SỨC KHỎE CỦA MẸ VÀ BÉ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SỨC KHỎE CỦA MẸ VÀ BÉ":

Thiết kế website chăm sóc sức khỏe cho mẹ và bé

THIẾT KẾ WEBSITE CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO MẸ VÀ BÉ

Thiết kế website chăm sóc sức khỏe cho mẹ và bé

42 Đọc thêm

VIỆC PHẢI LÀM TRONG TỪNG TUẦN THAI

VIỆC PHẢI LÀM TRONG TỪNG TUẦN THAI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mẹ đang tràn ngập hạnh phúc khi biết tin mình đã có trong mình một sinh linh bé nhỏ. Mẹ cũng đang bối rối không biết phải làm những gì tiếp theo để em bé được phát triển tốt, để thai kỳ khỏe mạnh? Những "gạch đầu dòng" dưới đây sẽ giúp mẹ có một lịch trình khoa học để trải qua 9 tháng "đeo ba lô ngược" thật suôn sẻ Tuần 1 - Bổ sung vitamin trước khi sinh nếu trước đó mẹ chưa thực hiện. - Ghi lại mốc một hoặc hai kỳ hành kinh cuối của mẹ. - Tìm ra thời gian rụng trứng. - Cùng anh xã lật lại "lịch sử" sức khỏe của gia đình, bất cứ sự bất thường di truyền hay nhiễm sắc thể nào cũng sẽ cung cấp thông tin tốt nhất cho bác sĩ khi theo dõi sức khỏe của mẹ và bé trong những lần khám thai sau này. - Từ bỏ hút thuốc lá, uống rượu hoặc bất kỳ thói quen có hại cho thai nhi nào khác.   Các bác sĩ đều khuyên mẹ nên bổ sung vitamin trước và trong thời gian mang thai (ảnh minh họa) Tuần 2 - Giảm caffeine trong chế độ ăn uống. - Nói chuyện với bác sĩ về các loại thuốc an toàn cho phụ nữ có thai. - Lập một chế độ ăn lành mạnh, cân bằng dưỡng chất. - Tập thể dục nhưng mẹ nhớ đừng tập quá sức. Tuần 3 - Tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy con yêu đã về. - Mua que thử thai - Tìm hiểu những loại thực phẩm mẹ cần tránh khi mang thai. Tuần 4 - Dùng que thử thai nếu kỳ kinh của mẹ bị chậm. - Thông báo cho anh xã tin tức tuyệt vời này. - Hẹn gặp bác sĩ để xác nhận chính xác mẹ đã mang bầu. - Cân nhắc việc lựa chọn một y tá hộ sinh chuyên nghiệp   Dùng que thử thai nếu mẹ thấy kỳ kinh bị chậm để xác định con yêu đã về chưa nhé (ảnh minh họa) Tuần 5 - Đọc sách dành cho phụ nữ có thai. - Mua một cuốn sổ nhỏ để ghi lại những sự kiện quan trọng, các triệu chứng hay các câu hỏi mẹ băn khoăn trong 9 tháng tới. - Đăng ký lớp học tiền sản. - Đảm bảo mẹ uống nhiều nước trong thai kỳ. - Tìm hiểu xem thẻ bảo hiểm của mẹ được áp dụng cho các bệnh viện nào (nếu có) Tuần 6 - Nếu mẹ sẵn sàng, hãy bắt đầu chia sẻ tin tức tốt này với các thành viên trong gia đình và bạn bè thân thiết. - Nhường việc chăm sóc thú cưng cho anh xã, nhất là việc thay xỉ cho mèo. - Thử nghiệm các biện pháp khắc phục tình trạng ốm nghén. - Tìm một bác sĩ giỏi, đáng tin cậy sẽ theo dõi sức khỏe cho mẹ và bé trong suốt thai kỳ Tuần 7 - Sắp xếp lịch và chuẩn bị cho lần khám thai đầu tiên, thường trong khoảng tuần 8- 12 của thai kỳ. - Viết một danh sách các câu hỏi mẹ cần hỏi bác sĩ. - Loại bỏ các sản phẩm làm đẹp của mẹ có chứa hóa chất Tuần 8 - Mua sắm áo ngực mới, có thể là một chiếc áo ngực thai sản hay một chiếc áo ngực với size lớn, mềm nhẹ hơn. - Thực hiện các bài tập Kegel như một thói quen hàng ngày. - Mua thuốc kháng acid chuẩn bị cho triệu chứng ợ nóng khi mang thai cũng như các loại thuốc an toàn cho mẹ dùng trong thai kỳ. - Khám nha sĩ. - Thảo luận các xét nghiệm thai sản mẹ cần làm với bác sĩ. Tuần 9 - Tìm người giúp việc hoặc chuyển công việc nhà cho người thân để mẹ tránh tiếp xúc với các sản phẩm tẩy rửa chứa chất hóa học độc hại. - Lên danh sách tất cả những điều mẹ muốn làm trước khi có em bé. - Tiết kiệm tiền dành cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng bé. - Ăn nhiều trái cây và rau xanh. - Đi dạo hoặc tập bài tập thể dục nhẹ nhàng khoảng 30 phút, biến nó thành thói quen hàng ngày.   Chế độ ăn nhiều hoa quả và rau xanh rất tốt cho mẹ và bé (ảnh minh họa) Tuần 10 - Rửa tay thường xuyên để tránh bị cúm, cảm lạnh. - Thử các biện pháp tự nhiên để loại bỏ chứng khó tiêu. - Mua sắm quần áo thai sản. - Tìm hiểu về chính sách nghỉ thai sản của công ty nơi mẹ đang làm việc. Tuần 11 - Dưỡng ẩm bụng, hông và đùi hàng ngày để ngăn ngừa da bị ngứa, khô và rạn da. - Mẹ tránh tắm nước quá nóng, tắm hơi, tập luyện quá nhiều trong thời tiết nắng nóng hay bất cứ hoạt động nào có khiến khiến nhiệt độ cơ thể tăng lên đến 39 độ C. - Siêu âm thai trong 3 tháng đầu thai kỳ giúp bác sĩ quyết định các loại xét nghiệm cần thiết. - Nếu có khuyến cáo của bác sĩ, mẹ nên xét nghiệm nhiễm sắc thể bất thường qua việc khám phối hợp sàng lọc bệnh Down (NT) hay phân tích nhung mao của bánh nhau(CVS). - Đề nghị được nghe nhịp tim của bé khi khám thai nếu có thể. Tuần 12 - Lên kế hoạch cho một kỳ nghỉ. - Mua gối chữ U hoặc chữ J hỗ trợ giấc ngủ cho mẹ. - Mẹ luôn phải khởi động trước khi tập thể dục để dây chằng và khớp xương được nới lỏng, hạn chế khả năng bị chấn thương khi luyện tập. - Trong suốt thai kỳ, mẹ nên tránh các động tác nằm ngửa. - Nếu mẹ mang đa thai, bác sĩ sẽ có thể phát hiện các bé khác trong lần siêu âm tiếp theo của mẹ. Tuần 13 - Thời gian này mẹ có thể suy nghĩ xem nên đặt tên gì cho bé yêu rồi đấy - Ngủ với tư thế nằm nghiêng. - Tìm hiểu về các bác sĩ nhi khoa mẹ biết. - Ăn các bữa nhỏ thường xuyên hơn để ngăn ngừa chứng ợ nóng. - Cân nhắc việc sử dụng quần áo thai sản trước đó của bạn bè hay chị em trong gia đình để tiết kiệm chi phí. Tuần 14 - Thông báo với gia đình và bạn bè tin mẹ mang thai nếu trước đó mẹ vẫn chưa sẵn sàng. - Báo tin cho sếp của mẹ. - Tăng thời gian nghỉ ngơi bằng cách lên một list công việc nhà cũng như nơi làm việc mẹ có thể giảm bớt. - Mẹ có thể bắt đầu chụp những bức ảnh bụng bầu tuyệt đẹp hàng tuần kể từ bây giờ để lưu giữ kỷ niệm. Tuần 15 - Đăng ký một lớp học yoga trước khi sinh hoặc mẹ có thể tự luyện tập tại nhà. - Cùng ông xã đoán giới tính của bé. - Nếu mẹ trên 35 tuổi, lên lịch chọc ối để chuẩn đoán bệnh cho bé nếu bác sĩ đề nghị. - Hay tiến hành sàng lọc bốn (quad) nếu cần thiết.   "Xem em với anh ai đoán đúng giới tính của con nào!" (ảnh minh họa) Tuần 16 - Bổ sung canxi từ các loại thực phẩm như sữa ít béo hoặc uống thuốc canxi. - Tìm hiểu về khoa sản ở các bệnh viện. - Hỏi mẹ hoặc bà của mẹ về kinh nghiệm sinh nở, chăm sóc bé sau sinh... Tuần 17 - "Đối phó" với căn bệnh hay quên trong thai kỳ bằng cách viết các ghi chú, nhắc nhở. - Massage trước khi sinh - Đăng ký lớp học hướng dẫn sinh - Tạo tài khoản tiết kiệm dành cho việc học hành, chăm sóc bé. - Sắm lọ thuốc xịt mũi hoặc máy tạo độ ẩm để giảm bớt chứng nghẹt mũi khi mang thai. Tuần 18 - Nếu không có sự giúp đỡ của bà nội, bà ngoại, mẹ hãy cân nhắc việc tham gia một lớp học hướng dẫn cách cho con bú, cách chăm sóc trẻ sơ sinh. - Kiểm tra lại bàn ghế, nếu có thể hãy mua một chiếc ghế đệm mới hoặc bệ kê chân giúp mẹ cảm thấy thoải mái, giảm đau lưng trong thai kỳ. - Mẹ tò mò về giới tính của bé? Đến bệnh viện siêu âm thôi. Tuần 19 - Khoe ảnh siêu âm của bé cho mọi người cùng vui với mẹ nhé. - Có một cuộc hẹn hò buổi tối. - Tìm hiểu về nội thất dành cho bé. - Mẹ cân nhắc lựa chọn sinh tại nhà? Hãy xem xét các ưu nhược điểm của phương pháp này. Tuần 20 - Trò chuyện với ông xã về cuộc sống sau khi có em bé, trách nhiệm của hai vợ chồng sẽ như thế nào. - Chắc chắn mẹ đã có một đôi giày bệt thoải mái để "sống sót" trong vòng 4 tháng tới với đôi chân sưng phù. - Biết các triệu chứng và nguy cơ của tiền sản giật   Hiểu biết rõ về các "tác dụng phụ" khi bầu bí giúp mẹ "giải quyết" chúng thật dễ dàng (ảnh minh họa) Tuần 21 - Tìm hiểu những ưu, nhược điểm khi cho con bú, cách cho bé bú như thế nào là đúng. - Thay áo ngực thai sản. Tuần 22 - Tìm kiếm nữ hộ sinh để tắm cho bé trong một vài tuần đầu sau sinh nếu mẹ không đủ tự tin làm điều này. - Mẹ đã biết giới tính của bé, tên đầu tiên mẹ suy nghĩ có hợp không, nếu không mẹ hãy suy nghĩ thêm một vài tên khác nhé. - Ngăn ngừa chứng giãn tĩnh mạch. Mẹ tránh bắt chéo chân, ngồi hoặc đứng trong thời gian dài. Tuần 23 - Mẹ nên sắm thêm quần áo thai sản trong thời gian này. - Lựa chọn tên đệm tuyệt vời cho bé. Tuần 24 - Nếu mẹ có ý định quay trở lại công việc sau sinh, hãy suy nghĩ các phương pháp để chăm sóc bé như nhờ bà nội, bà ngoại hay tìm người trông trẻ đáng tin cậy chẳng hạn. - Bắt đầu lên kế hoạch sửa sang phòng cho bé. - Xét nghiệm tiểu đường thai kỳ. Tuần 25 - Mua bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội hay có thêm bảo hiểm nhân thọ... nếu mẹ muốn. - Viết kế hoạch sinh nở. - Đăng kí sinh trước nếu có thể tại bệnh viện mẹ đã lựa chọn. Tuần 26 - Nói chuyện với bác sĩ nhi khoa để giải đáp các thắc mắc của mẹ. - Tận hưởng một chuyến du lịch bất kỳ. Mẹ sẽ không có cơ hội hoặc không nên đi du lịch trong 3 tháng cuối của thai kỳ để đảm bảo an toàn. - Xét nghiệm glucose máu. Tuần 27 - Chọn màu sơn cho phòng của bé. - Đi bộ hoặc xoa bóp bắp chân để giảm đau do chuột rút. Tuần 28 - Bắt đầu từ tuần 28, mẹ có thể gặp bác sĩ 2 tuần 1 lần. - Để ông xã cảm nhận được những lần bé đá. - Nếu ngón tay của mẹ bị sưng, hãy tháo nhẫn ra và cất chúng cho đến khi mẹ "vượt can" xong xuôi. - Nếu xét nghiệm máu của mẹ được thực hiện tại lần khám tiền sản đầu tiên cho thấy là Rh âm tính, mẹ sẽ được tiêm globulinn miễn dịch Rh để ngăn chặn cơ thể mẹ phát triển các kháng thể có thể tấn công máu của bé.   Bắt đầu từ tuần 28, mẹ có thể gặp bác sĩ 2 tuần 1 lần (ảnh minh họa) Tuần 29 - Thời gian này bé hoạt động rất tích cực, mẹ hãy dành thời gian nhất định để đếm những cử động của bé, dựa vào đó để đánh giá sức khỏe của bé. Nếu mẹ thấy bé ngày càng trở nên ít hoạt động, cần liên lạc với bác sĩ ngay. - Sơn phòng cho bé. Mẹ không nên tham gia công đoạn này. Hãy nhắc nhở ông xã chọn loại sơn gốc chì để đảm bảo an toàn cho bé. - Ăn nhiều thực phẩm chứa chất xơ để ngăn ngừa táo bón và bệnh trĩ. Tuần 30 - Mua xe đẩy, cũi hay bất cứ vật dụng nào cho bé mà mẹ chưa chuẩn bị. - Đóng gói túi đồ sẽ mang vào viện khi mẹ đi đẻ. - Biết các dấu hiệu sinh non. - Tập luyện các bài tập, học cách thở, rặn hỗ trợ mẹ khi sinh. Tuần 31 - Ăn các loại thực phẩm giàu chất sắt. - Lên kế hoạch nghỉ thai sản. Tuần 32 - Lên kế hoạch nhờ ai chăm sóc con khi mẹ lâm bồn. - Nhường quyền chăm nuôi thú cưng cho ông xã. - Cắt tóc - Sắp xếp phòng của bé. - Từ tuần này, mẹ có thể gặp bác sĩ hàng tuần để theo dõi kỹ tình hình sức khỏe của mẹ và thai nhi. Tuần 33 - Đọc sách về chăm sóc trẻ sơ sinh. Tuần 34 - Xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B (GBS) - Mua đồ dùng hỗ trợ mẹ phục hồi sau sinh. - Gặp gỡ một vài bác sĩ nhi khoa để đưa ra sự lựa chọn cuối cùng Tuần 35 - Xem xét lại các đồ dùng cho mẹ và bé để đảm bảo không thiếu sót đồ dùng quan trọng. - Mua một cuốn sách về trẻ em, tìm đọc thông tin về chăm sóc bé.... Tuần 36 - Xét nghiệm NST (non-stress test) nếu cần thiết để quan sát cử động thai mà không có tác động gây kích thích thai nhi. - Bàn lại kế hoạch sinh với bác sĩ. - Ngủ các giấc ngủ ngắn, nghỉ ngơi nhiều nhất có thể Tuần 37 - "Tích trữ" tã và sữa công thức đề phòng trường hợp mẹ ít sữa. - Giặt sạch quần áo, tã lót, nôi của bé trước khi dùng. Tuần 38 - Đưa ra quyết định cuối cùng cho tên của bé - Lên danh sách những người mẹ muốn liên lạc thông báo khi em bé ra đời. Tuần 39 - Thực hành thở hỗ trợ khi sinh hoặc các bài tập thư giãn  - Hoàn thành công việc và viết một bản ghi nhớ, bàn giao công việc phòng trường hợp mẹ sinh trước ngày dự tính. - Lựa chọn người cùng mẹ "vượt cạn" Tuần 40 - Chuẩn bị tâm lý sẵn sàng rằng sắp đến lúc vỡ ối. - Tính thời gian các cơn co thắt. - Mua túi chườm lạnh để chườm đáy chậu, giảm sưng sau khi mẹ sinh.   Gần tới ngày sinh, mẹ nên dành thời gian nghỉ ngơi, điều chỉnh tâm lý thật tốt cho cuộc "vượt cạn" sắp tới (ảnh minh họa) Tuần 41 - Mẹ hãy cảm nhận những cú đá cuối cùng cũng như cảm giác tuyệt vời khi có em bé trong bụng.  - Tận dụng thời gian để nghỉ ngơi - Tập các động tác ngồi xổm để cơ thể dần chuẩn bị cho quá trình sinh. Tuần 42 - Mẹ hãy thử một vài mẹo để kích thích đau đẻ, đẻ thường dễ như ăn thức ăn cay, ăn dứa, đi bộ hay kích thích núm vú... - Xét nghiệm NST một lần nữa hoặc kiểm tra ST (stress test) - Đến bệnh viện và đón bé yêu chào đời.
Xem thêm

8 Đọc thêm

DÙ ĐAU ĐỚN MẸ VẪN CHỌN ĐẺ THƯỜNG

DÙ ĐAU ĐỚN MẸ VẪN CHỌN ĐẺ THƯỜNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay với sự phát triển của y học hiện đại, các mẹ bầu có thể lựa chọn giữa sinh thường hay sinh mổ tùy theo tình hình sức khỏe và mong muốn của mình. Tuy nhiên hầu hết các bác sĩ hay những người có kinh nghiệm đi trước đều khuyên mẹ bầu nên lựa chọn sinh thường thay cho sinh mổ vì những lợi ích vượt trội của nó tốt cho me, khỏe cho con. Nhằm giúp mẹ bầu có thêm kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương pháp sinh phù hợp, xin chia sẻ với chị em những lợi ích của việc đẻ thường mà mẹ bầu nên biết. Lợi ích của việc đẻ thường đối với sức khỏe bà mẹ Không mất quá nhiều thời gian hậu sản ở bệnh viện Thông thường nếu bạn sinh thường và không gặp trở ngại gì đối với sức khỏe của mẹ và bé thì chỉ sau 2-3 ngày bạn đã có thể xuất viện về nhà, thời gian hậu sản ngắn giúp bạn tiết kiệm được chi phí; Mẹ không bị đau nhiều sau khi sinh So với sinh mổ, mẹ phải đau từ 7-10 ngày do ảnh hưởng của vết mổ thì sinh thường mẹ sẽ ít đau hơn, thời gian đau ngắn hơn nên sức khỏe phục hồi nhanh và có thời gian chăm sóc bé yêu sớm hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn. Mẹ sinh thường dường như có thể phục hồi ngay sau đẻ. Nói chung là mẹ hoàn toàn có thể đúng lên và tự vệ sinh cá nhân mà không cần trợ giúp của người thân một vài giờ sau sinh. Chỉ vài ngày sau đó, sản phụ đã có thể chăm sóc bé và làm những việc nhẹ nhàng.   Đẻ thường không chỉ giúp mẹ nhanh chóng phục hồi sức khỏe mà còn giúp em bé có sức đề kháng tốt nhất. (ảnh minh họa) Giảm nguy cơ mắc bệnh lạc nội mạc tử cung Mẹ bầu sinh thường sẽ giảm được nguy cơ bị bệnh viêm nội mạc tử cung do dịch thoát tốt hơn. Đồng thời không bị các dị ứng từ thuốc gây mê, gây tê của ca phẫu thuật. Giảm nguy cơ tử vong cho mẹ Tỷ lệ mẹ bầu bị tử vong do sinh thường thấp hơn sinh mổ, đặc biệt mẹ bầu cũng không phải lo việc vết mổ bị nhiễm trùng hãy có các biến chứng khác. Đảm bảo nguồn sữa cho bé + Có nhiều trường hợp mẹ bầu sinh mổ và bị tác dụng của thuốc kháng sinh để vết mổ nhanh lành nên bị mất sữa, không thể thực hiện việc nuôi con bằng sữa mẹ, đây sẽ là một tổn thất rất lớn cho sự phát triển toàn diện của bé cũng như tình cảm mẹ con vì việc nuôi con bằng sữa mẹ, cho con bú cũng là một cách thức hiệu quả nhằm gắn kết tình mẫu tử đấy. + Trường hợp, các mẹ bầu sinh mổ không bị mất sữa nhưng rất chậm có sữa, có khi từ 7-10 ngày sau đó trong khi nếu bạn sinh mổ thì sữa sẽ có ngay sau khi sinh, đảm bảo dưỡng chất và sức đề kháng cung cấp cho cơ thể mẹ khi bé đang rất yếu do mới tiếp xúc môi trường bên ngoài. Nhanh phục hồi sắc vóc Việc sinh thường sẽ giúp mẹ bầu thuận tiện hơn trong việc phục hồi vẻ đẹp của làn da, sự thon gọn của cơ thể và độ co khít của cổ tử cung sau sinh bằng các biện pháp xông, hơ truyền thống mà những người  sinh mổ không thực hiện được vì nó sẽ ảnh hưởng đến vết mổ gây nhiễm trùng và các biến chứng khác. Chính vì vậy các bà mẹ sinh thường sau khi sinh thường trẻ đẹp hơn những người sinh mổ. An toàn khi mang thai lần sau Sau khi mẹ sinh thường cũng có thể chủ động có thai lại lần 2 nếu muốn còn sinh một thì phải đảm bảo thời gian ít nhất là 3 năm bạn mới có thể sinh lại, và khi bạn sinh mổ lần đầu rồi thì lần thứ 2 bạn bắt buộc phải sinh mổ đấy.   Đẻ thường mang lại rất nhiều lợi ích đến sức khỏe trẻ sơ sinh. (ảnh minh họa) Lợi ích với bé - Khi mẹ sinh thường, bé sẽ không phải bị tiếp xúc với các loại thuốc kháng sinh có thể gây tổn hại đến hệ thần kinh và ức chế sự phát triển toàn diện của bé, bé nhanh tỉnh táo và bú mẹ tốt hơn; - Bé được chào đời khi thật sự sẵn sàng không bị thúc ép bởi các biện pháp ép buộc, đồng thời bé sẽ có sức đề kháng và hệ miễn dịch tốt hơn nhờ các vi khuẩn có lợi trong ống sinh sản; - Bé nhanh bú mẹ và có nền tảng phát triển tốt hơn do sữa mẹ về sớm hơn và bé dễ dàng kết nối với mẹ hơn, trí não phát triển tốt hơn. - Giảm nguy cơ mắc các bệnh tiều đường tuýp 1, các bệnh về hô hấp và hạn chế nguy cơ bị stress khi bé lớn lên so với các bé sinh mổ; - Bé ra đời sẽ đảm bảo hơn vì không phải sử dụng các dụng cụ lôi quá ra ngoài; - Tình cảm mẹ con khi mẹ sinh thường sẽ được gắn kết tốt hơn, do người mẹ cảm nhận được sức mạnh của bản thân khi cố gắng chịu đựng những cơn đau đơn trong quá trình sinh đẻ nhằm chào đón đứa con ra đời. Trên đây lợi ích của việc đẻ thường mà mẹ bầu nên biết để có sự lựa chọn phương pháp sinh phù hợp, nếu bạn có sức khỏe đảm bảo và không có bất kỳ yếu tố bất lợi nào buộc phải sinh mổ thì hãy lựa chọn phương pháp sinh thường nhằm tốt cho mẹ, khỏe cho con đồng thời đây cùng chính là biện pháp tạo nền tảng cho bé phát triển toàn diện sau này nữa.
Xem thêm

2 Đọc thêm

"Nguy to" khi mẹ bầu tăng trên 15kg

"NGUY TO" KHI MẸ BẦU TĂNG TRÊN 15KG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nếu bạn bị thừa cân, cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho bạn và con mình là phải giảm cân trước khi mang thai. Khi bạn đã có được cân nặng khỏe mạnh thì bạn có thể giảm được một số vấn đề gặp phải khi mang thai do thừa cân như tăng huyết áp, sẩy thai, sinh mổ, khó phát hiện dị tật ở thai. Tuy nhiên, nếu bạn mang thai trước khi giảm được cân nặng thì cũng đừng quá lo lắng, vì có một số bà mẹ sau đấy vẫn có thể có thai và sinh con khỏe mạnh bình thường. Nhưng béo phì có thể gia tăng một số biến chứng đối với cả mẹ và bé, nên các mẹ cần quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe tiền sinh sản để giảm thiểu những vấn đề này. Theo các chuyên gia khoa sản, trong 9 tháng mang thai, chị em chỉ cần tăng 11-14kg là đủ. Những mối nguy hiểm khi béo phì Bị bệnh béo phì có thể làm tăng nguy cơ bị các biến chứng sau đây ở phụ nữ mang thai: - Sẩy thai: Tỉ lệ sẩy thai dưới 12 tuần ở những người này là 20%, nếu mẹ có BMI-chỉ số khối lượng cơ thể(cân nặng /(chiều cao*chiều cao)) trên 30 thì tỉ lệ này là 25%. - Bệnh tiểu đường thai kỳ: nếu mẹ chỉ số BMI trên 30, thì đồng nghĩa với việc tỉ lệ bị tiểu đường của những bà mẹ này cao gấp 3 lần những bà mẹ có BMI dưới 30.   Mẹ bầu tăng cân quá nhiều dễ gặp phải những nguy cơ như tăng huyết áp, sẩy thai, sinh mổ, khó phát hiện dị tật ở thai. (ảnh minh họa) - Huyết áp cao và kinh giật: nếu mẹ có tỉ lệ BMI trên 35 vào thời gian đầu mang thai thì nguy cơ bị chứng kinh giật cao gấp 2 lần so với những mẹ có tỉ lệ này dưới 25. - Máu đông: tất cả những phụ nữ mang thai đều có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn những phụ nữ bình thường, và nếu BMI của bạn trên 30 thì nguy cơ này cũng tăng lên. - Đẻ khó: sau khi đầu bé ra thì vai bé lại bị vướng vào sau xương mu của mẹ, gây khó đẻ. - Sinh bé nặng trên 4kg. tỉ lệ này đối với phụ nữ có BMI từ 20-30 là 7%, còn nếu BMI trên 30 thì tỉ lệ này là 14%. - Một số vấn đề khác như: sinh non (trước 37 tuần), chết non, trẻ bị dị tật bẩm sinh, khó phát hiện dị tật ở trẻ. Trong suốt thời kỳ mang thai Nếu mẹ tăng cân quá nhiều khi đang mang thai thì cũng đừng cố giảm cân ngay thời gian này vì rất nguy hiểm. Và cũng chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy rằng giảm cân khi đang mang thai có thể hạn chế được các rủi ro trên. Cách tốt nhất đấy để bảo vệ sức khỏe cho mẹ và bé đó là mẹ hãy thường xuyên lui tới các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, gặp gỡ bác sĩ hay chuyên gia sức khỏe để họ có thể kiểm tra cho mẹ và bé tốt nhất. Họ có thể kiểm soát được những mối nguy hiểm mà mẹ và bé có thể gặp phải liên quan đến cân nặng và sớm đưa ra biện pháp để giải quyết vấn đề. Mẹ cũng nên có một chế độ dinh dưỡng hợp lý và hoạt động nhẹ nhàng hằng ngày. Nếu có thể, mẹ nên xin tư vấn của một chuyên gia dinh dưỡng về chế độ ăn uống khỏe mạnh và làm thế nào để luôn thấy vui vẻ tích cực khi đang mang thai. Ăn uống và thể dục Ăn uống khỏe mạnh (gồm cả việc mẹ biết thực phẩm gì nên tránh) và tập thể dục như đi bộ, bơi rất tốt cho sức khỏe bà bầu. Nếu trước khi mang thai, thai phụ không phải là người thích vận động thì nên hỏi bác sĩ trước khi bắt đầu một chế độ tập luyện khi mang thai. Nếu bạn bắt đầu khóa thể dục của mình như bơi, đi bộ, chạy, lớp aerobics, bạn hãy báo cho người hướng dẫn biết rằng bạn đang mang thai và chỉ tập được liên tục 15 phút, 3 lần 1 tuần. dần dần hãy tăng lên thành 30 phút một lần. Đừng tập quá căng thẳng, vì như thế có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé. Nếu khi nói chuyện bạn thấy khó thở, đó có lẽ là do bạn tập quá nhiều. Hãy nghỉ ngơi một chút.
Xem thêm

2 Đọc thêm

9 điều cấm kỵ với mẹ bầu sắp sinh

9 ĐIỀU CẤM KỴ VỚI MẸ BẦU SẮP SINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sự lo lắng, căng thẳng của sản phụ khi sắp sinh nở là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên theo các chuyên gia khoa sản, khi mẹ bầu sợ hãi sẽ thông qua hệ thần kinh trung ương ức chế tử cung co thắt, dẫn đến quá trình sinh bị kéo dài ra, thậm chí còn dẫn đến khó sinh và sau khi sinh xong, tử cung còn khó co lại. Ngoài ra, còn rất nhiều điều cấm kỵ sau sinh nở mẹ bầu cần biết và tránh: Nằm nhiều Nhiều mẹ bầu đến tháng cuối chuẩn bị sinh do cơ thể nặng nề mà lười vận động, suốt ngày nằm trên giường nghỉ ngơi. Tuy nhiên, thực tế việc vận động nhẹ nhàng trước khi sinh giúp mẹ bầu lâm bồn dễ dàng hơn. Bạn chỉ cần tránh những vận động mạnh gây tổn hại đến thai nhi là được. Một số động tác thể dục nhẹ nhàng, đi bộ… hoàn toàn tốt cho mẹ bầu. Chán nản, mệt mỏi Tâm trạng chán nản, mệt mỏi thật không tốt cho mẹ bầu và thai nhi một chút nào, có khi nó còn ảnh hưởng tới quá trình chào đời của các bé, sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Trước khi sinh nếu tinh thần hoặc thể chất ở vào trạng thái mệt mỏi thì cũng ảnh hưởng xấu đến mẹ và bé. Do đó, hơn 10 ngày trước khi sinh bạn cần phải sinh hoạt có quy tắc, ăn uống, ngủ nghỉ điều độ để có thể dự trữ đủ lượng nước ối chờ ngày bé chào đời.   Tâm trạng chán nản, mệt mỏi thật không tốt cho mẹ bầu và thai nhi một chút nào, có khi nó còn ảnh hưởng tới quá trình chào đời của các bé, sức khỏe và sự phát triển của trẻ. (ảnh minh họa) Tâm lý căng thẳng Phần lớn mẹ bầu lần đầu sinh đẻ do thiếu những kiến thức về sinh đẻ, nên có tâm lý sợ hãi ở những mức độ khác nhau. Sự lo lắng sợ hãi của thai phụ sẽ thông qua hệ thần kinh trung ương ức chế tử cung co thắt, dẫn đến quá trình sinh bị kéo dài ra, thậm chí còn dẫn đến khó sinh và sau khi sinh xong tử cung co lại không toàn vẹn, chảy máu liên tục. Tâm trạng căng thẳng còn kích thích hưng phấn thần kinh giao cảm, huyết áp tăng lên làm cho thai nhi có thể bị thiếu ôxy. Tốt nhất mẹ bầu nên giữ cho mình một tâm trạng thật thoải mái, tươi vui trước “giờ G” để quá trình vượt cạn được an toàn và khỏe mạnh. Tự kích thích đầu ti Tháng cuối của thai kì, bạn đã tăng khả nhiều cân, lưng cong ra, gánh nặng đè lên đôi chân và sống lưng, "núi đôi" căng phồng sẵn sàng tiết sữa, gây căng tức. Tuy nhiên bạn có thể  xoa nhẹ bầu ngực cho đỡ căng tức chứ không nên kích thích đầu ti vì có thể dẫn đến co bóp tử cung gây sinh non. Thụt rửa âm đạo Nên tránh bơm rửa sâu trong âm đạo vì có thể gây thuyên tắc hơi trong động mạch, hay gây tổn thương xuất huyết cho cổ tử cung, âm đạo đang trong tình trạng sung huyết. Làm "chuyện ấy" Những tháng cuối cùng của thai kì, đặc biệt những ngày gần ngày sinh nở là những ngày nhạy cảm với mẹ bầu, những hoạt động massage núm ti có thể khiến các mẹ bầu bị chuyển dạ sớm và có thể sinh non, những hoạt động tình dục vào lúc này cũng khiến ảnh hưởng tới thai nhi và dễ khiến chuyển dạ sinh non.   Tự kích thích đầu ti, làm "chuyện ấy" vào tháng cuối có thể khiến mẹ sinh non. (ảnh minh họa) Ăn uống không vệ sinh Việc không được ăn đồ tái sống cần thực hiện suốt trong thời gian mang thai nhưng ở tháng cuối của thai kì mẹ vẫn cần thực hiện nghiêm ngặt điều này. Trong giai đoạn này thai nhi đã hình thành đầy đủ các bộ phận nên việc ăn uống cũng dễ dãi hơn. Nếu mẹ ăn đồ tái sống rất dễ nhiễm khuẩn vì chúng có thể chứa ký sinh trùng toxoplasmosis hoặc khuẩn E. Coli hoàn toàn không tốt cho sức khỏe của mẹ và bé. Không chú tâm đến sức khỏe Có những bà bầu nghĩ rằng sắp tới ngày sinh nở nên không cần phải quá chú tâm tới việc ăn uống sinh hoạt, có khi ăn uống ít đi để giảm cân sau sinh dễ dàng, nhưng điều đó thật sai lầm. Nếu như bạn ăn uống không đủ chất, ngủ không đủ giấc thì sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của bé, thậm chí cả khi sinh cũng trở nên khó khăn hơn. Vì thế bạn cần luôn chú ý đến chế độ dinh dưỡng, thường xuyên ăn thêm những bữa phụ, uống thêm nhiều nước, ngủ đủ giấc để có đủ năng lượng hoàn thành nghĩa vụ của một người mẹ. Tránh đi xa Từ tuần 37 thai kỳ, em bé sẽ chào đời bất cứ lúc nào. Để tránh những tình huống không mong đợi như sinh con trên đường đến bệnh viện, đẻ rơi… mẹ bầu nên hạn chế những chuyến đi xa và làm việc nặng nhọc. Những cuộc hành trình dài còn có thể khiến mẹ mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Còn công việc nặng nhọc sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ lẫn con.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lỗi lớn khiến mẹ sinh con nhẹ cân

LỖI LỚN KHIẾN MẸ SINH CON NHẸ CÂN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những em bé sinh ra ít hơn 2,5kg được cho là nhẹ cân. Trẻ sơ sinh nhẹ cân dễ mắc nhiều nguy cơ thị lực và hệ thần kinh phát triển kém so với thông thường. Ngay cả khi siêu âm, các bác sĩ đã có thể cho bạn biết về điều này dựa trên kết quả về hình ảnh. Nguyên nhân gây nhẹ cân Do sinh non Sinh non là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trẻ sơ sinh thiếu cân. Tuy nhiên, bạn sinh con đủ tháng nhưng bé vẫn bị nhẹ cân. Nguyên nhân có thể là do di truyền hoặc do trẻ không được chăm sóc đầy đủ về dinh dưỡng khi còn trong bào thai. Sinh non nghĩa là sinh trước 37 tuần của thai kỳ. Tỷ lệ trẻ sinh non có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ đủ tháng tuổi. Do lối sống và bệnh của mẹ Ngoài yếu tố do sinh non thì lối sống và bệnh của mẹ cũng gây nên tình trạng trên. Một số nguyên nhân khác như: mẹ dưới 17 tuổi, tăng cân không đủ trong thai kỳ, mẹ hút thuốc hoặc uống rượu khi mang thai, mẹ bị nhiễm trùng hoặc mắc bệnh như tiểu đường và cao huyết áp cũng có thể là mẹ bị bệnh mãn tính. Cũng có thể là mang thai đôi hoặc thai ba, mẹ có tiền sử sinh non.   Mẹ nên ngừng sử dụng chất kích thích vì đấy có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhẹ cân ở trẻ sơ sinh. (ảnh minh họa) Cách khắc phục Mẹ phải thường xuyên kiểm tra sức khỏe của cả mẹ và con để theo dõi chi tiết sự phát triển của thai nhi. Đồng thời, cần chăm sóc sức khỏe của mẹ thật tốt cả về thể trạng lẫn tình thần. Axit folic đóng vai trò rất quan trọng và cần khoảng 400 mg trong suốt thai kỳ. Nếu lượng axit này bị thiếu sẽ dẫn đến nguy cơ những dị tật bẩm sinh. Nếu mẹ có thói quen hút thuốc lá thì phải ngưng ngay vì trong thuốc lá có chứa các chất khiến trẻ có trọng lượng thấp và nhiều vấn đề khác về sức khỏe. Mẹ cũng phải giảm uống rượu và một số loại kích thích. Đảm bảo về chế độ dinh dưỡng cho mẹ. Chăm sóc trẻ nhẹ cân Tại bệnh viện Trong giai đoạn đầu, trẻ nhẹ cân nên được chăm sóc tại bệnh viện. Ở đây, các bác sĩ có thể giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, dinh dưỡng cho bé. Bạn thấy có quá nhiều dây được tiếp xúc với bé con thì cũng không nên lo lắng quá. Bởi vì chúng dùng để đo các chỉ số như: Mức độ oxy, huyết áp, nhịp tim, nhiệt độ cơ thể. Chăm sóc tại nhà Khi trẻ cứng cáp hơn, gia đình có thể chuyển bé về chăm sóc tại nhà cho thuận tiện. Theo các chuyên gia, chỉ có khoảng 20% trẻ sơ sinh bị nhẹ cân bẩm sinh, 80% là do lối sống của mẹ. Lúc này, gia đình đặc biệt là người mẹ phải hết sức chú ý trong phương pháp chăm sóc trẻ. Nên chăm sóc theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Những bệnh do nhẹ cân Hiển nhiên rằng trẻ nhẹ cân sẽ có nguy cơ mắc bệnh tật cao hơn so với trẻ đủ cân, thậm chí là những bệnh hiểm nghèo. Các bệnh thường gặp: giảm chức năng hô hấp phổi, hệ thống miễn dịch suy yếu, bại não, khuyết tật bẩm sinh, các vấn đề về nhận thức hành vi… Phòng tránh Trước khi có ý định mang thai, phụ nữ phải có sự chuẩn bị kỹ càng về mặt tâm lý cũng như sức khỏe. Người phụ nữ cần tiêm văcxin phòng một số bệnh như cúm, sởi, rubella…Tìm hiểu về bệnh di truyền hoặc một số bệnh có thể ảnh hưởng đến thai nhi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

7 qui tắc "sống còn" cho con ăn rau

7 QUI TẮC "SỐNG CÒN" CHO CON ĂN RAU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi đến tuổi ăn dặm rau, củ, quả là một trong những thực phẩm không thể thiếu bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Các loại vitamin và chất xơ giàu năng lượng có trong các loại rau củ giúp đẩy nhanh quá trình trao đổi chất ở bé và cải thiện hệ tiêu hóa cho bé yêu. Tuy nhiên nếu chế biến và cho con ăn rau củ không đúng cách không những không hấp thụ được chất dinh dưỡng từ rau củ mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bé nữa. Xin mách các mẹ 7 điều cần lưu ý khi chế biến rau củ cho con. Phải rửa rau thật kỹ Với nỗi lo thực phẩm ngày nay đầy chất hóa học độc hại không ít các bà mẹ lựa chọn mua rau củ trong siêu thị hay các cửa hàng rau siêu sạch trên thị trường. Tuy nhiên mặc dù được gán mác rau siêu sạch thì ở đó vẫn có rất nhiều chất bẩn và vi khuẩn hơn mẹ nghĩ và có thể nhìn thấy. Vì thế khi mua rau về mẹ vẫn nên lưu ý khâu rửa rau thật sạch. Tốt nhất mẹ nên ngâm rau trong nước 20-30 phút cho hết hoàn toàn thuốc trừ sâu, rồi rửa lại bằng nước sạch 2-3 lần, kết thúc ngâm trong hỗn hợp nước muối nhạt từ 10-15 phút để rau được khử trùng hoàn toàn. Nên cho con ăn nhiều loại rau có lá Trẻ con có xu hướng thích ăn các loại củ quả hơn là các loại rau có lá xanh. Tuy nhiên mẹ cần nhớ trong các loại rau lá xanh có chứa nhiều loại vitamin hơn trong củ quả. Vì thế mẹ hãy chế biến các món từ rau lá xanh thật phong phú, hấp dẫn, kết hợp màu sắc ngon mắt thì chắc chắn bé sẽ ăn thun thút ngay. Bố mẹ cũng cần ăn rau xanh Trẻ con sẽ không chịu ăn rau nếu nhìn thấy bố mẹ cũng không ăn. Rất nhiều người lớn có thói quen chỉ ăn cơm, thịt và rau ăn rất ít nhưng lại ép trẻ ăn thật nhiều chất xơ. Điều này là không công bằng và bé sẽ không có được chút hứng thú nào với các loại rau củ khi chứng kiến bố mẹ mình cũng không thích ăn loại thực phẩm này. Tuyệt đối đừng ép bé ăn quá mức   Để con tự chủ động chọn loại rau mình thích sẽ tốt hơn là ép uổng (ảnh minh họa) Nếu bé không thích ăn rau xanh hay bất cứ một loại thực phẩm nào khác, mẹ cũng đừng vì thế mà ép con ăn quá mức. Ăn uống do ép buộc sẽ khiến trẻ hấp thụ được ít chất dinh dưỡng hơn và càng tăng cảm giác biếng ăn ở trẻ. Thay vào chiêu áp bức, ép buộc mẹ hãy tìm cách ngon ngọt dỗ dành và dụ dỗ cho bé ăn rau thì tốt hơn. Trái cây không thay thế được rau củ Nhiều mẹ có quan điểm sai lầm khi nghĩ con không thích ăn rau cũng không sao, có thể cho bé ăn bù bằng nhiều loại trái cây khác. Nhưng điều này là hoàn toàn không đúng. Ở rau xanh có chất xơ và các loại vitamin mà ở hoa quả không đủ để thay thế. Hãy lựa chọn hoa quả như một thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng bên cạnh rau xanh bổ dưỡng các mẹ nhé. Sử dụng nồi nhôm hoặc inox để chế biến rau Các mẹ hãy sử dụng nồi nhôm hoặc inox để chế biến rau cho bé, nhất là để luộc rau, tránh không sử dụng các loại nồi đồng. Chúng ta biết rằng, trong các món ăn cũng như rau đều có chứa một lượng axit nhất định. Lượng axit này sau khi ngâm trong nồi sẽ làm thôi ra một lượng kim loại hoặc làm oxy hóa lớp bề mặt vật đựng bằng kim loại. Mặc dù nồng độ cũng như hàm lượng kim loại bị thôi nhiễm không nhiều, tuy nhiên điều này cũng hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe của bé. Một thói quen khác rất không tốt của các mẹ khi chế biến các món rau là cứ để rau trong nồi và đậy vung một lúc cho rau mềm. Làm thế không những mất chất dinh dưỡng của rau mà những chất không tốt từ nồi có thể ngấm vào nước và rau đấy mẹ nhé. Không lưu trữ các loại rau đã chế biến quá lâu Các mẹ tuyệt đối không nên tái chế các món rau lưu trữ nhé. Nếu thức ăn thừa, đặc biệt là các loại rau xanh được lưu trữ quá lâu, sẽ sản xuất một lượng lớn nitrit có khả năng gây ra ngộ độc thực phẩm đặc biệt đối với những bé có cơ thể yếu và nhạy cảm. Rau xanh và các loại củ quả là một trong những thực phẩm quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe của mỗi người. Vì thế các mẹ hãy chú ý để con yêu được hấp thụ chất dinh dưỡng từ rau xanh một cách tối đa và lớn khỏe mỗi ngày nhé.                                                            
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cho bé ăn sữa chua người lớn: Mẹ "lầm to"

CHO BÉ ĂN SỮA CHUA NGƯỜI LỚN: MẸ "LẦM TO"

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Viện dinh dưỡng khuyến cáo các bà mẹ nên cho trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và ăn bổ sung từ giai đoạn 6-12 tháng tuổi. Từ giai đoạn này, mẹ có thể cho bé ăn sữa chua, tuy nhiên, hãy đảm bảo đó là loại sữa chua dành riêng cho trẻ em. Lý do được đưa ra là sữa chua dành cho người lớn thường có công thức ít béo hoặc giảm ngọt và đây không phải là lựa chọn tốt cho các bé. Bên cạnh đó, giai đoạn mới tập ăn, các bé sẽ cần một một loại sữa chua được làm từ sữa công thức và phải đảm bảo an toàn, hạn chế nguy cơ dị ứng. Vì thế, sữa chua dành cho trẻ con sẽ là lựa chọn thích hợp hơn cho sự phát triển và sức khỏe của các bé. Để trẻ làm quen với sữa chua, bạn cần cho bé thử dần từ 1-3 thìa và sau đó tăng dần lên khoảng 50g/ngày. Bé từ 1-2 tuổi có thể ăn 80g/ngày. Còn từ 2 tuổi trở đi, mẹ có thể cho bé ăn 100g/ngày. Mẹ có thể cho bé ăn sữa chua cho trẻ nguyên chất hoặc trộn thêm vào loại hoa quả mà bé yêu thích. Lưu ý, sữa chua đã đủ ngọt nên mẹ không cần phải cho thêm đường.   Mẹ có thể trộn sữa chua cho bé với hoa quả mà bé yêu thích để tăng hương vị cho món mới. (Hình minh họa) Ngoài ra, còn một số điều mẹ cần chú ý khi cho bé tập ăn sữa chua: 1. Không nên để sữa chua là món chính trong chế độ ăn của bé từ 6-12 tháng. Mẹ chỉ nên bổ sung sữa chua hàng ngày với lượng 50g trong chế độ ăn uống chất rắn đa dạng. 2. Không pha sữa chua với mật ong khi bé chưa tròn 1 tuổi.  Mật ong có chứa vi khuẩn có thể gây ngộ độc cho trẻ em độ tuổi đó. 3. Không chọn sữa chua ít béo hoặc không béo trước khi bé được 2 tuổi trừ khi bác sĩ yêu cầu. Đây là độ tuổi mà bé cần bổ sung lượng calo từ chất béo. 4. Không lựa chọn sữa chua có bổ sung hương vị. Nếu thích, mẹ có thể trộn thêm hoa quả bởi hầu hết các loại sữa chua dâu, cam.. đều có pha thêm đường và các chất làm ngọt khác. 5. Mẹ nên kiểm tra nhãn hộp sữa để đảm bảo sữa không sử dụng vani, chất làm ngọt hay các loại hương liệu khác.   Sữa chua cho trẻ em chỉ là thực phẩm bổ sung, mẹ vẫn cần chú ý cho bé ăn đầy đủ thức ăn đa dạng trong ngày. 6. Nếu bé có tiền sử dị ứng với sữa thì không tự ý cho bé dùng sữa chua nếu không có ý kiến của bác sĩ. 7. Coi sữa chua như một thức ăn mới và cho bé làm quen ít nhất 3 ngày trước khi chuyển sang loại thức ăn mới. Cách này sẽ giúp cơ thể bé điều chỉnh để làm quen dần. 8. Nếu bé xuất hiện phát ban quanh miệng, quấy gắt hoặc tiêu chảy sau khi ăn sữa chua, hãy cho bé đi khám bác sĩ. 9. Nếu định trộn trái cây và sữa chua, nên chọn loại trái cây bé thích để quen dần.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lưu ý nhỏ cho mẹ khi chế biến đồ ăn dặm cho trẻ

LƯU Ý NHỎ CHO MẸ KHI CHẾ BIẾN ĐỒ ĂN DẶM CHO TRẺ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhu cầu dinh dưỡng của bé luôn thay đổi theo từng chu kì phát triển. Lúc mới sinh ra, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quan trọng, nhưng chỉ vài tháng sau đó sẽ đến giai đoạn sữa mẹ không đủ thỏa mãn bé. Giai đoạn này thường đến khi bé từ khoảng 4 đến 6 tháng tuổi. Đây chính là thời điểm đa số các bé sẵn sàng cho việc ăn dặm. Các mẹ không nên quá vội vàng khi cho trẻ ăn dặm quá sớm, hãy đợi đến khi con thực sự sẵn sàng. Nếu cho bé ăn sớm quá sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bé như: bé dễ bị đầy bụng, khó tiêu, biếng ăn, và lâu dài sẽ có nguy cơ bị thiếu hụt dinh dưỡng, dẫn đến bé bị suy dinh dưỡng, chậm lớn… Chuyển sang giai đoạn ăn dặm là một mốc thời gian quan trọng cho cả mẹ và bé. Để các mẹ có thể giúp bé có một giai đoạn ăn dặm hiệu quả, các mẹ cần lưu ý một vài điều dưới đây khi chế biến và bảo quản thực phẩm ăn dặm cho bé. Các loại thực phẩm tốt cho giai đoạn ăn dặm của trẻ Quy trình chế biến đồ ăn dặm tại nhà   Bước 1: khi bắt đầu làm đồ ăn dặm cho trẻ, các mẹ cần phải gọt sạch vỏ các loại rau củ, cắt bỏ phần mỡ của thịt. Khi nấu gà thì cần bỏ hết phần da gà.   Bước 2: Khi nấu có thể hấp hay dùng lò vi sóng, nhưng đảm bảo thực phẩm cần được nấu chín. Không nên nấu quá đặc hoặc quá lỏng, các mẹ cần cân bằng tốt lượng nước dùng.   Bước 3: Đồ ăn của trẻ cần phải được xay nhuyễn và mịn, do đó mẹ có thể sử dụng máy xay sinh tố cho thuận tiện. Nếu cho trẻ ăn cá thì cần loại bỏ hết xương để bé không bị hóc. Cách bảo quản thực phẩm ăn dặm cho bé   Với các đồ ăn đã đã được xay nhuyễn, các mẹ có thể để trong hộp có ngăn như khay đá và cho vào ngăn lạnh. Phía ngoài hộp mẹ nên bọc lại bằng nilon. Làm theo cách này đồ ăn có thể được bảo quản tối đa trong vòng 30 ngày.   Thực phẩm ăn dặm của bé cũng có thể được bảo quản trong các hộp nhựa hoặc lọ thủy tinh. Nếu để trong ngăn mát thì khoảng 2 ngày, còn ngăn đá sẽ để được khoảng 1 tháng. Trên mỗi hộp bảo quane, mẹ nên ghi chú loại thực ăn và hạn sử dụng.   Khi cho trẻ ăn đồ ăn trong tủ lạnh, mẹ nên lấy ra bát, sau đó đặt vào lò vi sóng hâm nóng hoặc cho lên bếp đun lại. Trước khi cho bé ăn, mẹ nên kiểm tra xem nhiệt độ thức ăn có vừa với trẻ hay không, tránh để bé bị bỏng. Với đồ ăn đã lấy ra bát cho trẻ ăn, nếu bé không ăn hết thì mẹ nên bỏ đi, không nên lưu trữ lại vì rất dễ gây bệnh. Bài liên quan: Mẹo bảo quản thực phẩm ăn dặm tươi lâu 3 loại cá giúp con thông minh nhất do chuyên gia TQ chọn Cách cho trẻ sơ sinh ăn phomai đúng chuẩn ít mẹ biết Lỗi phản tác dụng khi mẹ cho bé ăn chuối sai cách
Xem thêm

2 Đọc thêm

6 LỖI SAI MẸ HAY MẮC PHẢI KHI CHO CON ĂN SỮA CHUA

6 LỖI SAI MẸ HAY MẮC PHẢI KHI CHO CON ĂN SỮA CHUA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sữa chua vốn là một trong những thực phẩm "vàng" dành cho các bé vì vừa tính tiện lợi, hương vị thơm ngon, dễ ăn mà lại chứa nhiều giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, không phải bố mẹ nào cũng biết cho con ăn sữa chua đúng cách để mang lại lợi ích về sức khỏe cao nhất. Dưới đây là những hiểu lầm phổ biến của nhiều bậc phụ huynh khi cho con ăn sữa chua. 1. Sữa chua thích hợp với tất cả mọi người Sữa chua tốt nhưng không có nghĩa là món ăn này thích hợp với tất cả mọi người. Người bị bệnh tiêu chảy cần phải cẩn thận khi ăn sữa chua, trẻ nhỏ dưới 1 tuổi không nên ăn sữa chua. Ngoài ra, những ai đang mắc chứng béo phì, xơ vữa động mạch, viêm tụy và viêm ống mật cũng không nên ăn sữa chua có đường, nếu không, bệnh sẽ càng trầm trọng thêm.   Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi không nên ăn sữa chua (Ảnh minh họa) 2. Cho bé ăn sữa chua cho đỡ đói Khi dạ dày bé đang trống rỗng, lượng pH trong dạ dày bé tăng, vi khuẩn lactobacillus trong sữa chua có thể bị tiêu diệt dễ dàng bởi axit trong dạ dày, do đó mà tác dụng của sữa chua cũng bị giảm sút. Mẹ nên cho bé ăn sữa chua sau bữa ăn khoảng 1-2 giờ. Lúc này, dịch vị của bé đang loãng, mức độ tập trung của axit trong dạ dày giảm, sẽ tốt hơn cho sự phát triển của vi khuẩn lactobacillus. Ngoài ra, ăn sữa chua vào lúc chiều tối cũng rất tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, mẹ nhớ cho bé đánh răng sau khi ăn sữa chua vì vi khuẩn và các thành phần axit trong sữa chua mặc dù tốt cho tiêu hóa nhưng dễ gây sâu răng. 3. Sữa chua có thể kết hợp với mọi thứ Sữa chua dầm hoa quả, bánh mì chấm sữa chua,... là những sự kết hợp hoàn hảo cho bé món ăn vừa hấp dẫn, vừa bổ dưỡng. Tuy nhiên, đừng vì thấy bé khó uống thuốc mà trộn chung sữa chua với các loại thuốc kháng sinh có thành phần chloramphenicol, erythromycin,..., chúng có thể tiêu diệt và phá hủy vi khuẩn lactobacillus trong sữa chua. 4. Hâm nóng sữa chua trước khi cho bé uống Có hàng ngàn vi khuẩn có lợi ở trong sữa chua, và chỉ khi để sữa chua ở trong môi trường lạnh, những vi khuẩn này mới còn sống và phát huy tác dụng. Nhiều mẹ có thói quen hâm nóng sữa chua trước khi cho con ăn, vô tình làm chết những vi khuẩn có lợi này, khiến sữa chua mất đi lợi ích dinh dưỡng. 5. Sữa chua trái cây bổ hơn sữa chua thường   Thay vì mua sữa chua trái cây bán sẵn, mẹ hãy tự thêm các loại trái cây tươi ngon vào cốc sữa chua của bé.(Ảnh minh họa) Nếu muốn gia tăng hương vị cho món sữa chua của con, mẹ hãy tự mình thêm các loại trái cây tươi ngon xắt nhỏ vào trong cốc sữa chua của bé, thay vì mua các loại sữa chua trái cây bán sẵn (bởi vì hầu hết các loại sữa chua này đều đã qua xử lí, thành phần dinh dưỡng đã giảm sút nhiều). 6. Sữa chua càng đặc càng tốt Thực tế thì sữa chua bán sẵn đặc là do được thêm vào những chất phụ gia như bột hydroxypropyl, phosphate, pectin, gelatin, vốn không tốt cho sức  khỏe. Tốt nhất là mẹ nên tự làm sữa chua tại nhà cho bé ăn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

THỰC PHẨM ''''VÀNG'''' CHO BÉ ĂN DẶM

THỰC PHẨM ''''VÀNG'''' CHO BÉ ĂN DẶM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi bé đến độ tuổi ăn dặm, các mẹ cần phải lựa chọn những thực phẩm vừa phù hợp lại giàu dưỡng chất, tốt cho sự phát triển của bé nhé. Sau đây Eva xin giới thiệu một vài thực phẩm tốt cho bé trong độ tuổi ăn dặm để các mẹ cùng tham khảo. 1. Bí đỏ Bí đỏ có chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin A, vitamin C, kali, magie, sắt, beta-carotene, protein, chất xơ… rất tốt cho máu, thị giác của bé. Đây là thực phẩm nên cho bé làm quen khi ăn dặm bởi bí đỏ dễ xay nhuyễn, có màu sắc đẹp và hương vị ngon nên rất phù hợp với bé. Các mẹ có thể nấu nhừ, dầm nhuyễn bí đỏ để nấu cháo cho bé ăn, nhưng nhớ đừng cho bé ăn hỗn hợp “bánh bí đỏ” vì nó có thể chứa nhiều đường. Các mẹ nhớ chỉ nên cho bé ăn bí đỏ 1-2 lần/ tuần thôi nhé kẻo bé bị vàng da đấy. 2. Xoài Xoài chứa hầu hết các loại vitamin như A, C, E và K cũng như nhiều chất dinh dưỡng khác như chất xơ, magiê và kali. Chính vì vậy, xoài là một loại quả tuyệt vời để đưa vào chế độ ăn dặm của bé. Nếu bé đã biết cầm thức ăn, các mẹ có thể cắt xoài chín, tươi ra thành những miếng nhỏ cho bé. Nhưng nhớ cắt bỏ hết những phần có xơ để bé không bị hóc nhé. Dù vậy, các mẹ cũng nên tìm hiểu kỹ xem bé có bị dị ứng với xoài không nhé. Nếu có, tuyệt đối không cho bé ăn xoài và cũng không nên để trẻ nghịch hay tiếp xúc da với quả xoài để tránh ảnh hưởng tới sức khỏe của bé nhé.   Các mẹ nhớ để ý kỹ xem bé có bị dị ứng với xoài không nhé (Hình minh họa) 3. Quả bơ Các chất dinh dưỡng, vitamin (chất xơ, chất béo bão hòa, kali, carbohydrate, protein, vitamin E, vitamin B2, vitamin B6, vitamin C…) có trong quả bơ rất có lợi cho sự phát triển ở bé. Đặc biệt, vitamin B tổng hợp trong trái bơ có tác dụng tăng cường trí nhớ vì thế đây là một nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, khổng lồ cho sự phát triễn trí não của trẻ. Các mẹ không cần phải chế biến quá cầu kỳ trước khi cho trẻ ăn. Chỉ cần chọn quả bơ chín rồi gọt vỏ, nạo thành những miếng nhỏ giúp bé nhâm nhi, hoặc nấu cùng cháo cũng khiến mùi vị thêm đậm đà, ngầy ngậy giúp bé ăn ngon miệng hơn. 4. Thịt bò Thịt bò là một nguồn cung cấp sắt phong phú, giúp bé phát triển trí não và lưu thông ôxy trong cơ thể. Tuy nhiên, các mẹ cũng cần nghiên cứu chế biến thịt bò thật cẩn thận và hợp lý bởi giai đoạn này răng bé vẫn chưa đủ để nhai thịt.  5. Thịt gà  Thịt gà chứa nhiều protein và chất sắt, đây là nguồn dinh dưỡng chất lượng dành cho bé đặc biệt trong thời kỳ ăn dặm. Phần ức và phần lườn của gà giàu protein, ít chất béo, phần đùi gà chứa nhiều sắt và có hàm lượng chất béo cao. Thịt gà dễ tiêu hóa nhất trong số các loại thịt, được xếp vào danh sách "thịt trắng", và "thịt trắng" dễ hấp thụ hơn "thịt đỏ" (Thịt bò, thịt lợn). 6. Pho mát  Pho mát là một nguồn giàu riboflavin (vitamin B2) cần thiết cho quá trình chuyển hóa protein, chất béo và carbohydrate thành năng lượng. Trong phomát chứa nhiều chất béo bão hòa không tốt cho người lớn nhưng lại rất tốt cho trẻ nhỏ.   Trong pho mát có nhiều chất béo bão hòa tốt cho trẻ nhỏ (Hình minh họa) 7. Khoai lang Khoai lang là loại củ chứa nhiều tinh bột, acid amin, beta caroten, vitamin C, vitamin B1, canxi, kẽm, sắt, magie, natri, kali,… an toàn cho bữa ăn dặm của bé. Ngoài ra, khoai lang chứa rất ít chất béo, không có cholesterol và là một nguồn photochemical phong phú, giúp bé chống lại các loại bệnh tật. Vị ngon ngọt, thanh mát của loại củ này sẽ khiến bé thích thú hơn với bữa ăn dặm. 8. Sữa chua  Sữa chua có tác dụng rất tốt, cần thiết cho sức khỏe của bé. Nó cung cấp lượng lớn canxi, cao hơn trong sữa tươi, góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ xương của trẻ. Hai hộp sữa chua mỗi ngày có thể bổ sung đến 50% nhu cầu canxi mỗi ngày của các bé. Ngoài ra, các dưỡng chất và lợi khuẩn trong sữa chua còn giúp trẻ tăng sức đề kháng, ổn định hệ tiêu hóa.  Tuy sữa chua là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe của bé nhưng các mẹ cũng không nên cho con ăn quá nhiều. Nếu bé ăn quá nhiều sữa chua sẽ rất dễ phải đối mặt với tình trạng quá nhiều axit trong dạ dày. Hiện tượng này sẽ ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày và bài tiết chất xúc tác tiêu hoá. Điều này lâu ngày sẽ làm mất đi cảm giác thèm ăn của bé. Liều lượng sữa chua khuyến cáo cho trẻ chỉ nên ăn từ 1 - 2 cốc mỗi ngày. 9. Cam quýt  Cam quýt là những trái cây giàu vitamin C giúp của thiện sức đề kháng của cơ thể trẻ và giúp trẻ hấp thụ chất sắt từ các thực phẩm khác. Hơn nữa, thường xuyên ăn cam quýt cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch chống lại các loại vi khuẩn. Trong cam quýt có chứa nhiều chất xơ và pectin có thể thúc đẩy nhu động ruột giúp loại bỏ chất độc hại. Các mẹ có thể cho con ăn sau mỗi bữa ăn hoặc vắt nước cho con uống.   Cam quýt giàu vitamin C rất tốt cho trẻ nhỏ (Hình minh họa) 10. Cà chua Cà chua là loại quả giàu vitamin, chất xơ và chất chống ôxy hóa, đây được cho là thực phẩm an toàn, lợi ích cho bữa ăn dặm của bé. Cà chua có tác dụng giải độc, tái sinh tế bào, phát triển hệ thống thần kinh, tránh cảm cúm, bảo vệ da cho bé. Ngoài ra, cà chua còn là một nguồn thực phầm dồi dào lycopene – một sắc tố chống oxy hóa giúp ngăn ngừa ung thư và bệnh tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng lycopene trong cà chua có thể được hấp thụ hiệu quả hơn nếu được nấu cùng với một chút dầu ăn. Các mẹ có thể xay nhỏ cà chua nấu cùng với bữa ăn dặm của bé. Các mẹ cũng cần lưu ý cân đối lượng cà chua vừa phải trong chế độ ăn dặm của bé nhé.   Các mẹ lưu ý cân đối lượng cà chua vừa phải trong khẩu phần ăn của bé thôi nhé (Hình minh họa) 11. Cà rốt  Cà rốt chứa nguồn beta caroten, vitamin A, khoáng chất, chất xơ vô cùng dồi dào, điều này rất có lợi cho thị giác, tim mạch của bé. Đây là một trong những thực phẩm dễ kết hợp nên các mẹ có thể tùy ý sáng tạo thực đơn ăn dặm cho con bằng cách luộc, hấp với thực đơn ăn dặm. Các chuyên gia cho rằng nên bổ sung lượng cà rốt hợp lý. Chỉ nên cho trẻ ăn cà rốt 2 lần/tuần, mỗi lần khoảng 30-50g. Ăn như vậy mới có tác dụng ức chế sự phát triển của các tế bào gây ung thư. Còn nếu cho bé ăn quá nhiều cà rốt có thể khiến bé bị thiếu máu, do đó bé dễ mắc bệnh vàng da, chán ăn, tâm thần bất ổn, bồn chồn và khó ngủ. Thậm chí, ban đêm bé còn hay giật mình, sợ hãi, khóc và nhiều triệu chứng khác nữa. 12. Cá Cá chứa nhiều nhóm axit amin, nguồn Omega 3 tuyệt vời cho sức khỏe mà cơ thể trẻ sơ sinh đang phát triển rất cần. Các Omega 3 trong cá có tác dụng cực tốt đến sự phát triển của não bộ, trí thông minh và mắt của trẻ. Đặc biệt cá hồi cung cấp một nguồn chất béo cần thiết hỗ trợ chức năng của não bộ và hệ thống miễn dịch.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Uống nhiều sữa tươi, sinh con da trắng?

UỐNG NHIỀU SỮA TƯƠI, SINH CON DA TRẮNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi mang thai, bạn sẽ nhận được rất nhiều lời khuyên của người thân, bạn bè như: nằm ngửa khi ngủ không tốt, nhuộm tóc rất độc… Thực hư những lời khuyên này thế nào? Chúng tôi sẽ giải đáp giúp bạn. Rạch âm hộ tốt hơn sinh thường Điều này thật vô lý. Thủ thuật rạch âm hộ chỉ có lợi trong một số trường hợp nhất định, khi âm hộ của người phụ nữ không thể mở rộng, gây khó khăn cho việc sinh nở. Rạch âm hộ mục đích là giúp hạn chế mức độ rách sâu và tránh tổn thương khác. Còn với chị em sức khỏe tốt và có thể sinh thường tự nhiên thì không nên đụng dao kéo để thời gian bình phục nhanh hơn. Nằm ngửa khi ngủ hại thai nhi Với những người mắc chứng tăng huyết áp hay suy giảm chức năng thận, khi bụng bầu đã to, tư thế ngửa khi ngủ dễ dẫn đến thiếu hụt oxygen trong máu, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, nếu sức khỏe mẹ và bé bình thường thì mẹ hoàn toàn có thể nằm ngửa để ngủ miễn sao tư thế này đem lại cảm giác dễ chịu, thoải mái.   Khi mang thai, bạn vẫn có thể nằm ngửa khi ngủ nếu cảm thấy thoải mái, dễ chịu (Ảnh minh họa). Nhuộm tóc rất độc Chị em khi mang bầu thường được khuyên rằng không nên nhuộm tóc vì hóa chất trong thuốc nhuộm có thể được hấp thu qua da của mẹ và sau đó gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bé. Sự thật, không có bằng chứng khoa học nào chứng minh thuốc nhuộm tóc có thể gây hại thai nhi. Tuy nhiên, nếu mẹ có thể trạng yếu thì không nên nhuộm tóc, đặc biệt là trong 3 tháng đầu khi thai kỳ chưa ổn định. Bởi trong thuốc nhuộm tóc thường có chứa phenilenediamine, aminophenol… dễ gây phản ứng với người nhạy cảm. ‘Yêu’ khi mang thai, không tốt Với những chị em có sức khỏe kém, ‘yêu’ khi bầu bí rất không tốt vì dễ gây sảy thai. Nhưng với chị em sức khỏe bình thường thì ‘chuyện ấy’ không hề tạo ra những tác động xấu tới sự phát triển của trẻ, thậm chí, việc được âu yếm, vuốt ve và đạt đến cực khoái thực tế là liều thuốc bổ. Sinh con có thể khiến răng rụng Sở dĩ sau sinh có một vài chị em bị yếu răng, rụng răng là do khi bầu bí lượng canxi trong hệ xương khớp và hàm răng phụ nữ bị sụt giảm đáng kể mà lại không được bổ sung kịp thời, chế độ ăn nghèo dinh dưỡng. Tuy nhiên, đó chỉ là những trường hợp hy hữu. Uống nhiều sữa tươi sẽ sinh con da trắng Nhiều mẹ bầu truyền tai nhau rằng, để sinh được một em bé có làn da trắng, mẹ nên uống nhiều sữa khi mang thai. Thực tế, đây là lời đồn thổi vô căn cứ. Màu sắc làn da của bé phụ thuộc chủ yếu vào sự di truyền của bố mẹ. Việc ăn uống hầu như không ảnh hưởng và quyết định tới màu da. Hơn nữa, uống nhiều sữa tươi khi mang thai không tốt cho thận vì luôn phải làm việc quá tải.
Xem thêm

2 Đọc thêm

‘ĐÚC’ CON THÔNG MINH BẰNG 10 VIỆC ‘DỄ ỢT’

‘ĐÚC’ CON THÔNG MINH BẰNG 10 VIỆC ‘DỄ ỢT’

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sinh ra được những đứa con khỏe mạnh, thông minh là điều mà các ông bố, bà mẹ nào cũng mong muốn. Chẳng phải ăn sơn hào, hải vị, chẳng phải uống thuốc bổ nước trong hay nước ngoài… mà mẹ chỉ cần ghi nhớ những quy tắc sau sẽ giúp mẹ bầu có thai kỳ khỏe mạnh và đặc biệt là sinh ra những đứa con phát triển tốt, thông minh. 10 việc rất đơn giản mẹ nên thực hiện trong thai kỳ dưới đây sẽ giúp bố mẹ sinh ra những đứa con như ý muốn. Hoạt động điều độ Nếu trong thời kỳ mang thai, các bà bầu “ngại vận động” thì sẽ khiến việc trao đổi chất bị kém đi, thể lực yếu, quan trọng hơn là lượng mỡ không được tiêu hao sẽ tích tụ và gây béo phì. Các bác sĩ đã đưa ra kiến nghị rằng những người phụ nữ đang mang thai nên hoạt động để nâng cao khả năng tư duy cũng như sự nhẫn nại, điều này là hoàn toàn có lợi cho cả người mẹ lẫn đứa bé trong bụng. Ngoại trừ trường hợp một số người phụ nữ đang mang thai đã có vấn đề về sức khỏe ra thì tốt nhất, mỗi ngày nên dành thời gian tập luyện cho đều đăn. Những hoạt động tập luyện này có thể là đi tản bộ hoặc vận động nhẹ nhàng. Luôn giữ tâm lý vui vẻ Khi mang thai, cơ thể người mẹ và bào thai trong bụng là một thể thống nhất. Nếu tinh thần của người mẹ tốt, tâm trạng luôn vui vẻ thì đứa trẻ khi sinh ra cũng sẽ hoạt bát, thông minh. Ngược lại, nếu người mẹ luôn phải chịu căng thẳng sẽ khiến cho nhịp tim đập nhanh và sức khỏe của thai nhi có sự thay đổi bất thường. Các chuyên gia sức khỏe nhận định rằng, nếu người mẹ luôn duy trì được tâm lý vui tươi thì sẽ là điều rất có lợi cho thai nhi.   Tâm trạng của mẹ khi mang thai ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thai nhi. (ảnh minh họa) Không làm việc quá sức Phụ nữ trong thời kỳ mang thai nếu hoạt động quá sức sẽ dẫn đến tình trạng bị xuất huyết, lưu sản. Nhiều trường hợp người mẹ làm việc quá sức sẽ có hiện tượng đẻ non, em bé bị nhẹ cân. Nếu thai phụ cảm thấy thể trạng mệt mỏi thì tốt nhất là nên về phòng nằm nghỉ chứ không nên làm việc quá sức. Ngoài ra, việc chịu quá nhiều áp lực công việc cũng sẽ khiến cho tâm lý căng thẳng và stress. Không giảm cân Thời kỳ mang thai là thời kỳ không thích hợp để các bà mẹ giảm cân. Bởi vì nếu lúc này, bạn giảm chế độ ăn của mình nhằm mục đích hạn chế sự tăng lên quá nhanh của cân nặng sẽ gây ảnh hưởng và làm mất cân bằng dinh dưỡng của bào thai trong bụng. Ngoài ra, sức đề kháng của người mẹ yếu, sẽ dễ bị cảm và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bé yêu trong bụng. Chính vì vậy, nếu trong thời kỳ mang thai, cân nặng của bạn tăng lên quá nhanh so với dự kiến thì cách tốt nhất là hãy chú ý và cân bằng thực đơn ăn uống của bản thân, hạn chế sự tích mỡ. Ăn nhiều hoa quả Táo bón là hiện tượng thường gặp đối với các thai phụ. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này chính là do tử cung của người phụ nữ trong thời kỳ mang thai tiết ra nhiều chất có tên gọi là oppression. Chính chất này là nguyên nhân khiến các thai phụ thường bị táo bón. Ngoài ra, sự thay đổi hormone secretion trong cơ thể các thai phụ cũng là một trog những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng táo bón. Thêm một lý do nữa, đó chính là những người phụ nữ trong thời kỳ mang thai thường ít vận động khiến cho hiện tượng táo bón càng trở nên rõ nét hơn. Những nghiên cứu ý học đã chứng minh được rằng nếu phụ nữ mang thai chịu khó ăn nhiều rau quả hơn thì có thể hạn chế được hiện tượng táo bón. Không hút thuốc, uống rượu Rượu và thuốc lá là những điều cấm kỵ đối với phụ nữ đang mang thai. Nếu người phụ nữ trong thời kỳ mang thai mà uống rượu hoặc hút thuốc lá sẽ khiến cho hệ thống thần kinh của thai nhi bị ảnh hưởng, nhiều trường hợp gây chết lưu. Đó chính là lý do mà những người phụ nữ có chứng nghiện rượu thường được khuyên là nên cai rượu và thuốc để tránh gây ảnh hưởng tới sức khỏe của thai nhi trong bụng. Một số người ưa thích cà phê và trà đặc cũng nên từ bỏ thói quen này nếu đang mang thai. Vì trong cà phê và trà đặc có chứa những chất kích thích hoàn toàn không có lợi cho thai nhi trong bụng. Ăn uống đủ chất Bé sẽ hấp thu tất cả chất dinh dưỡng cần thiết từ bạn trong suốt thời gian nằm trong bụng mẹ, vì vậy cần lưu ý đến chế độ ăn sao cho đầy đủ dưỡng chất. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu có thể nghén nhiều loại thức ăn có vẻ kỳ lạ so với khẩu vị bình thường. Tuy nhiên bạn không cần quá lo lắng về điều này, miễn là đừng ăn một loại thức ăn thường xuyên và quá nhiều.   Mẹ bầu nên ăn uống đủ chất thì cơn mới phát triển toàn diện được. (ảnh minh họa) Đồng thời nên cân đối lượng chất bổ dung nạp, đảm bảo cho bé có đủ chất mà mẹ vẫn không bị béo phì, vì tăng cân quá mức dẫn đến nhiều nguy cơ về sức khỏe cho cả hai mẹ con. Bình thường một phụ nữ mang thai cần tăng khoảng 10 – 15 kg trong suốt 40 tuần lễ bầu bí. Điều này cho phép bé tăng từ 3 - 4 kg và từ 7 – 12 kg đối với “hệ thống nâng đỡ chịu thai” gồm nhau, nước ối, lượng máu gia tăng, mỡ và tuyến sữa ở vú. Các mẹ có thể tham khảo lượng thực phẩm chuẩn cho một ngày của bà bầu như sau: các protein hàng đầu – 3 phần; thức ăn có vitamin C – 2 phần; thức ăn có canxi – 4 phần; rau xanh, rau có màu vàng – 3 phần; ngũ cốc và các loại đường phức hợp – 4 đến 5 phần; rau và trái cây khác – 1 đến 2 phần; thực phẩm giàu chất sắt – 2 phần; tăng cường uống các loại nước với 1 ngày khoảng 8 ly, tránh dùng cà phê, trà, rượu, tốt nhất là uống nước lọc hoặc nước đun sôi để nguội. Các mẹ cũng tránh ăn quá no mà nên chia khẩu phần ăn ra thành nhiều bữa nhỏ. Mặc quần áo thoải mái Các thai phụ khi mang thai tới tháng thứ 4 hoặc 5 nên lựa chọn trang phục cho phù hợp với cơ thể. Không nên mặc những bộ quần áo quá bó khiến cơ thể khó vận động và hệ hô hấp gặp khó khăn. Thông thường thì thân nhiệt của phụ nữ khi mang thai sẽ cao hơn so với người bình thường. Nếu mang thai vào mùa hè thì lượng mồ hôi được tiết ra cũng nhiều hơn. Khi chọn đồ, nếu không lựa chọn đúng loại quần áo phù hợp, cơ thể sẽ rất khó chịu. Ngoài ra, các thai phụ cũng nên chú ý tới việc lựa chọn đồ nội y, không thể lựa chọn đồ nội y như khi chưa mang bầu. Nếu nội y quá chật sẽ gây ảnh hưởng cho thai nhi. Không thức khuya Thức đêm nhiều sẽ khiến tình trạng sức khỏe của bạn xuống dốc, thể lực giảm sút. Lúc này, nếu cơ thể của người mẹ cảm thấy khó chịu cũng chính là thai nhi không được khỏe. Để có thể sinh ra những em bé thông minh và khỏe mạnh, bạn nên giữ cho mình thói quen sinh hoạt điều độ. Đọc sách giáo dục dành cho trẻ em Muốn làm một người mẹ tốt là một việc không hề đơn giản. Dạy dỗ một đứa trẻ từ lúc mới ra đời cho tới khi đứa bé lớn lên cũng không phải là một việc nhỏ. Ngoài ra, để có thể biết làm sao để có thể bảo đảm sức khỏe cho thai nhi trong bụng, bạn cũng cần phải chuẩn bị rất nhiều thứ. Bạn nên đọc nhiều sách và tạp chí có liên quan tới việc đảm bảo sức khỏe và dạy dỗ cho đứa bé.
Xem thêm

2 Đọc thêm

5 bước tập cho con ăn dặm "chuẩn" nhất

5 BƯỚC TẬP CHO CON ĂN DẶM "CHUẨN" NHẤT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bé bắt đầu ăn dặm được coi là bước ngoặt lớn trong "quá trình dinh dưỡng" của con. Đây là giai đoạn có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển thể chất, trí tuệ, sức khỏe,... của bé sau này. Vì thế, việc cho bé làm quen với thức ăn như thế nào là vô cùng quan trọng. Nếu ngay từ đầu, mẹ đã mắc sai lầm thì bé có thể sợ hãi thức ăn, dẫn đến biếng ăn và hấp thụ kém. Hiển nhiên, con sẽ không thể lớn nhanh và khỏe mạnh được. Vì thế, mẹ nhất thiết phải giới thiệu thức ăn cho bé một cách bài bản theo từng bước dưới đây, để việc ăn dặm thực sự trở thành một điều vô cùng hấp dẫn với con. Bước 1 - Để ý xem bé đã sẵn sàng ăn dặm chưa "Khi nào thì có thể bắt đầu cho con làm quen với thức ăn ngoài sữa mẹ?" Đó là câu hỏi khiến nhiều mẹ - nhất là những mẹ lần đầu sinh con tỏ ra lúng túng. Bởi không phải cứ hết "cữ" bú mẹ trong 6 tháng đầu là bé nào cũng chuyển thẳng sang bước tiếp theo đâu nhé. Hoặc có những mẹ ít sữa, con không thể bú hoàn toàn được thì mẹ có thể "thử" xem con đã có thể ăn dặm trước 6 tháng được chưa, cách "tìm manh mối" như sau :   - Để ý hoạt động miệng của con: Bé không cần phải mọc răng trước khi bắt đầu ăn dặm, vì thức ăn ban đầu hầu hết là rất mềm, lỏng. Mẹ chỉ cần để ý thấy con bắt đầu "túm" lấy tất cả mọi thứ trong tầm tay và cho vào miệng để gặm, thay vì chỉ mút thì đó là tín hiệu mà bé có thể làm quen với thức ăn được rồi.   - Bé tập trung vào thức ăn: Lúc mẹ thấy bé hay nhìn chằm chằm vào bất cứ món gì trên bàn và cố gắng đưa tay với lấy, cho vào miệng "mút mát", đó cũng là lúc mẹ có thể cho con "bốc bải" một chút thức ăn được.   - Ngồi yên: Khi bé chịu ngồi yên trên ghế để mẹ cho ăn, giữ đầu thẳng lên mà không cần sự hỗ trợ nào thì thực sự là thời điểm thích hợp nhất để bắt đầu "bước ngoặt" mới của mình rồi. Tuy nhiên, mẹ có thể nên mua cho bé ghế ăn có lưng tựa, và dùng gối/chăn để giữ cho đầu bé được cố định. Bước 2 - Chuẩn bị ngũ cốc cho bé Thức ăn đầu tiên cho bé phải mềm, mịn để con dễ ăn, dễ tiêu hóa. Mẹ có thể cho con ăn cháo loãng, hoặc 1 chút bột ngũ cốc pha loãng với sữa mẹ hay sữa công thức.   Lưu ý: Mẹ tuyệt đối không cho bé dùng sữa bò trong giai đoạn này. Bước 3 - Để bé cảm thấy thoải mái với thức ăn Điều này vô cùng quan trọng vì nó quyết định việc con sẽ hào hứng với chuyện ăn dặm, hay tỏ ra sợ hãi nó. Vì thế, mẹ vội xúc những thìa thật to và cố "nhồi nhét" cho con. Thay vào đó, chỉ nên lấy chút xíu thức ăn vào thìa và đưa lại gần miệng và mũi để bé có thể ngửi thấy và bắt đầu "nhấm nháp" từ từ. Đôi khi, mẹ có thể "giả vờ" đưa thìa thức ăn vào miệng cho bé, nhưng lại lập tức kéo ra rồi lại đưa vào, lặp lại vài lần như thế giống như đang chơi một trò chơi thú vị. Kết quả là bé sẽ cố gắng ăn được chỗ thức ăn đó với tâm trạng vui vẻ, hứng thú.   Tuy nhiên, mẹ tuyệt đối không đánh lạc hướng bé bằng cách mở TV, mở nhạc hay bất cứ hoạt động nào khác khiến bé mất tập trung vào bữa ăn. Bước 4 - Thử nghiệm tỉ lệ Khi bé đã bắt đầu quen với ngũ cốc, mẹ hãy thử thêm bớt lượng thức ăn mỗi bữa, hoặc tăng/giảm lượng sữa công thức/sữa mẹ xem phản ứng của con thế nào để rút ra chế độ ăn phù hợp nhất cho bé.   Sau đó, mẹ cũng nên bắt đầu cho con làm quen với rau củ và hoa quả bằng cách thêm chút chuối nghiền, rau nghiền vào cháo/ bột cho bé ăn. Bước 5 - Dừng lại khi con chưa sẵn sàng   Nếu bé không hề tỏ ra quan tâm tới thức ăn, không chịu chấp nhận bất cứ món gì hoặc đã chán ăn rồi thì mẹ nên lập tức dừng lại. Tuyệt đối không ép con vì có thể gây ra những hệ quả không tốt. Hãy chờ đến một thời điểm khác - khi bé đã thực sự sẵn sàng.
Xem thêm

4 Đọc thêm

KHI NÀO ĐẺ MỔ LÀ TỐT NHẤT?

KHI NÀO ĐẺ MỔ LÀ TỐT NHẤT?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Với phương pháp sinh mổ, em bé chào đời không qua đường âm đạo của mẹ như thông thường mà được các bác sĩ đưa ra khỏi tử cung của mẹ thông qua một cuộc phẫu thuật. Sinh mổ thường được thực hiện sau khi gây tê màng cứng hoặc gây tê cột sống để mẹ vẫn có thể nhận biết sự ra đời của bé nhưng không cảm thấy đau đớn trong quá trình phẫu thuật. Tuy nhiên, các bác sĩ gây mê có thể quyết định chọn biện pháp gây mê toàn thân trong một vài trường hợp. Hiện nay, sinh mổ được xem là một phương pháp cực kỳ an toàn với tỷ lệ tử vong thấp. Tuy nhiên, thời gian để mẹ phục hồi sẽ lâu hơn khi sinh thường và việc phẫu thuật cũng có nhiều khả năng gây ra một vài rắc rối cho cả mẹ và bé. Vì vậy, các bác sĩ vẫn khuyên mẹ không nên chọn sinh mổ nếu không vì những lý do chính đáng.   Có những trường hợp bắt buộc sinh mổ sẽ đảm bảo an toàn cho mẹ và bé (ảnh minh họa) Sinh mổ có thể được lên kế hoạch trước (trường hợp này gọi là "chọn" mổ) do các biến chứng khi mang thai trở nên rõ ràng ngay cả trước khi mẹ chuyển dạ, do mẹ đã từng đẻ mổ hoặc có thể không hề có kế hoạch cho đến khi có rắc rối bất ngờ xảy ra trong quá trình chuyển dạ và bác sĩ buộc phải quyết định một ca mổ "cấp cứu". Đó cũng là lí do tại sao mẹ nên tìm hiểu về quá trình sinh mổ để chuẩn bị tinh thần, tâm lý nếu có nhu cầu phát sinh. Khi nào cần chọn phương pháp đẻ mổ? - Vị trí của thai nhi không đúng Em bé bị kẹt quá sâu vào vùng xương chậu nên không thể xoay được. Ngôi thai bất thường như ngôi ngang, ngôi ngược, thế cằm sau ngôi đầu, ngôi mông lần sinh đầu...Trong những trường hợp này, việc tiến hành sinh mổ là rất cần thiết. Ngoài ra, mẹ mang đa thai cũng nên lựa chọn sinh mổ. Thực tế đã cho thấy, các mẹ có thai hai bé hay nhiều hơn có xác suất ít nhất một bé có vị trí thai bất thường cao hơn rất nhiều so với các mẹ chỉ mang thai đơn.   Ngôi mông hay ngôi ngang là vị trí thai bất thường khiến sinh thường trở nên khó khăn (ảnh minh họa) - Biến chứng nhau thai hoặc dây rốn  Nhau tiền đạo là tình trạng nhau thai bất thường khá phổ biến gây nguy hiểm cho thai nhi trong quá trình sinh. Nhau tiền đạo là tình trạng nhau thai không bám hoàn toàn ở mặt trước và sau đáy tử cung như bình thường mà một phần, hoặc toàn bộ bánh nhau bám vào đoạn dưới tử cung. Phần nhau này sẽ nằm chắn phía trước thai nhi lúc thai nhi di chuyển xuống dưới đường sinh khi mẹ bắt đầu chuyển dạ, ngăn chặn  nguồn máu cấp cho bé. Vì vậy, trong những trường hợp này đa số phải mổ lấy thai. Biến chứng khác của nhau thai đòi hỏi phải tiến hành mổ đẻ khẩn cấp đó là nhau bong non, là trường hợp nhau bám đúng vị trí nhưng bị bong sớm trước khi sổ thai. Biến chứng này cắt đứt trao đổi tuần hoàn giữa mẹ và bé, gây ra hậu quả tất yếu là mẹ bị mất máu nghiêm trọng, bị biến chứng rối loạn đông máu, vô niệu, có thể gây tử vong cho thai nhi và đe dọa tính mạng mẹ. Sa dây rốn cũng là một vấn đề nghiêm trọng, nếu không lựa chọn đẻ mổ kịp thời, dây rốn bị chèn ép khiến nguồn cung cấp oxy cho bé bị ngắt, nguy hại đến tính mạng của bé. - Quá trình sinh kéo dài Tử cung có dấu hiệu vỡ, cơn co thắt tử cung yếu khiến quá trình sinh sản kéo dài mặc dù dùng nhiều biện pháp xử lý vẫn không có hiệu quả. Hay tình trạng sức khỏe của mẹ suy giảm trong quá trình chuyển dạ (như tăng vọt huyết áp, kiệt sức, tiền sản giật, sản giật hoặc những lý do khác). Trong những trường hợp này, nếu vẫn tiến hành sinh thường, thời gian sinh quá dài sẽ hại đến mẹ và thai nhi, vì vậy, bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật để đưa bé ra khỏi tử cung của mẹ.   Quá trình kéo dài và không có tác dụng nếu tiếp tục, bác sĩ sẽ đề nghị mẹ chuyển sang đẻ mổ (ảnh minh họa) - Mẹ có vấn đề về sức khỏe Nếu như mẹ có vấn đề về sức khỏe như tiểu đường, bệnh tim, phổi, cao huyết áp, có tiền sử khó đẻ, có tiền lệ về phẫu thuật, sinh mổ sẽ là lựa chọn an toàn cho mẹ và bé. Một số bệnh lý khiến mẹ không thể sinh thường được có thể kể đến như herpes sinh dục đang tiến triển, sùi mào gà, viêm gan, HIV dương tính..., sinh mổ sẽ an toàn cho bé, bảo vệ bé khỏi nguy cơ nhiễm các căn bệnh này. Hiện nay bằng nhiều phương pháp khác nhau như khám lâm sàng, siêu âm, monitor sản khoa theo dõi tim thai cơn gò, xét nghiệm máu...bác sĩ có thể đánh giá và tiên lượng cuộc sinh: mẹ nên sinh thường hay sinh mổ, sinh ở bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh hay tuyến trung ương... Vì vậy, những tuần cuối từ tuần thứ 35 trở đi các mẹ nên đi khám thường xuyên để các bác sĩ theo dõi và hướng dẫn mẹ nên đẻ mổ hay đẻ thường để mẹ chuẩn bị sẵn tinh thân.   Mẹ nên đi khám thai trong những tuần cuối của thai kỳ để bác sĩ tiên lượng cuộc sinh (ảnh minh họa) Nhưng dù trường hợp thai của mẹ là sinh mổ hay sinh thường thì mẹ cũng đừng nên quá lo lắng vì sinh đẻ là một hiện tượng sinh lý tự nhiên mà rất nhiều phụ nữ đã làm được, điều mẹ cần làm là để tinh thần thật thoải mái để "vượt cạn" nhanh chóng và thành công nhé!
Xem thêm

2 Đọc thêm

Chuẩn cho con ăn dặm theo từng tháng tuổi

CHUẨN CHO CON ĂN DẶM THEO TỪNG THÁNG TUỔI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Với mỗi bé thì khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, khẩu vị và lượng thức ăn sẽ là khác nhau. Mẹ nên quan tâm và chăm sóc kỹ tới bé, như thế mẹ có thể dễ dàng biết được khẩu vị ưa thích của bé. 4 - 6 tháng tuổi Tới 5 tháng tuổi, bé có thể sẵn sàng hơn cho những dinh dưỡng và thực phẩm mới. Đây là thời điểm thích hợp cho trẻ ăn các loại thực dạng lỏng như ngũ cốc, nước trái cây. Ngũ cốc cung cấp cho trẻ chất sắt – một thành phần quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Khi chào đời, trong cơ thể bé có một lượng sắt nhất định, nhưng nếu không được bổ sung kịp thời bé sẽ bị thiếu máu, gây nguy hại đến sức khỏe. Để cho bé dễ ăn, mẹ nên trộn ngũ cốc với sữa bột, sữa mẹ hoặc với nước. Trong giai đoạn này, nhiều mẹ nhận thấy con tăng cân chưa đủ nên tiến hành cho con ăn dặm. Mẹ cần chú ý để nhận biết các dấu hiệu sẵn sàng để con có thể ăn thức ăn dặm như có thể kiểm soát các cử động của đầu và cổ; mọc răng; có thể ngồi lên với sự trợ giúp của người thân... 6-8 tháng tuổi Đây là giai đoạn phù hợp để các mẹ bắt đầu cho con ăn dặm. Hoa quả và rau củ là lựa chọn lí tưởng nên trong danh sách đồ ăn dặm của bé. Mẹ nên chọn những loại quả mềm, giàu dinh dưỡng, vị thơm ngon để bé dễ ăn hơn như chuối, kiwi, đu đủ, lê...Rau củ thích hợp hơn cả cho bé là bông cải xanh, củ cải trắng, củ cải đỏ, bí xanh, bí ngô, khoai tây, cà rốt, khoai lang... Sau khi đã lựa chọn được loại rau củ quả thích hợp, mẹ bắt tay vào chế biến. Trước tiên, mẹ rửa sạch các loại hoa quả (rau củ), sau đó luộc hoặc nướng cho đến khi mềm. Chờ nguội bớt, các mẹ nghiền nhuyễn bằng tay hoặc dùng máy xay sinh tố. Mẹ có thể tạo hỗn hợp bằng cách cho thêm vào một ít sữa bột pha sẵn, sữa mẹ hoặc nước trắng. Bên cạnh đó, mẹ cũng có thể xay nhuyễn các loại thịt (thịt bò, thịt gà, thịt lợn), cá, đậu (đậu đỏ, đậu lăng, đậu đen, đậu điểm). Các bác sĩ khuyên mẹ không nên cho con ăn thịt quá sớm, tuy nhiên thịt có chứa lượng chất sắt lớn đặc biệt phù hợp với các bé dùng sữa mẹ.   6-8 tháng tuổi, mẹ có thể cho bé ăn dặm (Ảnh minh họa) 8-10 tháng tuổi Thời điểm này, các bé đã mọc răng, nên việc ăn uống cũng trở nên dễ dàng hơn. Các thức ăn không nhất thiết không nhất thiết phải nghiền nhuyễn, chỉ cần nấu cho đến khi mềm. Bé bắt đầu có thể ăn bốc. Những loại thực phẩm bé có thể tự cầm ăn như chuối chín cắt lát, bánh mì miếng cắt nhỏ, bánh quy giòn, đậu phụ, mì…Mẹ nên cắt nhỏ để bé dễ cầm và đảm bảo con không bị nghẹn khi ăn. Ngoài ra, mẹ nên cho bé dùng thêm các sản phẩm từ sữa nhữ sữa chua, pho mai làm từ sữa đã gạn kem, pho mát tiệt trùng. Đối với pho mai, các mẹ cũng cắt nhỏ cho con dễ ăn. 10-12 tháng tuổi Vào giai đoạn này, bé có thể ăn được đa dạng các loại thực phẩm hơn. Tuy nhiên, một số bác sĩ nhi khoa vẫn khuyến cáo nên tránh xa đậu phộng, lạc hoặc tôm, sò…vì chúng có thể khiến trẻ bị dị ứng. Mẹ không nên cho con dùng sữa bò và mật ong cho đến khi con 1 tuổi. Khi bé mọc nhiều răng và biết nhai, bé có thể ăn được những miếng lớn hơn một chút. Trong thời điểm này, bạn hãy quan sát cẩn thận, thấy bé gặp khó khăn khi ăn miếng lớn thì nên cắt nhỏ ra cho bé. Đặc biệt cẩn thận nếu cho bé ăn nho, xúc xích…vì chúng dễ khiến trẻ bị nghẹt thở.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Trong bụng mẹ: Thai nhi rất bận rộn!

TRONG BỤNG MẸ: THAI NHI RẤT BẬN RỘN!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cho dù đây là lần mang thai đầu hay lần thứ 3,4 thì mỗi người mẹ đều mong muốn được cảm nhận sớm nhất những chuyển động, những cú máy thai của bé. Mỗi cú đạp, xoay chuyển người của thai nhi là dấu hiệu giúp mẹ yên tâm rằng bé đang phát triển tốt. Tuy nhiên, có thể mẹ không biết rằng mỗi chuyển động, huých, đạp đó của bé đều có thể chứa những thông điệp thú vị mà không phải bà bầu nào cũng biết. Theo các chuyên gia khoa sản, trong thời gian ở trong bụng mẹ, em bé không chỉ di chuyển bàn tay mà còn huých, đạp chân và thậm chí là nhào lộn. Cùng khám phá những điều thú vị về những chuyển động này của bé. Khi nào mẹ sẽ cảm nhận được những chuyển động của thai nhi? Hầu hết các mẹ đều rõ ràng nhận ra những chuyển động của bé vào khoảng tuần thứ 22-24 thai kỳ, tuy nhiên bé đã có những di chuyển từ trước đó rất lâu (khoảng tuần thứ 8,9) nhưng quá nhẹ khiến mẹ không nhận ra. Một số bà mẹ nhận ra những chuyển động này nhưng không phân biệt chính xác đó là do bé đạp hay chuyển động của chính cơ thể mình. Ngoài ra có một số yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của người mẹ như nếu nhau thai ở phía trước của tử cung thì mẹ cũng sẽ khó cảm nhận những chuyển động của bé rõ ràng hơn. Phụ nữ mang thai lần thứ 2 thường nhận thấy những chuyển động này sớm hơn, thậm chí có người nhận ra từ tuần 12 thai kỳ.   Hầu hết các mẹ đều rõ ràng nhận ra những chuyển động của bé vào khoảng tuần thứ 22-24 thai kỳ. (ảnh minh họa) Tại sao thai nhi lại đạp? Em bé thường di chuyển mạnh mẽ hơn khi có sự thay đổi trong môi trường của bé như tiếng ồn xung quanh quá lớn, ánh sáng hoặc thậm chí là các loại thực phẩm mẹ bổ sung vào cơ thể. Ngoài ra, đôi khi trẻ cũng phải vươn vai để thư giãn. Nếu dành thời gian theo dõi, mẹ sẽ dễ dàng nhận ra những cú vươn vai của bé, nhất là sau khi bé ngủ dậy. Bé chuyển động như thế nào là bình thường? Số lượng di chuyển trung bình của bé trong bụng mẹ mỗi ngày là khoảng 15-20 chuyển động bao gồm cả những cú đạp, đá, xoay người, vươn vai… Tuy nhiên mỗi em bé có những hoạt động khác nhau, có những bé dành phần lớn thời gian ban ngày để ngủ và đạp nhiều vào ban đêm khiến mẹ không nhận ra nhưng hầu hết các bé đều di chuyển hầu hết thời gian trong ngày. Theo các chuyên gia, thai nhi dành thời gian nghỉ ngơi và ngủ trong bụng mẹ khoảng 17 giờ mỗi ngày và mỗi giấc từ 40-50 phút. Hầu hết chị em sẽ nhận thấy những cú đạp rõ ràng của bé sau giờ ăn, sau khi hoạt động và vào buổi tối. Có cần đếm những chuyển động của bé? Nếu như thai nhi vẫn phát triển bình thường và chuyển động đều đặn hàng ngày thì mẹ không cần thiết phải đếm. Tuy nhiên nếu bạn bỗng nhận thấy em bé có ít chuyển động hơn bình thường, hãy dành thời gian theo dõi để đảm bảo bé đang được an toàn. Dưới đây là những trường hợp mẹ cần đếm chuyển động của bé: - Không nhận thấy chuyển động của bé trong 2 giờ liền - Em bé không có phản ứng với tiếng ồn bên ngoài, khi mẹ vỗ nhẹ hoặc giọng nói của mẹ. - Những chuyển động giảm dần trong 2 ngày liên tiếp.   Nếu như thai nhi vẫn phát triển bình thường và chuyển động đều đặn hàng ngày thì mẹ không cần thiết phải đếm. (ảnh minh họa) Làm thế nào để đếm những chuyển động của bé? Để đếm chuẩn những chuyển động này, mẹ hãy ngồi xuống, thưởng thức một món ăn hoặc đồ uống lạnh và đặt chân lên một chiếc ghế khác. Đường trong đồ ăn và cảm giác lạnh sẽ giúp đánh thức em bé và mẹ sẽ dễ dàng đếm được đến 10 chuyển động trong 2 giờ liền. Nếu không nhận thấy bất cứ chuyển động nào hoặc quá ít, hãy đi khám thai ngay. Thai nhi giảm chuyển động có nguy hiểm không? Thai nhi giảm chuyển động có thể là dấu hiệu suy thai do thiếu dinh dưỡng và oxy. Trong trường hợp này, mẹ cần khám thai và được bác sĩ chẩn đoán kịp thời bằng cách siêu âm, kiểm tra lưu lượng máu của nhau thai cũng như sức khỏe của bé… Thai nhi sẽ ít di chuyển hơn sau tuần 36 thai kỳ? Em bé vẫn di chuyển đều đặn mỗi ngày sau tuần 36 thai kỳ nhưng lúc này tử cung đã chật hẹp nên những cú nhào lộn sẽ ít hơn. Tuy nhiên bé vẫn dùng bàn chân, tay để khám phá khuôn mặt hay chơi với dây rốn và xoay chuyển người. Mẹ cũng sẽ thường xuyên cảm nhận được những cú nấc cục của bé.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lý do nên sinh con vào tháng 11

LÝ DO NÊN SINH CON VÀO THÁNG 11

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trong 100 năm trở lại đây, các tài liệu khoa học liên kết mùa sinh với hầu hết các đặc điểm tâm lý tính cách nhưng chưa có nghiên cứu nào để cập đến mối liên hệ giữa mùa sinh và sức khỏe. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây của Tiến sĩ Hannes Schwandt, Trung tâm Y tế và An sinh, Đại học Princeton đã tìm thấy mối tương quan thú vị giữa mùa sinh và sức khỏe của bé trong tương lai. Nghiên cứu chỉ ra rằng một em bé sinh ra trong tháng 11 chạy nhanh hơn 10%, nhảy cao hơn 12%, và khỏe mạnh hơn 15% so với một đứa trẻ cùng tuổi sinh ra trong tháng 4, 5. Để giải thích điều này, các tác giả cho rằng người mẹ mang thai trong suốt mùa hè được tiếp xúc với ánh mặt trời nhiều hơn  và do đó sản xuất nhiều vitamin D hơn – một dưỡng chất quan trọng cho sự phát triển của thai nhi. Nếu các bà mẹ lo ngại thiếu hụt vitamin D trong thai kỳ, hãy nghe tư vấn của bác sĩ để bổ sung vitamin D qua những nguồn khác.   Nghiên cứu chỉ ra rằng em bé sinh ra trong tháng 11 sẽ chạy nhanh hơn 10%, nhảy cao hơn 12%, và khỏe mạnh hơn 15%. (ảnh minh họa) Thiếu hụt hàm lượng vitamin D trong thai kỳ của người mẹ cũng có thể tăng nguy cơ phát triển bệnh đa xơ cứng ở trẻ sau này. Một nghiên cứu năm 2013 của đại học Queen Mary ở Luân Đôn chỉ ra trẻ sinh tháng  Năm có hàm lượng vitamin D thấp hơn khoảng 20% so với trẻ sinh tháng 11.  Một nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra nguy cơ mắc bệnh đa xơ cứng cao nhất ở người sinh vào tháng Năm và thấp nhất ở người sinh tháng 11. Như vậy, mùa sinh ảnh hưởng tới lượng vitamin D mà bà mẹ mang thai cũng như thai nhi được hấp thụ, và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bé trong tương lai Đừng lo lắng nếu bạn sinh con vào tháng Năm hay quá  kì vọng bé sinh trong tháng Mười một sẽ trở thành một vận động viên Olympic trong tương lai. Vì bên cạnh mùa sinh còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sức khỏe của bé như chế độ dinh dưỡng, tránh khói thuốc lá và rượu, chăm chỉ vận động thường xuyên…  TS. Schwandt nói: "Chăm sóc bản thân và nhận được dịch vụ chăm sóc trước khi sinh thích hợp sẽ tạo  sự khác biệt lớn hơn nhiều so với việc bạn sinh con vào tháng Năm so với tháng Mười một".
Xem thêm

1 Đọc thêm

Mẹ bầu nào không được sinh thường?

MẸ BẦU NÀO KHÔNG ĐƯỢC SINH THƯỜNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mặc dù hầu hết các mẹ bầu đều mong muốn được đẻ thường để con khỏe mạnh và mẹ cũng nhanh phục hồi, tuy nhiên những người dưới đây thường sẽ được các bác sĩ chỉ định đẻ mổ và không có sự lựa chọn khác: Vị trí thai nhi không thuận Thông thường vị trí của thai nhi những tuần cuối thai kỳ là đầu quay xuống dưới, mặt úp vào phía trong bụng mẹ, tuy nhiên nhiều bé đến tận ngày sinh vẫn không chịu quay đầu, thậm chí là ngôi thai ngang gây khó khăn cho quá trình sinh thường. Những trường hợp bất thường ngôi thai thường phải đẻ mổ. Thai nhi quá lớn Thai nhi quá mức cân nặng chuẩn sẽ rất khó để đi qua khung xương chậu của mẹ khi chào đời, đặc biệt với những em bé có mẹ bị tiểu đường thai kỳ. Trong trường hợp này, mẹ thường được chỉ định đẻ mổ.   Thai nhi quá mức cân nặng chuẩn sẽ rất khó để đi qua khung xương chậu của mẹ khi chào đời, đặc biệt với những em bé có mẹ bị tiểu đường thai kỳ. (ảnh minh họa) Tiền sản giật Căn bệnh này thường khiến huyết áp của mẹ tăng cao và nếu không được kiểm soát sẽ gây cản trở việc cung cấp máu và oxy từ nhau thai đến em bé. Những trường hợp mẹ bị tiền sản giật nên được sinh mổ để đảm bảo an toàn. Suy thai Trong phòng sinh nở, người mẹ sẽ thường xuyên được kiểm tra sức khỏe bởi các bác sĩ và đương nhiên họ sẽ theo dõi cả nhịp tim, sự chuyển động của em bé. Nếu trong quá trình theo dõi nhận thấy bất cứ bất thường gì như nhịp tim thấp thì rất có thể bé đang không nhận đủ oxy trong tử cung. Vấn đề này có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến thai nhi. Khi đó, các bác sĩ sẽ quyết định mổ lấy thai khẩn cấp để đảm bảo an toàn cho bé. Ngoài ra, nếu nước ối được phát hiện có phân su thì cũng sẽ đượ chỉ định sinh mổ cấp cứu vì điều này có thể gây ô nhiễm nước ối. Nếu bé hít phải phân su có thể gây nguy hiểm cho phổi và hệ hô hấp. Có dấu hiệu sinh non Nếu những cơn chuyển dạ diễn ra sớm trước 37 tuần thì thông thường thai nhi sẽ có một vấn đề bất thường nào đó và trường hợp này cũng sẽ được chỉ định đẻ mổ cấp cứu. Sinh đôi, đa thai Phụ nữ mang thai đôi, đa có thể gặp khó khăn trong việc sinh thường vì vậy những trường hợp này thường được chỉ định sinh mổ. Với những ca sinh đôi còn có thể đẻ thường nhưng khi mang bâu 3-4 thai thường được chỉ định đẻ mổ trước ngày dự sinh để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.   Phụ nữ mang thai đôi, đa có thể gặp khó khăn trong việc sinh thường vì vậy những trường hợp này thường được chỉ định sinh mổ. (ảnh minh họa) U xơ tử cung U xơ tử cung cũng là căn bệnh gây cản trở cho việc sinh nở tự nhiên. Dù thai kỳ có khỏe mạnh thì lựa chọn mổ lấy thai vẫn là sáng suốt nhất. Nhau thai có vấn đề Khi nhau thai nằm ở vị trí bất thường như nhau tiền đạo, nhau bong non, quá trình vượt cạn có thể làm cả hai mẹ con vào nguy cơ an toàn đến tính mạng. Đã từng sinh mổ Với các mẹ sinh con lần hai hoặc ba, nếu lần trước là sinh mổ, mẹ thường được chỉ định tương tự cho lần này. Tuy nhiên, nếu khoảng thời gian sinh con lần trước và lần sau cách nhau đủ xa để vết mổ hoàn toàn hồi phục và sức khỏe mẹ đảm bảo an toàn, bác sĩ sẽ dựa vào điều kiện sức khỏe của mẹ để chỉ định sinh mổ hoặc chờ theo dõi xem mẹ có đủ sức vượt cạn tự nhiên hay không. Đa số các mẹ sinh mổ lần đầu đều phải sinh mổ lần sau. Cổ tử cung không thể mở Trong nhiều trường hợp, mức độ co rút tử cung của mẹ yếu, cổ tử cung không thể giãn nở đủ để bé đi ra nên sẽ phải sinh mổ. Khung xương chậu của mẹ nhỏ Một số mẹ bầu có vóc dáng lùn với khung xương chậu quá nhỏ sẽ không đủ không gian để thai nhi chui qua đó nên sẽ được chỉ định đẻ mổ. Gặp các bệnh lý khác Ngoài ra, nếu mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ, bệnh cao huyết áp, u nang buồng trứng, bệnh thận... thì cũng nên cân nhắc chọn lựa phương pháp sinh mổ để tránh những rủi ro có thể gặp phải khi sinh nở.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cho trẻ ăn dặm: Đừng sợ hải sản!

CHO TRẺ ĂN DẶM: ĐỪNG SỢ HẢI SẢN!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hải sản là nguồn thức phẩm đa dạng dưỡng chất dành cho trẻ nhỏ, tuy nhiên nhiều mẹ lo ngại trong dám cho trẻ ăn vì sợ con sẽ bị dị ứng hoặc ngộ độc. Thực tế, các mẹ nên biết rằng nếu mẹ cho bé ăn không đúng cách mới là nguyên nhân chủ yếu gây ra các biến chứng như dị ứng, tiêu chảy, ngộ độc…  Để giải đáp các lo lắng của các mẹ, dưới đây là đôi điều các mẹ cần biết khi cho trẻ tiếp xúc với món ăn quý giá này. Hải sản - món quà từ biển cả dành cho bé Axit béo omega-3 là một trong những dưỡng chất thiết yếu được tìm thấy nhiều trong hải sản. Theo các chuyên gia, đây là một loại dưỡng chất quan trọng góp phần vào sự phát triển não bộ của trẻ sơ sinh. Không chỉ tốt cho trí não, axit béo omega -3 còn rất nhiều tác dụng cho trẻ: - Tăng cường miễn dịch: Các axit béo tuyệt vời trong hải sản rất tốt cho hệ miễn dịch của trẻ nhỏ.  - Phòng chống chàm: Omega-3 giúp giảm viêm ở tất cả các bộ phận trên cơ thể, bao gồm cả da. Cho bé làm quen với thịt cá hồi hoặc cá ngừ trắng trước 9 tháng tuổi có thể bảo vệ bé khỏi chứng dị ứng da - Tốt cho phổi, cải thiện bệnh hen suyễn: Trong nhiều công trình nghiên cứu, cá được chứng minh là một loại thực phẩm giúp bảo vệ phổi - Tốt cho mắt: Trong các loại tôm, cua, rất giàu vitamin A, có tác dụng cải thiện tầm nhìn - Duy trì độ chắc khỏe cho xương: Trong hải sản giàu hàm lượng canxi, rất tốt việc đảm bảo sức khỏe của hệ xương. 7 tháng tuổi có thể bắt đầu cho trẻ ăn hải sản Hải sản là một trong những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ, do đó các mẹ không nên cho bé tiếp xúc với loại đồ ăn này quá sơm. Theo các chuyên gia, trừ các loại hải sản có vỏ, bạn có thể cho bé ăn cá ở dạng bột sệt hoặc nghiền nhuyễn từ 7 tháng tuổi khi bé đã bắt đầu ăn dặm. Tuy nhiên các mẹ cũng cần lưu ý rằng, khi mới đầu cho trẻ ăn, mẹ chỉ nên dùng một số lượng nhỏ để bé có thể thích nghi. Với những bé cơ địa kém hay dị ứng thì các mẹ càng phải cẩn trọng hơn. Khi cho bé ăn, các mẹ nên chú ý quan sát biểu hiện của bé, nếu nhận thấy dấu hiệu bất thường thì nên ngừng lại và cho bé đi kiểm tra, tránh dẫn đến tình trạng nặng.   Khi trẻ được 7 tháng tuổi, mẹ có thể bổ sung thêm hải sản vào thức ăn dặm của bé (Ảnh minh họa) Không phải loại hải sản nào cũng là sự chọn thông minh cho trẻ Hải sản tốt cho trẻ: - Cá biển (cá hồi, ca ngừ, cá thu nhỏ…): chứa nhiều omega-3, tốt cho sự phát triển của trẻ. - Cua: Rất giàu vitamin nhóm B, khoáng chất, folate và đặc biệt là lượng protein trong cua hơn hẳn các loại thịt cá khác. Thế nên cua rất tốt cho sự phát triển của con cả về thể chất lẫn trí não - Các loại hải sản có vỏ như hàu, ngao, hến, trai… chứa nhiều kẽm, một vi chất quan trọng với trẻ. - Tôm: Chứa nhiều đạm và canxi nên "siêu" tốt cho sự phát triển của bé Ngoài các hải sản có lợi trên, các mẹ cần tránh cho trẻ ăn cá mập, cá kình, cá kiếm, cá thu lớn…bởi đây là những loại cá chứa hàm lượng thủy ngân cao, không tốt cho trẻ. Tùy theo tháng tuổi mà lượng hải sản dành cho bé sẽ khác nhau Hải sản rất giàu dinh dưỡng, nhiều đạm, vì thế cho trẻ ăn quá nhiều hay quá ít đều không tốt. Nếu ăn quá nhiều có thể gây mất cân bằng dinh dưỡng và tích trữ kim loại nặng trong cơ thể. Tùy theo độ tuổi mà lượng ăn của bé khác nhau, nhưng chỉ nên ăn 3 – 4 bữa/tuần. - Trẻ 7-12 tháng: mỗi bữa có thể ăn 20-30g thịt của cá, tôm (đã bỏ xương, vỏ) nấu với bột, cháo, mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3-4 bữa/tuần.  - Trẻ 1-3 tuổi: mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún, súp…, mỗi bữa ăn 30- 40 g thịt hải sản.  - Trẻ từ 4 tuổi trở lên: có thể ăn 1-2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50 – 60g thịt của hải sản, nếu ăn ghẹ có thể ăn ½ con/bữa, tôm to có thể ăn 1 – 2 con/bữa (100g cả vỏ). Cách chế biến hải sản cho trẻ ăn dặm Ở độ tuổi ăn dặm, cách tốt nhât để chế biến hải sản cho trẻ dễ ăn là lọc lấy thịt, xay hoặc nghiền nhỏ, sau đó nấu chung với thức ăn dặm (bột, cháo) của bé. Nếu là cá đồng nhiều xương, mẹ nên luộc chín cá rồi gỡ xương; cá biển nạc có thể xay sống như xay thịt rồi cho vào nấu bột, nấu cháo cho bé; với cua đồng thì giã lọc lấy nước để nấu bột, cháo. Với các loại hải sản có vỏ thì luộc chín lấy nước nấu cháo, bột, thịt xay băm nhỏ cho vào cháo, bột. Trong quá trình chế biến, các mẹ cần đảm bảo nấu chín, tránh để cho trẻ ăn hải sản chưa được chín. Các mẹ có thể tìm hiểu một số món ăn dặm hải sản dành cho bé như: cháo tôm, cháo ngao mồng tơi, cháo cua bông cải, cháo cá thu, súp ghẹ… Nên chọn hải sản tươi ngon cho bé Khi chế biến bất cứ một món ăn nào cho trẻ, mức độ an toàn là điều mà các mẹ nên quan tâm đầu tiên, không nên vì cảm tính cá nhân gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bé. Khi chọn hải sản hay các loại đồ ăn khác, mẹ nên chọn loại tươi ngon, có nguồn gốc rõ ràng, tránh các loại ôi, chết…   Để đảm bảo an toàn cho bé, mẹ nên chọn hải sản tươi ngon (Ảnh minh họa) Để chọn được các loại cua, cá,... tươi, mẹ nên tham khảo cách chọn như sau: -  Các loại cá: mắt cá trong suốt, toàn thân sáng bóng là tươi ngon -  Tôm: vỏ và thịt gắn liền nhau, thân tôm nguyên vẹn, sáng bóng và có tính đàn hồi -   Cua, ngao: có vỏ ngoài sáng, thân chắc Một vài lưu ý khác khi cho trẻ ăn hải sản - Không nên cho trẻ ăn hoa quả ngay sau khi ăn hải sản: Những chất dinh dưỡng phong phú như đạm, canxi chứa trong tôm, cá sẽ bị giảm đi rất nhiều nếu kết hợp với các loại quả như hồng, nho, ... Nó không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp thụ protein, canxi trong hải sản của cơ thể mà lượng tannin trong trái cây kết hợp với protein và canxi này tạo thành canxi không hòa tan kích thích đường tiêu hóa, và thậm chí sẽ gây ra các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, nôn mửa. - Nếu trong gia đình có tiền sử bị dị ứng với hải sản, mẹ nên cho bé ăn thực phẩm này muộn hơn một chút. Khi cho con ăn cần hết sức từ từ từng chút một để xem bé có phản ứng dị ứng không. - Khi cho trẻ ăn hải sản, uyệt đối không cho bé thử những loại hải sản lạ. - Không nên cho trẻ ăn nhiều những món hải sản chiên bởi khi chiên, dầu mỡ sẽ bão hòa lượng chất béo không no khiến hàm lượng chất dinh dưỡng suy giảm và sản sinh ra peroxit lipid có hại cho sức khỏe.
Xem thêm

3 Đọc thêm