HỞ VAN HAI LÁ CÓ NGUY HIỂM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HỞ VAN HAI LÁ CÓ NGUY HIỂM":

Nghiên cứu tình trạng hở van hai lá sau nong bằng bóng Inoue trên bệnh nhân hẹp hai lá khít

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG HỞ VAN HAI LÁ SAU NONG BẰNG BÓNG INOUE TRÊN BỆNH NHÂN HẸP HAI LÁ KHÍT

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tim hẹp lỗ van hai lá (hay gọi tắt là hẹp hai lá - HHL) là một bệnh
nặng, có nhiều biến chứng nặng nề. Tỷ lệ bệnh nhân (BN) HHL ở nước ta hiện
nay còn cao. Nguyên nhân của tuyệt đại đa số các trường hợp HHL là do thấp
tim, gây ra những tổn thương mạn tính ở cơ tim và van tim [
2].
Năm 1984, Kanji Inoue (một bác sĩ người Nhật) lần đầu tiên trình bày
phương pháp điều trị can thiệp mới: Đó là phương pháp nong van hai lá
(NVHL) bằng bóng Inoue [
7]. Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm hơn các
phương pháp can thiệp khác như: Khả năng thành công cao, hiệu quả điều trị
tốt, ít xâm lấn [
3], áp dụng điều trị được cho BN suy tim nặng, thai phụ, trẻ em
[
1]… Kết quả của phương pháp này có thể so sánh được với phương pháp mổ
tách van tim mở, mổ tách van tim kín [
11].
Một trong những biến chứng hay gặp sau NVHL là hở van hai lá (HoHL)-
HoHL thường có xu hướng tăng lên so với trước nong. Nếu hở nhẹ hoặc vừa
thì kết quả NVHL được coi là thành công [
4]. Tuy vậy, ở một số BN sau
NVHL, HoHL có thể xảy ra với mức độ nặng làm cho tiên lượng xấu đi nhiều:
Đôi khi cần phải can thiệp ngoại khoa cấp cứu, về lâu dài có thể phải phẫu thuật
thay van. Trên thực tế lâm sàng, có những trường hợp HoHL tăng lên hoặc
giảm đi sau NVHL một thời gian. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu tình trạng HoHL ngay và sau 3 tháng NVHL bằng bóng
Inoue để điều trị HHL khít.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng HoHL sau nong VHL
II. TỔNG QUAN

2.1. Tình hình thấp tim và HHL
Năm 1769, Morgagni lần đầu tiên trình bày lâm sàng một trường hợp HHL [
5].
Những năm 1960 thấp tim là một trong nhiều nguyên nhân hàng đầu gây bệnh van
Xem thêm

17 Đọc thêm

Nghiên cứu sự biến đổi các thông số áp lực làm đầy thất trái trước và sau phẫu thuật bệnh hở van hai lá

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI CÁC THÔNG SỐ ÁP LỰC LÀM ĐẦY THẤT TRÁI TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT BỆNH HỞ VAN HAI LÁ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hở van hai lá là bệnh phổ biến và thƣờng gặp trên lâm sàng của bác sỹ
tim mạch ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trên thế giới, nguyên nhân chủ yếu
do thấp tim và một số bất thƣờng của cấu trúc van hai lá 5, 6, 7. Nếu
không điều trị và can thiệp kịp thời có thể dẫn đến suy tim và gây tử vong cho
bệnh nhân 14, 29.
Van hai lá là van nối liền nhĩ trái và thất trái giúp máu di chuyển theo
một chiều từ nhĩ xuống thất 29, 60. Hở van hai lá là tính trạng van hai lá
đóng không kìn trong thời kỳ tâm thu làm dòng máu từ thất trái phụt ngƣợc
vào nhĩ trái do tổn thƣơng tại lá van, vòng van hay bộ máy dƣới van 18,
24. Khi van hai lá bị tổn thƣơng sẽ làm ảnh hƣởng đến lƣu lƣợng máu từ nhĩ
trái xuống thất trái, làm dòng máu di chuyển ngƣợc lại xuống nhĩ trái, gây
tăng áp lực nhĩ trái, tăng áp lực thất trái trong thí tâm thu, nếu kéo dài sẽ dẫn
đến suy tim 40, 52.
Trƣớc đây, những định nghĩa kinh điển về suy tim đều nhấn mạnh đến
vai trò của chức năng tâm thu bởi ví suy tim đƣợc hiểu theo nghĩa là tính
trạng giảm cung lƣợng tim so với nhu cầu của cơ thể do giảm khả năng co
bóp của cơ tim 42, 62. Thế nhƣng có những trƣờng hợp suy tim trên lâm
sàng nhƣng chức năng tâm thu thất trái vẫn bính thƣờng 52. Có thể nói đây
là trƣờng hợp suy tim do suy chức năng tâm trƣơng và một trong những
nguyên nhân gây suy chức năng tâm trƣơng là do tăng áp lực làm đầy máu
thất trái, ngƣời ta thấy rằng giai đoạn muộn của suy tim do suy chức năng tâm
trƣơng, chức năng tâm thu cũng bị ảnh hƣởng, làm tiên lƣợng bệnh nhân càng
nặng nề hơn 37, 52.
Bên cạnh điều trị nội khoa bằng thuốc thí phẫu thuật van hai lá là một biện
pháp giúp khôi phục trạng thái hoạt động hiệu quả của van hai lá 1,3. Hiện
nay có nhiều phƣơng pháp phẫu thuật van hai lá nhƣ sửa van hai lá, thay van hai 2

lá bằng van sinh học hoặc van cơ học, giúp điều trị triệt để bệnh van hai lá, cải
thiện huyết động của tim, giúp giảm bớt hoặc loại trừ các yếu tố làm ảnh hƣởng
đến huyết động của tim, ảnh hƣởng đến sự co bóp của thất trái, cải thiện tính
trạng suy tim do bệnh hở van hai lá gây nên 18, 27.
Ngày nay, siêu âm tim và đặc biệt siêu âm tim màu giúp đánh giá và
chẩn đoán chình xác bệnh van hai lá cũng nhƣ mức độ và tính trạng của lá van
10. Bên cạnh đó nhờ sự phát triển kỹ thuật siêu âm Doppler mô 30,44,
góp phần đánh giá khá khách quan các yếu tố ảnh hƣởng của bệnh van tim lên
quá trính hoạt động của tim, nhất là các yếu tố ảnh hƣởng đến sự co bóp của
thất trái nói chung và các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng làm đầy thất trái nói
riêng 21, 34.
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trính nghiên cứu, đánh giá chức
năng tâm trƣơng thất trái cũng nhƣ áp lực làm đầy thất trái trong các bệnh lý
tim mạch nhƣ bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh hẹp hở van hai lá
16, 22, 42.
Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay vẫn chƣa có các công trính nghiên
cứu áp lực làm đầy thất trái trong bệnh lý van tim, mặc dù phẫu thuật van hai
lá đã thực hiện từ lâu. Ở Bệnh viện Trung ƣơng Huế phẫu thuật van hai lá
thực hiện từ năm 2000 và đến nay đã giúp điều trị tốt cho bệnh nhân bệnh lý
van tim 3.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài
luận văn: “Nghiên cứu sự biến đổi các thông số áp lực làm đầy thất trái
trước và sau phẫu thuật bệnh hở van hai lá”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Khảo sát các thông số đánh giá áp lực làm đầy thất trái trước và sau
phẫu thuật bệnh hở van hai lá tại Bệnh Viện Trung ương Huế.
2. Đánh giá mối liên quan giữa các thông số áp lực làm đầy thất trái
với mức độ suy tim trước và sau phẫu thuật.
Xem thêm

85 Đọc thêm

HỞ VAN HAI LÁ (CHUYÊN KHOA 1)

HỞ VAN HAI LÁ (CHUYÊN KHOA 1)

HỞ VAN HAI LÁNGUYỄN THỊ XUÂN YẾNLỚP CHUYÊN KHOA 1NIÊN KHÓA 2011 - 2013GiẢI PHẨUNGUYÊN NHÂN HỞ VAN HAI CẤP1. Đứt dây chằng: thoái hóa dạng mucin,chấn thương, viêm nội tâm mạc2. Đứt cơ trụ: nhồi máu, chấn thương3. Rối loạn chức năng cơ trụ: thiếu máu cụcbộ4. Rách van: viêm nội tâm mạcNGUYÊN NHÂN HỞ VAN HAI MẠN– Viêm: thấp tim, lupus, xơ cứng bì– Thoái hóa: dạng mucin (bệnh Barlow, sa van 2 ), H/cMarfan, H/c Ehlers Danlos, vôi hóa vòng van 2 – Nhiễm trùng: VNTMNT trên van bình thường, van bấtthường, van nhân tạo– Cấu trúc: đứt dây chằng (do tự nhiên, NMCT, chấnthương, sa van 2 , VNTM),Rlcn cơ trụ (TMCB, NMCT)Giãn vòng van 2 và buồng thất T (BCT dãn nở,dạng túi phình thất T),BCT phì đại
Xem thêm

24 Đọc thêm

XỬ TRÍ HỞ VAN HAI LÁ QUAN ĐIỂM CAN THIỆP

XỬ TRÍ HỞ VAN HAI LÁ QUAN ĐIỂM CAN THIỆP

2003;108:II-128-133 TRANG 17 • In DMR, there is something physically wrong with the valve apparatus • With the exception of MitraClip, percutaneous repair technologies apply less to DMR [r]

27 Đọc thêm

Nghiên cứu kết quả các phương pháp sửa van ba lá trong phẫu thuật bệnh van hai lá (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬA VAN BA LÁ TRONG PHẪU THUẬT BỆNH VAN HAI LÁ (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh van ba lá thường phối hợp với bệnh van tim bên trái như: bệnh
lý van hai lá hoặc bệnh lý van động mạch chủ hoặc phối hợp cả ba van. Phẫu
thuật van ba lá hiếm khi được phẫu thuật riêng lẻ (trừ trường hợp thương tổn
van ba lá đơn thuần như trong bệnh lý Ebstein), thông thường thương tổn
van ba lá sẽ được thực hiện sửa chữa cùng lúc khi tiến hành phẫu thuật van
hai lá hoặc van động mạch chủ. Phẫu thuật sửa chữa van ba lá được chỉ định
khi có thương tổn thực thể trên van ba lá hoặc thương tổn cơ năng do giãn
vòng van ba lá đơn thuần nhưng không có thương tổn thực thể trên lá van.
Kỹ thuật sửa chữa van ba lá tùy theo thương tổn của van ba lá gồm: sửa van
trong trường hợp giải phẫu van phù hợp và thay van nhân tạo trong trường
hợp không thể sửa được van, có thể là thay van nhân tạo cơ học hoặc sinh
học. Có rất nhiều kỹ thuật sửa chữa van ba lá, tuy nhiên cần phải đánh giá
chính xác thương tổn của van ba lá khi tiến hành phẫu thuật để có thể lựa
chọn kỹ thuật thích hợp nhằm tránh tình trạng hở van ba lá nặng lên sau phẫu
thuật. Theo ghi nhận của một số tác giả nước ngoài, sau phẫu thuật sửa hoặc
thay van hai lá, một số bệnh nhân không có hở van ba lá nặng trước phẫu
thuật bị hở van ba lá nặng mới xuất hiện sau phẫu thuật [66], [73], [96],
[113]. Nguyên nhân của tình trạng này thường là thấp tim tái phát gây tổn
thương trực tiếp van ba lá hoặc gây tái hẹp/hở van hai lá dẫn đến tăng áp
động mạch phổi, giãn thất phải và hở ba lá cơ năng tăng nặng. Rối loạn hoạt
động van hai lá nhân tạo cũng có thể dẫn đến hở van ba lá tăng nặng qua cơ
chế tương tự [73]. Đối với thương tổn hở van ba lá mức độ nặng, hở van ba lá thực thể,
các tác giả cũng khuyến cáo nên sửa chữa van ba lá với kỹ thuật đặt vòng
van nhân tạo sẽ đem lại kết quả trung hạn và dài hạn tốt hơn so với kỹ thuật
sửa van ba lá không sử dụng vòng van [71], [96], [99], [128].
Cũng như ghi nhận của các tác giả trên thế giới, trước đây chúng tôi
chỉ thực hiện sửa van ba lá khi bệnh nhân có thương tổn thực thể trên van ba
lá mức độ vừa nặng trở lên (3/4 hay độ 3+) hoặc tổn thương cơ năng van ba
lá mức độ nặng (4/4 hay độ 4+) kèm với giãn vòng van ba lá và tăng áp động
mạch phổi nặng. Còn đối với những trường hợp hở van ba lá thực thể mức
độ vừa (2/4 hoặc độ 2+) và hở van ba lá cơ năng mức độ vừa nặng (3/4 hoặc
độ 3+), chúng tôi thường hoặc không xử lý thương tổn van ba lá hoặc chỉ
tiến hành sửa van ba lá với kỹ thuật tạo hình vòng van sau bằng dãi băng
màng ngoài tim gấp đôi. Sau một thời gian theo dõi chúng tôi nhận thấy rằng
thương tổn van ba lá không được xử lý hoặc xử lý không thích hợp sẽ nặng
lên sau phẫu thuật van hai lá.
Chính vì điều này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phân tích chỉ định,
các kỹ thuật mổ cũng như kết quả của phẫu thuật sửa van ba lá có đặt vòng
van và tạo hình van ba lá không đặt vòng van trên nhóm bệnh nhân được
thực hiện tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh với tên đề tài là "Nghiên
cứu kết quả các phương pháp sửa van ba lá trong phẫu thuật bệnh van hai
lá". Đề tài nghiên cứu này mở ra triển vọng tìm được chỉ định thích hợp
trong phẫu thuật điều trị bệnh lý van ba lá đi kèm với bệnh lý van hai lá để
phòng ngừa hở van ba lá nặng sau phẫu thuật van hai lá. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu sau đây:
1. Đánh giá kết quả dài hạn của phương pháp sửa van ba lá có đặt
vòng van và sửa van ba lá không đặt vòng van trong phẫu thuật
bệnh van hai lá.
2. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dài hạn của phương
pháp sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá.
Xem thêm

164 Đọc thêm

HẸP VAN HAI LÁ

HẸP VAN HAI LÁ

2.Giai đoạn suy tim phải: tăng huyết áp và sung huyết ở phổi kéo dài sẽ gây ra xơhoá những mao mạch ở phổi. Lực cản trong hệ thống mạch ở phổi tăng lên và tất cảgánh nặng huyết động của tật hẹp van hai được chuyển từ nhĩ trái sang thất phải, dođó thất phải phì đại và giãn rộng. Hậu quả là khả năng suy tim phải xảy ra với gan to,phù ngoại vi, cổ trướng (dịch thấm trong ổ phúc mạc), hở van ba và/hoặc hồ vanđộng mạch phổi chức năng.Triệu chứngTRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG: hẹp van hai hay gặp ở phụ nữ hơn nam giới. Nhữngtriệu chứng bao gồm: đánh trống ngực (hồi hộp), khó thở khi gắng sức, đôi khi khó thởlúc nằm kèm theo ho và ho ra ít máu, khó thở ban đêm kịch phát sau một ngày hoạtđộng thể lực căng thẳng, phù phổi cấp khởi phát bằng sốt, nhịp tim nhanh kịch phát, cóthai, thiếu máu. Khàn tiếng do tâm nhĩ trái và động mạch phổi giãn rộng chèn ép vàodây thần kinh quặt ngược (dây thần kinh thanh quản dưới) bên trái (hội chứng Ortner)và chứng khó nuốt cũng xảy ra nhưng hiếm. Trong trường hợp tăng huyết áp độngmạch phổi nặng và lưu lượng tim thấp, thì da mặt bệnh nhân có màu hơi tím (“bộ mặtvan mũ ni”).TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ•Tiếng tim thứ nhất đanh ở mỏm tim: thể hiện van hai đóng mạnh (tiếng clacđóng van). Cảm giác đụng nhẹ khi sờ ngực bằng lòng bàn tay cũng là do xung độngđóng van.•Tiếng thứ hai phân đôi hoặc tiếng clac mở van hai : tiếng tim thứ hai có mộttiếng phụ đi kèm tiếp sau là do van hai mỏ ra. Tiếng này xuất hiện sau tiếng tim thứ
Xem thêm

6 Đọc thêm

HẸP VAN HAI lá

HẸP VAN HAI LÁ

6- Lớn thất phải- Sự canxi hóa của van hai lá3. Siêu âm tim: là phương pháp không xâm nhập có độ nhạy cảm và độ đặchiệu cao nhất trong chẩn đoán hẹp van hai .4. Thông tim: thông tim trái chỉ dùng để làm sáng tỏ thêm khi có sự bất tươnghợp giữa dữ kiện lâm sàng và siêu âm tim. Nó giúp đánh giá những tổnthương van kết hợp như hẹp hở van động mạch chủ, hở van hai .Diện tích lỗ van hai có thể đo được dựa trên nhịp tim, cung lượng timvà độ chênh áp qua van. Bệnh nhân có lỗ van hai 1,1 – 1,5 cm2 : hẹp vừa> 1.5 cm2 : hẹp nhẹVI. Chẩn đoán phân biệt1. Hở van hai nặng có thể có âm thổi tâm trương ở mỏm do có một sốlượng lớn máu đi ngang qua van hai trong thì tâm trương. Tuy nhiên, sựhiện diện của một âm thổi toàn tâm thu của hở van hai và bằng chứng lớnthất trái bởi khám thực thể, điện tâm đồ, X quang lồng ngực và siêu âm tim,sẽ gợi ý hở van hai .- Hở van động mạch chủ có âm thổi giữa tâm trương ở mỏm (âm thổi Austin– Flint) có thể lầm với hẹp van hai .- Hẹp van ba : hiếm khi xảy ra mà không có hẹp van hai đi kèm, có thểche giấu những triệu chứng lâm sàng của hẹp van hai .Siêu âm tim đặc biệt có ích trong việc chẩn đoán hẹp van hai và các tổnthương van khác, đồng thời xác định mức độ nặng của chúng.2. Tăng áp động mạch phổi nguyên phát: có một số đặc điểm lâm sàng vàcận lâm sàng tương tự hẹp van hai , bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ. Tuynhiên, không có clắc mở van và rù tâm trương; áp suất mao mạch phổi bít vàáp suất nhĩ trái bình thường; cũng như kích thước nhĩ trái bình thường trên
Xem thêm

15 Đọc thêm

HẸP VAN HAI LÁ

HẸP VAN HAI LÁ

– Khó thở gắng sức; cơn khó thở kòch phátvề đêm ; khó thở phải ngồi ; suyễn tim ;phù phổi cấp.– Khái huyết– Đau ngực (15%)– Nói khàn– Các triệu chứng do thuyên tắc: não, thận,ĐMV, ĐMP9Hẹp van 2 láHẸP VAN HAI LÁTRIỆU CHỨNG THỰC THỂ–––––Biến dạng lồng ngựcMỏm tim khó sờ ; sờ được T1T1 giảm khi van vôi hóa ; T1 đanhT2 mạnh và tách đôiClắc mở van hai A2 - Clắc mở (OS) = 0,04 - 0,12 giâyHẹp nặng , A2 - OS giảm– Rung tâm trương– Âm thổi tâm thu (hở 3 )10
Xem thêm

33 Đọc thêm

Trắc nghiệm về suy tim

TRẮC NGHIỆM VỀ SUY TIM

Suy tim là:
A. Một trạng thái bệnh lý.
B. Tình trạng cơ tim suy yếu nhưng còn khả năng cung cấp máu theo nhu cầu của cơ thể.
C. Tình trạng cơ tim suy yếu cả khi gắng sức và về sau cả khi nghĩ ngơi.
D. Do tổn thương tại các van tim là chủ yếu.
E. Do tổn thương tim toàn bộ.
Nguyên nhân kể sau không thuộc nguyên nhân suy tim trái:
A. Tăng huyết áp.
B. Hở van hai la.
C. Còn ống động mạch.
D. Hở van hai lá.
E. Thông liên nhĩ.
Nguyên nhân kể sau không thuộc nguyên nhân suy tim phải:
A. Hẹp hai lá.
B. Tứ chứng FALLOT.
C. Viêm phế quản mạn.
D. Tổn thương van ba lá.
D. Hẹp động mạch phổi.
E. Bệnh van động mạch chủ.
Xem thêm

4 Đọc thêm

HỘI CHỨNG VAN TIM : HẸP HỞ VAN 2, 3 LÁ

HỘI CHỨNG VAN TIM : HẸP HỞ VAN 2, 3 LÁ

Cơ chê phát sinh sinh tiếng rung tâm trương là do máu chảy từ nhĩ trái xuống thất trái qua lỗ van hai lá đã bị hẹp làm cho máu xoáy qua lỗ đi xuống gây ra tiếng rung. Máu lại va vào các dây chằng và cột cơ trong tâm thất cũng bị cứng do viêm nên tiếng rung này càng nghe rõ.

6 Đọc thêm

53 HỞ VAN 2 LÁ

53 HỞ VAN 2 LÁ

mạn tính[26, 45-47]. Do đó nhiều người đã coi sự xuất hiện của rung nhĩ là một chỉđịnh quan trọng để phẫu thuật đặc biệt là khi khả năng mổ sửa van thành công cao[48,49]. Đối với những bệnh nhân phẫu thuật van 2 có kèm rung nhĩ mạn tính, có thể phốihợp với thủ thuật Maze để ngăn ngừa các biến cố tắc mạch sau này do phục hồi đượcnhịp xoang[50-56]. Tuy nhiên quyết định áp dụng thủ thuật Maze cần dựa trên tuổi, sứckhỏe bệnh nhân, trình độ phẫu thuật viên do thủ thuật này làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vongcủa phẫu thuật.Hở van 2 ở bệnh nhân cao tuổiTỷ lệ tử vong chu phẫu tăng lên (14% đến > 20% tùy từng trung tâm) và tỷ lệ sống cònsau mổ thường giảm đi ở những bệnh nhân hở van 2 tuổi trên 75, đặc biệt ở nhómphải mổ thay van 2 hoặc ở nhóm có kèm theo bệnh lý động mạch vành hoặc phối hợpcác bệnh lý van tim khác[30, 57-62]. Mặc dù nguy cơ có thể giảm đi nếu mổ sửa vanthay vì mổ thay van song đa số bệnh nhân nhóm tuổi này lại cần cả phẫu thuật bắc cầunối chủ vành, với nguy cơ tối thiểu 8%: nghĩa là cũng đáng tiến hành nếu như bệnh nhâncó triệu chứng đáng kể. Tuy nhiên nếu bệnh nhân chưa có triệu chứng hoặc triệu chứngcơ năng rất nhẹ thì nên điều trị nội khoa.5.1.4. Theo dõi sau mổSiêu âm tim sau mổ 4-6 tuần được dùng làm mốc theo dõi, phát hiện những trường hợpsửa/thay van không tốt, đánh giá chức năng thất trái. Nguyên nhân hở van 2 tái phátcó thể do sửa không tốt (sẽ được phát hiện sớm ngay sau mổ) hoặc do nguyên nhân gâybệnh tiếp tục tiến triển. Bệnh nhân nên được theo dõi lâm sàng và siêu âm tim (đánh giákết quả mổ sửa van, cơ chế và mức độ hở van, chức năng thất trái, huyết khối hay viêmnội tâm mạc) ít nhất 1 năm/1 lần. Bệnh nhân thay van cơ học cần được điều trị chốngđông lâu dài và theo dõi tỷ lệ prothrombin hay INR. Bệnh nhân thay van sinh học cầntheo dõi tiến triển thoái hóa của van. Bệnh nhân sửa van cũng cần được đánh giá hiệuquả của mổ và theo dõi tiến triển của mức độ hở hai .5.2. Hở van 2 cấp tínhNhững bệnh nhân hở van 2 nặng cấp tính luôn có những triệu chứng cơ năng nặng nề.
Xem thêm

33 Đọc thêm