VỊ THUỐC ĐÔNG Y PHÒNG BỆNH CÚM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VỊ THUỐC ĐÔNG Y PHÒNG BỆNH CÚM":

BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CHI PHÍ SỬ DỤNG THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH THEO CÁC TUYẾN TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở VIỆT NAM NĂM 2014 2015

BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CHI PHÍ SỬ DỤNG THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH THEO CÁC TUYẾN TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở VIỆT NAM NĂM 2014 2015

Tail lieu,luan van thac si , luan an tien si 12 of 169.Tail lieu,luan van thac si , luan an tien si 13 of 169.hội loài người xuất hiện thì nhu cầu an toàn đối với con người cũng xuất hiện [17].Để đối phó với rủi ro và khắc phục hậu quả tổn thất, con người đã tìm ra nhiều cáchthức khác nhau để phòng vệ [17], do đó ý tưởng đầu tiên về bảo hiểm được hìnhthành. Tuy nhiên phải đến thế kỉ XIX các loại bảo hiểm mới thực sự trở nên phongphú đa dạng do sự xuất hiện của nhiều rủi ro, tai nạn, ốm đau, bệnh tật, bệnh nghềnghiệp kéo theo sự ra đời và phát triển của các công ty bảo hiểm tại các nước tư bảnphát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức trong đó có loại hình BHYT [22].Luật BHYT bắt buộc đầu tiên được ban hành tại Đức vào năm 1883 dướithời thủ tướng Bismark, mở đầu cho sự phát triển của một trong những loại hìnhbảo hiểm thuốc hệ thống các chính sách an sinh xã hội lớn trên toàn thế giới [36]. Ởchâu Âu, một số nước phát triển đã tổ chức xây dựng và hình thành nên quỹ BHYTdựa vào mô hình của Đức như Áo (1888), Hungary (1891), Đan Mạch (1892), ThụyĐiển (1891), Bỉ (1894), Tây Ban Nha (1929) [23]. Ở châu Á, Nhật Bản là quốc giaban hành Luật BHYT sớm nhất vào năm 1922 [16]. Chính sách BHYT xã hội cũngđã được nhiều nước trong khu vực này thực hiện thành công như Hàn Quốc, TháiLan, Singapore [1; 26]. Việt Nam đã triển khai BHYT từ giữa thập niên 90 và đangtiến tới bao phủ BHYT toàn dân [39].1.1.4. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm y tế Việt NamTại Việt Nam, nhận thức được sự cần thiết của BHYT trong giai đoạn mới,Đảng và Nhà nước đã chính thức giao cho BYT và Bộ Tài chính xem xét và thựchiện chính sách BHYT. Năm 1989 nước ta đã tiến hành thí điểm mô hình BHYT ởmột số địa phương như Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Trị, Đăk Lăk, Bến Tre…Tỷlệ tham gia BHYT ở Hải Phòng là 4,55-9,1%, ở Vĩnh Phúc là 3-7% [3]. Việc thựchiện thí điểm ở một số địa phương đã đem lại những kết quả bước đầu, cải thiệnhơn chất lượng cung cấp dịch vụ y tế tại các cơ sở KCB. Cơ sở vật chất trang thiết
Xem thêm

Đọc thêm

Người cao huyết áp có ăn được thịt bò không?

NGƯỜI CAO HUYẾT ÁP CÓ ĂN ĐƯỢC THỊT BÒ KHÔNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Giá trị dinh dưỡng của thịt bò cao, đáng chú ý là giúp tăng cường cơ bắp nhờ giàu axit amoniac; Tăng cường hệ miễn dịch, chuyển hóa và tổng hợp thức ăn; Bổ huyết nhờ giàu vitamin B6, protein và sắt; Vitamin B12 có trong thịt bò cung cấp năng lượng cần thiết cho các tế bào, thúc đẩy chuỗi axit amin chuyển hóa… cung cấp năng lượng khi cơ thể hoạt động ở cường độ cao.   Ảnh minh họa Lương y Vũ Quốc Trung cho biết các loại thực phẩm từ thịt bò đều được sử dụng rộng rãi. Ông cũng đọc nhiều sách của Đông y về các món ăn, trong đó thịt bò cũng được nhắc đến khá nhiều. Đặc biệt theo Hải Thượng Lãn Ông ghi trong Lĩnh Nam Bản Thảo Hoang lưu nhục - Thịt bò trong con bò vàng có vị ngọt tính ôn không có độc, trị tiêu hao gầy mòn. Giống như thịt trâu có tác dụng bổ tì vị, ích khí huyết, bổ gân cốt, thịt bò là thức ăn phổ biến, dùng hàng ngày. Ngoài ra thịt bò còn dùng làm thuốc. Sỏi mật bò là thuốc quý có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, hơi độc vào ba kinh tâm tì can, thanh tâm hóa đờm, trúng ác: như trúng phòng, cấm khẩu. Sỏi mật bò có trong An cung ngưu hoàng hoàn, Thanh tâm ngưu hoàng hoàn.  Ngoài ra, trong con bò còn có ngẩu pín – dương vật và tinh hoàn bò, theo kinh nghiệm của dân gian có tác dụng bổ thận tráng dương giúp cho các nam giới yếu sinh lý, rối loạn cương. Gan bò, lá lách, vó bò đều được coi là món ăn. Tất cả các bộ phận của con bò đều chế biến thành thức ăn và vị thuốc. Thịt bò chế biến được nhiều món khác nhau. Tuy nhiên, y văn từ trước đến nay đều khuyến cáo không nên ăn lươn cùng thịt bò và thịt trâu.  Về mùa đông, nên ăn nhiều thịt bò vì chứa axit amin dễ hấp thu, thịt bò có tác dụng làm ấm dạ dày và có nhiều thành phần dinh dưỡng. Đông y cho rằng thịt bò bổ trung ích khí, chống rãi rớt, dùng cho người khó thở, thiếu máu, hoa mắt vàng da, suy gân cốt. Kiêng kỵ: Chất xơ trong thịt bò tương đối thô, khó tiêu hóa, hơn nữa thịt bò nhiều cholesterol và mỡ nên người già, trẻ nhỏ và những người tiêu hóa kém không nên ăn thịt bò. Ngoài ra, những người mắc về bệnh da, gan, thận nên cẩn thận khi ăn thịt bò. Trong Tây y người ta vẫn khuyến cáo nhiều người không ăn được thịt bò. Do có thành phần đạm cao nên người bị bệnh mỡ máu không nên ăn thịt bò. Người cao huyết áp ăn thịt bò nhiều có hại, bởi trong thịt bò chứa một lượng lớn chất béo bão hòa. Ngoài ra, những người bị u xơ cổ tử cung cũng không nên ăn thịt bò vì có những kích thích tố như estrogen có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khối u. Tuy nhiên theo Đông y, bản thân thịt bò là một thức ăn có tác dụng chữa bệnh. Ví dụ bệnh cao huyết áp người ta có thể sử dụng 250 gr rau cần xào với 100gr thịt bò. Thịt bò cũng có tác dụng chữa tiểu đường nếu phối hợp thịt bò với dưa chuột. Tuy nhiên, lương y Vũ Quốc Trung vẫn chia sẻ, cần có sự cân đối thực phẩm trong ngày Tết với những người có bệnh mãn tính như huyết áp, tiểu đường.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BỆNH CẢM CÚM KHI GIAO MÙA VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG

BỆNH CẢM CÚM KHI GIAO MÙA VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG

như sốt, ho dai dẳng trong một vài ngày nên nhiều người chủ quan cho rằng bệnhsẽ tự khỏi nên ít đến cơ sở y tế khám. Tuy nhiên, nếu không điều trị hoặc điều trịquá muộn cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm dẫn đến viêm phổi, suy hô hấp,VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phínhất là với những người có sức đề kháng kém như phụ nữ có thai, người già, trẻnhỏ, người mắc bệnh tim, phổi mạn tính, mắc bệnh suy giảm miễn dịch,…Những biến chứng thường gặp là:Viêm tai giữa: Xảy ra khi vi khuẩn hoặc virut xâm nhập vào phía sau màng nhĩ.Đây là một biến chứng của cảm cúm phổ biến ở trẻ em. Dấu hiệu và triệu chứngđiển hình bao gồm đau tai, và trong một số trường hợp nước mũi màu xanh hoặcmàu vàng từ mũi đi kèm với một cơn sốt sau một cảm cúm thông thường. Đối vớitrẻ nhỏ biểu hiện đơn giản chỉ có thể khóc hoặc ngủ li bì.Viêm xoang: Ở người lớn hoặc trẻ em, cảm cúm kéo dài không điều trị tái đi tái lạicó thể dẫn đến viêm xoang.Hội chứng Reye ở trẻ em: Nguy hiểm nhất là hội chứng Reye ở trẻ em (hội chứngReye rất ít gặp nhưng biến chứng rất trầm trọng, tỷ lệ tử vong cao). Hội chứngReye hay xảy ra nhất trong khoảng từ 2–16 tuổi, vài ngày sau khi bị cúm. Khi cáctriệu chứng của cúm có vẻ như đang bớt dần, trẻ đột nhiên buồn nôn và nôn mửa.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíSau đó khoảng 1-2 ngày, trẻ lờ đờ hoặc mê sảng, giật kinh phong rồi đi dần vàohôn mê và có thể tử vong rất nhanh. Do vậy, khi có các triệu chứng của cảm cúmcần điều trị ngay theo chỉ định của bác sĩ, không nên coi thường bệnh mà nguy hạicho sức khoẻ.5. Cách trị dứt cảm cúm khi giao mùa hiệu quả nhanh, không cần thuốc tây
Xem thêm

7 Đọc thêm

KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ TIÊM VẮC XIN CÚM MÙA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ HAI BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN

KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ TIÊM VẮC XIN CÚM MÙA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ HAI BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Việt Nam đã có hệ thống văn bản pháp luật hoàn thiện về việc sử dụngvắc xin bao gồm: Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và các thông tư, vănbản hướng dẫn thực hiện Luật. Thêm vào đó, ngành y tế luôn nhận được sựquan tâm đầu tư của Chính phủ và tích cực tham gia của toàn thể hệ thốngchính trị vào công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm đặc biệt là phòngchống bệnh cúm ngày càng được nâng cao. Hệ thống y tế dự phòng rộng khắptừ Trung ương đến cơ sở, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động tiêm chủngphòng bệnh. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đã góp phần quantrọng trong việc tăng cường nhận thức của người dân, tích cực tiếp cận dịchvụ y tế.Việt Nam là một trong số ít các nước trong khu vực sản xuất có khả năngsản xuất vắc xin từ nhiều năm nay và đã sản xuất nhiều vắc xin đạt chất lượngtốt đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. Các nhà sản xuất vắc xintại Việt Nam đều có năng lực nghiên cứu, sản xuất vắc xin cúm, được đầu tưcơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và đều có kế hoạch triển khai, nghiêncứu, sản xuất vắc xin cúm trong thời gian tới. Được sự hỗ trợ tích cực củachính phủ và các tổ chức quốc tế về kinh phí, chuyển giao công nghệ, cungcấp chủng.Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực và trên thếgiới vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong việc sử dụng vắc xin. Nhậnthức của người dân về bệnh truyền nhiễm và các biện pháp phòng chống bệnhtruyền nhiễm ở một số vùng còn hạn chế. Do điều kiện kinh tế còn thấp, ýthức tự bảo vệ sức khoẻ của người dân chưa cao, việc sử dụng vắc xin còndựa chủ yếu vào sự bao cấp của Nhà nước, đặc biệt là vùng nông thôn, vùngsâu, vùng xa. Vắc xin cúm sử dụng chủ yếu là vắc xin nhập khẩu và sử dụng19dưới hình thức tiêm chủng dịch vụ vì vậy việc cung ứng vắc xin phụ thuộc
Xem thêm

Đọc thêm

Có nên đắp đậu xanh khi bị ''''giời leo''''?

CÓ NÊN ĐẮP ĐẬU XANH KHI BỊ ''''GIỜI LEO''''?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo mô tả thì bạn bị bệnh zona, do virus Varicella Zoster gây nên. Tổn thương da là các mụn nước, bọng nước sắp xếp thành dải trên một vùng da nào đó ở một bên thân thể (như liên sườn, bụng, đùi, một bên tay chân hoặc một bên mặt), có đau rát kèm theo. Dân gian gọi bệnh này là giời leo và thường mách nhau chữa bằng cách nhai đậu xanh sống đắp vào vùng bị tổn thương. Đậu xanh tuy được coi là một vị thuốc mát trong Đông y nhưng không có tác dụng với virus gây bệnh zona. Trên thực tế, trong các trường hợp zona giới hạn (tổn thương nhỏ, số lượng tổn thương ít), bệnh có thể tự khỏi, không gây biến chứng gì nếu được đắp đậu xanh (nên người ta tưởng nhầm là đậu xanh có tác dụng chữa giời leo). Tuy nhiên, nếu tổn thương rộng và biểu hiện bằng các mụn nước to, việc đắp đậu xanh rất dễ gây các biến chứng như nhiễm trùng tại chỗ (vì đậu xanh bịt các tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển). Nếu không làm vệ sinh tại chỗ và dùng thuốc thích hợp, sau vài ngày, nhiễm trùng da sẽ lan rộng và ăn sâu xuống, tạo thành các vết loét sâu, đầy mủ. Việc điều trị các vết loét này có thể mất hàng tháng. Vì vậy, bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa da liễu để khám và có cách điều trị thích hợp.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Chăm sóc mẹ bầu bị cảm cúm

CHĂM SÓC MẸ BẦU BỊ CẢM CÚM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thời tiết chuyển mùa từ xuân sang hè sẽ khiến chị em bầu bí rất dễ mắc cảm cúm do sức đề kháng yếu. Không chỉ thế, trong ba tháng đầu nhiều người còn mắc cảm cúm như một triệu chứng ốm nghén. Điều đáng nói là cảm cúm trong quý đầu thai kỳ rất nguy hiểm với bà bầu và chị em lại không thể dùng thuốc. Vì vậy, cách an toàn nhất để trị bệnh là sử dụng đến các phương pháp từ dân gian. Khi bị cảm cúm, mẹ bầu nên bổ sung các loại thức ăn giàu dinh dưỡng như soup, rau xanh, hoa quả và nghỉ ngơi đủ giúp củng cố sức khỏe, chống lại bệnh tật. Tỏi (với số lượng vừa phải) và thực phẩm giàu vitamin C (cam, quýt, rau quả củ có màu vàng cam) cũng tăng cường hệ miễn dịch. Các chuyên gia khuyên rằng khi chăm sóc bà bầu giảm cảm cúm nên bổ sung viêm kẽm trong giai đoạn này nhưng cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước. Ngoài ra, nên cho bà bầu uống đủ nước để tránh mất nước lại khiến các dịch nhầy ở mũi dễ chảy ra ngoài và được làm sạch.   Sức đề kháng kém khiến mẹ bầu dễ mắc cảm cúm. (ảnh minh họa) Dưới đây là một số lời khuyên hữu ích giúp mẹ bầu ứng phó với cảm cúm: Ăn tỏi Bạn có thể dùng dung dịch tỏi để tránh cúm bằng cách giã tỏi cho nhỏ ra rồi cứ thế uống với nước sẽ có tác dụng nhanh chóng. Làm như vậy có thể hơi khó uống một chút vì vị hăng hăng của tỏi khiến bạn khó chịu, nhưng bạn sẽ rất hài lòng với tác dụng mà nó đem lại. Trong quá trình mang thai bạn có thể ăn tỏi nhiều hơn bình thường cũng được. Ví như trong quá trình xào rau bạn cho tỏi nhiều hơn, ăn bữa sáng cho giấm tỏi sẽ giúp bạn phòng tránh cúm. Xông mũi Chị em hãy thử chùm một chiếc khăn lên đầu vào ghé mặt vào một ly nước nóng. Xông hơi thế này giúp dễ thở khi bà bầu bị nghẹt mũi. Để thông mũi đạt hiệu quả, có thể thêm tinh dầu trà xanh hoặc vài nhánh tỏi đập dập vào ly nước khi xông hơi. Nhỏ mũi bằng nước muối sinh lí Nước muối sinh lý 0.9% dùng để vệ sinh mũi phải được bác sĩ tư vấn cho bà bầu. Ngoài ra, khi chăm sóc bà bầu giảm cảm cúm có thể tự pha dung dịch nước muối loãng (1/4 thìa muối trong một chén nước) để vệ sinh mũi. Đây là dung dịch không hóa chất và an toàn cho bà bầu. Cũng có thể pha một thìa muối vào một cốc nước ấm để bà bầu súc miệng. Trị ho, viêm họng Chị em bầu cũng có thể sử dụng chanh và mật ong trộn lẫn hoặc pha chanh với mật ong vào nước ấm giúp trị ho, viêm họng. Các mẹ cũng có thể dùng quất + mật ong hấp lên để ăn giúp trị ho nhé.   Khi bị cảm cúm ở mức độ nhẹ, mẹ bầu nên sử dụng những phương pháp chữa bệnh từ dân gian. (ảnh minh họa) Ăn cháo giải cảm Nếu bị cảm cúm nhẹ, bà bầu chỉ cần ăn cháo trứng đặc biệt cháo phải nóng và có nhiều hành tía tô sao cho khi ăn xong cơ thể toát ra mồ hôi. Món ăn này vừa bổ dưỡng vừa chữa khỏi cảm cúm vậy thì còn trần trừ gì mà không ăn phải không bạn. Phòng tránh cảm cúm cho bà bầu - Để phòng tránh cảm cúm bạn tích cực ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C, uống nhiều nước, giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ. Bạn có thể súc miệng bằng nước muối thường xuyên. Uống nhiều nước để làm loãng đờm và thải độc tố. Uống nước mật ong thêm gừng hoặc chanh nóng. - Bạn nên cẩn thận mang trong mình một chiếc áo mưa. Vì tháng này mưa thất thường lắm. Nếu bị mưa bạn sẽ bị cảm đấy. - Tránh tiếp xúc với người bị cảm cúm vì bà bầu có nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất. - Trong khi ngủ bạn nên đề phòng bị ngạt mũi bằng cách nằm không rọi quạt vào mặt, lấy một chiếc khăn mỏng đặt lên cổ. Tra thuốc nhỏ mũi. Những bài thuốc dân gian tuy thời gian khỏi hơi lâu một chút nhưng lại an toàn hơn cả. Nếu bà bầu kiên trì sẽ có kết quả tốt đẹp mà không hề ảnh hưởng đến thai nhi trong bụng mẹ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Uống hà thủ ô chữa bạc tóc?

UỐNG HÀ THỦ Ô CHỮA BẠC TÓC?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hỏi: Con gái tôi mới 15 tuổi nhưng tóc đã bạc rất nhiều. Tôi nghe nói hà thủ ô chữa bạc tóc rất tốt nhưng dễ gây nóng, nổi mụn, táo bón… Vậy có nên kết hợp hà thủ ô với một số vị thuốc khác như đậu đen, mè đen… không? Lê Phương Dung (TP.HCM) Trả lời: (BS.CK2 Trần Văn Năm, phó viện trưởng viện Y dược học dân tộc TP.HCM): Con gái chị 15 tuổi mà tóc bạc nhiều như vậy được gọi là chứng tóc bạc sớm. Người châu Á khi tóc bạc trước tuổi 20 là mắc chứng tóc bạc sớm, nguyên nhân do có sự bất thường trong hoạt động của tế bào hắc tố (melanocyte) có chức năng tạo nên sắc tố melanin, đó là màu đen của tóc, da... Tóc bạc sớm có thể do di truyền (nhiều người trong gia đình bị tóc bạc sớm); bệnh ở tuyến yên; tuyến giáp trạng; căng thẳng tinh thần; sau một bệnh nặng; thiếu vitamin B12... Nên đưa con chị đến bác sĩ khám nhằm tìm xem chứng tóc bạc sớm này có nguyên nhân gì, phải chữa nguyên nhân thì điều trị mới hiệu quả.   Hà thủ ô có thực sự đem lại tác dụng trong việc chữa chứng bạc tóc sớm? (Ảnh: Internet) Theo kinh nghiệm của các thầy thuốc đông y (thực tế nhiều người sử dụng cho kết quả tốt): hà thủ ô là vị thuốc chính điều trị chứng bạc tóc, tuy nhiên mỗi người có thể tạng khác nhau (gầy, thừa cân, nóng, lạnh...) nên phối hợp với các vị thuốc khác để có hiệu quả hơn hoặc giảm phản ứng khó chịu của hà thủ ô khi dùng đơn độc. Đậu đen, mè đen... thường phối với hà thủ ô để có hiệu quả tốt hơn. Ngoài hà thủ ô, thuốc nam còn có trái dâu tằm, cỏ mần trầu... nhiều người sử dụng cho kết quả tốt. Tuy nhiên, trước khi sử dụng loại thuốc gì, chị nên tham khảo ý kiến thầy thuốc có kinh nghiệm, và cần khám bệnh trước cho cháu rồi hãy tính chuyện điều trị cách nào.
Xem thêm

1 Đọc thêm

CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA ĐÔNG Y QUA NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH

CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA ĐÔNG Y QUA NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH

1. Lý do chọn đề tài Triết học vốn là một ngành khoa học giữ vai trò là nền tảng lý luận, định hướng về mặt thế giới quan và phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học cụ thể. Điều đó có nghĩa rằng triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể, mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luận nhận thức mang tính phổ quát. Phát triển song hành cùng các khoa học cụ thể, triết học đã vạch ra lôgíc của các quá trình nhận thức, trở thành phương pháp luận của nhận thức khoa học ngay từ khi mới ra đời mặc dù chỉ là những tư tưởng còn mang nặng tính trực quan, cảm tính. Triết học Trung Quốc cổ đại với những thành tựu đáng kể cũng đã định hướng cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó chịu ảnh hưởng nhiều nhất, trực tiếp nhất có thể nói đến là Đông y hay Y học cổ truyền. Đông y học có sự gắn bó mật thiết với sự phát triển của các tư tưởng Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại, mối quan hệ này được biểu hiện ngay từ trong quá trình hình thành nên những học thuyết cơ bản đầu tiên của Đông y, trong đó triết học giữ vai trò là nền tảng về mặt lý luận, định hướng cho quá trình nghiên cứu các vấn đề quan trọng của lý luận Đông y như: phương pháp dưỡng sinh; biện chứng luận trị; phương pháp trị bệnh theo thời; … Mối quan hệ giữa triết học với Đông y với tư cách là một ngành khoa học tự nhiên độc lập có thể được lý giải như sau: Khoa học tự nhiên có liên quan đến hệ thống tri thức lý luận của quy luật vận động vật chất. Triết học có liên quan đến học thuyết của thế giới quan, hệ thống quan điểm căn bản của con người đối với chỉnh thể tự nhiên giới. Sự phát triển và hình thành của bất cứ một môn khoa học tự nhiên nào cũng không rời khỏi triết học, mà Đông y học lại thuộc phạm trù khoa học tự nhiên, nên hệ thống lý luận trước sau vẫn không tách rời khỏi triết học cổ đại. Đông y học vận dụng phạm trù khái niệm của triết học để quan sát sự vật, nhờ đó làm sáng tỏ được các vấn đề, đồng thời quán xuyến tất cả các phương diện hệ thống lý luận Đông y, khiến cho hệ thống này trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống lý luận Đông y. Các khái niệm và phạm trù này, thông qua thực tiễn chẩn đoán trị liệu lâm sàng mà có được sự tìm tòi, nghiệm chứng và đào sâu, từ đó làm cho phong phú và phát triển thêm lý luận triết học cổ đại. Như vậy, sự hình thành và phát triển của Đông y, về mặt lý luận, gắn liền với sự tồn tại và phát triển các học thuyết triết học cơ bản của Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại như: tư tưởng thiên nhân hợp nhất; học thuyết Âm dương – Ngũ hành; học thuyết về Khí; một số nội dung triết học được thể hiện trong Chu dịch;… Đây là những tư tưởng triết học xuất hiện từ rất sớm với nội dung phong phú, chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc trong quan niệm cũng như sự đánh giá về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, điều này ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành lý luận Đông y với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu về con người ở phương diện điều trị bệnh tật và chăm sóc sức khỏe. Trên thực tế hiện nay, việc kết hợp điều trị bệnh học giữa Tây y hiện đại với Đông y đã và đang mang lại hiệu quả tương đối rõ rệt, do đó sự kết hợp này đã trở thành mục tiêu hướng đến trong chính sách y tế của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, cũng có một thực tế không thể tránh khỏi đang diễn ra ở nước ta từ khi xuất hiện Đông y cho đến nay chính là sự hiểu biết chưa đầy đủ, hoặc hiểu sai lệch về Đông y. Có nhiều người cho rằng, việc chữa bệnh theo Đông y chỉ đơn giản là kinh nghiệm dân gian được tích lũy, hoặc đó chỉ là những bài thuốc đơn giản từ những loài thảo dược dân gian. Hơn thế nữa, có nhiều thầy thuốc chữa bệnh theo Đông y cũng chưa thực sự hiểu biết đúng đắn về lĩnh vực này với tư cách là một ngành khoa học, dẫn đến những sai lầm không đáng có trong việc xác định nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị bệnh. Điều này không chỉ hạn chế sự phát triển của Đông y mà còn mang lại những tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người. Vấn đề đặt ra lúc này là cần phải có những cơ sở xác thực rằng Đông y không đơn giản chỉ là một phương pháp chữa bệnh dân gian mà hơn thế, nó đã trở thành một ngành khoa học có vị trí không nhỏ trong hệ thống các ngành khoa học cụ thể nói chung và trong lĩnh vực Y học nói riêng. Một ngành khoa học sẽ không được thừa nhận nếu như không có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn chặt chẽ, xác thực. Chính vì vậy, để có thể giải quyết được vấn đề đã nêu trên đối với Đông y thì việc đi tìm cái cơ sở lý luận đầu tiên hình thành nên hệ thống lý luận Đông y là một việc làm cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra. Từ đó, góp phần mang lại sự hiểu biết đúng đắn về Đông y, duy trì và phát huy những giá trị tích cực vốn có của ngành khoa học này trong công tác chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, đồng thời cũng chứng minh và làm rõ ý nghĩa ứng dụng của triết học trong các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Khi bàn về sự ảnh hưởng của các tư tưởng Triết học Trung Quốc cổ đại đối với sự hình thành và phát triển lý luận Đông y đã có rất nhiều tác phẩm và những công trình khác nhau, trong đó nổi bật lên là tác phẩm Hoàng Đế nội kinh – một trong “Tứ đại kỳ thư” của nền văn hóa phương Đông. Hoàng Đế nội kinh được coi là nền tảng của toàn bộ lý luận Đông y, tác phẩm là kết quả của sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các tư tưởng cơ bản như: học thuyết Âm dương Ngũ hành, học thuyết về Khí, tư tưởng Thiên nhân hợp nhất vào việc xác định nguyên nhân gây bệnh, cách phòng và chữa bệnh sao cho phù hợp với sự sinh hóa của trời đất từ đó góp phần lý giải về nguồn gốc hình thành nên lý luận cơ bản của Đông y học. Những giá trị mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học đến nay vẫn còn giữ nguyên, đồng thời đang được củng cố và tiếp tục vận dụng phát triển ở mức độ cao hơn, phù hợp hơn với mục tiêu mà xã hội hiện đại đặt ra đối với vấn đề sức khỏe con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đến Hoàng Đế nội kinh, cũng như những nội dung, giá trị mà tác phẩm mang lại và hầu như các công trình nghiên cứu về tác phẩm này ở góc độ triết học còn rất hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu những tư tưởng y học cơ bản được thể hiện ở Hoàng Đế nội kinh trong mối quan hệ với các học thuyết triết học từ đó góp phần làm rõ cơ sở triết học của Đông y, đồng thời khẳng định những giá trị thiết thực mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học hiện đại đã trở thành một vấn đề mang tính thời sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề sức khỏe của con người đang được quan tâm hàng đầu. Xuất phát từ những lý do trên đây chúng tôi chọn vấn đề Cơ sở Triết học của Đông y qua nghiên cứu tác phẩm Hoàng Đế nội kinh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Xem thêm

123 Đọc thêm

Bầu bí đừng sợ cúm

BẦU BÍ ĐỪNG SỢ CÚM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một trong những nỗi lo thường trực đối với các bà bầu khi thời tiết chuyển mùa là dễ mắc bệnh cảm cúm. Nguyên do là bởi cảm cúm trong quá trình mang thai  (nhất là trong ba tháng đầu) có ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phát triển của “bé yêu”, gây dị tật bào thai. Bởi vậy nếu chẳng may bị cảm cúm, chị em nên làm theo hướng dẫn dưới đây để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé. Xì mũi thường xuyên   Khi bị cảm cúm, các mẹ nên xì mũi thường xuyên (Ảnh minh họa) Theo các chuyên gia, khi mắc bệnh cảm cúm, thay vì sụt sịt hút chất nhầy vào trong, thai phụ nên chú ý xì mũi thường xuyên và nhẹ nhàng bởi nếu không áp lực xuất hiện khi xì mũi quá mạnh sẽ khiến mầm bệnh quay trở lại đường tai, gây đau tai. Cách tốt nhất để mẹ bầu xì mũi là đặt một ngón tay lên lỗ mũi và từ từ hít thở nhẹ nhàng để thông mũi. Nhỏ mũi bằng nước muối Nước muối là giải pháp tuyệt vời để “đánh bay” nghẹt mũi, loại bỏ vi rút, vi khuẩn gây bệnh. Do đó mẹ bầu nên trộn ¼ thìa muối và ¼ thìa baking soda vào nước. Sau đó vệ sinh mũi bằng dung dịch nước muối loãng này. Dùng một ngón tay để bịt một bên lỗ mũi còn lại trong khi đang phun xịt vào lỗ mũi bên kia rồi để nước muối từ từ chảy ra. Lặp lại hai đến ba lần động tác này và đổi bên. Đây là dung dịch không hóa chất và rất an toàn cho chị em đang mang thai. Tránh đi máy bay Đi máy bay khi bị nghẹt mũi, cảm cúm gây cho bạn cảm giác như bị thủng màng nhĩ do sự thay đổi áp suất trong quá trình cất cánh và hạ cánh. Bởi thế nếu bắt buộc phải đi công tác bằng máy bay, chị em nên nhai kẹo cao su và cố gắng nuốt nước bọt càng nhiều càng tốt. Súc miệng thường xuyên   Súc miệng ít nhất bốn lần một ngày khiến cổ họng dịu lại, bớt đau đớn (Ảnh minh họa) Súc miệng thường xuyên sẽ khiến cổ họng dịu lại, bớt đau đớn. Vì thế các mẹ nên hòa muối với nước và súc miệng ít nhất bốn lần một ngày. Pha một chút mật ong với giấm táo hay kết hợp một thìa nước chanh cùng hai cốc nước ấm, thêm một thìa mật ong là chị em đã có được dung dịch súc miệng tuyệt vời rồi. Lưu ý để hỗn hợp nguội trước khi sử dụng. Giữ ấm và nghỉ ngơi Tiết trời mùa thu se se lạnh. Bởi vậy chị em đang bị cảm cúm nên chú ý mặc quần áo ấm, đi tất mỏng, đắp chăn và nghỉ ngơi đầy đủ để cơ thể nhanh chóng hồi phục, đủ sức chiến đấu với căn bệnh đáng ghét này. Thoa tinh dầu bạc hà Thoa một chút tinh dầu bạc hà, khuynh diệp, long não trước mũi sẽ giúp mở đường thở, giảm đau đớn khi cọ mũi thường xuyên. Các mẹ đang mang bầu có thể sử dụng giải pháp nói trên khi bị cảm cúm. Uống nước nóng   Uống nước nóng có tác dụng giảm ngạt mũi, ngăn ngừa tình trạng mất nước  (Ảnh minh họa) Nước nóng có tác dụng giảm ngạt mũi, ngăn ngừa tình trạng mất nước và làm dịu sự đau rát ở cổ họng. Do đó các mẹ nên uống nước nóng thường xuyên, tốt nhất là hai lít nước mỗi ngày. Nếu cảm thấy nguy cơ thức trắng đêm đếm cừu, chị em có thể pha một cốc trà thảo dược nóng, thêm một thìa mật ong và một chút rượu whiskey hay bourbon. Ăn cháo giải cảm Khi bị cảm cúm, chị em nên nấu cháo gạo tẻ rồi cho thêm nhiều hành, tía tô hay trứng gà, ăn ngay lúc còn nóng rồi đắp chăn ấm để mồ hôi ra là được. Ngoài ra, cháo táo đỏ nấu cùng bí ngô và đường phen, canh cải gừng... cũng là những món ăn dễ tiêu, phòng cảm cúm mà còn có tác dụng bồi bổ và trị bệnh rất tốt. Vậy thì còn chần chừ gì nữa mà không ăn hả các mẹ? Kết bạn với tỏi   Tỏi là “khắc tinh” của các loại cảm cúm (Ảnh minh họa) Tỏi được mệnh danh là “khắc tinh” của các loại cúm bởi trong tỏi chứa thành phần kháng sinh Allicinin, giàu Glucogen, Fitonxit có công dụng diệt khuẩn, sát trùng, chống viêm nhiễm và các loại vi rút gây bệnh. Chị em có thể giã tỏi nhỏ ra rồi uống ngay với nước sẽ có tác dụng giảm cảm cúm nhanh chóng. Nếu không quen mẹ bầu có thể ăn tỏi ngâm giấm hay tỏi trong rau xào để phòng tránh cúm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Rối Loạn Tuần Hoàn Và Huyết Quản Chăn Nuôi Thú Y

RỐI LOẠN TUẦN HOÀN VÀ HUYẾT QUẢN CHĂN NUÔI THÚ Y

rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn tai trong rối loạn tuần hoàn máu rối loạn tuần hoàn ngoại vi rối loạn tuần hoàn não và cách điều trị rối loạn tuần hoàn tại ổ viêm rối loạn tuần hoàn não là gì rối loạn tuần hoàn não nên uống thuốc gì rối loạn tuần hoàn não nên ăn gì rối loạn tuần hoàn não uống thuốc gì rối loạn tuần hoàn não tiếng anh là gì rối loạn tuần hoàn nên ăn gì rối loạn tuần hoàn não và ngoại biên bệnh án rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn não có nguy hiểm không rối loạn tuần hoàn máu não rối loạn tuần hoàn não triệu chứng rối loạn tuần hoàn não ở người trẻ tuổi bị rối loạn tuần hoàn não nên ăn gì bệnh rối loạn tuần hoàn não nên ăn gì thức ăn cho người rối loạn tuần hoàn não ăn gì khi bị rối loạn tuần hoàn não thức ăn trị bệnh rối loạn tuần hoàn não chế độ ăn cho người rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn ngoại biên rối loạn tuần hoàn não bệnh học rối loạn tuần hoàn cục bộ rối loạn tuần hoàn não ngoại biên rối loạn tuần hoàn não là bệnh gì bệnh rối loạn tuần hoàn não bệnh rối loạn tuần hoàn não có nguy hiểm không bệnh rối loạn tuần hoàn não và cách điều trị bệnh rối loạn tuần hoàn tai trong rối loạn tuần hoàn não cấp rối loạn tuần hoàn não có nguy hiểm rối loạn tuần hoàn não có chữa khỏi được không chữa rối loạn tuần hoàn não chứng rối loạn tuần hoàn não chữa rối loạn tuần hoàn não bằng đông y dấu hiệu rối loạn tuần hoàn não dấu hiệu của rối loạn tuần hoàn não nguyên nhân dẫn đến rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn não khám ở đâu chẩn đoán rối loạn tuần hoàn não đơn thuốc rối loạn tuần hoàn não đau đầu rối loạn tuần hoàn não điều trị rối loạn tuần hoàn rối loạn tiền đình tuần hoàn não thuốc điều trị rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn não english rối loạn tuần hoàn não ở trẻ em rối loạn tuần hoàn máu là gì rối loạn tuần hoàn não ở người già rối loạn tuần hoàn ngoại vi là gì bài giảng rối loạn tuần hoàn não rối loạn hệ tuần hoàn não rối loạn hệ tuần hoàn biểu hiện rối loạn tuần hoàn não hội chứng rối loạn tuần hoàn não biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não biểu hiện bệnh rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn khám rối loạn tuần hoàn não cách khám rối loạn tuần hoàn não bệnh án nội khoa rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn máu lên não rối loạn tuần hoàn não và rối loạn tiền đình rối loạn tiền đình rối loạn tuần hoàn não làm gì khi bị rối loạn tuần hoàn não bệnh rối loạn tuần hoàn máu não bệnh rối loạn tuần hoàn máu thuốc chữa rối loạn tuần hoàn máu não rối loạn tuần hoàn não ở người trẻ rối loạn tuần hoàn não ở người cao tuổi khám rối loạn tuần hoàn não ở đâu phòng bệnh rối loạn tuần hoàn não phòng trị rối loạn tuần hoàn não phòng chống rối loạn tuần hoàn não cách phòng bệnh rối loạn tuần hoàn não giải phẫu bệnh rối loạn tuần hoàn phác đồ điều trị rối loạn tuần hoàn não phương pháp điều trị rối loạn tuần hoàn não chăm sóc bệnh nhân rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn tim rối loạn tuần hoàn ốc tai thuốc rối loạn tuần hoàn não thuốc uống rối loạn tuần hoàn não rối loạn vi tuần hoàn thí nghiệm rối loạn tuần hoàn tại ổ viêm tìm hiểu về bệnh rối loạn tuần hoàn não rối loạn tiền đình và thiểu năng tuần hoàn não xử trí rối loạn tuần hoàn não xét nghiệm rối loạn tuần hoàn não đông y chữa rối loạn tuần hoàn não thuốc đông y chữa rối loạn tuần hoàn não
Xem thêm

71 Đọc thêm

Củ nghệ chống ôxy hóa

CỦ NGHỆ CHỐNG ÔXY HÓA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nghệ vàng là một loại cây thuộc họ gừng (Zingiberaceae). Củ nghệ chứa 4%-6% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm (ở nghệ tươi lên tới 2,24%) với thành phần gồm 25% carbur terpenic, zingiberen và 65% ceton sesquiterpenic, các chất turmeron, arturmeron; ngoài ra còn có các chất curcuminoid, trong đó có curcumin (0,3%-1,5%) desmethoxycurcumin. Curcumin là chất chống ôxy hóa mạnh, có khả năng tiêu diệt các gốc tự do và các loại men hại gây ung thư có trong thức ăn, nước uống hằng ngày. Curcumin có thể tách tế bào ung thư ra khỏi các phân tử ADN, làm vô hiệu hóa và ngăn chặn sự hình thành mới của tế bào bệnh mà không làm cho các tế bào lành bị ảnh hưởng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy curcumin còn có tác dụng kháng HIV.   Tinh dầu nghệ diệt nấm, kháng khuẩn. (Ảnh minh họa) Khi các nhà nghiên cứu làm thí nghiệm trên chuột có đối chứng về ung thư vú thì thấy curcumin kiềm chế sự phát triển của protein có vai trò then chốt trong việc hình thành và lan tỏa u di căn. Trong việc phòng bệnh Alzheimer, curcumin cũng tỏ ra có hiệu quả. Đông y cho rằng nghệ vàng vị đắng, cay, thơm, hắc, tính ấm, làm thông kinh, chỉ thống, tiêu mủ, kích thích lên da non, thông gan mật, hủy cholesterol máu. Tinh dầu nghệ diệt nấm, kháng khuẩn. Cho đến nay nghệ vẫn là loại gia vị tốt, đồng thời là vị thuốc có công hiệu trị liệu được nhiều bệnh. Trong nhiều thế kỷ, người dân vẫn thường sử dụng nghệ như là một chất khử trùng cho các vết thương, vết bỏng, vết bầm tím và là một liều thuốc làm đẹp da cho phụ nữ, đặc biệt sau khi sinh, làm lành vết thương. Nghệ vàng còn được sử dụng vào việc điều trị bệnh viêm mũi, viêm xoang dị ứng. Mặc dù vậy, cũng không nên lạm dụng nghệ. Dùng nghệ cũng phải có liều lượng, chỉ nên dùng khoảng từ 300-500 g/ngày. Nghệ vàng tuy là liều thuốc khá an toàn nhưng nếu sử dụng tùy tiện có thể gây đau bụng và tiêu chảy. Nếu cần sử dụng nghệ nén hoặc nghệ viên như là một phương thuốc bổ sung cho sức khỏe thì nên nhờ đến sự tư vấn của bác sĩ.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BỊ CÚM, NÊN NHẬP VIỆN NGAY!

BỊ CÚM, NÊN NHẬP VIỆN NGAY!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các bệnh nhân tử vong vì nhiễm cúm A/H1N1 thời gian qua là do bệnh nhân nhập viện trễ, tuyến cơ sở thiếu thuốc TamifluTheo bác sĩ Nguyễn Trung Cấp, Khoa Cấp cứu Bệnh viện (BV) Bệnh nhiệt đới Trung ương, trong số những bệnh nhân nhiễm cúm A/H1N1 thời qua có nhiều bệnh nhân tử vong do nhập viện điều trị muộn.  Nhập viện trong vòng 48 giờ Bệnh nhân đầu tiên tử vong do cúm A/H1N1 ghi nhận năm 2013 là một người đàn ông 46 tuổi, quê  tỉnh Yên Bái bị sốt, ho nhưng chủ quan với sức khỏe vốn rất tốt của mình nên đã không đi khám. Sau 4 ngày có hiện tượng khó thở tăng dần, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, dù được thở máy, dùng Tamiflu nhưng diễn biến bệnh ngày càng xấu đi và bệnh nhân đã tử vong sau 2 ngày nằm viện. “Nếu bệnh nhân này nhập viện sớm hơn, được sử dụng thuốc Tamiflu sớm thì có thể đã có một tiên lượng tốt hơn” - bác sĩ Cấp nói. Một số bác sĩ cho rằng nguyên nhân bệnh diễn tiến nặng và tử vong do cúm A/H1N1 ngoài lý do bệnh nhân tự mua thuốc điều trị, đến BV muộn, chuyển viện lòng vòng do bị chẩn đoán nhầm với bệnh lý khác như lao, viêm phổi, còn do bệnh nhân không được sử dụng Tamiflu sớm. Tamiflu là thuốc kháng virus cúm nói chung chỉ phát huy tác dụng nếu được sử dụng trong vòng 48 giờ từ khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh. Như vậy, việc sử dụng Tamiflu phải được thực hiện ngay ở tuyến điều trị ban đầu khi người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân nhiễm cúm A/H1N1 hay H5N1. Tuy nhiên, ở các tuyến cơ sở, nhất là các tuyến xã - phường, việc tiếp cận Tamiflu được cho là khá khó khăn. Điều đó cũng cản trở việc bệnh nhân có chỉ định sử dụng bị chậm trễ trong tiếp cận thuốc điều trị. Trước đó, trong tháng 4 và 5, tại tỉnh Lào Cai đã xuất hiện ổ dịch cúm A/H1N1 tại huyện Bát Xát với 5 người mắc và một ổ dịch cúm khác tại Trường Dân tộc nội trú tỉnh Lào Cai đã ghi nhận 46 trường hợp có biểu hiện bệnh cúm, trong đó nhiều mẫu xét nghiệm xác định nhiễm cúm A/H1N1. Khi xuất hiện 2 ổ dịch cúm nói trên, tỉnh Lào Cai có lượng khá lớn thuốc Tamiflu nhưng hết hạn sử dụng. Bộ Y tế đã cấp bổ sung cho tỉnh Lào Cai 500 viên Tamiflu. Tuy nhiên, báo cáo của Sở Y tế Lào Cai cho biết đến cuối tháng 5, số thuốc này chỉ còn 200 viên, không đủ để điều trị cho các bệnh nhân bị mắc cúm A.   Một bệnh nhân nhiễm cúm A/H1N1 biến chứng do không được điều trị sớm bằng Tamiflu. (Ảnh chụp tại BV Bệnh nhiệt đới Trung ương) Tamiflu đang mất tác dụng? Theo bác sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó Giám đốc BV Bệnh nhiệt đới Trung ương, các ca nhiễm cúm thông thường đều có biểu hiện ho, sốt cao, khó thở, viêm đường hô hấp, mệt mỏi, đau đầu… Bệnh nhân phần lớn tự khỏi nhưng vẫn có một tỉ lệ nhất định diễn biến nặng thêm, gây biến chứng viêm phổi, suy hô hấp đe dọa tính mạng. Ngoài những trường hợp cúm nặng ở những người có thể trạng bình thường thì hầu hết rơi vào các trường hợp có nguy cơ cao là người già, trẻ nhỏ, phụ nữ có thai, người mắc các bệnh mạn tính (tim mạch, huyết áp)... “Việc có ít nhất một yếu tố nguy cơ bệnh tật kèm theo làm cho tình trạng bệnh trở nên nặng hơn hoặc phức tạp hơn trong điều trị. Chính vì thế, những đối tượng này được chỉ định sử dụng thuốc kháng virus càng sớm càng tốt. Nếu được sử dụng ở tuyến ban đầu theo chỉ định của bác sĩ thì chắc chắn số bệnh nhân nặng và biến chứng do nhiễm cúm A/H1N1 sẽ giảm” - bác sĩ Hà nhấn mạnh. Trước những lo ngại “vũ khí” quan trọng chống cúm A là Tamiflu sẽ mất tác dụng trong trường hợp xảy ra đại dịch, bác sĩ Hà cho rằng bất cứ loại thuốc nào dùng sau một thời gian cũng bị kháng. “Hiện giờ, các thuốc kháng virus như Tamiflu chỉ có hiệu quả nếu được sử dụng trong 48 giờ đầu, nếu mất đi “thời gian vàng” ấy, việc sử dụng các thuốc phối hợp cũng rất ít tác dụng đối với bệnh nhân bị biến chứng suy đa dạng do virus cúm. Đó là chưa kể với điều kiện giao lưu, đi lại như hiện nay, con người vẫn có nguy cơ nhiễm chủng virus kháng thuốc” - bác sĩ Hà cảnh báo. Ông Nguyễn Văn Bình, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế, cho biết mặc dù có những tranh cãi trong việc sử dụng thuốc kháng virus điều trị cúm A nhưng đến thời điểm này, Tamiflu vẫn là thuốc được cấp phát miễn phí. Với những trường hợp nghi ngờ nhiễm cúm, giới chuyên môn không khuyến cáo tự mua thuốc điều trị hay dự trữ thuốc Tamiflu tại nhà mà nên đến các cơ sở y tế khi có biểu hiện bệnh. Mặc dù cúm là thể bệnh lành tính nhưng có tỉ lệ tử vong đáng kể nên người mắc bệnh thuộc nhóm nguy cơ cao không nên chủ quan. Vừa qua, nhiều trường hợp nhiễm cúm đến điều trị đã qua 4-5 ngày kể từ khi khởi bệnh, khi bệnh đã nặng mới nhập viện, dễ dẫn đến tử vong. Trong khi đó, theo ông Nguyễn Tiến Đạt, Trưởng Phòng Quản lý kinh doanh dược Cục Quản lý dược - Bộ Y tế, hiện ngoài nguồn thuốc Tamiflu nhập khẩu và cung cấp cho các BV để  điều trị miễn phí cúm A thì thuốc kháng virus Tamiflu dạng viên nén, viên nang, bột pha hỗn dịch đã được cấp đăng ký lưu hành trên thị trường Việt Nam.  Virus cúm A/H1N1 tồn tại khá lâu Virus cúm A, nhất là cúm A/H1N1 tồn tại khá lâu ngoài môi trường, có thể sống từ 24-48 giờ trên các bề mặt như bàn, ghế, tủ, tay vịn cầu thang..., tồn tại trong quần áo từ 8-12 giờ và sống được 5 phút trong lòng bàn tay. Loại virus này đặc biệt có thể sống được đến 4 ngày trong môi trường nước ở nhiệt độ khoảng 22oC và sống đến 30 ngày ở nhiệt độ 0oC.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHỐNG CẢM CÚM BẰNG THỰC PHẨM

CHỐNG CẢM CÚM BẰNG THỰC PHẨM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nguồn thực phẩm với khả năng miễn dịch hữu hiệu nên được bổ sung trong thực đơn hàng ngày để phòng chống cảm cúm. Trong thời tiết lạnh giá, để chiến đấu với cảm cúm, hầu hết mọi người chọn nước cam và phở gà khi thấy sổ mũi, khó chịu và các dấu hiệu khác của bệnh. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả thực phẩm có khả năng chống lạnh bệnh tật. Vitamin A, C, và E cùng các chất dinh dưỡng quan trọng khác thúc đẩy khả năng miễn dịch được tìm thấy trong hàng loạt thực phẩm như cà rốt, hạnh nhân, ớt chuông. Tiến sĩ, nhà tư vấn Eric Plasker, tác giả cuốn sách The 100 Year Lifestyle cho biết: “Đừng chờ đợi đến khi bạn bị bệnh và phải uống thuốc, hãy bổ sung thường xuyên các thực phẩm có tác dụng phòng bệnh trong chế độ ăn uống của bạn”. Một loạt trái cây và rau quả trong chế độ ăn uống của bạn chứa chất phytochemical giúp bảo vệ sức khỏe, tăng cường hệ miễn dịch, cung cấp các đặc tính chống viêm, kháng virus, kháng khuẩn và thúc đẩy tế bào bị thương nhanh hồi phục. Ớt chuông đỏ Ớt chuông đỏ chống lại bệnh cảm cúm vì làm tăng lượng vitamin C. Vị ngon, dễ nấu với nhiều thực phẩm, màu đỏ của ớt chuông chứa gấp đôi vitamin C tăng cường tương tự ở cam. Cà rốt Các loại rau màu vàng và màu da cam như cà rốt có chứa beta – carotene. Hợp chất này chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể, tăng tế bào-T và khả năng miễn dịch. Hạnh nhân Hạnh nhân là nguồn tốt của vitamin E, đồng thời là chất chống oxy hóa, phòng ngừa bệnh tật. Thêm một lượng nhỏ đều đặn trong bữa ăn trưa và bữa ăn chính của bạn để hạnh nhân có tác dụng hiệu quả với cơ thể.   Hạnh nhân là thực phảm giúp bạn chống lại được cảm cúm (Ảnh minh họa) Khoai lang Giống như cà rốt, khoai lang là một thực phẩm màu cam chứa beta carotene, được chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể và có thể chống nhiễm trùng hô hấp. Sử dụng khoai lang linh hoạt trong các món súp, salad, món ăn phụ và bạn sẽ thấy tác dụng của nó trong mùa đông này. Soup gà Soup gà có tính kháng viêm nhẹ, có thể làm giảm sản xuất chất nhầy và sưng cổ họng. Nó còn làm tăng nhiệt độ trong cơ thể, dễ dàng giúp bạn chống nhiễm trùng. Thêm vào đó, khi nấu thành soup, cơ thể bạn dễ dàng hấp thụ và tiêu hóa tốt hơn. Tỏi Các hợp chất lưu huỳnh trong tỏi được chứng minh chống lại virus và ngăn ngừa các căn bệnh truyền nhiễm. Thêm tỏi vào trong bữa ăn là một trong số ý tưởng tốt, nhưng bác sĩ Darwin Deen tại trung tâm y tế Montefirore, thành phố New York, cảnh báo tỏi là một hợp chất mạnh và bạn nên bổ sung tỏi như thức ăn sống ở ngoài để đảm bảo hợp chất không bị mất đi trong quá trình nấu nướng.   Tỏi giúp ngăn ngừa các vi rút bệnh truyền nhiễm (Ảnh minh họa) Gừng Hợp chất thực vật tự nhiên gingerol được tìm thấy trong gừng tươi có thể chống lại nhiễm trùng. Gừng được sử dụng như gia vị thêm vào các món ăn, bạn hãy kết hợp để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, chống lại cảm cúm. Cá hồi Cá hồi là nguồn tuyệt vời của omega- 3 cũng như dầu cá để tăng cường hệ miễn dịch. Loại cá này cũng có thể là món ăn chính hoặc thêm vào salad, hãy thử các công thức mới nấu cá hồi và thêm chúng vào thực đơn hàng ngày của bạn. Nấm Được dùng nhiều trong lẩu mùa đông, nấm chứa selengiúp các tế bào máu trắng sản xuất cytokine ngăn ngừa bệnh tật hay beta- glucan, một loại đường kháng khuẩn chống lại bệnh nhiễm trùng. Nấm có thể thêm vào soup, salad, các món ăn phụ hay món khai vị. Sô cô la đen Lượng cacao đen trong sô cô la đen hỗ trợ sự tăng trưởng của các tế bào T và gia tăng hệ miễn dịch của cơ thể chống lại nhiễm trùng. Tuy nhiên, việc ăn quá nhiều sô cô la đen có thể khiến bạn béo lên. Ăn vặt với số lượng sô cô la đúng tiêu chuẩn hoặc dùng nó với món tráng miệng để bạn có thể phòng chống cảm cúm tốt nhất.
Xem thêm

2 Đọc thêm

slide bát pháp trị bệnh trong y học cổ truyền

SLIDE BÁT PHÁP TRỊ BỆNH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Bát pháp là 8 phương pháp dùng thuốc uống trong y học cổ truyền gồm : Hản, Thổ, Hạ, Hoà, Thanh, Ôn, Tiêu, Bổ. 1. HÃN PHÁP: (Làm cho ra mồ hôi). Là phương pháp dùng các vị thuốc có tác dụng làm cho ra mồ hôi đưa các tác nhân gây bệnh ra ngoài, khi bệnh còn ở biểu phận. Trên lâm sàng hay dùng để chữa các bệnh ngoại cảm do phong hàn thấp nhiệt. Phát tán phong hàn Phát tán phong nhiệt Phát tán phong thấp. Chống chỉ định : khi bệnh nhân tiêu chảy, nôn, mất máu, mùa hè không nên cho ra mồ hôi nhiều. 2. THỔ PHÁP: (Gây nôn). Dùng các vị thuốc để gây nôn khi ngộ độc thức ăn, thức uống, thuốc độc.v.v.. Lúc bệnh còn ở thượng tiêu. Phương pháp này ít dùng trên lâm sàng. 3. HẠ PHÁP: (Tẩy xổ, nhuận trường). Dùng các loại thuốc có tác dụng tẩy xổ và nhuận trường để đưa các chất ứ động ra ngoài bằng đường đại tiện như : phân táo, huyết ứ, đàm ứ.v.v.. Chỉ dùng phương này khi bệnh thuộc về thực chứng. Gồm có các cách : Ôn hạ : Dùng các vị thuốc xổ có tính cay ấm như bả đậu để tẩy hàn tích. Nhuận hạ : Dùng các vị thuốc có tính chất xổ nhẹ nhuận trường như : mồng tơi, rau muống. Hàn hạ : Dùng các vị thuốc có tính lạnh như : Ðại hoàng, phát tiêu để tẩy nhiệt tích. Công hạ : Dùng các vị thuốc có tính chất xổ mạnh như : lư hội, tả diệo để trừ thực tích hạ tiêu. Phù chính công hạ : Cũng dùng thuốc xổ mạnh nhưng vì tỳ vị hư yếu nên phai phối hợp với thuốc kiện tỳ. Chống chỉ định : khi bệnh còn ở biểu, sốt mà không táo, người già yếu, phụ nữ có thai hay sản hậu. 4. HOÀ PHÁP: (Hoà hoãn) Dùng chữa các bệnh ngoại cảm còn bán biểu bán lý. Hàn nhiệt vãng lai không giải biểu được không thanh lý được, các bệnh rối loạn sự tương sinh tương khắc của Tạng Phủ, một số bệnh do sang chấn tinh thần. Trên lâm sàng thường dùng chữa một số bệnh như : Cảm mạo, lúc nóng lúc lạnh, rối loạn chức năng Can Tỳ, rối loạn kinh nguyệt. Chống chỉ định: Không dùng khi bệnh còn ở biểu hay vào lý. 5. THANH PHÁP: ( Làm cho mát ). Dùng các vị thuốc mát để làm hạ sốt khi tà khí đã vào lý phận. Trên lâm sàng thường dùng 3 cách: Thanh nhiệt lương huyết : Dùng các vị thuốc mát huyết như : Huỳnh liên, huỳnh bá, huỳnh cầm. Thanh nhiệt Tả hoả : Dùng các vị thuốc để trừ hoả nhiệt như : Huyền sâm, sinh địa, thạch cao. Thanh nhiệt giải độc : Dùng các vị thuốc để giải nhiệt độc như : Kim ngân hoa, Bồ công anh, Chi tử, Nhân Trần. Chú ý : Dùng thận trọng trong trường hợp Tỳ Vị hư hàn, tiêu chảy kéo dài. 6. ÔN PHÁP: ( Làm ấm nóng ) Dùng các loại thuốc ấm nóng để chữa các chứng hư hàn, quyết lảnh hồi dương cứu nghịch. Trên lâm sàng thường dùng các vị thuốc như: Nhân sâm,Phụ tử, Nhục quế, Sanh cương. 7. TIÊU PHÁP: ( Làm cho tan ) Dùng để phá tan các chứng ngưng trệ, ứ đọng do hiện tượng ứ huyết,. Ứ nước do khí trệ gây ra. Trên lâm sàng thường dùng các cách như : Tiêu đạo : Dùng Hương phụ, Sa nhân để chữa đầy hơi, khí uất. Tiêu thũng : Dùng các vị như :Ý dỉ, Phục linh, Mã đề, Mộc thông để lợi tiểu khi bị thuỷ thũng . Tiêu ứ : Dùng các vị thuốc như : Ðơn sâm, Hồng hoa, Tô mộc, Ðào nhơn để trị các chứng ứ huyết. Tiêu tích: Dùng các vị thuốc như : Miết giáp, Tạo giác thích, để trị các chứng ung nhọt, kết hạch. Chống chỉ định : Không nên dùng trong trường hợp người có thai. Vì đây là phương pháp chữa triệu chứng nên cần phối hợp với các vị thuốc chữa nguyên nhân. 8. BỔ PHÁP: ( Bồi dưỡng cơ thể ) Dùng các vị thuốc chữa các chứng bệnh do công năng hoạt động của cơ thể bị giảm sút gọi là chính khí hư. Nhằm mục đích nâng cao thể trạng và giúp cho cơ thể thắng được tác nhân gây bệnh. Trên lâm sàng thường sử dung 4 nhóm chính : Bổ Âm : Thường dùng thang Lục vị hoàn để chữa chứng Thận âm hư. Bổ dương : Thường dùng thang Bát vị hoàn để chữa chứng Thận dương hư. Bổ Khí : Thường dùng thang Tứ quân để chữa hội chứng suy nhược toàn thân. Bổ huyết : Thường dùng thang Tứ vật để chữa các chứng : Bần huyết, mất huyết. Ngoài bốn phương thức trên người ta còn dùng phép bổ trực tiếp các tạng phủ như : Phế hư bổ Phế, Tỳ hư bổ Tỳ hoặc Tâm hư bổ Tâm hoặc theo phương thức bổ mẹ sinh con .
Xem thêm

37 Đọc thêm

BÀI 47. THỰC HÀNH: TÌM HIỂU MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM PHỔ BIẾN Ở ĐỊA PHƯƠNG

BÀI 47. THỰC HÀNH: TÌM HIỂU MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM PHỔ BIẾN Ở ĐỊA PHƯƠNG

Chào mừng thầy cô và cácbạn đến với bài thuyết trìnhcủa tổ 3Bài 47THỰC HÀNH:TÌM HIỂU MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄMPHỔ BIẾN Ở ĐỊA PHƯƠNGCảm cúm• Cảm cúmbệnh thường gặpthuộc nhóm bệnh truyền nhiễmhô hấp cấp, do nhiều loại vi rútgây ra và không giống nhưbệnh cảm lạnh thông thường.Các triệu chứng của bệnh cảmcúm thường đến một cách độtngột nhất là lúc thay đổi thời tiết.Hiện nay có nhiều loại thuốc trịcảm cúm và người Việt Nam cóthói quen sử dụng các loại thuốcnày không theo toa bác sĩTriệu chứng• Sốt (thường là sốt cao)• Đau nhức ở các khớp,cơ và vùng quanh mắt• Mệt mỏi toàn thân• Da nóng và ửng đỏ,chảy nước mắt
Xem thêm

14 Đọc thêm

Những căn bệnh mẹ bầu mắc phải nguy hại đến thai nhi

NHỮNG CĂN BỆNH MẸ BẦU MẮC PHẢI NGUY HẠI ĐẾN THAI NHI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trong giai đoạn thai kỳ bà bầu nên đặc biệt chú ý đến sức khỏe của bản thân. Đôi khi chỉ một căn bệnh cảm cúm thông thường tưởng chừng như đơn giản lại có thể gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe bà bầu. Dưới đây là những căn bệnh đơn giản nhất nhưng lại gây hại cho sức khỏe bà bầu trong thai kỳ. Bệnh trĩ Trong thời gian mang thai, tình trạng táo bón, sự phát triển của bào thai chèn ép các tĩnh mạch tầng sinh môn và đáy cháy khiến cho không ít mẹ bầu bị bệnh trĩ. Mắc bệnh trĩ khi mang thai không những khiến bà bầu cảm thấy tự ti mà còn gây nhiều đau đớn, bất tiện khi sinh hoạt, ăn uống, tiêu hóa trong suốt thời gian thai kì. Viêm gan siêu vi B Đây là một trong những bệnh lây truyền từ mẹ sang con khá nguy hiểm vì nếu bị nhiễm bệnh từ mẹ, em bé sinh ra có nguy cơ 70 – 90% chuyển sang mạn tính, xơ gan, ung thư gan. Do đó, cách bảo vệ tốt nhất là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên sớm đi tiêm vaccine phòng viêm gan B để bảo vệ cho sức khoẻ bà mẹ cũng như có một thai kỳ khoẻ mạnh. Tuy nhiên, nếu không may bị nhiễm viêm gan siêu vi B thì khi có thai, tuỳ vào tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ có hướng dẫn cụ thể để bảo vệ em bé trong suốt quá trình thai kỳ và các biện pháp tiêm phòng ngay khi em bé mới được sinh ra. Bệnh cúm Trong quá trình mang thai, hệ miễn dịch của bà mẹ suy giảm trầm trọng nên các bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn là nguy cơ hàng đầu đối với phụ nữ mang thai. Một trong những bệnh thai phụ hay mắc phải là bệnh cúm với lý do là sự suy giảm miễn dịch. Vì vậy, chỉ cần các mẹ sơ ý, chủ quan với sức khỏe cũng dễ bị nhiễm bệnh cúm. Trong thời gian này, một số trường hợp bà mẹ mang thai bị cúm có thể làm tăng khả năng sẩy thai, thai chết lưu, hoặc sinh non trong những tháng cuối của thai kỳ. Trường hợp nặng có thể dẫn đến những dị tật bẩm sinh. Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục Bà bầu khi bị nhiễm khuẩn đường sinh dục không những cảm thấy khó chịu mà còn có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng cho thai nhi như gây sẩy thai, sinh non, thai chết lưu… Trẻ sơ sinh có mẹ mắc bệnh này cũng dễ bị viêm kết mạc, viêm phổi hoặc chậm phát triển do lây vi khuẩn từ mẹ trong khi sinh nở.   Bà bầu trong thai kỳ bị đe dọa bởi nhiều bệnh (Ảnh minh họa). Bệnh mụn rộp do virus Herpes simplex Đây là bệnh do virus xâm nhập vào cơ thể qua các lỗ hổng trên da gây triệu chứng ngứa, sau đó chúng gây ra các vết phỏng loét hoặc mụn rộp thường xuất hiện ở vùng mặt và miệng. Trong 3 tháng đầu mang thai người mẹ bị mắc bệnh này thì rất dễ bị sẩy thai, trong trường hợp mẹ nhiễm bệnh nặng thì thai nhi có thể bị tổn thương các bộ phận của cơ thể như mắt, gan, lách, trẻ rất dễ bị co giật sau này. Các bà mẹ cần giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ, không nên đến các khu vực đông người để hạn chế bị lây bệnh. Ngay khi xuất hiện các dấu hiện của bệnh như kể trên nên đi khám bác sĩ để được điều trị kịp thời, tránh để bệnh tiến triển nặng. Bệnh thuỷ đậu Đối với phụ nữ chưa từng mắc thuỷ đậu trước đây thì đây là căn bệnh cần lưu ý vì có thể chúng sẽ xuất hiện trong thời kỳ mang thai. Căn bệnh dễ mắc phải qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp do nhiễm varicella zoster virus (VZV) có thể gây một số ảnh hưởng cho thai nhi tuỳ thuộc vào tuổi thai. Bệnh thuỷ đậu có thể gây Hội chứng thuỷ đậu bẩm sinh, gây bệnh lý võng mạc, chi ngắn, đục thuỷ tinh thể, nhẹ cân… Để phòng tránh nguy cơ mắc bệnh, cách tốt nhất là phụ nữ trước khi mang thai nếu chưa từng mắc bệnh thì cần đi chủng ngừa và làm theo hướng dẫn của bác sĩ về thời gian cò thể có thai sau khi tiêm phòng. Riêng đối với phụ nữ mang thai đang mắc bệnh thì cần giữ không để bóng nước vỡ để tránh nguy cơ bội nhiễm, giữ vệ sinh thân thể và đi khám bác sĩ để được tư vấn và điều trị kịp thời để hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra đối với thai nhi. Bệnh sốt phát ban Thời tiết nóng lạnh thất thường khiến cho các dịch bệnh có cơ hội bùng phát trong đó có bệnh sốt phát ban. Theo thống kê những năm gần đây, trong những người đến khám sốt phát ban thì tỉ lệ phụ nữ mang thai chiếm đa số. Sốt phát ban nghe chừng rất đơn giản nhưng nguy cơ cho bà bầu thì rất lớn, phụ thuộc vào thời gian mà thai phụ mắc bệnh. Nó có thể gây sẩy thai, sinh non, chảy máu bất thường và gây dị dạng cho thai nhi. Bệnh thiếu máu Đây là căn bệnh rất thường gặp ở phụ nữ mang thai. Dấu hiện thường gặp khi bị thiếu máu là biểu hiện mệt mỏi, chóng mặt, thiếu tập trung. Tuy nhiên nếu trong quá trình mang thai, ảnh hưởng của bệnh thiếu máu sẽ lớn hơn gây cho thai phụ dễ bị băng huyết, nhiễm trùng sau sinh còn với thai nhi thì thiếu máu có thể gây thai chậm phát triển, rối loạn chuyển hoá chất… Nếu được phát hiện kịp thời tình trạng thiếu máu và thiếu máu còn ở tình trạng nhẹ, thai phụ chỉ cần bổ sung kịp thời các chất như sắt, acaid folic, đạm… thì có thể tránh các nguy cơ trên. Thai phụ cần đi khám sức khoẻ theo lịch và bổ sung các viên sắt, vitamin theo hướng dẫn của bác sĩ để phòng tránh nguy cơ thiếu máu trong thai kỳ. Bệnh Viêm cầu thận Bệnh gây tổn thương đến tiểu cầu thận, diễn tiến chậm và người bệnh bị viêm cầu thận thường có biểu hiện là chân bị phù, giảm chức năng thận, huyết áp tăng cao, tiểu ra máu…. Các xét nghiệm có chỉ số như albumin niệu, creatinin và ure trong máu đều cao. Khi mang thai nếu thai phụ bị viêm cầu thận ở thể nặng có thể làm cho nhau thai và cuống nhau bị teo nhỏ, sẽ gây thai suy dinh dưỡng, sẩy thai, thai chết lưu. Tuy nhiên nếu bị viêm cầu nhẹ, thai phụ vẫn có thể mang thai bình thường nhưng cần thăm khám bác sĩ thường xuyên để tránh bệnh tiến triển nặng gây những biến chứng không tốt đến sức khoẻ của bà mẹ và thai nhi. Rulella Đối với phụ nữ mang thai, nhất là trong 3 tháng đầu nếu nhiễm loại virus này thì hết sức nguy hiểm vì chúng có thể gây ra các di chứng nặng nề cho em bé. Nguyên nhân là do virus có có khả năng xâm nhập xuyên qua bánh nhau làm ảnh hưởng đến thai nhi gây các bệnh về thần kinh, chậm phát triển, đầu nhỏ, viêm phổi, tổn thương mắt, điếc, gây bệnh tim mạch như còn lỗ thông liên nhất, còn ống động mạch, nguy cơ tiểu đường… Cách phòng tránh bệnh tốt nhất là tiêm vaccine phòng bệnh. Riêng đối với phụ nữ đang mang thai mà mắc bệnh, nên đi bệnh viện kiểm tra để theo từng trường hợp, tuỳ theo từng tuần thai, bác sĩ sẽ có hướng dẫn cụ thể.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Mùa lạnh, đề phòng bệnh cúm cho trẻ em

MÙA LẠNH, ĐỀ PHÒNG BỆNH CÚM CHO TRẺ EM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1/3 số trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm cúm và đặc biệt trẻ em cũng được xếp vào nhóm có tỉ lệ tử vong cao do bệnh cúm. Yếu tố “thiên thời địa lợi” làm lan truyền lây nhiễm virút cúm Thời tiết khí hậu: ở môi trường có độ ẩm thấp và nhiệt độ không cao (khí hậu lạnh, ẩm) dễ làm phát tán bệnh cúm. Môi trường sống: không thông thoáng, mật độ dân cư đông đúc, môi trường ô nhiễm hoặc ẩm thấp dễ làm lây truyền virút cúm. Phương tiện di chuyển công cộng đông đúc: nhất là khoảng cách giữa người bệnh và người lành không còn an toàn (<1m) làm người dễ hít các giọt tiết bắn ra từ người bệnh, nhất là trẻ em. Bệnh cúm dễ nhầm lẫn với bệnh cảm lạnh thông thường Cảm lạnh và cúm là 2 bệnh lý hoàn toàn khác nhau, mặc dù 2 bệnh có những triệu chứng tương tự nhau. Sự khác biệt thể hiện qua 3 đặc điểm sau đây: Khác nhau về tác nhân gây bệnh: bệnh cảm lạnh thường do một số siêu vi thông thường đường hô hấp như Adenovirus, Rhinovirus, Coronavirus…. gây ra, còn bệnh cúm thì do virút cúm có tên khoa học là Influenzae.   Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1/3 số trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm cúm và đặc biệt trẻ em cũng được xếp vào nhóm có tỉ lệ tử vong cao do bệnh cúm (Ảnh minh họa) Khác nhau về bệnh cảnh và triệu chứng lâm sàng: bệnh cảm lạnh thường gây những triệu chứng ở đường hô hấp ở mức độ nhẹ hoặc trung bình như hắt hơi, sổ mũi, hoặc nghẹt mũi, một số bệnh nhân có thể bị ho khan hoặc cơ thể mệt mỏi thoáng qua. Ngược lại, khi bị nhiễm cúm triệu chứng bệnh thường rầm rộ biểu hiện qua 3 hội chứng sau: Hội chứng nhiễm trùng: trẻ thường bị sốt cao liên tục 39 - 40oC khi nhiễm cúm, mặt đỏ bừng, mạch nhanh, biếng ăn, tiểu ít, nước tiểu vàng sậm. Trẻ thường bị mệt lả, đuối sức vì sốt. Hội chứng đau nhức: nhức đầu dữ dội và liên tục gia tăng khi sốt cao hoặc khi ho gắng sức, thường đau nhiều ở vùng trán và vùng trên nhãn cầu. Bệnh nhân còn đau các bắp cơ thân mình. Bệnh nhân có cảm giác nóng, đau vùng trên xương ức. Hội chứng viêm long đường hô hấp: xuất hiện ngay các ngày đầu với mức độ nặng nhẹ khác nhau như hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi, mắt đỏ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác khô và đau rát họng. Trẻ em thường kèm theo dấu hiệu buồn nôn, nôn ói hoặc đau bụng. Khác nhau về mức độ nguy hiểm và biến chứng: bệnh cảm lạnh thường tự khỏi và không gây bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào cho con người, ngược lại bệnh cúm nếu không theo dõi và chăm sóc người bệnh đúng cách có thể gây những biến chứng nghiêm trọng cho con người. Chăm sóc đúng cách trẻ mắc cúm tại nhà Việc chăm sóc nên chú ý những nguyên tắc sau đây: - Hạ sốt cho trẻ khi thân nhiệt đo được từ 38oC bằng paracetamol đơn chất với liều 10mg - 15mg/kg cân nặng cơ thể mỗi 4 - 6 giờ kết hợp với lau mát bằng nước ấm khi cần thiết. Tuyệt đối không được sử dụng aspirin để hạ sốt cho trẻ. Cho trẻ uống thêm nhiều nước, đặc biệt là những loại nước giàu vitamin C như nước cam tươi, nước chanh, nước táo… giúp trẻ tăng cường sức đề kháng để mau khỏi bệnh. Cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, ấm, dễ tiêu hóa và giàu dinh dưỡng như cháo, xúp dinh dưỡng, sữa nóng… Cho trẻ đến ngay bệnh viện nếu thấy bệnh trầm trọng hơn, trẻ bỏ ăn bỏ uống, quấy khóc nhiều, đặc biệt là sốt cao liên tục không hạ sau khi đã uống thuốc hạ sốt và lau mát tích cực. Chủ động phòng bệnh - Nhắc nhở trẻ thường xuyên rửa sạch tay bằng xà bông và nước sạch. - Tránh tiếp xúc với người nghi ngờ nhiễm khuẩn hô hấp cấp, giữ khoảng cách an toàn (>1m). - Mang khẩu trang y tế khi đến chỗ đông người: bệnh viện, siêu thị, công viên, rạp chiếu phim… - Nhắc nhở trẻ thói quen che miệng khi ho. - Giữ vệ sinh thân thể và môi trường sống thật tốt. - Phòng ngừa chủ động tốt nhất và hiệu quả nhất là đưa trẻ đi tiêm ngừa vắc-xin phòng bệnh cúm.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Xuất hiện nhiều ca cúm biến chứng nặng

XUẤT HIỆN NHIỀU CA CÚM BIẾN CHỨNG NẶNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một đêm tiếp nhận 2 ca biến chứng nặng Theo ThS Nguyễn Trung Cấp, Phó trưởng khoa Cấp cứu, BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương, riêng trong ngày 16/3, khoa Cấp cứu, BV Bệnh Nhiệt đới đã có 2 ca mắc cúm A/H1N1 biến chứng nặng. Bệnh nhân đầu tiên là chị V.T.L, 26 tuổi ở Thanh Hóa. Gia đình chị L có 6 người, trong đó có cả người chồng đều bị nhiễm cúm H1N1 và đang phải điều trị tại BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Tuy nhiên, chị L là người bị nặng nhất, có biến chứng tổn thương cả hai phổi, phải thở máy, 5 người còn lại diễn biến nhẹ hơn. Được biết, trước đó chị L có thấy người mệt mỏi, ốm lửng chửng. Nghĩ mình chỉ bị cảm cúm thông thường nên chị không đi khám. Đến ngày thứ 6, bệnh bỗng diễn biến nặng, chị bị khó thở trầm trọng. “Ngay sau khi thấy có người bị khó thở nặng, xung quanh nhà lại có rất nhiều gà chết không rõ nguyên nhân, gia đình vỗi vã đưa chị L và cả 5 người trong gia đình có dấu hiệu cúm lên khám tại BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương vì lo sợ nhiễm cúm A/H5N1. Rất may kết quả xét nghiệm cho thấy cả 6 người nhiễm cúm A/H1N1. Tuy nhiên, bệnh nhân L có biến chứng rất nặng, ngay khi nhập viện đã phải thở máy oxy cao vì bị suy hô hấp, cả hai bên phổi có tổn thương. Hiện tại, bệnh nhân vẫn đang được điều trị hồi sức tích cực”, ThS Cấp nói.   Bệnh nhân L vẫn đang phải thở máy do có biến chứng nặng sau nhiễm cúm A/H1N1 (Ảnh MH) Trường hợp nặng thứ 2 là bệnh nhân nam, 61 tuổi ở Khoái Châu, Hưng Yên, nhập viện trong tình trạng bị sốt ngày thứ 6, người mệt mỏi, đau nhức, khó thở và có tổn thương phổi. Hiện tại, bệnh nhân chưa phải thở máy, bác sĩ tiên lượng diễn biến bệnh tốt, bệnh thuyên giảm. Đừng chủ quan với cúm Có nguồn gốc từ lợn, cúm H1N1 bùng phát mạnh mẽ vào năm 2009, tốc độ lây lan cao. Tại Việt Nam, hàng nghìn người đã nhiễm virus cúm và hơn 50 người tử vong. Sau giai đoạn bùng phát mạnh mẽ vào năm 2009, cúm H1N1 hiện lưu hành như một chủng cúm mùa thông thường. Kết quả xét nghiệm tại các điểm giám sát cúm trọng điểm quốc gia gần đây cho thấy, chủng virus cúm lưu hành trên người thời gian qua chủ yếu là H3N2, H1N1 địa dịch và cúm B. Dù đã lưu hành trở thành cúm thường nhưng ThS Cấp cảnh báo người dân không nên vì thế mà chủ quan với cúm H1N1 cũng như các cúm mùa khác. Bởi, không chỉ cúm A(H5N1), A(H7N9) mới nguy hiểm mà cúm mùa thông thường trong đó có cúm A(H1N1) cũng có thể gây bội nhiễm viêm phổi, khó thở, thậm chí gây tử vong do suy hô hấp, suy đa tạng. Vì thế, người bệnh không nên chủ quan. Theo ThS Cấp, trong 2 tháng vừa qua, thời tiết nồm ẩm là điều kiện thuận lợi cho virus cúm phát triển. Chính vì thế, số lượng bệnh nhân đến khám vì cúm A/H1N1 tại BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương khá nhiều, một ngày có 3-4 ca. Tuy nhiên, bác sĩ nhận định số mắc thực tế có thể cao hơn nhiều vì có trường hợp bệnh nhẹ không đến viện. “Đáng lo ngại là xuất hiện những chùm cha bệnh 5-6 người trong cùng gia đình mắc. Đầu tháng 1 cũng xảy ra chùm ca bệnh hơn 40 học sinh một trường nội trú tại Hà Nội cùng mắc chủng cúm này. Từ sau Tết đến nay, BV đã tiếp nhận 7 ca nhiễm cúm có biến chứng nặng, rải rác ở khắp các tỉnh, trong đó Hà Nội ghi nhận 2 trường hợp”, ThS Cấp cho biết. Để phòng bệnh, ThS Cấp khuyến cáo người dân cần chú ý rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, tránh việc chùi tay lên mắt và mũi, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi... Có thể đi tiêm vắcxin để phòng bệnh. Những trường hợp sốt cao, khó thở cần đến cơ sở y tế ngay, không được chủ quan để ở nhà, nhằm hạn chế những biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

HƠN 75% NGƯỜI NHIỄM CÚM KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG

HƠN 75% NGƯỜI NHIỄM CÚM KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khảo sát của các nhà khoa học Anh tại ĐH London mới được công bố trên tạp chí The Lancet Respiatory Medicine cho thấy có hơn 3/4 người bị nhiễm cúm theo mùa không hề có triệu chứng bệnh cúm. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát số liệu về nhiễm cúm bằng cách thử máu tại nhà những người tham gia thử nghiệm trước và sau thời gian thường xảy ra bệnh cúm mùa đông trong 6 năm liền - trong đó có năm bị dịch “cúm heo” H1N1 là 2009. Kết quả cho thấy khoảng 18% số người không được chủng ngừa cúm bị nhiễm virus cúm.   Chỉ có 17% người nhiễm cúm đến thầy thuốc khám bệnh (Ảnh minh họa) Tuy nhiên, chỉ có 23% trong số này có triệu chứng cúm. Các nhà khoa học cũng ghi nhận tỉ lệ người nhiễm cúm đến thầy thuốc khám bệnh là 17%. Từ phát hiện này, nhóm nghiên cứu cho rằng dữ liệu nhiễm cúm và bệnh cúm thu thập từ cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu theo cách làm lâu nay là không chính xác. Theo các nhà khoa học này, tình trạng nhiễm cúm đã bị đánh giá thấp và tỉ lệ nhiễm cúm mùa thực ra cao hơn gấp 22 lần so với ghi nhận theo cách trước đây. Họ cho rằng khảo sát này giúp việc kiểm soát và phòng dịch cúm tốt hơn trong tương lai.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Củ mài, mật mía giúp bổ thận tráng dương

CỦ MÀI, MẬT MÍA GIÚP BỔ THẬN TRÁNG DƯƠNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đây là hai vị thuốc của Đông y đã có trên bốn nghìn năm. Mật được chiết xuất từ Cam giá (cây mía), là một vị thuốc bổ, có vị ngọt, tính bình vào các kinh phế, tỳ, vị, can (phổi, tụy, dạ dày, gan), có tác dụng thanh nhiệt nhuận táo, sinh tân dịch, chỉ khát. Trong Đông y dùng để bổ tỳ vị, điều hòa khí huyết, người dịch vị kém, ăn uống kém hay khô miệng, tiêu đờm, trị ho, giải khát. Củ mài trong Đông y gọi là Hoài sơn, mọc hoang trong rừng, cả Bắc Trung Nam đều có, cũng là một vị thuốc  bổ có vị ngọt, tính bình vào các kinh tỳ, vị, phế, thận (tụy, dạ dày, phổi, thận). Có tác dụng ích thận khí, bổ dưỡng tỳ vị phế và thận, thanh nhiệt. Củ mài dùng để điều trị các bệnh: thận dương kém, dương sự yếu, đi tiểu đục, tỳ vị hư yếu, đại tiện lỏng. Hai vị thuốc trên vừa bổ thận, vừa bổ tỳ có nhiều trong các bài thuốc Đông y. Bài thuốc “Tư sinh Thận khí hoàn” Thành phần: Thục địa 16 g, đan bì 8 g, hoài sơn (củ mài) 12 g, sơn thù 8 g, nhục quế 6 g, phục linh 12 g, trạch tả 8g, xa tiền tử 12 g, ngưu tất 8 g, phụ tử chế 6 g. Các vị thuốc trên tán bột mịn quyện với mật mía, làm viên hoàn mỗi viên 5 g, ngày uống 2 lần mỗi lần 2 viên sau khi ăn sáng và ăn tối, uống với nước đun sôi để ấm. Bài thuốc có tác dụng điều trị chứng tỳ thận hư yếu, ăn ngủ kém, đau lưng, tiểu tiện không thông (hay đái rắt) nam giới dương sự kém, phụ nữ lãnh cảm tình dục.   Bài thuốc “Sơn dược hoàn” Thành phần: Hoài sơn (củ mài) 16 g, cửu thái tử (hạt hẹ)12 g,  sơn thù 6 g, thỏ ty tử (hạt tơ hồng) 12 g, thục địa 12 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 12 g, phụ tử chế 6 g, nhục quế 6 g. Tán bột các vị thuốc trên với mật mía, mỗi viên 5 g, ngày uống 2 lần mỗi lần uống 2 viên trước khi ăn sáng và ăn tối. Đây là bài thuốc đại bổ thận tráng dương. Điều trị chứng hạ nguyên hư suy, thận suy dẫn đến vô sinh. Bài thuốc “Sơn dược thang” Thành phần: Củ mài 20 g, bạch truật 20 g, cam thảo 8 g, cát căn (sắn dây) 20 g, hoàng kỳ 20 g, đảng sâm 20 g. Mỗi ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày để trị bệnh tiểu đường. Ngoài các bài thuốc trên, củ mài còn làm thức ăn bổ dưỡng như: nấu chè củ mài với mật mía ăn vào mùa đông xuân để bổ thận sinh tinh, ấm tỳ vị. Củ mài hầm với chim bồ câu, hạt sen, ý dĩ, gạo nếp, đại táo giúp phụ nữ sau khi sinh ăn vừa bổ khí, huyết vừa có nhiều sữa.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề