CĂN CỨ VÀO QUYỀN SỞ HỮU VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH VKD ĐƯỢC CHIA LÀM 2 LOẠI NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ NỢ PHẢI TRẢ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CĂN CỨ VÀO QUYỀN SỞ HỮU VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH VKD ĐƯỢC CHIA LÀM 2 LOẠI NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ NỢ PHẢI TRẢ":

NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP

NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP

I. Nguồn tài trợ của doanh nghiệp
Căn cứ vào quyền sở hữu thì nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh ngiệp,bao gồm số vốn góp của chủ sở hữu,phần vốn tự bổ xung từ lợi nhuận để lại,các quỹ được hình thành từ lợi nhuận và nguồn kinh phí. Mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau có các hình thức huy động vốn khác nhau,ví dụ như: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp,nguồn vốn từ việc phát hành cổ phiếu,nguồn vốn từ tiết kiệm để tái đầu tư…
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ đầu tư của doanh nghiệp cũng phải bỏ ra một số vốn nhất định . Đối với doanh nghiệp nhà nước vốn tự có ban đầu chính là vốn do ngân sách nhà nước cấp .Đối với doanh nghiệp tư nhân vốn tự có là số vốn pháp định cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp ,tức là số vốn tối thiểu chủ doanh nghiệp phải bỏ ra để được thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật .Với công ty cổ phần nó là nguồn vốn do các cổ đông đóng góp để thành lập công ty . Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty mà mức độ quyền hạn tham gia vào công ty căn cứ theo tỉ lệ góp vốn đồng thời chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ .

1. Phần lợi nhuận hằng năm để lại
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo luật định,việc phân phối lợi nhuận sau thuế còn lại sẽ cho doanh nghiệp quyết định. Trong các công ty cổ phần,việc phân phối lợi nhuận sau thuế do Đại hội cổ đông quyết định. Nhìn chung,lợi nhuận sau thuế của công ty cổ phần được chia thành hai phần:
 Một phần chia cho các cổ đông dưới hình thức trả cổ tức(hay còn gọi là lợi tức cổ phần).
 Một phần được giữ lại để tái đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
a. Khái niệm: Lợi nhuận hàng năm để lại là Phần trăm lợi nhuận thuần không dùng để trả cổ tức mà được doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư theo các mục tiêu chiến lược hoặc để trả nợ. Lợi nhuận giữ lại được thể hiện bên dưới vốn cổ phần chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán.
Lợi nhuận giữ lại được tính toán bằng cách thêm vào lợi nhuận giữ lại ban đầu (các năm trước đó) thu nhập thuần và trừ đi cổ tức trả cho các cổ đông
Lợi nhuận giữ lại = lợi nhuân giữ lại ban đầu + thu nhập ròng – cổ tức.
b. Ưunhược điểm
 Ưu điểm
• Là nguồn vốn rất chủ động và thuạn tiện cho các doanh nghiệp.
• Không phải trả lãi,chi phí huy động thấp,đỡ tốn kém hơn phát hành cổ phiếu
• Mức độ rủi ro thấp hơn so với các nguồn vốn vay,nhất là khi đến thời gian đáo hạn mà doanh nghiệp chưa có khả năng trả.
• Là nguồn vốn ổn định và tăng trưởng tốt trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi.
• Giúp cho doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài.
• Giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hàng,tổ chức tín dụng hay đối với các cổ đông.
• Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh,tạo cơ hội cho các công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo.
• Làm tăng tỷ trọng vốn tự có của doanh nghiệp,cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác hay là cơ sở để quyết định quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Thực trạng huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

A.Các hình thức huy động vốn theo lý thuyết
1. Huy động vốn tăng vốn chủ sở hữu:
Hình
thức
Khái niệm Ưu điểm Nhược điểm
Tăng
vốn
góp
Vốn ban đầu là số
vốn do CSH góp
khi doanh nghiệp
được thành lập.
Đây là vốn góp của CSH nên
thuận tiện và dễ dàng trong
việc huy động, chi phí thấp và
lợi nhuận cao hơn do không
phải mất lãi vay và có thể sử
dụng dài hạn
Nhược điểm: khả năng góp
vốn của những người chủ sở
hữu ban đầu không lớn, giới
hạn về quy mô của doanh
nghiệp
Tăng
lợi
nhuận
để lại
Lợi nhuận giữ lại
là lợi nhuận sau
thuế, sau khi chia
lợi nhuận cho chủ
sở hữu và đã trích
các quỹ; lợi nhuận
này dùng để tích
lũy bổ sung vốn
nhằm tái đầu tư
Giảm bớt sự phụ thuộc vào bên
ngoài
Giảm chi phí, tiện lợi, dễ dàng
huy động. không phải xin phép,
không làm loãng quyền kiểm
soát DN và không phải hoàn
trả.
Giúp DN dễ dàng qhtd với cổ
đông, ngân hàng, các tổ chức
tín dụng.
Tăng lợi nhuận cho kỳ sau
Nhược điểm: muốn sử dụng
nguồn vốn này phải được sử
đồng ý của các CSH →
không chủ động được. chỉ
áp dụng với các DN lớn, có
lãi liên tục và đều đặn.
Không thể áp dụng thường
xuyên vì ảnh hưởng đến
quyền lợi của cổ đông
Cổ
phiếu
Cổ phiếu là một
loại chứng khoán
được phát hành
nhằm xác nhận
quyền sở hữu và
lợi ích hợp pháp
của người sở hữu
đối với tài sản hoặc
vốn của một công
ty cổ phần
Giúp thu được lượng vốn lớn.
Nâng cao khả năng vay vốn
của doanh nghiệp.
Không phải trả lại tiền gốc
cũng như không bắt buộc phải
trả cổ tức khi DN làm ăn
không hiệu quả.
Gây bất đối xứng về th
Xem thêm

11 Đọc thêm

CÁC PHƯƠNG THỨC DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

CÁC PHƯƠNG THỨC DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

Các phương thức dân sự bảo vệ quyền sở hữu Bài tập học kỳ Luật Dân sự 1
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1
A LỜI MỞ ĐẦU

Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Mức độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

Xuất phát từ vai trò chi phối của cơ sở kinh tế hạ tầng đối với pháp luật, BLDS ra đời khẳng định vị trí trung tâm của chế định “tài sản và quyền sở hữu”. Trước đây khi chưa có BLDS, vấn đề tài sản và quyền sở hữu được qui định trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Đất đai, Pháp lệnh hợp đồng dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, PLTK… Những qui định về quyền sở hữu trong các văn bản pháp luật này đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở định hướng cho các quan hệ kinh tế, các quan hệ dân sự. BLDS ra đời, chế định tài sản và quyền sở hữu đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở pháp lý cho các chế định khác trong Bộ luật cũng như các văn bản pháp luật khác về quan hệ tài sản. Bởi lẽ, quyền sở hữu là cơ sở, là mục đích của rất nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Vì thế, quyền sở hữu còn là tiền đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ đó. Mục đích cuối cùng của đa phần các hành vi dân sự và giao dịch dân sự là nhằm hướng tới xác lập hoặc chấm dứt quyền sở hữu của các chủ thể. Vì vậy, quyền sở hữu là nội dung hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự. Về mặt lý luận, quyền sở hữu là quyền tuyệt đối của các chủ thể trong Luật Dân sự, pháp luật luôn ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu thông qua các phương thức bảo vệ quyền sở hữu.


B NỘI DUNG

I. KHÁI NIỆM QUYỀN SỞ HỮU.

1. Khái niệm quyền sở hữu.

Các quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan, khái niệm quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi pháp luật xác nhận quan hệ sở hữu tồn tại trong xã hội. Khác với sở hữu là một phạm trù kinh tế thì quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý.

Khái niệm này chỉ xuất hiện khi Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về sở hữu. Lúc
này trong xã hội có giai cấp, bản năng chiếm hữu của con người được Nhà nước quy định thành luật thích ứng với các thể chế của một xã hội nhất định.

Như vậy, theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu là một phạm trù pháp lí phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ sở hữu trong một chế độ xã hội nhất định. Với chức năng thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005.

Theo nghĩa chủ quan: được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Theo nghĩa này, quyền sở hữu chính là quyền năng dân sự của chủ thể đối với một tài sản cụ thể và xuất hiện trên cơ sở nội dung quy định của quy phạm pháp luật khách quan.

Ngoài ra theo một phương tiện khác, quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Vì rằng, bản thân nó chính là hệ quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu). Vì vậy, theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật dân sự bất kì.

2. Các quyền năng của chủ sở hữu.

2.1. Quyền chiếm hữu.

Luật dân sự Việt Nam xác định chiếm hữu là một quyền năng, là một trong ba bộ phận cấu thành quyền sở hữu. Điều 182 BLDS qui định: “Quyền sở hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”. Nắm giữ tài sản là việc người chiếm giữ vật trong phạm vi kiểm soát làm chủ và chi phối tài sản đó theo ý chí của mình, không bị hạn chế và gián đoạn về thời gian (Điều 184 BLDS). Ví dụ: cất tiền vào túi; quần áo, trang sức để vào tủ,…
Trong chiếm hữu theo luật Việt Nam, xét dưới góc độ chủ thể chiếm hữu, có thể tồn tại hai khả năng: Người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản và người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu của tài sản.
Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

2.2. Quyền sử dụng.

Điều 192 BLDS quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”.
Nói một cách dễ hiểu thì quyền sử dụng là quyền khai thác những lợi ích mang lại từ tài sản.

2.3. Quyền định đoạt.

Điều 195 BLDS định rõ: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản”. Việc định đoạt tài sản có thể định đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc bằng hành vi pháp lý (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…). người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác trong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (việc trưng mua, trưng thu tài sản theo quyết định của Nhà nước). Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó.

II. CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

1. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu.

Quyền sở hữu là một trong các quyền cơ bản, quan trọng nhất của công dân, nên pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có những quy định để bảo vệ quyền sở hữu. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.

Theo lý luận truyền thống của luật dân sự thì bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp trong khuôn khổ pháp luật tác động đến hành vi xử sự của con người, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu, khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu. Còn phương thức bảo vệ quyền sở hữu là cách thức mà Nhà nước và chủ sở hữu sử dụng để bảo vệ chủ sở hữu khỏi những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu, khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu. Quyền sở hữu được bảo vệ bằng các biện pháp hình sự, hành chính hay dân sự. Trong bài viết này, em xin đề cập đến bảo vệ quyền sở hữu bằng các biện pháp của dân sự.

BLDS năm 2005 đã dành hẳn Chương XV (Phần thứ hai), bao gồm 7 điều từ Điều 255 đến Điều 261 để quy định về bảo vệ quyền sở hữu. Ngoài ra, quy định về bảo vệ quyền sở hữu còn nằm rải rác ở một số điều khác, theo đó, chủ sở hữu có quyền bảo vệ quyền sở hữu thông qua các phương thức sau:

Tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu;

Yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại;

Yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu.

2.1. Chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.

2.1.1. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật.

Khoản 2 Điều 255 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”.

Như chúng ta đã biết, đặc trưng lớn nhất của quyền dân sự là nguyên tắc tự định đoạt. Theo BLDS thì chủ sở hữu có quyền tự thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của chính mình. Ví dụ: chủ sở hữu nhà ở xây tường bao xung quanh nhà của mình để bảo vệ nhà của mình khỏi bị xâm phạm từ bên ngoài, chủ vườn cây ăn quả rào vườn và thuê người bảo vệ, trông nom vườn cây của mình…
Quyền của chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản của mình không phải là tuyệt đối, mà có giới hạn của nó. Giới hạn đó chính là “không được xâm phạm đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Các hành vi như: giăng dây điện quanh ao cá, vườn cây để chống trộm, làm hố chông quanh gốc cây ăn quả … dẫn đến làm người khác bị chết (kể cả kẻ trộm), đều bị coi là hành vi trái pháp luật, phải bồi thường thiệt hại và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

Các hành vi tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp trong thực tế rất đa dạng. Hiệu quả của các biện pháp này đến đâu phụ thuộc vào chính khả năng của bản thân chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Vấn đề đặt ra là khi chủ sở hữu không có năng lực hành vi dân sự để có thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản, thì pháp luật dự liệu như thế nào? Cũng giống như Bộ luật dân sự các nước, BLDS đã có một cơ chế để xử lý vấn đề này, đó chính là chế định giám hộ. Theo Điều 65 BLDS, người giám hộ có nghĩa vụ:
“1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
3. Quản lý tài sản của người được giám hộ;
4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”.

Tất nhiên, bù lại, người giám hộ sẽ được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý, bảo vệ tài sản của người được giám. Nếu người giám hộ có hành vi vi phạm pháp luật (như lợi dụng việc giám hộ để chiếm đoạt tài sản của người được giám hộ), thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trong trường hợp này, việc giám hộ bị chấm dứt để thay thế bằng một quan hệ giám hộ mới, với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Một biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu rất có hiệu quả của chủ sở hữu là biện pháp đăng ký quyền sở hữu. Cơ sở pháp lý của quyền này là Điều 167 của BLDS. Tuy nhiên, để xác định những loại tài sản nào phải đăng ký thì không chỉ dựa vào Bộ luật dân sự mà còn dựa vào các văn bản pháp luật chuyên ngành (Bộ luật Hàng hải, Luật Đất đai, Luật Hàng không dân dụng…). Thông thường, tài sản đó là nhà ở, quyền sử dụng đất, ô tô, xe máy, tàu thuỷ, thuyền, máy bay… Việc đăng ký tài sản rất có ý nghĩa, vì trong các hợp đồng dân sự đòi hỏi phải đăng ký, nó là thời điểm hoàn tất việc chuyển giao quyền sở hữu, đồng thời là cũng là thời điểm để chủ sở hữu có quyền “đối kháng” với người thứ ba khi tài sản có tranh chấp. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng việc đăng ký tài sản ở Việt Nam hiện nay được thực hiện chưa nghiêm túc. Nguyên nhân là do thủ tục hành chính còn rườm rà, lệ phí cao so với mức sống trung bình của người dân, song nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa tốt. Đây là một thực tế gây rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có tranh chấp xảy ra.

Trên thực tế, biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình là biện pháp diễn ra phổ biến nhất và cũng có hiệu quả nhất. Người Việt Nam có truyền thống “duy tình”, trường hợp kiện nhau ra Toà cũng không phải là “thói quen” như là một nét văn hoá hết sức bình thường ở các nước phương tây. Tuy nhiên, với sự phát triển của cơ chế thị trường, trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp bắt đầu có xu hướng tăng. Trong những trường hợp này, biện pháp tự bảo vệ xem ra không còn phát huy tác dụng, và chủ sở hữu phải sử dụng đến các biện pháp khác để có thể bảo vệ được quyền lợi của mình.

2.1.2. Chủ sở hữu yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại.

Điều 259 BLDS: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó” và theo Điều 260 BLDS: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại”.

Ví dụ 1: A là chủ sở hữu của một căn nhà. B là hàng xóm của A, trong khi đào móng làm nhà, đã đào sát tường nhà A, làm sụt và nứt tường của nhà A.

Ví dụ 2: C là chủ sở hữu một căn nhà. D là hàng xóm của C đã để ống thoát nước mưa của nhà mình chảy dội sang nhà C, làm ngấm tường của nhà C. Trong một lần mưa to, lượng nước mưa chảy xuống nhiều đã làm hư hỏng bức tranh quý của nhà C treo trên tường.

Các ví dụ trên xảy ra rất phổ biến trong thực tế. Trong các trường hợp trên, A và C với tư cách là chủ sở hữu có quyền gì đối với B và C không? Theo các quy định của BLDS Việt Nam, thì A và C, với tư cách là chủ sở hữu có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, có quyền yêu cầu B và C – những người có hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu của mình – phải chấm dứt hành vi vi phạm. Tức là A có quyền yêu cầu B phải ngừng việc đào móng sát tường nhà của mình để tìm biện pháp khác; C có quyền yêu cầu D phải dẫn nước thoát theo đường ống khác để nước không chảy và ngấm sang tường nhà mình.
Tuy nhiên, tường nhà của A đã bị sụt và nứt, bức tranh quý của nhà C đã bị hư hỏng. A và C có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo cách thức và mức do hai bên thoả thuận.

Đây chính là cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế thường thông qua con đường các bên “tự dàn xếp”. Như chúng tôi đã nói ở trên, xuất phát từ nguyên tắc tự định đoạt, nên các bên hoàn toàn có quyền tự bàn bạc, thu xếp với nhau mà không cần thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cơ chế này tỏ ra rất hữu hiệu trong rất nhiều trường hợp, vì nó có những lợi ích cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các bên không phải mất thời gian, chi phí để khởi kiện tại Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

Thứ hai, xét về mặt tình cảm, như chúng tôi đã nói ở trên, với truyền thống duy tình của người Việt Nam, thì phương thức tự dàn xếp này nếu thành công sẽ giữ gìn được mối quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa các bên, duy trì được tình làng nghĩa xóm;

Thứ ba, nếu dàn xếp được, thì thông thường là các bên sẽ tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục và bồi thường thiệt hại, khỏi phải thông qua cơ chế thi hành bản án, quyết định dân sự một vấn đề rất nhức nhối hiện nay khi các bản án, quyết định dân sự còn tồn đọng, không được thi hành trên thực tế còn đang chiếm một tỷ lệ rất lớn;

Thứ tư, có một thực tế ở Việt Nam hiện nay là nhiều vụ án hình sự (giết người, cố ý gây thương tích, cố ý huỷ hoại tài sản…) có nguồn gốc từ các tranh chấp dân sự. Nếu hoà giải thành thì có thể tránh được những trường hợp đau lòng, gây thiệt hại cho các bên đương sự và cho xã hội.

Rõ ràng, cơ chế trên vừa đem lại lợi ích cho các bên cũng như cho Nhà nước. Nhận thức được những lợi ích này, Nhà nước ta đã thiết lập cả một thể chế, thiết chế về hoà giải. Về thể chế, đó là Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về thiết chế, đó là các Tổ hoà giải ở cơ sở (xóm, thôn, tổ dân phố) dưới sự quản lý và hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Ban Tư pháp xã phường và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Cũng cần phân biệt cơ chế hoà giải “tiền tố tụng” này với cơ chế hoà giải mang tính tố tụng do Toà án thực hiện sau khi thụ lý vụ kiện. Đây chính là một trong những điểm ưu việt của pháp luật Việt Nam, được các nhà tài trợ quốc tế đánh giá cao.

Cũng giống như biện pháp chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, biện pháp tự dàn xếp này cũng có giới hạn của nó. Giới hạn đó cũng chính là “lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Các hành vi như tự ý tổ chức “cưỡng chế đòi nợ”, thoả thuận dàn xếp với nhau để vi phạm quyền lợi của người thứ ba… đều bị coi là hành vi trái pháp luật và bị xử lý (cả về mặt hình sự hoặc hành chính nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc vi phạm). Pháp lệnh hoà giải cũng quy định phạm vi hoà giải không bao gồm các vụ việc có dấu hiệu hình sự hoặc hành chính. Trong những trường hợp trên, việc chủ sở hữu thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu của mình đã vượt quá giới hạn cần thiết và do vậy, bị coi là bất hợp pháp.

Cơ chế “tự dàn xếp” sẽ không phát huy tác dụng nếu bên vi phạm vẫn cố tình vi phạm mặc dù chủ sở hữu đã yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, các bên đương sự không thoả thuận được với nhau về cách thức, mức bồi thường thiệt hại… Trong các trường hợp này, chủ sở hữu nếu muốn thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu của mình, thì chỉ còn cách yêu cầu Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác can thiệp.

2.2. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Theo Điều 255BLDS: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Xét về mức độ can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ pháp luật, thì trong quan hệ pháp luật dân sự, sự can thiệp này ở mức độ thấp nhất, xuất phát từ chính bản thân quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ mang tính bình đẳng thoả thuận giữa các bên, Nhà nước chỉ can thiệp khi thật cần thiết. Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, mặc dù chủ sở hữu đã yêu cầu người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại, nhưng không đạt được kết quả như mong muốn, thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác – với tư cách là cơ quan công quyền – buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2.2.1. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản:

Phương thức kiện này được gọi phổ biến là kiện vật quyền (kiện đòi lại tài sản). Loại việc này diễn ra khá phổ biến tại các Toà án trong những năm vừa qua, đặc biệt là kiện đòi nhà, đất.

Liên quan đến vấn đề này, Bộ luật dân sự đã quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Theo đó, trong mọi trường hợp, người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật, thì có nghĩa vụ hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó. Điều kiện để thực hiện biện pháp kiện vật quyền là:

+Vật rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thông qua quan hệ hợp đồng. Ví dụ: bị mất, bị lấy cắp, bị cướp…

+Người thực tế đang chiếm hữu, sử dụng tài sản là người chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật.

+Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải chứng minh được vật đang bị chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật là vật thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Trên thực tế, để chứng minh được thì tài sản thường phải là vật đặc định.

+Vật là đối tượng của việc kiện vẫn chưa bị xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.

Liên quan đến vấn đề thời hiệu, Điều 247 BLDS đã quy định rất rõ ràng:
“1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó”.
Vấn đề đặt ra là quan hệ pháp luật dân sự diễn ra trong thực tế rất sinh động, không phải trong trường hợp nào tài sản cũng chỉ rời khỏi chủ sở hữu sang người khác và dừng ở đó, mà có rất nhiều trường hợp người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật lại chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba. Vậy trong trường hợp này, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền đòi lại vật hay không? Liên quan đến vấn đề này, Điều 257 và 258 BLDS quy định:

Điều 257: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.

Điều 258: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp
người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.

Qua hai điều luật trên có thể thấy BLDS nghiêng về trường phái bảo vệ quyền sở hữu một cách tuyệt đối. Người thứ ba dù ngay tình hay không ngay tình khi chiếm hữu vật do người chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã chuyển giao cho mình, thì trong mọi trường hợp, khi bị chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp kiện vật quyền, đều phải có nghĩa vụ hoàn trả tài sản (tất nhiên trừ trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu).

Trong Bộ luật dân sự Việt Nam, có thể thấy quyền đòi lại vật của chủ sở hữu là rất mạnh. Trên cơ sở các quy định này, chủ sở hữu có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình phải trả lại tài sản đó, cho dù người thứ ba là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Tất nhiên, phương thức hoàn trả sẽ có sự khác nhau: nếu là không ngay tình thì người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; còn nếu là ngay tình, thì chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 606 BLDS). Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ chi phí ra để làm tăng giá trị của tài sản, thì sẽ được thanh toán những chi phí đó khi họ phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu.

Có thể thấy rằng việc pháp luật quy định người thứ ba ngay tình phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp sẽ là một bất lợi lớn đối với họ trong rất nhiều trường hợp. Nếu đó là tài sản mà người này đã đầu tư vào kinh doanh (ví dụ máy móc, trang thiết bị kỹ thuật…), thì khi phải trả lại, họ sẽ phải chịu những xáo trộn nhất định trong công việc của mình. Hoặc nếu đó là những tài sản quý hiếm (tranh quý, đồ mỹ nghệ, đồ trang sức…) mà họ đã bỏ tiền ra mua để sưu tập, làm kỷ niệm… nay dù không muốn trả lại thì họ vẫn buộc phải trả lại nếu chủ sở hữu có yêu cầu đòi lại tài sản. Tóm lại là dù không muốn trả lại tài sản vì lý do nào đó, nhưng khi bị chủ sở hữu kiện đòi tài sản, thì người thứ ba ngay tình vẫn phải trả lại tài sản. Rồi để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ lại phải đeo đuổi một vụ kiện khác: kiện người đã giao tài sản cho mình phải bồi thường thiệt hại, mà điều này cũng không phải là dễ dàng nhất là trong trường hợp tài sản đã qua tay nhiều người.

2.2.2. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu:

Xét về mặt khoa học luật, người ta thường gọi đây là phương thức kiện buộc chấm dứt hành vi. Trở lại ví dụ đã dẫn ở phần trên (2.2):

A là chủ sở hữu căn nhà mình đang ở. B là hàng xóm của A. Trong lúc đào móng làm nhà, do không tuân thủ quy trình, quy phạm kỹ thuật xây dựng, B đã đào móng sát tường của nhà A và đã làm tường nhà A sụt, nứt một đoạn. A đã yêu cầu B chấm dứt việc đào móng nhà để hai bên bàn bạc cách giải quyết, nhưng B vẫn tiếp tục đào móng làm nhà và hậu quả là tường nhà A tiếp tục bị sụt, nứt ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống bình thường trong gia đình.

Trong trường hợp này, theo quy định của BLDS, A có quyền làm đơn gửi đến Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh)2 để đề nghị các cơ quan này can thiệp. Theo pháp luật hiện hành thì cần phân biệt 02 trường hợp:

Nếu A gửi đơn yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết, thì Toà án sẽ áp dụng thủ tục tố tụng dân sự (theo Bộ luật tố tụng dân sự) để giải quyết. Trong trường hợp này, theo yêu cầu của A và xét thấy có đủ các điều kiện cần thiết, Toà án sẽ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để buộc B ngừng việc xây dựng nhằm đảm bảo quyền lợi cho A. Sau khi có phán quyết của Toà án đã có hiệu lực pháp luật về việc buộc B chấm dứt hành vi đào móng sát tường nhà của A, nếu B không tự nguyện thi hành, thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ buộc B phải thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.

Nếu A gửi đơn yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết, thì Uỷ ban nhân dân sẽ áp dụng các quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính để giải quyết. Theo Pháp lệnh này cũng có cơ chế áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính bằng cách buộc B chấm dứt hành vi đào móng sát tường của nhà A.

Trong thực tế, các tranh chấp có đối tượng là hành vi trái pháp luật như trên chủ yếu liên quan đến bất động sản. Một ví dụ nữa cũng rất điển hình là hành vi xây tường bao hoặc tường rào chắn lối đi của nhà hàng xóm. Qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp dạng này tại Toà án hoặc Uỷ ban nhân dân các cấp, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Hành vi là đối tượng của việc kiện phải là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật ở đây được hiểu không chỉ là trái với các quy định của Bộ luật dân sự, mà còn trái với quy định của các văn bản pháp luật khác (như đất đai, xây dựng…). Đặc điểm chung của các hành vi này là cản trở chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp thực hiện những quyền năng của mình trong khuôn khổ pháp luật.

Trên thực tế, loại việc này thường liên quan đến bất động sản liền kề như nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất, lối đi chung…

2.2.3. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải bồi thường thiệt hại:

Phương thức này còn được gọi là kiện trái quyền.

Điều 260 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại”.

Ngoài chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, người thứ ba ngay tình cũng có quyền khởi kiện yêu cầu người đã xác lập giao dịch với mình phải bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền), nếu tài sản bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc trả lại cho người có quyền nhận tài sản đó.

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định khá rộng và phức tạp. Trong phạm vi bài viết này này, em chỉ xem xét vấn đề dưới góc độ như là một biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, mà không đi sâu phân tích các quy định chi tiết (như năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, xác định thiệt hại, bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể…).

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản phát sinh từ hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, pháp nhân như làm mất, phá huỷ, huỷ hoại tài sản… Ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại về tài sản là một mặt, nhằm khôi phục những thiệt hại về vật chất mà người gây thiệt hại đã gây ra cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp; mặt khác, giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu cũng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, do đó, về nguyên tắc, nó chỉ phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

+Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật;

+Có thiệt hại thực tế xảy ra;

+Có lỗi của người gây thiệt hại;

+Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra5.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là phải toàn bộ, kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật, hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

Về cơ bản, các quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại đối với tài sản được đánh giá là tương đối hoàn thiện và đã phát huy tác dụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

3. Thực tiễn trong giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tại Tòa án.

Trong số các vụ tranh chấp về dân sự thì chủ yếu là các tranh chấp liên quan đến tài sản và quyền sở hữu. Trong điều kiện án lệ vẫn chưa được thừa nhận là một nguồn của pháp luật, thì việc vận dụng các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan để giải quyết các tranh chấp thuộc loại này đã phát sinh những khó khăn nhất định. Dưới đây, xin đơn cử một số trường hợp điển hình.

3.1. Một số vụ việc:

Vụ thứ nhất:
Vụ kiện giữa nguyên đơn: anh Nguyễn Ngọc Quang, sinh năm 1961
Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1942.
Gia đình anh Nguyễn Ngọc Quang ở thửa đất tại xóm Núi, xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1987 đến năm 1991. Do nhu cầu về lối đi nên anh Quang đã xin địa phương cho phép mở lối đi ra đường mới liên thôn.

Năm 1995, ông Hải mua quyền sử dụng đất của bà Lan là hàng xóm của anh Quang và xây nhà cho con trai là Hà ra ở. Ông Hải đã đi vào lối đi mà anh Quang đã đi từ trước. Đến tháng 22000, anh Quang cải tạo lại ngõ và không cho ông Hải đi nhờ nữa, từ đó hai bên xảy ra xô xát, bất hoà. Anh Quang cho rằng lối đi này là của riêng gia đình anh vì đã được chính quyền địa phương công nhận và đã được cấp sổ bìa đỏ từ năm 1998. Còn ông Hải thì cho rằng trong quyết định giao đất cho ông đã ghi rõ phía bắc giáp ngõ nên gia đình ông cứ đi.

Anh Quang khởi kiện vụ án. Tại án dân sự sơ thẩm số 35 ngày 20102000, Toà án nhân dân huyện Từ Sơn
đã quyết định: xác nhận phần đất làm lối đi là đối tượng của tranh chấp có diện tích 60,3 m2 là thuộc quyền sử dụng của anh Quang.

Ông Hải không đồng ý với bản án sơ thẩm và đã kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm dân sự số 90 ngày 15122000, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định y án sơ thẩm.

Án có hiệu lực pháp luật, nhưng gia đình ông Hải không nghiêm túc thực hiện mà thường xuyên có hành vi cản trở anh Quang thực hiện quyền của mình. Ngày 612001, anh Quang xây tường trên phần lối đi cũ, ông Hải cùng các con xông ra ngăn cản, tháo dỡ, chửi bới nên anh Quang không xây dựng được. Đến ngày 2632001, Đội thi hành án Từ Sơn ra quyết định cưỡng chế thi hành án đối với gia đình ông Hải, nên ngày 2932001, gia đình anh Quang mới xây dựng được tường ngăn cao 2m.

Như đã trình bày ở phần trên, trên thực tế loại việc này thường liên quan đến bất động sản liền kề như nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất, lối đi chung. Trong vụ kiện trên, sở dĩ anh Quang thắng kiện là vì anh đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ). Trong đa số các trường hợp tranh chấp thường bên nguyên đơn không chứng minh được nguồn gốc đất mà mình đang sử dụng vì không có bìa đỏ và các giấy tờ cần thiết khác.

Vụ thứ hai:
Vụ kiện đòi nhà giữa ông An và ông Quân tại tỉnh Tiền Giang. Vụ án có nội dung cụ thể như sau:
Ngôi nhà tại ấp 4, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được toạ lạc trên tổng diện tích 86,12 m2 nguyên thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Văn Quân (diện tích này ông B chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vào năm 1978, ông Quân cho ông Huỳnh Văn An mượn nền nhà và đất trên để ở tạm. Nay có nhu cầu sử dụng, ông Quân yêu cầu ông An phải trả nền nhà và đất mà ông đã cho mượn năm 1978, nhưng ông An không thực hiện.

Sau khi thụ lý và điều tra vụ việc, Toà án nhân dân huyện Cái Bè đã đưa vụ án ra xét xử và đã ra phán quyết (bản án số 129STDS ngày 2281996) với nội dung: buộc ông An phải trả cho ông Quân toàn bộ nền nhà trên diện tích đất 86,12m2. Ông Quân có trách nhiệm thanh toán lại cho ông An tiền chi phí nâng cấp nền
nhà, lấp ao, xây dựng… với tổng số tiền là 3.152.920 đồng.

Ông An không đồng ý với bản án sơ thẩm và kháng cáo. Tại bản án số 159DSPT ngày 2751997, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định: bác yêu cầu đòi nền nhà của ông Quân và cho rằng không có căn cứ hợp pháp (quyết định khác hẳn án sơ thẩm).

Sau khi có bản án phúc thẩm nói trên, ông Quân đã gửi đơn khiếu nại lên Toà án nhân dân tối cao. Sau khi xem xét lại toàn bộ vụ kiện, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Tại bản án giám đốc thẩm số 413 ngày 2491997, Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: chấp nhận kháng nghị và xử huỷ án phúc thẩm, giữa nguyên quyết định của án sơ thẩm.

Sau khi có bản án giám đốc thẩm, ông An lại có đơn khiếu nại lên Chánh án Toà án nhân dân tối cao vì ông An cho rằng án giám đốc thẩm là thiếu khách quan, không bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của ông.
Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã có văn bản trả lời bản án giám đốc thẩm của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao là có căn cứ và đúng pháp luật.

Qua vụ việc trên có thể thấy, bản án sơ thẩm và giám đốc thẩm chỉ chấp nhận quyền sở hữu đối với nền nhà. Nền nhà là phần có liên quan đến nguyên vật liệu có thể được công nhận quyền sở hữu. Đối với quyền sử dụng đất, do ông Quân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên các bản án không đề cập đến. Đặc trưng của bất động sản là “không di dời được”, nên các bản án chỉ quyết định quyền sở hữu nền nhà trên một khuôn viên đất. Còn quyền sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận hợp pháp nên không được Toà án đề cập đến. Quyết định như vậy là hợp lý, một mặt bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, mặt khác tránh được sự lợi dụng khi giải quyết tranh chấp hiện nay nhằm hợp pháp hoá quyền sử dụng đất chưa có giấy tờ hợp pháp.


Vụ thứ ba:
Ngày 271994, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang (NHNNPTNT tỉnh Bắc Giang) – Chi nhánh liên xã số 3, lập khế ước cho anh Nguyễn Minh Hồng, ở thị xã Bắc Giang, vay số tiền 9000.000 đồng, thời hạn 01 năm, tài sản thế chấp là toàn bộ căn nhà và đất của anh Hồng và vợ là chị Vũ Thị Đoàn. Sau đó, phía Ngân hàng gia hạn cho anh Hồng trong khế ước, thời điểm thanh toán nợ là 271997. Đến thời hạn, anh Hồng không thanh toán được nợ và lãi phát sinh.

Năm 1999, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Hồng, chị Đoàn phải thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, tiến hành các thủ tục về việc thế chấp tài sản để vay vốn, anh Hồng đã thế chấp toàn bộ nhà đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Theo quy định thì tài sản thế chấp thuộc sở hữu chung của nhiều người hoặc sở hữu chung của hộ gia đình thì phải được cam kết bằng văn bản của những đồng sở hữu hoặc của những thành viên đồng sở hữu trong hộ gia đình, đồng ý giao cho người đại diện vay vốn và ký hợp đồng thế chấp tài sản.

Trong trường hợp vụ kiện cụ thể này, tài sản thế chấp thuộc sở hữu của chung của anh Hồng, chị Đoàn. Khi thế chấp, phía Ngân hàng không yêu cầu anh Hồng phải lấy ý kiến đồng ý của đồng sở hữu, dẫn đến việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi vốn gặp rất nhiều khó khăn. Khi giải quyết vụ án, cơ quan Toà án phải mất nhiều thời gian để điều tra, xác minh để xác định việc anh Hồng vay vốn của Ngân hàng và thế chấp tài sản thì chị Đoàn đều biết và không có ý kiến phản đối. Số tiền vay được cũng được sử dụng vào mục đích chung của gia đình. Từ đó Toà án mới ra phán quyết: buộc anh Hồng và chị Đoàn cùng có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi phát sinh cho NHNNPTNT tỉnh Bắc Giang.

3.2. Một số nhận xét:

Trên đây là một số ví dụ điển hình. Trong thực tế tranh chấp về quyền sở hữu là hết sức phức tạp. có nhiều vụ phải xử đi xử lại đến hàng chục lần, nhiều người phải mất hơn chục năm trời ôm đơn đi khiếu kiện tại Toà án nhân dân từ địa phương lên trung ương. Trong việc giải quyết các tranh chấp thuộc loại này, Toà án thường gặp một số khó khăn vướng mắc sau:

Thứ nhất, nhiều quy định của pháp luật còn thiếu hoặc chưa rõ ràng nên rất khó vận dụng, đặc biệt là các văn bản pháp luật về đất đai và nhà ở, nên mỗi địa phương vận dụng một kiểu.

Thứ hai, vấn đề xác minh nguồn gốc tài sản, đặc biệt là nhà, đất ở Việt Nam hiện nay rất khó, nguyên nhân là tình trạng đất không có bìa đỏ, nhà không có giấy chứng nhận quyền sở hữu đang khá phổ biến. Qua đây chúng tôi muốn nói rằng tình hình triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian qua rất chậm, gây không ít khó khăn cho các bên đương sự và Toà án các cấp trong việc xác định, đánh giá chứng cứ để giải quyết các tranh chấp có liên quan;

Thứ ba, vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi ly hôn gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do phong tục tập quán ở Việt Nam quan niệm hôn nhân là việc rất đặc thù, không phải là quan hệ dân sự nên không có chuyện hai bên nam nữ kê khai tài sản chung, tài sản riêng, tài sản có trước hay có sau thời kỳ hôn nhân… Nhưng khi ly hôn, có tranh chấp phát sinh về tài sản, thì các bên thường không đưa ra được chứng cứ để chứng minh tài sản của mình, nhất là trường hợp vợ chồng lại ở chung với cha mẹ (cha mẹ chồng hạc cha mẹ vợ). Trong nhiều trường hợp, Toà án gặp rất nhiều vướng mắc trong việc xác định tài sản và nhiều khi phán quyết của Toà án chưa thực sự bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các bên.

Thực tế cho thấy người bị thua thiệt thường là người vợ.
Thứ tư là vấn đề xác định nguồn gốc tài sản là động sản. Như chúng tôi đã nói ở trên, có một tình trạng thực tế ở Việt Nam hiện nay là có những tài sản đã bị chuyển dịch một cách bất hợp pháp qua tay nhiều người, rất khó xác định được cụ thể đã qua tay những ai. Điển hình là việc mua bán xe máy trao tay không qua thủ tục sang tên trước bạ diễn ra khá phổ biến. Khi có tranh chấp, các bên đương sự và toà án các cấp gặp rất nhiều khó khăn để xác minh nguồn gốc của tài sản (có trường hợp một chiếc xe máy đã bị mua đi bán lại hàng chục lần nhưng không qua thủ tục sang tên trước bạ).
Tóm lại, trong số các khó khăn vướng mắc trên, có nguyên nhân xuất phát từ quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn, có nguyên nhân xuất phát từ cơ chế thi hành pháp luật còn kém hiệu quả.

III. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ.

Qua các phân tích ở trên có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định về bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự như sau:

1. Nên cụ thể hoá hơn quy định về bảo vệ quyền chiếm hữu:

Rõ ràng, việc coi chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu kéo theo sự đồng nhất giữa bảo vệ quyền sở hữu và bảo vệ quyền chiếm hữu trong Bộ luật dân sự hiện hành của chúng ta trong thời gian qua đã tỏ ra bất cập. Chế định pháp luật này vô hình trung đã đặt lên vai người đi kiện (nguyên đơn) nghĩa vụ rất nặng nề là họ phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản tranh chấp, trong điều kiện nước ta hiện nay việc này không hề đơn giản, nhất là đối với bất động sản (nhà, đất) không có giấy tờ chứng nhận mà trong đa số trường hợp, lỗi không phải do người dân mà do chính cơ quan hành chính Nhà nước triển khai chậm). Chính vì tình trạng cung cấp, xác minh, đánh giá chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn mà thời hạn tố tụng bị kéo dài, dẫn đến số lượng án tồn đọng ngày càng tăng, nhiều bản án thiếu khách quan vì không phản ánh đúng bản chất của vụ việc, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảo đảm.

Như vậy, kể cả trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, thì pháp luật vẫn cần phải bảo vệ quyền lợi của họ. Ví dụ:

A là chủ sở hữu chiếc xe máy. B ăn trộm chiếc xe và bán cho C (C biết rõ chiếc xe là của ăn cắp nhưng vẫn mua). C dùng chiếc xe máy này để đi, rồi lại bị D ăn cắp.
Trong ví dụ trên, thì C vẫn có quyền kiện D phải trả lại xe cho mình (tất nhiên là C phải có đầy đủ chứng cứ). Tóm lại là pháp luật cần công nhận tình trạng chiếm hữu trước đã, còn việc xác định ai là chủ sở hữu đích thực thì giải quyết trong một vụ kiện khác nếu các bên có yêu cầu. Quy định này rất có tác dụng trong việc bảo vệ sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự trong điều kiện kinh tế thị trường. Đây cũng là cách xử lý trong Bộ luật dân sự của nhiều nước trên thế giới.

2. Cần có biện pháp bảo vệ người thứ ba ngay tình mạnh mẽ hơn.

Cho rằng một mặt, vẫn phải bảo vệ chủ sở hữu, nhưng mặt khác cũng phải bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình nhằm đảm bảo sự ổn định của các quan hệ dân sự tránh gây nhiều xáo trộn, đồng thời nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nên chăng cần tham khảo quy định của pháp luật các nước điển hình trên thế giới: trong trường hợp tài sản bị chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh mất hoặc bị lấy cắp, thì có quyền đòi lại vật từ người chiếm hữu ngay tình trong một thời hạn nhất định (có thể cân nhắc quy định từ 23 năm kể từ ngày mất), nhưng người này có quyền kiện lại người đã chuyển giao vật cho mình bồi thường thiệt hại.

3. Hoàn thiện pháp luật và thiết chế đăng ký tài sản:

Việc đăng ký tài sản rất quan trọng, một mặt là cơ sở để chủ sở hữu bảo vệ quyền lợi của mình và đối kháng với người thứ ba khi có tranh chấp phát sinh; mặt khác tạo điều kiện rất thuận lợi cho Toà án trong việc xác định chứng cứ để xét xử các tranh chấp. Bộ luật dân sự cần đưa ra những nguyên tắc chung về đăng kÝ tài sản, giá trị pháp lý của việc đăng ký… Sau đó, cần ban hành Luật về đăng ký tài sản (hoặc nếu chưa có điều kiện thì trước mắt cần ban hành Luật về đăng ký bất động sản), nhằm pháp điển hoá các quy định về đăng ký tài sản còn đang nằm rải rác ở các văn bản pháp luật chuyên ngành. Hệ thống cơ quan đăng ký tài sản cũng phải được tổ chức và hoạt động có hiệu quả, phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và làm sao phải tạo thuận lợi nhất cho người dân.

4. Nâng cao hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực tiễn:

Như đã trình bày ở trên, xuất phát từ đặc trưng của bản thân quan hệ pháp luật dân sự, mà mỗi công dân, pháp nhân cần phải tự mình có những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu sao cho có hiệu quả nhất và tất nhiên là phải trong khuôn khổ của pháp luật. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, thì các bên cần tận dụng tối đa cơ chế hoà giải, dàn xếp với nhau vì cơ chế này có những lợi ích như đã trình bày ở trên, đặc biệt trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay.

Cần tăng cường công tác phổ biến giáo dục các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu đến người dân, đồng thời hoàn thiện và tăng cường năng lực hoạt động của các thiết chế (Toà án, trọng tài, thi hành án, luật sư, công chứng…) nhằm bảo đảm cho các quy định về bảo vệ quyền sở hữu thực sự đi vào cuộc sống.
Đây là những vấn đề rất lớn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu chuyên sâu và đặc biệt là phải có sự quan tâm của Nhà nước theo lộ trình cụ thể để làm sao thực sự nâng cao được hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực tiễn.

C KẾT LUẬN

Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong thực tiễn. Nhưng thực tiễn thì luôn thay đổi. Vì vậy có những quan hệ phát sinh trong xã hội mà pháp luật chưa điều chỉnh đến hoặc đã có điều chỉnh đến nhưng các quan hệ xã hội đã thay đổi nên các quy phạm pháp luật đó đã không còn phù hợp nữa. Đó là sự đa dạng của thực tiễn.

Qua sự phân tích trên có thể nhận thấy rằng, quan hệ sở hữu trong đó có quyền sở hữu của con người vẫn thường xuyên bị xâm phạm và điều này diễn ra rất đa dạng, phong phú. Để giải quyết các vụ việc tranh chấp phát sinh liên quan đến quyền sở hữu là một vấn đề khá nan giải trong xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay. Nó không chỉ đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật mà còn đòi hỏi ở sự tự giác, sự ý thức của mỗi người trong xã hội. Việc hoàn thiện pháp luật đặc biệt là pháp luật dân sự đang là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà làm luật của Việt Nam.
Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng, những quy định về các phương thức bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005 đã góp phần đem lại sự công bằng trong xã hội, quyền sở hữu của cá nhân được bảo vệ tốt hơn và tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho việc giải quyết các vụ việc phát sinh trong xã hội có liên quan đến quyền sở hữu.
Xem thêm

31 Đọc thêm

Quy hoạch nguồn vốn và lựa chọn dự án đầu tư

QUY HOẠCH NGUỒN VỐN VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Nợ - Debt: Khi DN vay nợ để tài trợ cho dự ánđầu tư, DN phải cam kết trả lại một số tiền nhất địnhtrong tương lai (bao gồm lãi và vốn gốc). Vốn chủ sở hữu – Equity: Khi DN sử dụng vốnchủ sở hữu để tài trợ cho dự án đầu tư, DN sẽ đượcquyền hưởng toàn bộ lợi nhuận còn lại sau khi đã trảhết nợ và lãi.5Nguồn vốnNợ - Debt: Bao gồm nợ vay có thế chấp (morgages), tíndụng ngân hàng (bank credits), trái phiếu (bonds) DN phải trả lãi và vốn gốc theo một lịch trả nợ cụthể do 2 bên thỏa thuận Người cho vay chỉ nhận lãi và vốn gốc, màkhông trực tiếp chịu rủi ro kinh doanh và khôngđược chia lợi nhuận do dự án đầu tư mang lại.6Nguồn vốnNợ - Debt:Trái phiếu Là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người pháthành phải trả cho người sở hữu trái phiếu (trái chủ)đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của tráiphiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi
Xem thêm

44 Đọc thêm

GIẢI bài tập môn NGUYÊN lý kế TOÁN

GIẢI BÀI TẬP MÔN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN

1. Phương pháp định khoản: gồm 4 bước
Bước 1: Xác định chi tiết đối tượng kế toán.
Bước 2: Xem xét đối tượng kế toán thuộc loại tài khoản nào.
Bước 3: Xác định tăng hay giảm của đối tượng kế toán.
Bước 4: Tra cứu số hiệu tại khoản dựa vào nguyên tắc quy
ước ghi kép vào tào khoản để định khảo kế toán.
HỆ THỐNG TÀI KHOẢN THỐNG NHẤT
TK Loại 1: Tài sản ngắn hạn;
TK Loại 2: Tài sản dài hạn;
TK Loại 3: Nợ phải trả;
TK Loại 4: Vốn chủ sở hữu;
TK Loại 5: Doanh thu của hoạt động kinh doanh chính;
TK Loại 6: Chi phí sản xuất kinh doanh chính;
TK Loại 7: Thu nhập hoạt động khác;
TK Loại 8: Chi phí hoạt động khác;
TK Loại 9: Xác định kết quả kinh doanh;
TK Loại 0: TK ngoài bảng
Xem thêm

11 Đọc thêm

Thị trường chứng khoán

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Câu hỏi ôn tập Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán.

Câu 1: Thị trường chứng khoán là gì? So sánh sự giống và khác nhau cơ bản giữa thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp?
Thị trường chứng khoán là:
TTCK là 1 bộ phận quan trọng của thị trường vốn hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán này trực tiếp được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và sau đó ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Vì vậy, TTCK là nơi các chứng khoán được phát hành trao đổi.
TTCK là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành.
So sánh thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp là:
+ Giống nhau:
Đều là bộ phận của thị trường chứng khoán.
Cùng sử dụng các công cụ là các loại chứng khoán.
Cùng có đối tượng mua bán, đều là quyền sở hữu các nguồn tài chính.
Thông qua cuộc phát hành mua bán chứng khoán, cả 2 thị trường có vai trò cung cấp vốn dài hạn cho nền kinh tế. Đều là cung cấp vốn từ nơi tạm thừa đến nơi tạm thiếu. Được đặc trưng bởi hình thức trực tiếp.
+ Khác nhau:
So sánh Thị trường chứng khoán sơ cấp Thị trường chứng khoán thứ cấp
Khái niệm Là thị trường mua bán các chứng khoán lần đầu được phát hành, các chứng khoán được phát hành lần đầu tiên được bán cho các nhà đầu tư để thu hút vốn đầu tư cho doanh nghiệp cổ phần. Là thị trường lưu thông, nơi diễn ra các hoạt động mua đi bán lại các chứng khoán được phát hành ở thị trường chứng khoán sơ cấp.
Quan hệ Là quan hệ giữa chủ thể cần nguồn tài chính với chủ thể cung ứng nguồn tài chính, tức là quan hệ giữa người phát hành và nhà đầu tư. Là quan hệ người đầu tư – người đầu tư.
Chức năng người môi giới Làm bảo lãnh Làm môi giới
Cơ chế hoạt động Theo cơ chế phát hành: trực tiếp, ủy thác, đấu giá thực hiện qua các hợp đồng. Theo cơ chế ghép lệnh: đấu giá là chủ yếu thông qua lệnh mua và bán chứng khoán.
Giá cả Là lợi tức chứng khoán Là thị giá chứng khoán
Chức năng Dẫn vốn vào nền kinh tế làm tăng vốn đầu tư. Lưu thông chứng khoán nhưng không làm tăng vốn đầu tư vào nền kinh tế.
Mức độ Diễn ra không thường xuyên Diễn ra thường xuyên, liên tục.
Tính luân chuyển Ít linh hoạt Linh hoạt do tính thanh khoản cao của chứng khoán.
Thu nhập của người đầu tư Lợi tức chứng khoán mà người phát hành trả cho người đầu tư. Chênh lệch thị giá chứng khoán.
Tính đầu cơ Thấp Cao


















Câu 2: Chứng khoán là gì? So sánh sự giống và khác nhau cơ bản giữa cổ phiếu và trái phiếu? Giữa phân tích cổ phiếu và phân tích trái phiếu thì việc phân tích chứng khoán nào gặp khó khăn hơn?
Chứng khoán là:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Thực chất chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt.
So sánh sự giống và khác nhau của cổ phiếu và trái phiếu:
+ Định nghĩa:
Cổ phiếu: Là chứng cứ pháp lý xác định việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần và khẳng định các quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu là người chủ sở hữu 1 phần vốn của công ty cổ phần.
Nguời nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành.
Trái phiếu: Theo Luật chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 702006QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 thì “ Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với 1 phần vốn nợ của tổ chức phát hành”.
Giống nhau :
Là hình thức chuyển nhượng cầm cố, thế chấp, thừa kế
Đều được hưởng chênh lệch giá.
Đều được nhận lãi ( cổ phiếu được gọi là cổ tức )
Đều là phương tiên thu hút vốn của nhà phát hành
Là phương tiện kinh doanh của các nhà đầu tư
Khác nhau:
+ Cổ phiếu ( stock)
Là chứng chỉ góp vốn, người sở hữu trở thành cổ đông
Cổ tức không cố định ( có 2 loại cổ tức là: cổ tức xác định %và cổ tức không xác định %, cổ tức chỉ được trả khi công ty có lãi, và cổ tức thường là rất ít)
Không có tính thời hạn, gắn liền với sự tồn tại của công ty
Có tính rủi ro cao hơn trái phiếu
Cổ đông có quyên tham gia vào hoạt động của công ty
Người sở hữu cổ phiếu không được rút vốn trực tiếp
Không có tính chuyển đổi thành trái phiếu
Do công ty cổ phần phát hành
Khi công ty phá sản cổ phiếu cũng được dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài chính nhưng, sau khi đã thanh toán hết cho người sở hữu trái phiếu.
Cổ phiếu có tính tư bản giả. Cổ phiếu không có tính hoàn trả trực tiếp.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho công ty TNHH một thành viên G.Home

XÂY DỰNG CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CHO CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN G.HOME

Lời cam đoan ii
Mục lục iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN 3
1.1. Vốn của doanh nghiệp 3
1.1.1. Khái niệm về vốn 3
1.1.2. Phân loại vốn 5
1.1.2.1. Căn cứ vào quyền sở hữu 5
1.1.2.2. Căn cứ vào phương thức chu chuyển 7
1.1.2.3. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn 7
1.1.2.4. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn 8
1.2. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp: 8
1.2.1. Khái niệm cơ cấu vốn và các hệ số tài chính đo lường: 8
1.2.2. Tác động của cơ cấu vốn đến giá trị doanh nghiệp: 9
1.2.2.1. Tác động của cơ cấu vốn đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp 10
1.2.2.2. Tác động của cơ cấu vốn đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp 13
1.2.2.3. Tác động của cơ cấu vốn đến giá trị doanh nghiệp 17
1.3. Cơ cấu vốn tối ưu 19
1.3.1. Khái niệm cơ cấu vốn tối ưu 19
1.3.2. Tóm lược các lý thuyết về cơ cấu vốn tối ưu 20
1.3.2.1. Lý thuyết về cơ cấu vốn theo quan điểm truyền thống 20
1.3.2.2. Lý thuyết về cơ cấu vốn theo quan điểm hiện đại 20
1.3.3. Các yếu tố chủ yếu cần cân nhắc trong việc hoạch định cơ cấu vốn mục tiêu 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN G.HOME 25
2.1. Tổng quan về công ty TNHH một thành viên G.HOME 25
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 25
2.1.2. Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty: 26
2.1.2.1. Chức năng, ngành nghề sản xuất kinh doanh, sản phẩm chủ yếu ………. 26
2.1.2.2. Tổ chức hoạt động kinh doanh 27
2.1.3. Đặc điểm chu trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty TNHH một thành viên G.HOME 27
2.1.4. Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh các năm gần đây của công ty TNHH một thành viên G.HOME 29
2.1.4.1. Phân tích biến động doanh thu, chi phí, lợi nhuận của công ty 29
2.1.4.2. Một số chỉ tiêu tài chính 30
2.2. Phân tích tác động cơ cấu vốn 32
2.2.1. Thực trạng cơ cấu vốn của công ty TNHH một thành viên G.HOME 32
2.2.1.1. Nợ phải trả 35
2.2.1.2. Vốn chủ sở hữu 37
2.2.2. Tác động của cơ cấu vốn 38
2.2.2.1. Tác động của cơ cấu vốn đến rủi ro tài chính 38
2.2.2.2. Tác động của cơ cấu vốn đến chi phí sử dụng vốn: 40
2.2.2.3. Tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh lời 43
2.3. Nhận xét thực trạng cơ cấu vốn tại công ty TNHH một thành viên G.Home 45
2.3.1. Kết quả đạt được 45
2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân 47
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CHO CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN G.HOME. 51
3.1. Định hướng xây dựng cơ cấu vốn cho công ty trong thời gian tới 51
3.1.1. Định hướng chung của công ty 51
3.1.2. Định hướng đổi mới và xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho công ty 52
3.2. Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho công ty TNHH một thành viên G.Home 53
3.2.1. Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho công ty 54
3.2.1.1. Tạo lập cơ sở dữ liệu cho việc xây dựng cơ cấu vốn tối ưu 54
3.2.1.2. Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho công ty 54
3.2.2. Giải pháp thay đổi cơ cấu vốn cho công ty 59
3.2.2.1. Tăng cường đầu tư vốn chủ sở hữu nhằm tăng tỷ lệ vốn chủ trong tổng nguồn vốn, đồng thời thanh toán bớt các khoản nợ đến hạn của công ty 59
3.2.2.2. Công ty nên bắt đầu xem xét đến việc cổ phần hóa công ty 59
3.2.3. Các giải pháp hỗ trợ 60
3.2.3.1. Giảm sự phụ thuộc nợ ngắn hạn, xây dựng phương án huy động nguồn vốn dài hạn 60
3.2.3.2.Đổi mới nhận thức của đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty 61
3.2.3.3. Xây dựng bộ phận quản lý tài chính chuyên biệt, nâng xoa vai trò của giám đốc tài chính trong công ty 62
KẾT LUẬN 63
Phụ lục 64
Xem thêm

68 Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH THÔNG QUA BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NAM HÀ

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH THÔNG QUA BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NAM HÀ

LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Phát triển kinh tế là mục tiêu mũi nhọn của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Công cụ chủ yếu được dùng đó là tài chính. Và để cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định kinh doanh và kinh tế của các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà sử dụng thông tin tài chính ở bên ngoài, hệ thống báo cáo tài chính đã ra đời.Báo cáo tài chính là một hệ thống các số liệu và phân tích cho ta biết tình hình tài sản và nguồn vốn, hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Dựa vào các nguồn thông tin nhận được trong các Báo cáo tài chính, người sử dụng sẽ nắm được thực trạng tài chính của doanh nghiệp và làm cơ sở cho việc ra quyết định của mình.
Các Báo cáo tài chính bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả sản suất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh Báo cáo tài chính, mỗi loại cung cấp những thông tin tổng hợp về một khía cạnh khác nhau của tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Các báo cáo này bổ sung cho nhau và cùng làm sáng tỏ bức tranh tài chính của doanh nghiệp. Trong các báo cáo tài chính đó, Bảng cân đối kế toán đóng vai trò quan trọng, nó đưa ra bức tranh tài chính tổng quát của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, Bảng cân đối kế toán cũng có những hạn chế vốn có của nó, những hạn chế thuộc về bản chất được quy định bởi những nguyên tắc, quy tắc hạch toán nên không thể khắc phục được. Vì vậy, để tránh đưa ra các quyết định sai lầm, những người sử dụng thông tin của Báo cáo tài chính cần được trang bị những công cụ phân tích thích hợp.
Phân tích Bảng cân đối kế toán thông qua các công cụ và kỹ thuật phân tích giúp các nhà phân tích kiểm tra Bảng cân đối kế toán, qua đó có thể đánh giá được những thành tích và tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như dự tính được những rủi ro và tiềm năng trong tương lai. Phân tích tài chính có thể mang lại nhưng thông tin có giá trị về xu thế và mối quan hệ, khả năng sinh lời của doanh nghiệp qua đó phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu về tài chính của doanh nghiệp. Đối với nhà quản trị của doanh nghiệp, phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là hiện hay, khi công việc ghi chép, xử lý thông tin kế toán đơn thuần đã được máy tính đảm nhận thì công việc kế toán được thực hiện chủ yếu là phân tích các thông tin kế toán có ích để phục vụ cho công việc ra quyết định tài chính của chủ doanh nghiệp.
Là một sinh viên khoa Ngân hàngTài chính với những kiến thức được thầy cô trang bị ở trường, chúng em cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp. Do đó, trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Nam Hà, qua nghiên cứu tìm hiểu thực tế kết hợp với những kiến thức đã học em quyết định lựa chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính thông qua Bảng cân đối kế toán tại Công ty cổ phần may Nam Hà”
Do trình độ lí luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế nên bài viết này không tránh khỏi những thiêu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cố giáo cùng các cô chú trong công ty.
2.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là tổng hợp các kiến thức đã học ở trường và vận dụng vào thực tế nhằm củng cố kiến thức.
Nghiên cứu và đánh giá về tình hình tài chính thông qua Bảng cân đối kế toán tại công ty cổ phần may Nam Hà. Từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp phương hướng chủ yếu giúp cho việc nâng cao năng lực tài chính của công ty được vững mạnh và hiệu quả hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu mà em quan tâm là: tình hình tài chính thông qua nghiên cứu Bảng cân đối kế toán tại công ty cổ phần may Nam Hà.
Thời gian nghiên cứu: Số liệu sử dụng trong đề tài là số liệu theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán các năm 2011, 2012, 2013 do phòng kế toán của công ty cổ phần may Nam Hà cung cấp.
4. Bố cục báo cáo
Bài báo cáo ngoài lời mở đầu và kết luận có kết cấu như sau:
Phần I: Khái quát chung về tình hình của Công ty cổ phần may Nam Hà.
Phần II: Phân tích thực trạng tình hình tài chính thông qua Bảng cân đối kế toán tại Công ty cổ phần may Nam Hà.
Phần III: Kết luận và một số khuyến nghị.













PHẦN I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NAM HÀ
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần may Nam Hà
1.1.1. Tên giao dịch, trụ sở, ngành nghề kinh doanh chủ yếu
Tên giao dịch Việt Nam:Công ty cổ phần may Nam Hà
Tên giao dịch Quốc tế: Nam Ha GARMENT STOCK COMPANY
Địa chỉ: 510 đường Trường Chinh Thành phố Nam Định
Chủ tịch HĐQT Giám đốc : Đoàn Tiến Dũng
Số điện thoại :0350 3 649 563
Fax:0350 3 644 767
Email : namhamaycpvnn.vn
Số đăng ký kinh doanh : 056635
Mã số thuế: 0600 187 705102010000363147
Số tài khoản : 102010000363147
Ngân hàng giao dịch : Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định
Công ty cổ phần may Nam Hà tiền thân là xí nghiệp may công nghệ phẩm Nam Định là đơn vị hạch toán độc thân trực thuộc sở Thương Mại và du lịch tỉnh Nam Định ,có trụ sở đặt tại 510 đường Trường Chinh – Thành phố Nam Định . Công ty nằm sát phường Hạ Long rất thuận tiện cho việc vận chuyển và trao đổi hàng hóa.Tổng diện tích của công ty là 11.500m2.
Công ty cổ phần may Nam Hà nằm cạnh trục giao thông chính là nơi đông dân cư đi lại là một trong những trung tâm văn hóa của thành phố .Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển lớn mạnh của công ty. Công ty đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xây dựng thành phố Nam Định trở thành một khu vực lớn về kinh tế lẫn chính trị xã hội .
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần may Nam Hà
Công ty cổ phần may Nam Hà tiền thân là xí nghiệp may công nghệ phẩm Nam Định. Xí nghiệp may công nghệ phẩm Nam Định được thành lập từ ngày 691969 do ty thương nghiệp Nam Hà quyết định. Đến năm 1981 theo quyết định số 12QĐTC ngày 07011981 của UBND tỉnh Hà Nam Ninh hợp nhất trạm cắt tổng hợp, trạm gia công, trạm may Nam Định, Ninh Bình và thành lập xí nghiệp may Hà Nam Ninh.
Trong quá trình hình thành và hoạt động, xí nghiệp may càng ngày càng phát triển lớn mạnh về cơ sở vật chất, về chuyên môn cũng như về kỹ thuật và nhiệm vụ được giao. Để phù hợp với phương hướng, nhiệm vụ về đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, sở thương nghiệp Hà Nam Ninh đã ra quyết định số 31TCTN ngày 14071987. Tách xí nghiệp may nội thương Hà Nam Ninh thành hai xí nghiệp là xí nghiệp may Ninh Bình và xí nghiệp may Nam Định có chức năng tổ chức việc sản xuất hàng may mặc sẵn phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Ngày 22021993 theo quyết định số 155QĐUB của UBND tỉnh Nam Hà đổi xí nghiệp may Nam Hà thành công ty may xuất khẩu.
Trong suốt quá trình thành lập và hoạt động, xí nghiệp từng bước phát triển và lớn mạnh, luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ, kế hoạch được giao. Xí nghiệp được vinh dự nhiều lần đón các đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước tới thăm. Từ những ngày đầu thành lập với cơ sở máy đạp chân, nhà xưởng tạm thời, đường xá thiết bị máy móc.
Ngày 01012001 Công ty may xuất khẩu thực hiện cổ phần hoá theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Từ khi cổ phần hoá đến nay công ty phát triển mạnh mẽ về cơ sở chuyên môn kỹ thuật cũng như cơ sở vật chất cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên có chuyên môn, kỹ thuật đủ điều kiện sản xuất những mặt hàng cao cấp, đáp ứng đủ thị hiếu và nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.


1.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của công ty cổ phần may Nam Hà
1.1.3.1. Chức năng của công ty cổ phần may Nam Hà
Công ty cổ phần may Nam Hà là doanh nghiệp của Nhà nước thuộc Tổng Công ty Dệt May Việt Nam hoạt động theo luật doanh nghiệp của Nhà nước, thực hiện theo các quy định của pháp luật, điều lệ tổ chức của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam.
Chức năng kinh doanh chủ yếu của Công ty là sản xuất và gia công hàng may mặc xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu dùng trên thị trường may mặc trong nước. Sản phẩm chính của Công ty là áo sơ mi nam, Jackét và quần âu nam,áo sơ mi nam mà chủ lực trong năm 2012 là các mẫu quần áo tắm.
Ngoài ra Công ty còn sản xuất một số mặt hàng khác theo đơn đặt hàng như quần nữ, váy, quần soóc.
Qua nhiều thế hệ cán bộ công nhân viên, với sự phấn đấu không mệt mỏi trong 50 năm qua ngày nay Công ty cổ phần may Nam Hà đã trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu của Ngành Dệt May Việt Nam có uy tín trên thị trường quốc tế và trong nước. Trong tương lai công ty cổ phần may Nam Hà không dừng lại ở một số mặt hàng truyền thống mà dần dần đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng thêm thị trường mới trên thế giới. Hiện nay, công ty đang thâm nhập vào thị trường Mỹ với nhiều loại sản phẩm như: áo sơ mi, quần áo phông, quần âu nam, nữ...
1.1.3.2. Nhiệm vụ kinh doanh của công ty cổ phần may Nam Hà
Nhiệm vụ kinh doanh của công ty là sản xuất kinh doanh hàng may mặc theo kế hoạch và quy định của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và theo nhu cầu thị trường trên thế giới. Vì vậy, công ty luôn khai thác hết khả năng của mình để mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước cũng như thị trường xuất khẩu: Từ đầu tư sản xuất, cung ứng đến tiêu thụ sản phẩm, liên doanh liên kết với tác tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, nghiên cứu áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại tiên tiến, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao...Với những sản phẩm chủ lực mũi nhọn, có những đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân hành nghề cùng với cơ sở sản xuất khang trang, công ty cổ phần may Nam Hà đã chiếm một vị thế khá quan trọng trong Tổng Công ty Dệt May Việt Nam, đảm bảo tập trung tăng nguồn thu cho người lao động, trong khi mức lương của ban giám đốc và thành viên hội đồng quản trị chấp nhận ở mức cấp bậc. Cái riêng đã được hy sinh vì cái chung, cá nhân vì tập thể. Tinh thần ấy đã tạo nên niềm tin và động lực cho người lao động cống hiến hết mình cho sự lớn mạnh của công ty. Bên cạnh đó, công ty còn ban hành 10 quy chế, trong đó có quy chế về tiền lương, khen thưởng, tài chính rất được cán bộ, công nhân viên ủng hộ. Bởi quy chế này đã tạo barem công bằng để người lao động yên tâm làm việc, tạo điều kiện cho họ phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.
Nhờ đó, kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại của công ty cổ phần may Nam Hà tăng lên gấp nhiều lần so với lúc mới thành lập. Mọi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể cho người lao động được công ty đảm bảo đầy đủ. Hạ tầng cơ sở được xây dựng mới hoàn toàn. Hiện nay, công ty có 14 dây chuyền sản xuất với 650 thiết bị may và nhà xưởng hiện đại, khang trang trên diện tích 11.500 m2 . Trung bình mỗi năm, công ty cổ phần may Nam Hà xuất xưởng khoảng 500 nghìn sản phẩm sang các nước và khu vực: EU, Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Mexico,... đạt gần 100% công suất thiết kế với nhiều chủng loại phong phú về hình thức, bền trong chất lượng như áo jacket, áo khoác, quần các loại, hàng dệt kim,... được khách hàng đánh giá cao.
1.1.4. Đặc điểm quy trình sản xuất kinh doanh
Ngành may bao gồm rất nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất. Mỗi sản phẩm có tính chất sản xuất và có mối liên hệ mật thiết với nhau nên phải thực hiện một cách chính xác đồng bộ.

Sơ đồ 1.1: Quy trình công nghệ sản xuất














(Nguồn: Phòng kế hoạchcông ty cổ phần may Nam Hà)
Giải thích sơ đồ :
(1) Công ty nhận vật liệu về qua xử lý, kiểm tra đối chiều nguyên phụ liệu chuyển sang cắt
(2) Công đoạn may nhận các bán thành phẩm từ khâu cắt, in, giặt theo các tổ máy thứ tự thực hiện thao tác máy.
(3) Công đoạn là: sau khi nhận được thành phẩm từ các tổ máy sẽ chuyển sang bộ phận hoàn thành đóng gói .
(4) Sau khi sản phẩm đã hoàn thiện và được nhập kho thành phẩm .Kết thúc quá trình sản xuất.
1.1.5. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
1.1.5.1. Sơ đồ bộ máy công ty.
Đây là một công ty cổ phần nên việc sản xuất sản phẩm có sự phong phú, đa dạng chuyên sản xuất các loại quần áo.
Sơ đồ 1.2: Tổ Chức Bộ Máy Của Công Ty











Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Quan hệ chỉ đạo gián tiếp
(Nguồn: Phòng kế hoạchCông ty cổ phần may Nam Hà)
1.1.5.2.Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban.
Với sơ đồ bộ máy quản lý của công ty trên, mỗi bộ phận phòng ban có chức năng riêng và cùng phối hợp công tác làm việc với sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị cũng như giám đốc.
 Giám đốc: điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo pháp luật điều lệ của công ty và nghị quyết của Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị một cách có hiệu quả. Giám đốc trực tiếp chỉ đạo phòng kế hoạch nghiệp vụ và phòng kế toán tài vụ .
 Phó giám đốc điều hành: phụ trách phòng tổ chức hành chính và phòng ban cơ điện. Có trách nhiệm thay mặt giám đốc điều hành công việc của công ty khi giám đốc đi vắng.
 Phó giám đốc phụ trách sản xuất – kế hoạch – xuất nhập khẩu: sẽ quản lý, điều hành các phòng kỹ thuật, phòng KCS và các phân xưởng may, cắt. Chịu trách nhiệm trước giám đốc về chất lượng hàng hóa, tiến độ sản xuất.
 Phòng tổ chức hành chính :
Chức năng: Tham mưu giúp việc Ban giám đốc về công tác tài chính cán bộ, lao động tiền lương và công tác tài chính của công ty.
Nhiệm vụ :
+ Nghiên cứu đề xuất việc bố trí, sắp xếp cán bộ các phòng ban, phân xưởng, tổ chức đào tạo tuyển dụng bố trí lao động các đơn vị.
+ Nghiên cứu đề xuất, giải quyết các quyền lợi tiền lương, tiền thưởng các chế độ chính sách cho cán bộ công nhân viên.
+ Nghiên cứu đề xuất công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho cán bộ công nhân viên.
 Phòng kế hoạch :
Chức năng: Tổ chức và thực hiện công tác kỹ thuật của từng mã hàng một cách đầy đủ, chính xác, đồng bộ đảm bảo đúng kế hoạch sản xuất giúp việc tham mưu cho giám đốc về các sản phẩm, nguyên vật liệu và chỉ đạo công tác chuyên môn khu chế xuất ở các phân xưởng.
Nhiệm vụ :
+ Nhận sản xuất mẫu gốc, tài liệu kỹ thuật, mẫu giấy sơ đồ mini để chuẩn bị và có phương án bố trí thích hợp.
+ Nhận mẫu và sản phẩm sản xuất các kích cỡ để kiểm tra trước khi giao cho khách hàng. Chỉ đạo khu chế xuất trong việc kiểm tra nguyên liệu bán thành phẩm trước khi chuyển khai.
 Phòng kế toán tài vụ :
Bộ máy kế toán được tổ chức theo hình thức quản lý tập trung với sự phân công của Kế toán trưởng có chức năng tham mưu giúp việc cho ban giám đốc thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
 Phòng kỹ thuật:
Triển khai các mẫu mã hàng nhằm phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh.
 Phòng KCS :
Tổ chức và thực hiện công tác kiểm tra chất lượng toàn bộ sản phẩm trước khi nhập kho và giao cho khách hàng .
 Ban cơ điện :
Thực hiện tham mưu lắp đặt sửa chữa, bảo dưỡng mạng lưới điện, máy móc thiết bị trong toàn bộ doanh nghiệp. Bảo quản và vận hành hệ thống máy móc phát điện.

1.1.6. Sơ lược kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần may Nam Hà qua 3 năm từ 20112013 và định hướng phát triển những năm tới.
1.1.6.1.Kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm 20112013.
Kết quả kinh doanh của đơn vị là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh chịu sự tác động của nhiều nhân tố như doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, các loại chi phí...Nó phản ánh toàn bộ phần giá trị về sản phẩm, lao động, dịch vụ doanh nghiệp đã thực hiện được trong kỳ và phần chi phí tương xứng bỏ ra để tạo nên kết quả đó.



Bảng 1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần may Nam Hà từ năm 20112013
Đơn vị tính: Đồng Việt Nam
STT Chỉ tiêu Giá trị 20122011 20132012
2011 2012 2013 ±(∆) ±(%) ±(∆) ±(%)
1 Doanh thu BH và cung cấp DV 53.127.273.552 55.187.240.323 69.192.885.191 2.059.996.770 3,88 14.005.644.868 25,38
2 Giá vốn hàng bán 39.966.082.546 42.888.471.267 54.242.915.893 2.922.388.721 7,31 11.354.444.626 2,74
3 LN BH và cung cấp DV(12) 13.161.191.006 12.298.769.056 14.949.969.298 862.421.950 6,55 2.651.200.242 21,56
4 Doanh thu hoạt động tài chính 1.786.509.896 151.326.038 385.992.766 1.635.183.858 91,5 234.666.728 155,1
5 Chi phí tài chính 935.886.648 123.335.267 34.253.471 812.551.381 86,8 89.081.796 72,2
Trong đó: Chi phí lãi vay 536.051.882 105.714.963 32.069.444 430.336.919 80,2 73.645.519 69,6
6 Chi phí bán hàng 4.425.450.704 5.525.605.364 5.480.566.970 1.100.154.660 24,86 45.038.394 0,82
7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 4.895.093.949 3.854.939.301 4.212.473.590 1.040.154.648 21,2 357.534.289 9,27
8 Lợi nhuận thuần từ HĐKD(3+(45)(6+7)) 4.691.269.601 2.946.215.162 5.608.668.032 1.745.054.439 37,2 2.662.452.870 90,4
9 Lợi nhuận khác 61.883.452 896.505.008 1.148.781.310 834.621.556 1348 252.276.302 28,14
10 Tổng lợi nhuân trước thuế(8+9) 4.753.153.053 3.842.720.170 6.757.449.342 910.432.883 19,1 2.914.729.172 75,85
11 Thuế TNDN hiện hành(1025%) 1.188.288.264 960.680.042 1.689.362.336 227.608.222 19,1 728.682.294 75,85
12 Lợi nhuận sau thuế TNDN(1011) 3.564.864.789 2.882.040.128 5.068.087.006 682.824.661 19,1 2.186.046.878 75,85
(Nguồn: Báo cáo KQSXKD công ty cổ phần may Nam Hà)

Từ bảng kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua 3 năm gần đây cho thấy công ty đang kinh doanh phát triển và ngày càng đi lên. Mặc dù lợi nhuận sau thuế năm 2012 có sự sụt giảm so với năm 2011 nhưng trong năm 2013 công ty đã có nhiều khởi sắc mới.
1.1.6.1.1.Hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng qua các năm. Năm 2011 doanh thu là 53.127.273.552đ đến năm 2012 tăng lên 55.187.240.323đ với con số tăng tuyệt đối là 2.059.996.770đ xấp xỉ 3,88%. Từ năm 2012 đến năm 2013 doanh thu tăng mạnh hơn lên 69.192.885.191đ xấp xỉ 25,38%. Có thể nói công ty Nam Hà ngày càng phát triển và giữ vững được thị trường tiêu thụ. Do trong năm 2012, công ty đầu tư thêm máy móc thiết bị mới, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến dẫn đến chất lượng sản phẩm nâng cao, số lượng sản phẩm sai quy cách, bị trả lại ít nên doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng. Năm 2013 là năm công ty có doanh thu cao nhất và tăng mạnh nhất so với năm 2012. Doanh thu tăng 14.005.644.868đ khá lớn so với số tiền tăng từ 2011 đến 2012. Có thể nói năm 2013 là năm lỗ lực của ban quản lý công ty và các công nhân. Trong năm 2013, số công nhân tăng lên đáng kể, công việc đào tạo đội ngũ làm việc cũng được chú trọng đã làm cho chất lượng cũng như số lượng sản phẩm tăng cao dẫn đến doanh thu thu được tăng mạnh. Đó là những thành quả mà công ty đã đạt được mặc dù gặp không ít khó khăn trong quá trình tuyển chọn và đào tạo những lao động lành nghề có tay nghề cao, gặp phải sự cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài.
Đối với đơn vị sản xuất kinh doanh thì lúc nào chi phí về giá vốn hàng bán cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí. Cụ thể năm 2011 giá vốn hàng bán là 39.966.082.546đ chiếm 75,23% tổng chi phí và tới năm 2013 giá vốn hàng bán tăng lên 54.242.915.893 chiếm tới 78,39% tổng chi phí của công ty. Có thể nói rằng giá vốn hàng bán là một chi phí quyết định đến lợi nhuận của công ty, do vậy công ty cần có biện pháp quản lý giá vốn chặt chẽ để tăng lợi nhuận cho công ty. Các chi phí còn lại chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí cho nên sự gia tăng hay sụt giảm của các chi phí này không ảnh hưởng bằng sự tăng giảm của giá vốn hàng bán đối với lợi nhuận.
1.1.6.1.2. Hoạt động tài chính.
Doanh thu hoạt động tài chính của công ty có được chủ yếu là nhờ lãi chênh lệch tỷ giá đã thực hiện, ngoài ra hàng năm công ty luôn thu được một khoản lãi từ tiền gửi ngân hàng do thu tiền bằng chuyển khoản. Khi khách hàng thanh toán tiền cho công ty, ngân hàng vẫn tính lãi cho công ty và công ty còn thu được từ góp vốn liên doanh với đơn vị khác và một số ít nhà đầu tư chứng khoán. Doanh thu từ hoạt động tài chính giảm mạnh từ 1.786.509.896đ năm 2011 xuống còn 151.326.038đ vào năm 2012, số tiền giảm tương đối lớn là 1.635.183.858đ xấp xỉ 91,5%. Nguyên nhân của sự sụt giảm mạnh này do tỷ giá giảm, thu lãi từ hoạt động góp vốn giảm mạnh. Đến năm 2013 doanh thu hoạt động tài chính lại tăng lên 385.992.766đ, tuy vẫn không bằng năm 2011 nhưng so với năm 2012 thì doanh thu hoạt động tài chính tăng khá mạnh.
Chi phí quản lý tài chính giảm mạnh qua các năm, năm 2011 là 935.886.648đ đến năm 2012 giảm xuống còn 123.335.267đ và đến năm 2013 giảm tiếp còn 34.253.471đ.
Tiếp theo là chi phí bán hàng có xu hướng tăng nhẹ từ 4.425.450.704đ năm 2011 đến 5.525.605.364đ năm 2012 và giảm xuống còn 5.480.566.970đ năm 2013. Riêng chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm từ năm 2011 đến năm 2012 và tăng khi sang đến năm 2013.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh thấp do hoạt động đặc thù của công ty là nhận gia công hàng hoá cho các công ty nước ngoài. Năm 2012 so với năm 2011 lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh giảm 37,2% tức là 1.745.054.439đ. Năm 2012 doanh thu tăng 3,88% so với năm 2011 nhưng giá vốn hàng bán lại tăng 7,31%, chính điều này đã làm cho lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh giảm mạnh. Năm 2013 lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinhh doanh tăng vọt so với 2 năm trước đạt 5.608.668.032đ tăng 90,4% so với năm 2012. Nguyên nhân của sự tăng vọt này là doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng mạnh hơn so với sự gia tăng của giá vốn hàng bán. Từ đó cho thấy công ty đã bắt đầu kiểm soát được giá vốn.
Ngoài ra, một khoản mục tác động không nhỏ đến lợi nhuận đó là thuế thu nhập doanh nghiệp. Có thể nói tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp cũng cho thấy một phần nào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.Theo quy định thì thuế suất thuế TNDN mà công ty phải chịu là 28% nhưng sang năm 2011 công ty được nhà nước ưu đãi về thuế suất thuế TNDN còn ở mức 25%. Tất nhiên nếu lợi nhuận trước thuế cao thì thuế TNDN càng cao và ngược lại, qua bảng phân tích ta thấy năm 2011 lợi nhuận trước thuế là 4.753.153.053đ, năm 2012 giảm xuống còn 3.842.720.170đ và năm 2013 lại tăng lên 6.757.449.342đ tăng xấp xỉ 75,85%, đây là con số khá ấn tượng và đáng khích lệ của công ty trong năm 2013.
Qua 3 năm hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sau thuế của công ty có nhiều biến động, song nhìn chung có thể nói là tăng và việc làm ăn vẫn có lãi. Năm 2011 lợi nhuận sau thuế là 3.564.864.789đ, đến năm 2012 giảm nhẹ 19,1% còn 2.882.040.128đ. Nguyên nhân có thể do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp trong khi đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều. Tuy nhiên, sang năm 2013, lợi nhuận sau thuế đã tăng rất mạnh lên 5.068.087.006đ xấp xỉ 75,85% cho thấy sự tăng trưởng và cố gắng khắc phục khó khăn của công ty.
1.1.6.2. Định hướng phát triển của công ty trong những năm tới.
1.1.6.2.1. Chiến lược ngắn hạn.
Đối với công ty Cổ phần may Nam Hà, kinh doanh có lãi bảo toàn và phát triển vốn đầu tư tại Công ty và các doanh nghiệp khác, tối đa lợi nhuận, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, đem lại lợi ích tối ưu cho các cổ đông, đóng góp cho ngân sách Nhà nước qua các loại thuế từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời đem lại việc làm tạo thu nhập cho người lao động.
Tối đa hoá hiệu quả hoạt động của toàn Công ty.
Đa dạng hoá ngành, nghề kinh doanh, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn Công ty nhằm xây dựng và phát triển thành tập toàn kinh tế có tiềm lực mạnh
1.1.6.2.2. Chiến lược trung và dài hạn.
Tiếp tục thực hiện tốt phương châm “ Chất lượng hoàn hảo, giao hàng đúng và trước hẹn, tiết kiệm tối đa nguyên phụ liệu” nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Phấn đấu đạt mục tiêu chất lượng sản phẩm miễn kiểm đối với khách hàng, năng suất lao động tăng và thu nhập bình quân của công nhân lao động tăng cao so với hiện tại năm 2013
Tập trung năng lực sản xuất xuất khẩu chủ yếu vào thị trường Mỹ, đồng thời mở rộng năng lực sản xuất cho thị trường EU, Nhật Bản và một số thị trường khác có tiềm năng
Thực hiện gia công xuất khẩu trực tiếp là chủ yếu. Dần tiếp cận và triển khai một số đơn hàng số lượng nhỏ sản xuất theo hình thức F.O.B.
Kế hoạch sản xuất được xây dựng và thực hiện điểu chỉnh sát với thực tế sản xuất; đảm bảo chất lượng và tiến độ trước ngày phúc tra và xuất hàng ít nhất là 1 đến 2 ngày. Không để đơn hàng nào vỡ kế hoạch do tổ chức sản xuất tại công ty.
Tiếp tục đầu từ chiều sâu máy móc thiết bị chuyên dùng thế hệ mới, thanh lý máy móc, thiết bị cũ.
Thực hiện tốt công tác đánh giá khách hàng, triển khai Lean, TPM và thực hành 5S nhằm tinh gọn và nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp ổn định, bền vững.

PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH THÔNG QUA BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NAM HÀ
2.1. Công tác tổ chức tài chính và cơ chế quản lý tài chính của công ty Cổ phần may Nam Hà.
2.1.1. Công tác tổ chức tài chính.
Công ty Cổ phần may Nam Hà xây dựng bộ máy quản lý kinh tế tài chính theo nguyên tắc quản lý kinh tế tập trung và có sự ủy quyền phân cấp cho các đơn vị trực thuộc, thực hiện theo các quy định về quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước và Điều lệ của công ty cổ phần. Công ty sử dụng toàn bộ trụ sở, đất đai hiện có, chịu sự kiểm tra giám sát về mặt tài chính của các cơ quan quản lý Nhà nước, Ban kiểm soát theo quy định pháp luật.
Công ty đã thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý để bảo vệ quyền lợi của chủ Công ty và các cổ đông, vừa đảm bảo lợi ích hợp pháp cho nhân viên, xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép Công ty mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho Công ty có mức độ tăng trưởng cao và bền vững.
Công ty thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết đinh đúng đắn trong quá trình kinh doanh.
2.1.2. Cơ chế quản lý tài chính.
Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của Công ty. Nó được thực hiện thông qua một cơ chế quản lý tài chính Công ty. Cơ chế quản lý tài chính Công ty được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của Công ty trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định và phù hợp với luật pháp.
Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính Công ty bao gồm: cơ chế quản lý tài sản; cơ chế quản lý và sử dụng vốn; quản lý tiền lương và lao động; quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý tài sản
Công ty có quyền sở hữu, sử dụng, đầu tư toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình phục vụ đúng mục đích cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cơ chế quản lý và sử dụng vốn
Công ty có quyền huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như: vay ngân hàng, thu hút đầu tư, cổ phiếu, trái phiếu...và tự quản lý, sử dụng vốn với mục đích đúng đắn theo quy định.
Cơ chế quản lý tiền lương và lao động
Chi phí tiền lương được hạch toán trong giá thành sản phẩm. Việc chia lương cho người lao động do các Xưởng, Đội thanh toán theo định mức nội bộ, giao khoán sản phẩm hoàn thành trong tháng, quý, năm và quy định chung của pháp luật.
Quản lý doanh thu và chi phí
Công ty được tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch và quyết định các khoản doanh thu và chi phí trên cơ sở trách nhiệm rõ ràng, cụ thể.
Phân phối lợi nhuận
Công ty thực hiện việc phân phối lợi nhuận theo đúng quy định của Nhà nước và điều lệ Công ty một cách minh bạch và công bằng.



2.1.3 Các chỉ tiêu sử dụng để phân tích tài chính của công ty
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ số tài chính được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích của doanh nghiệp. Nhìn chung có 4 nhóm sau được sử dụng để phân tích tài chính:
Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán
Nhóm chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Nhóm chỉ số về hoạt động
Nhóm chỉ số khả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình.
2.1.3.1.Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi chúng đến hạn thanh toán, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
a.Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn) chia cho số nợ ngắn hạn của doanh nghiệp:
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = Tổng tài sản lưu động (ĐVT: lần)

Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn, vì thế, hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

b . Hệ số thanh toán nhanh.
Là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp, được xác định bằng tài sản lưu động trừ đi hàng tốn kho và chia cho số nợ ngắn hạn. Ở đây, hàng tồn kho bị loại trừ ra, bởi lẽ, trong tài sản lưu động, hàng tồn kho được coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp hơn. Hệ số này được tính bằng công thức sau:
Hệ số thanh toán nhanh = Tổng tài sản lưu động – Hàng tồn kho (ĐVT: lần)

Nợ ngắn hạn
c. Hệ số thanh toán tức thời
Ngoài hai hệ số trên, để đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số vốn bằng tiền hay còn gọi là hệ số thanh toán tức thời, được xác định bằng công thức sau:
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền + Các khoản tương đương tiền (ĐVT: lần)

Nợ ngắn hạn
d. Hệ số thanh toán lãi vay.
Đây cũng là một hệ số cần xem xét khi phân tích kết cấu tài chính của doanh nghiệp. Hệ số lãi vay được xác định theo công thức sau:
Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (ĐVT: lần)

Số lãi tiền vay phải trả trong kỳ
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay cảu doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ.
Lãi tiền vay là khoản chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả đúng hạn cho các chủ nợ. Một doanh nghiệp vay nợ nhiều nhưng kinh doanh không tốt, mức sinh lời của đồng vốn quá thấp hoặc bị thua lỗ thì khó có thể đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn.
2.1.3.2. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản.
Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp. Chúng được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp. Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại vốn này xác định khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp ở một mức độ đáng chú ý.
a .Hệ số nợ (Hv)
Thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc tổ chức nguồn vốn và điều đó cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.
Hệ số nợ = Tổng số nợ (ĐVT: lần)

Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hoặc = 1 – Hệ số vốn chủ sở hữu
Tổng số nợ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ số nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Tổng nguồn vốn bao gồm tổng các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng.
b. Tỷ suất tự tài trợ (Hc) hay hệ số vốn chủ sở hữu
Cùng với hệ số nợ, có thể xác định hệ số vốn chủ sở hữu:
Hệ số vốn chủ sợ hữu = Vốn chủ sở hữu (ĐVT: lần)

Tổng nguồn vốn
Hoặc = 1 – Hệ số nợ
c. Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn hay TS lưu động.
Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn hay TS lưu động = Tài sản ngắn hạn (ĐVT: %)

Tổng tài sản

d. Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn.
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn = Tài sản dài hạn (ĐVT: %)

Tổng tài sản
2.1.3.3 Nhóm chỉ tiêu hoạt động
Khi giao tiền vốn cho người khác sử dụng, các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp, người cho vay... thường băn khoăn trước câu hỏi: tài sản của mình được sử dụng ở mức hiệu quả nào? Các chỉ tiêu về hoạt động sẽ đáp ứng câu hỏi này. Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá tác động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho Tài sản cố định và Tài sản lưu động. Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng số nguồn vốn mà còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp.
a. Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Số dư bình quân các khoản phải thu (ĐVT:ngày)

Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ
Là một hệ số hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng. Kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp
b. Vòng quay hàng tồn kho
Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu suất sử dụng của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức sau:
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán (ĐVT:vòng)

Số hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Số hàng tồn kho bình quân có thể tính bằng cách lấy số dư đầu kỳ cộng với số dư cuối kỳ và chia đôi. Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm của ngành kinh doanh.
c. Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ.
Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần (ĐVT:vòng)

Các khoản phải thu
Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.
d.Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay VLĐ xác định số ngày hoàn thành 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần (ĐVT:vòng)

Vốn lưu động bình quân

Vòng quay VLĐ quá thấp chứng tỏ khả năng thu hồi tiền tàng, khả năng luân chuyển hàng hoá thấp, luân chuyển vốn chậm nên chi phí về vốn tăng lên làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Vòng quay VLĐ khác nhau đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau, ví dụ vòng quay VLĐ của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại bao giờ cũng phải cao hơn vòng quay VLĐ của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, XDCB.
e. Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Đây là một chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ sử dụng VCĐ của doanh nghiệp.
Hiệu suất sử dụng VCĐ và vốn dài hạn khác = Doanh thu thuần trong kỳ (ĐVT:lần)

VCĐ và vốn dài hạn khác bình quân trong kỳ

f. Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ số vốn hiện có của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức sau:
Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn trong kỳ = Doanh thu thuần trong kỳ (ĐVT:vòng)

Số tài sản hay vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
Hệ số này chịu sự ảnh hưởng đặc điểm ngành kinh doanh, chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý sử dụng tài sản vốn của doanh nghiệp.
2.1.3.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận càng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị trí và sự tồn tại của mình trong nền kinh tế thị trường. Nhưng nếu chỉ thông qua số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong thời kỳ cao hay thấp để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là tốt hay xấu thì có thể đưa chúng ta tới những kết luận sai lầm. Bởi lẽ số lợi nhuận này không tương xứng với lượng chi phí đã bỏ ra, với khối lượng tài sản mà doanh nghiệp đã sử dụng. Để khắc phục nhược điểm này các nhà phân tích thường bổ xung thêm những chỉ tiêu tương đối bằng cách đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu đạt được trong kỳ với tổng số vốn mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh. Phân tích mức độ sinh lời của hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua tính và phân tích các chỉ tiêu sau:
a.Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng.
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện, khi thực hiện 1 đồng doanh thu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ (ĐVT:%)

Doanh thu trong kỳ
b. Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh.
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE) = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (ĐVT:%)

Tài sản hay vốn kinh doanh bình quân
c. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi động vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng sinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế sau khi đã trang trải lãi tiền vay.

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh = Lợi nhuận trước thuế trong kỳ (ĐVT:%)

Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
d. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời ròng của tài sản (ROA).
Phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA) = Lợi nhuận sau thuế (ĐVT:%)

Vốn kinh doanh (hay tài sản) bình quân trong kỳ
e. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm. Hệ số này đó lường mức lợi nhuận thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế (ĐVT:%)

Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ

2.1.3.5 Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp.
Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích phát hiện và tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp. Nếu doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì nhà phân tích có thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích Dupont để tìm ra nguyên nhân chính xác. Ngoài việc được sử dụng để so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành, các chỉ tiêu đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải. Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ và phương pháp phân tích Dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trước hết Doanh nghiệp cần xem xét mối quan hệ giữa tỷ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu và tỷ số vòng quay tổng tài sản thông qua ROA ( tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn )
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu thuần
Tổng vốn kinh doanh Doanh thu thuần Tổng vốn kinh doanh
Để tăng ROA có thể dựa vào tăng Tỷ suất doanh lợi doanh thu, tăng Vòng quay tổng tài sản, hoặc tăng cả hai.
Doanh nghiệp cũng cần tính tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( ROE )
ROE = ROA × (Tổng tài sản)(Vốn chủ sở hữu) (ĐVT: %)
Hoặc
ROE = ROA ×Vòng quay tổng vốn × 1(1Hệ số nợ) ( ĐVT: %
Để tăng ROE có thể dựa vào tăng ROA, tăng tỷ số Tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu, hoặc tăng cả hai. Để tăng Tỷ số Tổng tài sản trên vốn chủ ta có thể hoặc tăng tổng tài sản, hoặc giảm vốn chủ sở hữu, hoặc vừa tăng tổng tài sản vừa giảm vốn chủ

.
2.2. Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần may Nam Hà thông qua bảng cân đối kế toán qua 3 năm 20112013.
2.2.1. Đánh giá khái quát sự biến động về tài sản và nguồn vốn qua Bảng cân đối kế toán.
BẢNG 2.1: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 20112013
ĐVT: đồng
TÀI SẢN Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
A B
A TÀI SẢN NGẮN HẠN (100=110+120+130+140+150) 100 13.151.161.337 14.627.563.873 24.027.256.203
I. Tiền và các khoản tương đương tiền 110 4.946.623.194 3.241.894.929 10.526.680.429
II. Đầu tư tài chính ngắn hạn 120
1. Chi phí trả trước 121
2. Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn () 129
III. Các khoản phải thu ngắn hạn 130 4.032.444.711 6.770.990.404 8.097.089.423
1.Phải thu của khách hàng 131 3.868.674.376 4.901.254.168 7.869.539.203
2.Trả trước cho người bán 132 12.000.000 12.000.000 89.708.000
3.Các khoản phải thu khác 135 151.770.335 1.857.736.236 137.842.220
IV. Hàng tồn kho 140 4.081.119.065 4.374.185.896 4.967.147.330
1. Hàng tồn kho 141 4.081.119.065 4.374.185.896 4.967.147.330
V. Tài sản ngắn hạn khác 150 90.974.367 240.492.644 436.339.021
1.Chi phí trả trước ngắn hạn 151 1.260.000
2.Thuế GTGT được khấu trừ 152 89.714.367 240.492.644 436.339.021
B – TÀI SẢN DÀI HẠN
(200 = 210+220+230+240) 200 12.649.468.158 9.472.405.991 9.542.200.760
I. Tài sản cố định
(210=221+224+227) 210 12.649.468.158 9.472.405.991 9.542.200.760
1.TSCĐ hữu hình 211 12.517.744.402 9.355.460.848 9.430.920.336
Nguyên giá 212 33.698.592.638 32.774.760.428 32.883.886.146
Giá trị hao mòn luỹ kế() 213 21.180.848.236 23.419.299.579 23.452.965.809
2.TSCĐ vô hình 214 20.794.665 6.016.052 351.332
Nguyên giá 215 269.205.782 269.205.782 269.205.782
Giá trị hao mòn luỹ kế() 216 248.411.117 263.189.729 268.854.449
3.Chi phí XDCB dở dang 217 110.929.091 110.929.091 110.929.091
II. Bất động sản đầu tư 220
III. Các khoản đầu tư tài chính DH 230
IV. Tài sản dài hạn khác 240
TỔNG CỘNG TÀI SẢN
(250 = 100 + 200) 250 25.800.629.495 24.099.969.864 33.569.456.963
NGUỒN VỐN
A – NỢ PHẢI TRẢ
(300 = 310 + 320) 300 11.607.898.495 8.534.433.155 13.419.562.662
I. Nợ ngắn hạn
(310=311+312+…+317)
310 9.929.502.482 8.534.433.155 13.419.562.662
1. Vay và nợ ngắn hạn 311 1.000.000.000
2. Phải trả cho người bán 312 410.790.573 582.557.496 729.601.754
3.Người mua trả tiền trước 313 2.082.800.000 1.040.500.000 11.012.346
4.Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 314 1.196.250.299 1.380.078.528 1.543.293.191
5.Phải trả người lao động 315 5.311.402.036 3.505.323.935 10.331.428.209
6.Các KPT,phải nộp khác 316 604.174.822 501.039.918 84.553.456
7.Quỹ khen thưởng, phúc lợi 317 324.084.752 524.933.278 719.673.706
II. Nợ dài hạn(320=321+322) 320 1.678.396.482
1.Vay và nợ dài hạn 321 1.371.396.482
2.Dự phòng trợ cấp mất việc 322 307.000.000
B – VỐN CHỦ SỞ HỮU
(400 = 410+430) 400 14.192.730.531 15.565.536.709 20.149.894.301
I. Vốn chủ sở hữu 410 14.192.730.531 15.565.536.709 20.149.894.301
1.Vốn đầu tư của chủ sở hữu 411 8.789.400.000 10.341.800.000 12.301.600.000
2.Thặng dư vốn cổ phần 412 1.127.827.976 1.629.513.867 1.917.717.880
3.Chênh lệch tỷ giá hối đoái 413 7.106.315
4.Quỹ đầu tư phát triển 414 146.537.000
5.Quỹ dự phòng TC 415 547.994.451 712.182.714 864.489.414
6. LNST chưa phân phối 416 3.564.864.789 2.882.040.128 5.086.087.007
TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN(440=300+400) 440 25.800.629.495 24.099.969.864 33.569.456.963
(Nguồn: Phòng kế toánCông ty cổ phần may Nam Hà)
2.2.1.1.Phân tích khái quát sự biến động về tài sản.
Vốn doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tài sản hiện có của đơn vị đang tồn tại trong các giai đoạn, các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Trên Bảng cân đối kế toán có 2 loại:
Tài sản ngắn hạn
Tài sản dài hạn
Để phân tích, ta so sánh tổng số vốn cuối năm và đầu năm để đánh giá sự biến động về qui mô của công ty, đồng thời so sánh giá trị của tỷ trọng của toàn bộ vốn.




Bảng 2.2: Kết cấu khái quát về tài sản qua 2 năm 20112012
Đvt: đồng
Chỉ tiêu 2011 Tỷ trọng 2012 Tỷ trọng Chênh lệch 20122011 Tỷ trọng
A.Tài sản ngắn hạn 13.151.161.337 50,97% 14.627.563.873 60,69% 1.476.402.536 11,23%
B.Tài sản dài hạn 12.649.468.158 49,03% 9.472.405.991 39,31% 3.177.062.167 25,12%
TỔNG CỘNG 25.800.629.495 100% 24.099.969.864 100% 1.700.659.631 6,59%
(Nguồn: Phòng kế toán)
Qua bảng phân tích trên ta thấy rằng trong năm 2012 tỷ trọng các khoản mục có sự thay đổi đáng kể thể hiện qua sự thay đổi về tỷ lệ giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Tài sản ngắn hạn tăng từ 50,97% ở năm 2011 lên 60,69% năm 2012. Trong đó tăng nhiều nhất là các khoản phải thu ngắn hạn từ 4.032.444.711đ chiếm 15,63% tổng tài sản năm 2011 tăng lên 6.770.990.404đ chiếm 28,1% tổng tài sản vào năm 2012. Tiếp theo là tài sản ngắn hạn khác tăng từ 90.974.367đ chiếm 0,35% tổng tài sản năm 2011 lên đến 0,99% tổng tài sản.
Tài sản dài hạn giảm từ 49,03% tổng tài sản năm 2011 xuống còn 39,31% tổng tài sản năm 2012. Nguyên nhân là do công ty đã thanh lý một số phương tiện, máy móc thiết bị lạc hậu hoặc không còn hiệu quả.
Bảng 2.3: Kết cấu khái quát về tài sản qua 2 năm 20122013
Đvt:đồng
Chỉ tiêu 2012 Tỷ trọng 2013 Tỷ trọng Chênh lệch 20132012 Tỷ trọng
A.Tài sản ngắn hạn 14.627.563.873 60,69% 24.027.256.203 71,57% 9.399.692.330 64,26%
B.Tài sản dài hạn 9.472.405.991 39,31% 9.542.200.760 28,43% 69.794.769 0,74%
TỔNG CỘNG 24.099.969.864 100% 33.569.456.963 100% 9.469.487.117 39,29%
(Nguồn: Phòng kế toánCông ty cổ phần may Nam Hà)
Từ bảng trên cho thấy tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng mạnh ở năm 2013 từ 60,69% lên đến 71,57%. Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty và càng ngày tỷ lệ này càng tăng cao. Năm 2012, tài sản ngắn hạn là 14.627.563.873đ và tăng 9.399.692.330đ lên đến 24.027.256.203đ năm 2013. Đây là một con số tăng khá lớn xấp xỉ 64,26%
Ngược lại, tài sản dài hạn của công ty lại giảm qua các năm. Cụ thể năm 2012, tài sản dài hạn chiếm 39,31% tổng tài sản thì đến năm 2013 con số này giảm xuống còn 28,43% tổng tài sản.
Biểu đồ 2.1:Tài sản ngắn hạn của công ty qua 3 năm 20112013

Qua biểu đồ ta thấy được tài sản ngắn hạn của công ty tăng đều qua các năm. Năm 2012 đến năm 2013 tài sản ngắn hạn tăng mạnh nhất.


Biều đồ 2.2: Tài sản dài hạn của công ty qua 3 năm 20112013

Nhìn vào biểu đồ 2.2 và kết hợp so sánh với biểu đồ 2.1 ta thấy được tài sản dài hạn của công ty có xu hướng giảm dần qua 3 năm. Nếu như năm 2011tài sản dài hạn hơn 12 tỷ thì đến năm 2013 con số này giảm xuống còn gần 10 tỷ đồng.
2.2.1.2. Phân tích khái quát sự biến động về nguồn vốn
Nguồn vốn của đơn vị gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ kết cấu trong tổng số nguồn vốn hiện có tại đơn vị phản ánh tính chất hoạt động kinh doanh của đơn vị đó. Nguồn vốn thể hiện nguông hình thành nên tài sản của doanh nghiệp, tài sản biến động tương ứng với sự biến động của nguồn vốn. Vì thế phân tích tài sản phải đi đôi với nguồn vốn.


Bảng 2.3: Kết cấu khái quát về nguồn vốn qua 2 năm 20112012
Đvt:đồng
Chỉ tiêu 2011 Tỷ trọng 2012 Tỷ trọng Chênh lệch 20122011 Tỷ trọng
A.Nợ phải trả 11.607.898.495 44,99% 8.534.433.155 35,41% 3.073.465.340 26,48%
B.Nguồn vốn CSH 14.192.730.531 55,01% 15.565.536.709 64,59% 1.372.806.178 9,67%
TỔNG CỘNG 25.800.629.495 100% 24.099.969.864 100% 1.700.659.631 6,59%
(Nguồn: Phòng kế toán)
Nguồn vốn của công ty năm 2012 giảm so với năm 2011 từ 25.800.629.495đ xuống còn 24.099.969.864đ, tỷ lệ giảm là 6,59%
Trong đó, năm 2011 nợ phải trả chiếm 44,99% tổng nguồn vốn và giảm xuống 35,41% tổng nguồn vốn vào năm 2012. Ngược lại, vốn chủ sở hữu năm 2012 lại tăng so với năm 2011 từ 14.192.730.531đ tăng lên 15.565.536.709đ năm 2012, tỷ trọng tăng từ 55,01% tổng nguồn vốn đến 64,59%
Nợ phải trả trong năm 2012 giảm cho thấy tình hình thanh toán công nợ của công ty đang được thực hiện khá tốt.
Bảng 2.4: Kết cấu khái quát về nguồn vốn 2 năm 20122013
Đvt: đồng
Chỉ tiêu 2012 Tỷ trọng 2013 Tỷ trọng Chênh lệch 20132012 Tỷ trọng
A.Nợ phải trả 8.534.433.155 35,41% 13.419.562.662 39,98% 4.885.129.507 57,27%
B.Nguồn vốn CSH 15.565.536.709 64,59% 20.149.894.301 60,02% 4.584.357.592 29,45%
TỔNG CỘNG 24.099.969.864 100% 33.569.456.963 100% 9.469.487.099 39,29%
(Nguồn: Phòng kế toán)
Qua bảng số liệu ta thấy nguồn vốn của công ty năm 2013 tăng lên so với năm 2012, từ 24.099.969.864đ lên đến 33.569.456.963đ với số tiền tăng lên là 9.469.487.099đ xấp xỉ 39,29%.
Nợ phải trả năm 2013 lại tăng hơn năm 2012, điều này cho thấy công tác thanh toán công nợ của công ty có xu hướng xấu đi. Năm 2012 nợ phải trả là 8.534.433.155đ chiếm 35,41% tổng nguồn vốn thì đến năm 2013 con số này tăng lên 13.419.562.662đ chiếm 39,98%.
Xét đến vốn chủ sở hữu của công ty, năm 2012 vốn chủ sở hữu là 15.565.536.709đ và chiếm 64,59% tổng nguồn vốn thì đến năm 2013 con số này giảm xuống còn 60,02% tổng nguồn vốn. Nguyên nhân là do nợ phải trả tăng và tổng nguồn vốn cũng tăng mạnh hơn so với sự gia tăng về mặt con số so với vốn chủ sở hữu. Điều này dẫn đến năm 2013 vốn chủ sở hữu về mặt con số có tăng nhưng về tỷ trọng lại giảm hơn so với năm 2012
Biểu đổ 2.3: Nợ phải trả qua 3 năm 20112013

Qua biểu đồ có thể thấy được xu thế của nợ phải trả của công ty qua 3 năm có sự tăng giảm rõ rệt. Năm 2012 nợ phải trả giảm xuống so với năm 2011 nhưng đến năm 2013 nợ phải trả lại tăng lên tương đối mạnh. Việc quản lý công nợ của công ty chưa vững vàng và còn gặp nhiều khó khăn
Biểu đồ 2.4: Vốn chủ sở hữu qua 3 năm 20112013

Vốn chủ sở hữu của công ty lại có xu hướng tăng lên qu các năm. Từ năm 2011 đến năm 2012 tăng nhẹ và sau đó tăng mạnh vào năm 2013. Có thể thấy công ty khá ổn định về vốn.
2.2.2. Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Trước hết ta phân tích về mặt lý thuyết của Bảng cân đối kế toán, nghĩa là xem xét nguồn vốn chủ sở hữu có đủ để tràn trải cho các tài sản cần thiết để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp không cần phải đi vay hay đi chiếm dụng vốn của bên ngoài. Do vậy ta có mối quan hệ cân đối như sau:
Nguồn vốn chủ sở hữu=Vốn không bị chiếm dụng
Vốn không bị chiếm dụng của doanh nghiệp bao gồm tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp loại trừ các khoản phải thu, tạm ứng và các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược.
Bảng 2.5. Quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn qua 3 năm 20112013
Đvt:đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
1.Nguồn vốn CSH 14.192.730.531 15.565.536.709 20.149.894.301
2.Vốn không bị chiếm dụng 21.678.470.417 17.088.4866.816 20.565.598.519
3.Chênh lệch 7.485.739.886 1.522.950.107 415.704.218
(Trích: Bảng cân đối kế toán)
Cả 3 năm qua, công ty đều ở tình trạng:
Vốn không bị chiếm dụng > Nguồn vốn chủ sở hữu, nghĩa là nguồn vốn thực có của công ty không đủ để trang trải cho tài sản hiện hành.
Mặc dù qua 3 năm 20112013, nguồn vốn chủ sở hữu của công ty đã cải thiện và tăng qua các năm nhưng vẫn còn thiếu so với cần thiết. Tuy nhiên tình trạng này là điều tất yếu ở tất cả các doanh nghiệp, khó có một doanh nghiệp nào chỉ sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để trang trải mọi chi phí trong kinh doanh mà không cần những nguồn tài trợ bên ngoài như nguồn vốn vay, vốn chiếm dụng…Ta phân tích tình hình trên để có cái nhìn khái quát về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản vốn vay, vốn chiếm dụng trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Tiếp theo ta đi phân tích số vốn đi chiếm dụng và bị chiếm dụng của công ty:


Bảng 2.6. Kết cấu vốn đi chiếm dụng
Đ
Xem thêm

81 Đọc thêm

51 câu trắc nghiệm thi vào ngân hàng vị trí Quan hệ khách hàng

51 CÂU TRẮC NGHIỆM THI VÀO NGÂN HÀNG VỊ TRÍ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG

câu trắc nghiệm thi vào ngân hàng (có đáp án) vị trí Quan hệ Khách hàng1.Việc thay đổi thời gian khấu hao khi thẩm định tài chính của dự án sẽ làm:a. Dòng tiền của dự án tăngb. Dòng tiền của dự án giảmc. Dòng tiền của dự án không thay đổid. Dòng tiền của dự án giảm nếu lãi2. Dòng tiền của dự án đứng trên danh nghĩa đầu tư (hay quan điểm của ngân hàng) được định nghĩa: a. Khấu hao và lợi nhuậnb. Khấu hao và lợi nhuận sau thuếc. Tổng dòng thu bằng tiền trừ đi tổng dòng chi bằng tiền nhưng bao gồm trả nợ gốc và lãi ngân hàngd. Tổng dòng thu bằng tiền trừ đi tổng dòng chi bằng tiền3. Ngân hàng sẽ xem xét cho vay dự án khia. Dự án có tỉ suất sinh lời caob. Dự án có NPV dươngc. Dự án có khả năng trả nợ ngân hàng và IR của chủ đầu tư cao hơn lãi suất cho vayd. Dự án có khả năng trả nợ ngân hàng và IR của dự án cao hơn tỉ suất sinh lời chung của ngành4. Tỷ lệ chiết khấu là:a. Tỷ lệ chiết khấu dòng tiền các năm về hiện tại mà tại đó NPV = 0 b. Lãi suất mong đợi của nhà đầu tư bao gồm cả tỷ lệ lạm phát c. Lãi suất cho vayd. Chi phí sử dụng vốn bình quân của dự áne. Lãi suất mong đợi của nhà đầu tự đã bao gồm hoặc không bao gồm tỷ lệ lạm phát.5. Hình thức đầu tư nào dưới đây sẽ ít chịu rủi ro lãi suất nhấta. Trái phiếu trả lãi một lần khi trả gốcb. Trái phiếu kho bạc dài hạnc. Cổ phần ưu đãid. Trái phiếu dài hạn của công tye. Kỳ phiếu kho bạc ngắn hạn6. Trong điều kiện đồng tiền của một quốc gia được tự do chuyển đổi khi tỷ giá hối đoái được thả nổi thì trong dài hạn tỷ giá của đồng bản tệ so với đồng ngoại tệ sẽ tăng nếua. Ngân hàng trung ương bán đồng ngoại tệ ra nước ngoài nhiều hơnb. Luồng vốn ra nước ngoài tăng lênc. Tỷ lệ lạm phát giảm tương đối so với lạm phát của các quốc gia khácd. Sản lượng toàn cầu giảm7. Lãi suất thực thường nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa vìa. Lạm phátb. Thâm hụt cán cân vãng laic. Việc thanh toán cổ tứcd. Khấu hao8. Bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp là:a. Báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong một kỳ báo cáo, thông thường là tháng, quý, nămb. Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp trong một kỳ báo cáo, thông thường là tháng, quý, năm.c. Một loại báo cáo kế toán phản ánh vốn, tài sản và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.d. Không có câu trả lời nào ở trên là đúng9. Vốn vay ngắn hạn của ngân hàng dùng để:a. Bổ sung vốn lưu độngb. Bổ sung vốn cố địnhc. Mua cổ phiếu góp vốn liên doanhd. Kinh doanh bất động sản10. Nguồn vốn dùng để trả nợ trung và dài hạn cho ngân hàng là:a. Vốn vay ngân hàng khácb. Khấu hao tài sản cố định và lợi nhuậnc. Doanh thu bán hàng.11. Để có vốn đầu tư vào dự án mà ngân hàng đã cam kết, ngân hàng sẽ thực hiện biện pháp huy động vốn nào?a. Huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạnb. Phát hành kỳ phiếuc. Phát hành trái phiếud. Vay vốn trên thị trường liên ngân hàng12. Để hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thực hiện biện pháp nàoa. Đồng tài trợb. Bán nợc. Cơ cấu lại nợd. Hạn chế cho vay13. Thời hạn cho vaya. Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm khách hàng hoàn trả hết nợ gốc và lãi vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụngb. Là khoảng thời gian được tính từ khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực cho đến thời điểm khách hàng trả hết tiền gốc và lãi vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụngc. Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu trả nợ cho đến thời điểm hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng được ký giữa ngân hàng và khách hàng bao gồm cả thời gian gia hạn nợ14. Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ của một hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn trong trường hợp nào sau đây:a. Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc (một phần hoặc toàn bộ) mà khách hàng không trả đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc không được gia hạnb. Khi đến kỳ hạn trả nợ lãi mà khách hàng không trả lãi đúng hạn và không điều chỉnh kỳ hạn nợ lãi hoặc không được gia hạn nợ lãi.c. Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi (kỳ hạn trả nợ lãi cùng với kỳ hạn trả nợ gốc) mà khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc khách hàng không được gia hạn nợ gốc và lãid. Tất cả các câu trên15. Tài sản dùng để bảo đảm tiền vay phải đáp ứng điều kiện nào dưới đâya. Tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý hợp pháp của khách hàng vay hoặc của bên bảo lãnhb. Tài sản được phép giao dịch tức là tài sản mà pháp luật cho phép không cấm mua, bán, tặng cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và các giao dịch khácc. Tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảmd. Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay và phải cam kết chuyển quyền hưởng tiền bồi thường từ tổ chức bảo hiểm cho ngân hànge. Tất cả các điều kiện nêu trên16. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận giá trị tài sản (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) và thời điểm nào?a. Khi ký kết hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnhb. Khi khách hàng xin vay vốnc. Khi ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm17. Vận đơn đường biển là:a. Hợp đồng chuyên chở hàng hoáb. Chứng từ chứng nhận quyền sở hữu về hàng hoác. Chứng từ có thể chuyển nhượng đượcd. Tất cả các câu trên18. Trong điều kiện giao hàng nào dưới đây, trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá thuộc về bên bán?a. FOBb. CIFc. CFRd. CF19. Trong các chứng từ về vận tải sau, loại chứng từ vận tải nào không chuyển nhượng được?a. Hợp đồng thuê tàu chuyếnb. Hợp đồng thuê tàu chợc. Vận đơn hàng khôngd. Cả ba trường hợp trên20. Khi một trong hai bên mua và bán không tin tưởng vào khả năng thực hiện hợp đồng thì hình thức nào dưới đây có thể đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng?a. Bảo lãnh ngân hàngb. Thư tín dụng dự phòngc. Thư tín dụngd. Chỉ có a hoặc be. cả a và b21. Khi nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách phá giá đồng nội tệ thì điều gì sẽ xảy ra?a. Xuất khẩu tăngb. Nhập khẩu tăngc. Nhập khẩu giảm d. Xuất khẩu giảm22. Trong điều kiện giao hàng nào dưới đây, rủi ro về hàng hoá thuộc về người mua khi hàng đã được giao qua lan can tàu?a. FOBb. CIFc. CFRd. cả a, b và ce. Không có trường hợp nào23. Trong cho vay, khách hàng và ngân hàng có thể thoả thuận trong hợp đồng tín dụng về thời gian ân hạn. Đó là:a. Thời gian có thể rút vốn vayb. Thời gian nhất định trong thời hạn vay mà khách hàng chưa phải trả nợ gốc mà chỉ phải trả nợ lãic. Thời gian nhất định trong thời hạn vay mà khách hàng chưa phải trả nợ gốc và lãid. Không có câu nào đúng24. Trong các loại tài sản đảm bảo dưới đây, loại nào tốt nhất đối với ngân hànga. Đất có giấy tờ hợp pháp tại khu du lịchb. Nhà tại trung tâm thương mại của thành phố c. Bảo lãnh của bên thứ ba bất kỳ, kể cả của ngân hàngd. Số tiết kiệm do chính ngân hàng cho vay phát hành25. Bạn hãy chọn nhân tố quan trọng để quyết định cho vaya. Tính khả thi và hiệu quả của khoản vayb. Doanh nghiệp có khả năng vay vốn ngân hàng khácc. Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mặt hàng mớid. Tình hình tài chính lành mạnhe. a, b và cf. a và d 26. Trong các chỉ tiêu dưới đây, chỉ tiêu nào đánh giá khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp a. Lợi nhuận ròngTổng tài sản cób. Doanh thu ròng Tổng tài sản cóc. Vốn chủ sở hữuTổng tài sản cód. Lợi nhuận ròngVốn chủ sở hữu27. Theo quy định của pháp luật, tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá a. 15% vốn tự có của tổ chức vay vốn b. 15% vốn tự có của của tổ chức tín dụng cho vayc. 15% vốn kinh doanh của tổ chức tín dụng cho vayd. 15% lợi nhuận hàng năm của tổ chức tín dụng cho vay.28. Khi sử dụng phương pháp đánh giá dự án bằng giá trị hiện tại thuần (Net Present Value), quyết định chấp nhận dự án nếu a. NPV bằng đầu tư ban đầu b. NPV có thể <0 nhưng IRR (Internal Rate of Return) tối thiểu bằng lãi suất tiền gửi ngân hàngc. NPV>0d. Tất cả đều sai29. Lợi ích của việc đa dạng hoá đầu tư là a. Giảm độ rủi ro của tập hợp các tài sản đầu tư b. Tăng tỷ suất lợi nhuận dự kiến trên mỗi tài sảnc. Giảm độ rủi ro của mỗi tài sảnd. Tăng tỷ suất lợi nhuận của tập hợp các tài sảne. Tất cả đều saif. Tất cả đều đúng30. Vai trò của ngân hàng phát hành a. Thông báo LC b. Kiểm tra hàng hoác. Mở và thanh toán LCd. Kiểm tra chứng từe. a và cf. c và dg. a và d31. Tài khoản tài sản nợ là các tài khoản phản ánh a. Nguồn vốn của ngân hàng b. Tài sản của ngân hàngc. Cả 2 phương án trênd. Không có câu nào đúng32. Khách hàng A dùng sổ tiết kiệm 1000USD mở tại ngân hàng để thế chấp khoản vay và được ngân hàng chấp nhận. Kế toán theo dõi sổ tiết kiệm trên vào: a. Tài khoản nội bảng b. Tài khoản ngoại bảngc. Không có câu nào đúng33. Ông A đến ngân hàng mua kỳ phiếu với số tiền là 260 triệu đồng, ông A yc trích tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để thanh toán. Bạn cho biết, khi hoàn thành hạch toán nghiệp vụ trên thì nguồn vốn của ngân hàng sẽ: a. Tăng lên b. Giảm xuốngc. Không đổi34. Công ty B được ngân hàng cho vay 600 triệu VND để thanh toán tiền mua NVL cho đối tác của công ty là công ty D có tài khoản tại cùng ngân hàng. Bạn cho biết, khi kế toán hạch toán nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên thì sự biến động của bảng cân đối kế toán sẽ như thế nào? a. Nguồn vốn tăng, tài sản tăng b. Nguồn vốn tăng, tài sản giảmc. Nguồn vốn và tài sản không đổi35. Người thụ hưởng là người cầm Séc mà tờ séc đó a. Có ghi tên người được trả tiền là chính mình b. Không ghi tên người được trả tiền hoặc ghi cụm từ “trả cho người cầm séc”c. Đã chuyển nhượng bằng ký hậu cho mình thông qua dãy chữ ký chuyển nhượng liên tục.d. Tất cả các phương án trên.36. Công ty A vay tiền của ngân hàng đến ngày trả lãi, công ty A phải trả 50tr VND nhưng trên tài khoản của công ty chỉ có 30tr. Thanh toán viên hạch toán thu 30tr, phần còn lại cho vào lãi tiền vay khách hàng chưa trả. Hai bút toán này lần lượt là: a. Ngoại bảng b. Nội bảngc. Một nội bảng và một ngoại bảngd. Không có câu nào đúng37. Nghĩa vụ thanh toán Séc chuyển khoản thuộc về a. Khách hàng phát hành séc b. Ngân hàng nơi người phát hành séc mở tài khoảnc. Cả A và Bd. Không có câu nào đúng38. Khi công ty trả lãi cổ tức, bảng cân đối kế toán sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? a. Tài sản có và vốn chủ sở hữu không thay đổi b. Tài sản có giảm và vốn chủ sử hữu tăngc. Tài sản có và tài sản nợ giảmd. Tài sản có và vốn chủ sở hữu giảm39. Giá trị trên bảng cân đối kế toán thường dựa trên: a. Giá trị hiện tại b. Chi phí lịch sửc. Giá thị trườngd. Khả năng sinh lợi40. Hiện tượng lãi suất âm xảy ra: a. Lãi suất danh nghĩa > tỷ lệ lạm phát b. Lãi suất danh nghĩa =tỷ lệ lạm phátc. Lãi suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phátd. Lãi suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phát41. ROA (Return on Asset) là một trong các chỉ số quan trọng nhất đánh giá hiệu quả thu nhập của doanh nghiệp. Theo bạn ROA cho ta thông tin nào quan trọng nhất: (ROAtỷ suất lợi nhuận = lợi nhuận ròngtổng tài sản) a. Tình trạng thanh khoản của doanh nghiệp b. Tỷ lệ thu nhập của doanh nghiệpc. Khả năng quản lý tài chính của doanh nghiệpd. Hiệu suất, hiệu quả và trình độ quản lý tài sản có của doanh nghiệp42. Nội dung nào dưới đây diễn tả đúng vai trò của các định chế tài chính trung gian a. Các định chế tài chính giúp giảm các chi phí giao dịch tài chính b. Các định chế tài chính giúp các nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tưc. Các định chế tài chính giúp luân chuyển vốn đầu tư sang các tổ chức cần vốn đầu tưd. Tất cả các nội dung trên đều đúng43. Lãi suất tăng sẽ ….. chi phí huy động vốn và …. thu nhập từ các tài sản tài chính của ngân hàng a. tăng giảm b. tăng – tăngc. giảm – giảmd. giảm – tăng44. Việc NHNN Việt Nam phát hành tiền xu và tiền Polymer là dấu hiệu của: a. Tăng cung tiền cho hệ thống ngân hàng thương mại b. Thâm hụt cán cân thanh toánc. Thay đổi cơ cấu tiền mặt trong lưu thôngd. Lạm phát45. Nguồn vốn chủ sở hữu a. Là số vốn của các chủ sở hữu của doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán b. Là số vốn của chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh. Do đó nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợc. Là số vốn thực có trong quá trình sản xuất kinh doanh của DNd. Không có câu nào đúng46. Ngân hàng mua USD, bán DEM cho khách hàng, để tránh rủi ro, về tỷ giá, ngân hàng phải: a. Mua USD, bán DEM trên thị trường b. Mua DEM, bán USD trên thị trườngc. Giữ nguyên trạng tháid. Yêu cầu một ngân hàng khác bảo lãnh47. Các công ty mua hoặc bán hợp đồng kỳ hạn là để: a. Huy động vốn cho hoạt động kinh doanh b. Đầu cơc. Tự bảo hiểmd. Các câu trên đều đúng48. Nếu tỷ lệ lạm phát ở Mỹ cao hơn ở VN thì khi những điều kiện khác không thay đổi, đồng tiền Việt Nam sẽ: a. Tăng giá so với USD b. Giảm giá so với USDc. Không thay đổi so với USDd. Tăng giá so vơi USD và các loại ngoại tệ mạnh kháce. Giảm gía so vơi USD và các loại ngoại tệ mạnh khác49. Một thư tín dụng chuyển nhượng có thể được chuyển nhượng a. Một lần b. Hai lầnc. Ba lầnd. Nhiều lần50. LC ghi ngày phát hành sau ngày on board không được chấp thuận đúng hay sai? a. Đúng vì theo điều 23 UCP200 b. Saic. Đúng vì LC không có quy định cụ thể d. Chưa xác định được51. Thư tín dụng LC là a. Cam kết của người mua và trả cho người bán khi nhận được hàng hoá đúng trên hợp đồng đã ký b. Cam kết của ngân hàng thông báo sẽ trả tiền cho người bán khi nhận được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với điều kiện, điều khoản của LCc. Cam kết của ngân hàng thông báo sẽ trả tiền cho người bán trên cơ sở chấp thuận của người mua trong trường hợp chứng từ không hoàn toàn phù hợp với điều kiện, điều khoản của LCd. Cả b và ce. Không có câu nào đúng
Xem thêm

27 Đọc thêm

Nguồn tài trợ doanh nghiệp và nguồn vốn ngắn hạn học viện tài chính

NGUỒN TÀI TRỢ DOANH NGHIỆP VÀ NGUỒN VỐN NGẮN HẠN HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ. Trong vốn chủ sở hữu: Vốn góp ban đầu : Chính là số vốn ban đầu của doanh nghiệp do các cổ đông chủ sở hữu góp(còn đối với doanh nghiệp Nhà nước thì vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước. Đối với công ty cổ phần thì do cổ đông đóng góp...) Vốn từ lợi nhuận không chia: là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phát hành cổ phiếu: Để doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu.+ Cổ phiếu thường : Là loại cổ phiếu thông dụng nhất, là chứng khoán quan trọng nhất được trao đổi mua bán trên thị trường chứng khoán.+ Cổ phiếu ưu tiên: Chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Nợ: Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng nợ từ các nguồn : Tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay qua phát hanh trái phiếu. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng, thương mại: Là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển bản thân mỗi doanh nghiệp còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Khi sử dụng nợ thì vừa có lợi, vừa có hại cho doanh nghịêp: Ưu điểm: Chi phí nợ là chi phí rẻ nhất, tiện dụng và linh hoạt, doanh nghiệp sẽ thu được một khoản tiết kiệm nhờ thuế. Và có thể khuyếch đại thu nhập của chủ sở hữu. Hơn nữa nó còn tạo khả năng, mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Nhược điểm: Nhưng ở bất kì 1 EBIT nào thì doanh nghịêp vẫn phải trả một khoản lãi vay cố định. Nên khi EBIT nhỏ doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh toán.Từ đó doanh nghiệp sẽ cân nhắc khi nào sử dụng nợ. Việc tăng sử dụng nựo làm tăng rủi ro đối với thu nhập và tài sản của doanh nghiệp.
Xem thêm

29 Đọc thêm

CHƯƠNG 5. GIÁO TRÌNH PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH GS. BÙI XUÂN PHONG

CHƯƠNG 5. GIÁO TRÌNH PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH GS. BÙI XUÂN PHONG

Giáo trình phân tích hoạt động kinh động kinh doanh Gs Bùi Xuân Phong
CHƯƠNG 5

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

MỤC ĐÍCH
Chương này cung cấp các kiến thức về phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp:
Những vấn đề chung về tài chính của doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Phân tích đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

5.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
5.1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính, tạo ra sự chuyển dịch giá trị trong quá trình kinh doanh và làm biến động vốn cũng như thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nói cách khác, hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với việc xác định nhu cầu, tạo lập, tìm kiếm, tổ chức, huy động và sử dụng vốn một cách hợp lý, có hiệu quả.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh. Hoạt động tài chính tốt sẽ có tác động thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh và ngược lại; hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì mới bảo đảm cho hoạt động tài chính được vận hành trôi chảy; từ đó thúc đẩy được sản xuất kinh doanh phát triển, nâng cao được hiệu quả kinh doanh. Bằng việc xem xét hoạt động tài chính, các nhà quản trị có thể đánh giá chính xác thực trạng tài chính doanh nghiệp.
Có thể khái quát vai trò của hoạt động tài chính trên các điểm sau:
Đáp ứng đủ vốn cho hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định, bao gồm vốn kinh doanh, quĩ doanh nghiệp, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn vay và các loại vốn khác. Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức, huy động các loại vốn cần thiết cho nhu cầu hoạt động kinh doanh hiện tại cũng như đáp ứng đủ vốn cho nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
Huy động vốn với chi phí thấp nhất
Bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp chưa đủ mà hoạt động tài chính còn phải tính toán, xem xét chi phí huy động và sử dụng vốn. Trên thực tế, các nguồn vốn khác nhau sẽ có chi phí huy động và sử dụng khác nhau hoặc cùng một nguồn vốn nhưng chi phí huy động và sử dụng vốn giữa các thời kỳ cũng không giống nhau. Vì thế, các nhà quản trị cần xác định nguồn vốn và mức độ huy động từng nguồn vốn ở những khoảng thời gian khác nhau để sao cho chi phí huy động và sử dụng vốn ở mức thấp nhất.
Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
Sau khi huy động các nhà quản trị cần tiến hành phân phối, quản lý và sử dụng số vốn đã huy động một cách hợp lý, có hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính và kỷ luật thanh toán của Nhà nước. Việc sử dụng vốn có hiệu quả thể hiện qua mức lợi ích hay kết quả thu được trên một đồng vốn là cao nhất hay ngược lại, số vốn bỏ ra trên một đơn vị lợi ích hay kết quả thu được là thấp nhất.
Quyết định việc tăng, giảm vốn và quyết định đầu tư vốn
Việc tăng, giảm vốn hay đầu tư vốn phụ thuộc vào nhiều vấn đề như: nhu cầu mở rộng hay thu hẹp qui mô hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, lĩnh vực kinh doanh, thị trường đầu tư... Ở góc độ này, hoạt động tài chính giữ trọng trách trong việc quyết định tăng, giảm vốn hay quyết định đầu tư vốn.
5.1.2 Khái niệm phân tích tình hình tài chính
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu nhập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định tài chính và quyết định quản lý phù hợp.
Hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn sản phẩm ngành nghề kinh doanh. Do vậy có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau như: Ban Giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, các nhân viên ngân hàng, các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm… kể cả cơ quan Chính phủ và người lao động. Mỗi một nhóm người này có những nhu cầu thông tin khác nhau và do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của một doanh nghiệp. Mặc dù mục đích của họ có thể khác nhau nhưng thường liên quan đến nhau, do vậy các công cụ và kỹ thuật phân tích cơ bản mà họ sử dụng để phân tích tình hình tài chính lại giống nhau.
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Ngoài ra các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm nhiều đến mục tiêu khác nhau, tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ với chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường… Tuy nhiên một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và hai mục tiêu cơ bản: kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục, rút cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động và đóng cửa.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số lượng vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không bảo đảm chắc chắn rằng khoản vay đó có thể và sẽ được thanh toán ngay khi đến hạn.
Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá, dịch vụ… họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hoá hay không. Nhóm người này cũng giống như chủ ngân hàng, họ cần phải biết khả năng thanh toán của khách hàng hiện tại và thời gian sắp tới.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như rủi ro, thời gian hoà vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn… Vì vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Đồng thời các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành công việc và tính hiệu quả của công tác quản lý. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn về tính hiệu quả cho các nhà đầu tư.
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý, đầu tư, các chủ ngân hàng, nhà cung cấp còn nhiều nhóm người khác quan tâm đến thông tin tài chính của doanh nghiệp. Đó là các cơ quan tài chính, những người lao động… Những người này có nhu cầu thông tin về cơ bản giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp… Bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích giúp cho việc đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát và xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp. Trên cơ sở đó nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết định tài trợ cũng như đầu tư phù hợp.
5.1.3. Mục đích phân tích tình hình tài chính
Mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính là giúp những người ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng tiềm năng của doanh nghiệp. Do vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ khác để họ có thể ra quyết định đầu tư, tín dụng. Các thông tin phải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về sản xuất kinh doanh và các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này.
Cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền.
Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực này và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, những sự kiện và những tình huống làm thay đổi các nguồn lực cũng như các nghĩa vụ đối với các nguồn lực đó.
5.1.4. Sự cần thiết phân tích tình hình tài chính
1. Vị trí của phân tích tình hình tài chính
Trong cơ chế quản lý kinh tế mới, phân tích các hoạt động kinh tế được sử dụng để nhận thức các hiện tượng và kết quả kinh tế, để xác định quan hệ cấu thành và quan hệ nhân quả cũng như để phát hiện quy luật tạo thành và phát triển của chúng từ đó mà những căn cứ khoa học cho các quyết định đúng đắn trong tương lai. Điều đó có thể hiểu nếu không dựa trên kết luận được rút ra từ phân tích các hoạt động kinh tế thì những quyết định đưa ra sẽ không đúng căn cứ khoa học và không có tính thực tiễn. Nếu tổ chức thực hiện các quyết định không có tính thực tiễn này sẽ không đạt được kết quả mong muốn và ngược lại có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Hơn nữa, để tồn tại và phát triển trong hoạt động kinh doanh thì các hoạt động của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở của công tác hoạch định cả về mặt chiến lược và chiến thuật.
Về mặt chiến lược, phải xác định rõ mục tiêu kinh doanh, các hoạt động dài hạn nhằm phát triển doanh nghiệp và chính sách tài chính của doanh nghiệp.
Về mặt chiến thuật, phải xác định được những công việc trong thời hạn ngắn, những tác nghiệp cụ thể để phục vụ cho kế hạch chiến lược của doanh nghiệp.
Các quyết về mặt chiến lược và chiến thuật được lựa chọn chủ yếu dựa trên cơ sở sự phân tích, sự cân nhắc về mặt tài chính.
Bởi vậy, phân tích tình hình tài chính chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó cung cấp thông tin về tài chính cho các nhà quản lý để họ đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định ấy một cách kịp thời và khoa học, giúp doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển.
2. Phân tích tình hình tài chính – công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế:
Phân tích tình hình tài chính rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Nó không những chiếm vị trí quan trọng trong doanh nghiệp mà nó còn là công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế. Thật vậy:
• Đối với doanh nghiệp: Trên cơ sở phân tích tình hình tài chính, các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được thực trạng tài chính, thực trạng quản lý tài chính của doanh nghiệp mình, nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh… Đồng thời đưa ra được các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật, tổ chức thực hiện các quyết định đó một cách kịp thời và khoa học, giúp doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận, tăng giá trị doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh từ đó doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường.
• Đối với các nhà quản lý kinh tế: Trên cư sở những thông tin mà phân tích tình hình tài chính cung cấp họ có thể nhận biết được những mặt yếu kém, tồn tại của doanh nghiệp, những hạn chế của các chính sách quản lý kinh tế… Từ đó đưa ra được các chính sách quản lý kinh tế phù hợp với sự phát triển của từng ngành như: chính sách tín dụng, thuế, những chính sách mang tính chất ưu đãi về tài chính đối với từng ngành… Cũng qua những thông tin mà phân tích tình hình tài chính cung cấp, các nhà quản lý kinh tế có được quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp hay tiếp tục duy trì hoạt động của doanh nghiệp.
• Đối với các nhà cho vay, người đầu tư, các chủ ngân hàng: Thông tin mà phân tích tình hình tài chính cung cấp sẽ giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn là có đầu tư hay không?.
• Đối với các cơ quan tài chính, những người lao động…: Thông tin mà phân tích tình hình tài chính cung cấp sẽ giúp họ xác định được quyền lợi và trách nhiệm của họ đối với doanh nghiệp trong hiện tại và trong tương lai.
Vậy, phân tích tình hình tài chính là một trong những công cụ không thể thiếu được trong quản lý kinh tế và nó thực sự cần thiết cho công tác quản lý ở một doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường thì nó càng trở nên cần thiết và cấp bách.
5.1.5. Trình tự và các bước phân tích tình hình tài chính
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính cần phải thực hiện theo một trình tự nhất định, có như vậy việc phân tích mới thuận lợi, thống nhất và logic.
Thu thập thông tin > xử lý thông tin > dự đoán và quyết định.
Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế chịu sự tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cạnh tranh, luật pháp… Các yếu tố bên trong doanh nghiệp bao gồm: Cơ cấu tổ chức, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm… Vậy dưới sự tác động của các yếu tố trên, kết quả phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp có được chính xác, đầy đủ, chi tiết, phản ánh đúng thực trạng tài chính thì yêu cầu các nhà phân tích phải tiến hành thu thập các thông tin, sau đó lựa chọn, xử lý những thông tin thích hợp nhất để tiến hành phân tích. Cuối cùng đưa ra những dự đoán và quyết định hợp lý nhất.
1. Thu thập thông tin:
Để đánh giá chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp, phải sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp và phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính. Các nguồn thông tin này chia làm hai loại chính:
Thông tin phi tài chính: Đây là một luồng các thông tin về kinh tế, tiền tệ với nguồn kinh doanh của doanh nghiệp, hình thức tổ chức của doanh nghiệp, của ngành… Những thông tin này rất quan trọng, không thể thiếu được trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
Thông tin kế toán tài chính: Là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng, nó phản ánh được những nét đặc trưng nhất của hệ thống như: thực trạng tài sản, kết quả kinh doanh, tình hình công nợ… Thực ra thông tin kế toán tài chính phản ánh tập trung trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được soạn thảo vào cuối mỗi kỳ thực hiện, các báo cáo tài chính bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Báo cáo kết quả kinh doanh
+ Thuyết minh báo cáo tài chính
2. Xử lý thông tin:
Là quá trình sắp xếp thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân, các kết quả đạt được của doanh nghiệp. Tuỳ theo các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau của người sử dụng thông tin mà có các phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ cho mục tiêu đặt ra.
3. Dự đoán và quyết định:
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết cho người sử dụng thông tin có được những dự đoán và đưa ra quyết định về tài chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tình hình tài chính là giúp người ta quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp. Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tình hình tài chính nhằm đưa ra các quyết định tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Đối với người cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư… Qua đó cho thấy, thu thập và xử lý thông tin rất quan trọng đối với phân tích tình hình tài chính, là điều kiện đưa ra những dự đoán và quyết định chính xác trong mọi lĩnh vực về tài chính.
5.1.6. Tài liệu phục vụ phân tích tình hình tài chính
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, phải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chính của của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo kết quả mà còn cho thấy những kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong tình hình đó.
Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm:
1. Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01 – DN):
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là một báo cáo kế toán, chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo hai cách phân loại cấu thành vốn và nguồn hình thành vốn hiện có của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định.
Bảng cân đối kế toán có đặc điểm cơ bản là:
Các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán được biểu hiện giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới hình thái (cả vật chất và tiền tệ, cả hữu hình và vô hình).
Bảng cân đối kế toán được chia thành hai phần theo hai cách phản ánh tài sản là cấu thành tài sản và nguồn hình thành tài sản. Do vậy, số tổng cộng của hai phần luôn bằng nhau. Vì lẽ đó có tên gọi là bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán phản ánh vốn và nguồn vốn tại một thời điểm. Thời điểm đó thường là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán. Tuy vậy, so sánh số liệu giữa hai điểm trên bảng cân đối kế toán cũng có thể thấy được một cách tổng quát sự biến động của vốn và nguồn vốn trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng cân đối số dư các tài khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân đối kế toán chia làm 2 phần (có thể xếp dọc hoặc ngang).
Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ tài sản vào thời điểm lập báo cáo và thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp.
Về mặt kinh tế: Phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại dưới mọi hình thức: tài sản vật chất, như: tài sản cố định hữu hình, sản phẩm tồn kho....tài sản cố định vô hình, như: giá trị bằng phát minh sáng chế, hay tài sản khác, như: các khoản đầu tư, khoản phải thu, tiền mặt. Qua xem xét phần “tài sản” cho phép đánh giá tổng quát năng lực kinh doanh và quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý: số tiền “tài sản” thể hiện số vốn thuộc quyền quản lý và quyền sử dụng lâu dài của doanh nghiệp.
+ Tài sản ngắn hạn:
Đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn, gồm:
. Vốn bằng tiền: ở két hoặc ngân hàng, tiền đang chuyển.
. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, bao gồm: đầu tư chứng khoán, cho vay ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác.
. Các khoản phải thu: là tiền của doanh nghiệp mà khách hàng đang nợ vào thời điểm lập bảng cân đối kế toán và sẽ được trả trong một thời gian ngắn.
. Tồn kho: vật tư, hàng hóa, sản phẩm, sản phẩm dở dang.
+ Tài sản dài hạn:
Gồm những tài sản tồn tại của doanh nghiệp trong một thời gian dài. Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và các tài sản dài hạn khác có đến thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
. Các khoản phải thu dài hạn là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán và có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm (sau khi trừ đi các khoản dự phòng phải thu khó đòi).
. Bất động sản đầu tư phản ánh các loại bất động sản đầu tư tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
. Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản biểu hiện dưới hình thái vật chất, như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải...
. Tài sản cố định vô hình: loại tài sản này không có hình thái vật chất, chỉ biểu hiện dưới hình thái giá trị, như bằng phát minh sáng chế, chi phí thành lập doanh nghiệp.
. Hao mòn tài sản cố định: Phần này làm giảm năng lực kinh doanh tài sản cố định và phải trừ vào nguyên giá để có giá trị hiện hành của tài sản cố định.
. Đầu tư tài chính dài hạn: Đây là những khoản góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán dài hạn, đầu tư vào công ty con, đầu tư dài hạn khác...
Phần nguồn vốn: Phản ánh những khoản nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý và sử dụng vào thời điểm lập báo cáo.
Về mặt kinh tế: khi xem xét phần “nguồn vốn” các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng.
Về mặt pháp lý: Các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được trách nhiệm của mình về tổng số vốn được hình thành từ các nguồn khác nhau, như: vốn chủ sở hữu, vay ngân hàng và các đối tượng khác, các khoản nợ phải trả, các khoản phải nộp vào ngân sách, các khoản phải thanh toán với công nhân viên...
Các nguồn vốn gồm:
+ Nợ phải trả: Đây là số vốn mà doanh nghiệp vay ngắn hạn hay dài hạn. Loại vốn này, doanh nghiệp chỉ dùng được trong một thời gian nhất định, đến kỳ hạn trả, phải trả lại cho chủ nợ.
+ Vốn chủ sở hữu: Loại vốn này thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp hay các bên góp vốn, không phải là những khoản nợ, không phải cam kết thanh toán, sử dụng được vô kỳ hạn. Loại vốn này gồm:
. Vốn chủ sở hữu: Do các thành viên của doanh nghiệp góp. Đó là Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, các bên tham gia liên doanh đối với doanh nghiệp liên doanh, các cổ đông đối với Công ty cổ phần, bao gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, cổ phiếu ngân quỹ, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu.
. Nguồn kinh phí và quỹ khác: được hình thành từ lợi nhuận kinh doanh và doanh nghiệp dùng vào việc mở rộng phát triển kinh doanh hay dự trữ để dự phòng những rủi ro bất ngờ hay là để khen thưởng, làm những công việc phúc lợi phục vụ người lao động.
. Lợi nhuận chưa phân phối: đây là số lợi nhuận do hoạt động kinh doanh chưa được phân phối hoặc chưa được sử dụng.
Cần chú ý: Cột số đầu năm và cuối kỳ chứ không phải đầu năm, cuối năm hay đầu kỳ, cuối kỳ. Điều đó có nghĩa là số liệu ở cột đầu năm của BCĐKT các quý trong năm đều giống nhau, đều là cột số liệu của thời điểm cuối ngày 3112 năm trước hoặc đầu ngày 11 năm nay. Còn số liệu ở cột cuối kỳ là số liệu ở thời điểm lập báo cáo trong năm (cuối các quý).
2. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Mẫu B02 – DN):
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước trong một kỳ kế toán.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có những tác dụng sau:
Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo các hoạt động kinh doanh để kiểm tra, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu sản phẩm vật tư hàng hoá tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của hoạt động khác và kết quả của doanh nghiệp sau một kỳ kế toán.
Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động điều kiện mà kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác.
Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kỳ khác nhau.
Báo cáo gồm 3 phần:
Phần I: Lãi, lỗ.
Phần này phản ánh các chỉ tiêu liên quan đến kết quả của toàn bộ doanh thu kinh doanh như: Tổng doanh thu; Doanh thu thuần; Giá vốn hàng bán; Chi phí bán hàng; Chi phí quản lý…
+ Doanh thu: Là số tiền mà doanh nghiệp thu được do cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Vì vậy:
Doanh thu = Sản lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp Giá bán
+ Doanh thu thuần: Là doanh thu đã trừ đi các khoản giảm trừ (chiết khấu hàng bán, hàng bán trả lại…).
Doanh thu thuần = Tổng doanh thu – Các khoản giảm trừ
Khi tiến hành phân tích tài chính đây là một chỉ tiêu quan trọng nhất đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chỉ tiêu này sẽ được xem xét tăng hay giảm bao nhiêu so với kỳ trước, lý do của sự tăng hay giảm đó do sản lượng sản phẩm bán ra hay sự tác động của giá bán, những yếu tố nào làm cho sản phẩm bán ra hay giá bán tăng hay giảm.
+ Giá vốn bán hàng: Là chỉ tiêu phản ánh tổng giá mua hàng hoá hoặc giá thành sản xuất sản phẩm dịch vụ bán ra tương ứng với doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp sản xuất. Trong trường hợp doanh nghiệp gặp vấn đề là ở chỗ làm thế nào để giảm giá vốn, tức là giảm các yếu tố cấu thành lên giá vốn. Tuỳ theo kết quả phân tích mà doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định phù hợp.
+ Chi phí hoạt động kinh doanh: bao gồm tất cả các khoản mục chi phí liên quan đến khâu lưu thông bán hàng và khâu quản lý doanh nghiệp, thường được chia làm 2 loại tổng quát là chi phí lưu thông và chi phí quản lý:
+ Lãi (lỗ) phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ, được xác định qua các đẳng thức sau.
Lãi (lỗ) = Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp

Qua phần I người sử dụng cũng biết được kết quả hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính doanh nghiệp và hoạt động bất thường.
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Phần này phản ánh các khoản thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và các khoản khác mà đơn vị phải nộp (kỳ trước chuyển sang, phải nộp kỳ này và còn phải nộp cuối kỳ) đã nộp trong kỳ báo cáo.
Phần III: Phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được chuyển khoản.
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (mẫu B03 – DN):
Là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ người sử dụng có thể đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán được luồng tiền trong kỳ tiếp theo. Như vậy, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập ra để trả lời những câu hỏi có liên quan đến luồng thông tin vào và ra của doanh nghiệp cũng như tình hình trả nợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp. Chính báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về luồng tiền ra, vào của doanh nghiệp, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao, có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền chịu rủi ro một cách nhỏ nhất. Những khoản tiền đó được lưu chuyển từ ba nhóm hoạt động chính sau:
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: phản ánh toàn bộ số tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như tiền bán hàng, tiền thu từ các khoản phải thu, tiền thanh toán cho công nhân viên…
+ Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: Là toàn bộ số tiền thu vào hay chi ra đều liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư có thể là đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp hoặc đầu tư dưới hình thức khác như góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay. Từ đó ta thấy dòng tiền lưu chuyển được tính bằng toàn bộ số tiền thu vào và bán ra của doanh nghiệp do việc phải thanh lý tài sản hay mua sắp thiết bị.
+ Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Là toàn bộ số tiền thu vào và chi ra liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính bao gồm các nghiệp vụ làm tăng, làm giảm vốn kinh doanh như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn…
Như vậy dòng tiền lưu chuyển bao gồm các khoản thu, chi liên quan như tiền vay, thu được do trả lại cổ phiếu…
4. Thuyết minh báo cáo tài chính (mẫu B09 – DN):
Là báo cáo được trình bày bằng lời văn nhằm giải thích thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn mà các dữ liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể thể hiện được.
Những điều cần diễn giải thường là:
+ Đặc điểm doanh nghiệp: giới thiệu tóm tắt doanh nghiệp.
+ Tình hình khách quan trong kinh doanh đã tác động đến hoạt động doanh nghiệp.
+ Hình thức kế toán đã và đang áp dụng
+ Phương pháp phân bổ chi phí, đặc điểm khấu hao, tỷ giá hối đoái được dùng hạch toán trong kỳ.
+ Sự thay đổi trong đầu tư, tài sản cố định, vốn Chủ sở hữu.
+ Tình hình thu nhập của nhân viên.
+ Tình hình khác.
5.1.7. Nội dung phân tích tình hình tài chính
Muốn tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải có vốn, muốn duy trì được hoạt động kinh doanh bình thường thì lượng vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp phải được quay vòng liên tục và phải bảo toàn vốn sau mỗi kỳ chu chuyển. Như vậy, vấn đề sử dụng vốn như thế nào để có hiệu quả cao nhất là vấn đề bức xúc đối với mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp thường xuyên duy trì, phát triển năng lực sản xuất của mình, đứng vững trong điều kiện cạnh tranh và thu được nhiều lợi nhuận.
Để tiến hành phân phối, quản lý và sử dụng vốn hiện có một cách hợp lý, có hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính và kỷ luật thanh toán của Nhà nước thì doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính sẽ giúp người quản lý nắm được thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định đúng đắn để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nội dung chủ yếu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Phân tích khái quát tình hình tài chính
Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Phân tích đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
5.2 PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
5.2.1 Yêu cầu và mục đích phân tích khái quát tình hình tài chính
Phân tích khái quát tình hình tài chính là việc dựa trên những dữ liệu tài chính trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp để tính toán và xác định các chỉ tiêu phản ánh thực trạng và an ninh tài chính của doanh nghiệp. Từ đó, giúp cho các nhà quản trị nhìn nhận đúng đắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra khi phân tích khái quát tình hình tài chính là phải chính xác và toàn diện. Có phân tích chính xác thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp trên tất cả các mặt mới giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định hiệu quả, phù hợp với tình trạng hiện tại của doanh nghiệp và định hướng phát triển trong tương lai. Việc phân tích chính xác và toàn diện còn giúp các nhà quản trị có các kế sách thích hợp để nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích đưa ra những nhận định sơ bộ, ban đầu về thực trạng tài chính và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp. Qua đó, các nhà quản trị nắm được mức độ độc lập về mặt tài chính; về an ninh tài chính cùng những khó khăn mà doanh nghiệp đang phải đương đầu.
Với mục đích trên, khi phân tích khái quát tình hình tài chính, các nhà phân tích chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh những nét chung nhất phản ánh thực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp như: tình hình huy động vốn, mức độ độc lập tài chính, khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Đồng thời, phương pháp sử dụng để phân tích khái quát cũng khá đơn giản, chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh. Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu sử dụng để phân tích khái quát tình hình tài chính trên các mặt chủ yếu của hoạt động tài chính cũng mang tính tổng hợp, đặc trưng, việc tính toán những chỉ tiêu này cũng hết sức đơn giản, tiện lợi, để tính toán và có thể ước tính được.
5.2.2 Phân tích khái quát tình hình huy động vốn
1. Chỉ tiêu phân tích
Một trong những chức năng quan trọng của hoạt động tài chính là xác định nhu cầu, tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn. Do vậy, sự biến động (tăng hay giảm) của tổng số nguồn vốn theo thời gian (giữa cuối kỳ so với đầu năm, giữa năm này so với các năm khác, ...) là một trong những chỉ tiêu được sử dụng để phân tích khái quát khả năng tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vốn của doanh nghiệp tăng, giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau nên sự biến động của tổng số nguồn vốn theo thời gian cũng chưa thể biểu hiện đầy đủ tình hình tổ chức và huy động vốn của doanh nghiệp được. Vì thế, bên cạnh chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn”, các nhà phân tích còn kết hợp sử dụng chỉ tiêu “Tổng số nợ phải trả” và chỉ tiêu “Tổng số vốn chủ sở hữu”. Các chỉ tiêu này được thu thập trực tiếp trên Bảng cân đối kế toán. Cụ thể:
Tổng số nguồn vốn: căn cứ vào số liệu của chỉ tiêu “Tổng cộng nguồn vốn” (mã số 440);
Tổng số nợ phải trả : căn cứ vào số liệu của chỉ tiêu “Nợ phải trả” (mã số 300)
Tổng số vốn chủ sở hữu; căn cứ vào số liệu của chỉ tiêu “Vốn chủ sở hữu” (mã số 400) ;
Cơ cấu vốn: phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn của doanh nghiệp.
2. Phương pháp phân tích
Để phân tích tình hình huy động vốn của doanh nghiệp, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh: so sánh sự biến động của tổng số nguồn vốn và so sánh sự biến động của cơ cấu nguồn vốn theo thời gian cả về số tuyệt đối và số tương đối. Qua việc so sánh sự biến động của tổng số nguồn vốn theo thời gian, các nhà phân tích sẽ đánh giá được tình hình tạo lập và huy động vốn về quy mô ; còn qua việc so sánh sự biến động của cơ cấu nguồn vốn theo thời gian, các nhà phân tích sẽ đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu huy động, chính sách huy động và tổ chức nguồn vốn cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động.
Bên cạnh việc xem xét tình hình biến động theo thời gian của tổng số nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn, để sơ bộ biết được các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tài sản nguồn vốn trong kỳ phân tích, các nhà phân tích còn xác định ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu và nợ phải trả đến sự biến động của tổng nguồn vốn. Sự tăng hay giảm của vốn chủ sở hữu sẽ dẫn đến sự tăng hay giảm tương ứng của tổng số nguồn vốn với cùng một lượng như nhau, phản ánh tình hình tài trợ tài sản bằng số vốn của doanh nghiệp trong kỳ. Tương tự, sự tăng hay giảm của nợ phải trả sẽ dẫn đến sự tăng hay giảm tương ứng của tổng số nguồn vốn với cùng một lượng như nhau, phản ánh tình hình tài trợ tài sản bằng số vốn đi chiếm dụng trong kỳ. Việc tăng vốn chủ sở hữu về qui mô sẽ tăng cường được mức độ tự chủ, độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp và ngược lại, vốn chủ sở hữu giảm sẽ làm giảm mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Đối với nợ phải trả, nếu nợ phải trả gia tăng sẽ đồng nghĩa với sự giảm tính tự chủ tài chính, an ninh tài chính giảm và ngược lại.
Khi phân tích khái quát tình hình huy động vốn, các nhà phân tích phải nêu rõ được nỗ lực huy động vốn trong kỳ của doanh nghiệp (qua sự biến động của chỉ tiêu “Tổng số nguồn vốn”), sơ bộ nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình huy động (qua sự biến động về số tuyệt đối và số tương đối của các chỉ tiêu “Tổng số vốn chủ sở hữu” và “Tổng số nợ phải trả”) và xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn (qua sự biến động về tỷ trọng của các chỉ tiêu “Tổng số vốn chủ sở hữu” và “Tổng số nợ phải trả”). Từ đó, sơ bộ khái quát chính sách huy động vốn của doanh nghiệp (tăng cường huy động từ bên ngoài hay huy động từ bên trong nội bộ, huy động các chủ sở hữu đóng góp hay tăng cường kết quả kinh doanh...).
5.2.3 Phân tích khái quát mức độ độc lập tài chính
1. Chỉ tiêu phân tích
Mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau và được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau như mức độ tài trợ tài sản bằng vốn chủ sở hữu, mức độ tự tài trợ tài sản dài hạn bằng vốn chủ sở hữu, hệ số nợ so với tài sản, hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu,... Tuy nhiên, để phân tích khái quát mức độ độc lập về mặt tài chính, chỉ tiêu thông dụng nhất là “Hệ số tài trợ” và “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn”.
“Hệ số tài trợ” là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần. Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm. Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:
Vốn chủ sở hữu
Hệ số tài trợ =
Tổng số nguồn vốn

“Vốn chủ sở hữu” được phản ảnh ở chỉ tiêu B “Vốn chủ sở hữu” (mã số 400), còn “Tổng số nguồn vốn” được phản ánh ở chỉ tiêu “Tổng cộng nguồn vốn” (mã số 440) trên Bảng cân đối kế toán.
“Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” (hay “Hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản dài hạn”) là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư vốn chủ sở hữu vào tài sản dài hạn. Do đặc điểm của tài sản dài hạn là thời gian luân chuyển dài (thường là ngoài một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh) nên nếu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không đủ tài trợ tài sản dài hạn của mình mà phải sử dụng các nguồn vốn khác (kể cả vốn chiếm dụng dài hạn) thì khi các khoản nợ đáo hạn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán và ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ và bảo đảm thừa khả năng tài trợ tài sản dài hạn của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn khi thanh toán nợ đáo hạn. Vì thế, trị số của chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” càng cao, chứng tỏ vốn chủ sở hữu được đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn. Điều này tuy giúp doanh nghiệp tự bảo đảm về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi.

Vốn chủ sở hữu
Hệ số tài trợ TSDH =
Tài sản dài hạn

“Tài sản dài hạn” được phản ánh ở chỉ tiêu B “Tài sản dài hạn” (mã số 200) trên Bảng cân đối kế toán. Cần lưu ý rằng, chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” còn có thể tính riêng cho từng bộ phận tài sản dài hạn (nợ phải thu dài hạn, tài sản cố định đã và đang đầu tư, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn), đặc biệt là bộ phận tài sản cố định đã và đang đầu tư ; bởi vì, tài sản cố định (đã và đang đầu tư) là bộ phận tài sản dài hạn phản ánh toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp. Khác với các bộ phận tài sản dài hạn, doanh nghiệp không thể dễ dàng và không thể đem bán, thanh lý bộ phận tài sản cố định được vì đây chính là điều kiện cần thiết và là phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” được tính theo công thức sau:

Vốn chủ sở hữu
Hệ số tài trợ TSCĐ =
TSCĐ đã và đang đầu tư

Tài sản cố định đã và đang đầu tư được phản ánh ở chỉ tiêu “Tài sản cố định” (mã số 220) trên Bảng cân đối kế toán, bao gồm tài sản cố định đã đầu tư (tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính và tài sản cố định vô hình tương ứng các chỉ tiêu có mã số 221, 224, và 227) và tài sản cố định đang đầu tư (chi phí xây dựng cơ bản dở dang có mã số 230).
Tùy theo tính chất trọng yếu của các bộ phận tài sản dài hạn còn lại, khi phân tích, có thể tính ra các chỉ tiêu khác như “Hệ số tự tài trợ bất động sản đầu tư”, “Hệ số tự tài trợ đầu tư tài chính dài hạn”, “Hệ số tự tài trợ phải thu dài hạn”, ...
2. Phương pháp phân tích
Để phân tích mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp, trước hết các nhà phân tích cần tính ra trị số của các chỉ tiêu “Hệ số tài trợ”, “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” ở kỳ phân tích và kỳ gốc. Từ đó, tiến hành so sánh sự biến động của các chỉ tiêu trên theo thời gian cũng như so với trị số bình quân ngành, bình quân khu vực. Khi so sánh chỉ tiêu “Hệ số tài trợ”, “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” theo thời gian, các nhà phân tích sẽ có nhận định chính xác về xu hướng biến động của mức độ độc lập tài chính ; còn khi so sánh với số bình quân của ngành, bình quân khu vực, các nhà phân tích sẽ xác định chính xác vị trí hay mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp hiện tại là ở mức nào (cao, trung bình, thấp). Trên cơ sở đó sẽ có các quyết sách tài chính phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
Khi phân tích khái quát mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp, nếu trị số của các chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về tài chính tăng theo thời gian, điều mà các nhà phân tích khẳng định được một cách chắc chắn là mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp đã tăng so với kỳ gốc và có xu hướng tăng theo thời gian. Tuy nhiên, trong trường hợp này, chưa thể khẳng định mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp là cao mà cần phải dựa vào trị số tuyệt đối của các chỉ tiêu, so sánh với các doanh nghiệp khác cùng điều kiện, cùng khu vực, so sánh với số bình quân của ngành, để đánh giá. Trong thực tế khi phân tích mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp, nhiều khi trị số của chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” kỳ phân tích lớn hơn kỳ gốc trong khi trị số của c hỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” lại giảm; hoặc nhiều khi trị số của “Hệ số tài trợ” và chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” tăng trong khi trị số của chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” lại giảm ... Một điều có thể khẳng định chắc chắn trong những trường hợp này là: mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp tăng; tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với những khó khăn tài chính mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu trong thời kỳ tới. Vì thế, các nhà phân tích cần căn cứ vào ý nghĩa và trị số của các chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” để đưa ra nhận định đúng đắn về mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp. Nếu trị số của chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” tăng theo thời gian nhưng trị số của các chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” nhỏ hơn 1, chắc chắn mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp không cao, doanh nghiệp sẽ phải đối đầu với những khó khăn tài chính trong thời gian tới một khi các khoản nợ dài hạn đến hạn thanh toán. Khi đó, an ninh tài chính của doanh nghiệp sẽ bị đe dọa. Ngược lại, trường hợp trị số của chỉ tiêu “Hệ số tài trợ” tăng theo thời gian trong khi trị số của các chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” giảm nhưng giá trị tuyệt đối của 2 chỉ tiêu này vẫn lớn hơn 1, chắc chắn an ninh tài chính của doanh nghiệp vẫn bền vững, mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp vẫn không bị đe dọa.
5.3 PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN
5.3.1. Phân tích cơ cấu tài sản
Bên cạnh việc tổ chức, huy động vốn cho hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp còn phải sử dụng số vốn đã huy động một cách hợp lý, có hiệu quả. Sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả không những giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí huy động vốn mà quan trọng hơn còn giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được số vốn đã huy động. Điều đó đồng nghĩa với việc tăng lượng vốn huy động vào kinh doanh. Với cùng một lượng vốn đã huy động, nếu biết sử dụng hợp lý, doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu cho kinh doanh. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả số vốn đã huy động được thể hiện trước hết ở chỗ: số vốn đã huy động được đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sản nào. Vì thế, phân tích tình hình sử dụng vốn bao giờ cũng được thực hiện trước hết bằng cách phân tích cơ cấu tài sản. Qua phân tích cơ cấu tài sản, các nhà quản trị sẽ nắm được tình hình đầu tư (sử dụng) số vốn đã huy động, biết được việc sử dụng số vốn đã huy động có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp hay không.
Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản. Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau:
Tỷ trọng của từng
bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản
= Giá trị của từng bộ phận tài sản

Tổng số tài sản
x
100

Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho phép các nhà quản trị đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản.
Bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản cũng như từng loại tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác, các khoản phải thu dài hạn ...) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ. Việc đánh giá phải dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận. Trong điều kiện cho phép, có thể xem xét và so sánh sự biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua nhiều năm và so với cơ cấu chung của ngành để đánh giá.
Bằng việc xem xét bảng phân tích trên, các nhà quản trị sẽ thấy được những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý của việc sử dụng (đầu tư) vốn. Qua việc xem xét cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản của nhiều kỳ kinh doanh, các nhà quản trị sẽ có quyết định đầu tư vào loại tài sản nào là thích hợp, đầu tư vào thời điểm nào; xác định được việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho cũng như mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để sao cho có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết đáp ứng cho nhu cầu sản xuất – kinh doanh và nhu cầu tiêu thụ của thị trường mà không làm tăng chi phí tồn kho; có chính sách thích hợp về thanh toán để vừa khuyến khích được khách hàng vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn. Khi phân tích cơ cấu tài sản, nhà phân tích cần liên hệ với số liệu bình quân của ngành cũng như so sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác kinh doanh cùng ngành nghề có hiệu quả cao hơn để có nhận xét xác đáng về tình hình sử dụng vốn và tính hợp lý của cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Đồng thời, cần căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp cũng như chính sách đầu tư và chính sách kinh doanh mà doanh nghiệp vận dụng trong từng thời kỳ để đánh giá.
Có thể kể ra những điểm cần lưu ý khi phân tích sau đây:
Về tiền và các khoản tương đương tiền:
Để khắc phục những nhược điểm mà chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” trên Bảng cân đối kế toán có thể đem lại do tính thời điểm của chỉ tiêu này, khi xem xét cần liên hệ với tình hình biến động của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của tiền và các khoản tương đương tiền”. Đồng thời căn cứ vào nhu cầu thực tế về tiền của doanh nghiệp trong từng giai đoạn để nhận xét. Khoản mục này có thể tăng (hoặc giảm) không phải do ứ đọng (hay thiếu tiền) mà có thể do doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền để chuẩn bị đầu tư mua sắm vật tư, tài sản, ... hay do doanh nghiệp vừa đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh v.v...
Về đầu tư tài chính:
Đầu tư tài chính là một hoạt động quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhằm phát huy hết mọi tiềm năng sẵn có cũng như những lợi thế của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả kinh doanh, khẳng định vị thế của mình. Đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là các hoạt động đầu tư góp vốn (đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư liên doanh, ...) và đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn. Khi xem xét khoản đầu tư này, cần liên hệ với chính sách đầu tư của doanh nghiệp cũng như môi trường đầu tư trong từng thời kỳ, bởi vì không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện đầu tư tài chính. Hơn nữa, môi trường đầu tư cũng ảnh hưởng nhiều đến tỷ trọng của khoản đầu tư này. Một doanh nghiệp ở trong một môi trường mà thị trường chứng khoán chưa phát triển thì chắc chắn khoản đầu tư tài chính chưa thể cao được. Một điều có thể khẳng định rằng, trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, đầu tư tài chính chính là cơ hội cần thiết để giúp doanh nghiệp sử dụng số vốn dôi thừa có hiệu quả; đồng thời tạo cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội để nắm bắt, học hỏi được kinh nghiệm và kiến thức quản lý kinh tế t
Xem thêm

55 Đọc thêm

Doanh nghiệp tư nhân theo luật Thương mại

DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN THEO LUẬT THƯƠNG MẠI

Doanh nghiệp tư nhân Bài tập tuần Luật thương mại
Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Thương mại 1
Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kì một loại chứng khoán nào; mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân”.

Đặc điểm pháp lí đầu tiên dễ nhận thấy của doanh nghiệp tư nhân đó là doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ. Theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân được xếp vào nhóm các doanh nghiệp một chủ sở hữu. Tuy nhiên, khác với công ty nhà nước hay công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ, doanh nghiệp tư nhân chỉ do duy nhất một cá nhân làm chủ trong khi công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ có thể do một tổ chức đứng lên làm chủ, hoặc như doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và quản lí. Chủ thể thành lập doanh nghiệp tư nhân là cá nhân Việt Nam hoặc là người nước ngoài và không rơi vào trường hợp bị cấm thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Vì chỉ do một cá nhân làm chủ nên các quan hệ về vốn và tài sản, quản lí doanh nghiệp và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp tư nhân có những đặc trưng riêng. Về quan hệ sở hữu vốn và tài sản, chủ doanh nghiệp tư nhân là người bỏ toàn bộ vốn cũng như tài sản để thành lập doanh nghiệp. Phần vốn này sẽ do chủ doanh nghiệp tự khai báo với cơ quan đăng kí kinh doanh, gọi là vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toàn của doanh nghiệp. Nguồn vốn này được trích từ nguồn tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp nhưng về nguyên tắc, khi đã đưa vào kinh doanh thì đây được coi kà tài sản của doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm số vốn đầu tư đã đăng kí ban đầu với cơ quan đăng kí kinh doanh. Trước khi có nghị định số 43 2010 NĐCP về đăng kí doanh nghiệp, việc tăng giảm nguồn vốn đăng kí sẽ áp dụng theo luật doanh nghiệp năm 2005: nếu tăng nguồn vốn đầu tư doanh nghiệp không cần phải khai báo mà chỉ khi giảm nguồn vốn mới phải thông báo với cơ quan đăng kí kinh doanh. Sau khi nghị định số 43 có hiệu lực, dù doanh nghiệp tăng hay giảm vốn đầu tư đều phải thông báo. Đồng thời, chính việc chủ doanh nghiệp phải tự bỏ vốn từ tài sản cá nhân của mình đã không tạo nên sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản của chủ doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp tu nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu khi đưa tài sản góp vốn vào doanh nghiệp tư nhân). Về quan hệ quản lí, chủ doanh nghiệp được toàn quyền quản lí doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp 2005 không qui định mô hình tổ chức quản lí cho doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể thuê người quản lí doanh nghiệp và các bên có thể thỏa thuận phân chia quyền và nghĩa vụ, nhưng người phải trực tiếp chịu trách nhiệm pháp luật vẫn là chủ doanh nghiệp. Chủ doang nghiệp là đại diện pháp luật của doanh nghiệp tư nhân và chủ doanh nghiệp là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nhiệm vụ liên quan trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp tại tòa án và trọng tài. Về việc phân phối lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng mọi lợi nhuận từ việc kinh doanh cũng như phải tự gánh chịu mọi rủi to trong kinh doanh.

Dấu hiệu pháp lí thứ hai để nhận diện doanh nghiệp tư nhân đó là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của doang nghiệp. Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn này xuất phát từ việc chủ doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân duy nhất đứng ra bỏ vốn đầu tư. Nếu trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có phát sinh khoản nợ nào thì chủ doanh nghiệp phải thanh toán nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình cho đến khi hết nợ, nếu tại thời điểm hiện tại không trả đủ thì khoản nợ sẽ được lưu lại và khi chủ doanh nghiệp có điều kiện sẽ phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hết nợ. Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn này tuy có tạo niềm tìn cho các đối tác của doanh nghiệp tư nhân, song cũng gây nên hạn chế cho doanh nghiệp tư nhân đó là không được phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào, chủ doanh nghiệp chỉ được thành lập một doanh nghiệp chỉ được thành lập duy nhất một doanh nghiệp tư nhân cho đến khi doanh nghiệp đó không còn tồn tại.

Dấu hiệu pháp lí thứ ba đó là doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Đây là một dấu hiệu cơ bản bởi doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp duy nhất không được luật ghi nhân có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp tư nhân tuy được thành lập hợp pháp nhưng lại chưa thực sự đảm bảo nó có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, bởi doanh nghiệp do một cá nhân duy nhất làm chủ và chủ doanh nghiệp có quyền thuê người quản lí theo hợp đồng. Do không có sự phân biệt rạch ròi giữa tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân không đáp ứng được tiêu chuẩn quan trọng là độc lập về tài sản. Chủ doanh nghiệp trích tài sản của mình làm vốn đầu tư cho doanh nghiệp, và phải trả nợ cho doanh nghiệp bằng tài sản của mình nếu tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả. Doanh nghiệp tư nhân nhân danh chính mình trong các bản hợp đồng với chủ doanh nghiệp là người đại diện, nhưng khi tham gia các quan hệ hình sự thì chủ doanh nghiệp lại phải chịu trách nhiệm hình sự chứ không phải doanh nghiệp, điều này cũng không đảm bảo chặt chẽ tiêu chuẩn nhân danh chính mình khi tham gia quan hệ pháp luật của doanh nghiệp. Việc không có tư cách pháp nhân là một hạn chế bơi tâm lí người Việt Nam thích những tổ chức có tư cách pháp nhân hơn, đồng thời doanh nghiệp cũng phải chịu một số khó khăn và hạn chế trong hoạt động thương mại dưới sự điều chỉnh của pháp luật hiện nay.

Doanh nghiệp tư nhân khi đã đăng kí kinh doanh tức là đã được pháp luật thừa nhận là có tư cách pháp lí, nhưng không phải với tư cách thể nhân hay pháp nhân mà doanh nghiệp tư nhân có tư cách pháp lí hạn chế trong kinh doanh, hoạt động phụ thuộc vào danh nghĩa và năng lực pháp lí của người chủ doanh nghiệp. Chẳng hạn, về nguyên tắc doanh nghiệp có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp nhưng trên thực tế chỉ có chủ doanh nghiệp mới có đủ điều kiện, khả năng đê thực hiện quyền này.

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, do vậy việc hiểu về những đặc điểm pháp lí của doanh nghiệp tư nhân là cần thiết.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Phân tích report tai primary company sữa vinamilk

PHÂN TÍCH REPORT TAI PRIMARY COMPANY SỮA VINAMILK

I. Lý thuyết

♦ Nguồn thông tin phục vụ cho phân tích tài chính doanh nghiệp:
(1) Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả thực trạng về tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (thường là thời điểm kết thúc một niên độ kế toán).

(2) Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là một quý hoặc năm).

Ngoài ra, phân tích tài chính doanh nghiệp còn dựa vào một số báo cáo tài chính khác như: báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh về kết quả kinh doanh…
♦ Phan tich cac chi so:
3.1 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn
Hệ số
nợ = Tổng nợ phải trả
Tổng nguồn vốn (5)

Hệ số
Tự tài trợ = Tổng vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn (6)

Tỉ trọng
vốn cố định = Giá trị TSCĐ và ĐTDH
Tổng tài sản (7)

Tỉ trọng
vốn lưu định = Giá trị TSLĐ và ĐTNH
Tổng tài sản (8)

Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu (Vcsh) + Nợ dài hạn (Nợdh)
VLĐ thường xuyên = Vcsh + Nợdh Giá trị còn lại của TSCĐ (VCĐ)
Vốn lưu động thuần = TSLĐ và ĐTNH Tổng nợ ngắn hạn
(Net working capital)

3.2 Phân tích khả năng thanh toán

Hệ số
thanh toán chung = Tổng giá trị tài sản
Tổng nợ (1)
Hệ số thanh toán
Nợ dài hạn = Giá trị TSCĐ và ĐTDH
Tổng nợ dài hạn (2)

Hệ số thanh toán
nợ ngắn hạn = Giá trị TSLĐ và ĐTNH
Tổng nợ ngắn hạn (3)

Hệ số thanh toán
nhanh nợ ngắn hạn = TSLĐ và ĐTNH – hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn (4)

3.3 Phân tích khả năng hoạt động

Vòng quay
hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân (10)

Số ngày 1 vòng quay
hàng tồn kho = Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân Giá trị hàng bán bình quân 1 ngày (11)

Vòng quay
Các khoản phải thu = Doanh thu bán chịu trong kì
Phải thu bình quân (12)

Kỳ thu tiền bình quân = Phải thu bình quân
Doanh thu bán chịu bquân 1 ngày (13)

Kỳ thanh toán (phải trả)
bình quân = Phải trả bình quân
Doanh thu mua chịu bquân 1 ngày (14)

Vòng quay
vốn lưu động = Doanh thu thuần
VLĐ bình quân (15)


3.4 Phân tích hệ số sinh lời và thu nhập
Xem thêm

18 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN

1. Bản chất của kế toán
a. Bản chất của kế toán
Kế toán là nghệ thuật ghi chép phân loại tổng hợp và trình bày kết quả theo cách riêng dưới hình thái tiền đối vs các sự kiện và nghiệp vụ có tính chất tài chính (theo liên đoàn kế toán quốc tế IFAC)
• Đặc điểm chung
Kế toán nghiên cứu TS và nguồn hình thành TS sự vận động của TS trong các tổ chức.
Kế toán đc coi là hệ thống thông tin của các tổ chức
Hệ thống này đc vận hành qua 1 qt thu thập, đo lường, cung cấp thông tin bằng các phương pháp riêng của kế toán
Kế toán sd 3 thước đo: giá trị, hiện vật, lao động.
Thước đo giá trị là bắt buộc để tổng hợp toàn bộ các hoạt động kinh tế của tổ chức.
Chức năng của kế toán là thông tin và kiểm tra gắn vs TS và nguồn hình thành TS của các hoạt động khác của đơn vị.
• Phân loại kế toán
Theo mục đích cung cấp thông tin
+ Kế toán tài chính
+ Kế toán quản trị
Theo mức độ cụ thể chi tiết thông tin kế toán
+ Kế toán chi tiết
+ Kế toán tổng hợp
Theo cách thức ghi chéo và xử lý thông tin
+ Kế toán đơn
+ Kế toán kép
Theo cơ sở đặc điểm và mục đích hoạt động của đơn vị
+ Kế toán doanh nghiệp
+ Kế toán hành chính sự nghiệp
b. Đối tượng của kế toán
 TS và phân loại TS trong DN
TS là tất cả các nguồn lực kinh tế mà đơn vị kế toán đang nắm giữ sd cho hoạt động của đ.vị và pải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Đơn vị có quyền kiểm soát or quyền sở hữu và sd trong tg dài
+ Có giá phí xác định
+ Chắc chắn thu đc lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sd nguồn lực này.
• Phân loại TS
TS ngắn hạn: là những TS thuộc quyền sở hữu của đ.vị có tg thu hồi đầu tư và sd trong vòng 1 năm
+ Tiền
+ Đầu tư tài chính ngắn hạn
+ Các khoản phải thu ngắn hạn
+ Hàng tồn kho
+ TS ngắn hạn khác
TS dài hạn: là những TS trong đ.vị có tg sd, luân chuyển và thu hồi trên 12 tháng hoặc trong nhiều chu kì kinh doanh và có giá trị lớn.
+TSCĐ gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình
1 TS là TSCĐ khi thỏa mãn các ĐK:
Chắc chắn thu đc lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sd TS đó
Nguyên giá phải đc xác định 1 cách đáng tin cậy
Có tg sd từ 1 năm trở lên
Có đủ tiêu chuẩn theo quy định về mặt giá trị > 30 trđ
+ Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
+Các khoản phải thu dài hạn
+Bất động sản đầu tư
+ Các TS dài hạn khác
 Nguồn vốn và phân loại nguồn vốn
Theo nguồn hình thành vốn doanh nghiệp đc chia làm 2 loại
NV chủ sở hữu: là số vốn của các chủ sở hữu , các nhà đầu tư đóng góp mà DN k phải cam kết thanh toán.
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm:
+ Vốn góp do các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng để thành lập or mở rộng kinh doanh và được sd vào mục đích KD.
+ LN chưa phân phối: đây là kết quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh
+ NV chủ sở hữu khác: là số vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ lợi nhuận để lại, các loại vốn khác
Xem thêm

19 Đọc thêm

THẨM ĐỊNH dự án đầu tư trong doanh nghiệp

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP

A Lý thuyết chung
I. Mục đích và vai trò thẩm định dự án đầu tư tại doanh nghiệp

1. Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp

1.1. Vai trò của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp

Đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh.

Tuỳ theo mục đích của mỗi doanh nghiệp nhằm phát triển sản phẩm mới, kéo dài tuổi thọ sản phẩm hay làm tăng khả năng thu lợi cho sản phẩm hiện có mà có thể phân loại đầu tư doanh nghiệp theo những tiêu thức khác nhau. Theo cơ cấu tài sản đầu tư có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp thành:

Đầu tư tài sản cố định, đây là các hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định của doanh nghiệp. Đầu tư tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất. Loại đầu tư này bao gồm: đầu tư xây lắp; đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư tài sản cố định khác.

Đầu tư tài sản lưu động, đây là khoản đầu tư nhằm hình thành các tài sản lưu động cần thiết để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường. Nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động phụ thuộc vào đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh; vào nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp.

Đầu tư tài sản tài chính, các doanh nghiệp có thể mua cổ phiếu, trái phiếu, hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác. Hoạt động tài chính ngày càng có tỷ trọng cao và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp.

Đầu tư theo cơ cấu tài sản đầu tư giúp cho các doanh nghiệp xây dựng được một kết cấu tài sản thích hợp nhằm đa dạng hoá đầu tư, tận dụng được năng lực sản xuất và năng lực hoạt động, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.

Có thể căn cứ vào mục đích đầu tư có thể phân loại đầu tư ra thành: đầu tư tăng năng lực sản xuất, đầu tư đổi mới sản phẩm, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm…Hoạt động đầu tư phân theo mục đích đầu tư có vai trò định hướng cho các nhà quản trị doanh nghiệp xác định hướng đầu tư và kiểm soát được tình hình đầu tư theo những mục tiêu đã chọn.

Như vậy, có thể nói hoạt động đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Đây là quyết định tài trợ dài hạn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những sai lầm trong việc dự toán vốn đầu tư có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các quyết định đầu tư phải được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng.

1.2. Đầu tư theo dự án của doanh nghiệp

a. Khái niệm và đặc điểm

Đầu tư dự án của doanh nghiệp là một hình thức phổ biến, là công cụ để quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động của doanh nghiệp để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Dự án đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt đối với từng doanh nghiệp nói riêng, sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào đầu tư theo dự án có hiệu quả hay không.

Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế do đó các yếu tố của nền kinh tế không những là những nhân tố tác động trực tiếp đến doanh nghiệp mà còn tác động đến hoạt động đầu tư theo dự án của doanh nghiệp.
Ngoài những đặc điểm chung của dự án đầu tư, dự án đầu tư của doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

• Thứ nhất, do ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp là khác nhau nên dự án của từng doanh nghiệp tự bản thân đã có điểm khác biệt mang đặc trưng của từng doanh nghiệp, loại hình, ngành nghề.
• Thứ hai, nguồn vốn huy động của từng doanh nghiệp huy động vào dự án đầu tư cũng khác nhau. Doanh nghiệp có thể đóng vai trò là chủ đầu tư trực tiếp, góp vốn đầu tư đóng vai trò thứ phát hoặc liên kết đầu tư.
• Thứ ba, mỗi doanh nghiệp có cách thức quản lý dự án khác nhau. Dự án đầu tư ở mỗi doanh nghiệp chịu sự quản lý khác nhau của từng doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư theo dự án của doanh nghiệp.

b. Vai trò của dự án đầu tư đối với doanh nghiệp

Là căn cứ để doanh nghiệp ra quyết định đầu tư
Là cơ sở để thuyết phục các nhà đầu tư khác bỏ vốn đầu tư, thuyết phục các tổ chức tài chính cho vay và tài trợ vốn
Dựa vào dự án, các nhà đầu tư có cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện dự án.
Giúp nhà đầu tư xem xét, tìm hiểu lựa chọn cơ hội đầu tư
Là căn cứ để soạn thảo các hợp đồng liên doanh cũng như để giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án.

Tóm lại, dự án đầu tư luôn giữ vị trí quan trọng đối với donh nghiệp. Dự án đầu tư giúp đem lại hiệu quả kinh tes và có quan hệ hữu cơ với sự phát triển, nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư và đáp ứng nhu cầu kinh doanh.

c. Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp

Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp đẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau. Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối.
Vốn vay:
Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả lãi và gốc. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp...) nhưng không thuộc quyền sởc. Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp

Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp đẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau. Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối.
Vốn vay:
Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả lãi và gốc. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp...) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn.
2. Thẩm định dự án đầu tư trong doanh nghiệp
2.1 . Mục đích của thẩm định dự án đầu tư trong doanh nghiệp
Thẩm định dự án nhằm đưa ra quyết định đầu tư hợp lý.
Đánh giá tính hợp lý của dự án : tính hợp lý được thể hiện ở từng nội dung và cách thức tính toán của dự án.
Đánh giá tính hiệu quả của dự án : hiệu quả của dự án được xem xét trên hai phương diện : hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án
Đánh giá khả năng thực hiện của dự án : Đây là mục đích hết sức quan trọng trong thẩm định dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có khả năng thực hiện. Tất nhiên hợp lý và quả là hai điều kiện quan trọng để dự án có thể thực hiện được. Nhưng khả năng thực hiện của dự án còn phải xem xét đến các kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án.

2.2. Vai trò của thẩm định dự án đầu tư trong doanh nghiệp
• Thấy được các nội dung của dự án có đầy đủ hay còn thiếu hoặc sai sót ở nội dung nào, từ đó có căn cứ để chỉnh sửa hoặc bổ sung một cách đầy đủ.
• Xác định được tính khả thi về mặt tài chính, qua đó biết được khả năng sinh lời cao hay thấp.
• Biết được những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, từ đó nhà đầu tư chủ động có những giải pháp nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế rủi ro một cách thiết thực và có hiệu quả nhất.
• Giúp cho việc lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất theo quan điểm hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội và khả thi của dự án
• Đảm bảo sử dụng có hiệu quả nhất đồng vốn trong doanh nghiệp

2.3. Yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư trong doanh nghiệp
Nắm vững chiến lược phát trienr kinh tế xã hội của đất nước, của ngành, của địa phương, và các quy chế, luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành của nhà nước.
Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của từng dự án, tình hình và trình độ kinh tế chung của địa phương, đất nước và thế giới. Nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh , các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các mối quan hệ tài chính, kinh tế, tín dụng của doanh nghiệp với ngân hàng và ngan sách nhà nước.
Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng của dự án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết , xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định
Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được bản dự án, tạo điều kiện để giúp người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư nhanh chóng.
II. Quy trình thẩm định dự án trong doanh nghiệp
1. Nhóm lập dự án trình chủ đầu tư.
2. Thực hiện công việc thẩm định
3. Lập báo cáo kết quả thẩm định
4. Trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư

III. Nội dung thẩm định dự án đầu tư

1. Thẩm định khía cạnh pháp lý

Thẩm định kía cạnh pháp lý của dự án ta xem xét trên các nội dung:

• Đánh giá năng lực pháp lý của chủ đầu tư

Xem xét tư cách pháp lý vá năng lực của chủ đầu tư được thể hiện qua các khía cạnh:
Quyết định thành lập đối với các Doanh Nghiệp Nhà Nước và Giấy phép hoạt động đối với các thành phần kinh tế khác
Người đại diện chính thức, địa chỉ liên lạc và giao dịch
Năng lực kinh doanh thể hiện ở sở trường và uy tin kinh doanh (chỉ tiêu phi tài chính):Năng lực của bộ máy lãnh đạo;Thị trường tiêu thụ sản phẩm;Thị phần của doanh nghiệp (Đây là nội dung quan trong nhất)
Năng lực tài chính:Thông qua các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp như:Tỷ số thanh khoản,quản lý tài sản (Vòng quay hang tồn kho và vòng quay tài sản),quản lý nợ(tỷ số nợ và khẳng trả nợ),…

• Đánh giá hồ sơ, thủ tục pháp lý của dự án.

Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển KTXH, ngành nghề của địa phương, quy hoạch xây dựng
Sự phù hợp các nội dung của dự án với quy hoạch hiện hành trong các văn bản pháp luận, chế độ, chính sách pháp áp dụng với các dự án. Như luật đất đai, luật xây dựng, tài nguyên,…
Sự phù hợp của dự án đối với nhu cầu thị trường

• Căn cứ pháp lý:
Luật doanh nghiệp năm 2005
Nghị định 432010NĐCP ngày 1102010 của chính phủ về đăng ký doanh nghiệp
Luật đầu tư năm 2005, luật đầu tư sửa đổi và bổ sung 2014
Nghị định số 1082006NDCP ngày 2292006 quy định chi tiết thi hành luật đầu tư 2005
Nghị định số 782006NDCP ngày 0982006 quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Luật thương mại năm 2005
Luật bảo vệ môi trường công bố theo pháp lệnh số 29LCTN của chủ tịch nước
Nghị định 382011NĐCP sửa đổi Nghị Định 1812004NĐCP quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai
Nghị định 162005NĐCP ngày 0722005 và Nghị định số 1122006NĐCP ngày 2992006 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình
hữu của doanh nghiệp. Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn.
Xem thêm

18 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ QUÝ 2 NĂM 2012 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ QUÝ 2 NĂM 2012 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM

- Có thời hạn thanh tốn trên 1 năm (hoặc trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh) được phân loại là nợ dài hạn;- Tài sản thừa chờ xử lý được phân loại là nợ ngắn hạn;- Thuế thu nhập hỗn lại được phân loại là nợ dài hạn.10. Ngun tắc ghi nhận chi phí phải trả, trích trước chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hành sản phẩm, trích quỹ dựphòng trợ cấp mất việc làm:Các khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được trích trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ để đảmbảo khi chi phí phát sinh thực tế khơng gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo ngun tácphù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi các chi phí đó phát sinh, nếu có chênh lệch với số đã trích, kế tốn tiến hànhghi bổ sung hoặc ghi giảm chi phí tương ứng với phần chênh lệch.Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi được Hội đồng quản trị phê duyệt được trích các quỹ theo Điều lệCơng ty và các quy định pháp lý hiện hành, sẽ phân chia cho các bên dựa trên tỷ lệ vốn góp.11. Ngun tắc ghi nhận vốn chủ sở hữu:Ngun tắc ghi nhận vốn đầu tư của chủ sở hữu:Vốn đầu tư của chủ sở hữu được ghi nhận theo số vốn thực góp của chủ sở hữu.Thặng dư vốn cổ phần được ghi nhận theo số chênh lệch lớn hơn giữa giá thực tế phát hành và mệnh giá cổ phiếu khiphát hành cổ phiếu lần đầu, phát hành bổ sung hoặc tái phát hành cổ phiếu quỹ.Cổ tức phải trả cho các cổ đơng được ghi nhận là khoản phải trả trong Bảng Cân đối kế tốn của Cơng ty sau khi cóthơng báo chia cổ tức của Hội đồng quản trị cơng ty.Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi được Hội đồng quản trị phê duyệt được trích các quỹ theo Điều lệCơng ty và các quy định pháp lý hiện hành, sẽ phân chia cho các bên dựa trên tỷ lệ vốn góp.12. Ngun tắc và phương pháp ghi nhận Doanh thu:Ngun tắc và phương pháp ghi nhận doanh thu bán hàng:Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:- Phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hố đã được chuyển giao cho người mua;- Cơng ty khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hố như là người sở hữu hoặc quyền kiểm sốt hàng hố;- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;- Cơng ty đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.Các thuyết minh này là bộ phận hợp thành các Báo cáo tài chính.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Báo cáo tài chính ngân hàng thương mại

BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính của ngân hàng khái quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng vào ngày cuối năm.
Để có thể đánh giá hoạt động của ngân hàng một cách chính xác, bảng Cân Đối Kế Toán dùng làm cơ sở để đánh giá phải được phản ảnh bằng số dư bình quân ngày thay vì số liệu cuối năm. Điều này rất dễ hiểu bởi vì sự sai lệch có thể phát hiện được nếu những số liệu hàng ngày được quan tâm đến. Số liệu cuối năm chỉ sử dụng trong một số trường hợp nhất định nào đó.
2. Nội dung và kết cấu bảng cân đối kế toán TOP

Bảng Cân Đối Kế Toán được thể hiện một cách tổng quát bao gồm 2 phần:
+ Phần Tài sản (Assets) của ngân hàng thể hiện sự sử dụng vốn (ngân quỹ) của ngân hàng, nó thể hiện hoạt động của ngân hàng.
+ Phần Nợ phải trả vốn chủ sở hữu (Liabilities and equity) được thể hiện một cách cụ thể từng nguồn hình thành nên ngân quỹ của ngân hàng. Nợ phải trả không thuộc quyền sở hữu trong tài sản của ngân hàng. Vì vậy, vốn chủ sở hữu sẽ bằng giá trị tài sản trư đi giá trị nợ phải trả.
VỐN CHỦ SỞ HỮU = TỔNG TÀI SẢN NỢ PHẢI TRẢ
Sau đây xin mô tả một cách chi tiết về các khoản mục trên bảng Cân Đối Kế Toán của một ngân hàng thương mại
Xem thêm

11 Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại công ty tài chính dầu khí

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ

Vốn là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp, gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ vay. Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu vốn và phương thức huy động vốn khác nhau, những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường thì vốn chủ sở hữu chiếm phần lớn. Nhưng đối với các tổ chức trung gian tài chính như CTTC thì vốn chủ sở hữu lại chiếm tỷ lệ ít hơn nợ vay.
Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho CTTC, đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của công ty. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn được đa dạng hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế. Đầu tiên phải kể đến vốn góp ban đầu. Khi một đơn vị kinh doanh được thành lập, chủ đơn vị đó phải có số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu góp. Tùy tính chất mỗi CTTC mà nguồn hình thành ban đầu khác nhau, có thể là vốn do các cổ đông đóng góp, do các bên liên doanh đóng góp hoặc sở hữu tư nhân hoặc vốn của công ty mẹ…
Xem thêm

66 Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

HỆ SỐ NỢ NCSH: _ TRANG 5 Nợ phải trả MS 300BCĐKT Ncsh = Vốn chủ sở hữu MS400 BCĐKT Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán nợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu; hệ số này càng nhỏ thì giá trị của[r]

15 Đọc thêm

Báo cáo tài chính tổng hợp của công ty có đơn vị phụ thuộc hạch toán độc lập

BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỔNG HỢP CỦA CÔNG TY CÓ ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC HẠCH TOÁN ĐỘC LẬP

Báo cáo tài chính tổng hợp của công ty có đơn vị phụ thuộc hạch toán độc lập

Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm kết thúc năm tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh năm tài chính của toàn đơn vị.

16 Đọc thêm

Cùng chủ đề