HÃY CHUYỂN THỂ BÀI THƠ ANH TRANG THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN VĂN MẪU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HÃY CHUYỂN THỂ BÀI THƠ ANH TRANG THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN VĂN MẪU":

Chuyển thể bài thơ Lượm thành một câu chuyện

CHUYỂN THỂ BÀI THƠ LƯỢM THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN

Chuyện về cậu bé thiếu niên Lượm dũng cảm đã hi sinh vì đất nước mãi là kỉ niệm không phai trong lòng người dân Việt Nam. Lần đó tôi có dịp vào Huế và vô cùng may mắn, tôi được nói chuyện với một người đồng đội của Lượm. Lúc đó Lượm làm liên lạc cho đơn vị Mang Cá của bác.   Nhắc đến Lượm, đôi mắt bác ánh lên niềm tự hào pha lẫn niềm tiếc thương một cậu bé vô cùng can đảm, anh hùng.   Bác nhớ lại, ngày đó khi được phân công về công tác ở đồn Mang Cá, bác đã nghe mọi người hay nhắc đến cậu bé làm liên lạc rất gan dạ và anh dũng. Những lời nói đó đã khiến bác rất lưu tâm và muốn được gặp cậu bé. Hôm ấy, gặp một chú bé dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn bác liền gọi lại và hỏi: – Cháu bé, cháu được phân công làm nhiệm vụ gì? – Cháu làm liên lạc viên chú à. – Thế có phải tên cháu là Lượm không? – Dạ thưa chú cháu tên là Lượm. Sao chú biết ạ? – à ra vậy!- Thế cháu có sợ nguy hiểm không?   Chú bé nhún vai lém lỉnh trả lời: – Cháu không sợ chú ạ, cháu luôn nghĩ là làm thế nào để hoàn thành tốt nhiệm vụ. – Cháu có thích công việc này không? – Cháu thích hơn ở nhà ạ.  – Chú chúc cháu luôn hoàn thành nhiệm vụ.   Chú bé bước đi thoăn thoắt, đầu nghênh nghênh, trông rất đáng yêu, và trông chú càng đáng yêu hơn, ngộ nghĩnh hơn khi trên đầu đội chiếc mũ canô với chiếc sắc đeo bên hông. Chú bé chào tôi rất nhanh và khuất dần chỉ còn tiếng huýt sáo rộn vang.   Sau lần gặp gỡ đó, do bận nhiều công việc tôi quên cũng không có dịp gặp lại cậu bé. Cho đến một hôm, trở về đơn vị tôi, nhìn mặt ai tôi thấy cũng có vẻ buồn buồn, một đồng chí hỏi tôi:   – Đồng chí có nhớ cháu Lượm không, cậu bé liên lạc đó? – Có! Tôi nhớ. Xảy ra chuyện gì hả đồng chí?    – Cậu bé hi sinh rồi, hôm đó, Lượm nhận nhiệm vụ đem công văn đi, mọi người đều cảnh báo với chú rằng đó là quãng đường rất nguy hiểm, có thể gặp địch phục kích, nhưng chú không hề tỏ ra sợ hãi, còn nói: Em không sợ đâu. Chúng nó mà xông ra em sẽ đánh cho tơi bời. Nói xong chú thản nhiên đút công văn vào sắc thoăn thoắt bước đi, mồm lại huýt sáo vang rộn. Không ngờ hôm đó quân địch lại đánh hơi thấy chú nhỏ, chúng bí mật nằm phục kích ở giữa cánh đồng lúa, nên nhìn bề ngoài rất khó phát hiện. Lượm cũng đã rất tinh khi đi qua đi qua cánh đồng, linh cảm đến điều gì đó bất trắc nên chú nhanh tay xé vụn tài liệu và vứt vội ra xa. Có lẽ bọn địch đã trông thấy hành động đó, chúng liền xả đạn vào nó. Lượm đã anh dũng hi sinh, giữa cánh đồng, tay vẫn còn nắm chặt bông lúa, miệng còn nở một nụ cười.    Đồng chí nọ kể xong bỗng oà khóc. Tôi ngỡ ngàng, đau đớn và cũng không thể cầm được nước mắt, vừa cảm phục vừa thương tiếc. Trong tôi bỗng lại hiện lên hình ảnh chú bé nhỏ nhắn, gương mặt nhanh nhẹn, thông minh, nụ cười luôn nở trên môi.   Câu chuyện về sự hi sinh anh dũng của chú bé Lượm được mọi người ở khắp nơi kể cho nhau nghe. Chú còn trở thành tấm gương sáng để các cháu bé noi theo, và cho đến tận ngày hôm nay tấm gương ấy vẫn còn toả sáng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Văn mẫu hay đặc sắc, chọn lọc

Văn mẫu hay đặc sắc, chọn lọc

Văn mẫu hay, đạt điểm tuyệt đối, sáng tạo, cuốn hút, dẫn chứng sinh động, giọng văn triết lí sâu sắc Đề:”Nếu số phận chia cho bạn quân bài xấu, hãy để sự khôn ngoan biến bạn thành người chơi giỏi” Lập dàn ý và bài văn làm mẫu (trong đó, dẫn chứng sinh động, đầy đủ), giọng văn rõ ràng mạch lạc. Sưu tầm

Đọc thêm

Đáp án đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Bình Định năm 2014

ĐÁP ÁN ĐỀ THI VÀO LỚP 10 MÔN VĂN TỈNH BÌNH ĐỊNH NĂM 2014

Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Bình Định năm 2014 Câu 1: (4,0 điểm)           Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim.” (Phạm Tiến Duật, Bài thơ về tiểu đội xe không kính) Đoạn thơ trên nằm ở vị trí nào trong bài thơ. Đoạn thơ thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Những biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng trong hai câu thơ đầu của đoạn thơ? Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong đoạn thơ. Từ ý thơ trên, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 - 200 từ) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần vượt khó của lớp trẻ hiện nay.  Câu 2: (6,0 điểm)           Cảm nhận của em về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa pa của nhà văn Nguyễn Thành Long. Đáp án Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Bình Định năm 2014 Câu 1: (4,0 điểm) 1. Đoạn thơ trên nằm ở vị trí cuối cùng bài thơ, phong cách ngôn ngữ văn chương. 2. Những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ: + Phép điệp ngữ: “ không có” + Hoán dụ: “ trái tim” Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong đoạn thơ: + Phép điệp ngữ góp phần tính chất hư hại của những chiếc xe. Từ đó làm nổi bật sự ác liệt của chiến tranh cũng như hiện thực về cuộc sống của người lính… + Phép hoán dụ góp phần nhấn mạnh, làm nổi bật sức mạnh chiến đấu, ý chí kiên cường … của người lính lái xe. 3. …  Câu 2: (6,0 điểm)  Thí sinh có thể trình bày cảm nhận của mình về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long theo nhiều cách trình bày. Tuy nhiên, bài viết nên: -  Thể hiện đúng kết cấu của một bài nghị luận văn học. -  Thể hiện đầy đủ, chính xác vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong truyện        ngắn. -  Có cách hành văn trong sáng, sinh động.  Sau đây là một vài gợi ý về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên:  + Một thanh niên giàu nghị lực đã vượt qua hoàn cảnh bằng những suy nghĩ rất đẹp, giản dị mà sâu sắc. -  Hoàn cảnh sống và làm việc: một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét quanh năm “chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo”; công việc đều đặn, gian khổ: rét, mưa tuyết, nửa đêm…; cô đơn, vắng vẻ. -  Quan niệm sống là cống hiến. Có ý thức về công việc, yêu nghề và thấy được ý nghĩa cao quý trong công việc: yên tâm với nghề khi biết được mình đã góp phần phát hiện kịp thời một đám mây khô nhờ đó “không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng”; suy nghĩ: ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được. + Một người thanh niên có những tính cách và phẩm chất đáng mến: hiếu khách, cởi mở và chân tình. -  Với bác tài xế xe khách: có tình cảm thân thiết: chuyến nào chạy lên, bác đều ghé lại trạm khí tượng để người thanh niên gặp gỡ, trò chuyện; anh tìm và tặng củ tam thất cho vợ bác lái xe đang bị ốm. -  Với ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ mới gặp lần đầu: hiếu khách, vui mừng, ân cần mời hai người lên nhà; cắt hoa tặng cô gái, dẫn khách đi thăm vườn khí tượng, giới thiệu các loại máy móc, kể công việc hằng ngày của mình, pha trà ngon đãi khách, giải bày tâm sự tự nhiên, chân thành: chân thành bộc lộ niềm vui, nói to những điều đáng lẽ người ta chỉ nghĩ trong đầu; tôi cắt thêm mấy cành nữa. Rồi cô muốn lấy bao nhiêu nữa tùy ý. Cô cứ cắt một bó rõ to vào. Có thể cắt hết, nếu có thích; Anh đếm từng phút vì sợ mất hết ba mươi phút gặp gỡ vô cùng quý giá. Đến khi chia tay, anh xúc động đến nỗi phải quay mặt đi và không dám tiễn khách ra xe dù chưa đến giờ “ốp”, và có lẽ để che dấu cái e ấp, xao xuyến, bâng khuâng của hai người con trai, con gái gặp nhau đột ngột, quý mến nhau rồi chia tay nhau ngay, bởi biết là không bao giờ gặp nhau nữa. Đó là cái chốc lát đã góp phần làm sáng lên cái diện mạo của câu chuyện và thổi một làn gió mát vào một câu chuyện tưởng chừng sẽ rất khô khan. -  Khiêm tốn, thành thật: Anh cảm thấy đóng góp của mình là nhỏ bé. Anh nhiệt thành giới thiệu những người khác mà anh thật sự khâm phục: ông kĩ sư vườn rauSaPa, người cán bộ nghiên cứu khoa học về sét. + Một người thanh niên có đời sống tâm hồn trẻ trung, phong phú và lành mạnh: Anh thích giao lưu, gặp gỡ đến mức thèm người; anh tự tạo ra niềm vui trong sáng, lành mạnh: trồng hoa, đọc sách, chăn nuôi; anh sống ngăn nắp, lành mạnh, gọn gàng với một căn nhà ba gian sạch sẽ, với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách dù chỉ một mình. + Những vẻ đẹp nói trên của nhân vật anh thanh niên được thể hiện bằng một nghệ thuật xây dựng nhân vật có những nét đặc sắc: bộc lộ qua một cuộc gặp gỡ đặc biệt với lời nói, thái độ, hành động; nhân vật không có tên riêng, không có ngoại hình cụ thể mà chỉ có một tên gọi theo kiểu chung, phiếm chỉ. + Những nét đẹp của nhân vật anh thanh niên thể hiện vẻ đẹp của người thanh niên Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ: giản dị, chân thành, giàu lý tưởng; góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu; thể hiện cảm hứng của Nguyễn Thành Long khi sáng tác: “Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc”, hy sinh, yêu thương và mơ ước. Nhận ngay điểm thi vào lớp 10 tỉnh Bình Định năm 2014 nhanh nhất, soạn tin:        THI  (dấu cách) binhdinh (dấu cách) SBD gửi 8712 *Lưu ý: Tên tỉnh viết liền, không dấu VD: Để tra cứu điểm thi vào lớp 10 năm 2014 của thí sinh có SBD 270991 thi tại Bình Định Soạn tin: THI      binhdinh  270991   gửi 8712
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề thi thử THPTQG môn Văn THPT Nguyễn Du 2015

ĐỀ THI THỬ THPTQG MÔN VĂN THPT NGUYỄN DU 2015

Đề thi thử THPTQG môn Văn THPT Nguyễn Du 2015 Phần II : Làm văn Câu 1: Nghị luận xã hội “Đừng có cố gắng thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích”. Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh / chị về ý kiến trên ( khoảng 600 chữ) Câu 2 : Nghị luận văn học Cảm nhận của anh (chị) về những vẻ đẹp của người “vợ nhặt” trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân và nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện “chiếc thuyền ngoài xa” cảu Nguyễn Minh Châu.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi THPT Quốc gia môn Văn THPT Gia Viễn B năm 2015

ĐỀ THI THPT QUỐC GIA MÔN VĂN THPT GIA VIỄN B NĂM 2015

Đề thi THPT Quốc gia môn Văn THPT Gia Viễn B năm 2015 I. Phần đọc hiểu: (2,0 điểm) Đọc kĩ đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi: Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường, Con đã đi nhưng con cần vượt nữa Cho con về gặp lại mẹ yêu thương. Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Như chiếc nôi dừng bỗng gặp cánh tay đưa. 1. Theo anh (chị), đoạn thơ trên rút ra từ tác phẩm nào? Của ai? 2. Tác giả viết: “Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa”. Theo anh (chị), thời gian mười năm được được nhắc đến ở đây là khoảng thời gian nào? 3. Hình ảnh Mẹ yêu thương là biểu tượng cho con người và miền đất nào? Vì sao? 4. Trong đoạn trích, tác giả sử dụng nhiều nhất biện pháp tu từ nào? Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó? 5. Nếu được trình bày cảm nhận của mình về nội dung của đoạn thơ trên bằng 3 câu văn, anh (chị) sẽ nói gì? II. Phần viết: (8,0 điểm) Câu 1: (3,0 điểm) Niềm tự hào của số 0 Nhờ rất nhiều số 0 đi theo mà số 1 trở thành khổng lồ. Thành khổng lồ, những số 0 vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể lể, vỗ ngực rằng: “Ta là khổng lồ”. Sau khi đọc câu chuyện trên, nhiều người đã cho rằng: Trong cuộc sống mỗi người cần biết nhận thức đúng về giá trị của bản thân mình. Nếu không nhận thức đúng giá trị của mình, con người dễ trở nên ảo tưởng và ngông nghênh, tự hào và kiêu ngạo một cách lố bịch. Anh (chị) có đồng tình với ý kiến trên không? Hãy đọc thật kĩ câu chuyện và cho biết suy nghĩ của mình bằng một bài văn ngắn (khoảng 600 từ). Câu 2: (5,0 điểm) Cảm nhận của anh (chị) về người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Qua đó, anh (chị) có suy nghĩ gì về vấn nạn bạo hành gia đình được đặt ra trong tác phẩm. Đáp án đề thi THPT Quốc gia môn Văn THPT Gia Viễn B năm 2015 được cập nhật sau, các em chú ý theo dõi.
Xem thêm

1 Đọc thêm

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 2 LỚP 9

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 2 LỚP 9

I. THAM KHẢO CÁC ĐỀ VĂN SAU Đề 1: Hãy tưởng tượng: vào một ngày hè của hai mươi năm sau em mới có dịp thăm lại ngôi trường đang học. Em hãy viết một lá thư kể lại buổi thăm lại trường cũ với một người bạn cùng lớp ngày còn đi học. Đề 2: Trong giấc một giấc mơ, em được gặp lại người thân xa cách đã lâu. Hãy kể lại giấc mơ đó.I. THAM KHẢO CÁC ĐỀ VĂN SAU Đề 1: Hãy tưởng tượng: vào một ngày hè của hai mươi năm sau em mới có dịp thăm lại ngôi trường đang học. Em hãy viết một lá t Đề 3: Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã học, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh. Đề 4: Đã có một lần em cùng bố, mẹ (hoặc anh, chị) đi thăm mộ người thân trong ngày lễ, tết. Hãy kể lại cuộc thăm viếng đó. Đề 5: Em từng được đi xem một cuộc triển lãm tranh với chủ đề “Chia sẻ nỗi đau với những nạn nhân của chất độc màu da cam”. Hãy viết một bài văn kể lại cuộc đi xem triển lãm đầy ấn tượng ấy. II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ, LẬP DÀN Ý 1. Tìm hiểu đề: - Xác định yêu cầu của đề bài: + Đề bài yêu cầu kể về đối tượng nào? + Có cần kết hợp giữa kể với các thao tác khác (miêu tả, biểu cảm,…) không? - Lập ý: Nhớ lại hoặc tưởng tượng ra câu chuyện (nhân vật, sự việc, diễn biến,…); lựa chọn ngôi kể. 2. Lập dàn ý: Lập dàn ý cho bài văn tự sự có kết hợp với miêu tả theo bố cục ba phần. - Mở bài: Giới thiệu về câu chuyện sẽ kể, dẫn dắt để lôi cuốn người đọc. - Thân bài: Trình bày diễn biến các sự việc. + Nhân vật: chỉ có nhân vật người kể chuyện hay còn có những nhân vật khác? Có thể kết hợp giới thiệu nhân vật trong diễn biến sự việc. + Sắp xếp trình tự các sự việc theo diễn biến trước – sau hoặc theo trình tự đảo ngược từ hiện tại nhớ về quá khứ. + Em dự định sử dụng miêu tả ở những tình tiết nào, để làm gì? - Kết bài: Kết thúc câu chuyện; nêu suy nghĩ của mình về kết cục câu chuyện hoặc ấn tượng về những gì đã diễn ra trong câu chuyện. Nêu bài học hoặc cảm nhận chung mà câu chuyện đã gợi ra. 3. Viết một số đoạn văn: - Đoạn tả lại cảm xúc của mình trước khung cảnh ngôi trường cũ; những hình ảnh gắn với kỉ niệm thời đi học. - Đoạn tả diễn tả tình cảm vui sướng, xúc động của mình khi gặp lại người thân; đoạn tả hình ảnh người thân. - Đoạn tả khung cảnh trận chiến đấu, khắc hoạ diễn biến các sự việc chính trong trận chiến đấu, hình ảnh những đội quân,… - Đoạn diễn tả cảm xúc của mình trước ngội mộ người thân; tả ngôi mộ người thân,… - Đoạn tả những hình ảnh em bắt gặp trong các bức tranh khi xem triển lãm,…
Xem thêm

2 Đọc thêm

tổng hợp các bài văn phát biểu cảm tưởng phần i

TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN PHÁT BIỂU CẢM TƯỞNG PHẦN I

Hướng dẫn soạn bài : Cha Tôi (Trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục). Soạn bài: Tính thống nhất chủ đề của văn bản. Thư gửi ba ở Trường Sa. Viết một văn (từ 8 đến 10 câu) về cảnh đẹp của quê hương em, trong đó có sử dụng dấu ngoặc kép. Phân tích hình ảnh chiếc thuyền trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” Của Nguyễn Minh Châu. Phân tích tâm trạng chú hổ trong bài Nhớ rừng của Thế Lữ Phân tích nhân vật con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Cảm nhận đoạn thơ sau: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suốiTa đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” Giới thiệu Tác phẩm Nhớ rừng và nhà thơ Thế Lữ Nhận xét ” Thế Lữ như một vị tướng điều khiển đội quân Việt ngữ…” Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ đắt nhất trong “Nhớ rừng” Phân tích “ào đâu những đêm vàng bên bờ suối Than ôi Thời oanh liệt nay còn đâu” Tâm trạng chú hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Phân tích cái hay của hình ảnh thơ: Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài giời mưa bụi bay Giá trị biểu cảm của 2 câu thơ: “Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu” Phân tích bài thơ Ông đồ của tác giả Vũ Đình Liên Đọc hiểu bài ” Nhàn ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Nỗi lòng sâu thẳm của Nguyễn Trãi qua bài thơ Cảnh ngày hè Cảm nhận về “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Cảm nhận về bài Bánh trôi nước Cảm tưởng của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Biểu cảm: Tôi thấy mình đã khôn lớn Bình giảng đoạn thơ trong đoạn trích Đất Nước Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của nhà thơ Lí Bạch Bình giảng đoạn đầu bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm Cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện đã học mà anh (chị) không thể nào quên Bình luận câu tục ngữ ‘Có chí thì nên’ Soạn bài Vào phủ chúa trịnh Lê Hữu Trác Cảm nghĩ của em về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” Cảm nghĩ về bố Cảm nhận về truyện Cô bé bán diêm Cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ “Việt Bắc” Bình giảng tác phẩm ‘Chiếc thuyền ngoài xa’ của Nguyễn Minh Châu Thơ thiên nhiên trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Cảm nghĩ về cái kết truyện Cô bé bán diêm Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu Truyện người con gái Nam Xương và tấm lòng nhân hậu của nhà văn Nguyễn Dữ Cảm nhận đoạn trích Hai cây phong của Aimatop Viết cảm nhận của mình về nắng Sài Gòn Soạn bài Thu điếu Nguyễn Khuyến Sóng – Xuân Quỳnh Cảm nhận của em về khổ đầu trong bài thơ Nói Với con của Y Phương Hãy tưởng tượng rằng mình được gặp người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Kể về cuộc gặp gỡ với các chú bộ đội nhân ngày 2212 Aragông và bài thơ Enxa ngồi trước gương Cảnh sắc và con người đất kinh kỳ trong thơ văn thời thịnh Lê Thanh Hải – Một nốt trầm xao xuyến Cảm nghĩ về bản sắc văn hóa Việt Nam
Xem thêm

263 Đọc thêm

Soạn bài: Đêm nay Bác không ngủ

SOẠN BÀI: ĐÊM NAY BÁC KHÔNG NGỦ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài ĐÊM NAY BÁC KHÔNG NGỦ (Minh Huệ) I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Thể loại "Thơ là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu)" (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi: Từ điển thuật ngữ văn học, Sđd). Các bài học: Đêm nay Bác không ngủ (của Minh Huệ), Lượm (của Tố Hữu), Mưa (của Trần Đăng Khoa) thuộc thể loại thơ có yếu tố tự sự và miêu tả. 2. Tác giả Nhà thơ Minh Huệ tên khai sinh là Nguyễn Đức Thái, sinh năm 1927, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, quê ở thành phố Vinh. Tác phẩm đã xuất bản: Tiếng hát quê hương (thơ, 1959); Đất chiến hào (thơ, 1970); Mùa xanh đến (thơ, 1972); Đêm nay Bác không ngủ (thơ, 1985); Rừng xưa, rừng nay (bút kí, 1962); Ngọn cờ Bến Thuỷ (truyện kí, 1974-1979); Người mẹ và mùa xuân (truyện kí, 1981); Phút bi kịch cuối cùng (tiểu thuyết, 1990); Thưởng thức thơ viết về Bác Hồ (tiểu luận, 1992). Nhà thơ đã được nhận: Giải Nhất chi hội văn nghệ kháng chiến khu Bốn và Sở Thông tin tuyên truyền khu Bốn 1954 (thơ Dòng máu Việt Hoa); Giải thưởng Nguyễn Du của Nghệ - Tĩnh 1986 (tập thơ Đêm nay Bác không ngủ). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ kể lại câu chuyện một đêm không ngủ của Bác Hồ trên đường Người đi chiến dịch trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và cảm nghĩ của người chiến sĩ về Bác. Diễn biến câu chuyện có thể tóm tắt như sau: Thức dậy trong một đêm mưa ở giữa rừng, anh đội viên thấy Bác Hồ đốt lửa và hết sức tận tình chăm sóc cho giấc ngủ của bộ đội. Lần thứ ba thức dậy, anh mời Bác ngủ nhưng Bác vẫn từ chối. Chứng kiến cảnh đó, anh vô cùng cảm phục tấm lòng cao cả của Bác. 2. Hình tượng Bác Hồ trong bài thơ được miêu tả qua con mắt và cảm nghĩ của anh (đội viên) chiến sĩ. Anh vừa là người chứng kiến một đêm không ngủ của Bác, vừa trực tiếp được đối thoại với Bác cho nên câu chuyện được kể lại một cách tự nhiên, sinh động; đồng thời giúp cho hình tượng trung tâm của bài thơ là Bác Hồ được phản ánh vừa chân thực vừa khách quan. 3. Bài thơ kể lại hai lần anh đội viên thức dậy nhìn thấy Bác không ngủ. Mỗi lần tâm trạng và cảm nghĩ của anh đối với Bác có những điểm khác nhau: Lần thức dậy thứ nhất Lần thức dậy thứ hai - Tâm trạng: từ ngạc nhiên (Thấy trời khuya lắm rồi. Mà sao Bác vẫn ngồi) đến ái ngại, lo lắng không yên (Anh nằm lo Bác ốm. Lòng anh cứ bề bộn) và trào dâng niềm thương Bác: (Càng nhìn lại càng thương); đồng thời rất xúc động khi chứng kiến tình cảm của Bác (Bác đốt lửa sưởi ấm cho chiến sĩ, Bác nhẹ chân đi dém chăn cho từng người). Trong trạng thái như trong giấc mộng, anh cảm nhận được sự vĩ đại mà gần gũi của vị lãnh tụ (Bóng Bác cao lồng lộng. ấm hơn ngọn lửa hồng). - Tâm trạng: từ hốt hoảng (anh hốt hoảng giật mình), không chỉ "thầm thì anh hỏi nhỏ" như lần ttrước mà tha thiết "vội vàng nằng nặc" mời Bác ngủ (Mời Bác ngủ Bác ơi!... Bác ơi! Mời Bác ngủ). Trước câu trả lời của Bác, anh đội viên càng cảm nhận được tấm lòng yêu thương vô hạn của Bác đối với bộ đội và nhân dân, cho nên tâm trạng của anh thấy được lớn lên bêb Bác (Lòng vui sướng mênh mông. Anh thức luôn cùng Bác). Trong bài thơ, tác giả không kể lần thức dậy thứ hai của anh đội viên, nhưng lần thứ ba qua câu thơ Bác vẫn ngồi đinh ninh người đọc cũng thấy được: trong đêm ấy anh đội viên nhiều lần thức dậy và lần nào cũng chứng kiến Bác Hồ không ngủ. Từ lần một đến lần ba, tâm trạng và cảm nghĩ của anh có những biên đổi rất rõ rệt. 4. Trong đoạn kết bài thơ, tác giả viết: ... Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động Cách mạng của mình, Bác Hồ đã trải qua nhiều đêm không ngủ. Còn nhớ, thời kì bị giam cầm ở nhà lao của Tưởng Giới Thạch, Bác từng: "Một canh... hai canh... lại ba canh. Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành..."; rồi giữa rừng Việt Bắc chiến dịch Thu - Đông 1947, Bác từng: "Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà". Bởi vậy, việc "Đêm nay Bác không ngủ" là "một lẽ thường tình", vì "Bác là Hồ Chí Minh" - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. 5. Bài thơ được làm theo thể thơ năm chữ. - Mỗi dòng thơ có năm tiếng; mỗi khổ có bốn dòng thơ. - Cách gieo vần giữa các dòng trong một khổ thơ: chữ cuối câu thứ hai và chữ cuối câu thứ ba vần liền với nhau. - Chữ cuối của dòng cuối mỗi khổ vần với chữ cuối của dòng đầu của khổ tiếp theo. Chính cách gieo vần được nối nhau như trên cho nên thể thơ năm chữ này thích hợp với cách kể chuyện (tự sự) như bài "Đêm nay Bác không ngủ". 6. Trong bài thơ, từ láy được sử dụng như một yếu tố nghệ thuật nổi bật, đem đến cho bài thơ một vẻ đặc sắc riêng: - Từ láy có tác dụng miêu tả tạo hình: + Vẻ mặt Bác trầm ngâm + Mái lều tranh xơ xác + Bác vẫn ngồi đinh ninh + Bóng Bác cao lồng lộng... - Từ láy làm tăng giá trị biểu cảm: + Anh đội viên mơ màng + Thổn thức cả nỗi lòng + Thầm thì anh hỏi nhỏ + Nhưng bụng vẫn bồn chồn + Anh hốt hoảng giật mình + Anh đội viên nằng nặc... III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ in trong tập Thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB Tác phẩm mới, H., 1976). Đây là một tác phẩm thơ hiện đại có yếu tố tự sự, khi tìm hiểu cần thấy được nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Bài thơ được làm theo thể thơ năm chữ: mỗi dòng thơ có năm tiếng; mỗi khổ có bốn dòng thơ. Cách gieo vần giữa các dòng trong một khổ thơ: chữ cuối câu thứ hai và chữ cuối câu thứ ba vần liền với nhau; chữ cuối của dòng cuối mỗi khổ vần với chữ cuối của dòng đầu của khổ tiếp theo. Chính cách gieo vần được nối nhau như trên cho nên thể thơ năm chữ này thích hợp với cách kể chuyện (tự sự) như bài Đêm nay Bác không ngủ. Muốn đọc diễn cảm bài thơ, cần nhớ cách gieo vần như đã nói ở trên; đồng thời chú ý tiết tấu và nhấn giọng. Ví dụ với khổ thơ đầu: Anh đội viên thức dậy (đọc chậm) Thấy trời khuya lắm rồi (đọc nhanh hơn, nhấn bốn chữ sau) Mà sao Bác vẫn ngồi (đọc chậm) Đêm nay Bác không ngủ (đọc chậm, xuống giọng)... 2. Dựa theo bài thơ, em hãy viết bài văn ngắn bằng lời của người chiến sĩ kể về kỉ niệm một đêm được ở bên Bác Hồ khi đi chiến dịch. Gợi ý: Đây là một bài kể chuyện sáng tạo, ngoài việc cần phải duy trì ngôi kể (người kể đóng vai người chiến sĩ), còn cần phải nghĩ ra những sự việc, chi tiết cho bài kể ấy. Có thể nêu những chi tiết như: - Lí do nhân vật tôi (người chiến sĩ) được tham gia chiến dịch cùng với Bác. - Đêm ấy anh đã được nói chuyện với Bác khi: vừa mới thức giấc, vừa mới đi tuần tra về,… - Bác đã nói với anh về điều gì? (hoặc anh đã được chứng kiến Bác quan tâm đến những chiến sĩ khác ra sao?). - Cảm nhận của anh về con người của Bác.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

2 Đọc thêm

TUẦN 10. TẬP VIẾT THƯ VÀ PHONG BÌ THƯ

TUẦN 10. TẬP VIẾT THƯ VÀ PHONG BÌ THƯ

Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o huyÖn thanh oaiTrêng TiÓu häcCao D¬ngTập làm vănTập viết th và phong bì thBài 1: Dựa theo mẫu bài bài tập đọc Th gửi bà,em hãy viết một bức th ngắn cho ngời thân:- Dòng đầu th: Nơi gửi, ngàythángnăm..- Lời xng hô với ngời nhận th: ông, bà,cô ,chú.-Nội dung th (4 - 5 dòng) Thăm hỏi, báo tincho ngời nhận th. Lời chúc và hứa hẹn.- Cuối th: Lời chào, chữ ký và tên.Nguyn Th Thanhxúm Mi, xó Cao Dnghuyn Thanh Oai TP H NiNguyn Th HnhThụn Thng Gia, xó Hng Thỏi,huyn Kin Xng, tnh Thỏi Bỡnh- Góc bên trái (phíatrên):- Góc bên phải (phía
Xem thêm

4 Đọc thêm

TUẦN 15. NGHE-KỂ: GIẤU CÀY. GIỚI THIỆU VỀ TỔ EM

TUẦN 15. NGHE-KỂ: GIẤU CÀY. GIỚI THIỆU VỀ TỔ EM

CHÀO MỪNG THẦY CÔTỚI DỰ GIỜ LỚP 3/1Thửự saựu, ngaứy 4 thaựng12 naờm 2009Taọp laứm vaờnKiểm tra bài cũ•Kể lại câu chuyện :“Tôi cũng như bác”.Thứ sáu, ngày 4 tháng 12 năm2009Tập làm vănGiấu cày.Giới thiệu về tổ em.Nghe kể:Thứ sáu, ngày 4 tháng 12 năm2009Tập làm vănNghe kể: Giấu cày.Giới thiệu về tổ em.

18 Đọc thêm

Đề thi vào lớp 10 môn Văn chuyên THPT chuyên Lam Sơn - Thanh Hóa 2015

ĐỀ THI VÀO LỚP 10 MÔN VĂN CHUYÊN THPT CHUYÊN LAM SƠN - THANH HÓA 2015

Đề thi vào lớp 10 môn Văn chuyên Lam Sơn - Thanh Hóa 2015 Câu 1: (2,0 điểm) a. Chuyển hai câu sau thành hai câu có chứa thành phần khởi ngữ: “Người ta sợ cái uy quyền thế của quan. Người ta sợ cái uy đồng tiền của Nghị Lại” b. Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong bài thơ sau: Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Cảnh khuya – Hồ Chí Minh) Câu 2: (3,0 điểm) Phải chăng sống là biết tha thứ? Câu 3: (5,0 điểm) Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã viết: Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài Từ cảm nhận một tác phẩm hoặc một đoạn trích văn học trong chương trình ngữ văn 9, anh.chị hãy làm sáng tỏ quan điểm sáng tác được gửi gắm trong hai câu thơ trên.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi thử đại học môn Văn có đáp án năm 2014 (Phần 3)

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN CÓ ĐÁP ÁN NĂM 2014 (PHẦN 3)

Cập nhật đề thi thử môn Văn năm 2014 của trường THPT Lương Thế Vinh ngày 25/2/2014 Đề thi thử ĐH môn Văn năm 2014 - đề số 4 1. Phần chung cho tất cả thí sinh ( 5,0 điểm) Câu I.(2,0 điểm) Chỉ ra các yếu tố tạo nên âm điệu bài tha Vội vàng của Xuân Diệu. Âm điệu đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện cái tôi trữ tình của Xuân Diệu và cảm hứng chủ đạo của bài thơ?  Câu II. ( 3,0 điểm) Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 chữ) để trình bày suy nghĩ của mình về lời chúc của Steve Jobs - nhà sáng chế người Mỹ, đồng sáng lập viên hãng Apple:” Hãy luôn khát khao, Hãy cứ dại khờ!” 2. Phần riêng ( 5 điểm) Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu ( câu III.a hoặc câu III.b) Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn ( 5 điểm) Cảm nhận về hình ảnh dòng sông trữ tình trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. Câu IIIb. Theo chương trình Nâng cao ( 5 điểm) Trình bày cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau: ... Tây tiến đoàn bỉnh không mọc tóc  Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh  Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Tây Tiến - Quang Dũng, Ngữ văn NC 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 67) Đáp án đề thi thử ĐH môn Văn năm 2014 - đề số 4 I. Phần chung cho tất cả thí sinh ( 5,0 điểm) Câu I. ( 2,0 điểm) Yêu Cầu học sinh nêu được hai vấn đề cơ bản sau đây: -               Những yếu tố cơ bản tạo nên âm điệu bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu: ngôn ngữ tranh biện hăng hái, thủ pháp trùng điệp trong kiểu câu cắt nghĩa, trong điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc…; cách chuyển tiếp uyển chuyển, linh hoạt thể thơ cũng tạo nhịp điệu đa dạng cho bài thơ (thơ 5 chữ- 8 chữ- 3 chữ- 8 chữ)...; nhịp ngắt trong từng câu thơ cũng tạo ra ấn tượng như những đảo phách trong âm nhạc, vừa hòa điệu với những trùng điệp về củ pháp, vừa linh hoạt về tiết tấu: 3/3/2 - 3/2/3- 5/5...) -                 Chỉ rõ tác dụng của âm điệu thơ trong việc thể hiện cái tôi trữ tình của Xuân Diệu và cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Bài thơ được viết theo tình điệu xúc cảm của thi nhân, trong đó nổi bật điệu sống hối, hả tích cực, niềm khát khao tận hưởng cuộc đời của một cái tôi vừa thiết tha, rạo rực niềm yêụ đời, vừa băn khoăn tiếc nuối vì quĩ thời gian ngắn ngủi của đời người giữa dòng thời gian vô thuỷ vô chung, Câu II ( 3,0 điểm) Yêụ cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài nghị luận xã hội. Kết cấu bài chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần thể hiện những suy nghĩ chân thành, thiết thực, chặt chẽ và thuyết phục. Có thể làm rõ vấn đề theo một số ý sau đây về lời chúc, cũng là tuyên ngôn sống của Steve Jobs:" Hãy ỉuôn khát khao. Hãy cứ dại khờ!": + Giải thích các khái niệm: khát khao, dại khờ. + Lí giải quan niệm của Steve Jobs:“Hãy luồn khát khao. Hãy cứ dại khờ!" - cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người luôn hướng tới những ước mơ, khát vọng; dù ước mơ đó có thể không tìm thấy sự chia sẻ, đồng cảm, hoặc thậm chí đi ngược lại những quan niệm, thói quen hoặc những lời khuyên được coi là khôn ngoan, thức thời của những người xung quanh. Hãy dũng cảm sống theo sự mách bảo của trái tim và trực giác, hãy bước đi theo những suy nghĩ, xúc cảm, mong muốn...của chính mình; " đừng để tiếng nói người khác lấn át tiếng nói của bàn thân"- Steve Jobs, hây sống cuộc đời của chính mình! + Chứng minh: có thể chứng minh bằng câu chuyện về anh thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng cùng ham muốn cao quí, mãnh liệt: làm sao cho nước ta hóàn toàn độ lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành....; hoặc chứng minh bằng chính cuộc đời của Steve Jobs với bao va vấp, dại khờ, bao khát khao cháy bỏng, bao thành tựu rực rỡ... + Bàn luận vấn đề: sống theo sự mách bảo của trái tim và trực giác nhưng không nên tuyệt đối hóa cái Tổi, cần đế cái tôi khát khao, ước muốn hòa nhập với thế giới xung quanh một cách vừa nhân văn, vừa trí tuệ! -              Bài học nhận thức và hành động cho bản thân. Phần riêng (5 điểm) Câu IIIa. Theo chương trình Chuẩn ( 5 điểm) Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, dạng bài cảm nhận một hình tượng thẩm mĩ trong tác phẩm văn xuôi trữ tình. Ket cấu bài viết chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, ít lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp... Yêu cầu về kiến thức, bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần làm rõ những ý chính sau đây trong cảm nhận về dòng sông Đà trữ tình: -               Nêu được những nét chính về tác giả, tác phẩm, đặc biệt nhấn mạnh phong cách nghệ thuật độc đáo của một nhà văn suốt đời khát khao đi tìm kiếm và tôn vinh cái đẹp. -               Xác định vấn đề nghị luận: hình ảnh đòng sông Đà trữ tình khúc hạ nguồn. -               Cảm nhận được những cảnh sắc làm nên vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của đòng sông: từ dòng sông tuôn dài như một áng tóc trữ tình đến dòng sông trong những sắc màu biến ảo, từ dòng sông gợi cảm như một cố nhân, như một tình nhân gần yêu xa nhớ đến dòng sông lặng tờ hoang dại… -              Làm rõ được những đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong đoạn văn miêu tả dòng sông Đà trữ tình: sử dụng ngôn từ gợi hình, gợi cảm; tạo nhịp điệu những câu văn êm đềm, miên man...; biện pháp so sánh, nhân hóa... độc đáo, ấn tượng... Câu IIIb. Theo chương trình Nâng cao ( 5 điểm) a. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận trình bày cảm nhận về giá trị nội dung, nghệ thuật của một đoạn thơ. Kết cấu bài chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, ít lỗi chính tả, dùng từ, ngũ- pháp. Yêu cầu vê kiến thức: bài viết có thể trình bày thẹo nhiều cách khác nhau, nhưng cần làm rõ những ý chính sau đây: -              Nêu được những nét chính về hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến; phong cách nghệ thuật của Quang Dũng; nói rõ vị trí đoạn trích. -              Cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ: + Vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người chiến binh Tây Tiến qua những nét phác họa đặc biệt ấn tượng vẻ ngoại hình, dáng vẻ, nội tâm... + Sự hi sinh bi tráng của chiến sĩ Tây Tiến trong niềm cảm phục, xót thương của cả thiên nhiên, con người, đất nước.., 4- Cảm hứng lãng mạn và bút pháp hiện thực đậm nét qua những hình ảnh phi thường, phép tương phản, cách nói chủ động mạnh mẽ, ngang tàng... Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật đề thi thử đại học môn Văn phần 4 các em thường xuyên theo dõi. 
Xem thêm

3 Đọc thêm

Hãy chuyển bài thơ Lượm thành một câu chuyện

HÃY CHUYỂN BÀI THƠ LƯỢM THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN

Bài viết 1 Câu chuyện tôi sắp kể cho các bạn nghe dưới đây xảy ra đã mấy chục năm kể từ hồi ông nội tôi còn sống, còn trẻ và đang hăng say bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp toàn dân. Lần ấy, ông nội tôi được giao nhiệm vụ đi công tác ở Thừa Thiên - Huế. Ở đó ông đã gặp một thiếu niên dũng cảm, anh hùng. Đầu năm 1947, đi cùng đoàn công tác với ông tối có nhà thơ Tố Hữu, vào Huế để nhận làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Huế lúc ấy khá hoang tàn. Chỉ mới quay trở lại không lâu mà Pháp đã gieo rắc ở đây bao nhiêu tội ác. Cũng may nhờ có nhân dân che chở mà nhiều vùng căn cứ mật của ta còn chưa bị lộ. Sau khi sơ bộ nghe báo cáo tình hình, ông nội tôi cùng nhà thơ Tố Hữu và một vài đồng chí nữa quyết định đi xem xét ngay phong trào kháng chiến ở nội thành. Họ đi bộ ngay đêm ấy men theo những con đường bí mật được bố trí khá an toàn ngay bên cạnh một vài bốt canh của địch. Đến khu vực đồn Mang Cá, ông thấy không khí chiến đấu của anh em rất sôi nổi nên rất vui mừng. báo cáo tình hình xong, các đồng chí dẫn đến trước mặt ông nội tôi và nhà thơ một chú bé chừng 10 tuổi trông nhanh lẹ và hoạt bát. Một đồng chí thưa: - Báo cáo hai đồng chí, đây là em Lượm, một đồng chí liên lạc xuất sắc nhất của đồn hiện nay. - Thế cháu mấy tuổi rồi? - Dạ cháu 12 tuổi ạ! - Thế cháu đi liên lạc thấy thế nào? - Vui lắm! Ở đồn Mang Cá cháu còn thích hơn ở nhà chú ạ! - Ừ! Rất tốt. Nếu thành Huế này cứ có những người như cháu thì thằng Pháp sẽ nhanh chóng bại trận trong một ngày không xa. Rồi lượm chào các đồng chí để tiếp tục đi làm nhiệm vụ. Cậu bé có dáng người loắt choắt nhưng đôi chân lúc nào cũng nhanh như sóc. Bên hông chú ra dáng với một chiếc xắc nhỏ xinh đựng công văn, thư từ, mệnh lệnh. Công việc thì nguy hiểm mà lúc nào cậu cũng vui vẻ, ngây thơ. Đôi mắt cậu trong, sáng và hồn nhiên rất hợp với chiếc mũ ca lô xinh xắn đội lệch trên đầu. Bẵng đi một vài tháng, một hôm ông nội và nhà thơ Tố Hữu đang làm việc ở cơ quan thì có một đồng chí ở đồn Mang Cá xin được vào báo cáo. Sau khi trình bày xong phương án bố phòng và chiến đấu, đồng chí nọ đau đớn báo tin: cháu Lượm đã hy sinh! Cả ông và nhà thơ Tố Hữu đều lặng đi, những giọt nước mắt từ từ lăn trên má. Đồng chí liên lạc viên kể tiếp: - Hôm ấy cũng như bao hôm khác, Lượm nhận công văn của đồn triển khai công tác bố phòng đến những vùng ngoại ô. Em tức tốc đi ngay mong nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Không ngờ trên đường hôm ấy, em gặp ngay một toán phục kích của quân thù. Lượm nhanh trí xé vụn công văn vứt xuống mương rồi bỏ chạy. Nhưng không kịp, giặc đã bắn theo tới tấp. Lượm hy sinh. Khi chúng tôi nhận được tin rồi cùng dân làng chạy tới thì thấy mặt em đã lạnh mà môi vẫn còn mỉm một nụ cười. Một tay chú giữ chiếc ca lô, một tay kim bám chặt vào một bông lúa sữa. Đồng chí liên lạc vừa kể xong thì òa khóc. Câu chuyện về chú Lượm đã được ông nội đem đi kể khắp nơi cho các cháu thiếu nhi. Nơi nào ông đến làm nhiệm vụ, ông cũng mang tấm gương dũng cảm ấy kể cho các cháu nhỏ nghe. Hòa bình lập lại, ông mang về quê kể cho con cháu để giáo dục truyền thống gia đình. Cách đây mấy năm, ông tôi mất. Trước khi đi còn nhắc nhở chúng tôi: các cháu phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của mọi người. Nhất là phải sống sao cho xứng đáng với những em bé, nếu không có chiến tranh, thì các em cũng hạnh phúc như các cháu bây giờ. Bài viết 2: Chuyện về cậu bé thiếu niên Lượm dũng cảm đã hi sinh vì đất nước mãi là kỉ niệm không phai trong lòng người dân Việt Nam. Lần đó tôi có dịp vào Huế và vô cùng may mắn, tôi được nói chuyện với một người đồng đội của Lượm. Lúc đó Lượm làm liên lạc cho đơn vị Mang Cá của bác. Nhắc đến Lượm, đôi mắt bác ánh lên niềm tự hào pha lẫn niềm tiếc thương một cậu bé vô cùng can đảm, anh hùng. Bác nhớ lại, ngày đó khi được phân công về công tác ở đồn Mang Cá, bác đã nghe mọi người hay nhắc đến cậu bé làm liên lạc rất gan dạ và anh dũng. Những lời nói đó đã khiến bác rất lưu tâm và muốn được gặp cậu bé. Hôm ấy, gặp một chú bé dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn bác liền gọi lại và hỏi: - Cháu bé, cháu được phân công làm nhiệm vụ gì? - Cháu làm liên lạc viên chú à. - Thế có phải tên cháu là Lượm không? - Dạ thưa chú cháu tên là Lượm. Sao chú biết ạ? - à ra vậy!- Thế cháu có sợ nguy hiểm không? Chú bé nhún vai lém lỉnh trả lời: - Cháu không sợ chú ạ, cháu luôn nghĩ là làm thế nào để hoàn thành tốt nhiệm vụ. - Cháu có thích công việc này không? - Cháu thích hơn ở nhà ạ. - Chú chúc cháu luôn hoàn thành nhiệm vụ. Chú bé bước đi thoăn thoắt, đầu nghênh nghênh, trông rất đáng yêu, và trông chú càng đáng yêu hơn, ngộ nghĩnh hơn khi trên đầu đội chiếc mũ canô với chiếc sắc đeo bên hông. Chú bé chào tôi rất nhanh và khuất dần chỉ còn tiếng huýt sáo rộn vang. Sau lần gặp gỡ đó, do bận nhiều công việc tôi quên cũng không có dịp gặp lại cậu bé. Cho đến một hôm, trở về đơn vị tôi, nhìn mặt ai tôi thấy cũng có vẻ buồn buồn, một đồng chí hỏi tôi: - Đồng chí có nhớ cháu Lượm không, cậu bé liên lạc đó? - Có! Tôi nhớ. Xảy ra chuyện gì hả đồng chí? - Cậu bé hi sinh rồi, hôm đó, Lượm nhận nhiệm vụ đem công văn đi, mọi người đều cảnh báo với chú rằng đó là quãng đường rất nguy hiểm, có thể gặp địch phục kích, nhưng chú không hề tỏ ra sợ hãi, còn nói: Em không sợ đâu. Chúng nó mà xông ra em sẽ đánh cho tơi bời. Nói xong chú thản nhiên đút công văn vào sắc thoăn thoắt bước đi, mồm lại huýt sáo vang rộn. Không ngờ hôm đó quân địch lại đánh hơi thấy chú nhỏ, chúng bí mật nằm phục kích ở giữa cánh đồng lúa, nên nhìn bề ngoài rất khó phát hiện. Lượm cũng đã rất tinh khi đi qua đi qua cánh đồng, linh cảm đến điều gì đó bất trắc nên chú nhanh tay xé vụn tài liệu và vứt vội ra xa. Có lẽ bọn địch đã trông thấy hành động đó, chúng liền xả đạn vào nó. Lượm đã anh dũng hi sinh, giữa cánh đồng, tay vẫn còn nắm chặt bông lúa, miệng còn nở một nụ cười. Đồng chí nọ kể xong bỗng oà khóc. Tôi ngỡ ngàng, đau đớn và cũng không thể cầm được nước mắt, vừa cảm phục vừa thương tiếc. Trong tôi bỗng lại hiện lên hình ảnh chú bé nhỏ nhắn, gương mặt nhanh nhẹn, thông minh, nụ cười luôn nở trên môi. Câu chuyện về sự hi sinh anh dũng của chú bé Lượm được mọi người ở khắp nơi kể cho nhau nghe. Chú còn trở thành tấm gương sáng để các cháu bé noi theo, và cho đến tận ngày hôm nay tấm gương ấy vẫn còn toả sáng.
Xem thêm

3 Đọc thêm

BẰNG LỜI VĂN CỦA MÌNH, EM HÃY VIẾT LẠI THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN HOÀN CHỈNH

BẰNG LỜI VĂN CỦA MÌNH, EM HÃY VIẾT LẠI THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN HOÀN CHỈNH

Đề bài: Báo Tuổi Trẻ ngày 27/9/2006 có mẩu chuyện như sau: (...) Một buổi trưa, thầy hiệu trưởng lấy làm lạ khi thấy một cậu học sinh cứ cặm cụi đi nhặt từng cái bao nilông, từng chiếc lá trong sân trường bỏ vào thùng rác. Khi thầy hỏi tại sao buổi trưa không ngủ mà tha thẩn ngoài sân trường, em cho biết bố mẹ đều làm việc vất vả nhưng gia đình rất khó khăn. Đăng ký học bán trú như các bạn thì bố mẹ kham không nổi. Buổi sáng, bố mẹ đưa em đến trường và phát cho 5.000 đồng. Trong đó, 1.000 em dùng để mua xôi ăn sáng và 4.000 còn lại là cho đĩa cơm trưa chỉ toàn rau với cá vụn. Ăn xong, em ở luôn tại trường để tự ôn tập, rồi chiều bố mẹ đến đón.Và em bảo với thầy: “Ăn trưa xong con không biết làm gì nên đi lượm rác để trường mình sạch và đẹp hơn”. Cậu bé ấy tên là Trần Phú Tài, học sinh lớp 7A7 Trường Lương Thế Vinh, Q.1, TPHCM (...). Đoạn trích trên không có phần mở đầu và phần kết thúc, em hãy nghĩ ra phần mở đầu và kết thúc cho mẩu chuyện này. Bằng lời văn của mình, em hãy viết lại thành một câu chuyện hoàn chỉnh. Bài làm: Mấy hôm nay trời cứ trở lạnh. Những cơn gió thổi đến mang theo cái se lạnh của những ngày cuối đông. Nằm vùi trong chăn ấm nhưng tôi lại nghĩ đến những đứa trẻ phải thức dậy từ rất sớm để phụ giúp gia đình lo toan kế sinh nhai. Lòng tôi như thắt lại. Bất chợt tôi nghĩ đến Trần Phú Tài, một cậu bé mà tôi tình cờ biết được qua một bài viết trên báo Tuổi Trẻ. Hình ảnh cậu bé Tài in mãi trong tâm trí tôi về nghị lực sống, nghị lực của một con người vượt lên trên số phận. Câu chuyện bắt đầu từ buổi trưa hôm ấy. Sau khi dùng cơm trưa xong, thầy hiệu trưởng ở lại trường để chờ cuộc họp lãnh đạo vào buổi chiều. Trưa ấy, mặt trời đổ xuống mặt đất cái nắng cháy da bỏng thịt. Cái nắng giữa lòng Sài Gòn cứ như thiêu đốt vạn vật. Từng lá cây, ngọn cỏ đứng im lìm như đang chết khát bên đường. Dưới khuôn viên trường, giờ này chẳng còn học sinh nào nữa. Chỉ có cái nắng tha hồ nhảy nhót, đùa giỡn trên sân trường. Cái oi bức của buổi trưa hè khiến thầy hiệu trưởng phải mở toang cả hai cánh cửa sổ ở tầng hai để mong có chút gió ùa vào. Thầy nhìn xuống sân trường. Chợt thầy thấy một cậu học trò dáng người thấp bé đang đi đi lại lại trên sân trường. Qua cặp kính cận dày cộp thầy chẳng thấy rõ. Do đó thầy bước xuống tầng trệt và gọi cậu học sinh ấy vào. Đó là một cậu bé có nước da hơi ngăm đen nhưng đôi mắt sáng ngời nghị lực. Cậu mặc chiếc áo đã cũ nhưng sạch sẽ và chiếc quần xanh sờn bạc màu. Thầy cất tiếng hỏi cậu học trò nhỏ: - Sao buổi trưa con không về nhà mà lại tha thẩn ngoài nắng thế kia? Nhà con ở đâu? Con tên gì, học lớp mấy? Cậu bé lí nhí trả lời: - Thưa thầy, nhà con ở quận 4. Từ trường về nhà con rất xa nên con ở lại trường đến chiều mới về. Con tên Trần Phú Tài, học lớp 7A7. Thầy lại hỏi: - Tại sao con không đăng ký học bán trú như bao bạn khác cho tiện việc đi lại? Cậu học trò đáp: - Thưa thầy, bố mẹ con đều là công nhân, làm việc vất vả từ sáng đến chiều tối mới về. Gia đình con khó khăn nên không thể kham nổi tiền học bán trú. - Thế thì con ăn trưa ở đâu? Con có nhà người quen ở đây à? - Thưa thầy, không ạ. Sáng nào bố mẹ cũng đưa con đến trường rồi cho con năm nghìn đồng. Một nghìn con dùng để mua xôi ăn sáng. Còn lại bốn nghìn con dùng để ăn cơm trưa ạ. Nghe Tài hồn nhiên kể, thầy hiệu trưởng chạnh lòng khi mường tượng đến bữa cơm trưa đạm bạc của cậu học trò nghèo có lẽ sẽ chỉ có rau và cá vụn. Thầy xoa đầu Tài và nói: - Hoàn cảnh gia đình khó khăn mà con vẫn cố gắng đến trường là rất đáng quí. Hẳn con học rất giỏi. Thầy rất vui khi có một người học trò như con. Cứ thế mà phát huy con nhé. Mà này, con làm gì mà đi lại loanh quanh giữa trưa nắng thế kia? Tài cười nói: - Thưa thầy, ăn trưa xong con không biết làm gì nên đi nhặt rác để trường mình sạch và đẹp hơn. Nói rồi Tài vòng tay cúi chào thầy rồi chạy ra sân trường tiếp tục nhặt từng cái bao nilông, từng chiếc lá trên sân trường. Nắng sân trường dường như dịu lại. Thầy hiệu trưởng trở lại phòng làm việc với bao suy nghĩ nhưng niềm vui vẫn rạng ngời trên mặt thầy suốt cả ngày hôm đó. Trong buổi sinh hoạt dưới cờ tuần sau, thầy hiệu trưởng khen ngợi, tuyên dương tấm gương vượt khó và trao cho Tài học bổng của trường. Thầy còn cho Tài được học bán trú miễn phí. Cuối cùng người tốt cũng được đền đáp xứng đáng. Qua câu chuyện của Tài tôi nhận ra rằng: “Chúng ta chỉ mất hết mọi hi vọng khi chúng ta từ bỏ chúng”. Mặt khác, tôi nhận thấy cuộc sống này còn nhiều mảnh đời giống như Tài. Họ đang ngày đêm vừa lo toan cuộc sống vừa đến trường. Tôi mong rằng các cấp chính quyền cùng các đoàn thể quan tâm nhiều hơn đến những con người như vậy để mỗi trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đều được sự giúp đỡ như Tài. Tôi thầm cảm ơn Tài vì em đã cho tôi nhận ra rằng mình phải trân trọng những gì đang có. Tôi sẽ hài lòng với chiếc xe đạp cũ của mình vì ngoài kia vẫn còn những cậu học trò hằng ngày phải đi bộ hàng cây số để đến trường. Tôi sẽ không đòi cha mẹ phải nấu những bữa ăn thịnh soạn vì tôi biết ngoài kia còn bao người phải ăn đĩa cơm chỉ có rau luộc và cá vụn. Tôi sẽ hài lòng với chiếc chăn cũ của mình vì biết ngoài kia vẫn có những người đang nằm co ro dưới gầm cầu... Tài đã cho tôi bài học về nghị lực sống, nghị lực vượt qua khó khăn. Tôi tự nhủ: Hãy hài lòng với những gì mình đang có và hãy đương đầu với khó khăn rồi mình sẽ giành chiến thắng. Mai này, khi lớn lên, dù ở một vùng quê nghèo hay chốn thị thành, dù làm một bác sĩ, kỹ sư hay chỉ làm một người công nhân bình thường, tôi vẫn dành một góc nhỏ nào đó trong tâm hồn để lưu giữ những câu chuyện, những con người như Tài như một tấm gương trong suốt cho đời tôi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi giữa kì 1 lớp 7 môn Văn năm 2015 - Trực Ninh

ĐỀ THI GIỮA KÌ 1 LỚP 7 MÔN VĂN NĂM 2015 - TRỰC NINH

Đề thi giữa kì 1 lớp 7 môn Văn năm 2015 - Phòng GD Trực Ninh Thời gian làm bài: 90 phút. Câu 1. (2,0 điểm ) Cho các từ sau: nhà cửa, mắm muối, mênh mông, lướt thướt, bánh trái, lênh khênh, trăng trắng, bàn ghế, chai lọ, khấp khểnh, lâu đời  Hãy sắp xếp các từ trên thành hai loại khác nhau? Mỗi loại hãy chọn một từ để đặt câu? Câu 2. (3đ) Đọc bài thơ sau:                              Nam quốc sơn hà Nam đế cư                              Tiệt nhiên định phận tại thiên thư                              Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm                              Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.                                                      ( Theo sgk Ngữ văn 7, tập 1) a. Cho biết đây là phiên âm của bài thơ nào? Chép lại bản dịch thơ của bài thơ đó? b. Các cụm từ “ tiệt nhiên”, “định phận tại thiên thư”, “ hành khan thủ bại hư” đã thể hiện giọng điệu của bài thơ như thế nào? c. Bài thơ được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước tadduwowcj viết bằng thơ. Nội dung tuyên ngôn độc lập trong bài thơ này là gì? Câu 3.(5đ) Cảm nghĩ của em về một đêm trăng trung thu đầy ấn tượng? Tuyensinh247.com - Theo dethi.violet
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 8 môn Ngữ Văn - THCS Bế Văn Đàn năm 2015

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 LỚP 8 MÔN NGỮ VĂN - THCS BẾ VĂN ĐÀN NĂM 2015

Trường THCS Bế Văn Đàn Năm học 2014 – 2015 Đề kiểm tra HKI môn Ngữ văn 8 – Thời gian: 90 phút Câu 1 (2 điểm): Cho câu thơ: Xách búa đánh tan năm bảy đống           a. Hãy chép tiếp ba câu còn lại.           b. Nêu tên tác phẩm, tác giả và hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.           c. Bài thơ viết theo thể thơ nào? Câu 2 (3 điểm): Viết một đoạn văn khoảmg 8 – 10 câu thuyết minh về tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông đối với sức khoẻ của con người. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một câu ghép. Câu 3 (5 điểm): Chọn một trong hai đề sau:           Đề 1: Em hãy thuyết minh về một món ăn dân tộc.           Đề 2: Em hãy thuyết minh về một loài hoa ngày Tết. Đáp án sẽ được Tuyensinh247 cập nhật sau, các em chú ý theo dõi. Tham gia Group phục vụ hỏi đáp ôn thi vào 10 năm 2016 tại đây:  Môn toán:  Môn văn:  Môn Anh:  Môn Lý:  Môn Sinh:  Môn Hoá:  Môn Sử:  Môn Địa: 
Xem thêm

1 Đọc thêm

VĂN MẪU LỚP 4

VĂN MẪU LỚP 4

Văn mẫu lớp 4: Tả vẻ đẹp của cây hoa sứĐề bài: Em hãy viết một bài văn ngắn tả vẻ đẹp của cây hoa sứBài tham khảo 1Mỗi lần đến thăm khu vườn bé bé, xinh xinh của nhà ông nội em lạithấy thật thích thú vì có rất nhiều loại cây; mỗi cây một vẻ đẹp riêng.Bàn tay ông nội chăm sóc cẩn thận, tỉ mỉ từng nhành hoa. Tuy nhiênem vẫn thích nhất là ngắm cây hoa sứ được trồng trong chậu hoa cólẽ và vừa một vòng ôm của em.Ông nội bảo trồng cây hoa sứ là để làm cảnh, khiến cho khu vườnthêm sang trọng và sức nức mùi thơm hơn. Hoa sứ là loại hoa cảnh,trồng để trang trí, và nó thường được trồng ở trong chậu, chứ khôngphải trồng ở mặt đất.Cây sứ chỉ cao tầm 1 mét, với những nhánh nhỏ tỏa ra mọi nơi. Thâncây hoa sứ to bằng bắp tay của em, nhưng có tầm 4, 5 nhánh conmọc dài ra từ thân. Rễ của hoa sứ bám chặt dưới mặt đất, bám vàocái chậu hoa mà nội tự làm. Nội thường xới xới đất để được tơi xốp,cây hoa cũng phát triển nhanh và tươi tốt hơn.Những chiếc lá của hoa sứ màu xanh thẫm, có những gân nổi lên rấtdày và không to lắm. Đặc biệt hoa sứ có màu hồng hoặc màu trắng,nhụy hoa màu vàng nhìn rất đẹp. Hoa sứ là loài hoa thanh tao, khôngchỉ trồng ở nhà mà trong các ngôi chùa cũng được trồng rất nhiềuhoa sứ. Đó còn là loài hoa mang đến sự bình yên.Hương hoa sứ không thơm nồng, nó chỉ dịu nhẹ và nồng nồng. Mỗilần có gió thoảng qua mùi hương ấy len nhẹ vào cánh mũi thật thoảimái.Ông nội chăm sóc chậu hoa sứ rất cẩn thận và tỉ mỉ. Em mong saocây lớn thật nhanh, không bị sâu bệnh để đơm hoa tỏa hương thơmlừng.Bài tham khảo 2
Xem thêm

3 Đọc thêm

DE THI MON NGU VAN 12 HKI NAM HOC 2014 2015 CHINH THUC

DE THI MON NGU VAN 12 HKI NAM HOC 2014 2015 CHINH THUC

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTỈNH ĐỒNG THÁPĐỀ CHÍNH THỨC(Đề gồm có 01 trang)KIỂM TRA HỌC KÌ INăm học: 2014-2015Môn thi: NGỮ VĂN - Lớp 12Ngày thi: 08/12/2014Thời gian: 120 phút (không kể thời gian phát đề)I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)Câu I. (2,0 điểm) Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồngthời chúng hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi chúng phải được sống trong vuitươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của chúng phải được hìnhthành trong sự hoà hợp và tương trợ. Chúng phải được trưởng thành khi được mở rộng tầmnhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới.(Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em)1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?2. Nêu nội dung chính của văn bản?3. Những biện pháp tu từ nào được sử dụng chủ yếu trong văn bản? 4. Nêu hiệu quả sửdụng của các biện pháp tu từ đó?Câu II. (3,0 điểm)Cuối tháng 11/2013, em Bùi Duy Nhất (học sinh lớp 6, trường THCS Đoàn Lập, TiênLãng, Hải Phòng) trên đường đi học về nhặt được chiếc ví màu đen có 30 triệu đồng. Hyvọng người đánh rơi quay lại tìm, cậu học trò đứng chờ gần 2 tiếng ở chỗ ví rơi để trả lại,nhưng không thấy ai. Về nhà, Nhất kể cho bố mẹ nghe chuyện nhặt được ví. Lần theo địa chỉtrên giấy tờ, bố mẹ đưa cậu bé tìm tới nhà anh Trần Ngọc Tín, người cùng huyện Tiên Lãng,để trả lại ví tiền. Nhất là con út trong gia đình 4 anh chị em, bố mẹ làm nông và còn nhiều
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài Hầu trời của Tản Đà

SOẠN BÀI HẦU TRỜI CỦA TẢN ĐÀ

1. Tản Đà tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ra bên núi Tản sông Đà, huyện Bất Bạt, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Tây) nên lấy bút danh là Tản Đà. Tản Đà sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng và văn học nghệ thuật. Là con trai của quan án sát tỉnh Ninh Bình Nguyễn Danh Kế và một đào nương tên là Nhữ Thị Nghiêm, vì vậy Tản Đà không chỉ say mê ca trù mà còn rất am hiểu về nhạc dân gian. Ông thành thạo xẩm, chèo và cải lương đồng thời thông tỏ về từ khúc (nhạc cung đình Trung Quốc). Tản Đà là đại diện tiêu biểu của kiểu nhà nho tài tử buổi giao thời, là người đầu tiên "mang văn chương ra bán phố phường". Sáng tác của Tản Đà thể hiện một cá tính nghệ sĩ tài hoa, tài tử. 2. Tản Đà viết cả văn và làm thơ nhưng ông nổi tiếng với tư cách nhà thơ hơn. Thơ Tản Đà mang màu sắc cổ điển về hình thức và mới mẻ về nội dung, ông được gọi là cầu nối giữa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại. Là thi sĩ tài hoa và đa tình, ông viết nhiều về tình yêu. Đồng thời thơ Tản Đà còn thể hiện tính dân tộc rõ nét từ hình thức đến nội dung. Trong thơ ông, lòng yêu nước, yêu quê hương được biểu hiện rất phong phú và đa dạng, khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp. Tác phẩm chính : Về thơ có Khối tình con I, II, III, Còn chơi, Thơ Tản Đà... Về văn xuôi có Giấc mộng lớn, Giấc mộng con I, II, Tản Đà văn tập... Hầu trời được xếp trong tập Còn chơi (1921) là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tản Đà. Bài thơ được viết dưới dạng tự sự, kể một tình huống tưởng tượng cảnh nhà thơ lên gặp trời để ngâm thơ cho trời nghe. Qua đó thể hiện ý thức cá nhân và thái độ của nhà thơ về nghề văn, về cuộc đời. 3.Đọc hiểu Tản Đà được coi là “người nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí quan trọng của Tản Đà đối với văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới. Bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tác của Tản Đà. Mạch thơ được triển khai theo lôgíc một câu chuyện với các chi tiết cụ thể, rành mạch, khiến cho bài thơ hấp dẫn và có sức thuyết phục : nằm một mình, buồn nên dậy đun nước uống rồi ngâm văn, động đến Trời, tiên xuống hỏi rồi đưa lên gặp Trời, Trời cùng chư tiên đón tiếp long trọng, mời đọc thơ, giới thiệu về mình rồi đọc thơ và giãi bày cảnh ngộ cùng Trời, Trời giải thích, khen ngợi rồi cho đưa về trần giới. Nhà thơ đã chọn một cách rất độc đáo để thể hiện tâm sự của mình. Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình. Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà rất tự nhiên, hóm hỉnh : Đêm qua chẳng biết có hay không, ... Thật được lên tiên  sướng lạ lùng. Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin : Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ. Thế là được lên Trời. Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời. Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình. Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo : gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên : Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Văn dài, hơi tốt ran cung mây !... Tự khen tài của mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông đáng yêu. Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân : Trời lại phê cho : “Văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít !... Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !” Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại của Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình :  “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông.” Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên lương” của nhân loại : Trời rằng : “Không phải là Trời đày, Trời định sai con một việc này Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay.” Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của văn chương, của nhà văn. Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móng cho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững giữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn là nghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn kiếm sống này. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự an ủi mình. Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hình thức một bài thơ  câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng định cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm văn chương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương. Viết văn hay làm cho đời đẹp hơn là nhiệm vụ trời đã trao cho người nghệ sĩ. Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn Sở GD Cao Bằng 2015

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VĂN SỞ GD CAO BẰNG 2015

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn 2015 Sở GD&ĐT Cao Bằng Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét về quan niệm của tác giả thể hiện trong câu thơ: “tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”. Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng. (0,25 điểm) Phần II. Làm văn (7,0 điểm) Câu 1. (3,0 điểm) Viết một bài văn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói của Nick Vujicic – một diễn giả đặc biệt của nước Úc: “Không có mục tiêu nào quá lớn, không có ước mơ nào quá xa vời”. Câu 2. (4,0 điểm) Cùng tái hiện cảnh đoàn quân ra trận mỗi nhà nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện riêng. Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng viết: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến – Quang Dũng, ngữ văn 12 tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2012) Trong bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu viết: “những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ nan” (Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012) Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề