó dài ra, để tận dụng được tối đa kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm xét xử đã được tích lũy trong thời gian công tác của họ. Thứ ba, cần có chế độ lương bổng hợp lý, nâng cao đời sống của các thẩm phán để góp phần loại bỏ việc các thẩm phán cuốn vào các cám dỗ vật chất mà vi phạm pháp luật, làm oan, làm sai dẫn đến hiệu quả xét xử không cao, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào cơ quan nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật. 5.4. Nâng cao năng lực hội thẩm. Hội thẩm nhân dân cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương thích với tình hình thực tế xã hội. Việc bầu ra Hội thẩm nhân dân phải có những quy định chặt chẽ, tiêu chuẩn cụ thể hơn nữa để đảm yêu cầu về năng lực trình độ của hội thẩm. Đó phải là những người thực sự công tâm, không ngại va chạm và biết làm đúng vai trò hội thẩm của mình. Từ đó, chất lượng của công tác xét xử sẽ được nâng cao hơn và cũng từ đó mà đảm bảo được hiệu quả thực hiện của các nguyên tắc trong quá trình tố tụng hình sự. 5.5. Nâng cao năng lực của điều tra viên, kiểm sát viên. Thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự về tiêu chuẩn bổ nhiệm, miễn nhiệm điều tra viên đảm bảo sớm có sự thống nhất các tiêu chuẩn về học vấn, nghiệp vụ đối với các chức danh tư pháp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan điều tra. Các kiểm sát viên cũng phải chú trọng nâng cao trình chuyên môn, nghiệp vụ để tại phiên tòa không bị động, lung túng khi tranh tụng với luật sư và những người tham gia tố tụng khác, nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử. 5.6. Nâng cao năng lực của luật sư. Thực tế hiện nay cho thấy, các phiên tòa ở cấp huyện thường không thấy có mặt các luật sự, trừ trường hợp pháp luật yêu cầu phải có luật sư bào chữa cho bị can mà hầu hết luật sư thường có mặt tại các phiên tòa ở cấp tỉnh là chủ yếu. Điều đó cũng làm cho chất lượng tranh tụng tại các tòa án không cao, không đồng đều. Ngoài ra, năng lực của luật sư yếu kém cũng ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng tại tòa. Tất cả những điều đó gây ảnh hưởng đến việc tôn trọng các nguyên tắc tố tụng hình sự nói chung và nguyên tắc hai cấp xét xử nói riêng. Vì thế chúng ta cần chú trọng nâng cao vai trò của các luật sự trong quá trình tố tụng hình sự và nâng cao năng lực, trình độ của luật sư. III. KẾT LUẬN: Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử đã thể hiện nhiều ưu thế và có ý nghĩa vô cùng to lớn, làm tư tưởng chủ đạo trong quá trình xét xử các vụ án hình sự nhằm trừng phạt thích đáng người có tội cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khác có liên quan và thậm chí là bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Vì vậy, chúng ta cần phát huy hơn nữa, thực hiện thật tốt nguyên tắc này để nâng cao chất lượng xét xử tại các phiên tòa, tránh được tối đa việc xét xử oan sai, không bỏ lọt tội phạm...
Xem thêm

17 Đọc thêm

SỰ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM

SỰ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM

Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm Khái quát về Viện kiểm sát Viện kiểm sát Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tổ tụng thực hiện kiểm sát các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Viện kiểm sát chỉ kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án để đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Hệ thống tổ chức viện kiểm sát gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; các viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các viện kiểm sát quân sự (điều 30 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân). Trong đó, chỉ có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và các viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, thi hành án dân sự. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Viện kiểm sát do viện trưởng viện kiểm sát lãnh đạo. Viện trưởng viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của viện trưởng viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng viện kiểm sát địa phương, viện trưởng viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 8 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân). Nguyên tắc tổ chức, hoạt động đó của viện kiểm sát cũng được thực hiện trong tố tụng dân sự. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ việc dân sự của tòa án như kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải, xét xử, ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng và những người liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của tòa án theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật Tham gia các phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định của pháp luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cá nhân và tổ chức liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của tòa án; kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của tòa án, cơ quan thi hành án và những người có thẩm quyền trong việc giải quyết các khiếu nại phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự, giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền. Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 2 điều 21 BLTTDS, tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát phải cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với những vụ án do tòa thu nhập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Kiểm sát viên được viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa. Trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu. Trong trường hợp không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên có quyền hỏi đương sự sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự. Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình tại phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều 227 Khi hỏi người giám định, Kiểm sát viên có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ, hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án chỉ khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc hỏi tại phiên tòa và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, kiểm sát viên để quyết định giải quyết vụ án. Sau khi tuyên án xong, trong thời hạn 10 ngày, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp phúc thẩm. Phúc thẩm dân sự là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. . Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về kháng cáo. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. ( kháng nghị bảo đảm cho viện kiểm sát thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự. Viện trưởng viện kiểm sát kháng nghị bằng quyết định kháng nghị, được lập thành văn bản. Viện kiểm sát phải gửi kèm theo quyết định kháng nghị các tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho kháng nghị của viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đối với những trường hợp viện kiểm sát tham gia phiên tòa thì sau khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Thời hạn nghiên cứu hộ sơ của viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Hết thời hạn đó, viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho tòa án. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc đã tham gia phiên tòa sơ thẩm hoặc đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của tòa án phúc thẩm.Nếu kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa vắng mặt thì hoãn phiên tòa. Trong phần thủ tục hỏi tại phiên tòa, trong trường hợp chỉ có viện kiểm sát kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ. Trong phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, chỉ khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Giống với phiên tòa sơ thẩm, Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc hỏi tại phiên tòa và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, kiểm sát viên để quyết định giải quyết vụ án. Sau khi tuyên án xong, trong thời hạn 10 ngày, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu được Toà án cung cấp và xác minh thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Toà án, người có thẩm quyền là thiếu căn cứ, không đúng quy định của pháp luật, thì Viện kiểm sát kiến nghị với Toà án cùng cấp và Toà án cấp dưới khắc phục vi phạm pháp luật. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu hoặc có kiến nghị khắc phục vi phạm pháp luật đối với Toà án mà Toà án được yêu cầu, kiến nghị không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát, thì Viện kiểm sát kiến nghị với Toà án cấp trên. Đánh giá về vai trò của Viện kiểm sát trong việc tham gia hoạt động tố tụng tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị 1 số giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự Đánh giá: Vai trò của viện kiểm sát trong việc kiểm tra và giám sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự, trong tố tụng dân sự là rất quan trọng. Không ít trường hợp Viện kiểm sát đã phát hiện ra các vi phạm trong hoạt động giải quyết và xét xử vụ án dân sự, góp phần đem lại sự công bằng cho các đương sự. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, Viện kiểm sát chỉ giới hạn tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, việc tham gia phiên tòa của viện kiểm sát rất hạn chế, bộc lộ những bất cập.Trước hết, nó tạo ra tình trạng khép kín trong quá trình thu thập chứng cứ, hòa giải, xét xử của thẩm phán, nhiều vụ việc dân sự được giải quyết thiếu khách quan nhưng Viện kiểm không kịp thời phát hiện để kháng nghị dù tỉ lệ án bị hủy, sửa do có sai sót hằng năm không giảm. Bên cạnh đó, trong thực tế các vụ việc xảy ra gần đây cho thấy tòa có nhiều thiếu sót trong quá trình xét xử. Thực tế việc xét xử trong thời gian qua cho thấy, nhiều vụ việc giải quyết thiếu khách quan, vi phạm trong tố tụng, Viện kiểm sát không kịp thời kháng nghị theo thẩm quyền do không đủ thông tin. Khi dân biết và khiếu nại đến Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát mới rút đơn, hồ sơ xem xét kỹ lại thì có sai. Khi phát hiện sai sót mới kháng nghị làm mất thời gian, công sức và tiền của của công dân. Việc Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 bỏ thẩm quyền khởi tố (khởi kiện) của Viện kiểm sát đã thực sự tạo ra khoảng trống pháp luật vì không một cá nhân nào, không một cơ quan, tổ chức Nhà nước nào được giao nhiệm vụ này có thể thay thế hoặc rất khó có thể thay thế cho hoạt động này của Viện kiểm sát. Ví dụ: trước đây, khi chưa có Bộ luật Tố tụng Dân sự, hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã khởi tố hàng trăm vụ án dân sự, bảo vệ có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân, của những người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần… Từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 đến nay, vẫn chưa có một vụ án dân sự nào nhằm bảo vệ lợi ích chung được cơ quan, tổ chức Nhà nước khởi kiện, mặc dù đã có hàng trăm, hàng ngàn vụ việc dân sự xâm hại lợi ích công đã và đang xảy ra cần phải được xử lý. Đây là một thực tế đáng báo động. Chẳng hạn như trong lĩnh vực tiêu dùng, quyền lợi của hàng triệu người tiêu dùng bị xâm hại hàng ngày với chiều hướng diễn biến phức tạp. Không kể các vụ ngộ độc thực phẩm tại đám cưới, trường học, nhà hàng, các khu công nghiệp khiến hàng chục, thậm chí hàng trăm người phải cấp cứu, năm 2006 và năm 2007 đã xảy ra nhiều vụ xâm phạm quyền lợi của rất, rất nhiều người tiêu dùng mà vẫn thiếu thủ tục khiếu kiện dân sự có hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng như: Vụ xăng pha aceton làm hư hỏng động cơ; vụ sữa bột được ghi thành sữa tươi của một số nhà sản xuất sữa, nguy hại nhất là nước tương có chứa chất 3MPCD có khả năng gây ung thư, nước mắm gây ngộ độc do có chứa chất urê vượt quá nồng độ cho phép. Kiến nghị Với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước chuyên trách trong lĩnh vực tố tụng, mô hình Viện kiểm sát có điều kiện hơn và có ưu thế hơn các mô hình khác trong việc khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng. Ở khía cạnh khác, việc Viện kiểm sát cần phải tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước Việt Nam khi bị kiện là một vấn đề không thể không quan tâm. Hiện nay, cùng với quá trình đổi mới, sự tham gia của Nhà nước Việt Nam vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại trong nước cũng như ngoài nước như quan hệ công trái, vay mượn, mua sắm, thừa kế di sản, đầu tư trong nước và ngoài nước… do Chính phủ đại diện ngày càng thường xuyên và phát triển sâu rộng. Như một hệ quả tất yếu của sự phát triển, việc phát sinh và gia tăng những tranh chấp có tính chất dân sự trong đó Nhà nước Việt Nam là chủ thể bị kiện là điều không thể tránh khỏi. Vấn đề là cơ quan, tổ chức Nhà nước nào có thể thay mặt Nhà nước Việt Nam để tham gia tố tụng với tư cách bị đơn? Suy cho cùng, với những ưu thế sẵn có của cơ quan Nhà nước chuyên trách trong lĩnh vực tố tụng, Viện kiểm sát xứng đáng là một mô hình thích hợp nhất cho việc thực hiện thẩm quyền quan trọng này. Vì vậy, nên để Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự, lao động là thẩm quyền đã được quy định cho Viện công tố và Viện kiểm sát trong 34 năm từ năm 1950 đến năm 2004…) Mặc dù, dân sự là việc của đôi bên nhưng việc tự định đoạt của đôi bên hoặc khi đôi bên không tự thỏa thuận được mà phải do Tòa án giải quyết đều phải đúng với đường lối, chính sách và pháp luật, phù hợp với phong tục, truyền thống và đạo đức xã hội. Vì thế, việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ việc dân sự là tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, nhằm kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự. Do đó, cần khôi phục lại quy định Viện kiểm sát nhân dân tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp. Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ việc “Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố…”. Trong định hướng chuyển đổi từ mô hình Viện kiểm sát hiện có sang một mô hình mới là Viện công tố, cần tiếp tục khẳng định vai trò của Viện kiểm sát (cơ quan Công tố) trong tố tụng dân sự và tiếp tục coi đó như là một chức năng thuộc tính của mô hình Viện công tố (Viện kiểm sát) chuyển đổi ở nước ta. Cùng với việc thực hiện chức năng công tố, cơ quan Công tố nhân danh công quyền tham gia trong một số loại vụ việc dân sự liên quan đến trật tự pháp luật, lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội trên cơ sở bảo đảm và tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là phù hợp với truyền thống pháp lý, đặc điểm kinh tế – xã hội nước ta cũng như xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Dưới góc độ lịch sử và thực tiễn, nghiên cứu cơ quan Công tố Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy, tuy mức độ có khác nhau trong từng thời kỳ nhưng vai trò của cơ quan Công tố (Viện kiểm sát) trong việc giải quyết các vụ việc dân sự luôn được khẳng định, phát triển và phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội. Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự được đổi mới theo hướng: Viện kiểm sát vừa là cơ quan đại diện và bảo vệ luật pháp, vừa đại diện cho lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng. Từ cách đặt vấn đề như vậy, trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát sẽ đảm nhận vai trò kép và được thực hiện ở chỗ: Thứ nhất, đó là vai trò bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những cá nhân không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự vàhoặc không thể tự bảo vệ mình. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia tố tụng với tư cách tương tự như một bên đương sự; thứ hai, đó là vai trò đại diện và bảo vệ luật pháp trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia tố tụng với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng KẾT LUẬN Tóm lại, với qua việc phân tích sự tham gia tố tụng tại tòa án sơ thẩm, phúc thẩm của Viện kiểm sát và trình bày một số kiến nghị nêu trên, em hi vọng đã khái quát được phần vào về vai trò của viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự . Hi vọng Bộ luật Tố tụng dân sự sẽ sớm sửa đổi, mở rộng thêm vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự.
Xem thêm

9 Đọc thêm

CÁC PHƯƠNG THỨC DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

CÁC PHƯƠNG THỨC DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

Các phương thức dân sự bảo vệ quyền sở hữu Bài tập học kỳ Luật Dân sự 1 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1 A LỜI MỞ ĐẦU Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Mức độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Xuất phát từ vai trò chi phối của cơ sở kinh tế hạ tầng đối với pháp luật, BLDS ra đời khẳng định vị trí trung tâm của chế định “tài sản và quyền sở hữu”. Trước đây khi chưa có BLDS, vấn đề tài sản và quyền sở hữu được qui định trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Đất đai, Pháp lệnh hợp đồng dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, PLTK… Những qui định về quyền sở hữu trong các văn bản pháp luật này đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở định hướng cho các quan hệ kinh tế, các quan hệ dân sự. BLDS ra đời, chế định tài sản và quyền sở hữu đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở pháp lý cho các chế định khác trong Bộ luật cũng như các văn bản pháp luật khác về quan hệ tài sản. Bởi lẽ, quyền sở hữu là cơ sở, là mục đích của rất nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Vì thế, quyền sở hữu còn là tiền đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ đó. Mục đích cuối cùng của đa phần các hành vi dân sự và giao dịch dân sự là nhằm hướng tới xác lập hoặc chấm dứt quyền sở hữu của các chủ thể. Vì vậy, quyền sở hữu là nội dung hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự. Về mặt lý luận, quyền sở hữu là quyền tuyệt đối của các chủ thể trong Luật Dân sự, pháp luật luôn ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu thông qua các phương thức bảo vệ quyền sở hữu. B NỘI DUNG I. KHÁI NIỆM QUYỀN SỞ HỮU. 1. Khái niệm quyền sở hữu. Các quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan, khái niệm quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi pháp luật xác nhận quan hệ sở hữu tồn tại trong xã hội. Khác với sở hữu là một phạm trù kinh tế thì quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý. Khái niệm này chỉ xuất hiện khi Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về sở hữu. Lúc này trong xã hội có giai cấp, bản năng chiếm hữu của con người được Nhà nước quy định thành luật thích ứng với các thể chế của một xã hội nhất định. Như vậy, theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu là một phạm trù pháp lí phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ sở hữu trong một chế độ xã hội nhất định. Với chức năng thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005. Theo nghĩa chủ quan: được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Theo nghĩa này, quyền sở hữu chính là quyền năng dân sự của chủ thể đối với một tài sản cụ thể và xuất hiện trên cơ sở nội dung quy định của quy phạm pháp luật khách quan. Ngoài ra theo một phương tiện khác, quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Vì rằng, bản thân nó chính là hệ quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu). Vì vậy, theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật dân sự bất kì. 2. Các quyền năng của chủ sở hữu. 2.1. Quyền chiếm hữu. Luật dân sự Việt Nam xác định chiếm hữu là một quyền năng, là một trong ba bộ phận cấu thành quyền sở hữu. Điều 182 BLDS qui định: “Quyền sở hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”. Nắm giữ tài sản là việc người chiếm giữ vật trong phạm vi kiểm soát làm chủ và chi phối tài sản đó theo ý chí của mình, không bị hạn chế và gián đoạn về thời gian (Điều 184 BLDS). Ví dụ: cất tiền vào túi; quần áo, trang sức để vào tủ,… Trong chiếm hữu theo luật Việt Nam, xét dưới góc độ chủ thể chiếm hữu, có thể tồn tại hai khả năng: Người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản và người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu của tài sản. Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. 2.2. Quyền sử dụng. Điều 192 BLDS quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”. Nói một cách dễ hiểu thì quyền sử dụng là quyền khai thác những lợi ích mang lại từ tài sản. 2.3. Quyền định đoạt. Điều 195 BLDS định rõ: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản”. Việc định đoạt tài sản có thể định đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc bằng hành vi pháp lý (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…). người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác trong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (việc trưng mua, trưng thu tài sản theo quyết định của Nhà nước). Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó. II. CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. 1. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu. Quyền sở hữu là một trong các quyền cơ bản, quan trọng nhất của công dân, nên pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có những quy định để bảo vệ quyền sở hữu. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. Theo lý luận truyền thống của luật dân sự thì bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp trong khuôn khổ pháp luật tác động đến hành vi xử sự của con người, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu, khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu. Còn phương thức bảo vệ quyền sở hữu là cách thức mà Nhà nước và chủ sở hữu sử dụng để bảo vệ chủ sở hữu khỏi những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu, khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu. Quyền sở hữu được bảo vệ bằng các biện pháp hình sự, hành chính hay dân sự. Trong bài viết này, em xin đề cập đến bảo vệ quyền sở hữu bằng các biện pháp của dân sự. BLDS năm 2005 đã dành hẳn Chương XV (Phần thứ hai), bao gồm 7 điều từ Điều 255 đến Điều 261 để quy định về bảo vệ quyền sở hữu. Ngoài ra, quy định về bảo vệ quyền sở hữu còn nằm rải rác ở một số điều khác, theo đó, chủ sở hữu có quyền bảo vệ quyền sở hữu thông qua các phương thức sau: Tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu; Yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại; Yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại. 2. Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu. 2.1. Chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp. 2.1.1. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật. Khoản 2 Điều 255 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Như chúng ta đã biết, đặc trưng lớn nhất của quyền dân sự là nguyên tắc tự định đoạt. Theo BLDS thì chủ sở hữu có quyền tự thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của chính mình. Ví dụ: chủ sở hữu nhà ở xây tường bao xung quanh nhà của mình để bảo vệ nhà của mình khỏi bị xâm phạm từ bên ngoài, chủ vườn cây ăn quả rào vườn và thuê người bảo vệ, trông nom vườn cây của mình… Quyền của chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản của mình không phải là tuyệt đối, mà có giới hạn của nó. Giới hạn đó chính là “không được xâm phạm đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Các hành vi như: giăng dây điện quanh ao cá, vườn cây để chống trộm, làm hố chông quanh gốc cây ăn quả … dẫn đến làm người khác bị chết (kể cả kẻ trộm), đều bị coi là hành vi trái pháp luật, phải bồi thường thiệt hại và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Các hành vi tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp trong thực tế rất đa dạng. Hiệu quả của các biện pháp này đến đâu phụ thuộc vào chính khả năng của bản thân chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Vấn đề đặt ra là khi chủ sở hữu không có năng lực hành vi dân sự để có thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản, thì pháp luật dự liệu như thế nào? Cũng giống như Bộ luật dân sự các nước, BLDS đã có một cơ chế để xử lý vấn đề này, đó chính là chế định giám hộ. Theo Điều 65 BLDS, người giám hộ có nghĩa vụ: “1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ; 2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; 3. Quản lý tài sản của người được giám hộ; 4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”. Tất nhiên, bù lại, người giám hộ sẽ được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý, bảo vệ tài sản của người được giám. Nếu người giám hộ có hành vi vi phạm pháp luật (như lợi dụng việc giám hộ để chiếm đoạt tài sản của người được giám hộ), thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trong trường hợp này, việc giám hộ bị chấm dứt để thay thế bằng một quan hệ giám hộ mới, với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Một biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu rất có hiệu quả của chủ sở hữu là biện pháp đăng ký quyền sở hữu. Cơ sở pháp lý của quyền này là Điều 167 của BLDS. Tuy nhiên, để xác định những loại tài sản nào phải đăng ký thì không chỉ dựa vào Bộ luật dân sự mà còn dựa vào các văn bản pháp luật chuyên ngành (Bộ luật Hàng hải, Luật Đất đai, Luật Hàng không dân dụng…). Thông thường, tài sản đó là nhà ở, quyền sử dụng đất, ô tô, xe máy, tàu thuỷ, thuyền, máy bay… Việc đăng ký tài sản rất có ý nghĩa, vì trong các hợp đồng dân sự đòi hỏi phải đăng ký, nó là thời điểm hoàn tất việc chuyển giao quyền sở hữu, đồng thời là cũng là thời điểm để chủ sở hữu có quyền “đối kháng” với người thứ ba khi tài sản có tranh chấp. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng việc đăng ký tài sản ở Việt Nam hiện nay được thực hiện chưa nghiêm túc. Nguyên nhân là do thủ tục hành chính còn rườm rà, lệ phí cao so với mức sống trung bình của người dân, song nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa tốt. Đây là một thực tế gây rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có tranh chấp xảy ra. Trên thực tế, biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình là biện pháp diễn ra phổ biến nhất và cũng có hiệu quả nhất. Người Việt Nam có truyền thống “duy tình”, trường hợp kiện nhau ra Toà cũng không phải là “thói quen” như là một nét văn hoá hết sức bình thường ở các nước phương tây. Tuy nhiên, với sự phát triển của cơ chế thị trường, trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp bắt đầu có xu hướng tăng. Trong những trường hợp này, biện pháp tự bảo vệ xem ra không còn phát huy tác dụng, và chủ sở hữu phải sử dụng đến các biện pháp khác để có thể bảo vệ được quyền lợi của mình. 2.1.2. Chủ sở hữu yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại. Điều 259 BLDS: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó” và theo Điều 260 BLDS: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại”. Ví dụ 1: A là chủ sở hữu của một căn nhà. B là hàng xóm của A, trong khi đào móng làm nhà, đã đào sát tường nhà A, làm sụt và nứt tường của nhà A. Ví dụ 2: C là chủ sở hữu một căn nhà. D là hàng xóm của C đã để ống thoát nước mưa của nhà mình chảy dội sang nhà C, làm ngấm tường của nhà C. Trong một lần mưa to, lượng nước mưa chảy xuống nhiều đã làm hư hỏng bức tranh quý của nhà C treo trên tường. Các ví dụ trên xảy ra rất phổ biến trong thực tế. Trong các trường hợp trên, A và C với tư cách là chủ sở hữu có quyền gì đối với B và C không? Theo các quy định của BLDS Việt Nam, thì A và C, với tư cách là chủ sở hữu có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, có quyền yêu cầu B và C – những người có hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu của mình – phải chấm dứt hành vi vi phạm. Tức là A có quyền yêu cầu B phải ngừng việc đào móng sát tường nhà của mình để tìm biện pháp khác; C có quyền yêu cầu D phải dẫn nước thoát theo đường ống khác để nước không chảy và ngấm sang tường nhà mình. Tuy nhiên, tường nhà của A đã bị sụt và nứt, bức tranh quý của nhà C đã bị hư hỏng. A và C có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo cách thức và mức do hai bên thoả thuận. Đây chính là cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế thường thông qua con đường các bên “tự dàn xếp”. Như chúng tôi đã nói ở trên, xuất phát từ nguyên tắc tự định đoạt, nên các bên hoàn toàn có quyền tự bàn bạc, thu xếp với nhau mà không cần thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cơ chế này tỏ ra rất hữu hiệu trong rất nhiều trường hợp, vì nó có những lợi ích cơ bản sau đây: Thứ nhất, các bên không phải mất thời gian, chi phí để khởi kiện tại Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thứ hai, xét về mặt tình cảm, như chúng tôi đã nói ở trên, với truyền thống duy tình của người Việt Nam, thì phương thức tự dàn xếp này nếu thành công sẽ giữ gìn được mối quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa các bên, duy trì được tình làng nghĩa xóm; Thứ ba, nếu dàn xếp được, thì thông thường là các bên sẽ tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục và bồi thường thiệt hại, khỏi phải thông qua cơ chế thi hành bản án, quyết định dân sự một vấn đề rất nhức nhối hiện nay khi các bản án, quyết định dân sự còn tồn đọng, không được thi hành trên thực tế còn đang chiếm một tỷ lệ rất lớn; Thứ tư, có một thực tế ở Việt Nam hiện nay là nhiều vụ án hình sự (giết người, cố ý gây thương tích, cố ý huỷ hoại tài sản…) có nguồn gốc từ các tranh chấp dân sự. Nếu hoà giải thành thì có thể tránh được những trường hợp đau lòng, gây thiệt hại cho các bên đương sự và cho xã hội. Rõ ràng, cơ chế trên vừa đem lại lợi ích cho các bên cũng như cho Nhà nước. Nhận thức được những lợi ích này, Nhà nước ta đã thiết lập cả một thể chế, thiết chế về hoà giải. Về thể chế, đó là Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về thiết chế, đó là các Tổ hoà giải ở cơ sở (xóm, thôn, tổ dân phố) dưới sự quản lý và hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Ban Tư pháp xã phường và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Cũng cần phân biệt cơ chế hoà giải “tiền tố tụng” này với cơ chế hoà giải mang tính tố tụng do Toà án thực hiện sau khi thụ lý vụ kiện. Đây chính là một trong những điểm ưu việt của pháp luật Việt Nam, được các nhà tài trợ quốc tế đánh giá cao. Cũng giống như biện pháp chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, biện pháp tự dàn xếp này cũng có giới hạn của nó. Giới hạn đó cũng chính là “lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Các hành vi như tự ý tổ chức “cưỡng chế đòi nợ”, thoả thuận dàn xếp với nhau để vi phạm quyền lợi của người thứ ba… đều bị coi là hành vi trái pháp luật và bị xử lý (cả về mặt hình sự hoặc hành chính nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc vi phạm). Pháp lệnh hoà giải cũng quy định phạm vi hoà giải không bao gồm các vụ việc có dấu hiệu hình sự hoặc hành chính. Trong những trường hợp trên, việc chủ sở hữu thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu của mình đã vượt quá giới hạn cần thiết và do vậy, bị coi là bất hợp pháp. Cơ chế “tự dàn xếp” sẽ không phát huy tác dụng nếu bên vi phạm vẫn cố tình vi phạm mặc dù chủ sở hữu đã yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, các bên đương sự không thoả thuận được với nhau về cách thức, mức bồi thường thiệt hại… Trong các trường hợp này, chủ sở hữu nếu muốn thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu của mình, thì chỉ còn cách yêu cầu Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác can thiệp. 2.2. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại: Theo Điều 255BLDS: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Xét về mức độ can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ pháp luật, thì trong quan hệ pháp luật dân sự, sự can thiệp này ở mức độ thấp nhất, xuất phát từ chính bản thân quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ mang tính bình đẳng thoả thuận giữa các bên, Nhà nước chỉ can thiệp khi thật cần thiết. Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, mặc dù chủ sở hữu đã yêu cầu người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại, nhưng không đạt được kết quả như mong muốn, thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác – với tư cách là cơ quan công quyền – buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại. 2.2.1. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản: Phương thức kiện này được gọi phổ biến là kiện vật quyền (kiện đòi lại tài sản). Loại việc này diễn ra khá phổ biến tại các Toà án trong những năm vừa qua, đặc biệt là kiện đòi nhà, đất. Liên quan đến vấn đề này, Bộ luật dân sự đã quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Theo đó, trong mọi trường hợp, người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật, thì có nghĩa vụ hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó. Điều kiện để thực hiện biện pháp kiện vật quyền là: +Vật rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thông qua quan hệ hợp đồng. Ví dụ: bị mất, bị lấy cắp, bị cướp… +Người thực tế đang chiếm hữu, sử dụng tài sản là người chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật. +Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải chứng minh được vật đang bị chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật là vật thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Trên thực tế, để chứng minh được thì tài sản thường phải là vật đặc định. +Vật là đối tượng của việc kiện vẫn chưa bị xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Liên quan đến vấn đề thời hiệu, Điều 247 BLDS đã quy định rất rõ ràng: “1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó”. Vấn đề đặt ra là quan hệ pháp luật dân sự diễn ra trong thực tế rất sinh động, không phải trong trường hợp nào tài sản cũng chỉ rời khỏi chủ sở hữu sang người khác và dừng ở đó, mà có rất nhiều trường hợp người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật lại chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba. Vậy trong trường hợp này, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền đòi lại vật hay không? Liên quan đến vấn đề này, Điều 257 và 258 BLDS quy định: Điều 257: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Điều 258: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”. Qua hai điều luật trên có thể thấy BLDS nghiêng về trường phái bảo vệ quyền sở hữu một cách tuyệt đối. Người thứ ba dù ngay tình hay không ngay tình khi chiếm hữu vật do người chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã chuyển giao cho mình, thì trong mọi trường hợp, khi bị chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp kiện vật quyền, đều phải có nghĩa vụ hoàn trả tài sản (tất nhiên trừ trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu). Trong Bộ luật dân sự Việt Nam, có thể thấy quyền đòi lại vật của chủ sở hữu là rất mạnh. Trên cơ sở các quy định này, chủ sở hữu có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình phải trả lại tài sản đó, cho dù người thứ ba là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Tất nhiên, phương thức hoàn trả sẽ có sự khác nhau: nếu là không ngay tình thì người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; còn nếu là ngay tình, thì chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 606 BLDS). Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ chi phí ra để làm tăng giá trị của tài sản, thì sẽ được thanh toán những chi phí đó khi họ phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu. Có thể thấy rằng việc pháp luật quy định người thứ ba ngay tình phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp sẽ là một bất lợi lớn đối với họ trong rất nhiều trường hợp. Nếu đó là tài sản mà người này đã đầu tư vào kinh doanh (ví dụ máy móc, trang thiết bị kỹ thuật…), thì khi phải trả lại, họ sẽ phải chịu những xáo trộn nhất định trong công việc của mình. Hoặc nếu đó là những tài sản quý hiếm (tranh quý, đồ mỹ nghệ, đồ trang sức…) mà họ đã bỏ tiền ra mua để sưu tập, làm kỷ niệm… nay dù không muốn trả lại thì họ vẫn buộc phải trả lại nếu chủ sở hữu có yêu cầu đòi lại tài sản. Tóm lại là dù không muốn trả lại tài sản vì lý do nào đó, nhưng khi bị chủ sở hữu kiện đòi tài sản, thì người thứ ba ngay tình vẫn phải trả lại tài sản. Rồi để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ lại phải đeo đuổi một vụ kiện khác: kiện người đã giao tài sản cho mình phải bồi thường thiệt hại, mà điều này cũng không phải là dễ dàng nhất là trong trường hợp tài sản đã qua tay nhiều người. 2.2.2. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu: Xét về mặt khoa học luật, người ta thường gọi đây là phương thức kiện buộc chấm dứt hành vi. Trở lại ví dụ đã dẫn ở phần trên (2.2): A là chủ sở hữu căn nhà mình đang ở. B là hàng xóm của A. Trong lúc đào móng làm nhà, do không tuân thủ quy trình, quy phạm kỹ thuật xây dựng, B đã đào móng sát tường của nhà A và đã làm tường nhà A sụt, nứt một đoạn. A đã yêu cầu B chấm dứt việc đào móng nhà để hai bên bàn bạc cách giải quyết, nhưng B vẫn tiếp tục đào móng làm nhà và hậu quả là tường nhà A tiếp tục bị sụt, nứt ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống bình thường trong gia đình. Trong trường hợp này, theo quy định của BLDS, A có quyền làm đơn gửi đến Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh)2 để đề nghị các cơ quan này can thiệp. Theo pháp luật hiện hành thì cần phân biệt 02 trường hợp: Nếu A gửi đơn yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết, thì Toà án sẽ áp dụng thủ tục tố tụng dân sự (theo Bộ luật tố tụng dân sự) để giải quyết. Trong trường hợp này, theo yêu cầu của A và xét thấy có đủ các điều kiện cần thiết, Toà án sẽ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để buộc B ngừng việc xây dựng nhằm đảm bảo quyền lợi cho A. Sau khi có phán quyết của Toà án đã có hiệu lực pháp luật về việc buộc B chấm dứt hành vi đào móng sát tường nhà của A, nếu B không tự nguyện thi hành, thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ buộc B phải thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án. Nếu A gửi đơn yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết, thì Uỷ ban nhân dân sẽ áp dụng các quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính để giải quyết. Theo Pháp lệnh này cũng có cơ chế áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính bằng cách buộc B chấm dứt hành vi đào móng sát tường của nhà A. Trong thực tế, các tranh chấp có đối tượng là hành vi trái pháp luật như trên chủ yếu liên quan đến bất động sản. Một ví dụ nữa cũng rất điển hình là hành vi xây tường bao hoặc tường rào chắn lối đi của nhà hàng xóm. Qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp dạng này tại Toà án hoặc Uỷ ban nhân dân các cấp, có thể rút ra một số nhận xét sau: Hành vi là đối tượng của việc kiện phải là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật ở đây được hiểu không chỉ là trái với các quy định của Bộ luật dân sự, mà còn trái với quy định của các văn bản pháp luật khác (như đất đai, xây dựng…). Đặc điểm chung của các hành vi này là cản trở chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp thực hiện những quyền năng của mình trong khuôn khổ pháp luật. Trên thực tế, loại việc này thường liên quan đến bất động sản liền kề như nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất, lối đi chung… 2.2.3. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải bồi thường thiệt hại: Phương thức này còn được gọi là kiện trái quyền. Điều 260 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại”. Ngoài chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, người thứ ba ngay tình cũng có quyền khởi kiện yêu cầu người đã xác lập giao dịch với mình phải bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền), nếu tài sản bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc trả lại cho người có quyền nhận tài sản đó. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định khá rộng và phức tạp. Trong phạm vi bài viết này này, em chỉ xem xét vấn đề dưới góc độ như là một biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, mà không đi sâu phân tích các quy định chi tiết (như năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, xác định thiệt hại, bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể…). Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản phát sinh từ hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, pháp nhân như làm mất, phá huỷ, huỷ hoại tài sản… Ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại về tài sản là một mặt, nhằm khôi phục những thiệt hại về vật chất mà người gây thiệt hại đã gây ra cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp; mặt khác, giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu cũng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, do đó, về nguyên tắc, nó chỉ phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: +Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; +Có thiệt hại thực tế xảy ra; +Có lỗi của người gây thiệt hại; +Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra5. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là phải toàn bộ, kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật, hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình. Về cơ bản, các quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại đối với tài sản được đánh giá là tương đối hoàn thiện và đã phát huy tác dụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật. 3. Thực tiễn trong giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tại Tòa án. Trong số các vụ tranh chấp về dân sự thì chủ yếu là các tranh chấp liên quan đến tài sản và quyền sở hữu. Trong điều kiện án lệ vẫn chưa được thừa nhận là một nguồn của pháp luật, thì việc vận dụng các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan để giải quyết các tranh chấp thuộc loại này đã phát sinh những khó khăn nhất định. Dưới đây, xin đơn cử một số trường hợp điển hình. 3.1. Một số vụ việc: Vụ thứ nhất: Vụ kiện giữa nguyên đơn: anh Nguyễn Ngọc Quang, sinh năm 1961 Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1942. Gia đình anh Nguyễn Ngọc Quang ở thửa đất tại xóm Núi, xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1987 đến năm 1991. Do nhu cầu về lối đi nên anh Quang đã xin địa phương cho phép mở lối đi ra đường mới liên thôn. Năm 1995, ông Hải mua quyền sử dụng đất của bà Lan là hàng xóm của anh Quang và xây nhà cho con trai là Hà ra ở. Ông Hải đã đi vào lối đi mà anh Quang đã đi từ trước. Đến tháng 22000, anh Quang cải tạo lại ngõ và không cho ông Hải đi nhờ nữa, từ đó hai bên xảy ra xô xát, bất hoà. Anh Quang cho rằng lối đi này là của riêng gia đình anh vì đã được chính quyền địa phương công nhận và đã được cấp sổ bìa đỏ từ năm 1998. Còn ông Hải thì cho rằng trong quyết định giao đất cho ông đã ghi rõ phía bắc giáp ngõ nên gia đình ông cứ đi. Anh Quang khởi kiện vụ án. Tại án dân sự sơ thẩm số 35 ngày 20102000, Toà án nhân dân huyện Từ Sơn đã quyết định: xác nhận phần đất làm lối đi là đối tượng của tranh chấp có diện tích 60,3 m2 là thuộc quyền sử dụng của anh Quang. Ông Hải không đồng ý với bản án sơ thẩm và đã kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm dân sự số 90 ngày 15122000, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định y án sơ thẩm. Án có hiệu lực pháp luật, nhưng gia đình ông Hải không nghiêm túc thực hiện mà thường xuyên có hành vi cản trở anh Quang thực hiện quyền của mình. Ngày 612001, anh Quang xây tường trên phần lối đi cũ, ông Hải cùng các con xông ra ngăn cản, tháo dỡ, chửi bới nên anh Quang không xây dựng được. Đến ngày 2632001, Đội thi hành án Từ Sơn ra quyết định cưỡng chế thi hành án đối với gia đình ông Hải, nên ngày 2932001, gia đình anh Quang mới xây dựng được tường ngăn cao 2m. Như đã trình bày ở phần trên, trên thực tế loại việc này thường liên quan đến bất động sản liền kề như nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất, lối đi chung. Trong vụ kiện trên, sở dĩ anh Quang thắng kiện là vì anh đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ). Trong đa số các trường hợp tranh chấp thường bên nguyên đơn không chứng minh được nguồn gốc đất mà mình đang sử dụng vì không có bìa đỏ và các giấy tờ cần thiết khác. Vụ thứ hai: Vụ kiện đòi nhà giữa ông An và ông Quân tại tỉnh Tiền Giang. Vụ án có nội dung cụ thể như sau: Ngôi nhà tại ấp 4, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được toạ lạc trên tổng diện tích 86,12 m2 nguyên thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Văn Quân (diện tích này ông B chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vào năm 1978, ông Quân cho ông Huỳnh Văn An mượn nền nhà và đất trên để ở tạm. Nay có nhu cầu sử dụng, ông Quân yêu cầu ông An phải trả nền nhà và đất mà ông đã cho mượn năm 1978, nhưng ông An không thực hiện. Sau khi thụ lý và điều tra vụ việc, Toà án nhân dân huyện Cái Bè đã đưa vụ án ra xét xử và đã ra phán quyết (bản án số 129STDS ngày 2281996) với nội dung: buộc ông An phải trả cho ông Quân toàn bộ nền nhà trên diện tích đất 86,12m2. Ông Quân có trách nhiệm thanh toán lại cho ông An tiền chi phí nâng cấp nền nhà, lấp ao, xây dựng… với tổng số tiền là 3.152.920 đồng. Ông An không đồng ý với bản án sơ thẩm và kháng cáo. Tại bản án số 159DSPT ngày 2751997, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định: bác yêu cầu đòi nền nhà của ông Quân và cho rằng không có căn cứ hợp pháp (quyết định khác hẳn án sơ thẩm). Sau khi có bản án phúc thẩm nói trên, ông Quân đã gửi đơn khiếu nại lên Toà án nhân dân tối cao. Sau khi xem xét lại toàn bộ vụ kiện, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Tại bản án giám đốc thẩm số 413 ngày 2491997, Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: chấp nhận kháng nghị và xử huỷ án phúc thẩm, giữa nguyên quyết định của án sơ thẩm. Sau khi có bản án giám đốc thẩm, ông An lại có đơn khiếu nại lên Chánh án Toà án nhân dân tối cao vì ông An cho rằng án giám đốc thẩm là thiếu khách quan, không bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của ông. Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã có văn bản trả lời bản án giám đốc thẩm của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao là có căn cứ và đúng pháp luật. Qua vụ việc trên có thể thấy, bản án sơ thẩm và giám đốc thẩm chỉ chấp nhận quyền sở hữu đối với nền nhà. Nền nhà là phần có liên quan đến nguyên vật liệu có thể được công nhận quyền sở hữu. Đối với quyền sử dụng đất, do ông Quân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên các bản án không đề cập đến. Đặc trưng của bất động sản là “không di dời được”, nên các bản án chỉ quyết định quyền sở hữu nền nhà trên một khuôn viên đất. Còn quyền sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận hợp pháp nên không được Toà án đề cập đến. Quyết định như vậy là hợp lý, một mặt bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, mặt khác tránh được sự lợi dụng khi giải quyết tranh chấp hiện nay nhằm hợp pháp hoá quyền sử dụng đất chưa có giấy tờ hợp pháp. Vụ thứ ba: Ngày 271994, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang (NHNNPTNT tỉnh Bắc Giang) – Chi nhánh liên xã số 3, lập khế ước cho anh Nguyễn Minh Hồng, ở thị xã Bắc Giang, vay số tiền 9000.000 đồng, thời hạn 01 năm, tài sản thế chấp là toàn bộ căn nhà và đất của anh Hồng và vợ là chị Vũ Thị Đoàn. Sau đó, phía Ngân hàng gia hạn cho anh Hồng trong khế ước, thời điểm thanh toán nợ là 271997. Đến thời hạn, anh Hồng không thanh toán được nợ và lãi phát sinh. Năm 1999, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Hồng, chị Đoàn phải thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, tiến hành các thủ tục về việc thế chấp tài sản để vay vốn, anh Hồng đã thế chấp toàn bộ nhà đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Theo quy định thì tài sản thế chấp thuộc sở hữu chung của nhiều người hoặc sở hữu chung của hộ gia đình thì phải được cam kết bằng văn bản của những đồng sở hữu hoặc của những thành viên đồng sở hữu trong hộ gia đình, đồng ý giao cho người đại diện vay vốn và ký hợp đồng thế chấp tài sản. Trong trường hợp vụ kiện cụ thể này, tài sản thế chấp thuộc sở hữu của chung của anh Hồng, chị Đoàn. Khi thế chấp, phía Ngân hàng không yêu cầu anh Hồng phải lấy ý kiến đồng ý của đồng sở hữu, dẫn đến việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi vốn gặp rất nhiều khó khăn. Khi giải quyết vụ án, cơ quan Toà án phải mất nhiều thời gian để điều tra, xác minh để xác định việc anh Hồng vay vốn của Ngân hàng và thế chấp tài sản thì chị Đoàn đều biết và không có ý kiến phản đối. Số tiền vay được cũng được sử dụng vào mục đích chung của gia đình. Từ đó Toà án mới ra phán quyết: buộc anh Hồng và chị Đoàn cùng có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi phát sinh cho NHNNPTNT tỉnh Bắc Giang. 3.2. Một số nhận xét: Trên đây là một số ví dụ điển hình. Trong thực tế tranh chấp về quyền sở hữu là hết sức phức tạp. có nhiều vụ phải xử đi xử lại đến hàng chục lần, nhiều người phải mất hơn chục năm trời ôm đơn đi khiếu kiện tại Toà án nhân dân từ địa phương lên trung ương. Trong việc giải quyết các tranh chấp thuộc loại này, Toà án thường gặp một số khó khăn vướng mắc sau: Thứ nhất, nhiều quy định của pháp luật còn thiếu hoặc chưa rõ ràng nên rất khó vận dụng, đặc biệt là các văn bản pháp luật về đất đai và nhà ở, nên mỗi địa phương vận dụng một kiểu. Thứ hai, vấn đề xác minh nguồn gốc tài sản, đặc biệt là nhà, đất ở Việt Nam hiện nay rất khó, nguyên nhân là tình trạng đất không có bìa đỏ, nhà không có giấy chứng nhận quyền sở hữu đang khá phổ biến. Qua đây chúng tôi muốn nói rằng tình hình triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian qua rất chậm, gây không ít khó khăn cho các bên đương sự và Toà án các cấp trong việc xác định, đánh giá chứng cứ để giải quyết các tranh chấp có liên quan; Thứ ba, vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi ly hôn gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do phong tục tập quán ở Việt Nam quan niệm hôn nhân là việc rất đặc thù, không phải là quan hệ dân sự nên không có chuyện hai bên nam nữ kê khai tài sản chung, tài sản riêng, tài sản có trước hay có sau thời kỳ hôn nhân… Nhưng khi ly hôn, có tranh chấp phát sinh về tài sản, thì các bên thường không đưa ra được chứng cứ để chứng minh tài sản của mình, nhất là trường hợp vợ chồng lại ở chung với cha mẹ (cha mẹ chồng hạc cha mẹ vợ). Trong nhiều trường hợp, Toà án gặp rất nhiều vướng mắc trong việc xác định tài sản và nhiều khi phán quyết của Toà án chưa thực sự bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các bên. Thực tế cho thấy người bị thua thiệt thường là người vợ. Thứ tư là vấn đề xác định nguồn gốc tài sản là động sản. Như chúng tôi đã nói ở trên, có một tình trạng thực tế ở Việt Nam hiện nay là có những tài sản đã bị chuyển dịch một cách bất hợp pháp qua tay nhiều người, rất khó xác định được cụ thể đã qua tay những ai. Điển hình là việc mua bán xe máy trao tay không qua thủ tục sang tên trước bạ diễn ra khá phổ biến. Khi có tranh chấp, các bên đương sự và toà án các cấp gặp rất nhiều khó khăn để xác minh nguồn gốc của tài sản (có trường hợp một chiếc xe máy đã bị mua đi bán lại hàng chục lần nhưng không qua thủ tục sang tên trước bạ). Tóm lại, trong số các khó khăn vướng mắc trên, có nguyên nhân xuất phát từ quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn, có nguyên nhân xuất phát từ cơ chế thi hành pháp luật còn kém hiệu quả. III. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ. Qua các phân tích ở trên có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định về bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự như sau: 1. Nên cụ thể hoá hơn quy định về bảo vệ quyền chiếm hữu: Rõ ràng, việc coi chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu kéo theo sự đồng nhất giữa bảo vệ quyền sở hữu và bảo vệ quyền chiếm hữu trong Bộ luật dân sự hiện hành của chúng ta trong thời gian qua đã tỏ ra bất cập. Chế định pháp luật này vô hình trung đã đặt lên vai người đi kiện (nguyên đơn) nghĩa vụ rất nặng nề là họ phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản tranh chấp, trong điều kiện nước ta hiện nay việc này không hề đơn giản, nhất là đối với bất động sản (nhà, đất) không có giấy tờ chứng nhận mà trong đa số trường hợp, lỗi không phải do người dân mà do chính cơ quan hành chính Nhà nước triển khai chậm). Chính vì tình trạng cung cấp, xác minh, đánh giá chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn mà thời hạn tố tụng bị kéo dài, dẫn đến số lượng án tồn đọng ngày càng tăng, nhiều bản án thiếu khách quan vì không phản ánh đúng bản chất của vụ việc, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảo đảm. Như vậy, kể cả trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, thì pháp luật vẫn cần phải bảo vệ quyền lợi của họ. Ví dụ: A là chủ sở hữu chiếc xe máy. B ăn trộm chiếc xe và bán cho C (C biết rõ chiếc xe là của ăn cắp nhưng vẫn mua). C dùng chiếc xe máy này để đi, rồi lại bị D ăn cắp. Trong ví dụ trên, thì C vẫn có quyền kiện D phải trả lại xe cho mình (tất nhiên là C phải có đầy đủ chứng cứ). Tóm lại là pháp luật cần công nhận tình trạng chiếm hữu trước đã, còn việc xác định ai là chủ sở hữu đích thực thì giải quyết trong một vụ kiện khác nếu các bên có yêu cầu. Quy định này rất có tác dụng trong việc bảo vệ sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự trong điều kiện kinh tế thị trường. Đây cũng là cách xử lý trong Bộ luật dân sự của nhiều nước trên thế giới. 2. Cần có biện pháp bảo vệ người thứ ba ngay tình mạnh mẽ hơn. Cho rằng một mặt, vẫn phải bảo vệ chủ sở hữu, nhưng mặt khác cũng phải bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình nhằm đảm bảo sự ổn định của các quan hệ dân sự tránh gây nhiều xáo trộn, đồng thời nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nên chăng cần tham khảo quy định của pháp luật các nước điển hình trên thế giới: trong trường hợp tài sản bị chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh mất hoặc bị lấy cắp, thì có quyền đòi lại vật từ người chiếm hữu ngay tình trong một thời hạn nhất định (có thể cân nhắc quy định từ 23 năm kể từ ngày mất), nhưng người này có quyền kiện lại người đã chuyển giao vật cho mình bồi thường thiệt hại. 3. Hoàn thiện pháp luật và thiết chế đăng ký tài sản: Việc đăng ký tài sản rất quan trọng, một mặt là cơ sở để chủ sở hữu bảo vệ quyền lợi của mình và đối kháng với người thứ ba khi có tranh chấp phát sinh; mặt khác tạo điều kiện rất thuận lợi cho Toà án trong việc xác định chứng cứ để xét xử các tranh chấp. Bộ luật dân sự cần đưa ra những nguyên tắc chung về đăng kÝ tài sản, giá trị pháp lý của việc đăng ký… Sau đó, cần ban hành Luật về đăng ký tài sản (hoặc nếu chưa có điều kiện thì trước mắt cần ban hành Luật về đăng ký bất động sản), nhằm pháp điển hoá các quy định về đăng ký tài sản còn đang nằm rải rác ở các văn bản pháp luật chuyên ngành. Hệ thống cơ quan đăng ký tài sản cũng phải được tổ chức và hoạt động có hiệu quả, phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và làm sao phải tạo thuận lợi nhất cho người dân. 4. Nâng cao hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực tiễn: Như đã trình bày ở trên, xuất phát từ đặc trưng của bản thân quan hệ pháp luật dân sự, mà mỗi công dân, pháp nhân cần phải tự mình có những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu sao cho có hiệu quả nhất và tất nhiên là phải trong khuôn khổ của pháp luật. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, thì các bên cần tận dụng tối đa cơ chế hoà giải, dàn xếp với nhau vì cơ chế này có những lợi ích như đã trình bày ở trên, đặc biệt trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay. Cần tăng cường công tác phổ biến giáo dục các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu đến người dân, đồng thời hoàn thiện và tăng cường năng lực hoạt động của các thiết chế (Toà án, trọng tài, thi hành án, luật sư, công chứng…) nhằm bảo đảm cho các quy định về bảo vệ quyền sở hữu thực sự đi vào cuộc sống. Đây là những vấn đề rất lớn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu chuyên sâu và đặc biệt là phải có sự quan tâm của Nhà nước theo lộ trình cụ thể để làm sao thực sự nâng cao được hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực tiễn. C KẾT LUẬN Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong thực tiễn. Nhưng thực tiễn thì luôn thay đổi. Vì vậy có những quan hệ phát sinh trong xã hội mà pháp luật chưa điều chỉnh đến hoặc đã có điều chỉnh đến nhưng các quan hệ xã hội đã thay đổi nên các quy phạm pháp luật đó đã không còn phù hợp nữa. Đó là sự đa dạng của thực tiễn. Qua sự phân tích trên có thể nhận thấy rằng, quan hệ sở hữu trong đó có quyền sở hữu của con người vẫn thường xuyên bị xâm phạm và điều này diễn ra rất đa dạng, phong phú. Để giải quyết các vụ việc tranh chấp phát sinh liên quan đến quyền sở hữu là một vấn đề khá nan giải trong xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay. Nó không chỉ đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật mà còn đòi hỏi ở sự tự giác, sự ý thức của mỗi người trong xã hội. Việc hoàn thiện pháp luật đặc biệt là pháp luật dân sự đang là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà làm luật của Việt Nam. Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng, những quy định về các phương thức bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005 đã góp phần đem lại sự công bằng trong xã hội, quyền sở hữu của cá nhân được bảo vệ tốt hơn và tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho việc giải quyết các vụ việc phát sinh trong xã hội có liên quan đến quyền sở hữu.
Xem thêm

31 Đọc thêm

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015

BỐ CỤC CỦA BỘ LUẬT BLTTHS gồm 9 phần, 36 chương và 510 điều (tăng 154 điều, bổ sung 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều); tách chương quyết định truy tố khỏi phần khởi tố, điều tra vụ án hình sự để thành một phần độc lập (Phần thứ ba: Truy tố); ghép phần xét xử sơ thẩm và phần xét xử phúc thẩm điều chỉnh trong một phần (Phần thứ tư: xét xử vụ án hình sự), cụ thể như sau: Phần thứ nhất: Những quy định chung, gồm 08 chương, 142 điều (Điều 1Điều 142) Chương I: Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS: gồm 06 điều (Điều 1Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS; phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội…; Chương II: Những nguyên tắc cơ bản: gồm 27 điều (Điều 7Điều 33) quy định những nguyên tắc áp dụng trong tố tụng hình sự như suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật…; Chương III: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: gồm 21 điều (Điều 34Điều 54) quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra… Chương IV: Người tham gia tố tụng: gồm 17 điều (Điều 55Điều 71) quy định quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng… Chương V: Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: gồm 13 điều (Điều 72Điều 84) quy định về người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa… Chương VI: Chứng minh và chứng cứ: gồm 24 điều (Điều 85Điều 108) quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự; chứng cứ; nguồn chứng cứ… Chương VII: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: gồm 02 mục, 22 điều (Điều 109Điều 130) quy định về các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế; hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản… Chương VIII: Hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng: gồm 12 điều (Điều 131Điều 142) quy định hồ sơ vụ án; văn bản tố tụng; chi phí tố tụng… Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự, gồm 09 chương, 93 điều (Điều 143Điều 235) Chương IX: Khởi tố vụ án hình sự: gồm 20 điều (Điều 143Điều 162) quy định căn cứ khởi tố vụ án hình sự; tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm… Chương X: Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự: gồm 16 điều (Điều 163Điều 178) quy định về thẩm quyền điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong một số hoạt động điều tra; thời hạn điều tra… Chương XI: Khởi tố bị can và hỏi cung bị can: gồm 06 điều (Điều 179Điều 184) quy định về khởi tố bị can; thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; triệu tập, hỏi cung bị can… Chương XII: Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng: gồm 07 điều (Điều 185Điều 191) quy định về triệu tập, lấy lời khai người làm chứng; đối chất; nhận dạng; nhận biết giọng nói… Chương XIII: Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: gồm 09 điều (Điều 192Điều 200) quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét; khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện… Chương XIV: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra: gồm 04 điều (Điều 201Điều 204) quy định về khám nghiệm hiện trường, tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra. Chương XV: Giám định và định giá tài sản: gồm 18 điều (Điều 205Điều 222) quy định về trưng cầu giám định; yêu cầu giám định; thời hạn giám định; tiến hành giám định; định giá tài sản… Chương XVI: Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: gồm 06 điều (Điều 223 Điều 228) quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; trường hợp áp dụng các biện pháp này; thẩm quyền áp dụng; thời hạn áp dụng… Chương XVII: Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra: gồm 07 điều (Điều 229Điều 235) quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ, kết thúc điều tra; truy nã bị can… Phần thứ ba: Truy tố, gồm 02 chương, 14 điều (Điều 236Điều 249) Chương XVIII: Những quy định chung: gồm 07 điều (Điều 236Điều 242) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát trong giai đoạn truy tố; thẩm quyền truy tố… Chương XIX: Quyết định việc truy tố bị can: gồm 07 điều (Điều 243Điều 249) quy định về quyết định truy tố bị can; trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án… Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự, gồm 03 chương, 113 điều (Điều 250 Điều 362) Chương XX: Những quy định chung: gồm 18 điều (Điều 250Điều 267) quy định về xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục; tạm ngừng phiên tòa; thành phần Hội đồng xét xử; nội quy, biên bản phiên tòa; bản án… Chương XXI: Xét xử sơ thẩm: gồm 06 mục, 62 điều (Điều 268Điều 329). bao gồm: Thẩm quyền của tòa án các cấp; chuẩn bị xét xử; thủ tục tố tụng tại phiên tòa... Chương XXII. Xét xử phúc thẩm: gồm 02 mục, 33 điều (Điều 330Điều 362) bao gồm: Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị; Thủ tục xét xử phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm; thủ tục phiên tòa phúc thẩm… Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án, gồm 02 chương, 07 điều (Điều 363Điều 369) Chương XXIII: Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án: gồm 04 điều (Điều 363Điều 366) quy định về bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay; thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án; giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án; và giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án. Chương XXIV: Một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích: gồm 03 điều (Điều 367Điều 369). Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, gồm 03 chương, 43 điều (Điều 370Điều 412) Chương XXV. Thủ tục giám đốc thẩm: gồm 27 điều (Điều 370Điều 396) quy định về tính chất của giám đốc thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thẩm quyền, phạm vi giám đốc thẩm; quyết định giám đốc thẩm… Chương XXVI: Thủ tục tái thẩm: gồm 07 điều (Điều 397Điều 403) quy định về tính chất của tái thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm; các thủ tục khác về tái thẩm… Chương XXVII. Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao: gồm 09 điều (Điều 404Điều 412) quy định về yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị; thủ tục mở phiên họp; thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật… Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt, gồm 07 chương, 78 điều (Điều 413Điều 490) Chương XXVIII: Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi: gồm 18 điều (Điều 413Điều 430) quy định về phạm vi áp dụng; nguyên tắc tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng; xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức; bào chữa; xét xử; xóa án tích; trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giao dục tại trường giáo dưỡng… Chương XXIX: Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân: gồm 16 điều (Điều 431Điều 446) quy định phạm vi áp dụng; quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; thẩm quyền và thủ tục xét xử, thi hành án đối với pháp nhân… Chương XXX: Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh: gồm 08 điều (Điều 447Điều 454) quy định về điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; điều tra đối với người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra; quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố; quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử; đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh… Chương XXXI: Thủ tục rút gọn: gồm 11 điều (Điều 455Điều 465) quy định về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn; điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; điều tra, phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục rút gọn… Chương XXXII: Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự: gồm 03 điều (Điều 466Điều 468) quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa; và hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt. Chương XXXIII: Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự: gồm 15 điều (Điều 469Điều 483) quy định về người có quyền khiếu nại; thời hiệu khiếu nại; quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo; thẩm quyền, thời hạn giải quyết; người có quyền tố cáo… Chương XXXIV. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác: gồm 07 điều (Điều 484Điều 490) quy định về người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ… Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế, gồm 02 chương, 18 điều (Điều 491Điều 508):
Xem thêm

60 Đọc thêm

BÁO cáo THỰC tập THỰC tế VẤN ĐỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ VẤN ĐỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Theo kế hoạch của nhà trường ngày 1122015 em được nhà trường phân công về về thực tập tại tòa án nhân dân huyện A, tại đây em được giao thực hiện những nhiệm vụ sau; Thực tập quan sát những công việc tiến hành sau phiên tòa sơ thẩm dân sự; Quan sát điều khiển phần tranh luận phiên tòa của Thẩm phán, các trình tự, thủ tục diễn ra tại phiên Tòa.

13 Đọc thêm

THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ ÁP DỤNG TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯƠNG SỰ VẮNG MẶT Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM KHI GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ ÁP DỤNG TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯƠNG SỰ VẮNG MẶT Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM KHI GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Dân sự Bài tập học kỳ Tố tụng Dân sự Thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện. Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự. 1. Một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Thứ nhất, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 199 BLTTDS năm 2011 thì: Trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó. Tuy nhiên, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật này lại quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng”. Quy định này đã không tính đến một trường hợp ngoại lệ là: Nếu trong vụ án này bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà những người này đều có mặt khi được triệu tập hợp lệ và vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình thì trong trường hợp này, Tòa án có tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn để xét yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không? Đây là vấn đề pháp luật tố tụng dân sự chưa có quy định và cũng chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Thứ hai, điểm a khoản 2 Điều 199 BLTTDS năm 2011 đã lường được trường hợp vụ án có yêu cầu độc lập hoặc yêu cầu phản tố nên đã quy định trong trường hợp này Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nhưng quy định này cũng chưa chính xác ở chỗ: không thể sử dụng thuật ngữ “đình chỉ giải quyết vụ án” được vì đình chỉ giải quyết vụ án là không xem xét, giải quyết bất cứ yêu cầu nào nữa. Trong một vụ án có nhiều yêu cầu thì chỉ được đình chỉ giải quyết yêu cầu đó chứ không thể đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu được. Thứ ba, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, Toà án có thể xét xử mà không có sự tham gia của đương sự. Vấn đề đặt ra là khi phiên toà diễn ra mà không có sự tham gia của bất kỳ đương sự nào thì thủ tục tiến hành phiên toà này sẽ được thực hiện như thế nào để bảo đảm đúng thủ tục tố tụng. Giả sử một phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự xét xử mà không có sự có mặt của bất kỳ đương sự nào thì diễn biến phiên toà sẽ được xác định như thế nào? Nếu không có đương sự, các thủ tục tiến hành phiên toà như thủ tục hỏi thì Hội đồng xét xử sẽ không thể tiến hành thủ tục hỏi mà chỉ là việc Hội đồng xét xử cho công bố bản tự khai, biên bản lấy lời khai của đương sự đã có trong hồ sơ vụ án, công bố các tài liệu khác có trong hồ sơ, đưa ra xem xét các vật chứng... Đặc biệt, sau khi kết thúc thủ tục hỏi Hội đồng xét xử chuyển sang thủ tục tranh luận thì thủ tục tranh luận không thể tiến hành theo thủ tục chung do BLTTDS quy định khi không có đương sự nào tham gia vì chủ thể tranh luận chủ yếu là đương sự. Do vậy, pháp luật tố tụng dân sự cần có quy định cụ thể về vấn đề này. 2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Thứ nhất, pháp luật tố tụng dân sự nên quy định theo hướng: Trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng nếu bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì Tòa án vẫn phải giải quyết yêu cầu của những người này và họ sẽ trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu sẽ trở thành bị đơn. Thứ hai, BLTTDS nên thay đổi cách sử dụng thuật ngữ. Nếu trong vụ án có nhiều yêu cầu thì không nên sử dụng thuật ngữ “đình chỉ giải quyết vụ án” mà thay vào đó là thuật ngữ “đình chỉ giải quyết yêu cầu”. Thứ ba, pháp luật tố tụng dân sự bên cạnh việc quy định thủ tục tiến hành phiên toà trong trường hợp thông thường với sự có mặt của các đương sự cần quy định những thủ tục riêng và những điều kiện cho một phiên toà xét xử vắng mặt đương sự nhằm bảo đảm việc Toà án xét xử vắng mặt đương sự mà vẫn bảo đảm giải quyết nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÁCH VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN

TÁCH VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN

Tách vụ án dân sự của tòa án ĐỀ SỐ 13 Công ty UNI Việt Nam có trụ sở tại Huyện X, tỉnh B ký hợp đồng đại lý giao cho công ty T có trụ sở tại quận T thành phố U tiêu thu phân đạm. Khi thanh lý hợp đồng số 0101 công ty T xác nhận còn nợ của công ty UNI một trăm triệu đồng. Khi ký hợp đồng số 02ĐL hai bên thỏa thuận số tiền còn thiếu (một trăm triệu đồng) của hợp đồng số 01 chuyển qua thanh toán cùng hợp đồng số 02. Trong quá trình thực hiện hợp đồng số 02, công ty T vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên công ty UNI khởi kiện đòi công ty T trả 100 triệu đồng còn nợ của hợp đồng số 01 và tiền hàng còn thiếu của hợp đồng số 02. Tòa án cấp sơ thẩm tách khoản nợ 100 triệu đồng để giải quyết bằng một vụ án khác. Hỏi: a.Việc tách vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng hay sai và giải thích tại sao? b.Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên và giải thích tại sao? BÀI LÀM a. Việc tách vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng hay sai và giải thích tại sao? Quy định về việc tách vụ án dân sự của Tòa án tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004: ...”2. Toà án có thể tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải quyết các vụ án được tách bảo đảm đúng pháp luật.” Về nguyên tắc, việc tách vụ án chỉ thực hiện trong trường hợp vụ án có nhiều quan hệ pháp luật có thể giải quyết một cách độc lập mà không ảnh hưởng tới việc giải quyết các quan hệ pháp luật khác. Việc tách vụ án phải đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng và đúng pháp luật các yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp các quan hệ pháp luật có tranh chấp độc lập với nhau và việc nhập các quan hệ pháp luật để giải quyết trong cùng một vụ án sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì tòa án nên tách các quan hệ pháp luật để giải quyết trong các vụ án khác nhau. 1, tr.80 – 81. Trong tình huống nêu trên, chúng ta thấy có những vấn đề như sau: Khoản nợ 100 triệu của công ty T đối với công ty UNI Việt Nam đã trở thành một điều khoản thanh toán của hợp đồng số 02ĐL (theo như thỏa thuận của hai bên) Công ty T vi phạm nghĩa vụ trả tiền trong quá trình thực hiện hợp đồng số 02ĐL Công ty UNI khởi kiện đòi công ty T trả 100 triệu đồng còn nợ của hợp đồng số 01 và tiền hàng còn thiếu của hợp đồng số 02. Vì số nợ 100 triệu kia đã trở thành một điều khoản của hợp đồng số 02 theo thỏa thuận của hai bên, cho nên việc giải quyết khoản nợ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng số 02 của hai bên. Đồng thời, tranh chấp ở đây đều là tranh chấp liên quan đến hợp đồng thương mại (do bên công ty T vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với công ty UNI Việt Nam). Nên việc tòa án cấp sơ thẩm tách vụ án dân sự trong trường hợp này là không hợp lí. Tòa án hoàn toàn có thể giải quyết tranh chấp giữa hai bên trong cùng một vụ án dân sự. b. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên và giải thích tại sao? Trước hết, chúng ta xác định rằng tranh chấp giữa công ty UNI Việt Nam và công ty T là tranh chấp về kinh doanh, thương mại, cụ thể là tranh chấp về vấn đề đại lý (quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự). Theo quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện tại điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh 1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: ...b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;” Như vậy tranh chấp này sẽ được giải quyết bởi Tòa án nhân dân cấp huyện. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ: “...1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này; b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;” Ở trong tình huống này, nguyên đơn là công ty UNI Việt Nam có trụ sở tại Huyện X, tỉnh B; bị đơn là công ty T có trụ sở tại quận T thành phố U. Vậy, Tòa án nhân dân quận T sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự này. Song bên cạnh đó, các bên cũng có thể tự thỏa thuận bằng văn bản với nhau yêu cầu Tòa án nhân dân huyện X thụ lí vụ việc trên.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Sự tham gia tố tụng của viện kiểm sát ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực hiện

SỰ THAM GIA TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

A. MỞ ĐẦU Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã có những điểm sửa đổi cơ bản trong nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự. Theo đó, mở rộng hơn các quyền năng và nhiệm vụ này của viện kiểm sát. Điều đó, có ý nghĩa quan trọng trong việc cải cách tư pháp cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng dân sự. Chính vì thế để làm hơn những vấn đề mang tính lý luận cũng như thực tiễn, em xin được nghiên cứu đề tài số 6: “ Sự tham gia tố tụng của viện kiểm sát ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực hiện.”
Xem thêm

12 Đọc thêm

Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án một mặt đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế. Mặt khác, nó còn là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại. Hiệu quả của hoạt động thi hành án có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi. Do đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được sử dụng.
Xem thêm

33 Đọc thêm

XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ BÀI 8

XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ BÀI 8

1. Tính chất của phúc thẩm: (Đ. 230 BLTTHS) Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị 2. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Kháng cáo, kháng nghị là quyền đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án hay quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của những người tham gia tố tụng và VKS theo quy định của pháp luật TTHS.
Xem thêm

27 Đọc thêm

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 7

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 7

Tài liệu tham khảo BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 7 VẤN ĐỀ 01XÁC ĐỊNH VỢCHỒNG CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢNTóm tắt Bản án số 202009DSPT ngày 11 và 12022009 về Vv “Tranh chấp chia thừa kế” của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Đọc thêm

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

NỘI DUNGI.Khái quát về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 không định nghĩa biện pháp cưỡng chế THA dân sự nhưng khoản 2 Điều 9 có quy định: “người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này” “Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp bắt buộc theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản.” Theo điều 71 Luật Thi hành án dân sự thì người có thẩm quyền thi hành án chỉ có thể tiến hành 6 biện pháp cưỡng chế sau đây: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA;Trừ vào thu nhập của người phải THA;Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ;Khai thác tài sản của người phải THA;Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ;Buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định”II.Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.1.Điều kiện áp dụng Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA là một trong các BPCC THA dân sự, được quy định tại các điều Điều 71, 76 và từ Điều 79 đến Điều 83 luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định mà người phải THA có đang có tiền trong tài khoản hoặc đang sở hữu giấy tờ có giá. Nếu người phải THA phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, mà họ đang giữ tiền, giấy tờ có giá hoặc gửi tại kho bạc, tổ chức tín dụng thì BPCC này sẽ là biện pháp đầu tiên được áp dụng bởi vì nếu thực hiện được thì sẽ rất có hiệu quả trong việc đảm bảo quyền lợi của người được THA. Các biện pháp khác chỉ được thực hiện khi không thể thực hiện biện pháp này. Cụ thể, biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA được thực hiện khi:Theo bản án, quyết định của tòa án thì người phải THA phải thi hành nghĩa vụ trả tiền. Bản án, quyết định dân sự của toàn án có thể bắt các bên thi hành nhiều loại nghĩa vụ dân sự khác nhau: trả lại tài sản chiếm hữu bất hợp pháp, áp dụng các biện pháp để phục hồi xin lỗi, cải chính công khai,… Nghĩa vụ trả tiền trong THA dân sự thường xuất phát từ việc thanh toán nghĩa vụ theo hợp đồng, thừa kế tài sản, bồi thường thiệt hại,…Có căn cứ để xác định người phải THA có tài khoản, có tiền hoặc giấy tờ có giá để thi hành. Để thi hành biện pháp pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá thì bản thân người phải THA phải có tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc , tổ chức tín dụng hoặc tiền mà chính họ đang giữ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh hằng ngày và tiền, tiền do người thứ ba đang giữ, các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,… Hết thời hạn tự nguyện đã được chấp hành viên ấn định nhưng người phải THA không tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA.2.Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.a.Khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 quy định: “Điều 76. Khấu trừ tiền trong tài khoản1. Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.2. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.” Trước khi ra quyết định cưỡng chế, chấp hành viên cần xác định số tiền của người phải THA trong tài khoản ngân hàng, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng trên cơ sở các tài liệu do người được THA cung cấp. Theo yêu cầu của người được THA hoặc trong trường hợp cần kiểm tra lại thì cơ quan THA dân sự yêu cầu nơi người phải THA có tài khoản cung cấp các thông tin về tiền trong tài khoản của người đó. Theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 622015NĐCP thì với trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng
Xem thêm

Đọc thêm

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

giữa các đơn vị, giữa Viện kiểm sát và Toà án có sự khác nhau.BLTTHS hiện nay chưa quy định căn cứ để kháng nghị phúcthẩm hình sự, mà chỉ có ngành Kiểm sát quy định trong Quy chế thựchành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự.Thứ hai, việc gửi bản án sơ thẩm, báo cáo kết quả thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án cho Viện kiểm sát cấp trêntrực tiếp thực tế các đơn vị có thực hiện nhưng không đầy đủ, quáchậm, ảnh hưởng đến công tác kháng nghị phúc thẩm. Mặt khác, Điều229 BLTTHS quy định thời gian để Toà án cấp sơ thẩm giao bản áncho Viện kiểm sát cùng cấp quá dài (10 ngày kể từ ngày tuyên án),đồng thời không quy định Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án choViện kiểm sát cấp trên.Thứ ba, việc án phúc thẩm bị huỷ, bị cải sửa gắn liền với chỉ tiêuthi đua và xem xét tái bổ nhiệm trong ngành Toà án cũng như ngànhKiểm sát là một trong những nguyên nhân để làm giảm chất lượng vàsố lượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự.Thứ tư, việc đầu tư vật chất, lẫn nguồn lực cán bộ còn hạn chế. Vềnhân sự, hiện nay nhiều đơn vị còn thiếu biên chế; điều kiện làm việctrong ngành chưa cao; trang thiết bị phục vụ công tác còn nghèo nàn.Chương 3NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG, HIỆU QUẢ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰCỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH3.1. Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện các quy định về khángnghị phúc thẩm hình sự trong BLTTHS nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Việnkiểm sát nhân dânĐể đảm bảo cho việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩmhình sự thì hệ thống các quy phạm về kháng nghị phúc thẩm và thủ tụcxét xử phúc thẩm phải thật đồng bộ, hoàn chỉnh.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Hệ thống tòa án nước pháp nhánh tòa thẩm quyền chung

HỆ THỐNG TÒA ÁN NƯỚC PHÁP NHÁNH TÒA THẨM QUYỀN CHUNG

PHẦN 1 5 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN 5 I. Trước Cách mạng Dân chủ Tư sản 1789 5 II. Năm Cách mạng Dân chủ Tư sản 1789 5 III. Sau Cách mạng Dân chủ Tư sản 1789 6 PHẦN 2 8 HỆ THỐNG TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CHUNG 8 I. Đặc điểm của hệ thống tòa án 8 II. Nhánh tòa thẩm quyền chung (nhánh tòa tư pháp) 10 1. Tòa án sơ thẩm 10 1.1 Tòa án dân sự 10 1.2 Tòa án hình sự 14 2. Tòa phúc thẩm 15 3. Tòa phá án 16 KẾT LUẬN 17

21 Đọc thêm

Cùng chủ đề