QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TRONG NGÂN HÀNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TRONG NGÂN HÀNG":

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN NSNN TRONG ĐẦU TƯ XDCB CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH HÀ TĨNH

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN NSNN TRONG ĐẦU TƯ XDCB CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH HÀ TĨNH

Trong những năm vừa qua, mặc dù kinh tế thế giới phục hồi chậm, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn; Chính phủ ban hành chính sách thắt chặt tiền tệ, cơ cấu lại đầu tư công; việc huy động nguồn lực để triển khai một số dự án lớn, công tác thu, quản lý và điều hành ngân sách mặc dù đã được tập trung quan tâm, chỉ đạo nhưng vẫn còn gặp khó khăn. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt cùng với sự vào cuộc nghiêm túc của các cấp, ngành, địa phương bằng các chương trình hành động cụ thể, nên tình hình KT – XH của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực. Các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo tiếp tục thực hiện nghiêm túc việc tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ, tích cực tập trung xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng trong XDCB.Đầu tư XDCB là nhân tố quyết định tới chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Thông qua nguồn vốn NSNN đầu tư cho XDCB, từ đó nâng cấp và xây dựng mới hệ thống giao thông, thủy lợi, điện năng, bưu chính, viễn thông, kết cấu hạ tầng đô thị, tăng tỷ trọng ĐTPT kết cấu hạ tầng xã hội. Cần nâng cao chất lượng sử dụng vốn ĐTPT hạ tầng hơn nữa, đó là cách huy động vốn theo chiều sâu. ĐTPT kết cấu hạ tầng đi trước thì mới tạo được điều kiện để tăng nhanh vốn đầu tư toàn xã hội. Cơ chế quản lý vốn NSNN trong lĩnh vực đầu tư XDCB của tỉnh Hà Tĩnh thời gian qua đã được cải tiến theo hướng tăng cường phân công, phân cấp cho các ngành và địa phương. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì công tác quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB vẫn còn một số hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển KT XH của tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB của Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu.Xác định được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tăng cường quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB của Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh”. Thời gian qua, cũng có một số nghiên cứu về đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách đã được tiến hành nhưng chưa có đề tài nghiên cứu về nội dung quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB tại Sở Tài chính. Mục tiêu chính của đề tài này là trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB của Sở Tài chính từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB giai đoạn tiếp theo.
Xem thêm

122 Đọc thêm

cơ chế quản lý vốn tập trung tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam

CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

ngành Ngân hàng dần trở thành một trong những yếu tố then chốt trong việc xây dựng một kinh tế phát triển và bền vững, bên cạnh việc là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế thông qua các chính sách tiền tệ, ngành ngân hàng ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình, ảnh hƣởng của mình đến nền kinh tế. Việc xây dựng và quản lý một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển và bền vững luôn là một trong những quan tâm hàng đầu của Chính phủ. Tuy nhiên để xây dựng đƣợc một ngành ngân hàng mà sự bền vững và phát triển của nó đảm bảo song hành cùng nền kinh tế chung, việc cần thiết là phải xây dựng từng “ tế bào” nhỏ , từng “mắt xích” nhỏ, đó chính là sự lành mạnh, bền vững và phát triển của các NHTM tại Việt Nam. Đã không còn cái thời mà các ngân hàng ào ạt thành lập, rồi ào ạt phá sản. Việc thành lập ngân hàng tại Việt Nam ngày này đòi hỏi một sự khắc khe hơn, thận trong hơn. Nền kinh tế mở của Việt Nam để tiến dần đến một nền kinh tế thị trƣờng cạnh trạnh hoàn hảo, các Ngân hàng Việt Nam phải dần đối mặt với những thách thức vô cùng lớn đó là sự cạnh tranh từ các ngân hàng nƣớc ngoài dần chiếm lĩnh các thị phần Việt Nam theo cơ chế dần mở của nền kinh tế. Trƣớc khi “cuộc chiến” về sự cạnh tranh công bằng trong lộ trình gia nhập WTO bắt đầu, các Ngân hàng Thƣơng Mại phải tự “cứu” lấy mình để tồn tại và phát triển trƣớc khi bị chính quy luật cạnh tranh khốc liệt đó đào thải. Các NHTM cần phải thay đổi, điều chỉnh các cơ chế quản lý cũ, lạc hậu để thay dần vào đấy các cơ chế hiện đại phù hợp với xu hƣớng chung của nền kinh tế. Một ngân hàng đƣợc quản lý tốt, sự đồng bộ, thống nhất và không mâu thuẫn là một trong những yếu tố đầu tiên đƣợc xem xét trong việc quản lý. Việc tập trung quản lý cho các NHTM thêm một cơ hội tăng khả năng sinh lời tối đa và giảm thiểu các rủi ro đến mức thấp nhất có thể chấp nhận đƣợc. Quản lý tài sản nợ tài sản có là một trong những phƣơng pháp giúp định hình các quyết định mang tính phối hợp và tổng hợp.
Xem thêm

58 Đọc thêm

QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH ĐẮK NÔNG

QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH ĐẮK NÔNG

1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngành ngân hàng càng tỏ rõ vị trí quan trọng hàng đầu của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Việc huy động vốn của ngân hàng thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với cá nhân, dân cư, tổ chức kinh tế, đối với nền kinh tế và đối với bản thân ngân hàng. Đây là vấn để mang tính cấp thiết, đầy biến động đòi hỏi phải xây dựng, phát triển và thường xuyên được xử lý, điều chỉnh nhằm đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế, giải quyết được những thiếu hụt trong chi tiêu của Chính phủ.Vai trò của vốn đối với các ngân hàng thương mại là hoạt động chủ yếu và ngày càng trở nên quan trọng. Vốn của ngân hàng được hiểu là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiệncác dịch vụ kinh doanh khác.Vốn của ngân hàng thương mại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và các nguồn vốn khác. Trong đó vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại. Một ngân hàng thương mại muốn đóng vai trò thực sự như một trung gian tài chính, một tổ chức kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp, muốn giữ thế chủ động trong kinh doanh thì ngân hàng phải đưa hoạt động huy động vốn lên hàng đầu. Nguồn vốn huy động quyết định năng lực thanh toán cũng như quy mô các hoạt động cho vay, đầu tư, bảo lãnh..của ngân hàng. Nó cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh, vị thế và uy tín của ngân hàng trên thị trường.Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế trong nước bước vào giai đoạn suy thoái và bước đầu phục hồi trong năm 2014. Hệ thống ngân hàng đã chứng kiến cuộc đua lãi suất huy động diễn ra vô cùng khốc liệt. Các ngân hàng hoạt động trên cùng địa bàn sử dụng các cách để có thể huy động được nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động của mình. Rõ ràng, một ngân hàng có thế mạnh trong việc huy động vốn sẽ có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các dịch vụ, đẩy mạnh kinh doanh, mở rộng thị trường. Vì vậy mỗi ngân hàng để quan tâm thường xuyên đến công tác huy động vốn, đáp ứng yêu cầu kinh doanh của bản thân ngân hàng và nhu cầu về vốn của nền kinh tế. Hay nói cách khác là ngân hàng chú trọng đến quản lý huy động vốn tạingân hàng mình.Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh ĐắkNông là một chi nhánh của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn của ngân hàng, cùng với việc tiếp thu các văn bản chỉ đạo của Hội sở chính Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, trong thời gian qua ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông đã thực hiện nhiều biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động huy động vốn. Tuy nhiên, kết quả huy động vốn vẫn chưa đạt được mục tiêu mà ngân hàng đề ra như về số lượng, chất lượng huy động vốn, một phần do công tác huy động vốn chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động của ngân hàng.Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông” làm luận văn tốt nghiệp của mình.Thông qua luận văn này, tác giả mong muốn góp phần nâng cao chất lượng quản lý huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông nói riêng và toàn bộ hệ thống của ngân hàng Sài Gòn Thương Tín nói chung.2. Những đề tài nghiên cứu có liên quanTrong quá trình nghiên cứu luận văn, học viên có tham khảo một số Luận văn: Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện công tác quản lý huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Thị Lê Hoa(2013). Nghiên cứu cho thấy thực trạng công tác huy động vốn tại ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh Phú Thọ bao gồm các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác huy động vốn tại ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh Phú Thọ. Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Quản lý hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Hà Tĩnh” của tác giả Từ Thị Thu Hiền (2014). Nghiên cứuđánh giá thực trạng quản lý hoạt động huy động vốn tại Vietinbank Hà Tĩnh trong những năm gần đây, chỉ ra được những kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân của việc quản lý hoạt động huy động vốn tại Vietinbank Hà Tĩnh. Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại Viettinbank Hà Tĩnh. Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Quản lý huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần hàng hải Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy” của tác giả Hồ Thái Sơn (2014). Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng quản lý huy động vốnvà kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy.Các nghiên cứu trên đã góp phần xây dựng các giải pháp cho nâng cao chất lượng huy động vốn tại ngân hàng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về quản lý huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông. Do đó, nghiên cứu về công tác quản lý huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.3. Mục tiêu nghiên cứu+Xác định được khung nghiên cứu huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại+Xác định được thực trạng quản lý huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông; xác định được những điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong quản lý huy động vốn của Ngân hàng trong giai đoạn 20122014.+Đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện quản lý huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Đắk Nông đến 2020.4. Phạm vi nghiên cứu+Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Quản lý huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh ĐắkNông.+Phạm vi về nội dung: Tập trung nghiên cứu về quản lý huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh ĐắkNông theo cách tiếp cận quy trình quản lý huy động vốn gồm: Lập kế hoạch huy động vốn, tổ chức triển khai kế hoạch, kiểm soát huy động vốn.+Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý huy động vốn tại trụ sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh ĐắkNông+Về thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng để phân tích thuộc giai đoạn 20122014, các giải pháp đề xuất được sử dụng cho giai đoạn đến 2020.
Xem thêm

103 Đọc thêm

QUẢN LÍ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VN

QUẢN LÍ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VN

dần trở thành một trong những yếu tố then chốt trong việc xây dựng một kinh tếphát triển và bền vững, bên cạnh việc là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tếthông qua các chính sách tiền tệ, ngành ngân hàng ngày càng khẳng định tầm quantrọng của mình, ảnh hƣởng của mình đến nền kinh tế. Việc xây dựng và quản lýmột hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển và bền vững luôn là một trong nhữngquan tâm hàng đầu của Chính phủ. Tuy nhiên để xây dựng đƣợc một ngành ngânhàng mà sự bền vững và phát triển của nó đảm bảo song hành cùng nền kinh tếchung, việc cần thiết là phải xây dựng từng “ tế bào” nhỏ , từng “mắt xích” nhỏ, đóchính là sự lành mạnh, bền vững và phát triển của các NHTM tại Việt Nam. Đãkhông còn cái thời mà các ngân hàng ào ạt thành lập, rồi ào ạt phá sản. Việc thànhlập ngân hàng tại Việt Nam ngày này đòi hỏi một sự khắc khe hơn, thận trong hơn.Nền kinh tế mở của Việt Nam để tiến dần đến một nền kinh tế thị trƣờng cạnh trạnhhoàn hảo, các Ngân hàng Việt Nam phải dần đối mặt với những thách thức vô cùnglớn đó là sự cạnh tranh từ các ngân hàng nƣớc ngoài dần chiếm lĩnh các thị phầnViệt Nam theo cơ chế dần mở của nền kinh tế. Trƣớc khi “cuộc chiến” về sự cạnhtranh công bằng trong lộ trình gia nhập WTO bắt đầu, các Ngân hàng Thƣơng Mạiphải tự “cứu” lấy mình để tồn tại và phát triển trƣớc khi bị chính quy luật cạnhtranh khốc liệt đó đào thải. Các NHTM cần phải thay đổi, điều chỉnh các cơ chếquản lý cũ, lạc hậu để thay dần vào đấy các cơ chế hiện đại phù hợp với xu hƣớngchung của nền kinh tế. Một ngân hàng đƣợc quản lý tốt, sự đồng bộ, thống nhất vàkhông mâu thuẫn là một trong những yếu tố đầu tiên đƣợc xem xét trong việc quảnlý. Việc tập trung quản lý cho các NHTM thêm một cơ hội tăng khả năng sinh lờitối đa và giảm thiểu các rủi ro đến mức thấp nhất có thể chấp nhận đƣợc. Quản lýtài sản nợ - tài sản có là một trong những phƣơng pháp giúp định hình các quyếtđịnh mang tính phối hợp và tổng hợp. Quản lý tài sản nợ - tài sản có hiệu quả khôngnhững giúp các NHTM chống lại những biến động của những rủi ro tiềm ẩn từ cácbiến động lãi suất, tỷ giá…mà còn giúp các NHTM tối ƣu hoá hoặc ít tổn thất nhấtmức lợi nhuận kỳ vọng cũng nhƣ giảm thiểu nhất những tổn thất hoặc tổn thất ở
Xem thêm

106 Đọc thêm

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Thực hiện chức năng này, một mặt ngân hàng thương mại huy động và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế như vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, cơ quan đ[r]

30 Đọc thêm

Chuyên đề tốt nghiệp: Giải pháp tăng cường nguồn vốn huy động tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Đông đô

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM (TECHCOMBANK) CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ

Vốn là một điều kiện tiên quyết trong mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Nước ta đang trong giai đoạn phát triển kích thích tăng trưởng kinh tế, điều này cũng có nghĩa là nhà nước đang rất cần vốn để thực hiện được chính sách vĩ mô đó. Để huy động được vốn cần thông qua thị trường tài chính và điển hình là các ngân hàng bởi ngân hàng là nơi tích tụ và tập trung một lượng vốn khổng lồ cho thị trường. Đồng thời quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang diễn ra hết sức sôi động điều đó đồng nghĩa với sự cạnh tranh đã, đang và sẽ diễn ra ngày càng khốc liệt trong toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Theo số liệu thông kê thì nước ta có khoảng 104 ngân hàng và văn phòng giao dịch, chính vì vậy hoạt động huy động vốn của các NHTM là rất khó khăn bởi họ phải đổi mới mình để cạnh với nhau trong lĩnh vực này. Mặt khác nguồn vốn huy động chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay và đầu tư. Chính vì vậy các ngân hàng cần tăng cường hoạt động huy động vốn của mình nếu muốn hoạt động kinh doanh phát triển cũng như sự tồn tại của ngân hàng.
Sau thời gian thực tập tại ngân hàng TMCP kỹ thương (Techcombank) chi nhánh Đông Đô nhận thấy tầm quan trọng của vốn huy động trong sự phát triển của ngân hàng và tính cấp thiết của hoạt động huy động vốn trong thời điểm hiện nay vì vậy em chọn đề tài “ Giải pháp tăng cường nguồn vốn huy động tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Đông đô”.
Xem thêm

75 Đọc thêm

NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH THĂNG LONG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH THĂNG LONG

Trong cơ chế thị trường, hệ thống Ngân hàng được phân chia làm hai cấp : Ngân hàng nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý vĩ mô và các ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng. Để thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các ngân hàng thương mại không ngừng tăng cường huy động vốn, phát triển hoạt động makerting, nâng cao chất lượng công nghệ tin học, tăng cường hoạt động quản lý rủi ro, quản lý nợ…nhằm hoàn thành sư nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Hoạt động của Ngân hàng rất đa dạng và phong phú trong đó có: hoạt động tín dụng, thanh toán, chuyển hoá vốn và các dịch vụ khác. Hoạt động tín dụng là một trong những haotj động chủ chốt của các ngân hàng thương mại. Chính vì tính quan trọng của nó mà các khoản tín dụng do ngân hàng thương mại cấp ra phải đảm bảo được hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên nó lại chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại luôn phải khắc phục những rủi ro trong bất cứ hoạt động nào của mình: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro chuyển hoá vốn, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái…Trong đó, rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà hậu quả của nó ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động khác, ảnh hưởng đến chính sự tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: Nguyên nhân từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng, từ khả năng lắm bắt thông tin nhưng nguyên nhân chủ yếu là từ phía khách hàng, có nghĩa là khách hàng không trả được nợ vay cho ngân hàng vào thời điểm đáo hạn. Như vậy sẽ gây ra rủi ro đọng vốn hay rủi ro mất vốn cho phía ngân hàng.
Xem thêm

73 Đọc thêm

Hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ở Việt Nam

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUA CÁC TỔ CHỨC CUNG ỨNG DỊCH VỤ THANH TOÁN Ở VIỆT NAM

Từ lý luận vai trò quản lý Nhà nước của Ngân hàng Trung ương đối với hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế quản lý và sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương nhằm phục vụ cho việc khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán trong kinh tế thị trường ở Việt Nam, cụ thể: Một là: Cơ chế quản lý hoạt động thanh toán ngày nay là quản lý một nghiệp vụ kinh doanh trong hoạt động ngân hàng hiện đại thay vì cơ chế quản lý mang tính chất mệnh lệnh hành chính trước đây.
Xem thêm

255 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội

LUẬN VĂN THẠC SỸ: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI, CHI NHÁNH HÀ NỘI

Ngân hàng thương mại là một trong những trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, và trong giai đoạn phát triển của đất nước. Hệ thống Ngân hàng có hoạt động tốt thì mới điều hòa được nguồn vốn cho nền kinh tế, nguồn vốn được đầu tư vào đúng nơi đúng chỗ. Do có vai trò quan trọng nên từ sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng có thể đánh giá được sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển, nền kinh tế thị trường đã dần định hình rõ ở nước ta, thì cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường...vv. Trong đó, rủi ro tín dụng gây ra tổn thất lớn nhất cho các Ngân hàng, và Ngân hàng nào quản lý tốt đựợc rủi ro thì Ngân hàng đó mới hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Trong thời gian gần đây, hoạt động quản lý rủi ro tại các Ngân hàng thương mại ở nước ta đã bắt đầu được chú trọng, do yêu cầu của sự hội nhập nền kinh tế quốc tế. Là một ngân hàng thương mại cổ phẩn điển hình trong hệ thống các Ngân hàng thương mại cổ phần của nước ta tỏng những năm gần đây, ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn – Hà Nội, đã chủ động tiến hành công tác quản lý rủi ro tín dụng trong nhiều năm nay, tuy nhiên hiệu quả thu được chưa được như mong muốn. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động quản lý rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại cổ phần, với những hiểu biết và kinh nghiệm làm việc tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội, tôi nhận thấy việc nghiên cứu về RRTD và quản lý RRTD tại thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội là công việc có ý nghĩa thực tiễn cao, do đó tôi đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình, với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của GS.TS Lê Doãn Khải.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã cố gắng diễn đạt tốt nhất những nội dung cơ bản nhất, sâu sắc nhất dựa trên sự tập trung nghiên cứu tìm hiểu về rủi ro tín dụng và hệ thống quản lý rủi ro tín dụng về mặt lý luận cũng như thực tiễn tại thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội, và đưa ra những giải pháp cần thiết, hiệu quả nhất. Song nội dung đề tài chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự đóng góp bổ sung của quý thầy cô và các bạn.
Xem thêm

108 Đọc thêm

phân tích chỉ số camel của ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam

PHÂN TÍCH CHỈ SỐ CAMEL CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Thành lập ngày 01041963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank được Nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt. Vietcombank luôn giữ vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, với uy tín trong các lĩnh vực ngân hàng bán buôn, kinh doanh vốn, tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng. Sau 45 năm hoạt động, Vietcombank đã phát triển thành một ngân hàng đa năng.
Bên cạnh vị thế vững chắc trong lĩnh vực ngân hàng bán buôn với nhiều khách hàng truyền thống là các tổng công ty và doanh nghiệp lớn,Vietcombank đã xây dựng thành công nền tảng phân phối rộng và đa dạng, tạo đà cho việc mở rộng hoạt động ngân hàng bán lẻ và phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại và chất lượng cao. Ngân hàng còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác như chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng v.v.. thông qua các công ty con và công ty liên doanh. Vietcombank đã tập trung áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiện đại, mở rộng và nâng cấp mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch. Cho đến nay, mạng lưới của Vietcombank đã vươn rộng ra nhiều địa bàn và lĩnh vực, bao gồm: 01 Sở giao dịch, 75 chi nhánh và 106 Phòng giao dịch trên toàn quốc; Công ty con ở trong nước (Công ty Cho thuê Tài chính Vietcombank VCB Leasing, Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank –VCBS, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản Vietcombank VCB AMC, Công ty TNHH Cao ốc Vietcombank 198 VCB Tower, 1 Công ty con ở nước ngoài: Công ty Tài chính Việt Nam – Vinafico Hongkong, 2 Văn phòng đại diện tại Singapore và Paris, 3 Công ty liên doanh (Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank – VCBF, Ngân hàng Liên doanh ShinhanVina, Công ty Liên doanh TNHH Vietcombank – Bonday Bến Thành)
Xem thêm

18 Đọc thêm

Vai trò bảng cân đối kế toán, sổ kế toán chi tiết và các báo cáo tài chính trong kế toán ngân hàng

VAI TRÒ BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN, SỔ KẾ TOÁN CHI TIẾT VÀ CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG

Kế toán ngân hàng (KTNH) nói chung bao gồm kế toán tại các tổ chức tín dụng (TCTD) và tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên thông thường nói đến KTNH người ta thường hay tập trung nói về kế toán tại các TCTD trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến kế toán tại các ngân hàng thương mại (NHTM). KTNH có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các số liệu, phản ánh toàn bộ diễn biến hoạt động kinh tế và nhờ vậy nó có thể kiểm tra tình hình hoạt động và sử dụng vốn của Ngân hàng về việc sử dụng vốn của Ngân hàng có hiệu quả hay không. Cho nên KTNH là công cụ để quản lý các nghiệp vụ ngân hàng và hoạt động của nền kinh tế. Sổ kế toán chi tiết, bảng cân đối tài khoản kế toán và các báo cáo tài chính đều là những vấn đề cơ bảng thuộc KTNH. Chúng cũng có những vai trò hết sức quan trọng đối với các chủ thể trong nền kinh tế.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hưng Yên

LUẬN VĂN THẠC SỸ: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH HƯNG YÊN

Sau khi Việt nam mở cửa nền kinh tế và gia nhập WTO, nền kinh tế Việt nam đang chuyển mình mạnh mẽ, GDP luôn đạt ở mức trung bình 7.0% và dự báo tiếp tục tăng trưởng. Các ngành kinh tế của đất nước đang phát triển thuận lợi, cơ hội được tiếp cận những quan điểm, mô hình kinh doanh mới từ các nước phát triển, từ các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt nam. Đi tiên phong trong đó là ngành ngân hàng tài chính. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng đang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Trong thời gian qua, ngành ngân hàng đã làm rất tốt trong quá trình lưu thông tiền tệ đối với nền kinh tế, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy mọi thành phần của nền kinh tế phát triển. Đối với ngành ngân hàng của chúng ta vẫn tập trung tới hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp, chiểm tỷ lệ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chưa chú trọng nhiều tới nhu cầu của cá nhân. Một nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp tập trung huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán hay phát hành trái phiếu, cổ phiếu…hạn chế vay vốn từ các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ phi tín dụng cho doanh nghiệp và chú trọng tới cung cấp các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của cá nhân, doanh thu từ hoạt động này là từ 3560% tổng doanh thu.Chính vì lẽ đó, trong xu hướng phát triển tất yếu của ngành ngân hàng Việt nam trong thời gian tới sẽ phát triển theo mô hình ngân hàng bán lẻ. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngân hàng bán lẻ trong xu thế hiện nay, các ngân hàng trong nước đã đưa ra các chính sách, sản phẩm và định hướng lâu dài. Thể hiện rõ nhất là các ngân hàng ACB, ngân hàng Đông Á, Sacombank, Techcombank….. Các ngân hàng nước ngoài như ANZ, HSBC, CitiBank… sau khi thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài cũng muốn tham gia thị trường còn sơ khai này. Các ngân hàng quốc doanh, hay chuyển đổi cổ phần hoá cũng đã có nhứng chiến lược lâu dài, thời kỳ cho phát triển ngân hàng bán lẻ.
Xem thêm

88 Đọc thêm

Chuyên đề thực tập: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngô Quyền VPbank

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÔ QUYỀN VPBANK

Phát triển kinh tế là mục tiêu cho tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Với chủ trưởng đổi mới chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức để tiến tới mục tiêu CNH HĐH trong tương lai, trong đó có việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư và phát triển. Kênh dẫn vốn chính của xã hội đó là hệ thông ngân hàng. Do vậy muốn thu hút được nhiều vốn trước hết phải làm tốt công tác tín dụng . Hơn thế nữa trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thành phần kinh tế doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm vị trí rất quan trọng. Để có thể đầu tư mở rộng quy mô và mua trang thiệt bị cũng như tham gia các quan hệ xã hội khác, các DNVVN cần có vốn và ngân hàng thương mai chính là một nơi đáp ứng nhu cầu đó.Là một trong những ngân hàng ngoài quốc doanh đầu tiên ở Việt Nam, ngân hàng cổ phần thương mại Việt Nam thịnh vượng VpBank đã luôn cố gắng góp sức mình vào sự phát triển kinh tế của nước nhà. Vpbank đã xác định khách hàng mục tiêu của ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và luôn chú trọng phát triện tập trung vào thị trường này để đáp ứng được tối đa nhu cầu về vốn không ngừng phát triển của các DNVVN. Tuy cũng đã đạt được nhiều thành tựu không nhỏ, nhưng Vpbank vẫn vấp phải một số hạn chế nhất định làm cho hiệu quả cho vay của ngân hàng ảnh hưởng phần nào .Xuất phát từ những luận cứ và thực tế khảo sát tình hình cho vay vốn tới DNVVN tại ngân hàng cổ phần thương mại Việt Nam thịnh vượng Vpbank chi nhánh Ngô Quyền cùng với sự hướng dẫn của tiến sĩ Nguyên Thành Hiếu , em xin mạnh dạn chọn đề tài : “ Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngô Quyền VPbank ”, nhằm mục đích tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả về cả chất và lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh.
Xem thêm

50 Đọc thêm

GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG NAM VIỆT TRÌ

GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG NAM VIỆT TRÌ

Trải qua hơn mười năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế dưới sự khởi xướng và lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, nền kinh tế phát triển vượt bậc tạo tiền đề vững chác bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong sự thành công đó chúng ta lưu ý đến sự đóng góp của hai nhân tố quan trọng sau:
Một là sự đóng góp của hệ thống ngân hàng thương mại. Có thể nói rằng muốn đổi mới kinh tế cần phải đổi mới ngân hàng trước một bước. Trong những năm qua ngân hàng đã từng bước cải tổ hoạt động của mình, hoà nhập với cơ chế kinh tế mới. Các ngân hàng đã tập trung một lượng vốn lớn rồi đầu tư và thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển.
Hai là sự đóng góp của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng và nhà nước đã tạo tiền đề khách quan cho sự khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với nhiều ưu thế và tiềm năng sẵn có nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường , ngày càng khẳng định vị trí quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Hai nhân tố trên luôn quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình cùng phát triển. Ngân hàng cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động nhưng đồng thời các thành phần kinh tế này giúp ngân hàng mở rộng được quy mô đầu tư, tăng thu nhập. Tuy nhiên trong quá trình kinh doanh các ngân hàng còn gặp nhiều vướng mắc và rủi ro. Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh những nguy cơ tiềm ẩn là rất lớn ví dụ như: sự không trung thực của khách, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, trình độ quản lý kinh doanh còn nhiều hạn chế, nguy cơ phá sản...Tất cả những điều đó đều có thể biến một khoản cho vay của ngân hàng thành một khoản nợ khó đòi, thậm chí bị mất trắng.
Vậy vấn đề đặt ra cho các ngân hàng thương mại hiện nay là: làm thế nào để đảm bảo an toàn vốn,hạn chế rủi ro khi cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh ,mang lại hiệu quả cao trong đầu tư.
Xuất phát từ lý do trên , trong thời gian thực tập tìm hiểu nghiên cứu tại ngân hàng công thương nam Việt Trì tôi mạnh dạn chọn đề tài:
Giải pháp đảm bảo an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương nam Việt Trì
Kết cấu của chuyên đề bao gồm các phần chính sau:
CHƯƠNG I TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG NAM VIỆT TRÌ
CHƯƠNG IIICÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO ĐẢM AN TOÀN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG NAM VIỆT TRÌ.
Xem thêm

83 Đọc thêm

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của một quốc gia. Kinh tế phát triển và ổn định là nhờ có một chính sách tiền tệ ổn định, đúng đắn và có một hệ thống ngân hàng vững mạnh. Kể từ khi được thành lập cho đến nay, hệ thống ngân hàng luôn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Với nghiệp vụ huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư để cho vay, ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu về vốn ngày càng tăng của các thành phần kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngân hàng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng, an toàn hiệu quả và tuân thủ pháp luật. Với phương châm đi vay để cho vay, hệ thống ngân hàng đã trở thành trung gian điều hoà, phân phối vốn có hiệu quả nhất trong nền kinh tế.
Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, mở cửa nền kinh tế, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới nền kinh tế có đòi hỏi phải có một khối lượng lớn, vững chắc, nhằm đáp ứng được nhu cầu vốn ngày càng tăng. Bên cạnh các hình thức huy động của Chính phủ thì huy động vốn qua ngân hàng là một hình thức chiếm vị trí không nhỏ. Ngân hàng chính là nơi tích tụ, tập trung vốn, khơi dậy các nguồn lực kinh tế. Hệ thống ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong chiến lược phát triển kinh tế, mục đích chung của toàn Đảng, toàn dân ta là đẩy lùi đói nghèo, tăng trưởng kinh tế vững mạnh, đi lên công nghiệp hoá, thoát khỏi sự tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngân hàng đang nỗ lực tiến hành các hoạt động, góp phần ổn định kinh tế, đẩy lùi lạm phát bằng sự đổi mới sâu sắc cả về hệ thống tổ chức lẫn phương thức hoạt động, đã tạo nên sắc thái hoàn toàn mới trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, để tạo được một bước chuyển mới trong nền kinh tế, công tác huy động vốn của các ngân hàng đang đứng trước một thách thức không nhỏ. Nó đòi hỏi các ngân hàng phải quan tâm sâu sắc tới công tác huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công tác này.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn vốn nói chung và nguồn vốn huy động nói riêng. Vận dụng những kiến thức được tiếp thu, trau dồi trong quá trình học tập, cùng với quá trình tìm hiểu thực tế tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, đặc biệt dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn Th.s Phan Thị Hanh, giảng viên trường Đại học kinh tế Quốc dân, em đã chọn đề tài: "Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn" để hoàn thành đề tài thực tập của mình.
Xem thêm

65 Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI TÍN

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI TÍN

Hoạt động tín dụng của các ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Nó huy động vốn nhàn rỗi trong các tổ chức, cá nhân rồi phân phối chúng lại cho các cá nhân tổ chức có nhu cầu vốn. Từ đó các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra nhanh chóng hơn mang lại lợi ích cho xã hội. Trong kinh doanh ngân hàng, việc đương đầu với RRTD là điều không thể tránh khỏi. Thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là yêu cầu khách quan hợp lý. Vấn đề là làm thế nào để hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được.Cùng với sự phát triển của Ngân hàng Đại tín nói chung và hội sở nói riêng. Trong những năm qua hội sở đã đóng vai trò nồng cốt góp vào thành công chung của hệ thống. Hội sở đạt được nhiều thành quả to lớn là do sự nỗ lực rất lớn của tập thể cán bộ nhân viên của ngân hàng. RRTD và quản lý RRTD là vấn đề rất khó khăn và phức tạp đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Để quản lý RRTD hiệu quả, ngân hàng cần có cách nhìn đúng, từ đó có phương hướng, cách thức quản lý rủi ro hữu hiệu.RRTD có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở VN. Trong phạm vi tầm tay của các ngân hàng, RRTD phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay. Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của CBTD và nhân viên của họ và các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất. Do vậy biện pháp phòng ngừa RRTD sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công việc. Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản lý RRTD của ngành ngân hàng coi như đã thực hiện được hơn một nửa. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài đã đưa ra những lý luận chung về tín dụng, RRTD, biện pháp quản lý RRTD. Từ đó phân tích thực tiễn RRTD tại ngân hàng Đại Tín. Kết quả phân tích cho thấy ngân hàng có mức RRTD thấp. Chứng tỏ chính sách tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua khá hợp lý. Tuy nhiên ngân hàng vẫn tồn tại tỷ lệ nợ quá hạn nhất định. Và KH của ngân hàng phân bố quá tập trung vào KT cá thể , trong khi các TPKT khác chiếm tỷ trọng thấp. Như vậy là danh mục khách hàng chưa đủ rộng, chưa cân đối. Ngân hàng nên thu hút nhiều khách hàng thuộc đủ mọi TPKT để KH phân bố đồng đều hơn, tạo điều kiện hạn chế rủi RRTD.Trong tình hình hiện nay ngân hàng đang mở rộng quy mô hoạt động, đổi mới về nhiều mặt. Do đó tôi đề xuất thêm một số biện pháp quản lý RRTD như mô hình 6C, mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình điểm số Z. Các mô hình này đang được ứng dụng ở các nước trên thế giới, ngân hàng có thể nghiên cứu để áp dụng mô hình thích hợp nhất.
Xem thêm

82 Đọc thêm

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG MB

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG MB

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG MB
Nội dung
Giới thiệu ngân hàng MB
Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
Đánh giá mức độ tập trung danh mục tín dụng
Kết luận
I. Giới thiệu ngân hàng MB
Được thành lập ngày 4111994 trụ sở tại 28, Điện Biên Phủ, Hà Nội với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và bao gồm 25 cán bộ nhân viên.
Năm 2012, Tổng tài sản của MB là 175 610 tỷ đồng và Lợi nhuận trước thuế là 3090 tỷ đồng, dẫn đầu trong khối các NH TMCP, TOP 5 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam.
Chiến lược: “ Ngân hàng thuận tiện với khách hàng” => hướng đến vị trí top 3 NH TMCP hàng đầu VN vào năm 2015.
II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
Tình hình dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ năm 2012
II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
Tình hình dư nợ quá hạn
Chiếm 1,85% < 3%  rủi ro tín dụng của MB là tương đối thấp, khả năng thu hồi nợ là cao.
Tăng 0,25% so với năm 2011 do tốc độ tăng của nợ xấu lớn hơn tốc độ tăng của tổng dư nợ và cơ cấu nợ mất cân đối
Tổng nợ xấu năm 2012 là 1371,637 tỷ, tăng 46,3%.
Nợ dưới tiêu chuẩn giảm nhẹ, nợ có khả năng mất vốn tăng 23%
Nợ nghi ngờ tăng gần gấp 4 lầnchuyển sang nợ có khả năng mất vốnđe dọa lớn trong việc thu hồi nợ của ngân hàngchất lượng tín dụng có dấu hiệu giảm rõ rệt, chính sách tín dụng, thẩm định tín dụng chưa phát huy hiệu quả cao, rủi ro trong cơ cấu nợ luôn tiềm ẩn.

II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
Tình hình dư nợ quá hạn
Tổng dư nợ năm 2012 là 74,564 tỷ tăng 27,4%, nợ đủ tiêu chuẩn vẫn chiếm tỷ trọng ổn định và cao nhất 94%
Tỷ trọng nợ có khả năng mất vốn giảm (từ 0,85% còn 0,04%) kiểm soát khá tốt nợ nhóm 5 hay tổng dư nợ nói chung
Dư nợ cho vay đối với ngành bất động sản giảm mạnh từ 9,59% xuống 8,22%giảm thiểu rủi ro tín dụng đối với ngành bất động sản
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của MB 2 năm 2011 và 2012 ở mức chấp nhận được, khả năng kiểm soát nợ xấu của ngân hàng khá tốt
II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
Tình hình rủi ro mất vốn
Tỷ lệ dự phòng RRTD


Trong đó:
Dự phòng RRTD được trích lập= số dư dự phòng đầu kì + số trích lập trong kì – dự phòng đã được xử lý
Số dự phòng cụ thể đối với từng khoản vay = MAX(0, AC)
(A là số tiền vay, C là giá trị Trị thu hồi từ TSĐB)
Cho biết mức chênh lệch giữa số tiền mà ngân hàng bị mất nếu khách hàng vỡ nợ so với tổng dư nợ cho vay.


II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
Tình hình rủi ro mất vốn
Tỷ lệ mất vốn


Cho biết số vốn mà ngân hàng đã bị mất do không có khả năng thu hồi từ các khoản vay
Tỷ lệ này tăng mạnh  khả năng thu hồi các khoản cho vay của ngân hàng đã kém đi, chất lượng tín dụng đang xấu đi.
Các khoản cho vay từ các năm trước, do sự quản lý thiếu chặt chẽ nên đến năm 2012 sau các lần điều chỉnh, cơ cấu lại nợ ngân hàng đã buộc phải thanh lý TSBĐ và xử lý các khoản nợ xấu này
II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
3. Khả năng bù đắp rủi ro
Hệ số khả năng bù đắp RRTD


Dự phòng RRTD được trích lập = Số dư dự phòng đầu kỳ + số trích lập trong kỳ số dự phòng đã được xử lý 
Nợ quá hạn khó đòi = Tổng dư nợ Nợ đủ tiêu chuẩn
II. Các chỉ số đánh giá RRTD của NH
III. Đánh giá mức độ tập trung danh mục tín dụng
Tình hình cho vay theo lĩnh vực nhạy cảm


Vốn điều lệ của MB năm 2011 và 2012 lần lượt là 7300 tỷ đồng và 10000 tỷ đồng

III. Đánh giá mức độ tập trung danh mục tín dụng
2. Tỷ trọng cho vay ngành lớn nhất




Vốn cấp 1 = vốn điều lệ + thặng dư vốn cổ phần + Quỹ trích lập từ LN sau thuế + LN chưa phân phối 31122012 vốn cấp 1 của MBbank = 10000+ 338,42+ 989,27+ 1479,32 = 12807 tỷ đồng
31122011 vốn cấp 1 của MBbank= 7300+ 253,76+ 792,24+ 1244 = 9590 tỷ đồng
III. Đánh giá mức độ tập trung danh mục tín dụng
Thứ nhất, ta thấy dư nợ của 3 ngành mà MB bank cho vay nhiều nhất chiếm tới trên 50% tổng dư nợ, và dư nợ từng ngành so với vốn cấp 1 thì đều ở mức cao trên 80% cho thấy sự tập trung danh mục cho vay là rất cao
3. 20% khách hàng lớn nhất.
Gần 90% đối tượng khách hàng vay vốn là doanh nghiệp, trong đó SOE chiếm hơn 20% (nhóm các doanh nghiệp Nhà nước)
Tỷ trọng cho vay SME chiếm khoảng 60% tổng dư nợ (nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ)
IV. Kết luận
Mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng MB tốt
Rủi ro của MB đang có xu hướng tăng lên qua các chỉ số vào năm 2013.
MB có mức độ tập trung danh mục tín dụng khá cao gặp nhiều rủi ro hơn
Mức độ tập trung thông qua một số ngành trọng điểm và chủ yếu là cho vay ngắn hạn => MB cần đánh giá lại các hạng mục tín dụng để phân tán rủi ro.
Nhóm BFG
THANKS FOR LISTENING
Xem thêm

16 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SỸ: HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ: HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trong quá trình hội nhập và phát triển, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Để đạt được mục tiêu trên thì nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đều cần đến vốn. Ngân hàng thương mại với chức năng là trung gian tài chính với vai trò huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Để tạo dựng cho mình một năng lực cạnh tranh đủ mạnh và bền vững, quản lý huy động vốn là công cụ quan trọng để thực hiện được mục tiêu huy động vốn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Quản lý huy động vốn thông qua lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá thường xuyên công tác huy động vốn giúp cho ngân hàng thực hiện hoạt động huy động vốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn nói riêng và hoạt đông kinh doanh của ngân hàng nói chung.
Với mục tiêu chủ yếu là tiếp tục giữ vững, phát huy vai trò là Ngân hàng thương mại hàng đầu, chủ lực trên thị trường tài chính, tiền tệ ở Việt Nam, đặc biệt là giữ vững vai trò chủ đạo chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn đồng thời bứt phá và cạnh tranh thành công tại khu vực đô thị. Trong những năm qua, hoạt động huy động vốn của AGRIBANK được coi trọng và đã đạt được một số thành công. Song bên cạnh những thành công và kết quả đạt được thì hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong công tác huy động vốn đặc biệt là vấn đề quản lý huy động vốn; vốn huy động còn thiếu, còn nhiều bất cập về quy mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu nguồn vốn, lãi suất, chính sách huy động vốn … đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình thành khoản và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” nhằm giải quyết, khắc phục những tồn tại nêu trên.
Xem thêm

125 Đọc thêm

Hoàn thiện quản lý của ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.PDF

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM.PDF

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vốn là yếu tố không thể thiếu, là điều kiện tiền đề cho sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế nói chung, cho quá trình hoạt động của một doanh nghiệp nói riêng.
Đối với các ngân hàng thương mại (NHTM), quy mô vốn quyết định sức cạnh tranh
và tác động trực tiếp đến việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Nguồn vốn trong NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn đi vay và vốn huy động
trong dân cư và các tổ chức, trong đó vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
nhưng lại có vai trò quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động ổn định. Uy tín
của một ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực vốn chủ sở hữu cũng như khả
năng sử dụng, vận hành hiệu quả tiềm lực đó trong hoạt động của ngân hàng. Điều
này chỉ phát huy tác dụng khi ngân hàng thương mại thực hiện tốt các yêu cầu quản
lý vốn chủ sở hữu của ngân hàng trung ương (NHTW) thông qua việc ban hành cơ
chế chính sách và kiểm tra giám sát việc thực hiện của các NHTM.
NHTW quản lý vốn chủ sở hữu của các NHTM nhằm đảm bảo các NHTM
đáp ứng các quy định về an toàn. Hiệp ước quốc tế về đo lường vốn và các chuẩn
mực về vốn, thường gọi là Hiệp ước vốn Basel, đã đưa ra các chuẩn mực tính toán
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), chuẩn mực quản trị rủi ro thị trường, rủi ro hoạt
động và cơ chế giám sát. Kể từ Basel 1, đến nay là Basel 3 (ban hành ngày
12/09/2010), các NHTM không chỉ tuân thủ các quy định về việc tính toán mức vốn
chủ sở hữu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu so với tài sản có rủi ro, mà nhiều ngân
hàng hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con tiến thêm một bước trong
việc tuân thủ 29 nguyên tắc thanh tra cơ bản của Ủy ban Basel. Theo Basel 2, tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu là 8%, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng tỷ lệ này phổ biến
theo tiêu chuẩn Basel 2 đã ở mức 12% - 13%.
Tại Việt Nam, ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN) có chức năng là ngân
hàng của các ngân hàng, đồng thời là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền
tệ - ngân hàng nhằm đảm bảo cho hệ thống NHTM hoạt động an toàn và đúng các
quy định của pháp luật. Hoạt động quản lý của NHNN Việt Nam bao gồm: cấp phép thành lập, kinh doanh (cho một hoạt động cụ thể), đưa ra các chính sách an toàn mà
các NHTM phải tuân thủ, thanh tra, giám sát và xử lý các ngân hàng yếu kém...
Trong những nội dung này, quy định và quản lý các tỷ lệ an toàn vốn của các
NHTM đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ thống NHTM phát triển an
toàn và lành mạnh. Hoạt động quản lý vốn chủ sở hữu nói riêng và quản lý NHTM
nói chung của NHNN được thực hiện theo quy định của pháp luật và hướng tới thực
hiện các yêu cầu mà Ủy ban Basel 2 đưa ra. Vốn chủ sở hữu của nhiều NHTM
không chỉ thuộc sở hữu riêng của NHTM, mà còn thuộc sở hữu của Nhà nước
(NHNN). Hiện nay, NHNN đang nắm giữ 113.000 tỷ đồng vốn chủ sở hữu của 07
NHTM, chiếm ¼ số vốn chủ sở hữu của cả hệ thống. Đối với các NHTM cổ phần
vốn chủ sở hữu do các cá nhân, có thể là của tư nhân hoặc các tổ chức pháp nhân ở
trong và ngoài nước đóng góp. Mặc dù đa số NHTM vượt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
theo quy định của Thông tư 36/2014/TT-NHNN là 9% giữa vốn chủ sở hữu so với
tổng tài sản có rủi ro, thay vì 8% như quy định tại Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN
về việc quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín
dụng. Song vấn đề đặt ra là hệ thống NHTM Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ
ngay trong vấn đề vốn sở hữu, thể hiện qua vốn tự có thực và mức độ phức tạp
trong hoạt động của các NHTM Việt Nam; trong khi thanh tra giám sát hoạt động
của các NHTM còn nhiều bất cập. Điều này khiến việc tính toán tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu và các tỷ lệ an toàn khác không phản ánh chính xác thực trạng vốn trong hệ
thống ngân hàng. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam đặt
ra nhiều thách thức trong quản lý các NHTM trong và sau khi tái cơ cấu, nhất là
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam theo các
cam kết quốc tế. Do đó, hoạt động quản lý của NHNN đối với vốn chủ sở hữu của
các NHTM đứng trước nhiều khó khăn khi quản lý về huy động vốn, thanh tra kiểm
soát về tổ chức bộ máy, nhân sự điều hành cũng như các tỷ lệ an toàn...
Qua trình bày trên cho thấy, cần có những luận cứ khoa học chứng minh sự cần thiết
phải hoàn thiện công tác quản lý của NHNN đối với vốn chủ sở hữu của các NHTM tại Việt
Nam và những luận cứ khoa học nhằm đưa ra những gợi ý chính sách, kiến nghị, giải pháp
cho NHNN Việt Nam trong việc quản lý vốn chủ sở hữu của các NHTM tại Việt Nam.
Xem thêm

191 Đọc thêm

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ khai thác vốn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn láng hạ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ KHAI THÁC VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN LÁNG HẠ

Hoạt động của Ngân hàng gắn liền với cơ chế quản lý kinh tế việc chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi hoạt động của Ngân Hàng phải là đòn bảy kinh tế, là công cụ kiềm chế và đầy lùi lạm phát nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Hệ thống Ngân hàng đã được cải tổ và hoạt động có hiệu quả, đóng vai trò nòng cót trên thị trường tiền tệ. Chiến lược kinh tế của Nhà nước đã chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tiền tệ nhằm thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2010”
Chức năng nhiệm vụ to lớn trên của Ngân hàng đặt ra cho ngân hàng phải kành mạnh về tài chính, vững chắc về quản lý của mình. Hoạt động của ngân hàng chủ yếu là huy động vôn và sử dụng nguồn, nên việc nghiên cứu nghiệp vụ khai thác vốn nhằm nâng cao hịêu quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng luôn là vấn đề đặt ra trong công tác quản lý của cán bộ lãnh đạo ngân hàng.
Với mục tiêu gắn liền với lý luận khoa học và thực tiễn qua quá trình thực tập thại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng hạ, được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, của cán bộ nhân viên phòng kinh doanh và phòng kế toán, đồng thời có sự góp ý kiến tận tình của cô giáo Trần Thị Thuý Sửu, tôi đã cân nhắc và chọ đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ khai thác vốn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Láng Hạ.”
Xem thêm

51 Đọc thêm

Cùng chủ đề