GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP":

Tiểu luận giữ gìn và phát huy một số giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa

TIỂU LUẬN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

1. Tính cấp thiết của đề tài. Việt Nam chúng ta tự hào có nền văn hóa truyền thống lâu đời, phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Từ bao đời nay, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đó đã hun đúc, bồi đắp nên tâm hồn, khí phách và bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc, chính những khí phách hiên ngang đó đã giúp cho ông cha ta đánh tan các thế lực ngoại xâm, đặc biệt là thắng lợi trước hai tên đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dữ vững nền độc lập của dân tộc. Trong thời đại ngày nay, thời đại mà đất nước ta đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và quốc tế, đó là cơ hội cho đất nước ta phát triển mọi mặt về kinh tế và giao lưu và tiếp thu những nền văn hóa trên thế giới đồng thời cũng là thách thức không nhỏ cho việc dữ gìn và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc. Bởi vậy nhiệm vụ của chúng ta là không những không được đánh mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp đó mà còn phải phát dữ gìn, phát huy và bổ sung những giá trị mới, biến chúng thành sức mạnh đưa đất nước ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững trắc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đem lại. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng, chúng ta “ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường…” Trong thời kỳ hiện nay, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đâị hoá đất nước, thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế việc đẩy mạnh giữ gìn, và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc là hết sức cần thiết của toàn Đảng toàn dân ta để cho những giá trị ấy không bị mất đi mà luôn luôn được giữ gìn và phát triển đó là vấn đề vô cùng bức thiết hiện nay vì vậy em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Giữ gìn và phát huy một số giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa”. Làm đề tài kết thúc môn chuyên đề Kinh tế chính trị, với mong muốn được góp một phần công sức vào việc giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong công cuộc xây dựng đât nước hiện nay.
Xem thêm

39 Đọc thêm

QUAN DIEM CHINH SACH CUA DANG VE DAN TOC VA DAIDOAN KET CAC DAN TOC TRONG THOI KY MOI

QUAN DIEM CHINH SACH CUA DANG VE DAN TOC VA DAIDOAN KET CAC DAN TOC TRONG THOI KY MOI

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VỀ DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ MỚI. 1 Sự cần thiết phải tăng cường đoàn kết các dân tộc. Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về vấn đề dân tộc và vị trí chiến lượng của công tác dân tộc. Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau, chỉ có giai cấp vô sản mới giải quyết được triệt để vấn đề dân tộc. Do đó tăng cường thực hện công tác dân tộc là yêu cầu khách quan, là vấn đề có vị trí chiến lược nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạng quần chúng to lớn giành thắng lợi trong cách mạng vô sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có on đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” và khẳng định: Chỉ khi đất nước được độc lập dân tộc, tự do đi lên CNXH thì các dân tộc trong nước thực sự có điều kiện sống với nhau như anh em một nhà. Muốn đoàn kết phải thực sự bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau và các dân tộc cùng nhau làm chủ đất nước. Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã từng bước phát triển và hoàn chỉnh đường lối quan điểm về vấn đề dân tộc: lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới. Sự nghiệp CNH – HĐH xây dựng và bảo vệ tổ quốc là sự nghiệp toàn dân; sức mạnh bảo vệ tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy trong thời kỳ mới phải tăng cường thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Do sự chống phá của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, các thế lực thực dân, đế quốc luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, sắc tộc để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân trí thấp và các vùng chiến lược quan trọng để tuyên truyền chống phá, truyền đạo trái phép, kích động gây rối, tổ chức bạo loạn để lấy cớ can thiệp vũ trang. Vì vậy, trong thời kỳ mới phải tăng cường thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, nhà nước nhằm giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, bảo vệ cuộc sống hoà bình, phát triển của mỗi dân tộc và của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 2 Quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc. Một là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Hai là: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lới sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, xây dựn và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. Ba là: Phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miến núi, gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện vấn đề chính sách dân tộc, chăm lo xây dựng bồi dưỡng nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng văn hoá dân tộc Việt Nam. Bốn là: Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở cácvùng dân tộc và miền núi, khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực tự cường của đồng bào đồng thời tăng cường quan tâm hỗ trợ của trung ương và các địa phương khác. Năm là: Xác định công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của các cấp các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị. 3 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ mới. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hoá của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển KT XH ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ an ninh quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, động viên và phát huy vai trò những người uy tín trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân sỹ, trí thức vùng đồng bào dân tộc thiểu số. II QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC TÔN GIÁO. 1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo. Một là: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một số bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Hai là: Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy tích cực giá trị truyền thống, tôn vinh những người có công với tổ quốc, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo, đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chinh sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia. Ba là: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Đề 23: Trong tác phẩm " nhìn về vốn văn hoá dân tộc" của Trần Đình Hượu viết "con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự sáng tạo mà còn trong

ĐỀ 23: TRONG TÁC PHẨM " NHÌN VỀ VỐN VĂN HOÁ DÂN TỘC" CỦA TRẦN ĐÌNH HƯỢU VIẾT "CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HOÁ KHÔNG CHỈ TRÔNG CẬY VÀO SỰ SÁNG TẠO MÀ CÒN TRONG

Đề 23: Trong tác phẩm " nhìn về vốn văn hoá dân tộc" của Trần Đình Hượu viết "con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự sáng tạo mà còn trong cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên mình." Anh chị trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay. Bài làm Vượt hành trình gian nan để đổ về đại dương, dòng sông luôn khởi khởi nguồn từ đất liền, chảy qua bao vùng miền để hoà vào biển lớn. Dòng sông văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ quá khứ 4000 năm lịch sử, chảy trong thời gian qua các miền văn hoá kế thừa và sáng tạo kết tụ lại thành những giá trị văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.Nhưng “ con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá ko chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh,khả năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài”- quan điểm đó của Trần Đình Hượu đã đặt ra trong lòng độc giả những trăn trở, đặc biệt trong hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay. Văn hoá Việt Nam hình thành sớm, xuất hiện từ những ngày công xã nguyên thuỷ, phát triển qua nền văn minh lúa nước, hình thành những loại hình văn hoá dân gian từ sự chạm khắc của miền truyền thuyết ,ca dao, cổ tích với những tập tục ăn trầu, búi tóc từ thủa cổ xưa. “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu....” Và cùng với sự ra đời của nhà nước quân chủ chuyên chế, xã hội phong kiến đã mang đến cho nền văn hoá Việt nam những dấu ấn đặc sắc mang đậm tính chất Á Đông. Người Việt Nam có quyền tự hào về vốn văn hoá đậm đà thuần Việt cả trong những lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội hoạ , điêu khắc...Với nền văn học dân gian phong phú thể loại (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ nôm, sử thi....) mà đỉnh cao là thể thơ lục bát, vẫn được sử dụng đến ngày nay. Kiến trúc Việt Nam với những mái đình cổ kính, thấp thoáng ẩn hiện dưới những gốc đa, sau những rặng tre xanh, bến nước, sân đình...Các làn điệu dân ca như ca trù, quan họ, cải lương....hay những nghệ thuật hội hoạ dân gian Đông Hồ....có thể coi là những thành quả đã có làm cơ sở xây dựng một nền văn hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc VN. Nhưng “con đường hình thành bản sắc dân tộc đâu chỉ trông cậy vào khả năng tạo tác ” tức là sáng tác,kế thừa và phát huy những gì đã có mà còn phải “ trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài”. Phải chăng, hành trình phát triển văn hoá từ sông ra biển chính là sự đồng hành của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá- cũng chính là khả năng đồng biến và chiếm lĩnh những giá trị văn hoá bên ngoài? Khả năng chiếm lĩnh và đồng hoá phải chăng là khả năng tiếp thu hội nhập nhiều nền văn hoá, khả năng đón nhận những ảnh hưởng của nền văn minh văn hoá lớn, khả năng tiếp thu chủ động, biến những cái ngoại lai thành cái của mình và có sàng lọc. Do bối cảnh của lịch sử với bao thăng trầm, trwocs những dòng chủ lưu về văn hoá ồ ạt theo con đường cai trị của phong kiến thực dân xâm nhập vào văn hoá Việt Nam một cách có hệ thống thì việc “chiếm lĩnh” và” đồng hoá” để ko bị chiếm lĩnh và đồng hoá lại là vô cùng cần thiết, nó quyết định tới sự tồn tại riêng rẽ của một nền Văn hoá Việt ko thể hoà lẫn. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng là một cách tiếp thu có chọn lọc những giá trị của văn học trung hoa từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân để trở thành đỉnh cao của văn học dân tộc, sự chuyển thể từ thể loại truyện sang truyện thơ ( Nôm) là một sự đồng hóa hết sức sáng tạo và tích cực của đại thi hào Nguyễn Du. Các thể thơ nôm đường luật cũng là hệ quả của quá trình tiếp thu và lĩnh hội có chọn lọc như thế. Kiến truc văn hoá đình chùa ảnh hưởng từ Phật giáo từ Trung Quốc hay Ấn Độ nhưng vẫn mang dáng vẻ kiến trúc Việt Nam cũng là một tminh chứng diệu kì cho khả năng” chiếm lĩnh” và” đồng hoá” những giá trị Văn hoá bên ngoài. Cùng với sự đổi thay của lịch sử, bước sang kỉ nguyên hội nhập với bao thay đổi của nền kinh tế thị trường, trước ngưỡng cửa của sự xâm nhập văn hoá với quy mô toàn cầu thì nhận định của Giáo sư Trần Đình Hượu đặt ra bao suy tư cho giới trẻ về trách nhiệm của bản thân trong thời đại mới. Trước dòng chảy xâm nhập ào ạt của nền văn hoá ngoại lai từ các nền văn minh trên thế giới, một bộ phận thanh niên Việt Nam đã biết nắm bắt lấy thời cơ, phát triển nền văn hoá dân tộc vốn đã giàu đẹp ngày càng văn minh và tiến bộ hơn, Sự tiếp thu có hệ thống các hệ tư tưởng văn hoá tây phương với những phong cách nghệ thuật thơ văn của Pháp, Italia, Anh, hay Đức, các công trình kiến trúc đậm dấu ấn cổ điển hay hiện đại của những quốc gia này cũng được tiếp thu và thiết kế bài bản. Chính sự năng động và sáng tạo đó đã góp phần làm văn minh hơn, giàu có hơn cho bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo nên sự phối trộn hài hoà giữa cũ và mới, cổ điển và hiện đại, truyền thống và cách tân. Sự giao lưu và tiếp biến được coi là “nguồn gen tiến hoá” cho sự phát triển của văn hoá dân tộc trong giai đoạn giao lưu và hội nhập. Nền văn hoá Internet, văn hoá Online, văn hoá Game, hay sự thay đổi của trào trào lưu thời trang trên thế giới góp phần lột xác hình ảnh đất nước Việt Nam vốn vẫn được biết đến là nền văn hoá nông nghiệp với hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Để làm đwocj điều đó, không chỉ đòi hỏi người thanh niên Việt Nam ph ải năng động sáng tạo biết nắm bắt du nhập một cách có chọn lọc mà còn đặt ra vấn đề về sự bảo tồn những nét văn hoá truyền thống cũ, hoà nhập nhưng ko hoà tan- đó cũng là một thách thức đầy khó khăn, là những chướng ngại vật trong hành trình dòng chảy tiếp biến, hội nhập. Bởi bên cạnh những cá nhân, tập thể tích cực cũng tồn tại không ít những thanh niên sống thiếu lí tưởng, ko có MĐ rõ ràng, du nhập văn hoá một cách tràn lan máy móc, cả những nền văn hoá vốn ko mang nhiều giá trị nhân văn thẩm mĩ chỉ để thoả mãn nhu cầu sống gấp, sống sành điệu của một bộ phận giơí trẻ ngày nay. Đó là bộ phận có biểu hiện sống ngoại lai mất gốc, xa rời văn hoá truyền thống dân tộc, bị hoà tan một cách hoàn toàn trong dòng lũ hội nhập mà tự đánh mất chính mình. Một số khác lại có tư tưởng bảo thủ, không chiêm slĩnh, đồng hoá văn hoá ngoại lai, chỉ khư khư chăm chút cho cái vốn văn hoá xưa của dân tộc, không chịu du nhập, đổi mới, Bất giác, ở họ gợi lên hình ảnh về biển Chết, suốt đời chỉ khư khư khép mình, ko nhận nước từ bất kì dòng chảy nào nên chưa ở đâu sự sống của các loài sinh vật lại nghèo nàn đến thế.Có thể nói, cả 2 đối tượng trên đều có ảnh hưởng tiêu cực, là bước cản trở trên con đường xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Ý thức được trách nhiệm và sứ mệnh của bản thân đòi hỏi mỗi thanh niên của thời đại mới cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt còn thiếu sót củavăn hoá dân tộc, tích cực quảng bá văn hoá dân tộc tới bạn bè quốc tế, có thái độ tôn trọng đúng mực và chiếm lĩnh đồng hoá hiệu quả nền văn hoá ngoại lai, Điều đó là một ẩn số chỉ được giải quyết bằng bất đẳng thức hành động của mỗi con người. Có một câu hỏi khá phổ biến khi ta đặt chân lên xứ người" Bạn đến từ đâu". Hãy tự hào trả lời 2 tiếng" Việt Nam" và giới thiệu cho họ về đất nước hình chữ S- khi bạn đã tự tin về nền văn hoá đậm đà bản sắc của mình!
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÓM TẮT LUẬN VĂN: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ HÁT QUAN LÀNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN VĂN: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ HÁT QUAN LÀNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hát Quan làng là một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa và là nền tảng sinh hoạt tinh thần của dân tộc Tày. Hát Quan làng phản ánh trình độ phát triển trong sinh hoạt cộng đồng và trong lễ cưới của dân tộc Tày. Hát Quan làng có giá trị về văn hoá học, mỹ học, triết học và được hình thành trong lịch sử lâu dài của cộng đồng dân tộc Tày. Hát Quan làng được đúc kết từ kinh nghiệm sống và lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người tạo nên đặc thù của dân tộc Tày. Giá trị hát Quan làng thể hiện bản sắc, làm nên diện mạo, cốt cách dân tộc Tày và cái đẹp thẩm mỹ về con người trong lễ cưới. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy bản sắc hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày là cần thiết và cấp bách. Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế xã hội và sự chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, đã và đang tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội. Nhiều vấn đề đặt ra đối với xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi… Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Về nguyên tắc, muốn giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, thì mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, ngược lại phải biết bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, vừa phải sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị, giáo dục và đặc biệt là áp dụng những thành quả của khoa học công nghệ hiện đại cho việc đẩy mạnh sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Bởi vì, chỉ có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mới đảm bảo cho một quốc gia, một dân tộc có sự phát triển bền vững. Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa riêng. Vì thế việc kế thừa, bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển văn hóa của người Tày nói riêng và văn hóa chung của cả nước cũng như xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ hội nhập với thế giới. Từ năm 2009, Nhà nước đã quyết định lấy ngày 19 4 hàng năm làm Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức về việc gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa, tôn vinh những nét văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền trong 54 dân tộc anh em. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã làm cho các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam ngày càng gần gũi, gắn kết bên nhau thành một khối đại đoàn kết dân tộc không gì lay chuyển nổi, cùng chung sức bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Đảng ta đề cao vai trò bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc và coi bản sắc dân tộc là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc hoạch định chính sách kinh tế xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển. Chính vì thế, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tại hội nghị Trung ương 4, khóa VII (1993), Đảng ta đã xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” Đảng ta luôn chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc các dân tộc thiểu số nhất là các dân tộc sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện sinh sống gặp rất nhiều khó khăn. Nghị định 22 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” 7, tr51. Đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...” 17, tr.75. Bảo tồn và phát huy hát giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của người Tày nói riêng và phát triển hoàn thiện con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nói chung, Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI một lần nữa nhấn mạnh: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học... Việc bảo tồn, phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày có ý nghĩa rất quan trọng. Bảo tồn và phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày không những nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng dân tộc Tày ở tỉnh Tuyên Quang, mà còn tạo động lực mới trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng trong bối cảnh hiện nay. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã và đang tiếp nối những giá trị văn hoá tốt đẹp, làm nên sức sống trường tồn đưa đất nước vượt qua bao thăng trầm, hiện nay nước ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những thách thức và cơ hội cho phát triển văn hóa dân tộc trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân dân tộc Tày. Những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế… đang tác động sâu sắc đến sự biến đổi văn hóa của từng vùng miền trên cả nước nói chung, trong địa bàn có người Tày sinh sống nói riêng. Hơn bao giờ hết, việc bảo tồn và phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày trong bối cảnh hiện nay được đặt ra hết sức cấp thiết. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc của đất nước, nơi có 22 dân tộc anh em cùng sinh sống. Với bề dày lịch sử hình thành và văn hóa tộc người, hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Với số dân đứng thứ hai sau người Kinh ở Tuyên Quang, cộng đồng dân tộc Tày có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, nhất là hát Quan làng trong lễ cưới của người Tày. Song, những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy gịữ gìn hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở Huyện Yên Sơn Tỉnh Tuyên Quang là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Với nhận thức bước đầu như trên, em lựa chọn vấn đề “Bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức lý luận và năng lực thực tiễn trong công tác của bản thân.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Trong tác phẩm " nhìn về vốn văn hoá dân tộc" của Trần Đình Hượu.Anh chị trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay.

TRONG TÁC PHẨM " NHÌN VỀ VỐN VĂN HOÁ DÂN TỘC" CỦA TRẦN ĐÌNH HƯỢU.ANH CHỊ TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA MÌNH VỀ HIỆN TƯỢNG TIẾP NHẬN VĂN HOÁ NGOẠI LAI CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY.

Trong tác phẩm " nhìn về vốn văn hoá dân tộc" của Trần Đình Hượu viết "con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự sáng tạo mà còn trong cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên mình." Anh chị trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiệ n nay. Bài làm Vượt hành trình gian nan để đổ về đại dương, dòng sông luôn khởi khởi nguồn từ đất liền, chảy qua bao vùng miền để hoà vào biển lớn. Dòng sông văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ quá khứ 4000 năm lịch sử, chảy trong thời gian qua các miền văn hoá kế thừa và sáng tạo kết tụ lại thành những giá trị văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.Nhưng “ con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá ko chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh,khả năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài”- quan điểm đó của Trần Đình Hượu đã đặt ra trong lòng độc giả những trăn trở, đặc biệt trong hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay. Văn hoá Việt Nam hình thành sớm, xuất hiện từ những ngày công xã nguyên thuỷ, phát triển qua nền văn minh lúa nước, hình thành những loại hình văn hoá dân gian từ sự chạm khắc của miền truyền thuyết ,ca dao, cổ tích với những tập tục ăn trầu, búi tóc từ thủa cổ xưa. “ Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu....” Và cùng với sự ra đời của nhà nước quân chủ chuyên chế, xã hội phong kiến đã mang đến cho nền văn hoá Việt nam những dấu ấn đặc sắc mang đậm tính chất Á Đông. Người Việt Nam có quyền tự hào về vốn văn hoá đậm đà thuần Việt cả trong những lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội hoạ , điêu khắc...Với nền văn học dân gian phong phú thể loại (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ nôm, sử thi....) mà đỉnh cao là thể thơ lục bát, vẫn được sử dụng đến ngày nay. Kiến trúc Việt Nam với những mái đình cổ kính, thấp thoáng ẩn hiện dưới những gốc đa, sau những rặng tre xanh, bến nước, sân đình...Các làn điệu dân ca như ca trù, quan họ, cải lương....hay những nghệ thuật hội hoạ dân gian Đông Hồ....có thể coi là những thành quả đã có làm cơ sở xây dựng một nền văn hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc VN. Nhưng “con đường hình thành bản sắc dân tộc đâu chỉ trông cậy vào khả năng tạo tác ” tức là sáng tác,kế thừa và phát huy những gì đã có mà còn phải “ trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài”. Phải chăng, hành trình phát triển văn hoá từ sông ra biển chính là sự đồng hành của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá- cũng chính là khả năng đồng biến và chiếm lĩnh những giá trị văn hoá bên ngoài? Khả năng chiếm lĩnh và đồng hoá phải chăng là khả năng tiếp thu hội nhập nhiều nền văn hoá, khả năng đón nhận những ảnh hưởng của nền văn minh văn hoá lớn, khả năng tiếp thu chủ động, biến những cái ngoại lai thành cái của mình và có sàng lọc. Do bối cảnh của lịch sử với bao thăng trầm, trwocs những dòng chủ lưu về văn hoá ồ ạt theo con đường cai trị của phong kiến thực dân xâm nhập vào văn hoá Việt Nam một cách có hệ thống thì việc “chiếm lĩnh” và” đồng hoá” để ko bị chiếm lĩnh và đồng hoá lại là vô cùng cần thiết, nó quyết định tới sự tồn tại riêng rẽ của một nền Văn hoá Việt ko thể hoà lẫn. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng là một cách tiếp thu có chọn lọc những giá trị của văn học trung hoa từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân để trở thành đỉnh cao của văn học dân tộc, sự chuyển thể từ thể loại truyện sang truyện thơ ( Nôm) là một sự đồng hóa hết sức sáng tạo và tích cực của đại thi hào Nguyễn Du. Các thể thơ nôm đường luật cũng là hệ quả của quá trình tiếp thu và lĩnh hội có chọn lọc như thế. Kiến truc văn hoá đình chùa ảnh hưởng từ Phật giáo từ Trung Quốc hay Ấn Độ nhưng vẫn mang dáng vẻ kiến trúc Việt Nam cũng là một tminh chứng diệu kì cho khả năng” chiếm lĩnh” và” đồng hoá” những giá trị Văn hoá bên ngoài. Cùng với sự đổi thay của lịch sử, bước sang kỉ nguyên hội nhập với bao thay đổi của nền kinh tế thị trường, trước ngưỡng cửa của sự xâm nhập văn hoá với quy mô toàn cầu thì nhận định của Giáo sư Trần Đình Hượu đặt ra bao suy tư cho giới trẻ về trách nhiệm của bản thân trong thời đại mới. Trước dòng chảy xâm nhập ào ạt của nền văn hoá ngoại lai từ các nền văn minh trên thế giới, một bộ phận thanh niên Việt Nam đã biết nắm bắt lấy thời cơ, phát triển nền văn hoá dân tộc vốn đã giàu đẹp ngày càng văn minh và tiến bộ hơn, Sự tiếp thu có hệ thống các hệ tư tưởng văn hoá tây phương với những phong cách nghệ thuật thơ văn của Pháp, Italia, Anh, hay Đức, các công trình kiến trúc đậm dấu ấn cổ điển hay hiện đại của những quốc gia này cũng được tiếp thu và thiết kế bài bản. Chính sự năng động và sáng tạo đó đã góp phần làm văn minh hơn, giàu có hơn cho bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo nên sự phối trộn hài hoà giữa cũ và mới, cổ điển và hiện đại, truyền thống và cách tân. Sự giao lưu và tiếp biến được coi là “nguồn gen tiến hoá” cho sự phát triển của văn hoá dân tộc trong giai đoạn giao lưu và hội nhập. Nền văn hoá Internet, văn hoá Online, văn hoá Game, hay sự thay đổi của trào trào lưu thời trang trên thế giới góp phần lột xác hình ảnh đất nước Việt Nam vốn vẫn được biết đến là nền văn hoá nông nghiệp với hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Để làm đwocj điều đó, không chỉ đòi hỏi người thanh niên Việt Nam ph ải năng động sáng tạo biết nắm bắt du nhập một cách có chọn lọc mà còn đặt ra vấn đề về sự bảo tồn những nét văn hoá truyền thống cũ, hoà nhập nhưng ko hoà tan- đó cũng là một thách thức đầy khó khăn, là những chướng ngại vật trong hành trình dòng chảy tiếp biến, hội nhập. Bởi bên cạnh những cá nhân, tập thể tích cực cũng tồn tại không ít những thanh niên sống thiếu lí tưởng, ko có MĐ rõ ràng, du nhập văn hoá một cách tràn lan máy móc, cả những nền văn hoá vốn ko mang nhiều giá trị nhân văn thẩm mĩ chỉ để thoả mãn nhu cầu sống gấp, sống sành điệu của một bộ phận giơí trẻ ngày nay. Đó là bộ phận có biểu hiện sống ngoại lai mất gốc, xa rời văn hoá truyền thống dân tộc, bị hoà tan một cách hoàn toàn trong dòng lũ hội nhập mà tự đánh mất chính mình. Một số khác lại có tư tưởng bảo thủ, không chiêm slĩnh, đồng hoá văn hoá ngoại lai, chỉ khư khư chăm chút cho cái vốn văn hoá xưa của dân tộc, không chịu du nhập, đổi mới, Bất giác, ở họ gợi lên hình ảnh về biển Chết, suốt đời chỉ khư khư khép mình, ko nhận nước từ bất kì dòng chảy nào nên chưa ở đâu sự sống của các loài sinh vật lại nghèo nàn đến thế.Có thể nói, cả 2 đối tượng trên đều có ảnh hưởng tiêu cực, là bước cản trở trên con đường xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Ý thức được trách nhiệm và sứ mệnh của bản thân đòi hỏi mỗi thanh niên của thời đại mới cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt còn thiếu sót củavăn hoá dân tộc, tích cực quảng bá văn hoá dân tộc tới bạn bè quốc tế, có thái độ tôn trọng đúng mực và chiếm lĩnh đồng hoá hiệu quả nền văn hoá ngoại lai, Điều đó là một ẩn số chỉ được giải quyết bằng bất đẳng thức hành động của mỗi con người. Có một câu hỏi khá phổ biến khi ta đặt chân lên xứ người" Bạn đến từ đâu". Hãy tự hào trả lời 2 tiếng" Việt Nam" và giới thiệu cho họ về đất nước hình chữ S- khi bạn đã tự tin về nền văn hoá đậm đà bản sắc của mình!
Xem thêm

2 Đọc thêm

phân tích nguồn lực và giải pháp phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại của việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

phân tích nguồn lực và giải pháp phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại của việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

MỤC LỤC Phần I. MỞ ĐẦU 1 1.1. Lý do chọn đề tài 1 1.2. Câu hỏi nghiên cứu 2 1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3 Phần II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3 2.1. Phương pháp thu thập số liệu 3 2.2. Phương pháp phân tích 5 Phần III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – THẢO LUẬN 7 3.1. Cơ sở lý luận 7 3.1.1. Khái niệm nguồn lực quốc gia 7 3.1.2. Phân loại nguồn lực quốc gia 7 3.1.3. Khái niệm lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế 8 3.1.4. Vai trò và tác dụng của kinh tế đối ngoại đối với Việt Nam 8 3.1.5. Bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới 9 3.2. Thực trạng nguồn lực Việt Nam ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế quốc tế 10 3.2.1. Nguồn lực bên trong 10 3.2.2. Nguồn lực bên ngoài 13 3.2.3. Những điểm tích cực và điểm hạn chế của nguồn lực Việt Nam 14 3.3. Giải pháp phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế 14 Phần IV. KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 Phần I. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế như: làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp, ngành kinh tế làm ăn kém hiệu quả, gây thất nghiệp, dễ dẫn đến bất ổn về chính trị và xã hội; Chính phủ các quốc gia sẽ mất đi một nguồn thu ngân sách do phải cắt giảm thuế quan; đối với các nước nghèo sẽ thiếu tài chính và các nguồn lực khác cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh; dễ tạo sự phụ thuộc của nước nghèo, thiếu công nghệ, vốn vào nước giàu, ảnh hưởng đến sự độc lập dân tộc của các quốc gia yếu thế; Các giá trị đạo đức truyền thống dễ bị xói mòn bởi văn hoá ngoại lai. Nhằm tăng cường những điểm tích cực và hạn chế những điểm tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia cần phải đánh giá và phân tích rõ nguồn lực quốc gia mình hiện có. Phân tích và so sánh nguồn lực phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng kinh tế với nhau sẽ giúp chúng ta có thấy được những điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời qua đó sẽ phần nào lý giải và tìm ra nguyên nhân của sự khác biệt đó. Từ đó, đưa ra giải pháp để phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Chính vì lý do đó, tôi xin chọn đề tài “Phân tích nguồn lực và giải pháp phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”.
Xem thêm

Đọc thêm

Một số biện pháp tập huấn ban chỉ huy liên chi đội nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động đội của trường tiểu học

Một số biện pháp tập huấn ban chỉ huy liên chi đội nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động đội của trường tiểu học

Hoạt động đội thiếu niên tiền phong là con đường giáo dục không thể thiếu trong quá trình giáo dục các em. Bởi vì mỗi trẻ em trong quá trình giáo dục để phát triển trí tuệ, phẩm chất, năng lực đều phải thông qua hệ thống giáo dục trong nhà trường, gia đình và xã hội, đặc biệt là trong nhà trường phổ thông. Đối với đội thiếu niên tiền phong giáo dục thông qua các hoạt động thực tiển của đội và tự rèn luyện của đội viên. Chính vì vậy Đội thiếu niên tiền phong được Đảng và Bác Hồ coi đó là sự nghiệp đào tạo lớp người mới cho đất nước. Đội viên thiếu niên tiền phong cần biết và hiểu được nội dung ý nghĩa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Đảng, Đoàn, Đội. Qua đó các em biết ơn đối với ông, cha, những người đã hy sinh thân mình dành lại độc lập tự do cho đất nước, sự nghiệp của Đảng để các em quyết tâm rèn luyện, học tập, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ.
Xem thêm

Đọc thêm

luận văn thạc sĩ Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ cơ sở đối với công tác thanh niên ở huyện yên mô, tỉnh ninh bình hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN Ở HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài Thời kỳ nào cũng vậy, thanh niên luôn được xem là rường cột và tương lai của đất nước. Thanh niên luôn là lực lượng xung kích trong các cuộc đấu tranh sinh tồn, cũng như trong các cuộc đấu tranh cách mạng, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Họ là nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù tuổi từ 15 đến 35 (đối với Việt Nam), có trong mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình. Nhận thức rõ vai trò, vị trí của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn đề cao vai trò, vị trí của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc. Đồng thời, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thanh niên thành lực lượng hùng hậu, trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Qua mỗi thời kỳ, dù bất cứ hoàn cảnh nào các thế hệ thanh niên đều hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) chỉ rõ: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững đất nước”.
Xem thêm

118 Đọc thêm

Tiểu Luận Giới Thiệu về Bát Tràng

TIỂU LUẬN GIỚI THIỆU VỀ BÁT TRÀNG

Hiện nay mọi hoạt động của đất nước ta đều được khuyến khích mở rộng để hội nhập kinh tế quốc tế. Ngành du lịch của nước ta đặc biệt là du lịch làng nghề truyền thống cũng không ngừng phát triển và tiềm năng du lịch của làng gốm Bát Tràng là rất lớn: với những nét độc đáo trong thiết kế và chế tạo mỗi sản phẩm, rồi cuộc sống của người dân làng gốm và những giá trị lịch sử

20 Đọc thêm

Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Đảng ta luôn coi trọng yếu tố văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Văn hóa vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và là mục tiêu của chúng ta. Văn hóa đóng vai trò điều tiết tinh thần, góp phần đắc lực vào việc khai thác những nhân tố tích cực hạn chế nhân tố tiêu cực của mối quan hệ hàng hóa –tiền tệ trong xã hội, văn hóa giữ vai trò góp phần hình thành một con đường phát triển phù hợp với đặc điểm của dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới. Gần đây các học giả quốc tế nghiên cứu hơn về các yếu tố thành công của các nước có nền công nghiệp mới trong phát triển trong khu vực Đông ÁĐông Nam Á .Sự thành công và năng động đó được xác nhận là sự bắt nguồn từ các yếu tố văn hóa truyền thống, trong đó tính cộng đồng, tính ý thức dân tộc thể hiện rất cao trong quan hệ kinh doanh: sự ham học hỏi, sáng tạo, tính nghiêm túc, kỉ luật cao trong công việc đã được nhấn mạnh và được coi là những nhân tố thúc đẩy quá trình tăng kinh tế bền vững, cân đối của những nước này. Và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường kinh tế XHCN ở Việt Nam với rất nhiều các quan hệ kinh tế đan xen nhau bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện mặt tiêu cực làm nảy sinh các hành vi kinh doanh thiếu đạo đứcphi văn hóa, chạy theo lợi nhuận ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh, đến các giá trị kinh doanh nền tảng của kinh tế thị trườnglàm cho các giá trị đó bị đảo lộn,đe dọa đến sư bất ổn cho hoạt động kinh tế,chính vì tính cấp thiết của sự xuống cấp thang giá trị đó. Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu,vừa là thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong xu hướng gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay. Thách thức lớn nhất là nguy cơ tụt hậu, là hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh thấp.Hơn lúc nào hết chúng ta cần nhận thức rõ những hạn chế, bất cập trong văn hóa kinh doanh Việt Nam,từ đó tìm ra hướng đi cho các doanh nghiệp,doanh nhân văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến đạm đà bẳn sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam tiến tới tương lai.
Xem thêm

20 Đọc thêm

tiểu luận cao học Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hoá Hiện đại hoá đất nước

TIỂU LUẬN CAO HỌC XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển. Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dân tọc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình, chẳng những không bị đồng hoá, mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc, lấy sức ta mà giải phóng cho ta. Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn, thử thách, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đi vào thế kỷ XXI. Công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta, coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế mở như nước ta hiện nay luôn luôn có sự trao đổi giao lưu với thế giới trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hoá. Chúng ta không thể tránh khỏi việc du nhập những phong tục tập quán của các nước, các dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta quên đi truyền thống của dân tộc mình, việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở là hết sức cần thiết. Điều đó giúp chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan, không bị mất đi cái gốc của mình. Chúng ta một mặt tiếp thu những nét tinh hoa trong văn hoá của các nước, một mặt giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để làm cho đời sống tinh thần của chúng ta ngày càng phong phú hơn.
Xem thêm

16 Đọc thêm

SKKN MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 THÊM YÊU THÍCH LÀN ĐIỆU DÂN CA NAM BỘ

SKKN MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 THÊM YÊU THÍCH LÀN ĐIỆU DÂN CA NAM BỘ

“ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 THÊM YÊU THÍCH LÀN ĐIỆU DÂN CA NAM BỘ” I .LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Dân ca là loại hình nghệ thuật truyền thống, gắn bó lâu đời với đời sống văn hóa tinh thần của người dân lao động qua nhiều thế hệ. Dân ca phản ánh tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của người dân với gia đình, quê hương, đất nước. Vì thế, sử dụng dân ca để giáo dục các giá trị thẩm mỹ, đạo đức, định hướng nhân cách cho học sinh là một việc làm đúng đắn, thu được hiệu quả cao. Thông qua lời ca ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, quê hương, đất nước, ca ngợi tinh thần yêu lao động, cần cù, siêng năng, ca ngợi tình yêu gia đình, tình yêu lứa đôi, các em học sinh được giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục tinh thần yêu quê hương, đất nước, tình cảm gia đình, bạn bè.… Người dân Nam Bộ chất phác, thật thà, cởi mở, nặng nghĩa tình, với truyền thống đánh giặc giữ nước từ bao đời những con người nơi đây luôn sống hết mình vì tình làng, nghĩa xóm, tình dân tộc có ảnh hưởng rất lớn trong việc giáo dục và hình thành nhân cách HS. Dân ca Nam Bộ rất phong phú về thể loại như: Hò, Lý, Hát đưa em (Hát ru), Hát huê tình (giao duyên), hát vui chơi trẻ em (Đồng dao), nói thơ, nói vè, đờn ca tài tử cải lương… Dù ra đời trong bất cứ hoàn cảnh, thời điểm nào, thời chiến hay thời bình, các ca khúc đó đều mang một điểm chung là vừa mang bản sắc truyền thống, vừa mang tính thời đại, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của quần chúng. Thế nhưng trong giai đoạn hội nhập hiện nay, sự giao thoa về văn hóa bên cạnh góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cũng đặt ra nhiều thách thức. Đó là sự du nhập của những loại hình văn hóa không phù hợp với truyền thống dân tộc, mà đối tượng dễ ảnh hưởng nhất là giới trẻ. Câu hỏi đặt ra là liệu giới trẻ ngày nay có nhận thức được tầm quan trọng của những nét đẹp truyền thống trong đó có dân ca Nam Bộ, những bản sắc văn hóa dân tộc, ngày càng xa rời những giá trị truyền thống quý báu? Và việc làm thế nào để giới trẻ nói chung và HS ở lứa tuổi THCS hiện nay thêm yêu thích những làn điệu dân ca Nam Bộ không những là trăn trở của những nhà quản lí Âm nhạc, của xã hội mà còn chính là lý do thôi thúc tôi viết đề tài: “ Một số giải pháp giúp Học sinh lớp 6 thêm yêu thích làn điệu dân ca Nam Bộ”
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC, CHINH TRI HOC PHÁT TRIÊN ĐÊ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ, KHU VỰC HOÁ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

TIỂU LUẬN CAO HỌC, CHINH TRI HOC PHÁT TRIÊN ĐÊ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ, KHU VỰC HOÁ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

MỞ ĐẦUToàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triểnlịch sử nhân loại. Đó là quá trình nhất thể hóa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,dặc biệt là kinh tế - khoa học và kỹ thuật. cơn lốc của toàn cầu hóa làm gia tăngphân công lao động quốc tế, kinh tế thị trường phát triến sâu rộng trên phạm vitoàn thế giới, khoa học và công nghệ phát triển nhanh, mạnh tác động tới tính chấtvà trình độ cuả lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại hóa, xã hội hóa và quốc tếhóa. “ làng thông tin toàn cầu” đã rút ngắn khoảng cách không gian và thời giangiữa các quốc gia dân tộc, làm cho mối quan hệ chở nên vô cùng rộng mở…Bên cạnh đó những mặt khách quan, tích cực mà toàn cầu hóa đem lại, tạo cơhội và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quốc gia dân tộc thì còn cómặt trái của toàn cầu hóa, đó là sự cạnh tranh bất bình đẳng, sự lũng đoạn của tưbản độc quyền, là sự loại trừ xã hội với sự giàu sang vô hạn độ cho những ngườicó lợi thế, biết tận dụng cơ hội do toàn cầu hóa mang lại; là sự thất nghiệp, nghèođói, bần cùng hóa của những người “yếu thế” bị đặt ra ngoài lề của sự phát triển.mặt trái của toàn cầu hóa đặt các quốc gia dân tộc đang phát triển đứng trướcnguy cơ bị các giá trị phương tây, nhất là các giá trị văn hóa mỹ xâm nhập ồ ạt,làm tổn hại bản sắc văn hóa dân tộc. mặt trái của toàn cầu hóa còn tạo nguy cơ đedọa độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia dântộc…Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy của toàn cầu hóa. Với nhận thức toàncầu hóa là một quá trình tất yếu, gồm hai mặt cả tích cực lẫn tiêu cực, việt namchủ động hội nhập chủ trương xác lập một tiến trình hội nhập quốc tế phù hợp,bảo đảm hiệu quả cả về kinh tế và chính trị, phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệuquả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đểhạn chế mặt trái của toàn cầu hóa, việt nam đã tích cực hoàn thiện chính sách pháttriển bền vững, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, phát triển vì lợi ích hàihòa giữa các nước, giữa các tầng lớp nhân dân.Bằng những kiến thức tiếp thu từ bài giảng của thầy cô và các kiến thức liên quan dến
Xem thêm

Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN ÂM NHẠC THƯỜNG THỨC LỚP 6.

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN ÂM NHẠC THƯỜNG THỨC LỚP 6.

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: SỬ DỤNG NHỮNG MẨU CHUYỆN NGẮN RÈN KĨ NĂNG CHO HỌC SINH TRONG MÔN GDCD 8 I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong những năm gần đây, vai trò, vị trí của môn GDCD ở trường THCS đã có những thay đổi rõ rệt. Trong chỉ thị số 301998CTBGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 xác định: “Môn giáo dục công dân ở trường phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức, nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”. Nhưng thực tế lại cho thấy, môn GDCD ở các trường phổ thông hiện nay lại luôn được xem là một môn phụ. Chính vì vậy mà học sinh có tâm lý xem thường không muốn học. Để cải thiện tình hình trên, các giáo viên bộ môn GDCD không ngừng trau dồi nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học để gây hứng thú học tập đối với học sinh. Rất nhiều phương pháp mới đã được các giáo viên áp dụng và trong đó phương pháp đưa những mẩu chuyện ngắn vào trong bài dạy đã đem lại những hiệu quả giáo dục đáng kể. Như chúng ta đã biết, kho tàng truyện kể của Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng cùng với những câu chuyện thực tế trong đời sống xã hội mang nội dung giáo dục sâu sắc. Từ những mẩu chuyện ngắn nhưng lại chứa đầy tính chất nhân văn về cách sống, cách làm người, cách đối nhân xử thế giữa con người với nhau. Mỗi câu chuyện là một bài học cho tất cả mọi người về mọi mặt của đời sống. Bên cạnh đó, kho tàng truyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chứa đầy giá trị nhân văn, triết lý sống của một con người vĩ đại. Mỗi câu chuyện là một lời dạy đối với mỗi người dân Việt Nam nói chung và đối với tầng lớp thanh thiếu niên nói riêng. Nếu người giáo viên biết cách lựa chọn, dẫn dắt và kể những câu chuyện sao cho phù hợp với bài học và đối tượng học sinh khi dạy chắc hẳn sẽ giúp học sinh say mê, hứng thú, học tập đạt kết quả tốt hơn. Những câu chuyện sẽ tác động trực triếp đến nhận thức, thái độ, hành vi của các em. Từ đó các em nhận thức được vai trò và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội. Hơn nữa, sử dụng truyện kể không chỉ có tác dụng tích cực đến kết quả học tập bộ môn của học sinh mà còn có tác dụng trong việc giữ gìn văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống lịch sử, khơi gợi lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Đối với những bài học về đạo đức, đạo làm người trong chương trình GDCD thì việc sử dụng những mẩu chuyện về người thật, việc thật càng trở nên thiết thực và có ý nghĩa hơn. Bên cạnh đó, một trong những mục tiêu mà môn GDCD hướng tới đó là trang bị cho học sinh một số kĩ năng sống cơ bản. Trong thời buổi đất nước mở cửa hội nhập với thế giới, đòi hỏi tất cả học sinh phải tự trang bị cho mình những kĩ năng sống phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt học sinh THCS đang ở trong giai đoạn có những thay đổi cả về mặt tâm lý lẫn sinh lý, các em dễ thay đổi theo những chiều hướng không tích cực. Chính từ thực tế đó, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên cấp thiết nhằm góp phần đào tạo “con người mới” với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mĩ, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Thông qua các câu chuyện ẩn chứa đầy ý nghĩa nhân văn về đạo đức làm người sẽ giúp học sinh nhận thức được ý thức trách nhiệm của các em đối với bản thân mình, đối với cộng đồng và đất nước. Từ đó giúp các em rèn được một số kĩ năng cơ bản và cần thiết để các em dễ dàng thích ứng với cuộc sống hiện tại của bản thân. Giúp các em bước đầu xây dựng hành trang để bước vào đời với tương lai tươi sáng, rực rỡ hơn. Chính vì lý do trên mà tôi thực hiện đề tài: “Sử dụng những mẩu chuyện ngắn rèn kĩ năng cho học sinh trong môn GDCD 8”.
Xem thêm

17 Đọc thêm

ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁOVÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, các dân tộc đều đứng trƣớc đòi hỏi tất yếu khách quan, đó là vừa phải hòa mình vào bối cảnh chung, vừa phải khẳng định các tính chất riêng có của quốc gia, dân tộc mình. Với tƣ cách là cái bản chất định vị vai trò, chỗ đứng của các dân tộc, giá trị văn hóa truyền thống luôn là hệ chuẩn nhận diện sức sống và tƣơng lai phát triển của chính dân tộc ấy. Do đó, việc nghiên cứu lý luận nhằm tiếp tục làm rõ vai trò của các giá trị truyền thống với tƣ cách hình thành nên bản sắc văn hóa là điều cần thiết và có ý nghĩa đối với đất nƣớc ta hiện nay. Trong không khí ấy, các giá trị văn hóa tinh thần Đông phƣơng, trong đó có Nho giáo đang nhận đƣợc sự quan tâm ngày càng nhiều sự đóng góp của nó vào sự hình thành các giá trị đó trong thời kỳ lịch sử lâu dài. Chính những thành công của một số nƣớc trong khu vực chịu ảnh hƣởng của Nho giáo đã chứng tỏ điều đó. Không chỉ trong lịch sử, mà ngày nay Nho giáo nói chung, học thuyết đạo đức của nó noia riêng đang tiếp tục tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần của nhiều dân tộc. Do đó, vấn đề căn bản hiện nay là phải khai thác cái gì ở Nho giáo và vận dụng nó nhƣ thế nào cho phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Không những thế, yêu cầu này còn xuất phát từ thực tiễn vì mục đích xây dựng xã hội lành mạnh, hài hòa và phát triển. Việc kế thừa và phát huy đạo đức truyền thống nói chung và các giá trị đạo đức Nho giáo nói riêng hiển nhiên không phải là sự lựa chọn mới, mà là một tất yếu khách quan. “Từ xƣa đến nay, bất luận dân tộc nào, bất luận quốc gia nào, dầu vàng, dầu trắng, dầu yếu, dầu mạnh, đã đứng cạnh tranh hơn thua với các dân tộc trên thế giới thì chẳng những thuần nhờ sức mạnh thôi, mà phải nhờ cái đạo đức làm gốc nữa; nhất là dân tộc nào bị té nhào xuống, nay muốn đứng lên khỏi bị ngƣời đè lên trên thì lại cần có một đạo đức vững chặt hơn dân tộc đang giàu mạnh hơn mình” 134, tr.2. Vấn đề xây dựng đạo đức mới hiện nay đang trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, bởi lẽ, những tác động tiêu cực nảy sinh từ sự chuyển đổi thể chế kinh tế ở nƣớc ta diễn ra trong vài thập niên gần đây đã tạo môi trƣờng thuận lợi cho cái cũ, cái lạc hậu có cơ hội phục hồi, cái bệnh hoạn, suy đồi, biến thái đƣợc dung dƣỡng. Tình trạng lao dốc của đời sống đạo đức tỷ lệ nghịch với sự tăng trƣởng các điều kiện vật chất, sức mạnh đồng tiền đã khiến xã hội đối mặt với thực trạng vô đạo đức, phản văn hóa ngày càng gia tăng. Nhiều ngƣời thừa tiền nhƣng sống thiếu văn hóa, giàu về vật chất nhƣng hủ bại về đời sống đạo đức. Không ít đạo lý vốn đƣợc coi là chân lý sống bị đảo lộn: ngƣời già bị bạc đãi, con trẻ bị bỏ rơi, con ngƣời cảm giác cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình, không ít ngƣời không thực hiện trách nhiệm của một ngƣời làm con đối với cha mẹ, quên đi trách nhiệm của một công dân đối với tổ quốc… Khi Việt Nam đã và đang tiếp tục đối mặt với những thách thức về suy thoái đạo đức, thì việc trở lại với những giá trị đạo đức căn bản nhƣ hiếu, trung để giáo dục ý thức trách nhiệm cho con ngƣời càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đạo đức trung, hiếu của Nho giáo từ khía cạnh lịch sử triết học có nhiệm vụ gạn đục khơi trong để tìm lấy ở đó những giá trị hợp lý có thể vận dụng trong điều kiện mới là việc làm không chỉ mang tính học thuật thuần túy, mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách đối với xã hội hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tui quyết định chọn đề tài “Đạo đức trung, hiếu của Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay”, cho luận án tiến sỹ triết học của mình với mong muốn đƣợc đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm rõ và sâu sắc hơn hai phạm trù đạo đức đó của Nho giáo cũng nhƣ cho việc hoạch định phƣơng hƣớng giải quyết các vấn đề thực tiễn cấp bách nảy sinh trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc trong điều kiện hiện nay. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án Mục đích: Từ việc phân tích nội dung căn bản của đạo đức trung, hiếu của Nho giáo và sự tiếp biến của nó ở Việt Nam, luận án làm rõ ý nghĩa của đạo đức trung hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay. Nhiệm vụ: Phân tích bối cảnh ra đời và những nội dung của đạo đức trung, hiếu trong tiến trình lịch sử của Nho giáo. Phân tích sự tiếp biến và đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo Việt Nam Phân tích về ý nghĩa của trung, hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo. Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu bằng việc chỉ khảo cứu đạo đức trung, hiếu của Nho giáo ở Trung Quốc (Nho giáo Nguyên Thủy, Nho giáo thời Hán, Nho giáo thời Tống) và phân tích nội dung của nó trong Nho giáo Việt Nam qua các đại biểu nho học chọn lọc. Trên cơ sở đó, đánh giá ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm cá nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện mới. Phƣơng pháp nghiên cứu: Khi áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử triết học, luận án đặt toàn bộ vấn đề nghiên cứu dƣới ánh sáng của chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vì vậy ngoài việc sử dụng các phƣơng pháp: từ trừu tƣợng đến cụ thể, phân tích, tổng hợp, so sánh....luận án còn quán triệt nguyên tắc lịch sử cụ thể và nguyên tắc khách quan, toàn diện trong quá trình triển khai đề tài. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Luận án trình bày khái quát đƣợc nội dung đạo đức trung, hiếu của Nho giáo ở Trung Quốc đồng thời chỉ ra đƣợc sự tiếp biến của đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo ở Việt Nam và nhận định đƣợc về ý nghĩa của đạo đức trung, hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm cho cá nhân trong giai đoạn hiện nay ở nƣớc ta.
Xem thêm

165 Đọc thêm

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giáo dục Đạo đức cho học sinh Tiểu học.

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.

Đạo đức là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên nhân cách con người. Trong bất cứ xã hội nào, chế độ nào, đạo đức cũng được xã hội tôn vinh và trọng dụng. Đạo đức là đạo lý làm người, cái đức của một con người. Giáo dục đạo đức học sinh là một quá trình lâu dài tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm hoàn thành và bồi dưỡng cho các em thói quen và hành vi đạo đức, hoàn thành những nét tính cách của con người mới phù hợp với mục đích giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh danh nhân văn hóa thế giới cũng là một nhà giáo dục thiên tài. Trong tư tưởng của người giáo dục phải thể hiện ở cả hai mặt tài và đức. Bác viết: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng”. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người, mọi chế độ xã hội đều có nền giáo dục đặc trưng, riêng chế độ xã hội chủ nghĩa thì nền giáo dục có một đặc điểm mà các nền giáo dục khác không đạt được. Đó chính là giáo dục con người theo phương châm : “Lấy hoa thơm lấn dần cỏ dại”. Mỗi con người dù không hoàn hảo vẫn có một phần lương thiện ẩn chứa trong tâm hồn. Đặc biệt là đối với tuổi thơ, dù ngỗ nghịch đến mức nào đi nữa thì các em vẫn không mất hẳn nét vô tư hồn nhiên và cũng dễ dàng thay đổi nếu như chúng ta có phương pháp giáo dục đúng đắn và phù hợp. Trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục tiểu học có một vị trí vô cùng quan trọng, đặt cơ sở ban đầu cho các bậc học khác. Vì vậy, tiểu học chiếm vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục, hình thành nền tảng cho sự phát triển lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất và các kĩ năng cơ bản để học tiếp tục trung học. Đặc biệt những lớp đầu cấp của tiểu học là nền móng vô cùng quan trọng quyết định sự bền vững của cả một quá trình giáo dục không chỉ ở riêng một bậc học mà đối với cả đời người. Thời kỳ đất nước hội nhập và phát triển, nền giáo dục của chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức, điều này đòi hỏi mỗi thầy cô giáo phải luôn tìm nhiều phương pháp giáo dục chủ động để hướng cho học sinh rèn luyện phẩm chất đạo đức phải làm sao để các em vừa theo được cái mới của bên ngoài lại vừa hiểu rõ và gìn giữ những giá trị đạo đức tốt đẹp của truyền thống dân tộc. Đây là nhiệm vụ không phải dễ dàng. Mặt khác tình trạng đạo đức xuống cấp đang là vấn đề nhức nhối không phải chỉ riêng một cá nhân, một gia đình mà là mối quan tâm của cả cộng đồng xã hội.
Xem thêm

11 Đọc thêm

BÀI GIẢNG: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

BÀI GIẢNG: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

Kính thưa các đồng chí Việt Nam là một quốc gia thống nhất, bao gồm 54 dân tộc, tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong quá trình đó nhân dân ta thường xuyên phải đương đầu với thiên tai, địch họa. Để bảo vệ sự tồn tại của mình, các dân tộc đã sớm cố kết, dựa vào nhau hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất tạo thành sức mạnh chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh, trong mọi giai đoạn, mọi hoàn cảnh khó khăn gian khổ, các cộng đồng dân tộc Việt Nam luôn luôn đoàn kết, chung sống hòa hợp, giúp đỡ nhau cùng tồn tại và phát triển. Đặc biệt, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng thiên tai, chiến thắng thù trong, giặc ngoài, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết của 54 dân tộc trong nước, chúng ta mới bảo vệ được độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đất nước mới có điều kiện sống trong hòa bình và phát triển bền vững. Để hiểu rõ hơn những vấn đề trên, sau đây chúng ta hãy cùng nhau đi vào phần nội dung chính của bài hôm nay
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THƯƠNG MẠI VẬN TẢI ĐỨC THÀNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THƯƠNG MẠI VẬN TẢI ĐỨC THÀNH

Đất nước ta sau khi xoá bỏ bao cấp, gia nhập vào cơ chế thị trường nền kinh tế đã thay đổi rất nhiều. Đã thu được những thành công nhất định, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao rõ rệt và xu hướng phát triển ngày càng tăng với xu thế hội nhập toàn cầu, chính sách đổi mới mở của Đảng và Nhà nước để phù hợp với hội nhập thì hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở nước ta đặc biệt được coi trọng trở thành công cụ để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển của đất nước. Mở rộng hội nhập vào thị trường thương mại thế giới.Chúng ta đã trở thành thành viên của ASIAN và đã ra nhập WTO. Vì vậy muốn thành công thì các doanh nghiệp buộc phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tự tìm kiếm nguồn hàng, mối hàng và cân đối trong hoạt động tài chính để đảm bảo có thể mang lại hiệu quả. Muốn vậy thì phải cung cấp được những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng, đồng thời nắm bắt kịp thời những diễn biến thị trường để tạo dựng được một chiến lược phát triển lâu dài. Kinh doanh trong xu thế quốc tế hoá, các Doanh nghiệp, các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực, lợi thế so sánh sẵn có của mình để tham gia có hiệu quả vào thương mại quốc tế. Một trong những lợi thế của Việt Nam là sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Đây là những sản phẩm đã có quá trình phát triển khá lâu dài, mang đậm nét tinh hoa, độc đáo của truyền thống Dân tộc, được thế giới đánh giá cao về sự tinh xảo và trình độ nghệ thuật. Việc xuất khẩu những mặt hàng này đem lại nguồn thu ngoại tệ không nhỏ, góp phần cải thiện cán cân xuất nhập khẩu và cán cân thanh toán quốc tế của Đất nước.. Trong những năm qua, công ty TNHH Một Thành Viên Thương Mại Vận Tải Đức Thành đã có cố gắng rất lớn trong việc đẩy mạnh và mở rộng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang các thị trường trong khu vực và trên thế giới. Công ty đã đạt được một số thành tựu nhưng đồng thời cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Sau một thời gian thực tập tại công ty.thấy rằng hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là vấn đề cần thiết đối với công ty TNHH Một Thành Viên Thương Mại Vận Tải Đức Thành . Vì vậy em xin chọn đề tài Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty TNHH Một Thành Viên Thương Mại Vận Tải Đức Thành Làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

54 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRUYỀN THỐNG yêu nước, CHỐNG GIẶC NGOẠI xâm của dân tộc đối với sự HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TRUYỀN THỐNG yêu nước, CHỐNG GIẶC NGOẠI xâm của dân tộc đối với sự HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là hội tụ những yếu tố khách quan và chủ quan. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng. Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam vừa là cội nguồn, vừa là tác động xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó chủ nghĩa yêu nước là một nhân tố cơ bản có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với sự hình thành, phát triển tư tưởng của Người. Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đánh giặc giữ nước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, xây dựng chí hướng cứu nước, tạo động lực cho Hồ Chí Minh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để tìm thấy ánh sáng chủ nghĩa MácLênin tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh viết “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba
Xem thêm

Đọc thêm

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa đã trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm l¬ược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách trong cuộc đấu tranh dựng nư¬ớc và giữ nư¬ớc. Đại hội lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) của Đảng Cộng sản đã thông qua Cư¬ơng lĩnh xây dựng đất n¬ước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó Cương lĩnh đã xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc tr¬ưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nh¬ư vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này đánh dấu sự phát triển ,tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng.Vận dụng những quan điểm lãnh đạo của Đảng, ngày nay, mỗi doanh nghiệp đều tạo dựng cho mình một nét văn hóa riêng, tạo nên bản sắc của doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh tự nó là một nhu cầu của văn minh thị trường và là đòi hỏi của sự phát triển. Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu vừa là thách thực lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong xu hướng phát triển, gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay. Xây dựng một nền văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến chính là nội dung, biện pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng, củng cố lại nội tại, tạo tư thế mới làm tiền đề và điểm tựa cho việc hội nhập của mỗi doanh nghiệp
Xem thêm

48 Đọc thêm

Cùng chủ đề