TĂNG HUYẾT ÁP TÂM THU ĐƠN ĐỘC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TĂNG HUYẾT ÁP TÂM THU ĐƠN ĐỘC":

TĂNG HUYẾT ÁP THEO HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM 2007

TĂNG HUYẾT ÁP THEO HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM 2007

tăng huyết áp theo hội tim mạch học việt nam 2007.
I.Đại cương  THA là bệnh rất thường gặp và là 1 vấn đề xã hội.  THA nguy hiểm bởi các biến chứng có thể gây tử vong,hoặc để lại di chứng nặng nề.
II. Định nghĩa THA a. Định nghĩa  Theo WHO và ISH: THA là khi HA tâm thu ≥ 140mmHg vàhoặc HA tâm trương ≥ 90mmHg.  Con số này có được dựa trên những nghiên cứu lớn về dịch tễ :  Có sự gia tăng đặc biệt tỉ lệ TBMMN ở người lớn có HA ≥ 14090 mmHg  Tỉ lệ TBMMN giảm rõ rệt ở người có HA ≤ 14090 mmHg
b. Một số định nghĩa khác  THA tâm thu đơn độc  Là khi HA tâm thu ≥ 140mmHg và HA tâm trương <90 mmHg.  Hay gặp ở người cao tuổi  Sự gia tăng trị số HA tâm thu và HA hiệu số là 1 yếu tố tiên lượng các biến cố tim mạch.  THA tâm trương đơn độc  Là khi HA tâm thu < 140mmHg và HA tâm trương ≥ 90 mmHg.  Thường gặp ở người trung niên.  THA “áo choàng trắng” và hiệu ứng “áo choàng trắng”  Là tình trạng HA tăng cao khi đo ở cơ sở y tế nhưng HA hàng ngày hoặc đo 24h lại bình thường.  Chẩn đoán THA “áo choàng trắng”: Khi đo HA nhiều lần đi khám ≥ 14090 mmHg ,trong khi đó HA 24h trung bình <12580 mmHg.
 Đây có thể là khởi đầu của THA thực sự và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch.  Chỉ điều trị thuốc khi có bằng chứng tổn thương cơ quan đích hoặc nguy cơ tim mạch cao.  THA ẩn dấu  Là tình trạng HA bình thường khi đo tại cơ sở y tế,nhưng đo tại nơi khác lại cao.  Phát hiện bằng theo dõi HA liên tục 24h  Chẩn đoán khi HA trung bình 24h ≥12580 mmHg.  THA giả tạo  Đo HA bằng băng quấn tay cao  Nguyên nhân do ở người lớn tuổi các ĐM ngoại biên rất cứng,nên khi đo HA cần phải bơm áp lực cao hơn để nén lại.  Dấu hiệu Osler dương tính: ĐM cánh tay hoặc ĐM quay vẫn bắt được dù băng quấn đã được bơm căng.  Chẩn đoán xác định :Đo HA thực tế trong lòng động mạch không cao  Tăng huyết áp dao động  Là khi HA đo được có lúc cao hơn 14090 có lúc thấp hơn mặc dù chưa dùng thuốc tăng huyết áp.  Đây một dạng nhẹ của tăng huyết áp.  Chưa cần điều trị thuốc nhưng cần điều chỉnh lối sống  Hạ HA tư thế  Là khi HATT giảm trên 20 mmHg hoặc HATTr giảm trên 10 mmHg, trong vòng 3 phút khi chuyển từ tư thế nằm sang thư thế đứng.  Nguyên nhân thường do rối loạn TK thực vật hoặc biến chứng ĐTĐ  Bệnh nhân hạ HA tư thế đứng có thể ngất do HA thay đổi quá nhanh và quá nhiều.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Nghiên cứu tăng huyết áp ở bệnh nhân tai biến mạch máu não có rối loạn lipid máu và không rối loạn lipid máu

NGHIÊN CỨU TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CÓ RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ KHÔNG RỐI LOẠN LIPID MÁU

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là trình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi, do tắc hoặc vở mạch máu não. Ngày nay, TBMMN là vấn đề thời sự cấp thiết do ngày càng gia tăng, tỷ lệ tử vong cao, để lại nhiều di chứng, là gánh nặng cho gia đình và xã hội, việc điều trị còn nhiều hạn chÕ ngay cả ở các nước phát triển 6, 1. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế giối, Tại Mỹ, TBMMN là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 chỉ sau bệnh tim mạch và ung thư. Tại Việt Nam, theo một số thống kê từng thời kỳ 35 năm ở các tỉnh thành cho thấy BN nội trú TBMMN tăng từ 1,7 đến 2,5 lần. Tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai (2007), sè BN TBMMN chiếm 27,3% tổng số BN của khoa.14.Dự đoán đến năm 2020, tai biến mạch máu não có thể là bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới.6. Dự phòng TBMMN trước hết phải dự phòng và điều trị THA và RLLP máu. Tăng huyết áp (THA) có xu hướng tăng cao và nhanh; các số liệu thống kê điều tra tăng huyết áp ở Việt Nam cho thấy: năm 1982 là 1,9% dân số và năm 1992 tăng lên 11,79% dân số và năm 2002 ở miền Bắc là 16,3% 35. Điều này, kéo theo tỷ lệ mới mắc TBMMN cũng có xu hướng gia tăng. Khi tỷ lệ THA càng cao sẽ càng làm gia tăng tỷ lệ TBMMN.28.Trong khuyến cáo của ủy ban chuyên trách về TBMMN thuộc hội tim mạch Hoa Kỳ. Người ta làm giảm đáng kể nguy cơ TBMMN ở người THA bằng điều trị THA. Ở bệnh nhân THA, giảm HA tâm trương trung bình 6mmHg sẽ làm giảm 42% nguy cơ TBMMN. Trong nghiên cứu về điều trị THA tâm thu đơn độc >160mmHg kết quả so với nhúm khụng điều trị giảm 36% nguy cơ TBMMN 1.
Xem thêm

113 Đọc thêm

TĂNG HUYẾT ÁP

TĂNG HUYẾT ÁP

Việt nam chưa có số liệu toàn dân ngoài một số thống kê lẻ tẻ tại một số trung tâm y tếvới tỉ lệ xấp xỉ 12% tại các thành phố lớn. Hội chứng chuyển hóa sẽ có thể gia tănghơn nữa trong vài năm tới, chủ yếu vì sự gia tăng nhanh chóng nạn béo phì.Hội chứng chuyển hóa ở nam giới làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành gây tử vong gấp4 lần và tăng nguy cơ BTM và tỷ lệ tử vong chung gấp 2 lần, ngay cả khi đã hiệuchỉnh theo tuổi, LDL-C, thói quen hút thuốc lá và tiền sử gia đình có bệnh mạch vành.Hội chứng chuyển hóa liên quan với việc tăng nguy cơ bệnh mạch vành ở nữ. Bệnhnhân có hội chứng chuyển hóa nguy cơ bị ĐTĐ lên gấp 5-9 lần.Xử trí lâm sàng hộichứng chuyển hóa bao gồm: - Thay đổi lối sống thích hợp là bước ngoặt quan trọngtrong xử lý lâm sàng ở người trưởng thành. - Điều trị thừa cân và béo phì được tómlược trong phần tiếp theo dựa vào những nguyên tắc cơ bản trong bản hướng dẫn lâmsàng về nhận biết, đánh giá và điều trị thừa cân và béo phì ở người trưởng thành. Hộichứng chuyển hóa có thể cải thiện khi tăng hoạt động thể lực.Đại đa số những người có hội chứng chuyển hóa rơi vào nhóm tiền THA hoặc THA độ1. Cải thiện lối sống là bước ngoặt quan trọng trong điều trị tất cả các bệnh nhân tiềnTHA hay hội chứng chuyển hóa, nhưng nếu HA&gt;140/90 mm Hg thì phải chỉ định điềutrị thuốc.Tăng trigiyceride và giảm HDL là các bất thường điển hình về lipid trong Hội chứngchuyển hóa. Tăng LDL không phải là triệu chứng chính của Hội chứng chuyển hóanhưng nó có vai trò quan trọng trong trí lâm sàng. Tất cả bệnh nhân có bất thườnglipid về LDL, HDL hay triglyceride nên được điều trị.Suy giảm sự dung nạp glucose và ĐTĐ: Thay đổi lối sống đơn giản nhất gồm dinhdưỡng hợp lý và tăng hoạt động thể lực có thể giảm khả năng bị ĐTĐ gần 60% ởnhững người có nguy cơ cao.6.5.5. THA ở bệnh nhân ĐTĐSo với người không bị ĐTĐ, THA gặp ở người ĐTĐ nhiều gấp đôi. Đặc điểm THA ởĐTĐ là tỷ lệ THA TÂM THU đơn độc rất cao. Riêng ĐTĐ type 2, THA gặp ở nữnhiều hơn nam và HATT tăng theo tuổi ở nữ chậm hơn. Ngoài mức độ thường gặp
Xem thêm

40 Đọc thêm

Báo cáo thực tập cộng đồng về bệnh Tăng Huyết Áp

BÁO CÁO THỰC TẬP CỘNG ĐỒNG VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Đại cương

Dịch tễ học

Tăng huyết áp là triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân nhưng có thể là một bệnh, bệnh tăng huyết áp, nếu không tìm thấy nguyên nhân. Ở các nước Châu Âu Bắc Mỹ tỷ lệ tăng huyết áp trong nhân dân chiếm 15 20% ở người lớn. Cụ thể như sau: Benin 14% Thái lan: 6.8% Zaire:14% Chile: 1921%, Portugaise: 30%, Hoa kỳ: 68%. Nhìn chung tỉ lệ rất thay đổi. Ở Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp chung là 11,8% (Bộ Y Tế Việt Nam, 1989). Tỉ lệ này gia tăng đáng quan tâm vì trước 1975 tỉ lệ này ở miền Bắc Việt nam chỉ có 13%(Đặng Văn Chung). Tại BVTW Huế năm 1980 tỉ lệ tăng huyết áp trong số các bệnh nội khoa chỉ có 1% nhưng 10 năm sau, năm 1990, đã tăng đến 10%. Thống kê gần đây nhất của Viện Tim Mạch tại Miền Bắc Việt Nam cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp là 16,3% (2002).

Định nghĩa

Tổ chức Tăng huyết áp Thế giới và Uỷ ban Quốc gia Cộng lực Hoa kỳ (1997) đều thống nhất một người lớn bị tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu trên hoặc bằng 140mmHg và hoặc huyết áp tâm trương trên hoặc bằng 90mmHg.

Định nghĩa này đơn giản nhưng có nhược điểm là trị số huyết áp không hoàn toàn ổn định và huyết áp thay đổi theo tuổi, giới...

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân

Tăng huyết áp nguyên phát:

Chiếm gần 90% trường hợp bị tăng huyết áp (theo Gifford Weiss).

Tăng huyết áp thứ phát:

Bệnh thận: Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn hai bên do mắc phải thận đa năng, ứ nước bể thận, u thận làm tiết rénin, hẹp động mạch thận...

Nội tiết:

Bệnh vỏ tuyến thượng thận, hội chứng Cushing, hội chứng Conn, u sản xuất quá thừa các Corticosteroid khác (Corticosterone, desoxycortisone), sai lạc trong sinh tổng hợp Corticosteroid.

Bệnh tủy thượng thận, u tủy thượng thận (Pheochromocytome).

Bệnh tim mạch: Bệnh hẹp eo động mạch chủ, viêm hẹp động mạch chủ bụng cho xuất phát động mạch thận, hở van động mạch chủ.

Thuốc: Các Hormone ngừa thai, cam thảo, carbenoxolone, A.C.T.H. Corticoides, Cyclosporine, các chất gây chán ăn, các IMAO, chất chống trầm cảm vòng.

Nhiễm độc thai nghén.

Các nguyên nhân khác: Bệnh cường giáp, bệnh Beriberi. Bệnh Paget xương, bệnh đa hồng cầu, hội chứng carcinoid, toan hô hấp, tăng áp sọ não...

Một số yếu tố nguy cơ

Được xem như có liên quan đến tăng huyết áp nguyên phát tuy vẫn còn bàn cãi đó là:

Yếu tố di truyền, bệnh tăng huyết áp có tính gia đình.

Yếu tố ăn uống, ăn nhiều muối, ăn ít protit, uống nhiều rượu, uống nước mềm ít Ca++, Mg++, K+. Trong đó nổi bật và được thừa nhận là sự liên quan giữa ion Na+ và tần suất bệnh tăng huyết áp. Ion Na+ làm tăng huyết áp qua trung gian gia tăng thể tích máu và nhất là qua sự co thắt mạch máu.

Yếu tố tâm lý xã hội, có tình trạng căng thẳng (stress) thường xuyên.

Cơ chế sinh bệnh của tăng huyết áp nguyên phát

Tăng huyết áp động mạch thường kèm theo những biến đổi về sinh lý bệnh liên quan đến hệ thần kinh giao cảm, thận, reninangiotensin và các cơ chế huyết động, dịch thể khác.

Biến đổi về huyết đông:

Tần số tim tăng, lưu lượng tim tăng dần, thời kỳ đầu có hiện tượng co mạch để phân bổ lại máu lưu thông từ ngoại vi về tim phổi do đó sức cản mạch máu cũng tăng dần. Tim có những biểu hiện tăng hoạt động bù trừ và dẫn đến dày thất trái. Huyết áp và sức cản ngoại biên toàn bộ tăng dần. Lưu lượng tim và lưu lượng tâm thu càng giảm, cuối cùng đưa đến suy tim.

Trong các biến đổi về huyết đông, hệ thống động mạch thường bị tổn thương sớm cả toàn bộ. Trước kia người ta nghĩ chỉ có các tiểu động mạch bị biến đổi co mạch làm gia tăng sức cản ngoại biên. Hiện nay, người ta thấy các mạch máu lớn cũng có vai trò về huyết động học trong tăng huyết áp. Chức năng ít được biết đến của các động mạch lớn là làm giảm đi các xung động và lưu lượng máu do tim bóp ra. Do đó thông số về độ dãn động mạch (compliance artérielle) biểu thị tốt khả năng của các động mạch. Sự giảm thông số này cho thấy độ cứng của các động mạch lớn, là diễn biến của tăng huyết áp lên các động mạch và về lâu dài sẽ làm tăng công tim dẫn đến phì đại thất trái. Đồng thời việc gia tăng nhịp đập (hyperpulsatilité) động mạch đưa đến sự hư hỏng các cấu trúc đàn hồi sinh học (bioelastomeres) của vách động mạch.

Tại thận, tăng sức cản mạch thận, giảm lưu lượng máu tại thận chức năng thận suy giảm tuy trong thời gian đầu tốc độ lọc cầu thận và hoạt động chung của thận vẫn còn duy trì.

Tại não, lưu lượng vẫn giữ được thăng bằng trong một giới hạn nhất định ở thời kỳ có tăng huyết áp rõ.

Khi huyết áp tăng, sức cản ngoại biên tăng thể tích huyết tương có xu hướng giảm cho đến khi thận suy thể tích dịch trong máu tăng có thể tăng đưa đến phù.

Biến đổi về thần kinh:

Ở thời kỳ đầu ảnh hưởng của hệ giao cảm biểu hiện ở sự tăng tần số tim và sự tăng lưu lượng tim. Sự hoạt động của hệ thần kinh giao cảm còn biểu hiện ở lượng Catecholamine trong huyết tương và dịch não tủy như adrenaline, no adrenaline, tuy vậy nồng độ các chất này cũng rất thay đổi trong bệnh tăng huyết áp.

Hệ thần kinh tự động giao cảm được điều khiển bới hệ thần kinh trung ương hành nãotủy sống và cả hai hệ này liên hệ nhau qua trung gian các thụ cảm áp lực.

Trong tăng huyết áp các thụ cảm áp lực được điều chỉnh đến mức cao nhất và với ngưỡng nhạy cảm cao nhất.

Biến đổi về dịch thể:

Hệ ReninAngiotensine Aldosterone (RAA): Hiện nay đã được chứng minh có vai trò quan trọng do ngoài tác dụng ngoại vi còn có tác dụng trung uơng ở não gây tăng huyết áp qua các thụ thể angiotensine II (UNGER1981, M. PINT, 1982). Có tác giả chia tăng huyết áp nguyên phát dựa vào nồng độ renine cao, thấp trong huyết tương, có sự tỷ lệ nghịch giữa nồng độ renineangiotensine II trong huyết tương và tuổi.

Angiotensine II được tổng hợp từ angiotesinegène ở gan và dưới tác dụng renine sẽ tạo thành angiotesine I rồi chuyển thành angiotesine II là một chất co mạch rất mạnh và làm tăng tiết aldosterone. Sự phóng thích renine được điều khiển qua ba yếu tố: Áp lực tưới máu thận lượng Na+ đến từ ống lượn xa và hệ thần kinh giao cảm. Sự thăm dò hệ R.A.A, dựa vào sự định lượng renine trực tiếp huyết tương hay gián tiếp phản ứng miễn dịch và angiotensine II, nhưng tốt nhất là qua tác dụng của các ức chế men chuyển.

Vasopressin (ADH): có vai trò khá rõ ràng trong cơ chế sinh bệnh tăng huyết áp có tác dụng trung ương giảm huyết áp (qua trung gian sự tăng tính nhạy cảm thần kinh trung ương đối với phản xạ áp từ xoang động mạch cảnh và quai động mạch chủ) tác dụng ngoại vi co mạch (trực tiếp và qua hoạt hóa các sợi Adrenergic) (J.F. Liard, 1982. B.Bohns,1982).

Chất Prostaglandin: tác dụng trung ương làm tăng huyết áp, tác dụng ngoại vi làm giảm huyết áp (F.H. UNGER, 1981; MA Petty, 1982).

Ngoài ra còn có vai trò của hệ KalliKrein Kinin (K.K.K) trong bệnh tăng huyết áp và một số hệ có vai trò chưa rõ như: hệ Angiotensine trong não và các encephaline, hệ cường dopamine biến đổi hoạt động thụ cảm áp lực. Một cơ chế điều hòa liên quan đến các thụ thể Imidazolique ở trung ương và ngoại biên đã được ghi nhận từ những năm 80 với sự xuất hiện thuốc huyết áp tác dụng lên thụ cảm Imidazole gây dãn mạch.

Cơ chế sinh bệnh của tăng huyết áp thứ phát: Tùy vào nguyên nhân gây bệnh.

Triệu chứng

Cơ năng

Đa số bệnh nhân tăng huyết áp không có triệu chứng gì cho đến khi phát hiện bệnh. Đau đầu vùng chẩm là triệu chứng thường gặp. Các triệu chứng khác có thể gặp là xoàng, hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt... Không đặc hiệu. Một số triệu chứng khác của tăng huyết áp tùy vào nguyên nhân tăng huyết áp hoặc biến chứng tăng huyết áp.

Thực thể

Đo huyết áp: Là động tác quan trọng, cần bảo đảm một số quy định.

Băng cuốn tay phải phủ được 23 chiều dài cánh tay, bờ dưới băng quấn trên khuỷu tay 2cm. Nếu dùng máy đo thủy ngân nếu dùng loại lò xo phải điều chỉnh 6 tháng 1 lần.

Khi đo cần bắt mạch trước. Nên bơm đến khoảng 30mmHg trên mức áp lực đã làm mất mạch (thường trên 200mmHg) xả xẹp nhanh ghi áp lực khi mạch tái xuất hiện, xả xẹp hết. Đặt ống nghe lên động mạch cánh tay, bơm nhanh bao hơi đến mức 30mmHg trên áp lực đã ghi, xả chậm từ từ với tốc độ 2mmHg trong 1 giây (hay mỗi nhịp đập). Huyết áp tâm trương nên chọn lúc mất mạch (pha V Korottkoff). Ở trẻ em và và phụ nữ có thai nên chọn pha IV Korottkoff.

Nếu đo lại lần 2 cần chờ 30 giây. Nếu loạn nhịp tim phải đo lại lần 3 và lấy trung bình cộng của các trị số.

Phải đo huyết áp nhiều lần, trong 5 ngày liền. Đo huyết áp cả chi trên và chi dưới, cả tư thế nằm và đứng. Thông thường chọn huyết áp tay trái làm chuẩn.

Dấu hiệu lâm sàng

Bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn trong hội chứng Cushing, cơ chi trên phát triển hơn cơ chi dưới trong bệnh hẹp eo động mạch chủ. Tìm các biểu hiện xơ vữa động mạch trên da (u vàng, u mỡ, cung giác mạc..).

Khám tim mạch có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu suy tim trái, các động mạch gian sườn đập trong hẹp eo động mạch chủ. Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động mạch cảnh trong động mạch chủ bụng...

Cần lưu ý hiện tượng (huyết áp giả) gặp ở những người già đái đường, suy thận do sự xơ cứng vách động mạch làm cho trị số huyết áp đo được cao hơn trị số huyết áp nội mạch. Có thể loại trừ bằng cách dùng “thủ thuật” Osler hay chính xác nhất là đo huyết áp trực tiếp. Một hiện tượng khác cũng đang được cố gắng loại trừ là hiệu quả “áo choàng trắng” bằng cách sử dụng phương pháp đo liên tục huyết áp (Holter tensionnel).

Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn trong hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc khám phát hiện thận to, thận đa nang.

Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch não cũ hoặc nhẹ.

Cận lâm sàng

Cần đơn giản, mục đích để đánh giá nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân.

Billan tối thiểu (theo Tổ chức Y tế thế giới):

Máu: Kali máu, Créatinine máu, Cholestérol máu, Đường máu, Hématocrite, Acide Uric máu. Nước tiểu: Hồng cầu, Protein.

Nếu có điều kiện nên làm thêm, soi đáy mắt, điện tim, X quang tim, siêu âm...

Các xét nghiệm hay trắc nghiệm đặc biệt:

Đối với tăng huyết áp thứ phát hay tăng huyết áp khó xác định.Ví dụ: Bệnh mạch thận:cần chụp U,I,V nhanh, thận đồ, trắc nghiệm Saralasin. U tủy thượng thận (Pheochromocytome): định lượng Catecholamine nước tiểu trong 24 giờ, trắc nghiệm Régitine.

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Cần phải chẩn đoán sớm và đúng đắn bệnh THA. Chủ yếu bằng cách đo huyết áp theo đúng các quy định đã nêu trên. Tuy nhiên điều quan trọng là nên tổ chức những đợt khám sức khỏe để khám xét toàn diện nhằm phát hiện sớm những trường hợp tiềm tàng hoặc chưa có triệu chứng.

Chẩn đoán giai đoạn tăng huyết áp

Có hai cách phân giai đoạn, trong đó phân giai đoạn của tổ chức y tế thế giới chi tiết và thích hợp hơn.

Theo tổ chức y tế thế giới (1996) chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn I: Tăng huyết áp thật sự nhưng không có tổn thương thực thể các cơ quan.

Giai đoạn II: Có ít nhất một trong các biến đổi các cơ quan sau:

Dày thất trái: Phát hiện bằng lâm sàng, X quang, điện tim, siêu âm.

Hẹp lan tỏa hay từng vùng các động mạch võng mạc (giai đoạn I và II đáy mắt của KeithWagenerBaker).

Thận:Anbumine niệu vi thể, Protein niệu, uré hoặc créatinine máu tăng nhẹ.(1.22 mg%).

Có hình ảnh mãng vữa xơ động mạch trên siêu âm hoặc X quang (ở động mạch chủ, động mạch cảnh, động mạch chậu hoặc động mạch đùi)

Giai đoạn III: Có dấu hiệu chức năng và thực thể do tổn thương các cơ quan đích:

Tim: Suy tim trái, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.

Não: Tai biến mạch não thoáng qua, xuất huyết não, tiểu não hoặc thân não. Bệnh não tăng huyết áp. Loạn thần do mạch não (vascular dementia)

Đáy mắt: Xuất huyết võng mạc xuất tiết có hay không có phù gai thị (giai đoạn III và IV) các dấu hiệu này là đặc biệt của giai đoạn ác tính (giai đoạn tiến triển nhanh).

Các biểu hiện khác thường gặp ở giai đoạn III nhưng không đặc hiệu lắm của tăng huyết áp.

Thận: Creatinine huyết tương tăng rõ (> 2mg%), suy thận.

Mạch máu: Phồng tách, bít tắc động mạch, tắc động mạch ngoại biên có triệu chứng rõ.

Tăng HA ác tính hay tiến triển nhanh là một hội chứng gồm có:

Huyết áp tối thiểu rất cao trên 130mmHg.

Đáy mắt giai đoạn III và IV theo KeithWeigener.

Có biến chứng ở thận, tim, não.

Bệnh nhân trẻ tuổi dưới 40.

Tiến triển nhanh, tử vong trong vòng 23 năm.

Phân loại HA ở người lớn ≥ 18 tuổi (theo JNC VII, 2003)

Tăng huyết áp

HA tâm thu (mmHg)



HA tâm trương (mmHg)

HA bình thường

Tiền THA

THA giai đoạn 1

THA giai đoạn 2

< 120

120 139

140 – 159

≥ 160



hoặc

và hoặc

hoặc

< 80

80 – 90

90 99

≥ 100

Phân loại tăng huyết áp

Theo tính chất:

Tăng huyết áp thường xuyên:như tăng huyết áp lành tính và tăng huyết áp ác tính.

Tăng huyết áp giao động, huyết áp có lúc cao, có lúc bình thường.

Theo nguyên nhân:

Tăng huyết áp nguyên phát (vô căn).

Tăng huyết áp thứ phát.

Tiến triển và biến chứng

Tim:

Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và nguyên nhân gây tử vong cao nhất đối với tăng huyết áp. Dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái. Để đối phó sức cản ngoại biên nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra. Dần dần suy tim trái và với khó thở khi gắng sức, hen tim hoặc phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ với phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. Xquang và điện tim có dấu dày thất phải.

Suy mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình hay chỉ có loạn nhịp. Điện tim có ST chênh xuống dưới đường thẳng điện ở các chuyển đạo tim trái, rõ hơn ở chuyển đạo Pescador khi biến chứng nhồi máu sẽ xuất hiện sóng Q hoại tử.

Não:

Tai biến mạch não, thường gặp như nhũn não, xuất huyết não, tai biến mạch não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú chỉ kéo dài, không quá 24giờ hoặc bệnh não do tăng huyết áp với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mữa, nhức đầu dữ dội.

Thận:

Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh.

Xơ thận gây tình trạng suy thận dần dần.

Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây tăng huyết áp ác tính.

Ở giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ Renin và angiotensine II trong máu gây cường aldosterone thứ phát.

Mạch máu:

Tăng huyết áp là yếu tố sinh vữa xơ động mạch, tạo điều kiện cho sự hình thành vữa xơ động mạch.

Phồng động mạch chủ, bóc tách. Hiếm gặp nhưng bệnh cảnh rất nặng nề dễ đưa đến tử vong.

Mắt: Khám đáy mắt rất quan trọng vì đó là dấu hiệu tốt để tiên lượng. Theo Keith WagenerBarker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt.

Giai đoạn 1: Tiểu động mạch cứng và bóng.

Giai đoạn 2: Tiểu động mạch hẹp có dấu bắt chéo (dấu Gunn).

Giai đoạn 3: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc.

Giai đoạn 4: Phù lan tỏa gai
Xem thêm

39 Đọc thêm

HUYẾT ÁP CAO CÓ THỂ GÂY MÙ MẮT

HUYẾT ÁP CAO CÓ THỂ GÂY MÙ MẮT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Huyết áp tăng cao làm tổn thương những mạch cung cấp máu cho võng mạc, ảnh hưởng tới thị lực, nếu không phát hiện sớm để điều trị thì nguy cơ mù rất cao. Bình thường số đo huyết áp tâm thu dao động từ 90 đến 139 mmHg và huyết áp tâm trương từ 60 đến 89 mmHg. Bệnh tăng huyết áp là một bệnh lý trong đó trị số  huyết áp lúc nghỉ cao hơn mức bình thường: Tăng huyết áp thu đơn thuần khi ≥ 140 mmHg, Tăng huyết áp tâm trương đơn thuần khi ≥ 90 mmHg, hoặc tăng cả hai. Tăng huyết áp có thể gây mù Tăng huyết áp là một bệnh tim mạch thường gặp, các biến chứng của bệnh là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu ở người lớn tuổi. Bệnh tăng huyết áp tiến triển lâu ngày sẽ gây tổn thương nhiều cơ quan như: não, tim, thận, mắt, mạch máu... Tăng huyết áp làm giảm tuổi thọ 10 – 20 năm và nguy cơ biến chứng sẽ diễn ra sau 7 – 10 năm mắc bệnh, trên 50% sẽ có tổn thương cơ quan đích: tai biến mạch máu não, bệnh võng mạc, suy thận... Mùa đông, những người mắc bệnh huyết áp cao rất khó khăn trong việc giữ gìn sức khỏe. Huyết áp không dễ khống chế, nguy hiểm chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng. Mùa đông, nhiệt độ cơ thể thấp, cơ thể vì muốn duy trì thân nhiệt ổn định, giảm bớt sự toả nhiệt, các mao mạch sẽ co lại khiến lực cản huyết quản điều tiết bên ngoài tăng lên. Bên cạnh đó, nhiệt độ thấp nên ra mồ hôi ít, khiến dung lượng máu tăng lên. Nếu ăn quá nhiều các chất đường, béo... sẽ khiến khả năng hấp thụ và trữ nước trong cơ thể tăng, làm cho dung lượng máu trong cơ thể tăng theo. Ngoài ra, tâm trạng hàng ngày như lo lắng, căng thẳng, tức giận… sẽ làm cho huyết áp không dễ khống chế.   Cao huyết áp là căn bệnh thường gặp ở người già (Ảnh minh họa) Trong trường hợp thời tiết thay đổi, tính giao động của huyết áp tăng cao, nguy cơ chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng, đặc biệt là xuất huyết não, đứt mạch máu do thiếu máu và tử vong do nhồi máu cơ tim.  ThS.BS Nguyễn Diệu Linh, bệnh viện Mắt Trung ương, huyết áp tăng cao làm tổn thương những mạch cung cấp máu cho võng mạc, dẫn đến tổn thương các tế bào của võng mạc, gây giảm thị lực, nếu không phát hiện sớm để điều trị thì nguy cơ mù rất cao. Thông thường, bệnh nhân không tự phát hiện được các triệu chứng sớm của bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp (có thể có một số triệu chứng đi kèm như đau đầu và các rối loạn về thị lực). Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh võng mạc tăng huyết áp nên phương pháp điều trị chủ yếu là điều trị huyết áp. Có thể bổ sung thuốc tăng cường tuần hoàn, thuốc giãn mạch, bền thành mạch. Để phòng ngừa bệnh võng mạc do tăng huyết áp, bệnh nhân tăng huyết áp phải điều trị huyết áp ổn định, đi khám mắt định kỳ và tiến hành soi đáy mắt để có hướng điều trị, tránh gây tổn thương mắt dẫn tới mù loà. Lưu ý đối với người tăng huyết áp Các thói quen sinh hoạt không tốt cũng có thể gây ra nguy hại cho người mắc bệnh huyết áp cao. Theo các chuyên gia, trong cuộc sống hàng ngày người bị bệnh cao huyết áp nên chú ý một số điều sau:   Thường xuyên kiểm tra huyết áp là điều cần thiết để tránh những biến chứng xấu xảy ra do cao huyết áp (Ảnh minh họa) - Giữ ấm trong màu lạnh - Hạn chế muối trong chế độ ăn uống hàng ngày. Nên ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt nạc, gà, cá, sữa và chế phẩm từ đậu. Hạn chế ăn những món ăn dầu mỡ, hạn chế thuốc là, rượu,... - Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, tham gia một số môn thể thao ngoài trời có lợi cho huyết áp như đi bộ, tập thái cực quyền và khí công... - Giữ cho tinh thần không bị rơi vào tình trạng quá mệt mỏi. Tức giận, lo lắng có thể gây ra đứt mạch máu não. Duy trì tâm trạng lạc quan vui vẻ, hạn chế tức giận, lo lắng, buồn phiền ... - Uống thuốc đều đặn, duy trì huyết áp ổn định. Cần khám bác sĩ khi có biểu hiện bất thường, khó chịu vì đó có thể là dấu hiệu của huyết áp cao.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI THÍ NGHIỆM SỐ7: PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP

BÀI THÍ NGHIỆM SỐ7: PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP

Bộmôn : VLKT Trường ĐHBK Tp.HCMBài thí nghiệm đo huyết áp ởcảhai tay 14BÀI THÍ NGHIỆM SỐ7:PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP1. Giôùi thieäu :Đo huyết áp bằng phương pháp thính chẩn là nghe âm thanh máu tạo ra khi di chuyển trong động mạch cánh tay. Túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến một áp lực có thểcản làm ngưng dòng máu ở động mạch chính (ÐM) đi qua cánh tay. Sau đó, xả áp lực trong túi hơi khoảng 3mmHggiây. Khi áp lực giảm dần nhân viên y tếsẽnghe bằng ống nghe ngay trên ÐM ởkhuỷu tay. Khi huyết áp động mạch vượt quá áp suất túi hơi, máu sẽchảy qua từng phần và tạo âm thanh mạch đập tức tiếng động Korotkoff (K sound). Áp lực tại đó nhân viên y tếnghe mạch đập lần đầu là huyết áp tâm thu (systolic pressure). Khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa, áp lực tại đó mạch ngưng là huyết áp tâm trương (diastolic pressure). Đo huyết áp bằng phương pháp dao động cũng sử dụng túi hơi giống trên. Khi động mạch thay đổi, thểtích phần máu nằm dưới túi hơi sẽlàm thay đổi thểtích không khí trong nó tức làm thay đổi áp suất túi hơi. Sựdao động áp suất này có thểquan sát được qua đồng hồ đo áp suất hay áp kếthuỷngân và áp suất túi hơi lúc này nằm giữa hai giá trịhuyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Một cảm biến áp suất được lắp sẵn trong máy đo tựđộng sẽdò ra sựthay đổi này. Hình 1 trình bày các phương pháp đo huyết áp gián tiếp. Phía trên áp suất túi hơi (cuff pressure) và tiếng động Korotkoff. Phía dưới là tín hiệu dao động đã được khuếch đại của sựthay đổi áp lực trong túi hơi, do cảm biến áp lực thu lại. S0là điểm tại đó dao động bắt đầu tăng. As – biên độdao động tương ứng huyết áp tâm thu, Ad – biên độdao động tương ứng huyết áp tâm trương và Am biên độlớn nhất tương ứng huyết áp trung bình (mean blood pressure).Chúng ta sẽthực hiện 2 phương pháp đo khác nhau. Vấn đề đặt ra là kết quảcủa hai phương pháp có thể khác nhau thì cái nào đúng hơn. Cái vấn đềnằm ởmột trong hai dạng sau: hoặc hai phương pháp điều trị được áp dụng cho hai nhóm độc lập x và y của cùng đối Hình 1: Sự xuất hiện tiếng động Korotkoff giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Bộmôn : VLKT Trường ĐHBK Tp.HCMBài thí nghiệm đo huyết áp ởcảhai tay 24tượng hoặc phương pháp điều trịgiống nhau được áp dụng cho hai đối tượng khác nhau x và y. Sựso sánh đưa đến các giảthuyết nhưH0: y x µ µ = và H1: y x µ µ ≠ . Ttest là quy trình chuẩn đểso sánh hai nhóm. Khi p<0.05, chúng ta từchối H0 và chấp nhận H1 , điều đó có nghĩa hai phương pháp đo khác nhau hoàn toàn. Ngược lại, khi p>0.05, chúng ta có thểkết luận hai phương pháp đo không khác biệt lắm vì đưa kết quảchấp nhận được.2. Trước khi đến phòng lab:Đọc tài liệu đo huyết áp bằng các phương pháp đo gián tiếp của J.G. WebsterMedical instrumentation: Application and Désign phần 7.133. Các thiết bị:Ø Túi hơi ống nghe huyết áp kế đồng hồØ Máy theo dõi huyết áp hãng MICROLIFE (blood pressure monitor) MỤC TIÊU:Ø Phân biệt được ưukhuyết điểm của hai phương pháp đo huyết áp Ø Đánh giá được số đo huyết áp và nhịp mạch của bản thânØ Sửdụng đúng cách đo huyết ápØ Khảo sát huyết áp đo ởtay trái và tay phải4. Các bước thực hiện: đối với tay tráiA. Phương pháp thính chẩn1. Quaán tuùi hôi quanh caùnh tay, ñeo oáng nghe vaøo.4. Khoùa oác cuûa boùng hôi. Boùp boùng cho tuùi hôi phoàng caêng cho ñeán khi kim ñoàng hoà chæ ñeán 180 mmHg. Chuù yù söï maát aâm thanh trong oáng nghe.2. Ñeå ñoàng hoà ôû choã deã xem.5. Môû oác cuûa boùng hôi ñeå xaû khí ra töø töø(3mmHgs). Huyeát aùp taâm thu ôû vò trí khi nghe maïch ñaäp trôû laïi, huyeát aùp taâm Bộmôn : VLKT Trường ĐHBK Tp.HCMBài thí nghiệm đo huyết áp ởcảhai tay 34tröông laø vò trí khi khoâng nghe maïch ñaäp nöõa.3. Ñeo oáng nghe vaøo tai. Ñeå phaàn chuoâng oáng nghe vaøo vò trí ñoäng maïch caùnh tay.6. Ghi laïi 2 trò soá naøy.7. Lập lại các bước 4 – 5 – 6 thêm bốn lần nữa . 8. Ghi lại huyết áp trong hai trường hợp sau: Giơthẳng tay lên đầu Hạthẳng tay dọc theo thân mình. Cái gì đã xảy ra với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương trong từng trường hợp. Tại sao? 9. Ghi lại ngay huyết áp sau khi đã chạy bên ngoài một phút.B. Đo bằng máy theo dõi huyết áp :1. Đọc kỹphần hướng dẫn sửdụng của máy2. Quấn túi hơi quanh cánh tay theo đúng chỉdẫn3. Nhấn công tắc nguồn của máy sang vịtrí “ON”4. Bơm bóng túi hơi đến giá trị180mm Hg5. Đểmáy tự động đo huyết áp.6. Lập lại các bước 4 – 5 thêm bốn lần nữa . 7. Ghi lại huyết áp trong hai trường hợp sau: Giơthẳng tay lên đầu Hạthẳng tay dọc theo thân mình. Cái gì đã xảy ra với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương trong từng trường hợp. Tại sao? 8. Ghi lại ngay huyết áp sau khi đã chạy bên ngoài một phút. C. Thực hiện các bước của mục A và các bước của mục B đối với cánh tay phải5. Kết quả:1. Ghi kết quảtheo bảng sau đây :A.Phương pháp thính chẩn :Bộmôn : VLKT Trường ĐHBK Tp.HCMBài thí nghiệm đo huyết áp ởcảhai tay 44Vịtrí của tay huyết áp tâm thu (mm Hg)huyết áp tâm trương (mm Hg)Bình thường (lần 1) Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5 Trên đầu Xuôi thẳng tay Sau khi chạy 1 phútB.Phương pháp đo bán tự động bằng máy theo dõi huyết áp :Vịtrí của tay huyết áp tâm thu (mm Hg)huyết áp tâm trương (mm Hg)Nhịp mạch(lầnphút)Bình thường (lần 1) Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5 Trên đầu Xuôi thẳng tay Sau khi chạy 1 phút 2. So sánh kết quảcủa hai phương pháp đo. Giải thích3. Vào Excel, tính giá trịtrung bình (=average(range_of_values), ví dụ=average(A1:A5)) và phương sai (=stdev(range_of_values) của 5 lần đo huyết áp ởphần A và phần B. Tính giá trịttest đối với hai nhóm giá trị đo này bằng hàm trong Excel nhưsau: =ttest(range_of_A_values, range_of_B_values,2,3) và giải thích kết quả.4. Cái gì đã xảy ra trong bước 7 ởmỗi phương pháp đo. Tại sao? Hãy giải thích cho sựkhác nhau nào đó mà bạn phát hiện thấy.5. Cái gì đã xảy ra trong bước 8 ởmỗi phương pháp đo. Tại sao? Hãy giải thích lýthuyết hoạt động của máy theo dõi huyết áp hãng MICROLIFE.1. Trong sơ đồkhối máy đo huyết áp tự động, hãy chỉra những phần cần thiết không bỏ được.2. Hãy thiết kếmáy đo huyết áp gián tiếp cầm tay cho mục đích cấp cứu, đo mỗi 5 phút một lần. Vẽsơ đồkhối và mô tảvận hành của hệthống bao gồm nguồn, cảm biến, bộnhớvà giải thuật.3. Hãy xác định xem động năng có ảnh hưởng rõ rệt đến huyết áp ở động mạch đi xuống (descending aorta) không? Giả sửvận tốc tối đa của máu ởgiữa động mạch 1.5ms và khối lượng riêng của máu 1060kgm3.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Phòng tụt huyết áp thể đứng ở người cao tuổi

PHÒNG TỤT HUYẾT ÁP THỂ ĐỨNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tụt huyết áp thể đứng (tụt huyết áp tư thế) ở người cao tuổi (NCT) là một bệnh hay gặp khi đứng lên từ tư thế ngồi hoặc nằm và rất nguy hiểm vì dễ làm bệnh nhân ngã bất thình lình, gây nên những hậu quả xấu (ngất xỉu,gãy xương, đột quỵ, nhũn não). Tuy vậy, tụt huyết áp thể đứng có thể phòng ngừa được. Nguyên nhân gây tụt huyết áp thể đứng Huyết áp tức là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch (được gọi là huyết áp động mạch). Khi tim co bóp, máu sẽ được đẩy đi và ép vào thành của động mạch làm cho thành động mạch căng ra và được gọi huyết áp tâm thu (huyết áp cao nhất). Sau khi co bóp, tim sẽ giãn ra và khi đó thành động mạch sẽ co lại về trạng thái ban đầu, số đo ở thời điểm này là huyết áp tâm trương (huyết áp thấp nhất). Ở người bình thường chỉ số huyết áp mục tiêu là 120/80mmHg. Khi huyết áp ≥ 140/90mmHg được gọi là tăng huyết áp, khi huyết áp dưới 100/80mmHg, được gọi là huyết áp thấp và khi huyết áp dưới 90/60mmHg được gọi là tụt huyết áp. Như vậy, huyết áp thấp khác với tụt huyết áp. Có hai loại huyết áp thấp, sinh lý và bệnh lý (tụt huyết áp). Huyết áp thấp sinh lý thường gặp ở những người khỏe mạnh với đặc điểm huyết áp thấp duy trì trong suốt cuộc đời, có thể do thể trạng, do ở vùng núi cao (để thích nghi với sự thiếu oxy do loãng không khí trường diễn) hoặc do di truyền. Vì vậy, huyết áp thấp sinh lý thường khó phát hiện được những biến đổi khác thường khi chẩn đoán lâm sàng cũng như xét nghiệm hoặc cận lâm sàng. Huyết áp thấp bệnh lý có 2 loại, tụt huyết áp thể đứng cấp tính và mãn tính.   Muốn biết người cao tuổi có bị tụt huyết áp thể đứng hay không thì chỉ cần đo huyết áp (Ảnh: Internet) Tụt huyết áp thể đứng cấp tính thường biểu hiện hoa mắt chóng mặt, vã mồ hôi, rất mệt, đánh trống ngực, đôi khi bị ngất xỉu và đôi khi chỉ thoáng qua. Tụt huyết áp thể đứng cấp tính có thể do xuất huyết (dưới da, niêm mạc, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục), do dùng thuốc hạ huyết áp quá liều, do hạ đường huyết (đường huyết dưới 2,5mmol/l), do chấn thương chảy máu nhiều, do mất nước (tiêu chảy, sốt). Riêng với tụt huyết áp thể đứng mãn tính có thể là nguyên phát do giảm trương lực thần kinh - mạch máu, do thiếu máu, mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính (nhiễm trùng huyết) hoặc nhiễm trùng mãn tính (viêm họng mãn, viêm loét dạ dày - tá tràng, viêm đường mật, sâu răng, viêm lợi...) hoặc do sau ngộ độc thức ăn, ngộ độc độc tố của vi khuẩn và các chất độc trong phân (NCT bị táo bón kéo dài). Ngoài ra, tụt huyết áp thể đứng ở NCT còn có thể do rối loạn chức năng tuyến thượng thận (bệnh Addison), bệnh tuyến yên hoặc bệnh tuyến giáp làm cho NCT thiếu hụt hóc - môn hoặc do giảm đường huyết (glucoza huyết). Giảm đường huyết ở NCT có thể do ăn thiếu bữa, thiếu số lượng tinh bột (cơm, bánh mì), do suy dinh dưỡng, lười uống nước, ít ăn rau, quả hoặc dùng thuốc hạ đường huyết trong bệnh đái tháo đường. Bởi vì, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, ăn uống kém hoặc do ốm yếu nằm lâu ngày, ít vận động sẽ ảnh hưởng đến trương lực cơ tim, trương lực thành mạch, từ đó sẽ làm giảm lưu lượng máu đến nuôi dưỡng các cơ quan, đặc biệt là tim và não bộ gây nên hiện tượng tụt huyết áp khi đứng dậy từ ngồi hoặc nằm. Tụt huyết áp thể đứng ở NCT cũng có thể do tác động của chấn thương tâm lý liên tục (stress), hoặc có thể do thiếu hụt hemoglobin (nếu thấp dưới 9g/dl sẽ làm cho lượng oxy vận chuyển tới não bộ và tim bị giảm). Một số NCT tụt huyết áp thể đứng do dùng một số thuốc ảnh hưởng đến huyết áp như là thuốc lợi tiểu, thuốc chữa cao huyết áp, thuốc chữa bệnh tim mạch, thuốc chữa bệnh Parkinson... Nhận biết tụt huyết áp thể đứng Muốn biết NCT có bị tụt huyết áp thể đứng hay không thì chỉ cần đo huyết áp. Để biết chính xác chỉ số huyết áp thì cần để bệnh nhân nằm nghỉ khoảng 20 phút rồi đo huyết áp ở tư thế nằm. Sau đó cho bệnh nhân đứng dậy. Sau khi đứng từ 5 - 10 phút sẽ đo huyết áp ở tư thế này. Nếu thấy huyết áp tâm thu tụt xuống ≥ 20mmHg so với huyết áp khi nằm là có thể gọi tụt huyết áp thể đứng. Nên kiểm tra huyết áp vào những thời điểm huyết áp thường thấp nhất như buổi tối trước khi đi ngủ, buổi chiều tối hoặc sau khi vừa ăn xong. Triệu chứng của tụt huyết áp thể đứng cấp tính thường có hoa mắt, chóng mặt trong vài giây, thậm chí ngất xỉu. Triệu chứng của tụt huyết áp mãn tính thường có đau đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tim mạch (đau ngực trái, rối loạn nhịp tim, điện tim biến đổi...), mệt mỏi, rất muốn nghỉ ngơi, lười hoạt động, lười suy nghĩ, thiếu tập trung tư tưởng, chóng quên. Đôi khi cảm giác buồn nôn, vã mồ hôi nhưng vẫn thấy lạnh. Ngoài ra, tụt huyết áp tư thế mạn tính ở NCT có thể làm giảm khả năng tình dục vốn dĩ đã suy giảm. Một số xuất hiện tình trạng rụng tóc. Để chẩn đoán tụt huyết áp thể đứng cần làm xét nghiệm máu, điện tim, siêu âm tim, kiểm tra sức khỏe tim, trong đó người bệnh sẽ được thực hiện các hoạt động như đi bộ trên máy, để làm sao cho tim hoạt động mạnh hơn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

MÔ TẢ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TIỀN SẢN GIẬT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG

MÔ TẢ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TIỀN SẢN GIẬT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG

cung. Hoạt động thể lực không làm tăng tỷ lệ TSG, tuy nhiên nằm nghỉ là mộtphương pháp thành công trong điều trị TSG.1.3.8. Tiền sử bệnh tật.Tiền sử nội khoa: các bệnh đái tháo đường, béo phì, THA, bệnh về thận,suy tuyến giáp làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh và là yếu tố làm nặng bệnh[10], [20].Tiền sử sản khoa: tiền sử SG và TSG, thai chết lưu, rau bong non... cũnglà yếu tố làm tăng tỷ lệ phát sinh bệnh và làm nặng thêm bệnh [10], [14].1.3.9. Số lượng thai, thai bất thường.Chửa đa thai: tỷ lệ bị TSG ở những người chửa con so song thai cao gấp5 lần những người chửa 1 thai. Vấn đề này còn liên quan đến chửa song thai 1noãn hay 2 noãn. Những thai phụ chửa con so song thai 2 noãn thường có tỷlệ TSG cao hơn những người chửa song thai 1 noãn.Chửa trứng, các trường hợp bất thường nhiễm sắc thể có nguy cơ bị TSGcao hơn. Bởi vì THA và protein niệu thường hay xuất hiện sớm trong cáctrường hợp chửa trứng vì vậy người ta giả thuyết rằng liệu chửa trứng có cùngmột bản chất với TSG hay không? Điều này có vẻ có cơ sở đúng vì người tatìm được các tổn thương đặc thù của TSG trong các sinh thiết thận ở một sốbệnh nhân bị chửa trứng [10], [14].1.4. Các triệu chứng của TSG1.4.1. Tăng huyết ápTăng huyết áp là dấu hiệu quan trọng nhất, đến sớm nhất, gặp nhiềunhất(87,5%), có giá trị tiên lượng cho cả mẹ và con [6]1.4.1.1. Định nghĩa tăng huyết áp theo tổ chức Y tế thế giới và Hiệp hội quốctế nghiên cứu về tăng huyết áp.10Tăng huyết áp là mức huyết áp tâm thu từ 140mmHg trở lên và/hoặc
Xem thêm

66 Đọc thêm

 PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP

PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP

Bộ môn : VLKT Trường ĐHBK Tp.HCMBÀI THÍ NGHIỆM SỐ 7:1.Giôùi thieäu :PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾPĐo huyết áp bằng phương pháp thính chẩn là nghe âm thanh máu tạo ra khi di chuyểntrong động mạch cánh tay. Túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến một áp lựccó thể cản làm ngưng dòng máu ở động mạch chính (ÐM) đi qua cánh tay. Sau đó, xả áp lựctrong túi hơi khoảng 3mmHg/giây. Khi áp lực giảm dần nhân viên y tế sẽ nghe bằng ốngnghe ngay trên ÐM ở khuỷu tay. Khi huyết áp động mạch vượt quá áp suất túi hơi, máu sẽchảy qua từng phần và tạo âm thanh mạch đập tức tiếng động Korotkoff (K sound). Áp lựctại đó nhân viên y tế nghe mạch đập lần đầu là huyết áp tâm thu (systolic pressure). Khi áplực túi hơi giảm hơn nữa, áp lực tại đó mạch ngưng là huyết áp tâm trương (diastolicpressure).Đo huyết áp bằng phương pháp dao động cũng sử dụng túi hơi giống trên. Khi độngmạch thay đổi, thể tích phần máu nằm dưới túi hơi sẽ làm thay đổi thể tích không khí trongnó - tức làm thay đổi áp suất túi hơi. Sự dao động áp suất này có thể quan sát được quađồng hồ đo áp suất hay áp kế thuỷ ngân và áp suất túi hơi lúc này nằm giữa hai giá trị huyếtáp tâm thuhuyết áp tâm trương. Một cảm biến áp suất được lắp sẵn trong máy đo tựđộng sẽ dò ra sự thay đổi này. Hình 1 trình bày các phương pháp đo huyết áp gián tiếp.Phía trên áp suất túi hơi (cuff pressure) và tiếng động Korotkoff. Phía dưới là tín hiệu daođộng đã được khuếch đại của sự thay đổi áp lực trong túi hơi, do cảm biến áp lực thu lại. S0là điểm tại đó dao động bắt đầu tăng. As – biên độ dao động tương ứng huyết áp tâm thu,Ad – biên độ dao động tương ứng huyết áp tâm trương và Am - biên độ lớn nhất tương ứnghuyết áp trung bình (mean blood pressure).
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh lý tiền sản giật lên thai phụ và thai nhi và đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH LÝ TIỀN SẢN GIẬT LÊN THAI PHỤ VÀ THAI NHI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ Tiền sản giật (TSG) hay rối loạn tăng huyết áp trong thời kỳ thai nghén, bao gồm: phù, protein niệu và tăng huyết áp. Đây là một bệnh lý phức tạp thường xảy ra trong nöa sau cña thêi kỳ thai nghén và có thể gây nên những tác hại nguy hiểm đến sức khoẻ và tính mạng của thai phô, thai nhi và trẻ sơ sinh. Nguyên nhân của bệnh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ ràng. TSG xảy ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, theo Nguyễn Cận và Phan Trường Duyệt, tỷ lệ TSG chiếm 5,26% tổng số phụ nữ có thai. Ở Mỹ theo Sibai năm 1995 tỷ lệ mắc bệnh là 5%6%. Tại Pháp tỷ lệ này là 5%. TSG gây ra nhiều biến chứng cho mẹ: sản giật, rau bong non, phù phổi cấp, suy gan, suy thận, chẩy máu. Cho đến nay nó vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho mẹ. TSG cũng gây ra rất nhiều biến chứng cho con: thai chết lưu, đẻ non, đẻ nhẹ cân suy dinh dưỡng, trẻ em chậm phát triển về thể chất lẫn tinh thần. Trên thế giới đã có các nghiên cứu về TSG ở các mức độ và các khía cạnh khác nhau nhưng ở Việt Nam mới có một số nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và về các yếu tố tiên lượng của TSG. Để giúp các thầy thuốc sản khoa có sự hiểu biết toàn diện về bệnh lý TSG ảnh hưởng tới mẹ và thai nhi, cũng như có phương pháp phòng và điều trị thích hợp TSG, các biến chứng của TSG. Đề tài: “Nghiªn cøu ¶nh hưởng của bệnh lý tiền sản giật lên thai phô và thai nhi vµ ®¸nh gi¸ hiÖu qu¶ cña ph¸c ®å ®iÒu trÞ” được nghiên cứu với 2 mục tiêu sau: 1 Nghiên cứu các yếu tố huyết áp, phù và protein niệu trong bệnh lý tiền sản giật ảnh hưởng đến sức khoẻ thai phô và thai nhi. 2 Đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Điểm mới và đóng góp của của luận án Nghiên cứu của luận án đã tổng kết được sự chuyển mức độ của tăng huyết áp tâm thu, tâm trương và sự chuyển mức độ của protein niệu (từ mức TSG nặng xuống mức TSG nhẹ và từ mức nhẹ xuống bình thường của 2 chỉ tiêu này) trong quá trình điều trị TSG. Đó chính là nguyên nhân giảm thiểu tác động xấu đến sức khoẻ của thai phô và thai nhi trong nghiên cứu của luận án. Tổng kết được sự phối hợp của các triệu chứng trong TSG. Việc tổ hợp 4 triệu chứng phù, protein niệu, tăng huyết áp tâm thu và tăng huyết áp tâm trương chưa được các luận án trước đây nghiên cứu một cách đầy đủ. Phân tích trên mô hình hồi quy đa biến mối liên quan giữa 4 triệu chứng (phù, protein niệu, tăng huyết áp tâm thu và tăng huyết áp tâm trương) đến sức khoẻ mẹ và con. Kết quả cho thấy rõ ràng mức độ tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cũng như mức độ tăng protein niệu ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến tình trạng sức khoẻ của mẹ, sức khoẻ của thai nhi và tỷ lệ thai chết lưu cũng như tử vong trẻ khi sinh cũng như sau sinh
Xem thêm

177 Đọc thêm

TUẦN HOÀN MÁU( TIẾP)

TUẦN HOÀN MÁU( TIẾP)

- Khả năng co dãn tự động theo chu kì của tim gọi là tính tự động của tim.
- Khả năng co dãn tự động theo chu ki của tim là do hệ dẫn truyền tim. Hệ dẫn truyền tim bao gồm: nút xoang nhĩ, nút nhĩ thất, bó His và mạng Puôckin.
- Tim hoạt động theo chu kì. Mỗi chu kì tim bắt đầu từ pha co tâm nhĩ, sau đó là pha co tâm thất và cuối cùng là pha dãn chung.
- Huyết áp là áp lực máu tác dụng lên thành mạch. Huyết áp giảm dần trong hệ mạch.
- Vận tốc máu trong hệ mạch liên quan chủ yếu đến t I. KIẾN THỨC CƠ BẢN -       Khả năng co dãn tự động theo chu kì của tim gọi là tính tự động của tim. -       Khả năng co dãn tự động theo chu ki của tim là do hệ dẫn truyền tim. Hệ dẫn truyền tim bao gồm: nút xoang nhĩ, nút nhĩ thất, bó His và mạng Puôckin. -       Tim hoạt động theo chu kì. Mỗi chu kì tim bắt đầu từ pha co tâm nhĩ, sau đó là pha co tâm thất và cuối cùng là pha dãn chung. -        Huyết áp là áp lực máu tác dụng lên thành mạch. Huyết áp giảm dần trong hệ mạch. -       Vận tốc máu trong hệ mạch liên quan chủ yếu đến tổng tiết diện của mạch và chênh lệch huyết áp giữa hai đầu đoạn mạch. II. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI SÁCII GIÁO KHOA                                           PHẦN  TÌM HIỂU VÀ THẢO LUẬN ♦     Nghiên cứu bảng 19.1 và tra lời các câu hỏi dưới đây: -      Cho biết mối liên quan giữa nhịp tim với khối lượng cơ thể. -        Tại sao có sự khác nhu về nhịp tim ở các loài động vật? Trả lời: -        Khối lượng cơ thể càng lớn nhịp tim càng chậm, số nhịp tim tir lệ nghịch với khối lượng cơ thể. -       Có sự khác nhau về nhịp tim ở các loài động vật là do chúng có chu kì tim khác nhau. ♦     - Tại sao tim đập nhanh và mạnh lên làm huyết áp tăng, tim đập chậm và yếu làm huyết áp chậm? -        Tại sao khi cơ thể mất máu thì huyết áp giảm ? Trả lời. -       Tim đập nhanh và mạnh làm huyết áp tăng vì khi tim đập nhanh và mạnh đẩy một lượng lớn máu vào động mạch đồng thời tạo một áp lực lớn tác dụng lên thành mạch làm huyết áp tăng. Ngược lại, khi tim đập chậm và yếu đẩy một lượng máu ít hơn vào động mạch, đồng thời tạo một áp lực yếu hơn tác động vào thành mạch làm huyết áp giảm. -        Khi cơ thể mất máu thì huyết áp giảm vì khôi lượng máu bị giảm là một trong những yếu tố làm huyết áp giảm. ♦     Nghiên cứu hình 19.3 và bảng 19.2, sau đó mô tả sự biến động của huyết áp trong hệ mạch và giải thích tụi sao có sự biển động đó (dựa vào ma sát của dịch lỏng chảy trong ống. Trả lời: Mô tả sự biến động cùa huyết áp trong hệ mạch của ngưởi trưởng thành: + ở động mạch chủ: huyết áp tâm thu là 140 mmHg, huyết áp tâm trương là 120 mmHg. + ở động mạch lớn: huyết áp tâm thu là 125 mmHg, huyết áp tâm trương là 110 mmHg. + Ở tiểu động mạch: huyết áp tâm thu là 60 mmHg. huyết áp tâm trương là 40 mmHg. + Ở mao mạch: huyết áp tâm thu là 40 mmHg, huyết áp tâm ưương là 20 mmHg. + ở tiểu mao mạch: huyết áp tâm thu là 15 mmHg. huyết áp tâm trương là 10 mmHg. + ở tĩnh mạch chủ: huyết áp bằng 0. ♦      Quan sát hình 19.4. sau đó trả lời các câu hỏi sau: -        Vận tốc máu biến động như thế nào trong hệ mạch? -        So sánh tổng tiết diện của các loại mạch. Cho biết mối liên quan giữa vận tốc máu và tổng tiết diện mạch  
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÁO CÁO THÍ NGHIỆMPHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP

BÁO CÁO THÍ NGHIỆMPHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP GIÁN TIẾP

huyết áp tâm trương tăng hơn khi bình thường vì đo lực hút của trái đất. Huyết áp tâm thu giảmvì khi máu từ đầu cánh tay đỗ xuống .Máu sẽ chạy nhanh hơn đo tác dụng của trọng lực,lực hútcủa trái đất kéo máu chảy xuống cánh tay . Không cần nhiều lực đẩy và co bóp đẩy máu nên vìvậy mà huyết áp tâm thu giảm.Huyết áp tâm trương tăng đo khi máu vận chuyển về tim sau quátrình nuôi cơ thể, do sức hút trong lực buộc tim phải co bóp mạnh hơn để đấy máu về, chính vìmà huyết áp tâm trương tăng.Câu 5Ở bước 8, sau khi chạy 1 phút ta đo được huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng. Vì saukhi hoạt động. Cơ thể cần cung cấp đủ lượng năng lượng thiếu hụt. Tim cần hoạt động co bópmạnh và nhanh hơn để cung cấp kịp thời năng lượng thiếu hụt đó4
Xem thêm

4 Đọc thêm

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP KÈM SUY THẬN MẠN TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai
Xem thêm

95 Đọc thêm

TĂNG HUYẾT ÁP

TĂNG HUYẾT ÁP

+ Nhóm ức chế Ca-Cơ chế làm giảm thể tích dịch lu hành : lợi tiểuThuốc ức chế men chuyển-Thuốc ức chế thụ cảm thể AT1 Angiotesin-Thuốc kích thích nội mạc sản xuất Prostacyclin1/Nhóm kích thích thụ cảm thể Alpha 2 trung ơng hoặcI1-Imidazolin ở hành não để giảm tr ơng lực giao cảmngoại vi:a/Nhóm kích thích thụ cảm thể Alpha trung ơng-Receptor Alpha của hệ giao cảm gồm : Alpha 1 &amp; Alpha2.Receptor Alpha có ở mạch ngoại vi ,não ,da-Cơ chế của thuốc kích thích R Alpha 2 trung ơng :1Kích thích R giao cảm trung ơng để làm giảm trơng lực giaocảm ngoại vi (theo cơ chế điều hoà ngợc .Khi có tăng HA thìgiãn vùng quai động mạch chủ xoang động mạch cảnh ---&gt; hngphấn các thụ cảm thể áp lực --&gt; xung động về cuống não ---&gt;hng phấn Receptor trung ơng ---&gt; ức chế hệ giao cảm ngoại vi----&gt; giảm HA )-Thuốc :ALDOMET (Dopegyt ) : 250 mg.LD : 0,25 .1--2 v/ngày.TDF: liệt dơng ,tụt HA t thế đứng,trầm cảm ở ngời gìaB/Nhóm kích thích thụ thể I1 -Imidazolin ở tổ chức l ới lên củacuống não-Receptor Imidazonli là những thụ thể nhậy cảm với Imidazonlin,gồm 2 loại I1 &amp;I 2-Receptor I 1 có ở thận,não .Với não thì hng phấn R làmgiảm hoạt tính của hệ giao cảm ngoại vi --&gt; giảm HA
Xem thêm

6 Đọc thêm

Bệnh lý Tăng huyết áp

BỆNH LÝ TĂNG HUYẾT ÁP

Tăng huyết áp (THA) là triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân nhưng có thể là một bệnh, bệnh tăng huyết áp, nếu không tìm thấy nguyên nhân. Ở các nước Châu Âu Bắc Mỹ tỷ lệ tăng huyết áp trong nhân dân chiếm 15 20% ở người lớn. Cụ thể như sau: Benin 14% Thái lan: 6.8% Zaire:14% Chile: 1921%, Portugaise: 30%, Hoa kỳ: 68%. Nhìn chung tỉ lệ rất thay đổi. Ở Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp chung là 11,8% (Bộ Y Tế Việt Nam, 1989). Tỉ lệ nầy gia tăng đáng quan tâm vì trước 1975 tỉ lệ nầy ở miền Bắc Việt nam chỉ có 13%(Đặng Văn Chung). Tại BVTW Huế năm 1980 tỉ lệ THA trong số các bệnh nội khoa chỉ có 1% nhưng 10 năm sau, năm 1990, đã tăng đến 10%. Thống kê gần đây nhất của Viện Tim Mạch tại Miền Bắc Việt Nam cho thấy tỷ lệ THA là 16,3% (2002).
Xem thêm

9 Đọc thêm

Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không

ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA NỘI CHUNG VIỆN Y HỌC HÀNG KHÔNG

Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không Đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa nội chung viện y học hàng không
Xem thêm

91 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐỨC GIANG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐỨC GIANG

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đức giang
Xem thêm

64 Đọc thêm

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG MARKETING NHÓM THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP CỦA CÔNG TY NOVARTIS TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG MARKETING NHÓM THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP CỦA CÔNG TY NOVARTIS TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp của công ty novartis trên thị trường việt nam
Xem thêm

65 Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai
Xem thêm

55 Đọc thêm

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI ĐƠN VỊ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ CÓ KIỂM SOÁT BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP, KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp, khoa khám bệnh, bệnh viện bạch mai
Xem thêm

106 Đọc thêm