NĂM NGÔN NGỮ TÌNH YÊU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NĂM NGÔN NGỮ TÌNH YÊU":

Đề thi học kì 2 lớp 11 môn Văn 2015 Hoài Đức

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 LỚP 11 MÔN VĂN 2015 HOÀI ĐỨC

Phần I: Đọc Hiểu (5,0 điểm) Câu 1: (3,0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: “Tiếng nói là ng­ười bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu ng­ười An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian”. Để làm tăng khả năng tác động tới người nghe, người đọc, tác giả khái quát : “Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với chối từ sự tự do của mình…” (Trích “Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” – Nguyễn An Ninh) a. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản trên? (1 điểm) b. Nội dung vơ bản của đoạn văn bản trên là gì? (1 điểm) c. Phân tích cách lập luận của tác giả? (1 điểm)  Câu 2: (2,0 điểm) Viết một đoạn văn để chứng minh nhận định sau: Lòng yêu nước bắt nguồn từ tình yêu những người thân, yêu nơi chôn nhau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ không bao giờ quên. => Tham gia Group học tập trao đổi thông tin phục vụ kỳ thi THPT quốc gia năm 2016: @Môn Toán:  @Môn Lý:  @Môn hóa:  @Môn Sinh:  @Môn Văn:  @Môn Anh:  @Môn Địa Lý:  @Môn Lịch sử:   
Xem thêm

3 Đọc thêm

Những giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ lãng mạn qua một số tác phẩm thời kì 1930-1945

NHỮNG GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ LÃNG MẠN QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM THỜI KÌ 1930-1945

Có lúc do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, người ta đã quá dè dặt, nếu không nói là quá khe khắt, trong việc xác nhận giá trị của thơ lãng mạn (1930-1945). Nhưng cuối cùng, bằng giá trị của chính nó, sự tác động lâu bền và tốt đẹp của nó đối với liên tục nhiều thế hệ người đọc, thơ lãng mạn đã xác định cho mình một vị trí xứng đáng trong nền văn học nước nhà.  Ngày nay, những tên tuổi và nhiều bài thơ của những nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… vẫn được nhắc đến với rất nhiều trân trọng và mến yêu. Hẳn công lớn đầu tiên của thơ lãng mạn, và cũng là của văn học lãng mạn nói chung, là đã đưa ra trước mọi người cái ý niệm “tôi”. Cái ”tôi” vốn rất vô nghĩa, rất đáng ghét, đối với chủ nghĩa khắc kỉ của đạo lí phong kiến, trong khoảng 15 năm từ sau 1930, bỗng được các nhà thơ nâng lên thành một ý niệm tốt đẹp và khẳng định vai trò quyết định của nó trong nghệ thuật với tư cách là chủ thể sáng tạo. Một thế giới cũ với những cách nhìn cũ, cách cảm nhận cũ, những lề luật cũ, bỗng vỡ ra, nhường chỗ cho một thế giới được đánh giá, cảm nhận, xúc động bởi cái tôi cá thể ấy. Và quả là một thế giới phong phú đa dạng vô cùng. Các nhà thơ nói: cuộc sống đẹp quá chừng, đáng sống quá chừng, chớ coi thường nó, đừng né tránh nó. Làm sao có thể thờ ơ trước một cuộc đời mà hình như ở đó tạo hóa đã dành sẵn cho con người, cho mỗi người đủ mọi thứ để tạo nên hạnh phúc như thế này. Của ong bướm này đây tuần trăng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si. (Xuân Diệu – Vội vàng) Thật ra, cũng chẳng có gì mới lạ: thì thời nào, thời Nguyễn Du hay Nguyễn Trãi, mà chẳng có ong, bướm, lá, hoa, chim oanh, chim yến! Nhưng đố tìm đâu ra những thời đó, kể đến thời Tản Đà, một niềm vui sống thiết tha và đắm say đến dường ấy. Chính với niềm ham sống mãnh liệt ấy mà Xuân Diệu lúc nào cũng cảm thấy cuộc đời hình như đang trôi nhanh quá, cái khoảng trăm năm sao mà ngắn ngủi, tuổi trẻ của mỗi người sao mà chóng qua. Cảm nhận ấy không khiến cho Xuân Diệu trở nên hư vô, bi quan theo triết lí “sắc không” nhà Phật hay”vô vi” của Lão trang, trái lại, càng khiến nhà thơ cảm nhận rõ hơn sự đáng quí của cuộc đời. Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;  Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,  …. Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!  (Vội vàng) Yêu đời, ham sống, nhưng cuộc sống là gì? Đâu là những yếu tố tạo nên cuộc sống. Theo các nhà thơ lãng mạn, cuộc sống bao gồm nhiều thứ, nhưng có hai thứ đẹp nhất, kì diệu nhất, ấy là thiên nhiên và con người. Trước hết về thiên nhiên, các nhà thơ lãng mạn phá bỏ ngay cái bức tường thiên nhiên giả tạo của văn học cổ vốn lâu nay vây bọc con người, để nhận ra một thiên nhiên thực sự, đang bổi bổi sức sống, sự sống, nguồn cảm xúc vô tận. Quả thật, trong thơ Việt Nam, chưa bao giờ đầy ắp thiên nhiên đến vậy. Này đây, cái lạ lùng của đất trời khi mùa thu tới, buồn lắm, thê lương lắm nhưng sao mà đẹp đến vậy; những nét, những đường, những dáng hình, màu sắc, sao mà sống động, hài hòa, em ái: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng; Đây mùa thu tới – mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh, Những luồng run rẩy rung rinh lá… Đôi nhánh khô gầy xương mong manh. (Xuân Diệu – Đây mùa thu tới) Còn đây cảnh chiều về trên một cánh đồng quê: Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân (Xuân Diệu – Thơ duyên) Trước thơ lãng mạn, mây chưa hề “bay gấp gấp” và cánh con cò chưa hề có sự “phân vân” như thế, chưa co sự xốn xang tâm trạng như thế. Giờ đây, người đọc, nhờ đọc thơ lãng mạn, mà trở nên giàu có quá chừng. Họ có cả một thế giới vô tận, những của kho vô tận. Hàn Mặc Tử sau này là nhà thơ của những nỗi đau thương. Nhưng trong những năm đầu tiên, khi chưa mắc phải chứng bệnh nan y hiểm nghèo, đã có những dòng thơ tuyệt đẹp về thiên nhiên xứ Huế: Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Dạ) Có một điều thật có ý nghĩa: do chỗ thiên nhiên trong thơ lãng mạn là một thiên nhiên được cảm nhận trực tiếp, cụ thể, sống động chứ không phải là thứ thiên nhiên được vay mượn từ sách vở, nên đó hoàn toàn là thiên nhiên sống động của quê hương đất nước. Thế là thơ lãng mạn đưa đến cho người đọc thơ một tình cảm được hai lần nhân lên: tình yêu thiên nhiên cũng là tình yêu quê hương đất nước. Trong mắt người đọc, cái thôn Vĩ Dạ nhỏ bé bên kia bờ sông Hương của kinh thành Thuận Hóa sao mà rõ ràng, xanh thắm, mềm mại, trữ tình. Cần chi phải đến Hàng Châu để ngắm liễu, đến Paris để ngắm sống Seine! Hãy mở mắt và đắm say ngay những điều diệu kì trước mắt của đất nước quê hương. Trong một bài thơ khác của Hàn Mặc Tử, bài Mùa xuân chín , bức tranh mùa xuân nơi xóm quê chỉ được nhắc tới bằng đôi ba nét mà êm ái, đáng yêu biết bao: Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lí bóng xuân sang Người đọc ngày trước cũng như ngày nay còn thích thú đến sửng sốt khi nhận ra trong bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, bao nhiêu nét đẹp đến tưởng chừng như không thể có mà đã có thật của một chặng đường trẩy hội mùa Xuân của con người Việt Nam. Trong thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… biết bao những cảnh sắc không thể dửng dưng. Cảnh trong bài Tràng giang của Huy Cận là một dòng sông. Dòng sông ấy mênh mang và phảng phất buồn nhưng đẹp lắm, đẹp nhất là nó đã gợi lên mối tình quê hương đằm thắm, tưởng rất nhẹ nhưng sâu thẳm và bền bỉ vô cùng: Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng… Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà Ai dám bảo thơ lãng mạn không góp phần xây dựng lòng yêu nước? Cũng có và cũng mạnh mẽ đó chứ! Trong một hoàn cảnh xã hội mà kẻ thống trị muốn xóa bỏ tất cả những gì gọi là tự hào dân tộc, muốn nô dịch mọi người trong một thứ tư tưởng vọng ngoại, sùng ngoại mê muội nhất, thì những câu thơ, bài thơ như thế đúng là chứa chan tình cảm dân tộc, niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt, đây là những câu thơ hay, những bài thơ hay, tác dụng của chúng càng mãnh liệt và bền vững hơn nữa. Tuy nhiên, nói đến thơ lãng mạn thì phải nói đến thơ tình yêu. Thơ tình yêu nhiều đến nỗi hình như chính thơ tình yêu mới là thơ lãng mạn, đến nỗi theo nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh, trong cả một tập Thi nhân Việt Nam, chỉ có một nhà thơ là không nói đến “anh anh, em em”! Điều ấy có lí do của nó. Suốt trong gần một nghìn năm của chế độ phong kiến Việt Nam, tình yêu, một nguồn tình cảm mãnh liệt, đẹp đẽ của con người, bị phủ nhận hoàn toàn. Chỉ có hôn nhân và nghĩa vụ, không có tình yêu.Sự bùng nổ của thơ tình sau 1930 chính là sự bùng nổ của một trào lưu để phá tan tành cái con đê kiên cố đã cản trở nó. Xuân Diệu nói đắm say sự sống, trước hết cũng là đắm say tình yêu. Có thể nói, không bài thơ nào của Xuân Diệu trong Thơ thơ không phải là thơ tình yêu. Thơ tình của Xuân Diệu thật lắm cung lắm bậc. Có lúc đó là một bài thơ tình e ấp, dịu nhẹ như một làn rung động của gió chiều, của nắng chiều: Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu Lá lá cành hoang nắng trở chiều Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thương yêu Tuy dịu nhẹ, e ấp, nhưng nó thật là tình yêu, nên nó có sức mãnh liệt và giá trị nhân bản vững bền riêng của nó. Trong thơ xưa, làm sao có được cách nói thẳng thắn như thế này về tình yêu: Ai hay tuy lặng bước thu êm Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy, Lòng anh thôi đã cưới lòng em (Thơ duyên) Lòng anh “cưới” lòng em, đó chính là tình yêu. Tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử tuy đượm nhiều buồn đau và hoài nghi nhưng không hề kém thiết tha. Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra  Ở đây sương khói mờ nhân ảnh  Ai biết tình ai có đậm đà? (Đây thôn Vĩ Dạ) Nhìn chung thơ lãng mạn khá buồn, có khi rất buồn. Cũng cần có cái nhìn thoả đáng hơn về cái buồn trong thơ lãng mạn. Người ta cần biết vui, biết yêu, nhưng cũng cần biết buồn, biết chán khi cần thiết. Phải buồn trước những điều không thể vui. Vui trước chuyện đáng buồn là vô liêm sỉ. Biết buồn để không vô tư đến trở thành vô tâm. Buồn để trở nên sâu sắc hơn. Nói gì thì nói, cuộc sống trong khoảng những năm 1930-1945 có nhiều chuyện đáng để buồn, trong đó điều đáng buồn nhất là làm dân nô lệ. Trừ những kẻ thật sự vô lương tâm hoặc cố tình vui vẻ để làm vừa lòng bọn chủ nô lệ, mọi người Việt Nam ngày đó, nhất là những người nhạy cảm, đều mặc nhiên mang một nỗi buồn thời đại. Cái buồn ấy lớn đến nỗi nhiều lúc như không thể nhận ra duyên cớ. Nó nằm ở đâu đó trong khắp cả cuộc đời. Xuân Diệu đã từng có câu thơ nổi tiếng mà ngày đó ai cũng công nhận là hay: Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn Trong thơ Huy Cận, nét nào của cảnh vật, dẫu tuyệt đẹp, vẫn phảng phất nỗi buồn. Nhìn một xóm làng, một phiên chợ vừa tan, một bến đò, Huy Cận cảm đến tận đáy lòng một nỗi sầu muộn mênh mang, nỗi cô đơn của thân phận trước cái vô cùng của cuộc sống: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sầu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu (Tràng giang) Cái buồn trong thơ lãng mạn Việt Nam, xét về bản chất, cũng có mặt tích cực. Nó là một thái độ cần thiết trước cái mong manh và u ám của đời sống lúc ấy. Nó có thể là bước khởi đầu dẫn tới những suy nghĩ sâu sắc và thấu đáo hơn, và có thể dẫn tới sự lựa chọn một thái độ, một hành động tích cực hơn trong đời sống. Tuy vậy, thơ lãng mạn nhiều khi đã đẩy nỗi buồn lên một cung bậc thẳng căng quá, tuyệt đối quá. Thơ Xuân Diệu có lúc đã đi đến chỗ tột cùng chán nản, rã rời; nhà thơ nâng nỗi cô đơn thành vĩnh cửu. Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề… (Nguyệt cầm) và: Tôi là con nai bị chiều giăng lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối…   Huy Cận tự thấy mình mang trong lòng một nỗi “vạn cổ sầu” như một định mệnh. Hàn Mặc Tử càng về sau càng đau thương đến thành điên loạn. Tuy nhiên, xét về mặt tư tưởng của cả trào lưu thơ mới (1930-1945), đó không phải là điều quá lớn. Cái mới, cái đáng quý mà trào lưu này đưa đến cho người đọc và thời đại vẫn là chính. Chả thế mà nó đã từng làm rung động cả một thế hệ người đọc phần lớn là có học và không phải là thiếu tâm quyết đó hay sao? Hơn nữa, xét về mặt nghệ thuật, thơ lãng mạn đã đưa đến cho văn học nước nhà nhiều điều mới mẻ. Một mặt nó tiếp tục kế thừa những tinh hoa của thơ ca dân tộc, thơ ca Á Đông; mặt khác nó tiếp nhận tinh hoa mới lạ của thơ phương Tây để đẩy nền thơ Việt Nam bước hẳn sang thời kỳ hiện đại. Chỉ trong khoảng mấy năm, thơ lãng mạn đã hoàn thành trọn vẹn việc phá vỡ những khuôn vàng thước ngọc của thơ ca phong kiến mà lúc đó đã trở nên lỗi thời. Nếu nói: thơ phải chân thành, thơ phải là tiếng nói của trái tim, thì thơ lãng mạn đã biết phá bỏ những hình thức khiến nó phải sáo rỗng và giả tạo. Truớc hết, thơ lãng mạn vứt bỏ những niêm luật gò bó, những đối chọi, những quy định “phá, thừa, thực, luận, kết” để nhà thơ có thể diễn tả một cách thoải mái và phóng khoáng cảm xúc của mình. Cảm xúc, điều đó quan trọng và quyết định giá trị của thơ hơn là ngồi để gò từng ý từng vần cho đúng luật. Thơ lãng mạn có thể sử dụng rất nhiều thể thơ, và ngay trong thể bảy chữ vốn là thể phổ biến của Đường luật, cũng được sử dụng một cách phóng khoáng, sáng tạo: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngã;  Củi một cành khô lạc mấy dòng. (Huy Cận – Tràng giang) Vứt bỏ những ước lệ, những điển cố vốn có tính chất bắt buộc trong ngôn ngữ thơ cổ, thơ lãng mạn đến với ngôn ngữ xanh tươi của đời sống. Trong thơ cổ, nói mùa thu là phải là lá ngô đồng rụng, mùa hè là phải cuốc kêu, liễu thì phải là liễu Chương Đài, mây thì phải mây Tần, mây Hàng… Trái lại, trong thơ lãng mạn, ngôn ngữ cứ tự nó đến với cảm xúc của nhà thơ. Chính thứ ngôn ngữ ấy nhận ra những cảm xúc của nhà thơ. Chính thứ ngôn ngữ ấy nhận ra những cảm xúc có thật về những điều rất thật. Thí dụ, đây là cảm xúc của Hàn Mặc Tử trước cái vời vợi của đất trời Vĩ Dạ: Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai       đậu    bến    sông trăng đó   Có chở trăng về kịp tối nay (Đây thôn Vĩ Dạ)   Nói thơ lãng mạn đến với ngôn ngữ của đời sống, đó là nói đến xu hướng chính. Thật ra giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ của đời sống vẫn có một khoảng cách rất lớn. Ngôn ngữ trong thơ lãng mạn vẫn là một ngôn ngữ nghệ thuật, trong sáng, hàm súc và đầy tính nhạc. Các nhà thơ lãng mạn thật đã có công lớn trong việc xây dựng một ngôn ngữ thơ ca dân tộc. Những câu thơ này có sức diễn tả biết bao: Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang…? (Hàn Mặc Tử – Mùa xuân chín) Bao nhiêu cảnh và tình hàm chứa trong chỉ mấy câu thơ dưới đây của Xuân Diệu: Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ… Non xa khởi sự nhạt sương mờ… Đã nghe rét mướt luồn trong gió… Đã vắng người sang những chuyến đò… (Đây mùa thu tới) Đặc biệt Xuân Diệu, với vốn Tây học của mình, đã đưa đến cho thơ những cách nói rất táo bạo. Quả thật, không phải bao giờ cái táo bạo của Xuân Diệu cũng thành công nhưng ông đã có nhiều cái mới thành công, được người đương thời tán thưởng, chẳng hạn: Này lắng nghe em khúc nhạc thơm  Say người như rượu tối tân hôn. Thơ lãng mạn (1930 – 1945) là một bước phát triển vượt bậc của thơ Việt Nam.Nó đã tiếp nhận một cách sáng tạo những tinh hoa của thơ ca dân tộc và thơ ca nhân loại, của thơ cổ điển và hiện đại. Cho đến nay, các nhà thơ vẫn còn thừa hưởng và tiếp tục phát huy nhiều thành tựu mà nó đã đạt được, nhiều vấn đề về nghệ thuật, kỹ thuật mà nó đã đặt ra trong khoảng 15 năm ngắn ngủi ấy. Không phải tất cả nhưng phần lớn những bài thơ lãng mạn vẫn được người đọc yêu thích, nhất là người đọc trẻ tuổi, vẫn có tác dụng xây dựng cho người đọc một thế giới nội tâm phong phú và nhân đạo Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Đề thi thử THPTQG môn Văn 2015 THPT chuyên Nguyễn Huệ lần 4

ĐỀ THI THỬ THPTQG MÔN VĂN 2015 THPT CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN 4

Đề thi thử THPTQG môn Văn THPT chuyên Nguyễn Huệ lần 4 năm 2015 -> Xem và tải 50 đề thi thử thpt quốc gia môn Văn của các trường THPT chuyên trên cả nước và các Sở khác (Tải cả đề và lời giải): Xem nhanh Đáp án đề thi thử THPTQG môn Văn THPT chuyên Nguyễn Huệ lần 4 năm 2015 Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Câu 1. Đoạn thơ gắn với sự kiện Bác lên đường cứu nước (1911).  - Điểm 0,25: Trả lời theo cách trên  - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu 2. Bài thơ cùng đề tài viết về Bác, ví dụ: Bác ơi (Tố Hữu) - Điểm 0,25: Trả lời theo cách trên - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu 3. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ: tự sự, miêu tả, biểu cảm - Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên  - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu 4.  Những  tình cảm nhà thơ thể hiện trong khổ thơ thứ 3 là sự xót xa , niềm ngưỡng mộ khi nhắc tới những khó khăn, gian khổ và nghị lực phi thường của Bác trên đường cứu nước - Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên - Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả   Câu 5.  Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí (hoặc chính luận) - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo cách trên - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu 6. Đặt tiêu đề phù hợp với nội dung đoạn trích. Ví dụ Cẩn trọng trước một số tác hại của truyền thông mới - Điểm 0,25: Trả lời đúng theo  cách trên - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu 7: Đoạn văn này không phải là đoạn mở đầu của bài viết. Vì đầu đoạn văn có từ nối “Tuy nhiên”, thể hiện sự liên kết hồi hướng với ý đoạn ở trên - Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên - Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý - Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu  8 . Viết tiếp vào dấu […] ở cuối đoạn giải pháp “để tránh được những sai lệch khi sử dụng các loại hình truyền thông mới” theo quan điểm riêng của bản thân. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục, hợp với văn cảnh.  - Điểm 0,5:  Trả lời theo cách trên - Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau: + Nêu 0 giải pháp nhưng không hợp lí; + Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục; + Không có câu trả lời. II. Làm văn (7,0 điểm) Câu 1. (3,0 điểm) * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. * Yêu cầu cụ thể: 1. Giải thích (0,5đ)  Trên đời này không ai tẻ nhạt. Mỗi người sinh ra đều mang trong mình những điều kì diệu. Dù riêng tư nhỏ bé đến đâu, mỗi cá thể  đều góp phần làm nên lịch sử của nhân loại. Do vậy, không hành tinh nào có thể sánh được với sự cao cả của con người. Tóm lại: đoạn thơ đề cao vị thế và vai trò của mỗi con người. 2. Bàn luận (2,0đ, mỗi ý nhỏ 0,5đ) -  Mỗi người không tẻ nhạt vì có tâm hồn , trí tuệ, có đời sống nội tâm. Đó là tình cảm đối với con người; là khả năng rung động trước mọi vẻ đẹp của cuộc sống; là khát vọng chiếm lĩnh những giá trị của sự sáng tạo… Những tố chất ấy như những hạt mầm quý giá tiềm ẩn trong mỗi con người nên không có lí gì con người lại  tẻ nhạt. Mỗi cá nhân là một giá trị, không gì có  thể thay thế. - Quan niệm trên xuất phát từ cơ cở : mỗi cá nhân là một phần tất yếu của nhân loại. Lịch sử nhân loại không chỉ được tạo bởi những người ưu tú mà còn được tạo bởi những người vô danh. Mặt khác, mỗi cá nhân có thể chứa đựng những vui buồn của cuộc sống. Soi vào số phận mỗi con người ta bắt gặp sự thật của thời đại. Cho nên, thật có lí khi nói Mỗi số phận chứa một phần lịch sử - Vì sao không hành tinh nào có thể sánh với con người? Mỗi hành tinh , dù có bí ẩn, kì vĩ đến đâu cũng là vật vô tri, không thể sánh với sự linh diệu của con người – thực thể có tư duy, có tâm hồn, tâm linh… - Đánh giá: Tư tưởng của Eptusenko mang tính nhân văn cao đẹp. Nó thể hiện niềm tin của ông về giá trị và vị thế của con người. Tư tưởng đó buộc ta phải có cái nhìn đúng đắn về con người 3. Bài học (0,5đ) Tư tưởng của Eptusenko giúp ta tự tin hơn vào chính bản thân mình. Có thể ta không có khả năng phát minh sáng tạo như những vĩ nhân nhưng ta có thể sống đầy đủ ý nghĩa cuộc sống của một đời người, có thể trở thành một người hữu ích với cộng đồng. Với nhận thức Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời, mỗi người có thể đánh thức tiềm năng của bản thân để có thể làm nên những điều kì diệu. Câu 2. (4,0 điểm) * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. * Yêu cầu cụ thể: 1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và vấn đề Xuân Quỳnh – nữ thi sĩ tiêu biểu của thơ ca sau 1945, với phong cách thơ ưa hướng nội, giàu nữ tính…Sóng được sáng tác cuối 1967 là thi phẩm xuất sắc viết về tình yêu… 2. Phân tích cụ thể các vấn đề a)     Trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình, tình yêu làm nên giá trị cuộc đời; tình yêu tạo nên những cung bậc phong phú của mỗi đời người: Dữ dội và dịu êm, Ồn ào và lặng lẽ.  Nhờ tình yêu, con người có khát vọng tìm ra biển lớn , có ý thức xác định cái riêng giữa cái chung: Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể… b)     Nhờ tình yêu, trái tim tuổi trẻ ý thức được mình đang tồn tại, đang không ngừng “bồi hồi” “nghĩ” “nhớ” (Bồi hồi trong ngực trẻ; Em nghĩ về anh, em; Lòng em nhớ đến anh). Có tình yêu là có thắc mắc (Từ nơi nào sóng lên); có tình yêu con người trở nên mạnh mẽ, vượt lên mọi thách thức (Con nào chẳng tới bờ, Dù muôn vời cách trở) c)     Tình yêu cũng làm cho nhân vật ý thức đuợc sự hữu hạn của đời người (Cuộc đời tuy dài thế, Năm tháng vẫn qua đi), chính tình yêu đã đem lại cho con người sự nhạy cảm khác thường,  cảm nhận được về lẽ tồn tại trong không gian và thời gian… d)     Tình yêu làm cho cuộc đời của mỗi con người trở nên đáng sống, nhưng quỹ thời gian của mỗi người  không phải là vô tận. Tình yêu tuy gắn với mỗi đời người cụ thể nhưng tình yêu còn là một giá trị vĩnh hằng. Do đó, mỗi người cần phải làm gì để sống mãi với tình yêu? Đây chính là cội nguồn của khát vọng:  Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Khát vọng được tan thành trăm con sóng nhỏ chỉ là cách nói thể hiện ước muốn được dâng hiến cuộc đời cho tình yêu. Với một tình yêu bất tử, sự tồn tại mong manh của mỗi đời người không còn đáng sợ. 3. Đánh giá chung Sóng được viết ra từ những xao động yêu đương của một trái tim tuổi trẻ. Đối diện với muôn ngàn con sóng thật của đại dương, con sóng lòng vỗ lên bao tâm trạng, dự cảm , lo âu và trên hết là khát vọng. Để Sóng trở thành một ẩn dụ đẹp về tình yêu.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Soạn bài Trao duyên

SOẠN BÀI TRAO DUYÊN

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem lại mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí. 2. Với tài nghệ miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật của Nguyễn Du, đoạn trích Trao duyên ca ngợi tình yêu sâu sắc của Thuý Kiều đối với Kim Trọng qua việc thể hiện nỗi đau đớn tột cùng mà nàng phải chịu đựng khi phải trao duyên; qua đó thể hiện lòng cảm thông, thương yêu sâu sắc của Nguyễn Du đối với con người “bạc mệnh”. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Đây là một trong những đoạn ở vị trí mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt giam do có kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ  Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót quan lại cứu cha và em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình dù thế cũng đành, nhưng cảm thấy có lỗi với Kim Trọng. Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ, suy nghĩ mãi, trong đêm cuối cùng, nàng quyết định nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ: - Đoạn 1 (14 câu đầu): Thuý Kiều “trao duyên” cho Thuý Vân. + Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình. + Nhờ em và trao kỉ vật tình yêu cho em. - Đoạn  2 (20 câu còn lại): Tâm trạng Kiều sau khi “trao duyên”. + Kiều mong muốn “trở về” gặp lại người yêu. + Kiều hướng đến sự đồng cảm với người yêu. +Tâm trạng tuyệt vọng của Kiều bởi mâu thuẫn trong tâm hồn nàng (tình yêu sâu nặng và sự chia biệt vĩnh viễn) vẫn không thể giải quyết. 3. Phân tích nghệ thuật xây dựng lời thoại và độc thoại của nhân vật Gợi ý: Đoạn trích là một đoạn lời thoại hoàn chỉnh của nhân vật. Nhưng tính chất đối thoại đổi thay dần theo diễn biến tâm lí và cảm xúc của Kiều. Thoạt đầu xưng hô “chị em”; nhưng từ dòng 15 đến dòng 26, Kiều cảm thấy hạnh phúc đời mình đến đây chấm dứt nên tự xưng mình là “người mệnh bạc”, “người thác oan”, “hồn”. Từ dòng 27 cho đến hết, Kiều như quên đang nói với em, chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt, đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tưởng tượng. Dòng 27 – 28 là lời than, dòng 29 – 30 là lời nói với Kim Trọng trong tưởng tượng, dòng 31 – 32 lại là lời than, dòng 33 – 34 lại nói với Kim Trọng trong tưởng tượng. Ở đây, dấu hiệu độc thoại nội tâm là người đối thoại trực tiếp (Thuý Vân) không hiện diện nữa. Cho dù Thuý Vân vẫn còn ngồi ở đó, nhưng lời của Kiều không hướng tới nàng. Kiều lúc này chỉ sống với chính mình, với người yêu của mình nên lời nàng hướng vào nội tâm, thể hiện nỗi đau đớn đến quằn quại của riêng nàng. Ở vào trạng thái đau đớn đến cùng cực, người ta mất luôn ý thức về thực tại. Lời độc thoại này có tác dụng thể hiện trạng thái tâm lí ấy. Và giọng thơ từ chỗ đau đớn bỗng oà thành tiếng khóc: “Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang ! – Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !” … 4. Bình luận về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích Gợi ý: Nguyễn Du đã thể hiện một nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện. Thuý Kiều nhờ em gái là Thuý Vân thay mình lấy một người mà em chưa thực quen biết. Dù Thuý Vân tính tình đơn giản thế nào thì yêu cầu này cũng quá ư đột ngột, bởi đây là chuyện quan hệ đến cả một đời người. Vì thế lời của Kiều vừa trông cậy, vừa nài ép. Để thể hiện sắc thái này, Nguyễn Du đã rất công phu trong lựa chọn từ ngữ trong ngôn ngữ nhân vật: “cậy”, mời em “ngồi lên cho chị lạy”, rồi sẽ “thưa”,… Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Kiều dùng “cậy” mà không dùng “nhờ” vì “cậy” có ý nói khó, vật nài buộc người khác phải nghe mình, không cho từ chối; còn nhờ thì tuỳ ý, không có ý nài ép. Kiều dùng “chịu lời” mà không nói “nhận lời”. “chịu lời” là nhận lời làm việc không do mình tự nguyện, hoặc một việc khó chối từ. Chữ “có” ở đây tuy được dùng với ý ướm hỏi cho lịch sự, nhưng thực chất là ép buộc: “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Hai chữ “mặc em” nói rõ cái ý ép buộc. 5. Bi kịch tình yêu của Kiều được thể hiện như thế nào trong đoạn trích? Gợi ý: Bi kịch ở đây được hiểu là tâm trạng của một người biết rất rõ, ý thức rất rõ về nỗi đau khổ của mình mà không có cách nào để giải thoát được. Với Thuý Kiều, bi kịch tình yêu là nỗi đau về sự tan vỡ tình yêu hoàn toàn do khách quan đ­ưa lại. Kiều thiết tha yêu Kim Trọng và mong muốn tình yêu được đẹp mãi, đã thề nguyền kết duyên trăm năm nhưng vì để cứu gia đình mà nàng phải phụ tình Kim Trọng. Biết rằng như thế sẽ rất đau khổ, trao duyên cho em cũng chỉ là một cách an ủi phần nào tình yêu với Kim Trọng mà thôi. Biết tr­ước đau khổ mà không có cách nào giải thoát. Đó là nguồn cơn tâm trạng bi kịch của nhân vật trong đoạn trích. 6. Bình luận nhan đề Trao duyên Gợi ý: - Chữ duyên theo giáo lí của nhà Phật là nguyên do tạo ra số phận, sau này được hiểu rộng hơn là sự định sẵn từ kiếp trước cho tình cảm của hai người (thường là tình cảm vợ chồng). - Duyên là một khái niệm có tính chất vô hình, do đó trao duyên là một điều khó khăn, nhất là với những người có đời sống nội tâm sâu sắc như Thuý Kiều.  Trao duyên là một sự hi sinh rất lớn. Tr­ước đó Kiều đã hi sinh tình yêu để làm bổn phận người con hiếu thảo: “Làm con tr­ước phải đền ơn sinh thành”. Nay, trao duyên cho Vân là hi sinh tình yêu của mình vì hạnh phúc của người mà mình yêu. Do vậy, hành động của Kiều làm cho hình tượng nhân vật trở nên cao cả hơn, đẹp đẽ và đáng khâm phục hơn. 7. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều thể hiện qua hai câu thơ:                              Chiếc vành với bức tờ mây                       Duyên này thì giữ, vật này của chung. Gợi ý: Trong màn kịch trao duyên, Thuý Kiều đã trao kỉ vật của tình yêu cho Thuý Vân, đó là tờ hoa tiên ghi lời thề nguyền của Kiều và Kim Trọng, chiếc vành tr­ước đây Kim Trọng trao cho Kiều làm của tin, bây giờ đều được trao lại cho Vân. Nhưng mâu thuẫn nảy sinh ở chi tiết, vật thì trao cho em “giữ” nhưng duyên thì muốn để lại làm “của chung”. Cũng có thể xem là mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí. Về lí trí, Kiều muốn Kim Trọng được hạnh phúc nên gá nghĩa Thuý Vân cho chàng. Nhưng về tình, vì tình yêu của Kiều với chàng Kim sâu sắc quá nên không muốn trao gửi. Đây hoàn toàn là tâm lí của tình yêu sâu nặng và đích thực. Tình yêu sâu nặng mà vẫn phải trao duyên chứng tỏ sự hi sinh của Kiều rất lớn lao. 8. Tác giả đã khắc hoạ tâm trạng Kiều như thế nào sau khi “trao duyên”? Gợi ý: Nếu như phần trên của đoạn trích còn là sự đấu tranh giữa lí và tình, là sự hi sinh vì người mình yêu, thì đến đoạn cuối, sau khi trao duyên, Kiều đã nghĩ đến mình. Giọng điệu của đoạn thơ trở thành giọng điệu thương thân của chính nhân vật. Kiều quan niệm trao duyên tức là đã mất Kim Trọng, như thế thì đời mình coi như cũng hết. Nghĩ đến tương lai, Kiều thấy cái chết hiện diện và khi đó oan hồn của bản thân sẽ theo gió tìm về chốn cũ: Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về Và Kiều đã tưởng tượng oan hồn của mình sẽ cất lời cầu xin chân thành và tội nghiệp:           Rảy xin chén n­ước cho người thác oan Nàng vô cùng đau khổ khi nghĩ đó là tương lai sắp tới mà mình không tránh được. Do đó, Kiều đã khóc, khóc một cách tuyệt vọng cho tình yêu ngắn ngủi của mình:   Bây giờ trâm gãy bình tan Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân Tiếng khóc cho mối tình tan vỡ, tiếng khóc cho thân phận khổ đau cất lên từ nhân vật chính của tác phẩm đã đánh động tâm can bao người đương thời và hậu thế. Như thế, ở đây tiếp tục xuất hiện mâu thuẫn không thể giải quyết giữa tình yêu mãnh liệt và sự chia biệt vĩnh viễn, tức là giữa lí và tình. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tài liệu lập trình C++ tiếng Việt

TÀI LIỆU LẬP TRÌNH C++ TIẾNG VIỆT

C++ là ngôn ngữ lập trình bậc trung, được phát triển bởi Bjarne Stroustrup năm 1979 tại Bell Labs. C++ chạy trên các nền tảng đa dạng, như Windows, Mac OS, và các phiên bản Unix đa dạng.C++ là ngôn ngữ lập trình bậc trung, được phát triển bởi Bjarne Stroustrup năm 1979 tại Bell Labs. C++ chạy trên các nền tảng đa dạng, như Windows, Mac OS, và các phiên bản Unix đa dạng.

200 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TRUYỆN KIỀU (NGUYỄN DU)

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TRUYỆN KIỀU (NGUYỄN DU)

TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem lại mục Tìm hiểu về tác giả trong bài Đọc Tiểu Thanh kí. 2. Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm bác học. Truyện Nôm là tác phẩm tự sự dài, làm bằng văn vần tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm. Truyện Nôm ra đời vào thế kỉ XVI, XVII và phát triển mạnh mẽ ở thế kỉ XVIII; đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thì sáng tác ít dần. Truyện Nôm lúc đầu có tác phẩm viết bằng thơ Đường luật nhưng càng về sau phổ biến là viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở chuyện kể dân gian và truyện Nôm bác học viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc (Truyện Kiều thuộc loại này); có tác phẩm xây dựng theo cốt truyện hư cấu. 3. Truyện Kiều của Nguyễn Du – kiệt tác số một của dân tộc Việt Nam, di sản văn học của nhân loại, là một “tập đại thành” của truyền thống nghệ thuật, văn hoá Việt Nam, tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, vừa là niềm thương cảm sâu sắc, là tấm lòng “nghĩ tới muôn đời”, vừa là thái độ nâng niu, vun vén cho những giá trị nhân bản cao đẹp của con người.  II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1.Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết chương hồi cỡ nhỏ (gồm 20 hồi) của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Thời điểm sáng tác Truyện Kiều tuy chưa xác định được nhưng nhiều nhà khoa học phỏng đoán rằng, tác phẩm được sáng tác trong quá trình dài, bắt đầu từ thời gian “mười năm gió bụi” ở Thái Bình (1789), được hoàn thiện tiếp vào thời gian về Nghi Xuân (1796) cho đến khi Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Nguyễn (1802). 2. Nhận xét về sự sáng tạo của Nguyễn Du Gợi ý: Truyện Kiều được Nguyễn Du đặt tên là Đoạn trường tân thanh, gồm 3254 câu thơ lục bát. Nguyễn Du đã biến một câu chuyện tình thành một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, gián tiếp phản ánh những sự thực đáng buồn trong giai đoạn lịch sử cuối Lê, đầu Nguyễn, thể hiện lòng thương cảm vô hạn đối với con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nguyễn Du đã lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, về sự báo oán tàn nhẫn và một số chi tiết dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, thay đổi thứ tự kể và sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tạo ra một thế giới nhân vật sống động như thật; biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể; chuyển trọng tâm của truyện từ việc kể sự kiện sang biểu hiện nội tâm nhân vật, làm cho các nhân vật sống hơn, sâu sắc hơn và tác phẩm trở thành một bách khoa thư của muôn vàn tâm trạng. 3. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Gợi ý: Truyện Kiều thể hiện một nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, vừa có nét điển hình, vừa có nét riêng rất nổi bật, đặc biệt là tâm lí nhân vật, chỉ cần một đôi lời cô đọng là làm lộ ngay thần thái của nó. - Nhân vật trong tác phẩm được miêu tả cả ngoại hình và nội tâm. Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du xứng đáng bậc thầy nên các nhân vật hiện ra sống động, rõ nét, như đứng tr­ước mặt độc giả. - Về nhân vật chính diện: Nguyễn Du tả bằng bút pháp ­ước lệ, chọn những hình ảnh ­ước lệ tiêu biểu nhất để nhân vật có được nét cá thể không nhầm lẫn với các nhân vật ­ước lệ khác trong văn chương trung đại Việt Nam. - Với nhân vật phản diện: Nguyễn Du dùng bút pháp tả thực để lột tả cho đầy đủ “cái xác phàm của chúng” (Nguyễn Đăng Mạnh). - Với mỗi nhân vật dù là phản diện hay chính diện, Nguyễn Du thường tìm được nét thần thái của nhân vật để miêu tả, dù chỉ đôi dòng hay vài chữ mà lột tả được cả bản chất nhân vật. 4. Tìm hiểu bút pháp miêu tả nhân vật Gợi ý: Trong Truyện Kiều, khi miêu tả nhân vật chính diện, tác giả dùng hình ảnh ­ước lệ, khi miêu tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du lại tả thực. - Khi miêu tả nhân vật chính diện, Nguyễn Du dùng ­ước lệ vì những hình ảnh đó rất đẹp, phù hợp với tình cảm trân trọng và ngợi ca mà tác giả dành cho nhân vật. Nhân vật chính diện trong tác phẩm của ông vừa đẹp người, lại đẹp nết. Ví dụ, khi miêu tả Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, Từ Hải,… - Khi miêu tả nhân vật phản diện, ông dùng bút pháp tả thực vì ngôn ngữ tả thực gần ngôn ngữ đời thường hơn, để “tả thực cái xác phàm của chúng” với những nét xấu xa về bản chất, như cách dùng từ của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh, thì ngôn ngữ tả thực là phù hợp hơn cả. Ví dụ, khi miêu tả Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh,… 5. Tìm hiểu về nghệ thuật kể chuyện trong Truyện Kiều Gợi ý: Truyện Kiều là mẫu mực của nghệ thuật kể chuyện và trữ tình bằng thơ lục bát, với bút pháp trần thuật và giới thiệu nhân vật độc đáo, bút pháp miêu tả tinh tế; nhất là nghệ thuật trần thuật từ điểm nhìn nhân vật, làm cho sự việc, cảnh vật thấm đẫm cảm xúc và thế giới tình cảm của nhân vật được bộc lộ một cách trực tiếp. Thể thơ lục bát được sử dụng hết sức điêu luyện, ­ưu thế của thể loại được vận dụng một cách tối đa nên đã đủ sức diễn tả nhiều sắc thái của cuộc sống và những biểu hiện tinh tế trong đời sống tâm hồn con người. Nhờ tài năng và vốn kiến thức sẵn có, Nguyễn Du đã thành công đặc biệt trong việc xây dựng được một tiểu thuyết bằng thơ lục bát, cả một thiên tiểu thuyết không một câu nào g­ượng ép. Vì thế, tác phẩm được đông đảo nhân dân yêu thích và sử dụng trong đời sống, làm lời hát ru, làm sách bói... Có người, dù vốn kiến thức hạn chế nhưng thuộc cả Truyện Kiều, thậm chí có nhiều trang còn thuộc ngư­ợc từ dưới lên... 6. Đặc sắc về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong Truyện Kiều Gợi ý: Ngôn ngữ Truyện Kiều rất trong sáng. Trong tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Những từ ngữ Hán Việt được sử dụng đều có chọn lọc với mức độ vừa phải, sử dụng hợp lí và đúng chỗ, đúng lúc. Bên cạnh đó, phần nhiều là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, là ca dao, tục ngữ, thành ngữ được vận dụng một cách nhuần nhị và khéo léo. Lời văn trong Truyện Kiều viết cách đây mấy trăm năm mà bây giờ đọc vẫn có cảm giác hiện đại. Ngôn ngữ dành cho nhân vật được cá thể hóa cao độ, lời nhân vật nào phù hợp nhân vật ấy, làm rõ thần thái nhân vật ấy, không thể lẫn lộn ngôn ngữ của nhân vật này với nhân vật khác dù cùng thuộc hệ thống nhân vật chính diện hoặc phản diện. Qua tác phẩm, Nguyễn Du đã làm cho ngôn ngữ dân tộc được nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật, đủ sức diễn tả những biến thái của cảnh sắc thiên nhiên và những biểu hiện tinh tế trong tâm hồn con người. 7. Truyện Kiều là bài ca tình yêu tự do và ước mơ công lí - Chủ đề ngợi ca tình yêu tự do được thể hiện tập trung ở mối tình giữa Thuý Kiều và Kim Trọng. - Chủ đề ước mơ công lí được thể hiện tập trung ở hình tượng Từ Hải. 8. Truyện Kiều là tiếng khóc cho số phận con người: khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ; khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà đạp; khóc cho thân xác con người bị đày đoạ. 9. Truyện Kiều là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép: tố cáo thế lực đen tối trong xã hội phong kiến, phanh phui sức mạnh làm tha hoá con người của đồng tiền; bị ràng buộc bởi thế giới quan trung đại, Nguyễn Du tuy cũng lên án tạo hoá và số mệnh, nhưng bằng trực cảm nghệ sĩ, ông đã vạch ra đúng ai là kẻ chà đạp quyền sống của con người trong thực tế. Nguồn : wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

4 Đọc thêm

NGOC BACH IELTS HANDBOOK

NGOC BACH IELTS HANDBOOK

Giúp đạt điểm cao trong IETS với những lời giảng chi tiết dễ hiểu, giúp nắm vưng kiến thức một cách nhanh chóng và hiệu quả.IELTS là Hệ thống Kiểm tra Anh ngữ quốc tế, kiểm tra mức độ thông thạo ngôn ngữ tiếng Anh phổ biến nhất trên thế giới được chấp nhận cho mục đích làm việc, học tập và di trú. Bài thi IELTS được đồng sở hữu bởi ba tổ chức được biết đến như là các đối tác thi IELTS. Cùng với IDP: IELTS Australia là đồng chủ sở hữu, Hội đồng Anh và Bộ phận Đánh giá Năng lực sử dụng tiếng Anh của Cambridge. Bài thi IELTS được thiết kế để đánh giá khả năng ngôn ngữ của mọi người muốn học tập hoặc làm việc tại nơi mà tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp. Đây là thử nghiệm tiếng Anh ưu tiên cho sinh viên có ý định du học tại Úc, Canada, New Zealand, Anh Quốc và Mỹ. Hầu như tất cả các trường đại học giảng dạy bốn năm và các trường đại học ở Mỹ (thu hút hơn 1.000 sinh viên quốc tế mỗi năm) chấp nhận kết quả IELTS để tham gia tất cả các chương trình học tập. IELTS là kiểm tra bốn kỹ năng ngôn ngữ tiếng Anh (Nghe, Đọc, Viết và Nói ) và tiếp tục thiết lập các tiêu chuẩn kiểm tra ngôn ngữ tiếng Anh ngày nay. Hơn 9.000 tổ chức chấp nhận kết quả IELTS, công nhận nó như là một chỉ số an toàn, hợp lệ và đáng tin cậy của khả năng thực tế trong cuộc sống giao tiếp bằng tiếng Anh cho các mục đích giáo dục, nhập cư và đăng ký nghề nghiệp. Trong năm 2013, hơn hai triệu bài kiểm tra IELTS đã được hoàn thành trên thế giới.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền

NGHỆ THUẬT THƠ THANH TÂM TUYỀN

2. Lịch sử vấn đề Thanh Tâm Tuyền là cây bút xông xáo, cách mạng trong công cuộc đổi mới thi ca Việt Nam theo hướng hiện đại. Hành trình thơ Thanh Tâm Tuyền là hành trình đầy hăng say, khao khát, tha thiết nhưng cũng đầy cô độc, mệt mỏi, đớn đau. Đó cũng là hành trình của mỗi thân phận con người đi qua cuộc sống này. Ngay từ khi tiếng thơ ông cất lên trên thi đàn, những bài báo, những ý kiến tranh luận về tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền dường như chưa bao giờ dứt. Các bài viết đó đã khám phá được gì ở thế giới thơ độc đáo, mới lạ của Thanh Tâm Tuyền? Trước hết, về nội dung: Thơ Thanh Tâm Tuyền mang hơi thở cuộc sống đô thị Sài Gòn những năm 50, 60 của thế kỷ XX. Đó là tâm lí lo âu, hoang mang, chán nản; đó là cảm giác thất bại, tuyệt vọng, cô đơn rất giống với tâm thức của một thế hệ thanh niên châu Âu sau Thế chiến II. Chính những đổi thay của thời cuộc ấy đã trở thành những chấn thương dai dẳng trong tâm hồn con người, trở thành những ám ảnh không dứt trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Thơ Thanh Tâm Tuyền thường xoay quanh các vấn đề chính như tình yêu, con người thất bại, chiến tranh, màu da... Đặng Tiến cho rằng: “Thơ Thanh Tâm Tuyền tự nó, là một thế giới và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới...” . Từ không gian ấy, Thanh Tâm Tuyền nhìn thấy rõ “Ý thức thất bại của con người trước định mệnh mà cụ thể, là sự bất lực của giai cấp trí thức Việt Nam trước thời cuộc”. Thanh Tâm Tuyền không chối bỏ sự thật, “nói được những cái sự thật ấy là sống cái trận bão thổi qua chính mình và thấu hiểu được cái gọi là đời sống”. Quỳnh Giao trong bài viết Vòng tay bát ngát Thanh Tâm Tuyền có lý khi khẳng định rằng “Thơ Thanh Tâm Tuyền vượt khỏi hoàn cảnh và là vòng tay bát ngát ôm được nỗi đau của nhân thế, ở mọi nơi, mọi thời”. Đi sâu vào bút pháp, những người đọc và yêu thơ Thanh Tâm Tuyền đều nhận ra vẻ đẹp mới lạ trong nỗ lực cách tân nghệ thuật của ông. Các ý kiến đã cụ thể hóa mãnh lực sáng tạo, cách tân riêng của Thanh Tâm Tuyền như thế nào? Trong bài viết Kinh nghiệm đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà nghiên cứu Lê Huy Oanh đã đưa ra nhận định: “Thơ Thanh Tâm Tuyền không còn lệ thuộc vào những quy tắc văn phạm cố hữu, không lệ thuộc những hình thức thi ca sẵn có: sự cân đối không được đếm xỉa tới, phương pháp chấm câu bị hủy bỏ, vần vè không được chú ý tới. Thêm vào đó là những hình ảnh phong phú kì lạ, những ý tưởng xuất hiện đột ngột, tất cả những cái đó thường được xếp đặt với nhau một cách rời rạc, tạo cho bài thơ một nhịp điệu mới, một kiến trúc mới, một khả năng phát biểu mới, có nhiều sức gợi cảm hơn là truyền cảm”. Chính hình thức mới trong thơ Thanh Tâm Tuyền chứng tỏ thơ “luôn luôn ở trạng thái động”, khiến người đọc thơ cũng chính là người “đồng sáng tạo”. Lê Huy Oanh đặc biệt nhấn mạnh tới ngôn ngữ mới trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền: “... người ta đã gặp trong thơ Tuyền rất nhiều dụng ngữ và hình ảnh thật đặc sắc, tạo nên một cuộc chơi chữ và chơi hình ảnh đôi khi rất táo bạo...”. Sự táo bạo ấy thể hiện ở chỗ “Những ý tưởng và hình ảnh được đặt rời rạc bên nhau, không được liên kết bằng bàn tay kiến trúc của tác giả nhưng tự chúng, chúng liên kết với nhau”. Nguyễn Vy Khanh cũng lưu ý đến tính chất bất thường trong ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền “Thanh Tâm Tuyền đã phá vỡ cái tĩnh, cái nền của ngôn ngữ, ông đã phá cái cấu trúc bình thường. Ngôn ngữ trong thơ Thanh Tâm Tuyền bất thường, bất ngờ, lẫm lạ, không thứ tự cũng không thông thường nhưng nhiều khi cũng rất bình thường như lời nói ngoài phố chợ”. Cũng tìm hiểu về ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền, Thường Quán trong bài viết Vài cảm nghĩ về thơ Thanh Tâm Tuyền thì cho rằng “Thanh Tâm Tuyền muốn sử dụng một ngôn ngữ mới để khả dĩ nói được một đời sống của những sự thật. Nó là một ngôn ngữ không uốn lượn, không bị bóp méo bởi phép tu từ, một ngôn ngữ tự nhiên...”.
Xem thêm

100 Đọc thêm

TRƯỜNG (FIELD) VÀ KHÔNG KHÍ (TENOR) CỦA HỘI THOẠI HÀNG NGÀY TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT (TRÊN TƯ LIỆU PHIM NGƯỜI HÀ NỘI)

TRƯỜNG (FIELD) VÀ KHÔNG KHÍ (TENOR) CỦA HỘI THOẠI HÀNG NGÀY TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT (TRÊN TƯ LIỆU PHIM NGƯỜI HÀ NỘI)

đặc biệt là dạy viết thể loại khoa học/ học thuật (academic writing); 6. Phântích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis); 7. Sử dụng lý thuyếtcủa ngữ pháp chức năng để phân tích ngôn ngữ tƣơng tác trong lớp họcphục vụ mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, tác giả cũng lƣu ý rằng đây chỉ lànhững gợi ý mang tính lý thuyết và ý kiến chủ quan của tác giả. Chúng chỉcó tính thuyết phục khi đƣợc giáo viên thử nghiệm.Nguyễn Văn Hiệp (2015) đã tóm tắt một số điểm chính trong lý thuyếtngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và áp dụng lý thuyết này vào việcđánh giá ngôn ngữ “phi chuẩn” của giới trẻ hiện nay theo các đặc trƣng ngữvực. Cụ thể, tác giả đã chỉ ra các đặc trƣng về trường, không khí và thức củangôn ngữ “phi chuẩn” hay ngôn ngữ thế hệ @. Sau đó, tác giả đƣa ra nhữngnhận định riêng của mình về vấn đề này. Theo những phân tích của tác giả,cách nói “phi chuẩn” của lớp trẻ hiện nay có cả những mặt tích cực lẫn nhữngmặt tiêu cực. Vì đối với ngữ pháp chức năng thì ngôn ngữ “phi chuẩn” cũnglà một phần của hệ thống các chọn lựa và có tính sản sinh trong nhiều tìnhhuống giao tiếp. Chính vì vậy, những hiện tƣợng “phi chuẩn” tiêu cực có thểdần dần làm tha hóa và biến đổi hệ thống ngôn ngữ theo chiều hƣớng xấu. Từcách tiếp cận của ngữ pháp chức năng hệ thống, Nguyễn Văn Hiệp cho rằngthực trạng ngôn ngữ “phi chuẩn” tiêu cực của lớp trẻ hiện nay thật sự đángbáo động và cần có những biện pháp để giáo dục giới trẻ sử dụng ngôn ngữmột cách chuẩn mực.Trịnh Sâm (2015) đã dựa vào lý thuyết ngữ vực để chỉ ra một số đặcđiểm chi phối cũng nhƣ đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn viết. Các đặc điểmchi phối bao gồm ngữ cảnh nhân tạo, giao tiếp gián tiếp, trung tính, trau chuốttrong biểu đạt và độ bền vững của câu chữ. Về đặc điểm, diễn ngôn viết làphát ngôn với cấu trúc trƣờng cú không chỉ xuất hiện trong giao tiếp chính trịcả trong văn xuôi nghệ thuật. Diễn ngôn viết còn thƣờng xuyên xuất hiện cáchình thức ẩn dụ ngữ pháp, tức là sử dụng danh ngữ cho việc định danh có tính
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích bốn khổ thơ để làm nổi rõ sức gợi cảm phong phú, bất ngờ của hình tượng sóng trong sự liên hệ, đối sánh với nhân vật trữ tình em.

PHÂN TÍCH BỐN KHỔ THƠ ĐỂ LÀM NỔI RÕ SỨC GỢI CẢM PHONG PHÚ, BẤT NGỜ CỦA HÌNH TƯỢNG SÓNG TRONG SỰ LIÊN HỆ, ĐỐI SÁNH VỚI NHÂN VẬT TRỮ TÌNH EM.

Sóng là bài thơ tình tuyệt bút của Xuân Quỳnh (1942-1988). Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn thiên trường gồm có 38 câu thơ. Qua hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thủy chung. Sóng  là bài thơ tình tuyệt bút của Xuân Quỳnh (1942-1988). Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn thiên trường gồm có 38 câu thơ. Qua hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thủy chung. Bốn khổ thơ dưới đây trích trong phần đầu bài thơ. Hình tượng “sóng” trong sự liên hệ đối sánh với nhân vật trừ tình “em” đã đem đến cho tâm hồn ta bao gợi cảm phong phú bất ngờ: Ôi  con sóng ngày xưa (…) Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức. Sóng  là hiện tượng muôn đời của đại dương bao la. Còn vũ trụ, đất trời thì còn có đại dương; đại dương còn thì còn “muôn trùng sóng bể”. Sóng là sức sống hằng, kì diệu của biển, trường tồn trong dòng chảy thời gian: “Ôi con sóng  ngày xưa - và ngày sau vẫn thế”. Từ “ôi” cảm thán cất lên đầy xúc động ngây ngất của một nỗi niềm. Sóng của biển cũng như tình yêu là chuyện muôn đời của lứa đôi, là “khát vọng’’ của trai gái xưa nay. Sóng reo, sóng vỗ trên biển cả mênh mông cũng như “con sóng” tình yêu biến hóa vô cùng, lúc “dữ dội và dịu êm”, lúc thì “ồn ào và lặng lẽ”, làm cho trái tim tuổi trẻ lay động, xao xuyến, “bồi hồi”: Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Hình tượng “sóng” trong những vần thơ ngọt ngào thiết tha đầy gợi cảm mang  tính nhân văn. “Trước muôn trùng sóng bể” của đại dương mênh mông,lớp lớp sóng liên hồi, vô tận, thiếu nữ “bồi hồi” nghĩ về quy luật của sự sống,về sự  trường tồn của đại dương, về nguyên nhân kì diệu nào mà có “sóng lên”.Rồi thiếu nữ bâng khuâng nghĩ về mối nhân duyên của mình, về tình yêu của “em” “anh”. Điệp ngừ: “Em nghĩ về... Em nghĩ về...”, kết hợp với câu hòi tu từ. “Từ nơi nào sóng lên?” đã làm cho giọng thơ nồng nàn, say đắm, cảm xúc bâng khuâng triền miền dào dạt dâng lên. Hình tượng “sóng” và sự liên tưởng phong phú được diễn tả một cách thi vị:         Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn  Từ nơi nào sóng lên? Hỏi sóng rồi hỏi gió: “Gió bắt đầu từ đâu?” Rồi thiếu nữ lại tự hỏi trái tim mình, tự hỏi lòng mình: “Khi nào ta yêu nhau". Đó là tâm trạng cùa “em’’, của bất cứ chàng trai cô gái nào trong tình yêu. Và phải là mối tình đầu mới có câu hỏi ấy. Tình yêu đã đến với “em” tự bao giờ, nhưng cái khắc khoải “thắm lại” của hai tâm hồn “anh” và “em”, đâu dễ trả lời. Ông chúa thơ tình Xuân Diệu đã viết: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”... Tuy không trả lời được câu hỏi: “Khi nào ta yêu nhau?”, nhưng cái khoảnh khắc thần tiên của mối tình đầu mãi mãi được ghi sâu trong lòng người: Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy    Nghìn năm chưa dễ đã ai quên? (Thế Lữ) Sức gợi cảm của hình tượng “sóng” thật phong phú và bất ngờ. Sóng tồn tại trong trạng thái “động”, trong mọi không gian “dưới lòng sâu” hay “trên mặt nước”, tầng tầng lớp lớp “muôn trùng sóng bể”. Có sóng ngầm và nhấp nhô sóng biếc. Sóng được nhân hóa, sóng thao thức suốt đêm ngày trong mọi thời gian: “Sóng nhớ bờ”, trong mọi trạng thái: “Sóng không ngủ được”. Sóng được cảm nhận bằng thính giác, bằng thị giác, bằng tri giác và cả bằng tâm hồn. Hình tượng “sóng” càng trở nên thơ mộng, gợi cảm:        Con sóng dưới lòng sâu       Con sóng trên mặt nướ  Ôi con sóng nhớ bờ             Ngày đêm không ngủ được. Cấu trúc song hành, đối xứng: “dưới lòng sâu // trên mặt nước”, “ngày // đêm”, nhớ bờ // không ngủ được” và điệp ngữ “con sóng” đã làm cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hòa, âm điệu, nhạc điệu thơ nhịp nhàng, uyển chuyển, say đắm và ngọt ngào. Nhạc cùa thơ vị ngọt tình yêu như được hòa quyện trong không gian, trong thời gian, và cả trong lòng người. Xuân Quỳnh có lúc mượn “thuyền" và “biển” làm ẩn dụ để nói lên nỗi nhớ thương của lứa đôi:      Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ     Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn rỡ... (Thuyền và biển) Từ hiện tượng “sóng nhớ bờ”, nữ sĩ liên tưởng đến nỗi nhớ “em nhớ đến anh”, một nỗi nhớ da diết, triền miên, bồi hồi khôn xiết kể, cả trong cõi thực và cả trong mơ, trong ý thức và cả trong tiềm thức: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức. Sóng là quy luật vận động của vũ trụ, của dại dương. Tưởng tượng “sóng nhớ bờ” rồi liên hệ, đối sánh với “em”, với nỗi niềm “lòng em nhớ anh...” thật bất ngờ, thú vị. Ca dao nói nhiều về nỗi nhớ của trai gái làng quê. Có nỗi nhớ day dứt khôn nguôi: “Nhớ ai nhớ mãi thế này? - Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”. Có nỗi nhớ bồn chồn, ngẩn ngơ: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi - Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”. Qua đó, ta mới cảm thây nỗi nhớ của “em”,nhân vật trữ tình trong bài thơ Sóng: “Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức” là sâu sắc, bất ngờ, mới mẻ. Năm 1962, thi sĩ Xuân Diệu viết bài thơ tình “Biển”, trong đó hình tượng sóng là ẩn dụ về chàng trai đa tình, yêu say đắm, nồng nhiệt:  Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm    Hôn êm đềm mãi mãi... Bài thơ “Biển" là một thử thách lớn đối với Xuân Quỳnh. Năm năm sau, bài Sóng ra đời, ẩn dụ “sóng” nói về thiếu nữ trong mối tình đầu với bao phẩm chất tốt đẹp. Đó là sáng tạo, có thế nói là “bất ngờ”. Người thiếu nữ trong bài thơ Sóng đã “tự hát” về nỗi khao khát được yêu thương, được sống thủy chung trong tình yêu hạnh phúc. Hình tượng “sóng” gợi lên bao cảm xúc mạnh mẽ, nồng nàn, phong phú và bất ngờ. Sóng thật mãnh liệt. Em thật nồng nàn say mê bởi lẽ với em thì tình yêu là “khát vọng”. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích đoạn thơ trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh: Ở ngoài kia đại dương...Để ngàn năm còn vỗ .

PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ TRONG BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH: Ở NGOÀI KIA ĐẠI DƯƠNG...ĐỂ NGÀN NĂM CÒN VỖ .

Không phải là sự lắp ghép, hòa nhập mà phải tan vào nhau ngàn năm nồng thắm, rạo rực. Đó là tình yêu cao thượng, lớn lao, cái riêng hòa nhập vào trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng tồn tại vĩnh hằng. Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng vỗ Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ.   1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm: Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh năm 1942, quê ở huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (cũ). Năm 1963, tập thơ Chồi biếc của chị ra đời bộc lộ một hồn thơ phong phú, tươi mới, sôi nổi. Chị liên tiếp cho ra những tập thơ được nhiều người mến mộ, đặc biệt là giới trẻ, như Lời ru trên mặt đất, Tự hát, Sân ga chiều em đi, Hoa cỏ may. Xuân Quỳnh cùng với chồng là nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ mất đột ngột trong một tai nạn giao thông bi thảm năm 1988. Bài Sóng in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968). Đoạn trích này là ở ba khổ thơ cuối cùng của bài thơ. 2. Phân tích: a) Nghệ thuật đặc sắc: - Hình ảnh biển và sóng quyện vào nhau trong cả ba khổ thơ, nhưng ở mỗi khổ thơ lại mang một sắc thái khác nhau. + Khổ 1: Sóng từ đại dương xa tìm vào với bờ. + Khổ 2: Mây tìm đến với biển từ nơi xa. + Khổ 3: Tình yêu tan trong tình yêu (tan thành trăm con sóng nhỏ). -   Vần điệu tạo nên một giọng thơ vừa sôi nổi, vừa thiết tha  diễn tả rất hay tâm trạng của một tâm hồn đang khát khao, tìm kiếm. b)  Khổ 1: Suy tư về không gian: rộng đến bao nhiêu, cách trở đến thế nào, nhưng khi đã tìm đến nhau thì nhất định sẽ gặp nhau (chú ý hình ảnh sóng và bờ được nhiều nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận... dùng để diễn tả tình yêu). c)  Khổ 2: Suy tư về thời gian: cuộc đời có dài (có lẽ là đời người nói chung), thời gian có khắc nghiệt nhưng rồi vẫn đi qua - đâu vẫn vào đấy. d)  Khổ 3: Còn tình yêu. Không phải là sự lắp ghép, hòa nhập mà phải tan vào nhau ngàn năm nồng thắm, rạo rực. Đó là tình yêu cao thượng, lớn lao, cái riêng hòa nhập vào trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng tồn tại vĩnh hằng. Nhưng đó chính là sự ao ước, khát khao, nhà thơ trăn trở kiếm tìm (cả trong mơ còn thức). Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TRUYỆN TRANH THIẾU NHI

SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TRUYỆN TRANH THIẾU NHI

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Sử dụng ngôn ngữ truyện tranh thiếu nhi trong hoạt động xuất bản và biên tập ngôn ngữ truyện tranh thiếu nhi nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về “Sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động xuất bản truyện tranh thiếu nhi là một hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ, chưa có công trình nào tiến hành một cách hệ thống, chuyên sâu và xem nó như một đối tượng nghiên cứu độc lập. Trước đó, rải rác ở một vài công trình có đề cập đến vấn đề này như: Năm 1998, cuốn “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong việc dạy tiếng Việt” – NXB Giáo dục, của Đỗ Việt Hùng xuất bản đã gợi ý cho chúng tôi hướng nghiên cứu mới mà chúng tôi lựa chọn. Cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” – NXB Giáo dục, 2002, của tác giả Nguyễn Thiện Giáp bàn về vấn đề chuẩn hóa từ vựn, chuẩn hóa ngôn ngữ... Công trình này có liên quan trực tiếp tới vấn đề mà chúng tôi quan tâm. Cũng trong năm đó, cuốn “Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí” – Nxb Khoa học – Xã hội, của PGS.TS Nguyễn Trọng Báu ra mắt độc giả, là tài liệu hữu ích đối với đề tài mà chúng tôi nghiên cứu. Nội dung chính của cuốn sách gồm: Ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí (Chuẩn ngôn ngữ đối với báo chí và vấn đề chệch chuẩn mực; Sự chế định của chệch chuẩn mực ngôn ngữ báo chí đối với phong cách nhà báo. Ngôn ngữ các phong cách báo chí (Phong cách ngôn ngữ chính luận; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ hành chính). Ngôn ngữ của tên riêng trên báo chí (Khái niệm và phân loại; Thực trạng của tên riêng tiếng nước ngoài trên báo chí tiếng Việt; Nguyên nhân của thực trạng; Giải pháp; Những cơ sở khoa học cho việc tìm giải pháp xét từ phương diện truyền thông). Ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, ký hiệu khoa học, chữ tắt và số liệu trên báo chí (Ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học trên báo chí tiếng Việt; Ngôn ngữ của danh pháp khoa học trên báo chí; Ngôn ngữ của ký hiệu khoa học trên báo chí; Ngôn ngữ của chữ tắt trên báo chí; Ngôn ngữ của số liệu trên báo chí. Ngôn ngữ tít báo (Chức năng và cấu trúc của tít báo; Những loại tít thường gặp; Những loại tít mắc lỗi. Ngôn ngữ phát thanh (Bản chất của ngôn ngữ phát thanh; Một số vấn đề ngôn ngữ của văn bản phát thanh)... Cuốn “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” – Nxb Khoa học xã hội, 2006, của GS Cao Xuân Hạo đã cung cấp cho chúng tôi một số vấn đề thuộc cơ sở lý luận của đề tài. Sách gồm có 2 phần: Phần Dẫn luận chủ yếu cung cấp những tư liệu về tình hình chung của các trào lưu ngữ pháp chức năng hiện nay. Phần thứ 2 nói về cấu trúc và nghĩa của Câu trong tiếng Việt. Theo lời nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, tác giả quyển sách, thì đây là sự cố gắng miêu tả trung thành những đặc trưng ngữ pháp của tiếng Việt đúng như nó được người Việt hiểu và sử dụng hằng ngày. Sách trình bày những kết quả của một quá trình nghiên cứu tiếng Việt trên quan điểm ngữ pháp chức năng, đưa ra những đặc trưng loại hình học của tiếng Việt và trình bày hệ thống ngữ pháp của nó một cách chân xác và giản dị hơn so với lối nghĩ phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Cảm nhận về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (bài 2).

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH (BÀI 2).

Chỉ có sóng mới đêm ngày trào dâng, trái tim yêu đêm ngày cũng vậy. Cái hồn hậu, cái đắm say, cái tha thiết nhất được biểu hiện bằng hình tượng thơ này. Lấy sóng để nói nỗi nhớ, nói tình yêu thì không hẳn chỉ có Xuân Quỳnh nhưng quả là đến Xuân Quỳnh thì hình tượng thơ này trở nên mới mẻ bao nhiêu.    Đã có bao nhiêu người đã yêu, bao nhiêu người đang yêu và bao thơ tình yêu trên thế gian này! Vậy mà mỗi ngày lại mới. Tình yêu không có tuổi, thơ tình yêu lại càng không có tuổi bao giờ. Trên thế gian có biết bao nhà thơ tình yêu nổi tiếng: Rimbaud, Verlaire rồi Puskin, Byron... và mỗi người một vẻ, một sắc thái. Từ thuở thơ Đường, thơ Tống, từ thuở Nguyễn Du rồi Thế Lữ, Xuân Diệu và chúng ta ngày nay..., tình yêu vẫn là cái gì khiến người ta đam mê, khát khao. Xuân Quỳnh, nhà thơ của nỗi niềm yêu đương, với bài Sóng đã thể hiện được nhiều cung bậc tình yêu. Bài thơ của Xuân Quỳnh cất lên tình yêu nồng nàn của tuổi trẻ và khát vọng của con người đối với tình yêu. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không còn dừng lại ở quá độ tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc gắn với cuộc sống chung. Trong những đoạn đầu của bài thơ, nhà thơ miêu tả “sóng” với những sắc thái, những cung bậc khác nhau để rồi từ đó nói tới quy luật của tình yêu. Tình yêu là sự dung hòa những sắc thái tình cảm tưởng chừng như đối lập. Tình yêu có quy luật tự nhiên của nó mà lý trí không giải thích được. Người ta tìm đến với tình yêu, soi mình vào tình yêu để tự nhận ra chính bản thân mình: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Bốn câu thơ mở đầu bài thơ chẳng có chữ nào dính dáng đến tình yêu, nhưng đọc khổ thơ lên thì bao trùm tất cả là cảm xúc yêu đương. Dường như tình yêu ẩn náu đằng sau câu chữ ấy. Có gì thật là xôn xao nhiệt thành mà thật là trầm lắng. “Dữ dội", “ồn ào” để rồi “dịu êm”, “lặng lẽ” - tình yêu là ở đấy và tình yêu là như thế. Tưởng như đối lập, tưởng như mâu thuẫn mà lại là thống nhất trong tâm trạng yêu đương. Đâu chỉ là sóng, là nước - hồn người đang yêu đó.. và tình yêu mãi là cái gì mà người ta không hiểu nổi: Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Rõ ràng đó không phải là tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào nữa. Đây là con đường tất yếu trong thiên nhiên, sóng phải tìm ra bể nhưng đây cũng là quy luật tất yếu của tình cảm: con người đi tìm “cái nửa” lớn lao để họ hoàn thiện mình. Đến khổ thơ sau, ý tứ rõ ràng hơn: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Khổ thơ này là sự khai triển tứ thơ trước. Bao nhiêu thế hệ đã qua, những cuộc hành trình đau khổ, vui sướng những niềm xót xa cùng hạnh phúc ngập tràn - tất cả điều đó vì khát vọng tình yêu. Thuở Adam - Eva, thuở con người mông muội và hiện đại... tình yêu là điểm sáng vĩnh cửu cho con người hướng tới mà sống, chiến đấu, lao động. Có gì trên cõi đời này thay được trái tim cũng như tình yêu có bao giờ không còn nữa! Ta bắt gặp trong bài thơ một tình yêu khỏe khoắn, hồn nhiên. Tình yêu của tuổi trẻ ngập tràn sức sống vô bờ bến. Không phải thứ tình yêu bi lụy thê lương “yêu là chết trong lòng một ít" như thơ Xuân Diệu trước Cách mạng mà đây là một tình yêu dám sống, dám yêu, tình yêu chan chứa tình yêu nhiệt thành. Chẳng để tượng trưng cho tình yêu của mình: Sóng bắt đầu từ gió Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Đây là thơ tình của người đang yêu chứ không phải là thơ tình của người nhìn người khác yêu, bởi chỉ có người đang yêu mới diễn tả những xúc cảm tình yêu đúng như vậy. Nỗi nhớ nhung, rồi nơi tình yêu đến... có ai biết được yêu khi nào  và có ai biết được sóng từ đâu đến! Xuân Quỳnh nói hộ tâm trạng đang yêu của bao người: Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Hình ảnh “sóng" tượng trưng rất độc đáo mà vô cùng sâu lắng. Chỉ có sóng mới đêm ngày trào dâng, trái tim yêu đêm ngày cũng vậy. Cái hồn hậu, cái đắm say, cái tha thiết nhất được biểu hiện bằng hình tượng thơ này. Lấy sóng để nói nỗi nhớ, nói tình yêu thì không hẳn chỉ có Xuân Quỳnh nhưng quả là đến Xuân Quỳnh thì hình tượng thơ này trở nên mới mẻ bao nhiêu. Con sóng ấy có tình yêu, có niềm nhớ nhung nhưng mang lại thêm nhân hậu, dịu dàng của người phụ nữ và đấy là bản sắc riêng của Xuân Quỳnh. Nỗi nhớ nhung của con sóng cũng là nỗi nhớ nhung của bao người mình yêu. Tâm trạng nhớ nhung của Xuân Quỳnh cũng là tâm trạng của bao người đang yêu: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Cuộc sống của Xuân Quỳnh cũng giống cuộc sống của bao người khác, hạnh phúc của Xuân Quỳnh cũng là hạnh phúc của bao người khác: Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Hướng về anh một phương. Đọc khổ thơ cuối làm ta nghĩ về khổ thơ khác của Xuân Quỳnh: Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt đời thường ai chẳng có, Biết ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa          Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi Có gì rất gần gũi giữa những câu thơ ấy vì cả hai khổ thơ tuy không cùng bài nhưng lại là sự khẳng định tình yêu. Một tình yêu đẹp thì bao giờ cũng là một tình yêu biết vượt qua những khó khăn, thử thách, biết đấu tranh để bảo vệ những ước mơ, những khát vọng chân chính, biết tin tưởng vào tương lai của cuộc sống, tin tưởng vào hạnh phúc của mình và của mọi người. Và một tình yêu thủy chung son sắt thì bao giờ nỗi nhớ cũng có một điểm dừng, đó là người mình yêu: Ở ngoài kia đại dương  Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn qua đi Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Xuân Quỳnh ý thức được những vất vả nhọc nhằn trong cuộc hành trình đến với hạnh phúc, nhưng là người có trái tim lớn nên Xuân Quỳnh lại có niền tin mãnh liệt vào tình yêu. Đây là sức mạnh tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh, cái sức mạnh mà chẳng phải tình yêu nào cũng có được, sức mạnh của niềm tin. Tin yêu rồi không phải hết mơ, dẫu tận cùng con đường kia là hạnh phúc, và Xuân Quỳnh đã đi hết con đường đó thì chị vẫn ước mơ. Niềm tin trong thơ chị lớn lao bao nhiêu thì ước mơ cũng lớn bấy nhiêu: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ Ước mơ tình yêu là vĩnh cửu, đến ước mơ cũng mang hình bóng của người tình nhân đắm say. Ở đây, Xuân Quỳnh có gì rất gần với “biển” của Xuân Diệu. Chất đam mê mãnh liệt toát ra từ từng câu chữ khi Xuân Diệu viết: Đã hôn rồi lại hôn Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt Nhưng Xuân Diệu còn có một ngày sẽ “thôi dào dạt" còn Xuân Quỳnh thì “ngàn năm còn vỗ”, vẫn cái chất đam mê mãnh liệt ấy nhưng thêm vào đó là sự lắng đọng suy tư. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh có thêm chiều sâu của sự hòa nhịp tuyệt đối. Như vậy, ai dám bảo tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh non nớt, giản đơn, ngọ ngào! Tình yêu trong thơ chỉ là nỗi khát khao, là sự chất chứa chiều sâu tâm hồn, là tình yêu hạnh phúc với cuộc sống chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng là tình yêu sâu lắng của bao người khác đã yêu, đang yêu và sắp yêu. Đầy đủ sắc thái của tâm trạng người đang yêu nỗi khát khao, niềm đam mê bất tận, nỗi nhớ nhung cùng sự sôi nổi và suy tư lắng đọng... rồi cả ước mơ, Xuân Quỳnh đã diễn tả thật tinh tế và tài hoa trong bài thơ “Sóng”. Sau này, ta sẽ bắt gặp một Xuân Quỳnh tha thiết, một Xuân Quỳnh nồng nàn, một Xuân Quỳnh nhân hậu trong nhiều bài thơ nữa. Nhưng rõ ràng, ở bài Sóng, Xuân Quỳnh đã bộc lộ khá đầy đủ phong cách thơ của mình. Giữa những năm chiến tranh đầy máu lửa, thơ tình Xuân Quỳnh làm người ta tin vào sự sống, tin vào con người hơn nữa. Thơ tình Xuân Quỳnh mang lại khoảng bình yên cho tâm hồn người đọc, mang lại tình yêu cho đôi lứa đang yêu. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh

TRÌNH BÀY CẢM NHẬN CỦA EM VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH

Đã có bao nhiêu người đã yêu, bao nhiêu người đang yêu và bao nhiêu thơ tình yêu trên thế gian này!Vậy mà mỗi ngày lại mới. Tình yêu không có tuổi thơ tình lại càng không có tuổi bao giờ. Trên thế giới có biết bao nhà thơ nổi tiếng: Rimbô, Véclen rồi Puskin, Bairơn… và mỗi người một vẻ một sắc thái Từ thuở thơ Đường thơ Tống, từ thuở Nguyễn Du rồi Thế Lữ, Xuân Diệu và đến chúng ta ngày nay…, tình yêu vẫn là cái gì khiến người ta đam mê, khao khát. Xuân Quỳnh- nhà thơ của nổi niềm yêu thương với bài Sóng đã thể hiện được nhiều cung bậc tình yêu. Bìa thơ của Xuân Quỳnh cháy lên tình yêu nông nàn của tuổi trẻ và khát vọng của con người đến với tình yêu . Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không còn dừng lại ở tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc gắn với cuộc sống chung. Trong những đoạn đầu của bài thơ, nhà thơ miêu tả sóng với những sắc thái, những cung bậc khác nhau để rồi từ đó nói tới quy luật của tình yêu. Tình yêu là sự dung hoà những sắc thái tình cảm tưởng chừng như đối lập. Tình yêu có qui luật tự nhiên của nó mà lí trí không giải thích được. Người ta tìm đến với tình yêu, soi mìn vào tình yêu để tự nhận ra chính bản thân mình:Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽSông không hiểu nỗi mìnhSóng tìm ra tận bể Bốn câu thơ mỡ đầu tình yêu chẳng câu nào dính dáng đến tình yêu, nhưng đọc khổ thơ lên thì bao trùm tất cả lại là cảm xúc yêu đương. Dường như tình yêu ẩn nấu đằng sau câu chứ ấy .Có gì thật là xôn xao nhiệt thành mà thật là trầm lắng. “Dữ dội”, “ ồn ào” để rồi “dịu êm”, “ lặng lẽ”-tình yêu là ở đấy và tình yêu là như thế. Tưởng như đối lập tưởng như mâu thuẫn mà lại thống nhất trong tâm trạng yêu đương. Đâu chỉ là sóng là nước-hồn người đang yêu đó… và tình yêu thì mãi là cái gì người ta không hiểu nổi:Sóng không hiểu nỗi mìnhSóng tìm ra tận bể Rõ ràng đó không phải là tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn non nớt, ngọt ngào nữa. Đấy là con đường tất yếu trong thiên nhiên, sóng phải tìm ra bể, nhưng đó cũng là quy luật tất yếu của tình cảm: con người đi tìm “ cái nửa” lớn lao để hoàn thiện mình. Đến khổ thơ sau ý tứ rõ ràng hơn:Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thế,Nỗi khát vọng tình yêu,Bồi hồi trong ngực trẻ. Khổ thơ này là sự khai triển tứ thơ trước. Bao nhiêu thế hệ đã qua, những cuộc hành trình đâu khổ, vui sướng, những niềm xót xa cùng hạnh phúc ngập tràn- tất cả đều vì khát vọng tình yêu. Thuở Ađam-Eva, thuở con người mong muội và hiện đại…, tình yêu là điểm sáng vĩnh cửu cho con người hướng tới mà sống, chiến đấu lao động. Có gì trên cõi đời này thay thế được trái tim cũng như tình yêu có bao giờ không còn nữa!Ta bắt gặp trong bài thơ một tình yêu khoẻ khoắn, hồn nhiên. Tình yêu của tuổi trẻ ngập tràn sức sống vô bờ bến. Không phải là tình yêu nông nổi non nớt của buổi đầu giản đơn hẹn hò, không phải là thứ tình yêu bi luỵ thê lương “ yêu là chết ở trong lòng một ít” như trong thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng, mà đây là một tình yêu dám sống dám yêu, tình yêu chan chứa ngọn lửa nhiệt thành. Chẳng phải vô cớ khi Xuân Quỳnh lấy hình tượng “sóng” để tượng trưng cho tình yêu của mình:Sóng bắt đầu từ gió…..Lòng em nhớ đến anhCả trong mơ còn thức Đây là thơ tình của người đang yêu chứ không phải là thơ tình của người nhìn người khác yêu, bởi chỉ có người đang yêu mới diễn tả những xúc cảm tình yêu đúng như vậy. Nỗi nhớ nhung, rồi nơi tình yêu đến… có ai biết được yêu khi nào và có ai biết được sóng từ đâu đến! Xuân Quỳnh nói họ tâm trạng đang yêu của bao người:Ôi con sóng nhớ bờ,Ngày đêm không ngủ được Hình ảnh sóng tượng trưng rất độc đáo mà vô cùng sâu lắng. Chỉ có con sóng mới đêm ngày trào dâng, trái tim yêu đêm ngày cũng vậy. Cái hồn hậu, cái đắm say, cái tình tha thiết nhất được biểu hiện bằng hình tượng thể này. Lấy sóng để nói nỗi nhớ, nói tình yêu thì không hẳn chỉ có Xuân Quỳnh , nhưng quả là đến Xuân Quỳnh thì hình tượng thơ này trở nên mới mẻ bao nhiêu. Con sóng ấy có tình yêu có niềm nhớ nhung nhưng lại mang thêm sự nhân hậu, dịu dàng của người phụ nữ và đấy là bản sắc riêng của thơ Xuân Quỳnh. Nỗi nhớ nhung của con sóng cũng là nỗi nhớ nhung của bao người khác nhớ người mình yêu. Tâm trạng nhớ nhung của Xuân Quỳnh cũng là tâm trạng của bao người đang yêu:Lòng em đến anh,Cả trong mơ còn thức Cuộc sống của Xuân Quỳnh cũng giống cuộc sống cảu bao người khác, hạnh phúc của Xuân Quỳnh cũng là hạnh phúc của bao người khác. Dẫu xuôi về phương Bắc,Dẫu ngược về phương NamNơi nào em cũng nghỉHướng về anh – một phương Đọc khổ thơ chốt làm ta nghĩ về những cau thơ khác của Xuân Quỳnh Em trở về đúng nghĩa trái tim emLà máu thịt đời thường ai chẳng cóBiết ngừng đập lúc cuộc đời không nữaNhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi( Tự Hát) Có gì rất gần gũi giữa những câu thơ ấy vì cả hai khổ thơ tuy không cùng bài- nhưng là tự khẳng định tình yêu. Một tình yêu đẹp thì bao giờ cũng là một tình yêu biết vượt qua những khó khăn thử thách, biết đấu tranh để bảo vệ những ước mơ, nhưng khát vọng chân chính, biết tin tưởng vào tương lai của cuộc sống, tin tưởng vào hạnh phúc của mình và của mọi người. Và một tình yêu thuỷ chung son sắc thì bao giờ nỗi nhớ cũng có một điểm dừng- đó là người mình yêu. Ở ngoài kia đại dươngTrăm nghì con sóng đó,Con nào chẳng tới bờDù muôn vời cách trở.Cuộc đời tuy dài thế,Năm tháng vẫn đi qua,Mây vẫn bay về xa Xuân Quỳnh ý thức được những vất vả nhọc nhằn trong cuộc hành trình đến với hạnh phúc, nhưng là người có trái tim, Xuân Quỳnh lại có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu. Đấy là sức mạnh tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh, cái sức mạnh mà chẳng phải tình yêu nào cũng có được sức mạnh của niềm tin. Tình yêu rồi không phải hết ước mơ, dẫu tận cùng còn đường kia là hạnh phúc, và Xuân Quỳnh đã đi hết con đường dó thì chị vẫn ước mơ. Niềm tin trong thơ chị lớn lao thì ước mơ cũng lớn lao bấy nhiêu:Làm sao được tan ra,Thành trăm con sóng nhỏGiữa biển lớn tình yêuĐể ngàn năm còn vỗ Mơ ước tình yêu là vĩnh cửu, đến mơ ước cũng mang hình bóng của người tình nhân đắm say. Ở đây, Xuân Quỳnh có gì rất gần với “Biển” của Xuân Diệu. Chất đam mê mãnh liệt toát ra từ từng câu chữ khi Xuân Diệu viết: Đã hôn rồi hôn lạiCho đến mãi muôn đờiĐến tan cả đất trờiAnh mới thôi dào dạt Nhưng Xuân Diệu thì còn có một ngày sẻ “thôi dào dạt” còn Xuân Quỳnh thì “ ngàn năm còn vỗ”. Vân cái chất đam mê mãnh liệt ấy nhưng thêm vào đó là sự lắng đọng suy tư. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh có thêm chiều sâu của sự hoà nhập tuyệt đối. Như vậy, ai dám bảo tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh non nớt, giản đơn, ngọt ngào? Tình yêu trong thơ chỉ là nỗi khát khao, là sự kiếm tìm đến cái thánh thiện cảu mình. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh chất chứa chiều sâu tâm hồn, là tình yêu hạnh phúc với cuộc sống chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng là tình yêu sâu lắng cảu bao người khác đã yêu, đang yêu và sắp yêu. Đầy đủ sắc thái tâm trạng của người đang yêu: nỗi khát khao niềm đam mê bất tận nỗi nhớ nhung cùng sự sôi nỗi và suy tư lắng đọng…rồi cả ước mơ, Xuân Quỳnh đã diễn tả thật tinh tế và tài hoa trong bài thơ “ Sóng”. Sau này, ta sẽ còn bắt gặt một Xuân Quỳnh tha thiết, một Xuân Quỳnh nồng nàn, một Xuân Quỳnh nhân hậu trong nhiều bài thơ tình nữa, nhưng rõ ràng , ở bài “Sóng”, Xuân Quỳnh đã bộc lộ khá đầy đủ phong cách thơ của mình. Giữa những năm chiến tranh đầy máu lữa, thơ tình Xuân Quỳnh đã làm người ta tin vào sự sống, tin vào con người hơn nữa. Thơ tình Xuân Quỳnh mang lại khoảng bình yên cho tâm hồn người đọc, mang lại tình yêu cho đôi lứa đang yêu…  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX

SỰ TRI NHẬN NGÔN NGỮ BIỂU HIỆN THÂN THỂ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ VĂN XUÔI CUỐI THẾ KỈ XX

2.1. Lịch sử lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận và quá trình ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ 2.1.1. Trên thế giới Thời điểm ra đời chính thức của ngôn ngữ học tri nhận thường được tính là năm 1989, năm mà tại Duiburg (Đức) các nhà khoa học tham dự hội thảo đã thông qua và quyết định thành lập hội ngôn ngữ học tri nhận và sau đó bắt đầu ra tạp chí Cognitive Linguistics 23;15. Nhưng trong thực tế, ngôn ngữ học tri nhận đã manh nha từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Hai tiền đề cơ bản và trực tiếp thúc đẩy ngôn ngữ học tri nhận hình thành là Ngữ pháp tạo sinh (Generative gramar) cuả nhà toán học, ngôn ngữ học Chomsky và những thành tựu của khoa học tri nhận (Cognitive Science) thế hệ 2 George Lakoff và một số vấn đề về lí luận ngôn ngữ học tri nhận – tạp chí ngôn ngữ 52007;6971. Vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận xoay quanh thuật ngữ tri nhận (cognition). Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ Latin kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ. Đó là tất cả những quá trình trong đó các dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần để có thể lưu lại trong trí nhớ con người. Khoảng những năm 60 – 70 và đầu 80 thế kỉ trước, ban đầu các nghiên cứu chính tập trung ở nhóm học giả vùng ven biển phía tây nước Mĩ (Đại học California phân hiệu Berkely) chủ yếu khảo sát trên ngữ liệu Tiếng Anh. Bởi vậy, cho đến nay vẫn tồn tại cách hiểu ngôn ngữ học tri nhận theo nghĩa hẹp là ngữ nghĩa học tri nhận Mĩ của Lakoff và Johnson và ngữ pháp học tri nhận Mĩ (Langacker) và một số nghiên cứu khác của các học giả Châu Âu như Rudzka – Ostyn, Taylor, Geeraerts, Haiman… Tuy nhiên, càng ngày, ngôn ngữ học tri nhận càng mở rộng phạm vi và thu hút được sự quan tâm quả các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Do đó, phạm vi ngữ liệu chuyển từ tiếng Anh sang ngữ liệu của các ngôn ngữ khác trên thế giới (trong đó có tiếng Việt) để cùng so sánh và đối chiếu. Điều đó làm cho ngôn ngữ học tri nhận được hiểu rộng hơn và số lượng công trình nghiên cứu cùng kết quả thu được phong phú hơn. Ngôn ngữ học tri nhận có hai hướng nghiên cứu chính, đó là: Ngữ nghĩa học tri nhận với các tác giả tiêu biểu như Lakoff, Johnson, Rosch, Fillmore, Fauconnier, Turner… và Ngữ pháp học tri nhận của nhóm tên tuổi như : Talmy, Langacker, Goldberg…
Xem thêm

92 Đọc thêm

Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

TRUYỆN NGẮN LÀNG CỦA KIM LÂN GỢI CHO EM NHỮNG SUY NGHĨ GÌ VỀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI TRONG TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP.

Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài làm A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. B- Thân bài 1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. 2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. a. Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. - Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. - Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. b. Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. - Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng, ông nhớ quá cái khong khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa? - Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bìh luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. - Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. - Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. - Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. - Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. - Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông, bố của nó. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. + Qua đó, ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành. Tình cảm đó sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. - Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. - Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. 3. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. - Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. - Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. C- Kết bài: - Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. - Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.
Xem thêm

8 Đọc thêm

BÌNH GIẢNG ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI TIẾNG HÁT CON TÀU”CỦA CHẾ LAN VIÊN: "... NHỚ BẢN SƯƠNG GIĂNG, NHỚ ĐÈO MÂY PHỦ ... TÌNH YÊU LÀM ĐẤT LẠ HÓA QUÊ HƯƠNG"

BÌNH GIẢNG ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI TIẾNG HÁT CON TÀU”CỦA CHẾ LAN VIÊN: "... NHỚ BẢN SƯƠNG GIĂNG, NHỚ ĐÈO MÂY PHỦ ... TÌNH YÊU LÀM ĐẤT LẠ HÓA QUÊ HƯƠNG"

Đoạn thơ trên cho thấy vẻ đẹp văn chương và cốt cách thi sĩ của Chế Lan Viên. Thơ ông hàm súc, mang chất trí tuệ lại được trang phục bằng một thứ ngôn ngữ giàu hình tượng và truyền cảm. Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ giàu tài năng và sáng tạo. Hơn một nửa thế kỉ làm thơ, cảm hứng thơ của ông dào dạt như một dòng sông vỗ sóng. Từ Điêu tàn đến Ánh sáng và phù sa, hành trình thơ của Chế Lan Viên “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, vượt qua quá khứ nặng nề, u buồn, đến với cuộc đời, với nhân dân và đất nước. Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa là khúc hát say mê mang hương vị và tình yêu cuộc đời. Nhà thơ ví tâm hồn mình như con tàu “uống vầng trăng”, vùn vụt tiến lên phía trước đầy hăm hở trong bài ca xây dựng cuộc đời. Đến với Tây Bắc là trở về với nhân dân - những con người tình nghĩa. Đến với Tây Hắc là đến với “xứ thiêng lièng rừng núi đã anh hùng”. Suốt những năm dài kháng chiến được sống trong lòng nhân dân, bước chân nhà thơ đã đi qua nhiều miền đất nước: khu Bốn, khu Ba, Việt Bắc, Tây Bắc.. Bao kỉ niệm đầy ắp trong lòng về những con người, về những miền quê xa lạ, Trong hoài niệm, nhà thơ ân tình hát lên. Đây là đoạn thơ tiêu biểu trong phần hai bài Tiếng hát con tàu: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ ... Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Nỗi nhớ Tây Bắc đầy vơi trong lòng. Nhớ núi rừng, nhớ làng bản, nhớ những con đèo mây tráng phủ mờ, nhớ những “Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”. “Bản sương giăng” và “'đèo mây phủ” gợi tả cảnh núi rừng mịt mù, xa xôi nghìn trùng cách trở. Hai chữ “nhớ” trong vần thơ diễn tả sự tha thiết bồi hồi. Câu thơ cân xứng qua hai vế tiểu đối: “Nhớ bản sương giăng / / nhớ đèo mây phủ” với bao ân tình thương nhớ. Bao năm tháng qua, những dốc núi đèo cao, những làng bản mù sương, những nẻo đường một thời gian khổ vẫn còn vương vấn trong lòng. Những kỉ niệm đẹp một thời máu lửa đâu dễ quên. Nhà thơ tự hỏi lòng mình: “Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương?". Cùng là để khẳng định mình với tất cả niềm tự hào sâu sắc. Giọng thơ sâu lắng, êm ái, ngọt ngào. Nỗi nhớ và “yêu thương” cũng là tình cảm của người chiến sĩ Tây Tiến với núi rừng và con sông Mã miền Tây: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”. Câu thơ cùa Chế Lan Viên hàm chứa tình cảm đẹp, đồng thời phát hiện chiều sâu của tâm hồn và quy luật tình cảm cùa con người. Đó cũng là sự tổng kết đường đời, cách sống, đạo lí sống của người cán bộ kháng chiến. Hai câu thơ tiếp theo cấu trúc song hành, ánh lên vẻ đẹp trí tuệ. Đó là nét đặc sắc trong thơ Chế Lan Viên: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn. “Khi ta ở” rồi “khi ta đi” đã trải qua nhiều năm tháng? Hai cảnh ngộ, hai hoàn cảnh sống đã đổi thay. Thời gian và không gian, ở và đi, quá khứ và hiện tại không làm cho lòng dạ đổi thay, trái lại “đất đã hóa tâm hồn”, “nơi đất ở” trước đây, nay có sự chuyển hóa kì lạ: “Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Kẻ vô tâm và bất nghĩa thì “đi” là hết: “nơi đất ở” chỉ còn lại sự dửng dưng mà thôi. Có sống hết mình, sống đẹp với “nơi đất ở” thì khi xa cách, lòng ta mới mang theo bao kỉ niệm vui, buồn sâu sắc. Câu thơ là tiếng nói tình nghĩa ở đời, là niềm tự hào về cách ăn ở thủy chung sắt son. Tây Bắc - mảnh đất thiêng liêng, anh hùng đã mang tình sâu nghĩa nặng đối với nhà thơ và bao chiến sĩ. Bao chiến sĩ đã đem xương máu thắp sáng ngọn lửa Điện Biên thần kì. Mảnh đất ấy có bao con người tình nghĩa, để thương để nhớ trong lòng ta. Là anh du kích: “Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn - Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách - đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”. Là bà mế “lửa hồng soi tóc bạc”, tuy “không phải hòn máu cắt”. Nhưng “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. Là cô gái Tây Bắc "Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng”, để lại nhiều bâng khuâng “Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”. Vì thế thật là dễ hiểu mảnh đất ấy cùng với những con người như thế ấy sao mà “lòng lại chẳng yêu thương?’’. Có trải nghiệm, mới thấm thía vị đời và tình đời sâu nặng, mới cảm được cái diệu kì mơ hồ mà hiện hũu nơi sâu thẳm lòng người: “Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Con người có nhân hậu, biết sống trong đạo lí, biết ăn ở trong tình nghĩa thủy chung, có cả cái tâm đẹp và cái tài lớn mới viết nên những câu thơ mang màu sắc triết lí đẹp và hay như thế! Có điều thú vị là những triết luận ấy không chút khô khan mà chủ yếu là những xúc động của chính tâm hồn mình, được lay động và cất cánh thành lời ca. Triết luận ấy lại được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngứ giàu hinh tượng và cảm xúc nên đã khơi dậy trong mỗi chúng ta bao hoài niệm đẹp đối với miền quê đã gắn bó như nơi chôn nhau cắt rốn của riêng mình. Khổ thơ tiếp theo, mạch thơ đột ngột chuyến sang một rung cảm và suy tưởng khác - tình yêu và đất lạ: Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng, Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Nói về tình yêu - một tình yêu đẹp - Chế Lan Viên sử dụng liên tiếp những hình ánh so sánh ẩn dụ, tạo nên những vần thơ độc đáo, thi vị. Mỗi một so sánh là một liên tướng nói lên tình yêu và nỗi nhớ xôn xao, mơ màng và thấm thìa, lan tỏa trong lòng. Câu thơ “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”, thể hiện sự gắn bó yêu thương giữa hai trái tim, hai tâm hồn như quy luật kì diệu của thiên nhiên, của sự sống. Cánh kiến - sản phẩm của núi rừng, là chất kết dính. Hoa vàng tượng trưng cho vẻ đẹp êm dịu và thơ mộng. Để nói lên một tình yêu thắm thiết thơ mộng, tác giả có một cách nói mới lạ, đậm đà: “Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng”. Mùa xuân đến, trăm hoa đua nở, cây cỏ đâm chồi nảy lộc. Mùa xuân cũng là mùa của tình yêu, của sự sánh đôi, kết bầy, của cái đẹp nảy nở trong hạnh phúc: “Chim rừng Lông trở biếc” ca hót rộn ràng: “Của yến anh này đây khúc tình si" (Xuân Diệu). Nhà thơ Chế Lan Viên đã cụ thể khái niệm trừu tượng tình yêu thành những hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi thuộc với con người, nhất là đối với đồng bào miền núi. Nếu trong Việt Bắc. Tố Hữu đã nói về nỗi nhớ chiến khu với bao cung bậc thiết tha bồi hồi: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương, Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Thì ở trong bài thơ này, Chế Lan Viên nói về nỗi nhớ ấy với tất cả ân tình sâu nặng và được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ giàu mĩ cảm. Ở khô thơ trước có câu: “Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”, ở khổ thơ sau, tác giả lại viết: “Tinh yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Sống có ân nghĩa thì đất lạ mới "hóa tâm hồn”. Sống trọn tình yêu thì “Đất lạ hóa quê hương”. Ca dao có câu: “Đến đây thì ở lại đây - Bao giờ bén rễ xanh cây mới về”. Đó là sự níu giữ của tình yêu. Và cũng từ tình yêu này mà mở rộng, hòa quyện trong tình yêu một miền đất quê hương. Câu thơ: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương" như một mệnh đề ngắn gọn và cô đúc. Châm ngôn sống đẹp, thủy chung ở đây được khẳng định như một chân lí! Nên, như một hệ quả, ta không chỉ yêu nơi chôn rau cắt rốn của mình mà tâm hồn, tấm lòng còn rộng mở ra đến mọi miền quê. Tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đất nước. Tinh yêu đất lạ gắn liền với những con người mà mình từng mang trong lòng nghĩa nặng tình sâu. Chữ “hóa” trong câu thơ là một “nhãn tự’ thể hiện sự biến đổi kì diệu, từ lượng là “đất lạ” thành chốt là “quê hương” mà yếu tố quyết định là “tình yêu”. Câu thơ của Chế Lan Viên cho ta nhiều liên tưởng và suy tưởng để tự đó lòng mình, phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn và sự phong phú của tâm hồn mình. Đoạn thơ trên cho thấy vẻ đẹp văn chương và cốt cách thi sĩ của Chế Lan Viên. Thơ ông hàm súc, mang chất trí tuệ lại được trang phục bằng một thứ ngôn ngữ giàu hình tượng và truyền cảm. Giọng thơ tha thiết, đằm thắm, Đến với nhân dân, sống trong lòng nhân dân là trở về cội nguồn hạnh phúc để cống hiến và sáng tạo. Bài học về tình nghĩa, về thủy chung trong tình yêu được diễn tả một cách thắm thìa. Những tình cảm sâu sắc ấy và chân thành ấy là tấm lòng của thi sĩ đối với đất nước và nhân dân được diễn tả một cách tài hoa, giàu cá tính sáng tạo trong bài thơ Tiếng hát con tàu. Trích: Loigiahay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÌNH YÊU LÀ CÁI CHI

TÌNH YÊU LÀ CÁI CHI

TÌNH YÊU LÀ CÁI CHI? NHỮNG ĐỊNHNGHĨA VỀ TÌNH YÊU CỦA NHỮNG CÂYBÚT NỔI TIẾNGrubi | July 5, 2016 | Tình Cảm, Giới Tính | No CommentsSau đây là những cảm nhận sâu sắc đáng nhớ nhất và trường tồn theo thời gian, được chắt lọc từ400 năm lịch sử văn chương Tây phương.(Những cuốn sách có nhan đề tiếng Việt kèm theo tức là những cuốn đã có bản dịch tiếng Việt.)Kurt Vonnegut được cho người kẻ cực đoan về tình yêu nhưng trong tác phẩm The Sirens ofTitanông đã đưa ra một nhận định lành mạnh về sự bất tôn kính đối với tình yêu:“Mục tiêu của đời người, bất kể ai đang kiểm soát nó, chính là yêu thương bấtkì ai ở xung quanh muốn được yêu thương.”Anaïs Nin, một người có hiểu biết vô ngần về tình yêu, trong cuốn A Literate Passion: Letters ofAnaïs Nin & Henry Miller, 1932-1953:“Tình yêu là cái chi nếu không phải là việc chấp nhận người kia, cho dù ngườiđó là gì đi chăng nữa.”Stendhal trong tác phẩm tuyệt diệu về tình yêu năm 1822 On Love:“Tình yêu tựa như cơn sốt đến rồi đi hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí conngười – không có giới hạn tuổi tác nào đối với tình yêu.”C. S. Lewis, một người cực kì thông tuệ, trong tác phẩm The Four Loves:“Không có sự đầu tư nào an toàn hết. Yêu chính là lúc ta dễ bị tổn thương. Yêubất kì điều gì, và con tim bạn chắc chắn sẽ bị giày vò và dễ bị tan vỡ. Nếu bạn
Xem thêm

15 Đọc thêm

LEARNING LIKE CHILDREN

LEARNING LIKE CHILDREN

Năm 1984, Trung tâm ngôn ngữ Đại học Mỹ ở Bangkok đã bắt đầu sử dụng một cách tiếp cận mới để dạy ngôn ngữ Thái. Phương pháp đó gọi là “Tiếp cận lắng nghe”. Trong những năm gần đây, nó trở nên được biết như là một phương pháp “Phát triển ngôn ngữ tự động”.

5 Đọc thêm

Slide Ruby on rails (Nâng cao)

SLIDE RUBY ON RAILS (NÂNG CAO)

Ruby on Rails (RoR) là một web framework được viết bằng ngôn ngữ Ruby và tất cả các ứng dụng trong Rails sẽ được viết bằng Ruby. Ruby on Rails được tạo ra để hỗ trợ các lập trình viên việc phát triển các phần mềm nền web một cách nhanh nhất có thể.Rails framework tận dụng các đặc điểm của ngôn ngữ Ruby. Yukishiro Matzumoto viết ra ngôn ngữ này vào năm 1995, nó khá giống với các ngôn ngữ thông dịch khác như Perl, Eiffel, Python…. Ruby là ngôn ngữ script, định nghĩa kiểu động và là một ngôn ngữ hướng đối tượng, nó được thiết kế với một cú pháp trong sáng, tạo cảm giác dễ đọc, và viết code ngắn gọn nhất có thể đối người dùng, ví dụ như nó không cần dấu chấm phẩy khi kết thúc câu lệnh, không cần các dấu ngoặc đơn khi khai báo các phương thức, có những đoạn code thậm chí được viết giống như việc chúng ta viết tiếng anh vậy.
Xem thêm

54 Đọc thêm