MỘT SỐ THUẬT NGỮ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "MỘT SỐ THUẬT NGỮ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI":

GIỚI - MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIỚI .

GIỚI - MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIỚI .

Dự án Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Sóc TrăngMỘT SỐ KHÁI NiỆM CƠ BẢNVỀ GiỚITrương Quang HồngGiới và Giới tínhGiới: Là thuật ngữ đề cập đến các đặcđiểm, vị trí, vai trò, mối quan hệ vềmặt xã hội giữa nam giới – phụ nữ(trẻ em trai – trẻ em gái)Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữanam giới và phụ nữ ( trẻ em trai – trẻem gái)So sánh giữa giớiGiới tínhGiỚIGiỚI TÍNH- Sự khác biệt về mặtxã hội- Do dạy và học màcó; do mong đợi củaxã hội- Mang tính đa dạng
Xem thêm

22 Đọc thêm

Một số thuật ngữ facebook marketing cần thiết

MỘT SỐ THUẬT NGỮ FACEBOOK MARKETING CẦN THIẾT

Một số thuật ngữ Facebook Marketing cần thiết,Facebook Marketing hiện nay đang là ngành ngày càng hot, hãy tìm hiểu về nó ngay. Trang bị những kiến thức cơ bản về Facebook là thật sự cần thiết nếu như bạn muốn tham gia vào lĩnh vực đang HOT và hứa hẹn sẽ ngày càng phát triển trong thời gian tới, hãy bắt đầu với những thuật ngữ cơ bản về Facebook Marketing.

16 Đọc thêm

Thuật ngữ về hàng hải

THUẬT NGỮ VỀ HÀNG HẢI

A
Abatement
Sự giảm giá(Hàng hóa, cước phí,...)
Sự giảm giá(Hàng hóa, cước phí,...)
Accept except
Chấp nhận nhưng loại trừ
Thuật ngữ được người thuê tàu hoặc đại lý thuê tàu sử dụng trong giao dịch để chỉ mình chấp nhận một số điều khoản hoặc chi tiết nào đó nhưng không chấp nhận các phần khác bị loại trừ sẽ được gạt bỏ hoặc sửa đổi theo yêu cầu.
Accomplished bill of lading
Vận đơn đã nhận hàng
Vận đơn gốc đã được trao cho người chuyên chở (Surrendered) tại cảng dở và hàng đã được nhận xong.
Abandonment
Sự khước từ:
Là việc từ chối thực hiện một hành động. (abandonment of action). Thí dụ: Khước từ việc thưa kiện, truy cứu, chuyến hành trình, việc giao nhận hàng vì những lý do nào đó. 2. Sự từ bỏ: Là việc từ bỏ một tài sản được bảo hiểm (Abandonment of insured property) trong trường hợp tài sản bị tổn thất coi như toàn bộ ước tính (constructive total loss). Chủ tài sản phải làm văn bản từ bỏ tài sản và thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản ấy cho người (công ty) bảo hiểm, để được người này xem xét từ chối hoặc chấp nhận bồi thường toàn bộ lô hàng. Ví dụ: Tàu bị đắm ở biển sâu, trục vớt khó khăn và tốn kém nên chủ tàu tuyên bố từ bỏ tàu, chuyển quyền sở hữu con tàu cho người (công ty) bảo hiểm xem xét từ chối hoặc chấp nhận bồi thường theo giá trị bảo hiểm của tàu. Nếu người bảo hiểm từ chối bồi thường tổn thất toàn bộ với lý do chính đáng, thì họ sẽ bồi thường tổn thất bộ phận (Partial loss).
Xem thêm

48 Đọc thêm

Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách

ĐỀ TÀI BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách
Bất bình đẳng giới trong lao động hiện nay có tác động xấu đối với sự phát triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên gây ra tình trạng nghèo đói; mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển. Những xã hội có sự bất bình đẳng lao động lớn và kéo dài thường tạo ra những hệ lụy không nhỏ đó là: nghèo đói, bệnh tật và những nỗi cực khổ khác và đặc biệt gây ra sự không hiểu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội. Tại những nước phát triển, có mức độ bất bình đẳng lao động thấp hơn đồng nghĩa với việc nó tác động tốt hơn đối với sự phát triển xã hội, giúp kinh tế phát triển, mang lại hiểu quả hơn trong việc sử dụng các nguồn lực của xã hội, giảm mức độ nghèo đói và phát huy tốt hơn các giá trị tiềm năng con người trong việc phát triển kinh tế - xã hội.
Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách
Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm của Việt nam hiện nay cũng không nằm ngoài những nguyên nhân trên. Tuy nhiên sự bất bình đẳng giới trong lao động của Việt nam khá đặc thù, chủ yếu xuất phát từ các quan niệm và định kiến tồn tại trong xã hội và các quan điểm truyền thống. Đó là những quan niệm và định kiến xã hội phong kiến tồn tại từ hàng ngàn năm trước về địa vị, giá trị của giới nữ trong gia đình và ngoài xã hội mà không dễ dàng thay đổi. Theo đó, nam giới có quyền tham gia các công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, ghánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà con cái. Nam giới có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành phục vụ chồng con. Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định định đoạt gì kể cả đối với bản thân. Điều đó thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giá trị của nữ giới.
Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách
Sự phát triển của xã hội sẽ làm vai trò, vị trí của người phụ nữ được nâng lên đáng kể. Phụ nữ có quyền bình đẳng so với nam giới họ được học hành, được tham gia vào các hoạt động xã hội theo khả năng của mình có. Tuy nhiên ở nước ta các yếu tố truyền thống đặc biệt là tư tưởng nho giáo vẫn còn là một nhân tố đáng kể tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong xã hội. Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị rằng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong “tam tòng tứ đức” và có thân phận thấp hèn, không được bình đẳng với nam giới. Nhiều nơi phụ nữ bị đối xử bất công, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm không có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào công việc xã hội. Quan niệm “ trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn đang tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ, khiến họ không thể tách rời cuộc sống gia đình, khỏi vai trò nội trợ của mình để tham gia hoạt động xã hội. Bác Hồ đã từng nói: “ Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có một nửa”. Quyền bình đẳng thực sự của người phụ nữ theo bác là “ người phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với người đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.
Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách
Bình đẳng trong lao động cho phụ nữ là một đòi hỏi cần thiết và thiết thực nhằm đem lại sự giải phóng cho phụ nữ, tạo cho phụ nữ có nhiều cơ hội cùng nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội, có được vị trí và chỗ đứng cả trong gia đình và ngoài xã hội.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào, được bạn bè quốc tế đánh giá cao, tuy nhiên, bình đẳng giới và nhiều vấn đề khác liên quan đến lao động nữ (LĐN) ở Việt Nam vẫn đang bộc lộ nhiều bất cập. Trên thực tế, một bộ phận LĐN nói chung vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi về tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến. Do những hạn chế về trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp nên phụ nữ thường gặp khó khăn trong lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội thăng tiến. Mức thu nhập bình quân thấp hơn nhiều so với nam giới cùng làm một công việc với trình độ như nhau. Ngoài ra, phụ nữ còn ghánh nặng công việc gia đình, sinh đẻ và chăm sóc con cái nên ít cơ hội cạnh tranh trên thị trường lao động, không có thời gian trau dồi kiến thức, kỹ năng nâng cao trình đôn học vấn, chuyên môn. Để có cơ hội thăng tiến chị em phải cố gắng gấp 3-4 lần nam giới. Nhiều nhà tuyển dụng có tâm lý coi thường phụ nữ, ngại tuyển dụng phụ nữ, bởi họ cho rằng phụ nữ năng lực có hạn, hơn nữa phải mang thai, sinh đẻ, nuôi con… mất nhiều thời gian. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của phụ nữ nói riêng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội về kinh tế - văn hóa - chính trị.
Công tác xã hội trong lĩnh vực giới và phát triển là một lĩnh vực mới và có tầm ảnh hưởng lớn. Hiện nay, CTXH mới bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp CTXH nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của người phụ nữ là rất quan trọng và cần thiết. Nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực này đòi hỏi nắm vững những cơ sở lý luận về giới và phát triển để từ đó xây dụng biện pháp can thiệp, trợ giúp nhằm giải quyết vấn đề.
Qua quá trình thực tế tại huyện Mỹ Đức, được tiếp xúc với người dân, nghiên cứu một số biện pháp mà địa phương đã thực hiện để thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của phụ nữ thì vẫn chưa có mô hình trợ giúp nào mang tính đặc thù của CTXH. Do vậy, tôi lựa chọn đề tài: “ Vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động cho phụ nữ tại Huyện Mỹ Đức- Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này tại địa phương, do hạn chế về nguồn tài liệu, thời gian và năng lực bản thân nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bản khóa luận được hoàn thiện hơn.
2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiện nay, cùng với quá trình phát triển của xã hội, vấn đề bình đẳng giới ngày cũng được quan tâm nhiều hơn. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, báo cáo của các ngành văn hóa, chính trị…đề cập tới vấn đề này như:
Bất bình đẳng giới trong thu nhập – Đề tài cấp bộ Viện NC quản lý kinh tế TW 2006
Đề tài: “ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” của THS Nguyễn Thị Nguyện, Bộ Kế hoạch đầu tư – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương. Nghiên cứu này chủ yếu đi sâu tìm hiểu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam và gợi ý một số giải pháp về chính sách.
Báo cáo “ Bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Việt Nam” của Ngân hàng phát triển Châu Á ( ADB). Nghiên cứu này xác định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới.
Tiểu luận BBĐG ở Việt Nam hiện nay người viết muốn làm rõ khái niệm Bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới. Từ đó đi sâu làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình hình BBĐG ở nước ta hiện nay nhằm đưa ra những giải pháp góp phần làm giảm tình trạng này ở Việt Nam.
Hội thảo về “ vai trò của công đoàn thúc đẩy BĐG” do Ban nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam thực hiện vừa được tổ chức tại TP.HCM. Mục đích hội thảo nhận diện đầy đủ BBĐG trong doanh nghiệp để tham gia xây dựng chính sách pháp luật đối với lao động nữ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức về BĐG
Luận văn: Thực trạng thi hành luật BBĐG ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Mục đích của luận văn là xây dựng pháp luật vê BĐG góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về BĐG ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân công thực hiện công việc nội trợ giữa vợ - chồng của Th.s Trương Thu Trang đi sâu nghiên cứu thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ
Nhìn chung các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nghiên cứu yếu tố thu nhập, hoặc phân công lao động chỉ trong phạm vi gia đình mà chưa đề cập đến phân công lao động trong các lĩnh vực sản xuất, nghề nghiệp…không đánh giá được hết các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giới trong lao động nói chung trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại. Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể đầy đủ về vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động tại Huyện Mỹ Đức. Hơn nữa, cũng chưa có tài liệu nào đề cập tới việc vận dụng phương pháp nhóm của Công tác xã hội vào hỗ trợ, giải quyết vấn đề này. Vì vậy mà đề tài của tôi lựa chọn hoàn toàn dựa trên cách tiếp cận mới – cách tiếp cận của Công tác xã hội để giải quyết vấn đề.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức và cách thức vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng này.
2.2 Khách thể nghiên cứu
- Thành lập một nhóm gồm 12 người. Số lượng 8 lao động nữ tại địa phương cùng với 4 lao động nam để đối chiếu, so sánh
- Các cấp lãnh đạo, nhà tuyển dụng lao động và một số doanh nghiệp tại địa phương. Ngoài ra còn có các ban nghành đoàn thể có liên quan như: Hội phụ nữ, Uỷ ban nhân dân, phòng văn hóa huyện…
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề BBĐG trong lao động
Không gian nghiên cứu: huyện Mỹ Đức
Thời gian nghiên cứu: 19/12/2011 – 23/4/2011
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu nghiên cứu về thực trạng BBĐG trong lao động tại Huyện Mỹ Đức, khóa luận mong muốn phân tích được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, đồng thời tìm ra được các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này dưới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội bằng phương pháp Công tác xã hội nhóm.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài với nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề BBĐ trong lao động.
- Tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp can thiệp trước vấn đề BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức.
- Vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong việc cải thiện tình trang BBĐG trong lao động cho phụ nữ tại Huyện và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này dưới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng bất BĐG trong lao động ở huyện Mỹ Đức còn nhiều bất cập và ngày càng gia tăng. Nếu có những biện pháp hỗ trợ của nhân viên Công tác xã hội sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng này để xây dựng một xã hội công bằng – dân chủ - văn minh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập những số liệu liên quan đến việc nam giới và nữ giới tham gia các lĩnh vực, ngành nghề lao động theo từng năm, phân công lao động theo giới, mức độ hưởng thụ thành quả lao động. Dựa vào những số liệu điều tra đã thu thập được, nhân viên Công tác xã hội sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích một cách khoa học để từ đó xác định đúng tình trạng BBĐG hiện nay tại địa phương.
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bảng hỏi cấu trúc được thiết kế sẵn, phát cho những người trong độ tuổi lao động nhằm đưa ra những số liệu về nguyên nhân vấn đề BBĐG trong lao động, qua đó thống kê được đâu là nguyên nhân chính trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến vấn đề BBĐG trong lao động. Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục hậu quả.
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu 04 cán bộ quản lý gồm: những người làm công tác tuyển dụng, quản lý, chính sách… và chính những người lao động để từ đó có thể nắm bắt được rõ hơn điều kiện, hoàn cảnh, văn hóa truyền thống để từ đó đưa ra những kết luận xác thực về tình trạng BBĐG trong lao động tại địa phương
6.4 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động của phụ nữ và nam giới trong các công việc khác nhau, ghi chép giờ giấc, thời gian thực hiện công việc đó như thế nào. Ngoài ra quan sát xem cách phân chia lao động giữa vợ và chồng trong gia đình và ngoài xã hội như thế nào.
6.5 Phương pháp làm việc nhóm
Phương pháp làm việc nhóm là phương pháp làm việc hay hoạt động dựa trên sự kết hợp/hợp tác/tương tác và phân công đảm nhiệm công việc giữa các thành viên nhằm thực hiện nhiệm vụ với mục đích xác định và mục tiêu cụ thể.
7. Đóng góp khoa học của đề tài
7.1 Về mặt lý luận
- Làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về giới và phát triển.
- ứng dụng, kiểm chứng và củng cố các phương pháp trong nghiên cứu khoa học xã hội vào đề tài để làm rõ được vấn đề nghiên cứu.
- Hoàn thiện lý luận về phương pháp Công tác xã hội nhóm với vấn đề BBĐG trong lao động.
- Tạo cơ sở thực hành Công tác xã hội nhóm với vấn đề BBĐG trong lao động.
7.2 Về mặt thực tiễn
- Giúp nhân viên Công tác xã hội có cái nhìn đầy đủ về thực trạng BBĐG trong lao động và có thái độ đúng đắn với vấn đề này, để từ đó có những trợ giúp đầy đủ và đạt hiểu quả.
- Giúp cho mọi người hiểu và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có cơ hội phát triển cũng như đạt được sự bình đẳng giới trong lao động.
- Tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hôi phát
Xem thêm

90 Đọc thêm

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VỀ THANH TOÁN THẺ

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VỀ THANH TOÁN THẺ

SET SECURE ELECTRONIC TRANSACTION - GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ AN TOÀN: TIÊU CHUẨN BẢO MẬT MỚI NHẤT TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ LÀ SET, ĐƯỢC PHÁT TRIỂN BỞI MỘT TẬP ĐOÀN CÁC CÔNG TY THẺ TÍN DỤNG LỚN [r]

4 Đọc thêm

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

LỜI MỞ ĐẦU
Như ta đã biết gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”.
Nhà nước ta hiện nay, mục tiêu, chuẩn mực cơ bản, trực tiếp mà chúng ta hướng tới chính là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Trong gia đình cần chú trọng xây dựng quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên, bình đẳng giữa con trai và con gái, bình đẳng giữa các thành viên nam và thành viên nữ nhất là dân chủ bình đẳng giữa vợ và chồng; điều này góp phần tạo nên sự nề nếp, hoà thuận, kỷ cương trong mỗi gia đình. Yếu tố này trở thành một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu, cấp thiết trong xây dựng gia đình mới ở Việt Nam.
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới và được quy định trong một số văn bản pháp luật: Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em…mà trọng tâm là luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật Hôn nhân và gia đình khi điều chỉnh đã dựa trên các nguyên tắc tự nguyện – tiến bộ. Thông qua các điều luật ta có thể thấy rằng hệ thống pháp luật Nhà nước ta đang ngày càng khẳng định quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ chồng về mọi mặt trong gia đình.
Tuy nhiên, “bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưa phải là bình đẳng trong đời sống”. Vì vậy, để làm rõ thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong gia đình, bình đẳng giữa các thành viên, quyền bình đẳng giữa vợ chồng cũng như tìm ra các giải pháp thiệt thực để quyền bình đẳng được thực hiện ngày càng đảm bảo và hiệu quả chúng em đã chọn đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình”
Xem thêm

14 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ xã hội học: Thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình của người dân Lào hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC: THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI DÂN LÀO HIỆN NAY

Chia sẻ việc làm giữa vợ và chồng trong gia đình là một trong những chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì nó thể hiện một phần mối quan hệ quyền lực giới. Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giới trong gia đình thường chỉ ra khuôn mẫu phổ biến là nữ làm việc nhà và nam giới kiếm tiền bên ngoài gia đình và đều có nhận định tương đối nhất quán về sự bất bình đẳng theo hướng nam giới thống trị nữ giới trong gia đình ở hầu hết các xã hội. Xã hội Lào với rất nhiều đặc điểm lịch sử, kinh tế và xã hội hậu thuẫn cho giá trị trọng nam, rõ ràng đã tạo nên những nền tảng quan trọng của quyền lực nam giới thống trị nữ giới vẫn còn tồn tại dai dẳng và phổ biến trong đời sống xã hội và gia đình. Trong môi trường xã hội chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại, cấu trúc quyền lực trong các gia đình Lào đã có những thay đổi không nhỏ. Đặc biệt, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa (CNHĐTH) mạnh mẽ như hiện nay đã dẫn đến những thay đổi căn bản về các điều kiện kinh tế, văn hóa và sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình, v.v.Trong vài chục năm vừa qua đã có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu về những vấn đề này, và các nghiên cứu đó đã phản ánh được những khía cạnh nhất định về mối quan hệ giữa vợ và chồng trong các gia đình cũng như trong xã hội. Các nghiên cứu đó đã cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy mối quan hệ giới đã có những thay đổi đáng kể. Chẳng hạn, theo thời gian, người vợ đã có những cải thiện quyền lực nhất định trong tương quan với người chồng. Nghiên cứu thống kê cũng cho thấy kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, phụ nữ tham gia tích cực hơn nhiều vào các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội. Điều đó cũng đã tạo nền tảng quan trọng cho việc cải thiện vị thế của người phụ nữ trong gia đình.Mặc dù đã có những tiến bộ trong tương quan quyền lực giới như vậy, nhưng vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn đáng lo ngại. Một số nghiên cứu cho thấy trong khi tốc độ đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng thì các chuẩn mực giá trị văn hóa liên quan đến vai trò giới dường như vẫn thay đổi rất chậm chạp. Nhiều công trình nghiên cứu đưa ra bằng chứng rằng mặc dù phụ nữ tham gia tích cực vào lực lượng lao động nhưng vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng đáng kể về sự tiếp cận các cơ hội kinh tế, thu nhập, loại hình nghề nghiệp, giáo dục và đào tạo, việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, quyền ra quyết định, v.v… 26; 8. Điều đó có nghĩa là các thành quả của sự phát triển không được phân chia bình đẳng giữa nam và nữ. Các nghiên cứu chuyên sâu cũng cung cấp bằng chứng cho thấy trong rất nhiều gia đình ở các khu vực khác nhau có sự bất bình đẳng về phân công lao động, chia sẻ việc nhà, chăm sóc con cái và các thành viên trong gia đình, cũng như sự bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục giữa con trai và con gái, bao lực gia đình… vẫn còn tồn tại khá phổ biến.
Xem thêm

118 Đọc thêm

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2013

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2013

tiến bộ xã hội mà còn là yếu tố cơ sở của các quyền con người. Bình đẳng giới vừalà vấn đề cơ bản về quyền con người, vừa là yêu cầu về sự phát triển xã hội mộtcách công bằng, hiệu quả và bền vững. Chính vì thế, trong lịch sử nhân loại, đấutranh cho sự bình đẳng giữa nam và nữ luôn diễn ra. Tiến tới sự bình đẳng nam – nữlà cả một quá trình phấn đấu của mỗi quốc gia và toàn thế giới, mà thực chất là giảiphóng phụ nữ, đảm bảo cho phụ nữ quyền bình đẳng và khẳng định vị trí xã hội củaphụ nữ trong phát triển cộng đồng. Trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựngnước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, vị trí và vai trò của phụ nữ là rất to lớn.Phụ nữ Việt Nam đã có cống hiến lớn lao được ghi tạc trong dòng chảy của lịch sửdân tộc. Họ xứng đáng được hưởng đầy đủ quyền bình đẳng với nam giới. Tronggiai đoạn hiện nay, tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế của phụ nữ làmột trong những mục tiêu Thiên niên kỷ mà Liên Hợp quốc và các quốc gia thànhviên đang cố gắng phấn đấu thực hiện.Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã coi sựnghiệp giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của cách mạngViệt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển của đất nước. Chủ tịchHồ Chí Minh từng nói: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội. Nếu không giải phóngphụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ làxây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập,cùng với quyền bình đẳng giữa các dân tộc và các tầng lớp, quyền bình đẳng namnữ đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước, thể hiện quyết tâmvà bản chất ưu việt của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh xóa bỏ những áp bức, bấtcông trong xã hội.Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, phụ nữ có nhiều đóng góptích cực, mang lại lợi ích cho gia đình và toàn xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, phụ nữcòn chịu nhiều thiệt thòi, bất bình đẳng so với nam giới; do vậy, họ chưa phát huyhết vai trò của mình trong xây dựng gia đình, đồng thời hạn chế sự đóng góp của họ6
Xem thêm

139 Đọc thêm

các thuật ngữ theo dõi, đánh giá và quản lý dựa trên kết quả

CÁC THUẬT NGỮ THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ DỰA TRÊN KẾT QUẢ

Để góp phần phiên giải chính xác và có cùng chung cách hiểu về các thuật ngữ
quốc tế, Văn phòng UNFPA đã lựa chọn và dịch sang tiếng Việt một số thuật
ngữ chính (của UNFPA, UNDP, UNICEF, UNDG, OECDDAC, WB và một
số tổ chức khác) được các cán bộ quản lý chương trình dự án và các chuyên
gia theo dõi, đánh giá sử dụng. Các thuật ngữ được trình bày song ngữ AnhViệt,
theo trình tự chữ cái của từthuật ngữ tiếng Anh.

64 Đọc thêm

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay

BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI THỰC CHẤT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

MỞ ĐẦU
Là một quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, trong xã hội nước ta có nhiều định kiến giới dẫn đến sự chênh lệch về vị trí, vai trò và cơ hội phát huy năng lực cũng như thụ hưởng về thành quả phát triển của người phụ nữ so với nam giới. Để đảm bảo bình đẳng giới, cũng như bảo về quyền của người phụ nữ, các cơ quan nhà nước đã có những biện pháp nhằm làm giảm sự chênh lệch trên. Một trong những biện pháp đảm bảo bình đẳng giới đó là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Thực hiện biên pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm làm thay đổi thái độ, hành vi của mỗi cá nhân tiến đến xóa bỏ định kiến giới, đảm bảo phụ nữ hay nam giới đều có cơ hội học tập, làm việc và hưởng thụ thành quả ngang bằng nhau. Để làm rõ vấn đề này, em xin được nghiên cứu đề tài: “ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc thực hiện bình đẳng giới thực chất ở nước ta hiện nay.”.
Xem thêm

11 Đọc thêm

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG

Bất bình đằng về giới trong lao động
Một số quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động
Thực trạng (trên thế giới, ở Việt Nam), nguyên nhân, hậu quả và một số giải pháp về vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động, việc làm

15 Đọc thêm

TIỂU LUẬN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

Bình đẳng giới là một vấn đề không mới trong đời sống xã hội hiện nay nhưng không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Việc thực hiện bình đẳng giới phải đi từ nhận thức đến hành động, chính vì thế việc nhận thức những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới là rất cần thiết. Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội; trong cuộc sống con người tham gia vào các hoạt động sống như lao động, học tập và từ đó hình thành nhân cách. Và gia đình chính là ngôi trường đầu tiên đào tạo, hình thành nhận thức của con người về mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có bình đẳng giới.
Gia đình có một vai trò quan trọng trong việc hình thành những nhận thức, thái độ về các quan hệ giới, đồng thời cũng là nơi diễn ra quá trình xã hội hoá cá nhân bởi vậy có thể nói rằng gia đình là một xã hội thu nhỏ. Mỗi một hành vi, một thái độ của mỗi thành viên trong gia đình về vấn đề bình đẳng giới đều được truyền từ đời này sang đời khác, nó cũng ăn sâu “thâm căn cố đế” vào tiềm thức của thế hệ sau, rất khó thay đổi. Chính vì vậy việc nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện và tiến tới bình đẳng giới thực chất. Trong công tác thực hiện bình đẳng giới chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của gia đình – tế bào của xã hội, trước hết đó là trong việc nhận thức về bình đẳng giới.

I. LỜI MỞ ĐẦU.
II.NỘI DUNG.
1. Vai trò của gia đình trong việc nhận thức về bình đẳng giới hiện nay ở Việt Nam.
2. Vai trò của gia đình trong việc thực hiện bình đẳng giới hiện nay ở Việt Nam.
3. Mối liên hệ giữa nhận thức tới thực hiện bình đẳng giới thông qua vai trò của gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm