QUOT BO QUOT THEO QUAN NIEM CUA Y HOC HIEN DAI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUOT BO QUOT THEO QUAN NIEM CUA Y HOC HIEN DAI":

PHÂN TÍCH BÀI THƠ "VỘI VÀNG" CỦA XUÂN DIỆU

PHÂN TÍCH BÀI THƠ "VỘI VÀNG" CỦA XUÂN DIỆU

Bài 1: Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc "hăm hở" làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu, sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", và "Thơ duyên" trong tuyển tập "Thơ thơ" - đứa con đầu lòng mà "ông hoàng thơ tình" đã ban tặng cho nhân gian. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ, thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó, để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng, giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm, tâm của hồn của cái "TÔI" trữ tình Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào...thật đến từng hơi thở! Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. Từ nghìn năm tước, các bậc tiền bối đã có những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu, đó là điều thật mới mẻ, thật mãnh liệt. Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ. Trong thơ ca trung đại, nét nổi bật là tính phi ngã, cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau những hình tượng thiên nhiên. Trong khi đó, Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo: "Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất, Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi." Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới, quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa, thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi mây gió trăng hoa, thì trong quan niệm thơ của Xuân Diệu, cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất, là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới, khác giới, một niềm khát khao giao cảm với đời, một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy. Dường như lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông đã biến cái ham muốn "tắt nắng", "buộc gió" trở nên quá táo bạo, đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời, cảnh vật...muốn ôm tất cả, muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. Ước muốn níu giữ thời gian, chặn vòng quay của vũ trụ,đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa. Nhưng trong cái phi lí đó, vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống. Với ông, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, kỳ diệu, sống là để tận hưởng và tận hiến. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất, một bữa tiệc lớn của trần gian. Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong "Vột vàng" vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khêu gợi. Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”: "Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si." Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.Nếu thơ xưa, các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. Trong đoạn thơ, điệp ngữ "này đây" được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập, là một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạ lẫm, như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nội xanh “rì”, nào là lá của cành tơ “phơ phất”, của yến anh là khúc tình “si”; thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những "món ăn" có sẵn. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu - cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống. Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hãnh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật, trong đất trời và của muôn loài. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5). Đặc biệt là những hình ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách XD: tuần tháng mật, đồng nội xanh rì ... tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say! Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân." Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời - vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng mạn đến thế. Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nhìn thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui. Hình ảnh "thần vui hằng gõ cửa" gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian "tháng giêng" so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu. Nó dẫn nhà thơ đến những suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian: "tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn ..." Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa". Về hình thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng, 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là "vội vàng một nửa". Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. Ở đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc, đã vội càng "Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân." Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu: "Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua. Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già. Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm," Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí, vừa hợp lí, vừa quen lại vừa lạ. Quen vì người xưa đã từng thở dài "xuất thì bất tái lai". Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu là tất cả sự sống của mình. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, thi sĩ bâng khuâng, tiếc nuối ... Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” vì xa cách, phải “sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”, còn “chim” thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?" Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn... Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian. Con người ấy lúc nào cũng "chẳng bao giờ nữa..." Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng: Trong đoạn thơ này, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời "thơ thơ" thể hiện đầy đủ nhất. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết mình. Con tim ấy của một cái tôi trữ tình từng bộc bạch một cách chân thành. "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ - mà vạn vật là muôn đá nam châm." Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. So với đoạn thơ trên, cách tự xưng của nhân vật trữ tình thay đổi. Phần đầu bài thơ, thi sĩ xưng "tôi" - cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. Đến đây, thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:"Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. - Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm," "Ta muốn ôm. Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì - sự sống giữa thời tươi vào lòng. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham hố đang dứng giữa trần gian, cuộc đời, dòng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng, thâu cho đã đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân... Tất thảy đều vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mãnh liệt với vạn vật, với cuộc đời. Đây quả là một khát khao vô biên, tuyệt đích, rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng bột, đắm say. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào, ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm: ôm, riết, say, thâu. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước, và cây, và cỏ rạng." Một trạng thái tham lam, ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. Tròn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân. Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân - tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc. Trong câu thơ này, hình ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng, là ham muốn không có giới hạn. Với bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". Mới lạ nhưng táo bạo, độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ... Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu - vội vã với nhịp đập của thời gian. Bài 2:
Xem thêm

4 Đọc thêm

Phân tích truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn

PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN "THUỐC" CỦA LỖ TẤN

1- Tác giả Lỗ Tấn. - Lỗ Tấn ( 1881-1936 ) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người cha lâm bệnh mà chết vì không có thuốc, Lỗ Tấn ôm ấp nguyện vọng học nghề thuốc, để chữa bệnh cho những người nghèo như cha mình. - Tuổi trẻ Lỗ Tấn nhiều lần đổi nghề để tìm con đường cống hiến cho dân tộc: nghề hàng hải, khai mỏ rồi chuyển sang nghề y. Đang học nghành y ở Nhật, một lần xem phim ông thấy những người Trung Quốc khoẻ mạnh hớn hở đi xem quân Nhật chém một người Trung Quốc chống Nhật. Ông giật mình nhận ra rằng: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Và thế là ông chuyển sang làm văn nghệ để phanh phui căn bệnh tinh thần của quốc dân, lưu ý mọi người tìm cách chạy chữa. Con đường gian nan chọn nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn của lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại vừa nói lên tâm huyết của Lỗ Tấn với dân tộc. - Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc đầu thế kỉ XX: “Trước Lỗ Tấn , chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn, có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạc Nhược ). Ông được tôn vinh là linh hồn dân tộc. Ông chuyên vạch trần những thói hư tật xấu của nhân dân để mọi người tìm cách chạy chữa, tự phấn đấu vươn lên, tự cường dân tộc. Tác phẩm chính của Lỗ Tấn là AQ chính truyện, Cố hương… 2- Tác phẩm: a-Hoàn cảnh ra đời: Truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ Tứ ( Phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ của học sinh, sinh viên Bắc Kinh ) bùng nổ. b-Tóm tắt tác phẩm: Một đêm mùa thu gần về sáng, Lão Hoa đem số tiền vợ chồng dành dụm được ra pháp trường, gặp đao phủ mua một cái bánh tẩm máu tử tù về cho thằng Thuyên ,con trai lão ăn để chữa bệnh lao. (Mua thuốc, uống thuốc )(người kể chuyện là lão Hoa) Trời sáng, quán trà của vợ chồng lão Hoa đông khách dần , mọi người bàn tán về cái chết của tử tù. Tử tù là Hạ Du, một người cách mạng bị xử chém vì chống Nhật. Mọi người cho Hạ Du là thằng điên, thằng khốn nạn và khen Cụ Ba là khôn vì đã tố cáo cháu mình để lấy tiền thưởng. Họ cũng cho vợ chồng lão Hoa là may vì tìm được máu để tẩm bánh bao làm thuốc (bàn về thuốc). (người kể chuyện biết tuốt) Tiết thanh minh vào mùa xuân năm sau, bà Hoa đi thăm mộ con ( thằng Thuyên vẫn chết vì bệnh lao dù đã ăn bánh bao tẩm máu người). Bà gặp bà mẹ của Hạ Du. Mẹ Hạ Du lúc đầu còn ngại ngùng, nhưng sau đó bà Hoa đã bước qua ranh giới phân chia khu nghĩa địa dành cho dành cho người nghèo sang khu dành cho ngưòi chết chém để an ủi mẹ Hạ Du. Cả hai bà mẹ đều hết sức kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa (hậu quả của thuốc). (người kể chuyện là bà Hoa) II – Phân tích : 1-Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người: Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa. -Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh, chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ. -Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn, đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác. Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. -Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ. Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước, cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng. Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại: nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”. 2- Các nhân vật: a-Hình ảnh đám đông quần chúng: -Buổi sáng sớm, ở pháp trường, lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù về chữa bệnh cho con thì bị một đám đông xô đẩy nhau ào ào, chen bật lão suýt ngã. Đó là những người đi xem hành hình nhà cách mạng Hạ Du. Đám đông này khiến ta liên tưởng đến đám đông đi xem hành hình một người Trung Quốc chống Nhật khiến Lỗ Tấn đi đến quyết định: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân. -Khi trời sáng hẳn, ở quán trà đã đông khách của lão Hoa, Cậu Năm Gù, Cả Khang ,người râu hoa râm… cùng bàn tán về cái chết của Hạ Du với thái độ miệt thị. Họ cho anh là cái “thằng khốn nạn”, “hắn điên thật rồi”. Và họ cho rằng trong cái chết của Hạ Du có hai người gặp may. May nhất là Cụ Ba nhờ tố cáo cháu mình nên được thưởng một số tiền lớn mà gia đình khỏi bị liên luỵ, còn lão Hoa thì có máu Hạ Du để chấm bánh bao làm thuốc chữa bệnh cho thằng Thuyên. Tóm lại, qua hai sự việc trên, và bằng ngôn ngữ của người kể chuyện, ta thấy đám đông quần chúng thật là mê muội. Sự hiểu biết và thái độ của họ về những vấn đề của đất nước, về bệnh tật, về cuộc đời còn quá hạn chế. Nói như Lỗ Tấn thì họ đang “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ. Phải làm thế nào đó để thức tỉnh họ. Ta cũng thấy nhân vật Hạ Du là một người yêu nước nhưng anh cũng thật cô đơn. b-Nhân vật Hạ Du: Nhân vật Hạ Du không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà được giới thiệu thông qua các nhân vật khác và qua thái độ của người kể chuyện. Hạ Du là một người yêu nước, một nhà cách mạng tiên phong, dũng cảm xả thân vì nghĩa lớn. Nhưng anh rất cô đơn, không ai hiểu anh kể cả mẹ anh. Anh đã đổ máu vì quần chúng thế mà họ lại lấy máu anh để tẩm bánh bao chữa bệnh lao. Hạ Du chính là hình ảnh tượng trưng của cuộc cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng góp phần đánh đổ chế độ phong kiến Trung Quốc nhưng lại xa rời quần chúng nên thất bại. Qua hình tượng Hạ Du, Lỗ Tấn muốn bày tỏ lòng kính trọng với cuộc cách mạng này. 3-Cảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con: -Thời gian nghệ thuật của truyện tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con. Cái chết của hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng. Thời gian nghệ thuật đã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả. -Nghĩa địa của làng mộ dày khít như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ, có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải. Con đường mòn là biểu tượng cho một tập quán xấu đã trở thành thói quen. Hai bà mẹ đã bước qua con đường mòn để đến gặp nhau vì đồng cảm ở tình thương con sâu sắc. -Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa: “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Bà mẹ Hạ Du cứ lẩm bẩm câu hỏi “Thế này là thế nào?”. Câu hỏi vừa hàm chứa sự sửng sốt, vừa ẩn giấu niềm vui vì có người đã hiểu con mình. Đồng thời đã là câu hỏi thì đòi hỏi có câu trả lời. Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong. 2- Đặc sắc nghệ thuật: -Truyện có lối viết cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng (chiếc bánh bao tẩm máu, vòng hoa, con đường mòn…) -Cách xây dựng nhân vật cũng rất đặc biệt: không đặt nhân vật cách mạng vào vị trí chủ yếu mà đặt ở tuyến ngầm phía sau nhân vật đám đông để khắc hoạ chủ đề thức tỉnh quần chúng của truyện. -Cách kể chuyện theo ngôi thứ ba truyền thống nhưng nhiều đoạn đã chuyển điểm nhìn trần thuật sang nhân vật làm cho truyện sinh động và giàu chất trữ tình hơn. Bài khác
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích "Con cò" của Chế Lan Viên

PHÂN TÍCH "CON CÒ" CỦA CHẾ LAN VIÊN

Bài thơ "Con cò" được sáng tác năm 1962, in trong tập thơ "Hoa ngày thường - Chim báo bão"(1967) của Chế Lan Viên. Viết "Con cò" nhà thơ thông qua một cánh cò tượng trưng dập dìu trong lời ru, câu hát thể hiện được tấm lòng yêu thương và những mong ước của người mẹ với đứa con còn bé thơ Bài thơ "Con cò" được sáng tác năm 1962, in trong tập thơ "Hoa ngày thường - Chim báo bão"(1967) của Chế Lan Viên. Viết "Con cò" nhà thơ thông qua một cánh cò tượng trưng dập dìu trong lời ru, câu hát thể hiện được tấm lòng yêu thương và những mong ước của người mẹ với đứa con còn bé thơ. Hình ảnh con cò qua bài thơ mang nhiều ý nghĩa tượng trưng, luôn luôn biến hoá trong tiếng hát về lời ru về con cò, trong cánh cò dập dìu bay lượn. Hình ảnh con cò tượng trưng cho tấm lòng trong trắng, cho những nỗi khổ của ngày qua, cho niềm vui và mơ ước hện nay, cho tình yêu thương rộng lớn của người mẹ cho cái bé bỏng côi cút của con thơ. Dường như, với tính chất tượng trưng con cò trong trường hợp nào cũng đúng cả, cũng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng . Bài thơ "Con cò" của Chế Lan Viên viết theo thể thơ tự do, các câu thơ dài ngắn không đều. Toàn bài gồm 51 dòng thơ được chia làm 3 đoạn. Có những dòng thơ 2 tiếng, 3 tiếng, 4 tiếng và cũng có dòng thơ 7,8 tiếng. Khổ thơ cũng không nhất định, khổ đầu 20 dòng ; khổ hai 14 dòng và khổ ba 17 dòng. Rõ ràng là tác giả không hạn định số chữ trong câu, cũng không hạn định số câu trong bài. Điều đó chứng tỏ tác giả đã xây dựng bài thơ theo mạch cảm xúc và đã góp phần khá rõ một số nét phong cách của Chế Lan Viên. Như ta đã biết, thơ tự do có những ưu thế nhất định riêng của nó, ưu thế ấy phát huy từ yếu tố "lượng" của bài thơ . Những bài thơ có lượng nhiều như các dòng 7,8 tiếng thì có "lượng"lớn thường nói được cái gì sâu lắng, còn những dòng lượng nhỏ như những dòng có 2,3 4 tiếng thì thích hợp để miêu tả những gì nhanh, mạnh gắn với lời nói thường ngày hơn. Ở bài thơ "Con cò", lượng thơ được tổ chức thích hợp với từng ý thơ, từng đoạn thơ. Nhịp thơ ở bài này chủ yếu là nhịp 2, nó trùng với dòng thơ có hai âm tiết và nó ngắt đôi những dòng thơ 4 âm tiết như ở đoạn thơ cuối và nó thường là nhịp kết thúc ở những dòng thơ có nhiều âm tiết. Do đó, nhìn toàn bài thơ "Con cò", ta thấy lượng thơ luôn luôn không ổn định, nhưng ta vẫn tìm thấy một cái ổn định khác nhất quán suốt cả bài thơ, tạo cho bài thơ một sự thống nhất từ bên trong, đó là nhịp 2, mặc dù nhịp thơ biến đổi và có nhiều câu thơ điệp lại tạo cho nhịp điệu gần với lời hát ru nhưng chủ yếu vẫn là nhịp hai. Kết hợp với yếu tố nhịp là cách gieo vần khá độc đáo trong bài thơ, những từ cuối nhịp đã tập trung được những nguyên âm mở và đóng xen kẽ nhau, kết hợp rất uyển chuyển với những âm tiết cuối nhịp có phụ âm vang (những âm tiết có phụ âm là : m, n...) và làm thành sự luân phiên các nhịp gần giống như nhịp đưa nôi, đệm cho những lời ru của mẹ... Cho nên, thường có những đoạn thơ bắt đầu bằng những câu thơ mang âm hưởng lời ru có nhịp ngắn, lặp lại về cấu trúc rồi đến những câu thơ dài âm vang mở ra với những liên tưởng xa rộng hoặc suy gẫm tính chất triết lý : Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. Câu thơ mang một ý nghĩa đúc kết như một phương châm, một triết lý về các mối quan hệ trong đời một con người, nói lên được cái lớn lao và tình yêu vô tận của lòng mẹ. Về mặt ý nghĩa, hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò được khai thác từ trong ca dao truyền thống mang ý nghĩa ẩn dụ. Ở đọan đầu bài thơ, tác giả có nhắc lại một số câu quen thuộc trong những bài ca dao xưa, nhưng không nhắc lại nguyên vẹn mà chỉ khai thác và xây dựng ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cò ở nội dung biểu trưng cho tấm lòng người mẹ và những lời hát ru. Ngay từ đầu bài thơ, tác giả giới thiệu : Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời me hát Có cánh cò đang bay "Con cò bay la Con cò bay lả Con cò Cổng phủ Con cò Đồng Đăng..." Hình ảnh con cò được gợi ra trực tiếp từ những câu ca dao dùng làm lời hát ru. Ở đây, nhà thơ chỉ dùng lại vài từ trong mỗi câu ca dao xưa vừa gợi lại lời hát ru, vừa gợi lại ít nhiều sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò :"Con cò bay lả, bay la - Bay từ Cổng phủ, bay ra cánh đồng" hay "Bay từ Cửa phủ bay về Đồng Đăng" chỉ gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc của cuộc sống đời xưa, từ nông thôn đến phố phường. Hình ảnh con cò gợi lên vẻ nhịp nhàng, thon thả, gợi lên nhịp điệu bình yên cuộc sống của cái thuở thanh bình ngày xưa ấy. Còn hình ảnh con cò trong bài ca dao : "Con cò mà đi ăn đêm... đau lòng cò con" lại có một nội dung và ý nghĩa tư tưởng khá sâu sắc. Con cò ở đây tượng trưng cho những con ngừơi, cụ thể là người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn, vất vả quanh năm : "Con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non" ; "Cái cò đi đón cơn mưa, tối tăm mù mịt ai đưa cò về". Với những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức. Cùng với nhịp điệu cơ bản của bài thơ như đã nói trên, có phải chăng đây chính là sự khởi đầu cho con đường đi vào thế giới tâm hồn con người của những lời ru : Nhưng trong lời mẹ hát Có cánh cò đang bay... của ca dao, dân ca và cũng qua đó là cả điệu tâm hồn dân tộc, đất nứơc.Ở tuổi ấu thơ, con chưa thể hiểu và cũng chưa cần hiểu nội dung, ý nghĩa của những lời ru mà chỉ cần đón nhận bằng trực giác, bằng vô thức, sự vỗ về, nâng niu trong những âm điệ ngọt ngào, tha thiết, dịu dàng của lời ru thể hiện tình yêu vô bờ bến và sự chở che của người mẹ : "Ngủ yên ! Ngủ yên ! Con ơi chớ sợ ! Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân Con chưa biết con cò, con vạc Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân." Nhịp hai và vần đóng, mở ngân vang xen kẽ nhau trong dòng thơ, kết hợp biện pháp tu từ nhân hoá, và biệân pháp tu từ so sánh đã tạo nên vẻ lạ cho câu thơ vàlàm cho ý thơ càng thêm sâu kín: Con chưa biết con cò con vạc. Con chưa biết những cành mềm mẹ hát, Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. Đoạn thơ khép lại bằng những hình ảnh thanh bình của cuộc sống, bằng những giấc nồng say của trẻ thơ. Qua kết cấu của bài thơ -Hình ảnh "con cò" từ trong lời ru của đoạn 1 đã đi vào tiềm thức của tuổi thơ ở đoạn 2 - hình ảnh con cò đã trở nên gần gũi thiết thân và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời và ở đâu hình ảnh con cò trong ca dao cũng tiếp tục được sự sống của nó trong tâm thức con người. Hình ảnh con cò đã được xây dựng bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú của nhà thơ, con cò được bay ra từ những câu ca dao để sống trong tâm hồn của trẻ thơ qua lời ru của mẹ, lời ru thấm đượm tình cảm thân thương trìu mến, lời ru nặng nghĩa, nặng tình : Ngủ yên ! Ngủ yên ! Ngủ yên ! Con cò trắng đến làm quen, Cò đứng ở quanh nôi Rồi cò vào trong tổ. "Cò vào trong tổ" hoà nhập cùng những ước mơ, khát vọng của tuổi thơ, hoà cùng chung những giấc mơ đẹp trong lời ru hiền hoà của mẹ, và rồi hình ảnh con cò qua lời ru đã đi theo cùng và nâng đỡ con người trong mỗi chặng đường, trong suốt cả cuộc đời : Cái cò ... Sung chát, đào chua... Câu ca mẹ hát gió đưa về trời Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru. (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Nguyễn Duy) Lời mẹ ru : "Con cò bay lả bay la - Bay từ cổng Phủ bay ra cánh đồng" "Con cò bay lả bay la - Bay từ cửa Phủ bay về Đồng Đăng" "Cái cò đi đón cơn mưa - Tối tăm mù mịt ai đưa cò về" "Cái cò mà đi ăn đêm..., Đừng xáo nước đục đau lòng cò con" Như thế, hình ảnh con cò đã trở thành biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng, thân thương và lo lắng xót xa, suy gẫm về cuộc đời của đưa con thơ một cách bền bỉ của người mẹ thương con : Trời mưa Quả dưa vẹo vọ Con ốc nằm co Con tôm đánh đáo Con cò kiếm ăn ... Và cánh cò cũng đã trở thành bạn đồng hành của con người trên suốt cả đường đời từ tuổi ấu thơ trong nôi : Con ngủ yên thì cò cũng ngủ, Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi. Và đến tuối tới trường : Mai khôn lớn, con theo cò đi học, Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân. Và cả đến lúc trưởng thành : Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà Và trong hơi mát câu văn. Đến đoạn 3, nhịp thơ thay đổi như dồn dập hẳn lên, hình ảnh con cò như được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con suốt đời : Dù ở gần con, Dù ở xa con, Lên rừng xuống bể, Cò sẽ tìm con, Cò mãi yêu con. Không gian nghệ thuật của bài thơ cũng góp phần biểu hiện sự phát triển của tứ thơ, của tình cảm và hành động của nhân vật trữ tình. Từ một không gian có giới hạn ngày càng rộng dần thêm đến một không gian tâm tưởng vừa bao la vừa sâu thẳm như chính lời hát lên từ trái tim người mẹ : Con dù lớn vẫn là con của mẹ, Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con. Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, nhà thơ đã khái quát, đúc kết một quy luật của tình cảm có ý nghĩa như một phương châm, một triết lý bền vững, rộng lớn và vô cùng sâu sắc. Đó cũng chính là một ưu thế của nhà thơ Chế Lan Viên khi viết về một suy tưởng đầy triết lý. Phần cuối bài thơ trở lại với âm hưởng lời ru và đúc kết ý nghĩa phong phú của hình tượng con cò trong những lời ru ấy : Một con cò thôi, Con cò mẹ hát, Cùng là cuộc đời, Vỗ cánh qua nôi. Lời ru ấy được lặp đi, lặp lại qua từng đoạn thơ đã tạo nên một nét nhạc vừa dân gian vừa hiện đại xuyên suốt bài thơ. Vẻ đẹp của hình ảnh con cò - một hình tượng thống nhất tuyệt vời giữa tình cảm, hành động và ước mơ qua lời ru của mẹ ngày càng được khắc thêm đậm nét. Sức biểu hiện của "con cò" cũng thật là phong phú. Có thể nói "Con cò" là một bài thơ hay. Thông qua cánh cò tượng trưng dập dìu trong lời thơ, câu hát, Chế Lan Viên muốn nói lên tấm lòng yêu thương và những mong ước của người mẹ với đứa con và chắc rằng có em bé nào lớn lên trong lời ru ấy mà không hiền hoà hiếu thảo, không nên người ! Ngày nay, mỗi lần đọc lại bài thơ "Con cò" vẫn gợi lên những rung động và suy nghĩ sâu sắc về công ơn sinh thành của người mẹ. Từ đó mỗi người chúng ta càng thấy rõ trách nhiệm của mình trước lòng mẹ bao la, dạt dào thân thương và trìu mến, trước cuộc sống hôm nay của đất nước. "Con cò" cùng với những bài thơ khác trong " Hoa ngày thường - Chim báo bão","Aùnh sáng phù sa" giúp chúng ta thấm thía hơn những "Trang đời, trang viết nặng nghĩa đời sau" của nhà thơ Chế Lan Viên.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÌM HIỂU BÀI " VIỆT BẮC" CỦA TỐ HỮU

TÌM HIỂU BÀI " VIỆT BẮC" CỦA TỐ HỮU

MỤC TIÊU : - Cảm nhận được một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nhất là nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước - Nghệ thuật bài thơ đậm đà tính dân tộc, làm dạt dào thêm tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam. I/Tìm hiểu chung 1/ Hoàn cảnh và mục đích sáng tác - Tháng 10/1954, Trung ương Đảng, Chính phủ về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Tố Hữu đã từng gắn bó với Việt Bắc trong suốt những năm kháng chiến. Nhà thơ đã viết bài thơ này. - Một trang sử mới của đất nước, một giai đoạn mới của cách mạng mở ra. Tố Hữu viết bài thơ này với xúc cảm của anh cán bộ kháng chiến. + Bài thơ nhằm tổng kết, tái hiện lại giai đoạn gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc, nó trở thành kỉ niệm khắc sâu lòng người. + Bài thơ là khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, đồng thời thể hiện tình cảm ân nghĩa thuỷ chung. + Bài thơ còn thể hiện những dự cảm, mong ước về tương lai giữa miền xuôi và miền ngược. - Đoạn trích SGK nằm trong phần đầu của bài thơ. Nửa sau của bài thơ chủ yếu nói về hẹn ước, tương lai giữa miền xuôi và miền ngược. 2/. Kết cầu của bài thơ - Kết cấu là thuật ngữ chỉ nội dung và hình thức của một tác phẩm văn học (thơ, văn). Những biểu hiện bên ngoài là hình thức bên trong là nội dung. - Bài thơ có kết cấu theo lối đối đáp của ca dao trữ tình. Thực chất nó là lối độc thoại, đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào về quá khứ. Nó nêu bật tình nghĩa thắm thiết của con người với cách mạng và kháng chiến. Nó còn là khát vọng về tương lai và nhiều dự cảm mới mẻ. - Lời đối đáp giữa mình, ta, kẻ ở người đi chỉ là sự phân thân của nhân vật trữ tình, chỉ là cách để tâm trạng bộc lộ đầy đủ hơn trong hô ứng, đồng vọng giữa hai con người tưởng tượng. - Bài thơ chia làm 2 phần. Đoạn trích thuộc phần đầu ôn lại những kỉ niệm đầy nghĩa tình sâu nặng của con người. Đó là tình cảm của anh cán bộ kháng chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc, tình cảm của Việt Bắc đối với cách mạng và kháng chiến. 3/. Cảm xúc chủ đạo của đoạn trích - Cảm xúc chủ đạo là tình cảm của nhân vật trữ tình Đoạn trích bộc lộ nỗi nhớ thương da diết của anh cán bộ kháng chiến với thiên nhiên và con người Việt Bắc. Đồng thời là khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến. Tình cảm ấy đọng lại niềm tin vào Đảng, vào Bác Hồ. II. Đọc hiểu văn bản 1. Cuộc chia tay - Nhà thơ tạo ra lời đối đáp giữa kẻ ở người đi + Việt Bắc hỏi: Mình về có nhớ ta chăng Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn + Anh cán bộ kháng chiến trả lời: “Tiến ai… hôm nay” - Sử dụng từ ngữ diễn tả trong tình yêu đôi lứa, vợ chồng + Mình (trở đi trở lại) + Ta - Bằng âm điệu ngọt ngào như lời ru trong thể thơ lục bát. Ba biện pháp nghệ thuật trên đây đã đưa người đọc vào thế giới tâm tình đầy ân nghĩa, trải dài trong không gian, thời gian tâm tưởng. - Lời của Việt Bắc lên tiếng trước. Đây là thể hiện sự nhạy cảm về tâm hồn trước hoàn cảnh đổi thay. Việt Bắc hỏi về thời gian “mười lăm năm ấy”, hỏi về không gian “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Hỏi về không gian và thời gian thường gợi kỉ niệm vừa gắn bó vừa sâu nặng. Nó chứng tỏ người dân Việt Bắc sống gần gủi với thiên nhiên, với những gì rất cụ thể. Lời hỏi của Việt Bắc đã khơi dậy bao kỉ niệm, khơi nguồn cho nỗi nhớ. Không gian và thời gian cụ thể “mười lăm năm” bỗng trở thành không gian và thời gian tâm tưởng. - Lời anh cán bộ kháng chiến. Chia tay với Việt Bắc, anh cán bộ kháng chiến thấy lòng mình bâng khuâng, xao xuyến. Hàng loạt những từ ngữ gợi tâm trạng: “bâng khuâng”, “bồn chồn”, “tha thiết”. Anh cất lên lời đáp. Lời đáp lại như một câu hỏi “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Biết rồi đấy mà vẫn hỏi. Một tiếng ai gợi ra sự gắn bó của người trong cuộc. Nó như lời giả từ của một người yêu với một người yêu. Hình ảnh “áo chàm” được lấy làm hoán dụ để chỉ người có áo, “áo chàm” màu áo không bao giờ phai nhạt ấy lại là biểu tượng cho tấm lòng son sắt thuỷ chung của đồng bào các dân tộc Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến. Cảm động nhất vẫn là hình ảnh “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Cuộc chia tay không nói nên lời. Nó lưu luyến bịn rịn.Ta cũng chẳng nghe tiếng họ nói những gì với nhau. Chỉ có đôi bàn tay nắm lấy bàn tay và nói giùm tất cả. Tạo ra sự đối đáp, nhà thơ đã dàn dựng được cảnh chia tay. Nhưng đó chỉ là hình thức kết cấu bên ngoài, còn ở chiều sâu chính là sự thống nhất của tình cảm trong tiếng nói chung. - Đó là cách sử dụng ngôn ngữ diễn tả cuộc chia tay. Nhà thơ sử dụng rất sáng tạo đại từ “mình” + “Mình” chỉ bản thân người nói (ngôi thứ nhất) nhưng ở văn cảnh này “mình” còn chỉ đối tượng giao tiếp. Một đối tượng gần gũi, gắn bó, thân thiết, người bạn đời yêu mến. “Mình” đã chuyển sang ngôi thứ 2 nhằm diễn tả quan hệ tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng. “Mình” được dùng ở nghĩa thứ hai (đối tượng trực tiếp trò chuyện). Nó góp phần tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa hai người – Anh cán bộ kháng chiến và đồng bào các dân tộc Việt Bắc. Ngôn ngữ vừa giản dị, mộc mạc diễn tả tình cảm chân thật, cuộc chia tay bịn rịn, lưu luyến đến bâng khuâng. - Để diễn tả cuộc chia tay đầy lưu luyến, nhà thơ sử dụng câu thơ lục bát cân xứng, nhịp nhàng phù hợp với tâm trạng bâng khuâng của con người trong cuộc tiễn đưa: - Mình về / mình có / nhớ chăng Mười lăm năm ấy / thiết tha mặn nồng Mình về / mình có / nhớ không Nhìn cây nhớ núi / nhìn sông nhớ nguồn - Tiếng ai / tha thiết / bên cồn Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi Áo chàm / đưa buổi / phân li Cầm tay nhau biết / nói gì hôm nay. Sự ngắt nhịp ấy chính là nhịp điệu tâm hồn. Nó tạo ra sự cộng hưởng, đồng vọng của cả người ở, người đi. Đó là nỗi nhớ da diểt, mênh mang với thiên nhiên, con người, với cách mạng và kháng chiến. 2. Nỗi nhớ da diết về thiên nhiên con người Việt Bắc - Trong đoạn trích có hơn 30 từ “nhớ” (cụ thể là 35 từ) - Tác dụng của việc lặp lại nhiều lần từ “nhớ”. + Về tâm lí, một hiện tượng, một âm thanh, một từ xuất hiện nhiều lần trước mắt ta, buộc ta phải chú ý. + Về ý nghĩa “nhớ” gắn liền với đối tượng cụ thể. Nó khắc sâu trong tâm trạng người đọc, người nghe về sắc thái tình cảm của con người. Khi diễn tả nỗi nhớ của anh cán bộ kháng chiến, khi là sự đồng vọng cùng nhớ về sự kiện cách mạng, kháng chiến. Nỗi nhớ mang nhiều cung bậc. - Đặc sắc của đoạn thơ là ở chỗ Tố Hữu tạo ra lối đối đáp trong tưởng tượng. Nhà thơ để Việt Bắc hỏi: + Mình đi, có nhớ? + Mình về, có nhớ? Mỗi cụm từ ấy xuất hiện tới ba lần. Nó xoáy sâu vào lòng người, gợi nỗi nhớ như dòng chảy. Thiên nhiên Việt Bắc hiện ra: “Trám bùi”, “măng mai” + Những mái nhà “hắt hiu lau xám” + Những địa danh cụ thể: “Tân Trào”, “Hồng Thái” + Những di tích lịch sử “mái đình, cây đa” Ba tiếng “mình” trong một câu thơ mang lại cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu thông thường mình (1), mình (2) chỉ người ra đi. Mình (3) chỉ người ở lại. Nhưng cũng có cách hiểu mình (1), mình (2), mình (3) chỉ là một đối tượng: người ra đi. Người ra đi tự hỏi mình, tự đối thoại với mình để đừng bao giờ quên Việt Bắc. Cũng có thể người ở lại nhắc người ra đi đừng có quên những ngày tháng, đừng quên chính mình, đánh mất mình. Thơ như thế thật dung dị mà sâu sắc. Đáp lại sự khẳng định: Ta với mình, mình với ta Mình ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Cũng là ba tiếng “mình”. Mình (1) và (2) chỉ người ra đi. Mình (3) chỉ người ở lại. Tiếng gọi ấy gần gũi, thân thiết quá. Ta nghe như người yêu nói với người yêu, tiếng của người bạn đời yêu dấu, tiếng của vợ, của chồng. Nhưng ba tiếng “mình” ấy cũng để chỉ người ra đi. Lời hứa trở nên mặn mà, đinh ninh, sâu sắc. Nhân vật trữ tình tự phân thân, lại hoà làm một xoáy sâu vào tiếng nói của tâm trạng để tìm sự đồng vọng của người đọc người nghe. - Đó là đoạn thơ: Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người …. Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung - Thiên nhiên thật tươi tắn “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Thiên nhiên mang vẻ đẹp riêng của Việt Bắc “Mùa xuân mơ nở trắng rừng” không ở đâu có được. Không chỉ có ở màu sắc đường nét mà cả âm vang sôi động: “ve kêu rừng phách đổ vàng”. - Cái hay, cái đẹp của đoạn thơ là sự kết hợp đến dung dị, cứ một câu tả về thiên nhiên là một câu nói về con người. + “Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng”: Con người thật bình dị, khoẻ khoắn trong lao động. Đến những câu: + “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” + “Nhớ cô em gái hái măng một mình” Con người cần mẫn trong công việc. Con người Việt Bắc thật vui, thật tươi sung sướng đón nhận cuộc sống hoà bình, không có tiếng súng, hạnh phúc đã trở về với họ “Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” - Đoạn thơ hay và tiêu biểu khi nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Thiên nhiên làm nền để bức chân dung phác thảo về con người hiện lên mồn một. Con người gần gũi với thiên nhiên, bình dị như thiên nhiên. - Nhớ về những con người lam lũ nghèo khổ: Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Tấm lưng người mẹ nghèo miền núi đã đi vào thơ không chỉ một mà nhiều người: Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm - Tiếng hát những em bé lớn trên lưng mẹ) Buổi chiều mẹ lên rẫy Thấy bóng cây Kơ nia Bóng tròn che lưng mẹ Về nhớ anh mẹ khóc (Bóng cây Kơ nia-Ngọc Anh phỏng dịch theo điệu Ka choi) Người đọc không thể quên hình ảnh “nắng cháy lưng” trong thơ Tố Hữu. - Nhớ về những người thuỷ chung son sắt, nghĩa tình với kháng chiến: Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Thơ hay và thấm thía bởi đề cập tới nghĩa tình con người cùng chia sẻ gian khổ và niềm vui. Cuộc sống con người chỉ đẹp khi gian khổ càng sắt son, gắn bó. Thơ Tố Hữu luôn đi sâu phát huy những gì tốt đẹp của truyền thống hơn là theo hướng cách tân hiện đại. Vì thế, nhà thơ khám phá những nét riêng của cuộc sống bình dị mà ấm áp của Việt Bắc: Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. - Nhưng cũng có lúc nỗi nhớ về cảnh và người Việt Bắc đẫm trong cảm xúc mơ màng, lãng mạn: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đỉnh núi, nắng chiều lưng nương Nỗi nhớ thật đẹp. Ta nhận ra trong nỗi nhớ ba đối tượng không thể tách rời: đó là nhớ về thiên nhiên, con người cuộc kháng chiến hào hùng và niềm tin sâu sắc. 3. Nỗi nhớ về cuộc kháng chiến và niềm tin của con người - Đoạn thơ sau: + “Nhớ khi giặc đến giặc lùng … mai lên” + “Ai về ai có nhớ không… các khu” Đọc những đoạn thơ này ta bắt nhịp được với âm vang, hình ảnh sống động của khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến + Đó là cuộc kháng chiến thể hiện thể trận của chiến tranh nhân dân. Toàn dân đánh giặc, đánh giặc ngay tại chỗ, đánh giặc bằng tất cả những gì có trong tay. Dựa vào rừng núi để đánh giặc, quân dân đoàn kết: Núi giăng thành luỹ sắt dây Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng. + Đó là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Đây là hình ảnh trên đường ra trận: “Những người Việt Bắc của ta …mai lên” Những hình ảnh so sánh: “Đêm đêm rầm rập như là đất rung”. Những hình ảnh khẳng định đội ngũ “Quân đi điệp điệp trùng trùng”; Những hình ảnh đẹp trong chiến đấu “ánh sao đầu súng”; Những hình ảnh khẳng định sức mạnh: “bàn chân nát đá” Tin vui chiến thắng gắn liền với chiến dịch lớn: Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Nhịp thơ sôi nổi, giọng thơ hào hùng, những hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ khác hẳn ở đoạn trên êm ả, ngọt ngào, Tố Hữu đã truyền đến cho người đọc, người nghe khí thế sôi động của chiến tranh toàn dân mà không phải nhà thơ nào cũng có được. Ở đây Tố Hữu đã kết hợp giọng điệu ngọt ngào của thơ lục bát với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. + Tố Hữu đã phản ánh cuộc chiến tranh toàn diện: Ai về ai có nhớ không Ngọn cờ đỏ thẳm gió lồng cửa hang …. Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu Ta vừa đánh giặc vừa lo phát triển kinh tế, vừa đánh giặc vừa chăm lo phát triển văn hoá. Có như vậy mới thực hiện đúng đường lối kháng chiến trường kì gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Ta nói vậy vì ta có niềm tin. - Tin vào Đảng và Bác Hồ: ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Ở đâu, ở đâu dù u ám do quân thù tàn phá, giày xéo, đốt phá, chém giết hãy hướng về Việt Bắc. Nơi ấy có Trung ương Đảng và Bác Hồ. Câu thơ đã gieo một niềm tin tưởng. Nhịp thơ, lời thơ đã tạo ra giọng điệu trang trọng, lắng sâu trong niềm tin tưởng vô bờ. Anh cán bộ kháng chiến và đồng bào các dân tộc Việt Bắc và cả chúng ta nữa đều có niềm tin ấy. + Sử dụng thể thơ lục bát, một hình thức thơ ca dân tộc. Nó phát huy đầy đủ tiếng Việt nhất là con người Việt Nam. Đó là thuỷ chung tình nghĩa, đạo lí uống nước nhớ nguồn. * Những suy nghĩ, tư tưởng tình cảm của con người đất nước gắn liền với đạo lí tình nghĩa cách mạng. - Tình nghĩa thuỷ chung, son sắt với căn cứ địa cách mạng Mình về có nhớ núi non Nhớ khi kháng chiến thuở còn Việt Minh Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa - Tình nghĩa thuỷ chung gắn bó trong những ngày kháng chiến gian khổ, ác liệt: + “Mình đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai” + “Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo” + “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành luỹ sắt đầy Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” - Thuỷ chung tình nghĩa, thơ diễn tả lối sống theo đạo lí uống nước nhớ nguồn: + “Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên cộng hoà Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” - Thuỷ chung, son sắt với niềm tin vào Đảng, Bác Hồ: + “Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền” - Tình nghĩa thuỷ chung với nhân dân các dân tộc Việt Bắc: + “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” + “Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đấy đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn xui đắp cùng” + “Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” + “Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy” + “Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người …thuỷ chung” * Thể thơ lục bát được vận dụng trong một bài thơ dài và nhiều lời thể hiện truyền thống dân tộc để làm sáng tỏ nghĩa tình cách mạng. - Thơ lục bát tạo ra âm hưởng thống nhất mà lại biến hoá đa dạng + Tha thiết ở nỗi nhớ + Sôi nỗi, mạnh mẽ, hào hùng ở ca ngợi kháng chiến + Trang trọng thiết tha thể hiện niềm tin biết ơn - Lời nói giàu hình ảnh + Thiên nhiên, con người Việt Bắc + Biểu dương lực lượng và sức mạnh + Thế trận của chiến tranh nhân dân - Sử dụng nhiều cách chuyển nghĩa truyền thống + Lối so sánh + Lối ẩn dụ + Tượng trưng, ước lệ “Ta về ta nhớ những hoa cùng người” “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” “Ở đâu u ám quân thù” Những vấn đề cơ bản trong bài thơ "Việt Bắc" ( Tố Hữu) Nếu nhấp vào nút xem tiếp mà xem được vui lòng chuyển qua trình duyệt Explorer 7 trở lên hoặc cài đặt lại Firefox và Chome nếu trình duyệt lỗi 1.Hoàn cảnh sáng tác bài thơ : -Việt Bắc là quê hương CM, trước CM T8 có khởi nghĩa Bắc Sơn (1941), nơi thành lập MTVM; trong kháng chiến chống Pháp là nơi ở và làm việc của TW Đảng và chính phủ -Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/ 1954. Đây là thời điểm các cơ quan TW của Đảng và chính phủ rời chiến khu VB về Hà nội, sau khi cuộc kháng chiến chống pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng ĐBP và hoà bình được lập lại ở miền Bắc. Nhân sự kiện lịch sử này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương CM. 2.Chủ đề của đoạn trích “Việt Bắc” Đoạn trích ca ngợi con người và cuộc sống ở chiến khu VB trong thời kì kháng chiến chống Pháp gian khổ, hào hùng, đồng thời thể hiện tình nghĩa thủy chung giữa người Cách mạng và nhân dân Việt Bắc. 3. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc trong đoạn trích “Việt Bắc” - Thể lục bát tài tình, thuần thục. - Sử dụng một số cách nói dân gian: thi liệu, xưng hô, đối đáp,... - Giọng điệu quen thuộc, gần gũi, ấm áp. - Sở trường sử dụng từ láy. - Cổ điển+hiện đại - Kết cấu bài thơ: lời đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca. Không chỉ là đối đáp mà còn hô ứng. - Cặp đại từ nhân xưng mình ta. 4. Nội dung đoạn trích: 4.1 - Sắc thái tâm trạng ,lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích: -Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay....Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi. -Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng. + Bốn câu đầu là lời ướm hỏi dạt dào tình cảm của ngưòi ở lại,đồng thời cũng khảng định tấm lòng thuỷ chung của mình: Đại từ Mình-Ta:Mối quan hệ gần gũi thân thiết -> gợi bao lưu luyến, bâng khuâng, bồn chồn, bịn rịn. Điệp từ “nhớ.”(láy lại) Lời nhắn nhủ của VB “Mình có nhớ ta, mình có nhớ không” vang lên ray rứt,gợi nỗi nhớ triền miên 15 năm gợi thời gian. Cây, núi, sông, gợi không gian thời gian hoạt động kháng chiến tại không gian Việt Bắc + 4 câu sau là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi. Nghe câu hỏi nên người về bâng khuâng , bồn chồn => Tình cảm thắm thiết của người cán bộ với cảnh và ngưòi Việt Bắc Đại từ phiếm chỉ “ai”nhưng lại rất cụ thể gợi sự gần gũi thân thương Áo chàm: H/ảnh bình dị, chân tình, chỉ người Việt Bắc. “Cầm tay ....”.-> Câu thơ bỏ lửng ngập ngừng nhưng đã diễn đạt chính xác thái độ xúc động nghẹn ngào không thể nói nên lời của người cán bộ từ dã Việt Bắc về xuôi.. .->Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương. Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến. Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp: - Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc với vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. . + Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, ấm áp tình người: Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương., bản khói... sớm khuya... + Bức tranh tứ bình, mỗi mùa một hình ảnh đẹp làm say lòng người. Mùa đông: rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi Mùa xuân: hoa mơ nở trắng rừng Mùa hè: ve kêu, rừng phách đổ vàng Mùa thu: ánh trăng soi sáng khắp núi rừng... = > Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa,đầy màu sắc lãng mạn, ấm áp lòng người. Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về cảnh Việt Bắc như vậy. -Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình : + Người VB cần lao gian khổ và đầy tình thương yêu chia ngọt sẻ bùi (câu 31->câu 36) +Hình ảnh sinh hoạt của cán bộ CM trong chiến khu hoà lẫn với sinh hoạt của nhân dân VB: Tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối, lớp học i tờ, giờ liên hoan = >Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn,... tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ. 4.2-Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt bắc trong cách mạng và kháng chiến . + Khí thế hào hùng lên đường hành quân của quân và dân ta với những hình ảnh tuyệt đẹp mang dáng dấp sử thi (câu 53-> câu 70) Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc. + Chiến công Việt Bắc là bản tổng kết những nét lớn của sự phát triển ngày càng cao những chiến dịch, những thắng lợi trong niềm vui phơi phới. -Vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh Việt bắc đã làm nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,... -Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên - tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên Nhớ khi giặc đến giặc lùng …………………………… Đất trời ta cả chiến khu một lòng. - Đặc biệt, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước: +Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù) đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc (dẫn đoạn thơ từ câu Mình về,-còn nhờ núi non đến câu Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa). + Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công. ( Sưu tầm) . document.write('u003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0035u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003e')
Xem thêm

10 Đọc thêm

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG "TỰ TÌNH II" VÀ "THƯƠNG VỢ"

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG "TỰ TÌNH II" VÀ "THƯƠNG VỢ"

“Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi ném thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi” Đã từ lâu, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa đã xuất hiện nhiều qua những câu ca dao với những vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Nhưng ở họ đều có chung đức tính truyền thống đẹp đẽ mà dân tộc Việt Nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn năm lao động và đấu tranh. Hình ảnh đó cũng được thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ Tự Tình II cua Hồ Xuân Hương Và Thương Vợ của Trần Tễ Xương. Hình ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài thơ đó là hình tương người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong cuộc sống. Đó là hình ảnh bà Tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc vất vả suốt cả năm, không kể mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm. Thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” đưa từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi vất vả, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu sắc, thấm thía hơn: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Câu thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua. Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non.” Mở đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: Trống canh dồn. Nhưng dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng. Cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người phụ nữ tĩnh dậy vào đúng thời khắc thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì thiếu vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? Tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi đến một điều đáng sợ đôí với một người đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà: “Trơ cái hồng nhan với nước non” Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày một trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “Hồng nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản thân mình, đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những thủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm. “Chén rượi hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” Hai câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm tác giả. Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, một mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quen đi bảo nỗi cô đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được thể hiện chứa đựng bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn.Trăng vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa tròn”- một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le với những trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong bà. Nhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào, thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có những phẩm chất đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu thương , lòng nhân hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Câu thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh năm chẳng nề hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng nuôi đủ vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sự vất vả, gian lao đức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Còn với Tự Tình II, dù đớn đau đến mức nào thì trong sâu thẳm trái tim bà, dù yếu ớt đến đâu cũng loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình: “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.” Một hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh, không chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy. Ở đây, Hồ Xuân Hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những phản ứng tích cực, bà không buông xuôi, đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách thay đổi vận mệnh, cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Hai câu thơ tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm cuả cảnh vật đó đã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Hàng loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên đầu câu. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, mà là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải “đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu dã làm nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây mà cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Chỉ những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đấy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở nên vô cùng sống động. Cự động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những gì gò bó đẻ dược tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hoà hợp với con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm nhân vật. Và ta cũng thấy được tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lệ phong kiến, cũng như những số phận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết hạnh phúc của bà; những uất hận ấy bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến mức không chịu nổi chỉ chực vỡ oà ra, bà khao khát muốn đập tung tất cả, muốn đập đổ mọi thứ, muốn tự do biết nhường nào. Nhưng dù sao, bà cũng chỉ là một người phụ nữ phong kiến, một thân phận nữ nhi cô độc, dù phá phách, dù nổi loạn đến đâu thì cũng chỉ trong giới hạn ngôn từ. Bà không thể làm gì hơn được nữa.............. Mặc dù vậy, ta phải công nhận đay là một cách suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng đi trứoc thời đại, một tính cách hoàn toàn khác biệt so với người phụ nữ lúc bấy giờ. Đó là một bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con” Ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le, bạc bẽo. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. Từ xuân mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với con người tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai ý nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. Sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: Mảnh tình-san sẻ-tí con con. Mảnh tình đã bé lại còn san sẻ ra thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được chia năm xẻ bảy, nhận dược duy nhất một mảnh tí con con. Hạnh phúc của bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng cay. Cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của tác giả. Hồ Xuân Hương ngang tàng, thách thức đầy nổi loạn trên là thế, nhưng cuối cùng tất cả vẫn chỉ chìm vào vô vọng trong sự bất lực tột cùng và chán chường, mệt mỏi. Những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô ích, bởi phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà thôi. Có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc cho tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng............ “Giọt nước mắt em..........âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi...........trong tim em ôm trọn một nỗi sàu bơ vơ................đành khóc vậy thôi............... Liệu Hồ Xuân Hương có thể vượt qua tất cả để trở lại là một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó vẫn là câu hỏi còn dở dang của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như mảnh gương vỡ......... Câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi kịch của Hồ Xuân Hương và cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ. Đó là những hiện thân cho những khổ đau của con người trong xã hội xưa, đồng thời là kết tinh của những đức tính tốt đẹp của ngưòi phụ nữ Việt Nam qua hàng thế kỉ. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau đớn, tủi cực dưới chế độ phong kiến nhưng ở họ toát lên sự đấu tranh mạnh mẽ, vượt lên số phận để làn tốt bổn phận của một người phụ nữ trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh phúc mà mình hằng khao khát.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tìm hiểu bài thơ " Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm

TÌM HIỂU BÀI THƠ " NHÀN" CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

I.Giới thiệu chung 1.Tác giả -Nuyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), hiệu Bạch Vân cư sĩ. Là ông quan thanh liêm , chính trực.Là nhà thơ lớn của dt. - Cuộc đời : + Nhỏ: ông được cho theo học người thầy nổi tiếng là Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng. + Lê suy thoái ( Lê Uy Mục, Tương Dực )-> Mạc Đăng Dung -> nhà Mạc (1526), NBK ( 36 tuổi ) , thi đỗ tiến sĩ, làm quan triều Mạc. + 8 năm sau , ông dâng sớ vạch tội và xin chém đầu 18 lộng thần. Vua không nghe , ông cáo quan về ở ẩn,vẫn canh cánh việc nước->thuyết : hành –tàng, xuất – xử của người xưa (TQ: Lã Vọng, Đào Tiềm, VN:Tô Hiến Thành, Chu An, Ng. Trãi).Oâng dựng am Bạch Vân-> BV cư sĩ, dạy học có nhiều hoc trò đỗ đạt làm quan-> Tuyết Giang phu tử. 2.Sáng tác -“Bạch Vân am thi tập” -“Bạch Vân quốc ngữ thi tập” =>Nội dung : mang đậm tính triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xh. 3.Văn bản a. Xuất xứ: lấy trong Bạch Vân Quốc Ngữ Thi ” b. Bố cục: đề ,thực, luận, kết. II.Đọc hiểu 1.Hai câu đề “Một mai một cuốc , một cần câu , Thơ thẩn dầu ai vui thú nào “ - Từ “một” lặp đi lặp lại,nhắc đi nhắc lại->chắc chắn ,cứng cỏi, kiên định, sẵn sàng. Nhịp điệu chậm dãi, tư thế ung dung (2/2/3) -> thái độ sẵn sàng ,chắc chắn. - mai, cuốc, cần câu : vật dụng quen thuộc của nhà nông. -“thơ thẩn”:ung dung ,điềm nhiên, thanh thản., trạng thái,thoải mái,không vướng bận,tha hồ dong duỗi, không để điều gì làm ưu tư, phiền muộn.Đó là sự nhàn tản, thư thái ,thảnh thơi, lòng không vướng bận chút cơ mưu, tự dục. - “dầu ai vui thú nào”->mặc người đời , không quan tâm , chỉ lo việc đồng áng giữa thôn quê để tâm hồn ung dung tự tại mặc những thú vui khác của người đời. => Hai câu thơ thể hiện quan niệm về cs nhàn tản, gần gũi với dân. 2.Hai câu thực “Ta dại ta ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao ” -từ ngữ đối lập: ta >< người dại >< khôn vắng vẻ>< lao xao - NBK đã tạo nên hệ thống từ ngữ đối lập nhau nhằm bộc lộ rõ thái độ của mình: cho thấy sự khác biệt giữa ông & những người khác đó là cách lựa chọn cho mình một cuộc sống” lánh đục tìm trong”. - “nơi vắng vẻ’-> yên ả, êm đềm. - “ chôn lao xao”-> xô bồ, ồn ả, đầy những ganh đua, thủ đoạn-> chốn cửa quyền. Như vậy “Dại “ ở đây thể hiện một lối sống cao đẹp , một tư tưởng , nhân cách thanh cao, k màng danh lợi , k nuôi cơ mưu, không chịu luồn cúi, mua danh , bán tước, tham những điều phù phiếm.Đây là cách nói ngược , dại thực chất là khôn , còn khôn thực ra lại là dại . Đúng như ông đã nói: “ Khôn mà khôn độc là khôn dại Dại vốn hiền lành ấy dại khôn” (Thơ Nôm-94) Mỗi từ , mỗi chữ được NBK sử dụng rất đắt, rất tinh tế, hiệu quả . Trở về với thiên nhiên, về nơi vắng vẻ là tìm đến cuộc sống bình dị ,thanh tao. Ở đó con người và tn hòa vào nhau.Đó cũng một lần nữa thể hiện sâu sắc hơn vẻ đẹp tâm hồn của NBK =>2 câu thhực nhấn mạnh vẻ đẹp nhân cách NBK: về với tn , sống thoát khỏi vòng danh lợi để tâm hồn an nhiên, khoáng đạt. 3.Hai câu luận “Thu ăn măng trúc , đông ăn giá Xuân tắm hồ sen , hạ tắm ao ” -thu-măng trúc ; đông-giá ->món ăn dân dã, thanh đạm. ->thanh đạm, bình dị nhưng không khắc khổ, cơ cực -xuân- tắm hồ sen ;hạ - tắm ao ->thú vui thanh bần, không kiểu cách. ->lối sinh hoạt giản dị. =>Con người thuận theo tự nhiên , hòa hợp với thiên nhiên, mùa nào thức ấy, mùa nào ứng với thu vui ấy. Nguyễn Bỉnh Khiêm hòa cùng sinh hoạt của người nông dân. Ta không còn thấy một Trạng Trình,không thấy tư thế cao ngạo , chiễm trệ của một ông quan mà chỉ hiện lên ở đây một lão nông tri điền =>NBK chọn cho mình một cuộc sống hợp với tự nhiên, hòa với đời thường , bình dị mà không kém phần thanh cao. 3.Hai câu kết “Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao ” - Triết lí: danh vọng ,tiền tài cũng chỉ là phù du , hư vô .Tất cả sẽ vô nghĩa sau một cái khép mắt khẽ khàng. =>cái nhìn của một bậc đại nhân, đại trí. ->ý nghĩa: Con người sống ở trên đời nên thuận theo lẽ đời, thuận theo tự nhiên, sông sao cho thanh thản. Đùng vì dục vọng của mình mà bất châp tất cả.Tât cả rồi chỉ như một giấc mơ. Liên hệ với những bài thơ khác của các nhà thơ cùng thời ta thấy được đây là cái nhìn tích cực của một thời đại và cho đến hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị. * Nhận xét : Quan điểm “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm : - là không tranh đua,không màng danh lợi, không bon chen, không cơ mưu, tự dục. - là sống thanh thản, an nhiên, tự tại bởi những thú vui riêng của mình. Như vậy “nhàn” ở đây không đơn thuần là nhàn hạ về thể xác hay đúng hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói về cái nhàn thể xác, là không làm gì mà ông muốn đề cao cái nhàn trong tâm hồn con người, cái thanh thản , an nhiên. II/Tổng kết 1/ Nội dung - Bài thơ dựng lên bức chân dung cuộc sống , nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm: xa rời danh lợi , hòa hợp với tự nhiên , giữ gìn cốt cách thanh cao , trong sạch . - Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến có những biểu hiện suy vi , quan điểm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang những yếu tố tích cực . 2/Nghệ thuật . - Bài thơ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mộc mạc , giản dị , kết hợp chất trữ tình và triết lí sâu xa , phát huy cao độ tác dụng của nghệ thuật đối trong thơ thất ngôn Đường luật . ( Sưu tầm )
Xem thêm

3 Đọc thêm

SUY NGHĨ VỀ CÂU NÓI &QUOT;HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI...&QUOT; CỦA LÊ

SUY NGHĨ VỀ CÂU NÓI &QUOT;HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI...&QUOT; CỦA LÊ

BÀI LÀM 1 Học hỏi là 1 việc rất quan trọng đối với nhân dân ta, đối với cả nhân loại từ ngàn xưa cho đến nay. Nó giúp con người mở mang kiến thức.Nó giúp cho đất nước văn minh, tiến bộ. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này,Lê Nin vẫn thường khuyên cán bộ và tự đặt cho mình nhiệm vụ: “học! học nữa! học mãi!”. Đi sâu vào vấn đề,chúng ta cần hiểu được khái niệm của việc học?Học (nghĩa đen) là hoạt động thu nhận kiến thức nh ân lo ại dưới sự hứơng dẫn và truyền đạt của giáo viên trong nhà trường.. C òn học (nghĩa bóng) là người múôn theo kịp đà phát triển của xã hội thì phải học tập, học không ngừng nghỉ, học tập súôt đời, không chỉ học trong trường học mà cần học mọi lúc, mọi nơi...Kh ông nh ững th ế ta c òn ph ải hi ểu th êm học nữa l à học thêm, nâng cao, bổ sung thêm vào những điều đã học được v à học mãi là học không ngừng, học súôt đời. Vì vậy, khi học chúng ta phải tìm tòi, suy nghĩ thêm để hiểu rõ và mở rộng các kiến thức đã thu thập được. như thế lời dạy của Lê-nin có ý nghĩa là khuyên chúng ta phải luôn học hỏi không ngừng, học hỏi suốt đời chẳng những trong nhà trường và cả ngoài xã hội… V ì kiến thức kh ông có giới hạn, chúng ta cần khám phá nó! Khám ph á để chinh phục cái nhìn của mọi ng ư ời về mình! Khám phá để hòa nhập với cuộc sống hiện đại. Đó là một chân lí, một sự thật hiển nhiên,bởi vì kiến thức của nhân loại bao la mênh mông như biển cả còn sự hiểu biết của mỗi ng ư ời trong chúng ta chỉ như giọt nước. Hơn thế nữa, mỗi một giây phút trôi wa thì hành tinh của chúng ta lại có một phát minh mới ra đời, vì thế kh ông bao gi ờ chúng ta học được hết những kiến thức đó và cũng vì thế mà chúng ta phải luôn luôn học tập ko ngừng. làm sao chúng ta có thể quên được tấm gương của nhà bác học Lê Quý Đôn của đất nước Vi ệt Nam hay g ần đ ây nh ất l à nh à To án h ọc Ng ô B ào Ch âu đ ã đo ạt gi ải Nobel v à mang vinh d ự v ề cho đ ất n ư ớc ta ho ặc các bác học Newtơn, Ampere… trên thế giới đã suốt đời học hỏi và cống hiến nhiều kiến thức quý báo cho nhân lo ại. Ngoài ra, lời nhận định này cũng đúng vì nó có giá trị về mặt giáo dục con ng ư ời mới, giáo dục lý tưởng sống cao quý. Cho nên chúng ta kh ông lạ gì khi thấy các danh nhân trên thế giới cũng từng có những suy nghĩ tương tự nh ư L ê nin như câu nói nổi tiếng của Darwin: “Nhà bác học ko có nghĩa là ngừng học”hoặc “Đường đời là chiếc thang không nấc chót, việc học là quyển sách không trang cuối cùng.” (Kalinin).Và câu nói của bác hồ : “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Chính câu nói của các nhà bác học càng làm tăng th êm giá trị chân lí của lời nhận định của lê-nin. Nhưng thật đáng tiếc là có những người làm ngược lại với lời dạy bảo quý giá này. Thật đáng tiếc là trong nhà trường có những học sinh lười biếng, kh ông cố gắng chăm lo học tập, kiền thức nông cạn, dở dang. Cũng như thế trong xã hội còn có những kẻ tự kiêu, tự mãn khi đã đạt được bằng cấp mà không chịu tiếp tục học hỏi và đương nhiên những kẻ s ẽ kh ông c ó ki ến th ức v à cu ộc đ ời s ẽ kh ông th ể t ốt đ ẹp đư ợc v à h ọ r ất đáng bị chê trách vì đã kh ông nghe theo lời khuyên bảo tốt đẹp này.Ngoài ra c òn c ó 1 s ố ng ư ời ngh ĩ rằng học đủ để có việc làm thôi, không cần học nhiều.Vậy các bạn nghĩ sao về ý kiến này? Thực ra, làm bất cứ việc gì cũng cần có mục đích và việc học cũng vậy nhưng chúng ta cần biết chọn lựa mục đích cho phù hợp có có cái nhìn đúng đắn hơn ví dụ như ở vấn đề trên ta cần phải xác định đúng mục đích của việc học đó là học để mở mang tri thức, học vì tổ quốc, vì nhân dân, học để trở thành người lao động mới có khả năng trình độ để phục vụ đất nước,sẵn sàng xây dựng và bảo vệ tổ quốc và giúp cho đất nước phát triển.v.v… chứ không phải chỉ học để có việc làm nuôi sống bản thân là chưa đủ,ta cần phải biết nghĩ cho người khác nữa. Do đó, học hỏi suốt đời là một việc phải làm và cần làm. Để việc học hỏi đạt kết quả thật tốt, chúng ta phải có tinh thần và thái độ học tập đúng đắn, học đi đôi với hành, học ở nhà trường, học ngoài x ã hội…Là học sinh-những mầm non tương lai của đất nước chúng ta phải luôn chăm chỉ học t ập ‘V ào lớp thuộc bài, ra lớp hiểu bài’.Kh ông những thế ta còn phải biết giúp đ ỡ bạn bè học tập để cùng tiến bộ. C ó c âu: ‘N ếu đ ẹp bạn hãy đáng với nhan sắc của mình. Nếu xấu bạn hãy làm cho mọi người quên cái xấu của bạn bằng chính tri thức mà bạn có được. Hãy cố gắng học tập để trở thành con ngoan trò giỏi của bố mẹ và thầy cô, các bạn nh é! Bài làm 2: Từ xưa đến nay, việc học luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Nó mang lại cho con người vô số kiến thức trên nhiều lĩnh vực : khoa học, tư tưởng...để từ đó, với những kiến thức đã học được. Con người có thể áp dụng chúng vào cuộc sống của mình. Làm cho cuộc sống của mình trở nên thú vị hơn, ý nghĩa hơn. Thế nhưng, kiến thức của nhân loại thì vô cùng lớn, có thể nói rằng một đời người cả trăm năm cũng không thể học hết tất cả những tri thức ấy, cũng như câu châm ngôn của Lê Nin : Học, học nữa, học mãi. Vậy học là gì ? Việc học được định nghĩa rằng : Học là một hành động của con người, rèn luyện tư duy lô-gic theo một cách nào đó, để tiếp thu kiến thức chưa biết, rèn luyện những kiến thức đã biết. Việc học có rất nhiều cách, chúng ta có thể học trong trường, ngoài xã hội..nhưng dù cho ta học theo cách nào đi nữa thì mục đích chính của ta là tiếp thu, tích lũy kiến thức cho bản thân. Quan điểm học và mục tiêu tùy người mà có cách học riêng. Có người học để trở thành một nhà kinh doanh giỏi, có người học để trở thành một luật sư có tài hùng biện xuất chúng hay đơn giản chỉ là một anh công nhân lành nghề. Dù muốn trở thành bất kì ai, làm bất kì việc gì thì ta vẫn trải qua quá trình tiếp thu, học hỏi kiến thức không ngừng. Ở xứ sở bạch dương, có một nhà văn, thưở nhỏ ông học ở trường làng, sau này lớn lên ông lên Moscow để kiếm sống, dù không qua một trường lớp nào ở đây, ông đã phấn đấu luôn luôn tự học hỏi và đã trở thành một trong những nhà văn vĩ đại của nước Nga với tác phẩm nổi tiếng “Sông đông êm đềm của mình” đó chính là Solokhov. Thêm một con người tài năng nữa, chúng ta hãy đến nước Mỹ, người mà sắp được nói đến ở đây không ai khác ngoài Steave Job nhà sáng lập ra hãng Apple nổi tiếng, dù đã bỏ lỡ đại học giữa chừng, chỉ với vài nghìn đô trong tay cùng với ý chí tìm tòi nghiêng cứu khoa học, ông đã chế tạo chiếc máy tính đầu tiên của hãng khiến cho thế giới phải sững sốt. Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Mỗi ngày có thêm một kiến thức mới được phát hiện và bổ sung vao kho tàng tri thức cua con người. Do đó nếu con người không liên tục tiếp thu những kiến thức mới thì sẽ bị tục hậu so với thời đại và tồi tệ hơn là bi xã hôi đào thải. Nếu một xã hội mà ai ai cũng có tinh thần luôn hoàn thiện bản thân mình thông qua việc học thì xã hội và đất nước đó sẽ phát triển vượt bậc và sẽ đạt được nhiều thành tựu đáng kể và Singapore chính là minh chứng hùng hồn cho điều đó. Ngược lại nếu ai cũng thu mình khư khư giữ lối suy nghĩ cũ, những cách thức cũ thì xã hội đó và đất nước đó sẽ giống như ếch ngồi đáy giếng, nhanh chóng suy tàn, qua đó cho ta thấyy được tầm quan trọng của việc học hỏi không ngừng, để bắt kịp xu thế chung của thời đại. Việc học hỏi không ngừng rất quan trọng. Cho dù là ai bất cứ độ tuổi nào thì việc học không bao giờ là muộn cả. Vì đó là công việc cả đời. Cũng như câu nói của Lê Nin :Học, học nữa, học mãi. Bài làm 3: 1/MB: Nêu vấn đề nghị luận: “học, học nữa, học mãi”. Học hỏi là 1 việc rất quan trọng đối với nhân dân ta, đối với cả nhân loại từ ngàn xưa cho đến nay. Nó giúp con người mở mang kiến thức,nó giúp cho đất nước văn minh, tiến bộ. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tuy phải bận trăm công nghìn việc, nhưng Lê-nin vẫn thường khuyên cán bộ và tự đặt cho mình nhiệm vụ: “Học, học nữa, học mãi”. 2/TB: A-BÌNH: a) Giải thích câu nói (hoặc nêu các biểu hiện của vấn đề): Học là việc học sinh tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo…Khi học chúng ta fải tìm tòi, suy nghĩ thêm để hiểu rõ và mở rộng các kiến thức đã thu thập được. Như thế lời dạy của Lê-nin có ý nghĩa là khuyên chúng ta phải luôn học hỏi không ngừng, học hỏi suốt đời chẳng những trong nhà trường và cả ngoài XH… b) Phân tích các mặt đúng: Đó là một chân lí, một sự thật hiển nhiên, rõ rang từ trước đến nay. Bởi vì kiến thức của nhân loại bao la mênh mông như biển cả còn sự hiểu biết của mỗi người trong chúng ta chỉ như giọt nước. Hơn thế nữa, mỗi một giây phút trôi qua thì hành tinh của chúng ta lại có một phát minh mới ra đời, vì thế ko bao giờ chúng ta học được hết những kiến thức đó và cũng vì thế mà chúng ta phải luôn luôn học tập không ngừng. Làm sao chúng ta có thể quên được tấm gương của nhà bác học Lê Quý Đôn của đất nước VN hoặc các bác học Newtơn, Ampere… trên thế giới đã suốt đời học hỏi và cống hiến nhiều kiến thức quý báo cho nhân loại. Ngoài ra, lời nhận định này cũng đúng vì nó có giá trị về mặt giáo dục con người mới, giáo dục lý tưởng sống cao quý. Cho nên chúng ta không lạ gì khi thấy các danh nhân trên thế giới cũng từng có những suy nghĩ tương tự như câu nói nổi tiếng của Darwin:“Nhà bác học ko có nghĩa là ngừng học” hay:“Đường đời là chiếc thang không nấc chót, việc học là quyển sách không trang cuối cùng.” (Kalinin) hay câu của Bác Hồ: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Chính câu nói của các nhà bác học càng làm tăng thêm giá trị chân lí của lời nhận định của Lê-nin. B-LUẬN: (mở rộng vấn đề) a) Phân tích các mặt bổ sung. Nhưng thật đáng tiếc là có những người làm ngược lại với lời dạy bảo quý giá này. thật đáng tiếc là trong nhà trường có những học sinh lười biếng, không cố gắng chăm lo học tập, kiến thức nông cạn, dở dang. Cũng như thế trong XH còn có những kẻ tự kiêu, tự mãn khi đã đạt được bằng cấp mà ko chịu tiếp tục học hỏi. Và đương nhiên những kẻ đó đáng bị chê trách vì đã không nghe theo lời khuyên bảo tốt đẹp này. b) Xây dựng thái độ đúng cần phải có. Do đó, học hỏi suốt đời là một việc phải làm và cần làm. Ý nghĩa trọn vẹn, sâu xa của câu nói cũng là muốn chúng ta thực hiện được điều đó. Nhưng làm như thế vẫn chưa đủ. Để việc học hỏi đạt kết quỷ thật tốt, chúng ta phải xác định rõ động cơ học tập là vì Tổ quốc, vì nhân dân, học để trở thành người lao động mới có khả năng trình độ để phục vụ đất nước, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh mục đích học tập, chúng ta còn phải có tinh thần thái độ học tập đúng đắn, học đi đôi với hành, học ở nhà trường, học ngoài XH... c) Phân tích nguyên nhân, hậu quả (tác dụng) nếu đạt được những điều kiện trên thì việc học hỏi sẽ mang lại 1 tác dụng, 1 kết quả thật to lớn là kiến thức của mỗi người trong chúng ta sẽ được lien tục nâng cao, từ đó sẽ giúp cho đất nước ngày càng văn minh tiến bộ. đặc biệt là đối với đất nước chúng ta ngày nay, nhiệm vụ học tập càng trở nên vô cùng cấp thiết,trở thành nghĩa vụ của mỗi ng` công dân vì đất nước ta, sau gần một trăm năm đô hộ của thực dân pháp,sau hơn hai mươi năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ, đa số nhân dân ta không có thời giờ và phương tiện để học tập. Nên muốn nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế, tiến tới xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ và phồn vinh, ta cần fải cố gắng học tập gấp năm mười lần trước đây thì mới mong có một đội ngũ cán bộ quản lí, khoa học kĩ thuật đông đảo, công nhân lành nghề, nông dân có trình độ cao để tiếp thu kỹ thuật mới tăng năng suất lao động. 3/KB: Thái độ, kết luận chung của bài nghị luận. Rõ ràng nhận định của Lê-nin đúng là một sự thật hiển nhiên trong cuộc sống, là một chân lí của thời đại. Đồng thời, câu nói trên cũng bộc lộ tấm long, ước muốn thiết tha của Lê-nin. (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Thuyết minh về tác phẩm &quot;Bình Ngô đại cáo&quot; của Nguyễn Trãi

THUYẾT MINH VỀ TÁC PHẨM &QUOT;BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO&QUOT; CỦA NGUYỄN TRÃI

Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là ánh “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào. "Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi (1380-1442) là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm. Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước. “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn: “Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có…” (Sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ &QUOT;CẢM HOÀI&QUOT; CỦA ĐẶNG DUNG

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ &QUOT;CẢM HOÀI&QUOT; CỦA ĐẶNG DUNG

1. Tác giả Đặng Dung (? – 1414) người huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh, con tướng quân Đặng Tất. Ông từng tham gia đánh quân Minh lớn nhỏ hơn trăm trận chưa từng nhụt khí. Năm 1414, Đặng Dung bị giặc Minh bắt đưa sang Trung Quốc, dọc đường ông nhảy xuống sông tự tử. Sáng tác của Đặng Dung chỉ còn lại bài thơ Nỗi lòng, bài thơ từng được Tử Tấn (đời Lê) đánh giá : “phi kẻ sĩ hào kiệt thì không làm nổi”. Thơ ông toát lên vẻ đẹp bi tráng của bậc anh hùng. 2. Tác phẩm Bài thơ này được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài thất ngôn bát cú gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ ; toàn bài chỉ gieo một vần và thường là vần bằng, gieo ở chữ cuối ; trừ hai câu đầu và hai câu cuối không nhất thiết đối nhau, bốn câu giữa đối với nhau từng cặp ; toàn bài chia làm bốn liên, mỗi liên gồm hai câu kề nhau, trong mỗi liên bằng trắc hai câu đối nhau, chữ thứ hai, bốn, sáu của câu hai ở liên trên và chữ thứ hai, bốn, sáu của câu thứ nhất của liên dưới bằng trắc giống nhau  tức là niêm. Cảm hoài là nhan đề thường gặp trong thơ cổ dùng để biểu lộ cảm xúc, hoài bão. Cảm hoài là có cảm xúc trong lòng, tức nỗi lòng. Trong Tây sương kí có câu : "Tri âm giả phương tâm tự đổng, cảm hoài giả đoạn trường bi thống", nghĩa là "Kẻ tri âm lòng thơm tự hiểu, kẻ cảm hoài đứt ruột xót đau". Do vậy thi đề cảm hoài thường nói việc oán hận, bi thương. Bài thơ này làm vào lúc Đặng Dung ra sức tận tuỵ phù rập nhà Trần, đánh giặc cứu nước, nhưng vận nhà Trần đã tàn, cơ đồ đang đổ, khó lòng xoay chuyển. Cảm hoài là một bài thơ giãi bày gan ruột. (Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001) 3. Đọc hiểu Có thể dựa vào bố cục chung của bài thất ngôn bát cú nói trên để phân tích bài thơ Nỗi lòng. Bài thơ này được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm bốn phần : đề, thực, luận, kết. Trong hai câu đề, câu thứ nhất là phá đề, mở ra ý của bài thơ ; câu thứ hai là thừa đề, tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài. Hai câu thực giải thích ý của đề bài. Hai câu luận phát triển rộng ý của đề bài. Hai câu kết kết thúc ý của toàn bài. 3.1. Ngay từ hai câu đầu bài thơ, một tình thế bi kịch đã được nêu lên : Việc thế lôi thôi tuổi tác này, Mênh mông trời đất hát và say. Việc đời còn rối bời, mờ mịt mà người thì đã già, biết làm sao ! Mâu thuẫn không thể giải quyết ấy là nguyên nhân dẫn đến tình thế bi kịch. Bi kịch lực bất tòng tâm. Nỗi buồn vì tuổi tác này còn được nhắc lại trong câu 7 : Quốc thù chưa trả già sao vội, đủ thấy đây là nỗi ám ảnh của nhà thơ. Hơn nữa, vũ trụ đang say sưa, mê mải, đắm chìm (hàm ca là đắm đuối vào chuyện uống rượu và ca múa) trong cuộc vần xoay muôn thuở của nó, như quay lưng lại với thế sự và con người : Mênh mông trời đất hát và say. Tình cảnh ấy khiến người anh hùng càng trở nên cô độc. 3.2. Từ tình thế bi kịch đã được nêu ra ở hai câu đầu, hai câu tiếp theo nêu lên cụ thể hơn nỗi niềm thời thế với tâm trạng oán hận của tác giả : Gặp thời đồ điếu thừa nên việc, Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay. Nổi bật trong hai câu thơ này là sự đối lập giữa đồ điếu và anh hùng. Đồ điếu nghĩa là mổ thịt, câu cá ; tác giả có ý ám chỉ Phàn Khoái bán thịt chó và Hàn Tín câu cá sau giúp Hán Cao Tổ làm nên sự nghiệp lớn. Tác giả đối lập đồ điếu và anh hùng không phải nhằm xem thường, coi Phàn Khoái và Hàn Tín là bất tài mà chủ yếu để bày tỏ cảm khái thời vận lỡ dở. Bi kịch của một vị tướng già trở nên sâu sắc, thấm thía là bởi nó mang tính phổ quát nhân sinh. 3.3. Tình thế bất lực, cảm giác bi kịch được tiếp tục trong những hình ảnh khoáng đạt, đượm màu bi tráng ở hai câu 5 – 6 : Trí chủ hữu hoài phù địa trục, (Giúp chúa những lăm giằng cốt đất) Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. (Rửa đòng không thể vén sông mây) Về hai câu này, GS Trần Đình Sử cho rằng : “Trí chủ” là báo đáp ơn vua. “Phù địa trục” là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ. “Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa. Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, ý nói đình chiến. Lúc này Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Nhiều sách giải thích câu thơ này là muốn đem lại hoà bình cho đất nước mà không được, e không hợp. Bởi vì tại câu kết bài thơ tác giả vẫn mài gươm dưới trăng để đánh giặc, chứ đâu phải để cất gươm vào kho ! Cho nên câu này nên hiểu : Không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh. Mặc dù hình ảnh “kéo sông thiên hà” là lấy từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ, nhằm rửa binh khí để cất đi không dùng nữa, nhưng ở đây Đặng Dung đã vận dụng sáng tạo thể hiện ý rửa binh khí để ra trận. Hai câu trong bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ : An đắc tráng sĩ vãn thiên hà, Tận tẩy giáp binh trường bất dụng. (Ước gì có tráng sĩ kéo nước sông Ngân xuống, Rửa sạch khí giới, mãi mãi không dùng nữa) 3.4. Mặc dù trong tình thế bi kịch, thế sự bời bời, bản thân lại chưa tìm được hướng đi, song đến cuối bài thơ, tác giả đã thể hiện chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu : Quốc thù chưa trả già sao vội, Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy. Hình ảnh vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng, nung nấu mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Vẫn không ra ngoài cảm giác bi kịch, trong khi mối thù nước chưa trả đang thôi thúc thì tuổi đã cao, sức lực không còn sung mãn, tâm ấy với lực ấy trong một con người sinh ra bi kịch, nhưng cũng tâm ấy lực ấy mà toát lên vẻ đẹp của chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng, vẻ sáng láng của kẻ lỡ vận, âm thầm mà tâm tráng. 3.5. Anh hùng có làm nên sự nghiệp lớn hay không còn tuỳ thuộc vào thời vận. Đó là quan niệm của người xưa về thành bại của những kẻ có tài năng và chí khí hơn người. Anh hùng có thể xoay chuyển thời thế, nhưng thời thế cũng tạo nên anh hùng. Lỡ vận nên thất bại là mối hận của nhiều bậc anh hùng bao đời. Đặng Dung viết “Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” cũng là tỏ lòng mình, một bậc anh hùng lỡ vận đành ôm hận trong lòng. Với những hình ảnh có sức diễn tả mạnh mẽ tình cảm, khát vọng, bài thơ Nỗi lòng thể hiện tấn kịch bi tráng của người anh hùng. (Nguồn: Đọc hiểu Ngữ văn 10, NXB GD, 2006)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đọc hiểu bài thơ &quot;Ánh trăng&quot; của Nguyễn Duy

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ &QUOT;ÁNH TRĂNG&QUOT; CỦA NGUYỄN DUY

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: - Nhà thơ Nguyễn Duy (tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ), sinh năm1948, tại xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá. Tham gia công tác từ 1965, làm tiểu đội trưởng dân quân trực chiến khu vực Hàm Rồng - Thanh Hoá. Năm 1966, nhập ngũ tại Bộ tư lệnh Thông tin, lính đường dây, tham gia chiến đấu tại các chiến trường: Khe Sanh - Đường 9 - Nam Lào. Năm 1979, tham gia mặt trận phía Nam và phía Bắc. Từ 1976, chuyển khỏi quân đội về làm báo Văn nghệ Giải phóng. Hiện công tác tại tuần báo Văn nghệ. Tác phẩm đã xuất bản: Cát trắng (thơ, 1973); Ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987); Đường xa (thơ, 1989); Quà tặng (thơ, 1990); Về (thơ, 1994). Nhà thơ đã được nhận: Giải nhất thơ tuần báo Văn nghệ (1973); Tặng thưởng loại A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (1985). - Xuất hiện vào chặng cuối của chiến tranh chống Mĩ cứu nước, từ khoảng 1972 trở đi, Nguyễn Duy đã trở thành một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Cho đến nay, Nguyễn Duy vẫn là một trong số không nhiều nhà thơ "thời ấy" còn sung sức và được bạn đọc yêu thích. Có thể thấy tài năng và con đường thơ của ông phát triển và khẳng định gắn chặt với những năm tháng đầy biến động của lịch sử dân tộc. Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, với chùm thơ đăng trên báo Văn nghệ, 1972, Nguyễn Duy đã chiếm được lòng mến mộ của độc giả. Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy. Ông khẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh được", "quen thuộc mà không nhàm chán", "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên", chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái hiền hậu, một cái gì rất Việt Nam". Cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973 tiếp tục khẳng định tài năng của nhà thơ trẻ này bằng việc trao Giải Nhất (đồng giải với Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm và Lâm Thị Mĩ Dạ) cho chùm thơ 4 bài của Nguyễn Duy (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Năm 1973, tập thơ đầu tay của ông ra đời, tập Cát trắng. Tập thơ tuy không phải bài nào cũng đạt, nhưng người đọc đều thấy có nét đặc sắc riêng dễ nhận ra. Đó là sự dung dị, đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, là cái chân chất, chắc bền sâu kín. Nguyễn Duy thường hướng nhiều về đất, ca ngợi cái sức mạnh âm thầm lặng lẽ, cái cần cù bền bỉ và chịu đựng hi sinh. Những bài như Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Em bé lạc mẹ,... là những bài thơ như thế. Sau chiến thắng 1975, Nguyễn Duy vẫn say sưa và tiếp tục con đường thơ của mình. Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen thuộc, mà vẫn rất hấp dẫn đối với người đọc. Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy là tập ánh trăng (1984). Tập thơ được coi là một bước tiến trong thơ Nguyễn Duy, tập thơ đã được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984 (cùng tập thơ Hoa trên đá của Chế Lan Viên). ánh trăng tiếp tục viết về bộ đội, về công cuộc đời người lính sau chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía những trăn trở băn khoăn (ánh trăng, Nghe tắc kè kêu trong thành phố...). Cũng ở tập thơ này Nguyễn Duy còn dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng, cây cỏ, những vùng quê với những con người thân thuộc bằng một tình cảm thiết tha, nặng tình, nặng nghĩa (Đò lèn, Tuổi thơ, Cầu Bố, ông già sông Hòng, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng...). Vẫn tiếp tục chất giọng ca dao đậm đà, thân thuộc, nhiều bài trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuần nhị, ngọt ngào, nhiều khi khó mà biết phân biệt được những bài ca dao (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, 2004). 2. Tác phẩm: Bài thơ ánh trăng được tác giả Nguyễn Duy viết năm 1978, sau đưa vào tập ánh trăng - tập thơ được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Bài thơ được xem như là niềm thôi thúc của tác giả, nhớ về cội nguồn và ý thức trước lẽ sống thuỷ chung. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ - hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của "Nước chè tươi rót vàng mơ" ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào: Tắc kè... tắc kè... tôi giật mình (...) cái âm thanh của rừng lạc về thành phố (...) Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia" (Nghe tắc kè kêu trong thành phố) Những năm tháng "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái "giật mình". Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái "giật mình" cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình. Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức: Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng: Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng "như người dưng qua đường" trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao "ở rừng", khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy: Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ của toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt của mạch cảm xúc, bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ "bật tung", "đột ngột" diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh "vội bật tung cửa sổ". Vầng trăng tròn đâu phải khi "đèn điện tắt" mới có?! Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc "thình lình" đối diện với trăng ấy, ân tình xưa "rưng rưng" sống dậy, thổn thức lòng người: Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian - không gian / trăng - người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,... Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến "ta giật mình". Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: "Uống nước nhớ nguồn". (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

VẺ ĐẸP CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG &QUOT;RỪNG XÀ NU&QUOT; CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH, &QUOT;NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH&QUOT; CỦA NGUYỄN THI VÀ &QUOT;MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG&QUOT; CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

VẺ ĐẸP CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG &QUOT;RỪNG XÀ NU&QUOT; CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH, &QUOT;NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH&QUOT; CỦA NGUYỄN THI VÀ &QUOT;MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG&QUOT; CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Cấp 3/ Bài văn đạt giải nhất kỳ thi HSG Quốc gia năm 2001, bảng B: Vẻ đẹp con người Việt Nam "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi và "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu là những truyện ngắn hay, khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Anh, chị hãy so sánh để làm rõ những phám phá, sáng tạo riêng của mỗi tác phẩm trong sự thể hiện chủ đề chung của nó. (Đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 2001, bảng B) BÀI LÀM "Yêu biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loại sên!" Hình ảnh những con người Việt Nam ấy đã đi vào thơ ca như một niềm thơ lớn và trở thành phần hồn của mỗi người con đất Việt. Yêu biết mấy hình ảnh người dân quê tôi: cần cù trong lao động, anh hùng trong chiến đấu. Văn thơ thời kỳ kháng chiến chống Mĩ đã dựng lại cả một thời kỳ máu lửa, đi sâu tìm tòi khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người. Tôi nhớ mãi mãi một Tnú, cụ Mết trong "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thànn; chị Chiến, anh bộ đội tên Việt trong "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi; và cô Nguyệt - người con gái trẻ tuổi dũng cảm trong "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu. Họ là hiện thân của vẻ đẹp con người Việt Nam, của sức sống dân tộc. Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời lên nhắc nhở ta về một quãng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà đất nước mình đã đi qua. Để rồi mỗi lần đọc lại tôi không khỏi ngỡ ngàng vì người dân mình đẹp quá, dũng cảm; và lòng tôi được như sống lại những ngày còn chiến tranh bom đạn ấy. Đọc "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi, "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu, hiện lên một tập thể anh hùng nhiều thế hệ đang ngày đêm chiến đấu với kẻ thù để giữ từng tấc đất, ngôi nhà cho quê hương, đất nước. Viết về đề tài chiến tranh, cả ba nhà văn đề không đi sâu vào miêu tả những đau thương mất mát của dân mình, hay tội ác tày trời của giặc mỹ mà đi vào khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh. Tôi còn nhớ câu nói của một nhà văn nổi tiếng: Con người, tất cả ở con người. Có thể huỷ diệt được sự sống của con người nhưng không thể chiến thắng được nó. Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu viết về con người phải chăng cũng có một lòng tin như thế? Hình ảnh của Tnú, cụ Mết, Việt, chị Chiến, Nguyệt và còn biết bao con người nữa hiện ra trong cảnh sống chết từng giây, mưa bom bão đạn mà vẫn hiên ngang, sáng lên mốt vẻ đẹp phẩm chất lại thường. Họ là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, sức sống dân tộc. Những con người yêu nước thiết tha, chiến đấu quả cảm, quên mình vì tổ quốc ấy lại rất đỗi giản dị, sáng trong, gắn bó với từng làng, bản, thôn xóm. Bên cạnh phẩm chất anh hùng, Nguyệt trong "Mảnh trăng cuối rừng" còn sáng lên một tình yêu thuỷ chung, son sắc, đầy màu sắc lãng mạn. Các tác phẩm thời kỳ này đề đi vào khắc họa phẩm chất đẹp đẽ của con người với giọng điệu ca ngợi, hào hùng, vang vọng không khí sử thì hoành cháng. Ba tác phẩm đã dựng lên một tập thể anh hùng, nhiều thế hệ giữ hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, trong đó mỗi một nhân vật đều có một vẻ đẹp riêng, một tâm hồn, một cái "tôi' riêng hoà chung với cái "ta" rộng lớn ấy. "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành là một truyện ngắn xúc động, hào hùng về cuộc chiến tranh anh dũng của dân tộc Xô Man. Nhà văn đã đi sâu khám phá vẻ đẹp của những người con Tây Nguyên, những con người cả đời gắn bó với cây xà nu như gắn bó với Đảng, với cách mạng. Con người hiện lên trong trang văn của Nguyễn Trung Thành là một tập thể anh hùng nhiều thế hệ. Trang sử hào hùng cuả Tây Nguyên không phải chỉ một người viết mà là sự nối tiếp, kế tục từ đời nay sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ đã cùng nhau dựng xây làng bản, dựng xây làng bản của một thời đất nước dựng lên. Nguyễn Trung Thành đã tìm đến miền đất núi rừng đầy đau thương, nhà văn đẫ lắng nghe họ sống để lắng nghe họ sống để ghi lại cái nhịp sống hào hùng, ghị lại vẻ đẹp tâm hồn, bản chất anh hùng của những con người giản dị, mộc mạc mà thiêng liêng cao quý. Nguyễn Trung Thành như đã trở thành người con của Tây Nguyên, của dân làng Xô Man. Khi viết "Rừng xà nu" tựa hồ ông ngợi ca, tự hào về làng mình, về quê hương của mình. Nói đến phong trào đấu tranh của dân làng Xô Man, ta không quên hình ảnh anh Quyết. Anh là cán bộ của Đảng, là người đã nhen nhóm phong trào cách mạng cho cộng đồng dân làng Xô Man. Tnú còn nhớ như in lời của anh: " Sau này nếu Mĩ - Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh". Anh chính là ngọn lửa đấu tranh nóng bỏng lòng căm thù. Anh là người đã truyền sức mạnh, niềm tin cho Tnú, cho Mai..., Anh là một người chiến sĩ dũng cảm, anh hùng. Nếu anh Quyết là hiện thân của lớp trẻ, của Đảng thì hình ảnh của cụ Mết lại sáng lên trong truyện ngắn như một trụ cột của dân làng Xô Man. Chẳng những vậy mà sau này, Nguyễn Trung Thành đã ghi lại trong hồ ký, đại ý: Ông là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay. Ông như lịch sử trùm nhưng không che lấp đi sự nối tiếp mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn, sành sỏi và tự giác hơn. Một lời nói của cụ Mết như lời nói của sông núi, là lời nói của cả dân tộc. Ông cụ là cội nguồn của dân làng Xô Man, là người đã lãnh đạo dân làng đánh giặc: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo". Cụ hiện thân cho truyền thống, nét đẹp từ ngàn xưa của dân làng. Cụ rất ít khen tốt giỏi mà chỉ nói "được", cụ truyền lại sức mạnh, răn dạy con cháu: "Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bây còn sống phải nhớ nói lại cho con cháu". Hình ảnh cụ Mết là hình của một già làng suốt đời gắn bó với Tây Nguyên, chiến đấu bảo vệ muôn làng. Cụ tự hào về cây xà nu, đố nó giết hết rừng xà nu đất này. Đẹp thay hình ảnh của một ông cụ "râu bây giờ đã dài đến ngực vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược" hiển hiện giữa rừng núi Tây Nguyên. Và hình ảnh cụ cùng lớp thanh niên trong làng cầm giáo mác cứu Tnú cho thấy cụ là hiện thân của sức sống dân tộc, tâm hồn dân tộc. Nguyễn Trung Thành ngợi ca vẻ đẹp Tây Nguyên bởi vẻ đẹp tâm hồn cụ là vẻ đẹp của ngày xưa, trường tồn và mãnh liệt cho đến hôm nay. Viết về 'Rừng xà nu", viết về những con người anh hùng quả cảm, nhà văn đã khắc học hình ảnh nhân vật trung tâm: Tnú. Tnú là một thanh niên trẻ, anh dũng, gan dạn với một cuộc đời đầy bi kịch, đau thương nhưng anh đã vượt lên trên tất cả để sống, để chiến đấu và vẻ đẹp Tnú là vẻ đẹp của một con người chiến thắng,của một chiến sĩ anh hùng. Phẩm chất anh hùng của Tnú được bộc lộ từ khi anh còn là một cậu bé cùng Mai đưa thư, tiếp tế cho cán bộ. Tnú yêu cách mạng, yêu Đảng. Một lần bị giặc bắt, anh quyết không khai mặc dù bị tra tấn dã man. Lòng căm thù giặc đã trở thành dòng máu chảy trong lòng anh từ lúc làng Xô Man còn chưa biết vùng dậy đánh giặc. Tnú lớn lên trong sự yêu thương của dân làng, trong mối hận phải trả thù và ước ao được làm cán bộ. Anh trở thành anh thanh niên xung phong của dân làng Xô Man. Cuộc đời của Tnú là cuộc đời đầy cay đắng, bất hạnh. Một lần giặc đã bắt mẹ con Mai (vợ Tnú) để buộc anh phải ra hàng. Không kìm được lòng mình, khi nhìn thấy Mai cùng đứa con bị đánh, anh lao ra nhưng không cứu được hai mẹ con Mai. Rồi Mai chết, đứa con cũng chết, Tnú chắc cũng sắp chết. Tnú chỉ nghĩ " Ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc?" và chỉ tiếc không sống được đến ngày cùng dân làng nổi đậy. Chao ôi! Đến lúc cái chết cận kề anh cũng chẳng nghĩ cho bản thân mình. Tnú chỉ đau đáu một nỗi niềm với cách mạng, với Đảng. Rồi khi mười đầu ngón tay anh cháy như mười ngọn đuốc, anh cũng khong kêu van, anh thấy lửa cháy trong bụng, thấy máu đã mặn chát nơi đầu lưỡi "răng anh như đã cắn nán môi anh rồi". Tnú hi sinh tất cả, quên mình vì đồng loại. Bàn tay của anh là bàn tay của người anh hùng, bàn tay ấy kể với ta về số phận một con người đau thương mà không hề chùn bước. Tnú chẳng gục ngã như cây xà nu kia: "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên". Anh đem theo hình ảnh của Mai, của những tháng ngày đã qua, của hồi ức buồn để bước tiếp trên con đường cách mạng. Tnú là một con người anh hùng, quả cảm, giàu lòng yêu thương. Rồi bé Heng, Dít - tất cả đều mạng cái hồn của dân làng Xô Man. Nguyễn Trung Thành đã ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước với bản chất anh hùng, quả cảm của cả một cộng đồng vừa anh hùng lại vừa nhân ái trong công cuộc bảo vệ quê hương. Tôi còn nhớ câu thơ: " Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững Lưng đeo gươm tay mền mại bút hoa. Trong và thực, sáng hai bờ suy tưởng Sống nhân ái mà nhân ái chan hoà" Và nếu như Nguyễn Trung Thành khám phá vẻ đẹp ở những người con của miền rừng núi Tây Nguyên thì Nguyễn Thi trong "Những đứa con trong gia đình" lại phát hiện vẻ đẹp con người ở vùng nông thôn Nam Bộ. Và nếu như phẩm chất anh hùng trong "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành bộc lộ qua tập thể của dân làng Xô Man thì bản chất anh hùng trong chuyện ngắn Nguyễn Thi lại bộc lộ qua bối cảnh gia đình. Nhân vật chính trong truyện là Việt và Chiến. Cả hai chị em đều phải sống trong sự thiếu thốn tình thương khi ba vá má bị giặc sát hại. Việt và Chiến tranh nhau đi bộ đội, nỗi đau và sự thiếu hụt tình cảm gia đình đã hun đúc cho cả hai chị em lòng căm thù giặc sâu sắc. Việt là anh bộ đội gan dạ, dũng cảm, tuy bị thương nhưng vẫn cố tìm và quyết đi cùng đồng đội. Trên mặt trận chiến đấu, Việt là một anh lính cụ Hồ, anh hùng quả cảm, lập chiến công và vẫn khiêm tốn không muốn báo cáo cho chị biết. Chi mong mỏi, khao khát được đánh giặc để trả thù cho ba má. Nguyễn Thi đã ca ngợi vẻ đẹp, ca ngợi phẩm chất anh hùng của những đứa con trong gia đình tuy nhỏ tuổi mà vẫn nặng lòng với cách mạng, sãn sàng hi sinh thân mình vì sự nghiệp cứu nước. Bản chất anh hùng của con người Việt Nam có ở mọi thế hệ, mọi dân tộc, tựa như đã trở thành dòng máu ngầm chảy ở mỗi một con người đất Việt. Chiến và Việt là hình ảnh của lớp trẻ hăng hái, dũng cảm trên bước đường chiến đấu gian khổ khốc liệt của quê hương. Họ tiêu biểu cho sức trẻ có thể làm đổi thay lịch sử và ghi thêm trang mới. Nguyễn Thi đã phát hiện vẻ đẹp anh dũng của con người Việt Nam nhưng chưa đủ, nhà văn còn tìm thấy ẩm sâu bên trong những cong người gan góc, quả cảm ấy là cả một tình yêu thương lớn lao, tình yêu thương gia đình. Việt tuy đã trở thành một anh bộ đội nhưng vẫn ngây thơ, trẻ con như cậu bé thủa nào. Đoạn hai chị em khiêng bàn thờ bàn thờ ba má sang nhà chú Năm gửi để đi bộ đội thật cảm động, nó để lại trong lòng ta biết bao rung động, tình cảm ngọt ngào:"Nào, đưa ba má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má". Câu văn như nghẹn ngào mà lại chứa chan biết bao sự quyết tâm của chị em Chiến và Việt. Việt cảm nhận rõ gánh nặng đang đè lên vai mình, lần đầu tiên Việt cảm nhận lòng mình rõ như thế. Và Việt thấy thương chị. Con người Việt Nam trong chiến tranh đâu chỉ biết chiến đấu mà còn biết yêu thương. Họ đã vượt lên trên lỗi đau cá nhân để chiến đấu vì nỗi đau đồng loại. Hình ảnh của Chiến và Việt hiện lên trong trang viết của Nguyễn Thi thật xúc động, neo lại trong tâm hồn ta khiến ta vừa ngạc nhiên vừa ngỡ ngàng vì vẻ đẹp của con người Việt Nam một thuở. Không đi sâu vào đề tài chiến tranh, không miêu tả nhiều về cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, truyện ngắn "Mánh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu đã tìm những hạt ngọc còn ẩn sâu trong cuộc sống. Nhà văn đã viết về đề tài tình yêu trên nền của chiến tranh bom đạn. Đọc "Mảnh trăng cuối rừng' ta bồi hồi tự hỏi: "Và nơi đâu trên trái đât này Người vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay. Sống chết từng giây, mưa bom bão đạn Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tình bạn" Có nơi nào đẹp như nơi này chăng? Và có người dân nơi đâu vừa anh hùng trong chiến đấu, vừa nóng bỏng căm thù lại vẫn mát tươi một tình bạn, một tình yêu, tình đồng đội và tất cả gom lại thành tình yêu quê hương, đất nước? Hiện lên trong "Mảnh trăng cuối rừng" Nguyễn Minh Châu là hình ảnh của Nguyệt. Vẻ đẹp ngoại hình và phấm chất của Nguyệt được khắc hoạ, miêu tả thông qua cái nhìn của Lãm. Nguyệt sống giữa bom đạn mà bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá được ư? Nguyệt có một niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Hình ảnh Nguyệt hiện lên với " đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ" ở đâu tác phẩm đã gây cho người đọc biết bao yêu mến. Nguyệt có vẻ đẹp dịu dàng, "mát mẻ như sương núi" toả ra từ nét mặt, dáng người mảnh dẻ. Nguyệt còn là một cô gái dũng cảm, gan dạ khi giúp Lãm vượt qua quãng đường khó. Lời nói cứng cỏi " Anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó" cùng hình ảnh "Nguyệt nhìn vết thương, cười khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp" đã làm Lãm "dấy lên tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục" và còn in đậm mãi trong lòng độc giả hình ảnh một cô gái trẻ tuổi, gan góc thông minh được Nguyễn Minh Châu khắc học với giọng điệu ca ngợi trân trọng. Nhà văn đã tìm thấy ở Nguyệt hiện thân của sức trẻ - một sức sống, sức chống chịu phi thường. Nguyệt hiện lên trang viết giữa khung cảnh chiến tranh như mọt mảnh trăng non đầu tháng, sáng trong, dịu hiền và luôn ẩn dấu một vẻ đẹp khiến ta phải tìm kiếm. Thế nhưng nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả phẩm chất anh hùng của Nguyệt mà còn khắc họa được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu, sức sống lãng mạn của tình yêu, sức sống mãnh liệt và niềm tin bất diệt của cô gái và cuộc sống. Nguyệt yêu Lãm mà chưa hề biết mặt, chưa hề thư từ mà chỉ qua lời của chị Tính. Cô nguyện chờ Lãm, mặc cho đôi khi Lãm phải ngạc nhiên vì "cái sợ chỉ xanh óng ánh" , phải thần thán khi biết Nguyệt vẫn một lòng chờ mình. Không dần dần được khám phá soi tỏ. Trong chiến tranh người ta không chỉ biết chiến đấu mà còn sáng lên một tình yêu thuỷ chung son sắc. Nếu Nguyệt chỉ thông minh, gan dạ, dũng cảm thì cô cũng chỉ như biết bao những cô gái thanh niên xung phong khác. Nguyễn Minh châu đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn, tưởng như mỏng manh giữa chiến tranh, bom đạn của người con gái ấy. Nguyệt sáng lên trong trang viết của ông hoà cùng ánh trăng, và văn Nguyễn Minh Châu cũng sáng lên trong lòng chúng ta bởi sức sống mãnh liệt của con người. Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyệt khiến ta tin yêu con người,, kỳ vọng vào tương lai. Nguyễn Minh châu đã tìm thấy hạt ngọc nơi cuối rừng, hạt ngọc giữa thời rực lửa và cất lên khúc ca ngơi ca về con người, về vẻ đẹp con người Việt Nam hoà chung với khúc ca bất diệt, đầy tự hào của văn học thời kỳ chống Mĩ cứu nước. "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi, "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu là những tượng đài lộng lẫy về vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đầy gian khổ thử thách mà rất đỗi anh hùng, sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp của con người thời chiến với giọng điệu ngợi ca, hào hùng nhưng ở mỗi tác phẩm ta đều bắt gặp một cách khám phá sáng tạo riêng. Nếu như với "Rừng xà nu" Nguyễn Trung Thành đã dựng lên một tập thể anh hùng với hình ảnh cây xà nu ham ánh sáng, có sức sống dẻo dai thì Nguyễ
Minh Châu lại khắc hoạ hình ảnh mẳng trăng non cuối rừng để làm sáng lên vẻ đẹp của Nguyệt. Nếu như 'Rừng xà nu" và "Những đứa con trong gia đình" đậm không khí sử thi, âm vang trầm hùng, bút pháp hoàng tráng, đố sộ thì "Mảnh trăng cuốc rừng" lại đến với lòng ta bằng một giọng điệu thiết tha, ngọt ngào, giàu màu sắc lãng mạn. Ba tác phẩm đi vào những khía cạnh khác nhau của đời sông kháng chiến, nhân vật hiện lên từ những khung cảnh, hoàn cảnh khác nhau và bút pháp khắc hoạ cũng mang tính độc đáo, cá biệt nhưng đều góp phần vào tiếng nói chung của dân tộc, tiếng nói phám phá ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biết động, "Rừng xà nu", "Những đứa con trong gia đình", "Mảnh trăng cuối rừng" mãi là những bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng, đã ghi lại cái quá khứ hào hùng, sôi động của đất nước mình một thuở. Vẻ đẹp của con người Việt Nam đã làm nên cái hồn của cả dân tộc và góp phần làm cho tác phẩm sống mãi với thời gian. Văn học thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã bắt được cái nhịp sống của dân tộc, đã ngợi ca sức sống và vẻ đẹp của con người. Giờ lật lại, chúng ta không khỏi tự hào, xúc động về những năm tháng đất nước mình đã đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của con người đất Việt. Và ta mãi cất lên những bài ca không bao giờ quên - bài ca viết về quê hương, viết về con người bởi tự hào biết mấy hai tiếng: Việt Nam.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đọc hiểu tác phẩm &quot;Bình Ngô đại cáo&quot; của Nguyễn Trãi

ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM &QUOT;BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO&QUOT; CỦA NGUYỄN TRÃI

1. Thể loại Cáo là thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc xưa. Cáo được chuyên dùng để vua công bố việc lớn với muôn dân. Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo vốn là tên gọi một bài cáo cổ xưa nhất của Trung Quốc để thay lời Lê Lợi công bố cuộc bình Ngô thắng lợi với thiên hạ. Cáo thường hay dùng văn biền ngẫu. Văn biền ngẫu còn gọi là “biền văn”, “biền lệ văn” hoặc “văn tứ lục” (biền là ngựa đi sóng đôi ; ngẫu là đôi, cặp). Văn biền ngẫu có năm đặc điểm :  Ngôn ngữ đối ngẫu : các vế đối nhau theo bằng trắc, từ loại ;  Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ đối với câu 6 chữ hoặc câu 4/4 và câu 6/6 đối nhau ;  Có vần điệu, bằng trắc hài hoà ;  Sử dụng điển cố ;  Sử dụng từ ngữ bóng bẩy có tính phô trương. Trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi còn có loại câu 5 chữ, 7 chữ, 10 chữ, 14 chữ rất đa dạng. 2. Tác giả Nguyễn Trãi (1380 1442) hiệu là Ức Trai, quê gốc làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời đến Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha ông là Nguyễn Ứng Long, một học trò nghèo, đỗ Thái học sinh đời Trần. Mẹ là Trần Thị Thái  con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi là vị anh hùng toàn đức, toàn tài nhưng cũng là người chịu nỗi oan thảm khốc hiếm có trong lịch sử. Hết mình phục vụ và giúp đỡ nhà Lê từ khi Lê Lợi khởi nghiệp ở Lam Sơn đến khi triều đình thịnh vượng nhưng ông lại bị chính triều đình ấy tru di cả ba họ. Năm 1427, giặc Minh sang xâm lược nước ta. Nhiều quan đại thần (trong đó có Nguyễn Phi Khanh) bị chúng bắt đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi là con của Nguyễn Phi Khanh, muốn đi theo cha để phụng dưỡng. Nghe lời cha khuyên nhủ, Nguyễn Trãi đã ở lại, gia nhập nghĩa quân Lam Sơn để đền nợ nước, trả thù nhà. Trong đoàn quân của Lê Lợi, Nguyễn Trãi trở thành một vị quân sư kiệt xuất. Ông còn dùng ngòi bút của mình để lung lạc ý chí chiến đấu của kẻ thù. Những bức thư của ông trong Quân trung từ mệnh tập từng khiến cho Vương Thông cùng đám quân sĩ của hắn mất tinh thần để rồi cuối cùng phải quy hàng, chấm dứt mười năm đô hộ nước ta. Khi đất nước thái bình thì Nguyễn Trãi lại gặp hoạ. Với bản tính trung thực, thẳng thắn, ông bị bọn quan lại nịnh thần ghen ghét. Nhân cái chết của Lê Thái Tông, chúng đã ghép ông vào tội giết vua khiến ông phải chịu cái chết rất thảm khốc vào năm 1442. Hơn hai mươi năm sau (1464), vua Lê Thánh Tông mới giải oan cho ông. Những tác phẩm văn chương của Nguyễn Trãi còn lại với chúng ta ngày nay rất phong phú : Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập,... đặc biệt là Bình Ngô đại cáo  một áng thiên cổ hùng văn, bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta (sau bài Nam quốc sơn hà). 3. Bố cục Bài cáo gồm năm đoạn :  Đoạn 1 (từ Từng nghe đến Chứng cớ còn ghi) : Nêu luận đề chính nghĩa.  Đoạn 2 (từ Vừa rồi đến …thần nhân chịu được ?) : Tố cáo tội ác của giặc.  Đoạn 3 (từ Ta đây đến …lấy ít địch nhiều.) : Lãnh tụ và nghĩa quân trong buổi đầu dấy nghiệp.  Đoạn 4 (từ Trọn hay đến …chưa thấy xưa nay) : Quá trình kháng chiến đi đến thắng lợi.  Đoạn 5 (phần còn lại) : Tuyên bố hoà bình, khẳng định ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. 4. Đọc hiểu Có thể nói : Bình Ngô đại cáo là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc ta sau Nam quốc sơn hà. Nhưng nó là bản Tuyên ngôn độc lập hùng tráng nhất thời kì trung đại. Nguyễn Trãi viết Bình ngô đại cáo vào giữa lúc niềm vui của cá nhân hoà chung niềm vui lớn của dân tộc. Vì thế mà tác phẩm oai hùng đậm chất sử ca. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo có thể được chia thành 4 mạch : 4.1. Niềm tự hào tự tôn dân tộc Nguyễn Trãi mở đầu bài cáo bằng một nguyên lí chính nghĩa được các dân tộc thời kì trung đại mặc nhiên thừa nhận : Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Nhân nghĩa là mối quan hệ giữa con người với con người được xây dựng trên cơ sở của tình thương yêu và đạo lí làm người. "Nhân nghĩa" với Nguyễn Trãi là "yêu dân" và "trừ bạo". Có xuất xứ từ một quan niệm của Nho gia, song đến Việt Nam, Nguyễn Trãi đã biến nó thành một khái niệm đậm tính dân tộc. Sau khi nêu nguyên lí "nhân nghĩa", Nguyễn Trãi viết những câu văn thật hào hùng, sang sảng, chất chứa lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Đoạn văn nêu ra hàng loạt những chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập của một lãnh thổ, một quốc gia. Đó là một đất nước được xây dựng lên từ lịch sử dân tộc có một nền văn hoá lâu đời : Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Tất cả đều mặc nhiên "vốn có" : từ núi sông vốn đã phân định rạch ròi đến "phong tục Bắc Nam cũng khác". Rõ ràng ta có đủ chủ quyền đất nước bởi từ cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán đến nền văn hoá, rồi lịch sử, rồi chế độ ta đều độc lập đứng trên một cái thế đối vững vàng cùng với nền văn minh phương Bắc. So với Nam quốc sơn hà thì Bình Ngô đại cáo thực sự là một bước tiến dài của Nguyễn Trãi trong việc hoàn chỉnh khái niệm về quốc gia, về dân tộc. Không có minh chứng nào thuyết phục hơn cho nguyên lí nhân nghĩa bằng chính "chứng cứ còn ghi" trong lịch sử. Sự thất bại của Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã làm tiêu vong những thế lực phi nghĩa. Cũng đồng thời khẳng định chiến thắng luôn đứng về những người đấu tranh cho chính nghĩa. Cách lập luận của Nguyễn Trãi thật hoàn thiện và cũng đầy sắc sảo. 4.2. Lòng căm thù lũ giặc bất lương, tàn bạo Cũng như đoạn văn trên, đoạn kể tội quân thù cũng ngắn nhưng sắc sảo. Một bản cáo trạng đanh thép được viết lên từ một lòng căm thù sục sôi. Đoạn văn mở đầu, tác giả chỉ rõ : Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ, Nguyễn Trãi đã vạch trần âm mưu xâm lược của giặc. Lợi dụng việc Hồ Quý Li cướp ngôi nhà Trần, giặc Minh đã "thừa cơ gây hoạ". Núp dưới bóng cờ "phù Trần diệt Hồ", giặc đã giả nhân giả nghĩa để thực hiện bài "mượn gió bẻ măng". Âm mưu xâm lược của quân giặc gian xảo bao nhiêu thì chính sách cai trị của chúng càng thâm độc bấy nhiêu. Vẫn là những chính sách cũ nhưng thâm độc hơn nhiều : chúng không chỉ bóc lột vơ vét hết mọi sản vật, sức người, sức của của dân ta mà chúng còn huỷ hoại cả môi trường sống (tàn hại giống côn trùng cây cỏ) và tàn sát con người không biết ghê tay. Hai câu : Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. như được viết ra bằng máu và nước mắt của người anh hùng suốt đời một lòng vì dân vì nước. Vơ vét sản vật, tiêu diệt con người, tội ác của giặc không giấy bút nào tả xiết : Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Nguyễn Trãi chọn cái vô cùng (trúc Nam Sơn, nước Đông Hải) để nói đến tội ác của một loài quỷ dữ (thằng há miệng, đứa nhe răng). Hai câu cuối kết án vô cùng đanh thép : Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được ? Tội ác của giặc Minh đã vượt qua cái giới hạn của lẽ trời. Hành động nhơ bẩn của chúng khiến cả thần và người đều không thể tha thứ. Đứng trên lập trường nhân nghĩa, đoạn văn là máu, là nước mắt, thể hiện sự căm hận sục sôi của Nguyễn Trãi đối với kẻ thù. 4.3. Âm điệu hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Tác giả tái hiện hình tượng người anh hùng Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu gian khó : Ta đây : Núi Lam Sơn dấy nghĩa, Chốn hoang dã nương mình Nhưng cái lớn ở Lê Lợi chính là lòng căm thù giặc sâu sắc. Từ đó mà cái chí của người anh hùng là "tấm lòng cứu nước" như con thuyền lúc nào cũng "đăm đăm muốn tiến về Đông". Cái chí khí ấy lại được rèn đúc qua những tháng ngày "quên ăn vì giận" để rồi ngay cả trong cơn mộng mị vẫn băn khoăn một nỗi niềm cứu nước. Hình ảnh Lê Lợi vì thế mà đã trở thành biểu tượng tập trung của lòng yêu nước, căm thù giặc "thề không cùng sống". Viết về Lê Lợi, Nguyễn Trãi chú trọng gợi lại những ngày tháng mà vị chủ tướng phải "nếm mật nằm gai", "đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời". Trong cảm nhận của người đọc, người chủ tướng Lam Sơn vừa vĩ đại lại vừa rất đời thường, gần gũi, tàng ẩn đằng sau sự miêu tả là một triết lí nhân sinh sâu sắc : mỗi người dân đều có thể hoá những anh hùng. Đã có người dựng cờ khởi nghĩa nhưng những ngày đầu, nghĩa quân còn phải đối diện với biết bao gian khổ : thiếu nhân tài, thiếu binh lính, thiếu quân lương. Nhưng khi "tấm lòng cứu nước" trở thành lời giục gọi thì đội quân "manh lệ chi đồ" mà "phụ tử chi binh" đã "gắng chí khắc phục gian nan" để đến được những thắng lợi cuối cùng. Có lẽ trong việc dùng binh xưa, Lê Lợi là người nhìn ra sớm nhất và cũng đồng thời đánh giá cao nhất vai trò, sức mạnh của những người dân ở tầng lớp đáy cùng (những người manh lệ). Đoạn văn như bản trường ca hào hùng về khí thế quyết chiến, quyết thắng của nghĩa quân. Một lần nữa, Nguyễn Trãi nhắc lại để khắc sâu nguyên lí nhân nghĩa : Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo. Lời văn dịch chưa thật sát ý. Trong nguyên bản, Nguyễn Trãi đề : "Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo". Dưới ngọn cờ đại nghĩa, đội quân của nhà Lê lấy cái chí nhân để làm cho cường bạo phải đổi thay về bản chất chứ không phải cuộc khởi nghĩa chỉ làm một việc giản đơn (lấy chí nhân mà thay vào cường bạo). Câu văn trong nguyên tác thật sâu xa. Cái ác phải bị đổi thay và cái thiện, cái chính nghĩa phải làm cho cái ác phải đổi thay tận gốc. Đoạn văn được viết sau nguyên lí nhân nghĩa là một đoạn hả hê, sảng khoái. Tiết tấu, âm điệu câu văn dồn dập, ồn ào như tiếng thác. Sự thay đổi đột ngột đó phù hợp với cái khí thế của quân ta đang lên như gió bão. Đoạn văn gợi hình dung toàn cảnh về những ngày tháng cả dân tộc sống trong không khí của sử thi. Những chiến thắng của nghĩa quân liên tiếp như "sấm vang chớp giật", như "trúc chẻ tro bay"... Theo đó thì sự thất bại của quân thù là tất yếu : "máu chảy thành sông tanh trôi vạn dặm", "thây chất đầy nội ; nhơ để ngàn năm". Hàng loạt những động từ mạnh kết hợp với nhạc điệu dồn dập, nhịp văn gấp gáp, hối hả gợi đầy đủ cái khí thế ào ào như vũ bão. Chính nghĩa lướt qua gian tà để cuốn phăng ra bể tất cả những tàn bạo, nhuốc nhơ. Những mốc thời gian : Ngày mười tám... Ngày hai mươi... Ngày hăm lăm... Ngày hăm tám... những cái "danh" không thể giấu nổi sự hèn nhát và nhục nhã : Trần Trí, Sơn Thọ, Lí An, Phương Chính, Vương Thông, Mã Anh... Tất cả làm nên một khung cảnh chiến trường tuy hỗn độn nhưng thế chủ động hoàn toàn đã thuộc về phe chính nghĩa. Quân giặc nhốn nháo, hãi hùng, mỗi tên mỗi vẻ vô cùng thảm hại. Nhưng nhân dân ta vốn ưa hoà bình, không thích cảnh binh đao : Họ đã tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực lòng ; Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Quân giặc đã "tham sống sợ chết", ta cũng chẳng cạn tình. Quan điểm "dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo" của Nguyễn Trãi chính được biểu hiện ở đây. Hành động nhân ái của ta càng tô thêm cái chính nghĩa và lòng nhân đạo sáng ngời của dân tộc Việt. 4.4. Cảm hứng về ngày độc lập và cảm hứng về tương lai của đất nước Kết thúc bài cáo, Nguyễn Trãi trịnh trọng, vui mừng thay mặt Lê Lợi tuyên bố với nhân dân cả nước thắng lợi vừa qua. Từ đây dân tộc bước vào một thời đại mới. Độc lập, tự do và sự yên bình lại trở về trên mỗi miền quê. Đoạn văn dựa vào những quy luật tất yếu của tự nhiên mà khái quát thành những điều tất yếu trong xã hội. Xã hội phải đối diện với "những sự đổi thay" nhưng cũng như càn khôn "bĩ rồi lại thái", như nhật nguyệt "hối rồi lại minh". Và dường như cũng chỉ có như vậy ta mới thấu hết được cái ý nghĩa của hình ảnh đất nước trong gian lao, và mới hiểu thế nào là "muôn thuở nền thái bình vững chắc". Đất nước đã thanh bình, hình ảnh đất nước trong tương lai vững vàng và tươi sáng : “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”. Một áng "thiên cổ hùng văn" kết hợp hài hoà cái tinh tuý cá nhân và thời đại. Bằng một bút lực tuyệt vời, Nguyễn Trãi đã tự bất tử hoá tác phẩm của mình, biến nó thành một tác phẩm "vô tiền khoáng hậu"  mãi mãi là bài ca giáo dục truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. * Liên hệ 1. Cáo là hình thức văn chính luận, nên phải phản ánh được nội dung chính trị quy định một cách chặt chẽ, nhưng bài đại cáo này lại được Nguyễn Trãi viết theo thể tứ lục biến cách với đặc tính gợi tả qua nhiều hình tượng sinh động, và âm thanh phong phú, khiến cho bài văn có đoạn trầm hùng của khí thế xung trận, lại có đoạn lắng đọng trong niềm xúc cảm của tâm can... Nếu nói rằng tư tưởng chủ đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là tư tưởng "đánh vào lòng người" (tư tưởng "tâm công"), thì nghệ thuật bài đại cáo này cũng đạt đến trình độ "đi vào lòng người", đi vào tình cảm cao quý nhất của con người đất Việt, tình cảm yêu nhân nghĩa, yêu hoà bình qua sắc thái của ngôn từ. Đúng như Võ Khâm Lân, một nhân sĩ ở thế kỉ XVII, đã nhận xét, bài đại cáo này quả là "một áng thiên cổ hùng văn" (một bài văn có lời sắc bén vốn có xưa nay), nó là sự kết tinh của bút pháp anh hùng ca với bút pháp trữ tình, là sự nhuần nhuyễn giữa yếu tố chính trị với yếu tố nghệ thuật. Tất nhiên, trong áng hùng văn này, chúng ta cũng phải loại trừ một vài chi tiết mà ngày nay, có thể coi là chưa thích đáng, do hạn chế của thế giới quan tác giả thời bấy giờ, thí dụ, tác giả đã theo Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử kí xếp triều đại Triệu Đà vào triều đại khai sáng của dân tộc ta, hay ở phần cuối, khi nêu ra nguyên nhân thắng lợi, tác giả đã cho rằng : "Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy !". Nếu cho rằng đó là một cách phát biểu để đề cao truyền thống yêu nước từ tổ tiên ta chuyển tới thì chắc hẳn cũng được, nhưng nếu nói là có một yếu tố thần kì có tính chất siêu hình quyết định sự thành công trọng đại này, thì hoàn toàn không đúng ; yếu tố thần kì đó thật ra chỉ là sức mạnh tổng hợp vật chất và tinh thần của quân dân thời khởi nghĩa Lam Sơn, là sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân trong khuôn khổ thời khởi nghĩa Lam Sơn, dưới sự lãnh đạo tài tình của Lê Lợi và bộ tổng tham mưu, trong đó có nhà thao lược xuất sắc Nguyễn Trãi. Tuy nhiên, một vài tì vết nhỏ bé đó không làm mờ được ánh hào quang toả ra tự áng văn gần như "toàn bích" này… (Bùi Văn Nguyên, Giảng văn, tập 1, Sđd) 2. Đại cáo bình Ngô từ bao đời được coi như một áng "thiên cổ hùng văn" nói lên khí phách anh hùng và tâm hồn cao đẹp của cả dân tộc Việt Nam. Đại cáo bình Ngô được thể hiện qua ngọn bút thiên tài của Nguyễn Trãi, trở thành sản phẩm tinh thần đẹp nhất của thời đại ông. Có thể nói Đại cáo bình Ngô là tác phẩm tập thể của toàn thể nhân dân ta dưới sự chỉ đạo tuyệt vời của lãnh tụ Lê Lợi. Nói như thế không có nghĩa là làm giảm giá trị của Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô mà chính là đặt ông vào vị trí cao nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Nhà thơ chân chính của dân tộc không bao giờ chỉ là một con người ấp ủ và thổ lộ những tâm tư thầm kín của riêng mình. Nhà thơ chân chính phải là người ngày đêm sống với những lo âu, hoài bão và ý chí của dân tộc, để từ đó kết tinh lại trong tâm hồn và tác phẩm của mình những gì đẹp nhất, lớn nhất, sâu nhất của dân tộc. Nguyễn Trãi là nhà thơ như thế và chính ông là người đã nêu cao truyền thống ấy của những nhà thơ chân chính ở Việt Nam. Đại cáo bình Ngô là một tác phẩm vừa văn học vừa khoa học. Nó phân tích ta là ai, địch là ai, vì sao ta kiên cường chiến đấu, vì sao dân tộc ta luôn luôn chiến thắng và muôn đời bất diệt. Đại cáo bình Ngô là tấm gương soi của đất nước Việt Nam, của con người Việt Nam. Nó là bản anh hùng ca về ý nghĩ, thái độ và việc làm của toàn thể nhân dân ta suốt đời này qua đời khác. Nó là tiếng vọng của ngàn xưa cho đến mai sau, mãi mãi nói lên rằng chúng ta, những người Việt Nam, chúng ta đã sống như thế, đang sống như thế và sẽ sống như thế. Đại cáo bình Ngô chính là bản tuyên ngôn về lẽ sống của chúng ta. (Vũ Khiêu, Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi, NXB Văn học, 1980)
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đọc hiểu văn bản &quot;Cố hương&quot; của Lỗ Tấn

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN &QUOT;CỐ HƯƠNG&QUOT; CỦA LỖ TẤN

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: Lỗ Tấn (1881-1936) là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, lúc nhỏ tên là Chu Chương Thọ, tên chữ là Dự Tài, sau đổi là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Sinh trưởng trong một gia đình quan lại sa sút, mẹ xuất thân là nông dân nên từ nhỏ ông đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với đời sống nông thôn. Từ lúc còn trẻ, ông đã từ giã gia đình, quyết tâm đi tìm con đường lập thân mới, khác với những thanh niên cùng quê đương thời. Ông từng qua học ngành hàng hải, địa chất rồi y học, sau mới chuyển sang văn chương vì nghĩ rằng văn học là vũ khí lợi hại để "biến đổi tinh thần" dân chúng đang ở tình trạng "ngu muội" và "hèn nhát". Công trình nghiên cứu và tác phẩm văn chương của Lỗ Tán rất đồ sộ và đa dạng, trong đó có 17 tập tạp văn và hai tập truyện ngắn xuất sắc là Gào thét (1923) và Bàng hoàng (1926). - Niên Phổ Lỗ Tấn (trích phần có liên quan với Cố hương) 1989: Đến Nam Kinh (thủ phủ tỉnh Giang Tô, tỉnh kề liền với tỉnh Chiết Giang là quê của Lỗ Tấn) thi vào Giang Nam thủy sư học đường (một loại trường hàng hải). 1899: Chuyển sang học trường Khoáng lộ học đường (một loại trường địa chất). 1902: Tốt nghiệp Khoáng lộ học đường. Được cử đi du học ở Nhật Bản. 1906: Về nước, vâng lời mẹ kết hôn với một cô gái họ Chu ở Sơn Âm, cùng quê ở phủ Thiệu Hưng (Chiết Giang). Lại sang Nhật Bản. 1909: Về nước - Dạy lí, hóa ở trường Sư phạm Chiết Giang. 1910: Làm giáo vụ kiêm giáo viên trường trung học Thiệu Hưng. 1910: Làm hiệu trường trường Sư phạm Thiệu Hưng. 1912: Lên Nam Kinh làm ở Bộ Giáo dục. Sau đó, lên Bắc Kinh. 1919: Về Thiệu Hưng đưa mẹ và em là Chu Kiến Nhân lên Bắc Kinh (theo Trương Chính, Lỗ Tấn, NXB Văn hóa, 1977). - Một số ý kiến của Lỗ Tấn về văn học "Mỗi khi chọn đề tài, tôi đều chọn những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật, với mục đích là lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa...". "Việc tôi tả đại để là những cái tôi từng trông thấy hoặc nghe thấy ít nhiều, nhưng tôi quyết không dùng hoàn toàn sự thực đó, chỉ chọn một ít, rồi thay đổi đi, hoặc phát triển thêm, cho đến khi có thể gần như hoàn toàn diễn được ý định của tôi mới thôi" (Vì sao tôi viết tiểu thuyết, Trương Chính dịch). "Dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người đưa ta đưa ra chém đầu thị chúng(1) và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi.. Cho nên, điều chúng ta cần phải làm trước là biến đổi tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ..." (Tựa viết lấy cho tập Gào thét, Trương Chính dịch). - Lỗ Tấn và cách mạng "Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào của Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ: Hoành mi lãnh đối thiên phu chi Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu. Xin tạm dịch là: Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ Cúi đầu làm ngự các nhi đồng. Nghìn lực sĩ có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mĩ. Cũng có nghĩa là sự khó khăn gian khổ. Các nhi đồng nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích nước lợi dân" (Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, 1961, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6). "Thời đại người Trung Quốc làm nô lệ hoặc muốn làm nô lệ mà không được mà Lỗ Tấn từng nguyền rủa đã qua lâu rồi, con cháu của Nhuận Thổ, Tường Lâm đã trở thành người chủ quốc gia, người xây dựng cuộc sống mới". ... "Lỗ Tấn từng nói: trên mặt đất vốn không có đường, đường là do con người giẫm nát chỗ không có đường mà tạo ra, là khai phá chỗ gai góc mà có... Bất kể gặp bao nhiêu gian nan trắc trở, chúng ta cần bước tiếp, kiên định không nao núng. Trong sự nghiệp vĩ đại xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, hãy đứng vững trên đất, gạt bỏ hết chông gai, tinh thần phấn chấn, đoàn kết phấn đấu, không ngừng tìm tòi và sáng tạo. Đó chính là cách kỉ niệm Lỗ Tấn hay nhất" (Tư liệu văn học 8, NXB Giáo dục, 2002). 2. Tác phẩm: Cố hương là một trong số các truyện ngắn tiêu biểu nhất của nhà văn Lỗ Tấn, được in trong tập "Gào thét" (1923). Trong truyện, tác giả phê phán sự sa sút của nông thôn phong kiến chủ yếu thông qua hai nhân vật Nhuận Thổ và Hai Dương. Niềm hi vọng được gửi gắm vào hình tượng hai cháu bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Câu chuyện về chuyến từ biệt làng quê được kể từ nhân vật Tấn - xưng "tôi". Câu chuyện thấm đẫm những trạng thái cảm xúc buồn vui của "tôi", đồng thời thể hiện một quan điểm mới về cuộc sống qua những chiêm nghiệm, suy ngẫm giàu tính triết lí của nhân vật này. 3. Tóm tắt: Nhân vật "tôi" về thăm quê. Làng quê hiện lên trong kí ức đẹp hơn làng quê thực tại. "Tôi" về mới biết mẹ sắp dọn nhà. Nhân vật "tôi" gặp thím Hai Dương, rồi gặp lại Nhuận Thổ - người bạn từ hai mươi năm trước, bây giờ tiều tuỵ vì túng bấn, đông con. Gia đình "tôi" rời làng, nhân vật "tôi" nghĩ về con đường xã hội tương lai. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Đọc truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn, ta bắt gặp một nỗi thất vọng trước sự sa sút, suy tàn của làng quê phong kiến, lễ giáo phong kiến và niềm hi vọng thiết tha vào một cuộc sống mới, vào tư¬ơng lai của thế hệ trẻ. Có thể hình dung bố cục của truyện thành ba phần. - Phần đầu là hành trình trở về làng quê của nhân vật "tôi" (Tấn) - ngư¬ời kể chuyện (từ đầu cho đến "đang làm ăn sinh sống"). - Phần giữa là những ngày "tôi" ở làng quê để từ biệt (từ "Tinh mơ sáng hôm sau" cho đến "xấu tốt đều mang đi sạch trơn như quét."). - Phần cuối là "tôi" và gia đình trên đường ra đi (từ "Thuyền chúng tôi thẳng tiến" cho đến hết). Tác giả phản ánh từ đó phê phán sự sa sút của nông thôn phong kiến chủ yếu thông qua hai nhân vật Nhuận Thổ và Hai Dương. Niềm hi vọng được gửi gắm vào hình tượng hai cháu bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Câu chuyện về chuyến từ biệt làng quê được kể từ nhân vật Tấn - xưng "tôi". Câu chuyện thấm đẫm những trạng thái cảm xúc buồn vui của "tôi", đồng thời thể hiện một quan điểm mới về cuộc sống qua những chiêm nghiệm, suy ngẫm giàu tính triết lí của nhân vật này. Không phải khi gặp lại và chứng kiến những thay đổi của Nhuận Thổ nên Tấn mới buồn mà cái buồn đã bao trùm ngay từ đầu truyện, trong chặng đư¬ờng trở về quê hương. Có vẻ buồn của một người trở về "vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu, đem gia đình đến nơi đất khách", song nỗi buồn trĩu nặng tâm can là nỗi buồn trước cảnh làng quê: "thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm dưới vòm trời vàng úa". Khung cảnh ấy làm dấy lên nỗi nghi hoặc thầm dự cảm về những chuyện buồn rồi đây sẽ gặp ở quê hương: "hẳn làng cũ của mình vốn chỉ như thế kia thôi, tuy chưa tiến bộ hơn xưa, nhưng cũng vị tất đến nỗi thê lương như mình tưởng. Chẳng qua là tâm mình đã đổi khác...". Sự tương phản giữa "tôi" xưa và tôi "nay" trong cảm nhận còn xuyên suốt thiên truyện. Có thể thấy sự thay đổi sa sút của quê hương "tôi" ở sự biến dạng của Nhuận Thổ. Tác giả tạo ra sự tương phản trong thời gian quá khứ và hiện tại để lột tả những thay đổi đáng buồn của Nhuận Thổ, người đã từng là bạn với Tấn từ thủa thiếu thời. Trong kí ức "tôi" sống dậy những hình ảnh tuyệt đẹp của quá khứ thần tiên hơn hai mươi năm trước, trong đó nổi bật hình ảnh một Nhuận Thổ khoẻ khoắn, lanh lợi "cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba", "nước da bánh mật" với biết bao chuyện lạ, bao điều kì thú. Đối lập với một Nhuận Thổ hiện tại già nua, thô kệch, nặng nề, da dẻ "vàng xạm, lại có thêm những nếp nhăn sâu hoắm". Nhuận Thổ bây giờ sống trong một tình cảnh bi đát: "Con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cư¬ớp, quan lại, thân hào đày đoạ thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi!". Khi xưa, lúc hai ng¬ười bạn phải chia tay: "Lòng tôi xốn xang, tôi khóc to lên", Nhuận Thổ "cũng khóc mà không chịu về". Bây giờ gặp lại bạn cũ Nhuận Thổ "Bẩm ông!" khiến Tấn điếng người và cảm thấy đã có "một bức tường khá dày ngăn cách". Bức tường ngăn cách ấy khiến người khổ không thể giãi bày, người sướng hơn không thể chia sẻ. Cuộc sống buồn thảm, con người buồn thảm, tình bạn cũng buồn thảm! Duy chỉ có vẻ chân thật trong Nhuận Thổ là thoát được sự sa sút, biến dạng: "Ngày đông tháng giá, chẳng có gì. Đây chỉ là ít đậu xanh của nhà phơi khô, xin ông...". Giá như không có cái điệu bộ khúm núm, không có những sáo ngữ thưa gửi thì đã không đáng buồn đến thế. Thực trạng thê thảm của làng quê còn được tác giả phơi bày khi ông xây dựng nhân vật Hai Dương. Thái độ của người kể chuyện lộ rõ sự châm biếm khi nói về con người này. Đó là một người đàn bà "trên dưới năm mươi tuổi, lưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính", với bộ dạng "hai tay chống nạnh, không buộc thắt lưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí". Ngư¬ời đàn bà đã từng được mệnh danh là "nàng Tây Thi đậu phụ" này lộ rõ tính cách hợm hĩnh, lưu manh khi bịa đặt kể công bế ẵm Tấn và chỉ chực dòm ngó chôm chỉa đồ đạc. Và còn những con người khác của cái làng quê ấy cũng thật đáng buồn: "Kẻ đến đưa chân, người đến lấy đồ đạc. Có kẻ vừa đưa chân, vừa lấy đồ đạc.". Tất cả được bày ra như biểu thị sự tha hoá của con người. Cho nên, ta mới hiểu tại sao kẻ từ biệt quê hương ra đi mà lòng lại không chút lưu luyến như thế. Làng quê xưa đẹp đẽ là vậy, những con người khi xưa đáng yêu là vậy mà hiện tại chỉ còn là những hình ảnh biến dạng, sa sút. Người ra đi chỉ còn thấy lẻ loi, ngột ngạt trong bốn bức tường vô hình, cao vọi. ấn t¬ượng đẹp đẽ về quê hương đã tan vỡ, hình ảnh ng¬ười bạn "oai hùng, cổ đeo vòng bạc" vốn rõ nét là thế mà trong thời khắc từ biệt đã trở nên mờ nhạt, ảo não. Nhưng đó không phải là những hình ảnh khép lại thiên truyện. Những triết lí sâu sắc về hi vọng trong cuộc sống con người vốn đã được ươm mầm từ khi tác giả xây dựng hình tượng hai bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Khi Tấn sống với dòng hồi ức tuổi thơ, anh đã nhận ra: "Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm ra được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi.". Quê hương đẹp ở những kỉ niệm của thời niên thiếu oai hùng, thần tiên. Bây giờ, Hoàng và Thuỷ Sinh thấy khoan khoái khi ở bên nhau, chúng thân thiết với nhau, không "cách bức" như Tấn và Nhuận Thổ. Cuộc sống mới phải được bắt đầu từ những tấm lòng trẻ trong trắng, hoà đồng. Tấn nghĩ đến cuộc sống tương lai và khẳng định: "Chúng nó cần phải sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống". Thực tại còn u ám, thê lương. Nhuận Thổ xin chiếc lư hương và đôi đèn nến để thờ cúng, cũng là để cầu nguyện cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Còn "tôi" cũng đang hi vọng và mong ước những điều đẹp đẽ cho tương lai thế hệ trẻ. Những câu văn kết thúc thiên truyện chợt trở nên thâm trầm, triết lí: "đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng như những con đ¬ường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Ng¬ười ta đi mãi thì thành đư¬ờng thôi." Cái hi vọng là cái chưa có, không ai hi vọng cái đang có bao giờ! Cái hi vọng cũng không là cái đã từng có, người ta phải hướng tới những cái mới, tốt đẹp hơn. Cảnh tượng đẹp đẽ có phần giống những hình ảnh trong hồi ức tuổi thơ của Tấn với Nhuận Thổ hiện ra khi anh đang mơ màng là thực. Trong cuộc đời mới của thế hệ Hoàng - Thuỷ Sinh, ngay cả vẻ đẹp ấy cũng sẽ khác. Cuộc đời mới ấy còn ở phía trước, có thể là xa vời, nhưng con người cứ mong ước, mong ước mãi để có được nó. Rồi cuộc sống mới ấy cũng sẽ đến, đúng như chân lí về sự hình thành của những con đường trên mặt đất vậy. (Sưu tầm)
Xem thêm

4 Đọc thêm

TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VỀ BA TÍNH &QUOT;TỰ TI&QUOT;, &QUOT;TỰ PHỤ&QUOT; VÀ &QUOT;TỰ TRỌNG&QUOT;

TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VỀ BA TÍNH &QUOT;TỰ TI&QUOT;, &QUOT;TỰ PHỤ&QUOT; VÀ &QUOT;TỰ TRỌNG&QUOT;

“Tự ti”, “tự phụ”, “tự trọng” là những nét tính cách và trạng thái tâm lí thường có ở con người. Giữa chúng có những nét giống nhau và khác nhau nhưng đều tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách và sự thành công hay thất bại trong cuộc đời của mỗi con người. Tính “tự ti”, “tự phụ” và “tự trọng” được thể hiện như thế nào trong cuộc sống ?. Thế nào là tính “tự ti” ?. “Tự ti” là tự đánh giá mình thấp nên thiếu tự tin vào năng lực của bản thân. Vì thế mà ngại suy nghĩ, nói năng, hành động, ngại giao tiếp với mọi người. Những ai mắc tính “tự ti” thường cho rằng mình yếu kém, bất tài, chẳng có gì nổi bật so với người khác. Nói theo kiểu dân gian là : “Ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời”, làm gì hỏng nấy. Từ nhận thức sai lệch về mình, họ sẽ trở nên thụ động, thiếu hẳn sự linh hoạt, sáng tạo trong mọi công việc vì sợ thất bại, sợ trách nhiệm. Tính “tự ti” cản trở rất lớn đến sự phấn đấu vươn lên của mỗi cá nhân, bởi nó tạo ra sức ỳ và thói xấu ỷ lại cùng tâm lí thất bại. Mà đã sẵn tâm lí thất bại thì không bao giờ có thể thành công. Tâm lí “tự ti” đi ngược lại tâm lí chung của số đông là ai cũng muốn khẳng định mình, muốn thành đạt trong cuộc sống. Do đó, “tự ti” là trạng thái tâm lí tiêu cực, chúng ta không nên có. Từ ngày xưa, dân gian đã có những câu ca dao nói về tính “tự ti”, ví dụ : Cây khô xuống nước cũng khô, Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo. Hoặc : Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa thì quét lá đa. Nếu mang nặng tâm lí ấy, con người sẽ tê liệt ý thức phản kháng, đấu tranh, chấp nhận những ngang trái, bất công trong xã hội, chấp nhận thân phận thấp hèn con sâu cái kiến, bị rẻ rúng, khinh bỉ, bị áp bức, bóc lột. Nguyên nhân sâu xa của tính “tự ti” phần lớn là do thiếu tự chủ, tự lập và thiếu nghị lực cùng quyết tâm phấn đấu. Nói như nhà giáo Nguyễn Bá Học đầu thế kỉ XX thì đây chính là tâm lí “ngại núi e sông”. Thế nào là tính “tự phụ” ?. “Tự phụ” là tự đánh giá mình quá cao và tỏ ra coi thường người khác. Nó đồng nghĩa với kiêu căng, tự mãn. Một người có năng khiếu hoặc tài giỏi ở một lĩnh vực nào đó và đã được xã hội công nhận, ví dụ như nhà văn, nhà toán học, nhà vật lý học, hay một ca sĩ, một diễn viên điện ảnh nổi tiếng chẳng hạn… không có nghĩa đó là người toàn tài, có quyền đứng trên tất cả. Thuở vừa nổi tiếng trên thi đàn “Thơ mới”, Xuân Diệu đã viết : “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất, Không có chi bè bạn nổi cùng ta” (“Hy-mã-lạp-sơn”). Để rồi sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thi sĩ tự phê phán đó là nhận thức ấu trĩ, nông nổi của tuổi trẻ. Quả đúng như vậy !. Tuổi trẻ thường hăng hái và xốc nổi, hay ngộ nhận về mình. Có chút tài năng nào đó đã vội cho mình là “trung tâm vũ trụ”, mọi người phải tung hô, nể phục, phải ca ngợi, còn mình thì có “đặc quyền” đòi hỏi thỏa mãn tất cả những gì mình muốn. Một số ca sĩ và diễn viên điện ảnh hiện nay đã mắc bệnh “ngôi sao”, khiến nhiều người bực bội và ngao ngán. Trong một lớp học, học sinh nào kiêu căng, “tự phụ” thường cô độc, ít bạn bè. Mà như thế thì sự khiếm khuyết về tình cảm, về đời sống tinh thân là điều khó tránh khỏi. “Tự phụ” là thói xấu có hại. Nó làm cho người ta ảo tưởng về mình. Tài năng chỉ chút đỉnh nhưng lại tưởng mình là thiên tài, để rồi nảy sinh thói huênh hoang, khoác lác, hợm hĩnh đến mức lố bịch, đáng ghét. Kẻ tự phụ ngồi đâu cũng thích nói về mình, khoe khoang cái mình có, thâm chí bịa đặt, thổi phồng cả những cái mình không hề có để thỏa mãn tính thích hơn người. Vì không nhận thức đúng đắn về bản thân nên kẻ mắc bệnh “tự phụ” khó có thể thành công lâu dài và ít nhận được sự ủng hộ của số động. Thế nào là “tự trọng” ?. “Tự trọng” là coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Đây là một nét tính cách được coi là nền tảng để làm nên phẩm giá cao quý của một con người chân chính. Từ ngàn xưa, tổ tiên chúng ta đã đặt danh dự lên hàng đầu : “Đói cho sách, rách cho thơm”; “Tốt danh hơn lành áo”; “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”… “Tiếng” ở đây chính là những nhận xét, đánh giá tốt đẹp của cộng đồng xã hội về một cá nhân nào đấy và điều đó sẽ được lưu truyền mãi mãi. Người có tính “tự trọng” luôn nhận thức đúng đắn về bản thân và về những người xung quanh. Biết phân biệt đúng, sai, phải, trái; cái gì nên làm và cái gì không nên làm. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn thiếu thốn đến đâu, người có tính “tự trọng” vẫn luôn giữ nếp sống trong sạch, thanh cao, không vì chút quyền lợi vật chất mà bán rẻ lương tâm, danh dự. Những bậc chính nhân quân tử nổi tiếng trong lịch sử như Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiếp, Lê Hữu Trác, Cao Bá Quát… và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh là gương sáng của lòng “tự trọng”, xứng đáng cho muôn đời con cháu noi theo. Tính “tự trọng” được thể hiện qua suy nghĩ, lời nói và từng công việc trong cuộc sống hằng ngày. Ví dụ như một học sinh không thuộc bài nhưng dứt khoát không quay cóp của bạn bên cạnh, không giở sách để chép, đó là “tự trọng”. Có lỗi, biết nhận và biết sửa lỗi, đó là “tự trọng”. Việc gì làm được thì cố gắng làm, không phiền lụy đến người khác, đó là “tự trọng”… Điều đáng lưu ý là bản thân phải tôn trọng mình trước, không làm điều gì tổn hại đến thanh danh, không bị khuất phục trước cường quyền, bạo lực; không bị mua chuộc bởi tiền tài, danh vọng. Tính “tự trọng” không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình được giáo dục và tự tu dưỡng lâu dài của mỗi cá nhân. Rèn luyện, tạo cho mình tính “tự trọng” và giữ vững đức tính ấy suốt cuộc đời quả là cực khổ, nhưng để mất nó thì cực dễ. Người xưa đã đúc kết : “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”; “Kiếm củi ba năm thiêu một giờ” để nói đến những trường hợp như vậy. Ngạn ngữ Nga có câu : “Hãy giữ gìn chiếc áo từ khi còn mới. Hãy giữ gìn danh dự từ khi còn trẻ trung”. Đó là lời khuyên bổ ích và thiết thực cho tất cả những ai muốn trở thành con người chân chính. Trong ba tính : “tự ti”, “tự phụ” và “tự trọng” thì chúng ta nên chọn “tự trọng” vì đó là đức tính rất đáng quý. Nó giúp chúng ta phát triển nhân cách, có ý chí và nghị lực vươn lên để thành công trong cuộc sống. Xin các bạn hãy nhớ cho rằng mất tiền bạc hay mất một thứ gì đó có thể kiếm lại được, chứ đánh mất lòng “tự trọng” thì người ta dễ dàng tha hóa và sa vào vực thẳm tội lỗi. Gương xấu của những thanh thiếu niên hư hỏng, của những cán bộ biến chất, tham nhũng mà báo chí và nhân dân lên án đã chứng minh cho điều đó.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích hình ảnh &quot;Đầu súng trăng treo&quot; trong bài thơ &quot;Đồng Chí&quot; của Chính Hữu.

PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH &QUOT;ĐẦU SÚNG TRĂNG TREO&QUOT; TRONG BÀI THƠ &QUOT;ĐỒNG CHÍ&QUOT; CỦA CHÍNH HỮU.

Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. Bài làm: Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Hơn thế nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp, thơ mộng, rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Đầu súng trăng treo- đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao, súng và trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh trăng. ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng và trưng kết hợp nhau; súng tượng trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá, làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp, vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Chỉ có trăng “treo”. Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”, chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. ở đây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Nhưng có lẽ cô kết nhất, hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Nó là biểu tượng, là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Lãng mạng nhưng không thoát li, không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Lãng mạn vì con người cần có những phút sống cho riêng mình. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời, hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích bài thơ &quot;Đồng chí&quot; của Chính Hữu

PHÂN TÍCH BÀI THƠ &QUOT;ĐỒNG CHÍ&QUOT; CỦA CHÍNH HỮU

Nếu nhấp vào nút xem tiếp mà xem được vui lòng chuyển qua trình duyệt Explorer 7 trở lên hoặc cài đặt lại Firefox và Chome nếu trình duyệt lỗi document.write('u003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0035u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003e') Tham khảo thêm các bài phía dưới Bài 1: Đồng chí là tiếng gọi thân thương tha thiết, biểu hiện thật đầy đủ tình đồng đội của anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng Pháp. Cảm nhận được tình cảm vừa thân quen vừa mới lạ trong cuộc sống chiến đấu ấy, Chính Hữu, một nhà thơ - chiến sĩ đã xúc động viết bài thơ Đồng chí. Với lời thơ chân chất, tràn đầy tình cảm, bài thơ đã để lại bao cảm xúc trong lòng người đọc. Cả bài thơ thể hiện rõ tình đồng đội keo sơn gắn bó giữa những người chiến sĩ quân đội nhân dân trong cuộc sống chiến đấu gian khổ. Họ là những người xuất thân từ nhân dân lao động chỉ quen việc "cuốc cày" ở những vùng quê nghèo khác nhau, vì có chung tấm lòng yêu nước, họ đã gặp nhau từ xa lạ bỗng trở thành thân quen. Chính Hữu đã kể về những con người ấy bằng lời thơ thật xúc động : Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Họ đều xuất thân từ những vùng đất khô cằn, nghèo khổ "nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá". Từ "xa lạ" gặp nhau. Thật là thú vị, nhà thơ không nói hai người xa lạ mà là "đôi người xa lạ", vì thế ý thơ được nhấn mạnh, mở rộng thêm. "Hai người" cụ thể quá. Đôi người là từng "đôi" một - nhiều người. Trong đơn vị quân đội ấy, ai cũng thế. Hình ảnh những con người chẳng hẹn quen nhau nói lên một sự xa lạ trong không gian và tình cảm. Nhưng khi tham gia kháng chiến, những con người ấy cùng nhau chiến đấu, cùng nhau chịu đựng gian khổ, chung lưng đấu cật bên nhau. Vì thế họ trở thành thân nhau, hiểu nhau, thương nhau và gọi nhau là "đồng chí". "Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí" Tình cảm ấy thật thân thương, thật tha thiết. Giọng thơ đang liền mạch nhẹ nhàng, thủ thỉ tâm tình, bỗng ngắt nhịp đột ngột. Từ Đồng chí lại được tách ra làm câu riêng, một đoạn riêng. Với cấu trúc thơ khác thường ấy tác giả đã làm nổi bật ý thơ. Nó như một nốt nhấn của bản nhạc, bật lên âm hưởng gây xúc động lòng người. Câu thơ chỉ có một từ Đồng chí - một tiếng nói thiêng liêng. Đồng chí một sự cảm kích về nhiều đổi thay kì lạ trong quan hệ tình cảm. Thế là thành đồng chí. Tình cảm ấy lại đựơc biểu hiện cụ thể trong cuộc sống chiến đấu. Những lúc kề bên nhau, họ lại kể cho nhau nghe chuyện quê nhà. Chuyện "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày", "Gian nhà không mặc kệ gió lung lay" cả chuyện "Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính"... Từ những lời tâm tình ấy cho ta hiểu rằng : Các anh chiến sĩ mỗi người đều có một quê hương, có những kỉ niệm thân thiết gắn bó với quê nhà và khi ra đi hình bóng quê hương đều mang theo trong họ. Các anh lại cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng chịu gian khổ bên nhau. Trong gian lao vất vả họ lại tìm được niềm vui, niềm hạnh phúc trong mối tình đồng chí. Làm sao các anh có thể quên được những lúc ướt mồ hôi, cùng chịu với nhau từng cơn ớn lạnh. Cuộc sống bộ đội nghèo vất vả nhưng không thiếu niềm vui. Dẫu áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá... dẫu trời có buốt giá thì miệng vẫn cười tươi. Tình cảm chân thành tha thiết ấy không diễn tả bằng lời mà lại thể hiện bằng cách nắm lấy bàn tay. Thật giản dị và cảm động. Không phải là những vật chất của cải, không phải là những lời hoa mĩ phô trương. Những người chiến sĩ biểu hiện tình đồng chí là bàn tay nắm lấy bàn tay. Chính đôi tay nắm chặt ấy đã nói lên tất cả những ý nghĩ thiêng liêng cao đẹp của mối tình đồng chí : Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Câu thơ vừa tả cảnh thực vừa mang nét tượng trưng. Tác giả tả cảnh những người lính phục kích chờ giặc trong đêm sương muối. Súng hướng mũi lên trời có ánh trăng lơ lửng giữa trời như treo trên đầu ngọn súng. Đồng thời "Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tượng trưng. Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn Vừa thực, vừa mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu vừa mang tính trữ tình. Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ. Đây là hình ảnh đẹp tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu. Hình ảnh thật độc đáo gây xúc động bất ngờ, thú vị cho người đọc. Nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấu và mối tình đồng chí thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ. Bằng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chân thực gợi tả có sự khái quát cao, Chính Hữu đã cho ta thấy rõ quá trình phát triển của một tình cảm cách mạng trong quân đội. Ở đây nhà thơ đã xây dựng hình ảnh thơ từ những chi tiết thực của cuộc sống thực trong đời thường của người chiến sĩ, không phô trương, không lãng mạn hóa, thi vị hóa, chính những nét thực đó tạo nên sự thành công của tác phẩm. Bài thơ đánh dấu một bước ngoặt mới trong phương pháp sáng tác và cách xây dựng hình tượng người chiến sĩ trong thơ thời kì chống Pháp. (Sưu tầm) Bài 2: Chính Hữu là một trong những nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. ông viết thơ không nhiều và chủ yếu là viết về đề tài người lính trong cuộc kháng chiến với một cảm xúc dồn nén và ngôn ngữ cô đúc, chọn lọc. Đồng chí được viết vào năm 1948 rút trong tập "Đầu súng trăng treo" là một trong những bài thơ tiêu biểu về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Hai dòng thơ đầu tiên tác giả giới thiệu hoàn cảnh xuất thân của người lính Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá " Anh" và "tôi" được tác giả đặt ở hai câu thơ tạo ra một sự sóng đôi trong cấu trúc với những lời thơ mộc mạc chân tình như chính hoàn cảnh xuất thân của họ. Anh ra đi từ vùng "nước mặn đồng chua" còn tôi vào lính từ một vùng "đất cày lên sỏi đá". Đó là những mảnh đất bạc màu, nhiễm mặn cằn cỗi, khô cằn. ở họ đều giống nhau ở cái nghèo khó, vất vã, giống nhau ở cái chất nông dân chất phác. Anh và tôi từ xa xôi thành gần gũi, từ lạ trở thành thân quen. Và cũng từ đây họ trở thành "đồng đội" và "tri kỉ" của nhau. Cách sử dụng hai thành ngữ rất sáng tạo khiến câu thơ trở nên gần gũi và giàu hình ảnh. Tình đồng chí không những bắt nguồn từ cảnh ngộ mà hơn thế nữa, tình đồng chí còn được hình thành từ cùng chung nhiệm vụ, chung lí tưởng, sát cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu. Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Hai hình ảnh hoán dụ "súng" và "đầu" được tác giả đặt gần nhau khẳng định sự thống nhất trong lí trí và tình cảm của người chiến sĩ. "Súng" biểu tượng cho chiến tranh, cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, "đầu" biểu tượng cho lí trí và tình cảm. Từ cái khó khăn, thiếu thốn khiến cho người lính hiểu và cảm thông cho nhau hơn và chính điều đó đã khiến họ trở thành "tri kỉ". Thật cảm động biết bao khi đọc câu thơ "đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ". Đúng là "trong khó khăn, hoạn nạn mới hiểu lòng nhau" như câu ngạn ngữ đã nói. Sự nghiệp giải phóng dân tộc đã xoá bỏ mọi khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người. ""Súng bên súng" là chung chiến đấu, "đầu sát bên đầu" thì chung rất nhiều: không chỉ là gần nhau về không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng" . Đến khi đắp chung chăn trong đêm giá rét thì họ đã thực sự là anh em một nhà. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng viết: "Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" để thể hiện tình kháng chiến gắn bó, bền chặt. Để nói về sự gần gũi, sẻ chia, về cái thân tình ấm áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung. Như thế, tình đồng chí đã bắt nguồn từ cơ sở một tình tri kỉ sâu sắc, từ những cái chung giữa "anh" và "tôi". Tri kỉ là hiểu bạn như hiểu mình, sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi, đắng cay với bạn. Tại sao tác giả dùng từ “đôi” mà không dùng từ “hai”? đôi là gắn bó chặt chẽ với nhau, không tách ròi nhau như đôi bát , đôi đũa ..Đó là cách độc đáo trong cách dùng từ của nhà thơ. Hai tiếng "đồng chí" được tá giả cố ý tách thành một câu thơ như một dụng ý nghệ thuật vừa tạo ra sự hài hoà, cân đối của bài thơ vừa tạo ra ra điểm nhấn như khẳng định sự thiêng liêng cao đẹp của tình cảm đồng chí, đồng đội đồng thời nó khép lại một ý thơ. Câu thơ chỉ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sau câu thơ trước và khởi đầu cho những suy nghĩ tiếp theo. Đó chính là cái làm nên chất hàm súc trong ngôn từ của Chính Hữu. Những câu thơ tiếp theo là những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí và đồng đội. Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ giáo lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Hình ảnh ruộng nương, gian nhà không, giếng nước, gốc đa hiện lên thật bình dị mà gần nũi biết bao. Đó là những hình ảnh rất thân quen của những người nông dân. Ruộng vườn và căn nhà lung lay trước gió đang chờ đợi những bàn tay của người chồng, người cha sửa chữa thế nhưng người lính vẫn tạm gác lại tất cả lo toan và tính toán nơi quê nhà để ra trận. Người lính ở đây đã hi sinh tất cả những gì là riêng tư là cá thể để đi làm nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả hơn, họ đã đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân . Họ ra đi mang theo trên vai mình cả trọng trách của cả Tổ quốc, từ "mặc kệ" vừa dứt khoát vừa quyết tâm. Có người cho rằng người lính ở đây thật vô tình vì còn có gì sâu nặng hơn gia đình quê hương vậy mà họ không chút bận tâm khi ra đi. Nhưng đó mới là cái làm nên sự cao đẹp không gì sánh nổi trong tình cảm của người lính. Là con người - nhất là người Việt Nam thường sống nặng về tình cảm chắc không ai "mặc kệ" quê hương, gia đình nhưng ở người lính còn một thứ tình cảm còn to lớn hơn rất nhiều, đó là tình cảm với Tổ quốc dân tộc. Họ sẵn sàng hi sinh tình cảm quê hương, làng xóm, gia đình để phục vụ cho Tổ quốc cho lí tưởng cách mạng. Chúng ta càng phải cảm động và cảm thông cho những mất mát và thiệt thòi cho họ. Hình ảnh nhân hoá "giếng nươc gốc đa" khiến ta nghĩ đến những người thân, làng xóm đang ngóng trông họ trở về trong khúc khải hoàn ca chiến thắng. Chắc rằng đó cũng là nỗi nhớ của người lính với quê hương, gia đình. Khi trở thành đồng chí, đồng đội của nhau người lính phải chịu rất nhiều thử thách. Thử thách trong thiếu thốn, trong bệnh tật và trong chiến đấu. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá.. Chân không giày Lại là những câu thơ rất chân thật về hoàn cảnh của anh bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu cuộc kháng chiến chông Pháp. Người lính không chỉ thiếu ăn, thiếu mặc và hơn hết là họ luôn phải đối mặt với những cơn bệnh sốt rét khủng khiếp vì những đêm dài hành quân trong rừng Trường Sơn. Chắc hẳn chúng ta không ai quên những câu thơ của Quang Dũng đã viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Đó là những người lính bị bệnh sốt rét đến mức tóc rụng hết nhưng không vì thế mà họ nhụt chí, yếu đuối ngược lại ở họ vẫn giữ được khí phách oai nghiêm, kiên cường đạp lên mọi chông gai thử thách để chiến thắng mọi khó khăn, mọi kẻ thù. Nếu như Quang Dũng nói đến sốt rét để tô đậm vẻ đẹp bi tráng của những người chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái rét, cái ác nghiệt của sốt rét là để nói về tình đồng đội, đồng chí trong gian khổ, là sự thấu hiểu, cảm thông giữa những người lính. Trong bất cứ sự gian khổ nào cũng thấy họ sát cánh bên nhau, san sẻ cho nhau: "Anh với tôi biết...", "áo anh... - Quần tôi...", "tay nắm lấy bàn tay". Cái "Miệng cười buốt giá" kia là cái cười lạc quan ngay cả trong gian khổ để vượt lên gian khổ, cười trong buốt giá để lòng ấm lên, cũng là cái cười đầy cảm thông giữa những người đồng đội. Giá buốt mà không lạnh lẽo cũng là vì thế. Đọc những câu thơ này ta vừa không khỏi chạnh lòng khi thấu hiểu những gian nan, vất vả khi thế hệ cha ông đã từng tãi qua và dâng trào một niềm khâm phục ý chi và bản lĩnh vững vàng của nhữngngwời dân vệ quốc. Người lính càng chịu đựng nhiều gian khổ thì tình đồng chí, đồng đội càng gắn bó hơn càng bền chặt hơn. Tình cảm của họ vẫn bền chặt không gì tách rời "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" . Đó là cái nắm tay truyền cho nhau sức mạnh để chiến đấu, truyền cho nhau tình yêu thương và sự cổ vũ, động viên. Cái nắm tay tuy âm thầm, lặng lẽ trong đêm sương giá buốt nhưng hơi ấm của nó có sức lan toả đến tận trái tim, thấm cả vào lòng người. Hơi ấm đó đủ để xoá tan đi cái nhợt nhạt, lạnh cóng của đêm sương, để sưởi ấm tình đồng chí. Nhà thơ đã phát hiện ra sức mạnh tinh thần ẩn sâu trong trái tim người lính. Người đọc nhận thấy các hình ảnh thơ, ngôn từ thật giản dị nhưng lại có sưc truyền cảm rất lớn. Cả bài thơ không có một hình thức nghệ thuật nào cao siêu xa lạ mà với những hình ảnh chân thực, giọng điệu chân thực, bút pháp hiện thực và đặc biệt là ngôn ngữ rất cô đúc, giản dị giống như người nông dân Chính Hữu đã tái hiện lại một quá khứ chiến tranh đầy gian khổ mà hào hùng, khó khăn thiếu thốn mà gắn bó keo sơn của những người lính Cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Đồng chí đã thể hiện rất rõ vẻ đẹp của những con người sống và chiến đấu vì hạnh phúc, tự do. Nếu nhấp vào nút xem tiếp mà xem được vui lòng chuyển qua trình duyệt Explorer 7 trở lên hoặc cài đặt lại Firefox và Chome nếu trình duyệt lỗi document.write('u003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0035u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003e')
Xem thêm

5 Đọc thêm

ANH (CHỊ) HÃY VIẾT BÀI VĂN VỀ VẤN ĐỀ &QUOT; THẮNG VÀ BẠI&QUOT;. &QUOT; KHÔN VÀ DẠI&QUOT; TRONG CUỘC SỐNG ?

ANH (CHỊ) HÃY VIẾT BÀI VĂN VỀ VẤN ĐỀ &QUOT; THẮNG VÀ BẠI&QUOT;. &QUOT; KHÔN VÀ DẠI&QUOT; TRONG CUỘC SỐNG ?

Trong bài thơ " Dậy đi mà". Tố Hữu có viết: ' Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần'. Anh (chị) hãy viết bài văn về vấn đề " thắng và bại". " khôn và dại" trong cuộc sống ? Bài làm: Sự thắng và bại, dại và khôn là những yếu tố luôn tham gia vào sự tạo thanh cuộc sống của từng cá nhân. Trong sự đối lập giữa chiến thắng và chiến bại, giữa dại và khôn, con người vẫn thường tìm đến chiến thắng, sự khôn ngoan để xây dựng cuộc sống tốt đẹp như ý muốn. Nhưng ta có nên chỉ tôn trọng chiến thắng mà coi khinh thất bại, tìm sự khôn ngoan và tránh sự dại khờ trong cuộc sống? Nói về vấn đề này, nhà thơ Tố Hữu đã có những vần thơ: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Những dòng thơ ấy đã gợi ra nhiều cách nghĩ, cách nhìn mới rất đáng trân trọng về mối liên hệ giữa thắng và bại,dại và khôn trong cuộc sống Theo cách nhìn nhận thông thường, sự chiến thắng, khôn ngoan được coi là những yếu tố tích cực mà con người có trách nhiệm phải tìm tới để có được cuộc sống nhiều niềm vui. Còn sự thất bại, dại khờ luôn được đánh giá là những yếu tố tiêu cực, chỉ khiến cuộc sống con người thêm nhiều nỗi buồn, trắc trở. Sự phân biệt giữa các yếu tố được xác lập rất rõ, một bên luôn nhận được nhiều sự trân trọng và một bên chỉ có sự ghẻ lạnh, hắt hủi. Nhưng tron câu thơ của Tố Hữu, sự phân định đó đã được thay thế băng một cách nhìn mới. Trong cách nhìn ấy,thành và bại, dại và khôn không chỉ đối lập mà còn tương giao, là sự chuyển tiếp lẫn nhau. Sự thất bại, dại khờ không là những điều đáng hổ thẹn mà là những thử thách cần phải vượt qua để tìm ánh sáng của sự thành công, sự khôn ngoan. Thắng và bại, dại và khôn chỉ là những quá trình, những điểm mốc nối tiếp nhau trong cuộc sống để làm nên sự trưởng thành của con người. Thất bại giúp con người tìm được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng, và làm sự thành công đó thêm ý nghĩa. Sự dại khờ là điều ai cũng phải trải qua ở những chặng đường khác nhau của cuộc đời để thêm khôn ngoan, chín chắn. Qua đó, nhà thơ Tố Hữu cũng ngầm khẳng định giá trị của sự bền lòng, bền chí trong mối tương giao giữa thắng và bại,dại, khôn. Chính sự bền chí, kiên nhẫn là điều kiện không thể thiếu để mỗi người từ sự thất bại, dại khờ tìm được con đường đúng đắn để vươn tới sự thành công, sự khôn ngoan. Cũng chính sự bền chí là chìa khóa giúp từng người hiểu được vị thế, khả năng của mình giữa những nẻo đường chuyển giao giữa thắng-bại, dại- khôn. Lịch sử đã từng ghi nhận rất nhiều cuộc đời mà thành quả lớn lao của họ gắn liền với nỗ lực họ phải bỏ ra để từ thất bại, dại khờ tìm đến khôn ngoan, thành công. Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, văn hào Ban- dắc đã gặp phải nhiều nỗi khổ hơn là niềm vui, nhiều sự chê cười hơn là sự ngợi khen. Nhưng Ban-dắc không vì thế mà đánh mất đi sự tự hào và niềm tin vào khả năng của mình. Càng gặp nhiều thử thách, ông càng rút ra nhiều kinh nghiệm và càng nỗ lực sáng tác hơn. Sự nỗ lực và kiên trì đã giúp Ban-dắc từ thất bại tìm đến thành công, từ một cây bút luôn bị coi thường trở thành một đại văn hào. Với A-ri-xtôt, ông là một trong những nhà triết học, khoa học vĩ đại nhất thời đại của ông. Nhưng để có được sự thành công và uyên bác ấy, bản thân ông đã trải qua rất nhiều khó khăn từ thời còn trẻ.Ngay chính thiên tài Anh-xtanh cũng gặp rất nhiều khó khăn thởi tuổi trẻ. Nhưng có ai biết ẩn sau sự dại khờ của đứa trẻ Anh-xtanh khi ấy là một sự khôn ngoan, uyên bác bậc thầy của nhà khoa học Anh-xtanh sau này. ở những bước chân đầu tiên vào thế giới của các nhà vật lí, Anh-xtanh đã phải rất vất vả để bảo vệ những nghiên cứu của mình. Nhưng khi ông đã vượt qua mọi sự thất bại và dại khờ, cuộc đời ông trở thành một tấm gương mà nhân loại sẽ mãi còn nhớ đến và trân trọng. Không chỉ Ban-dắc, A-ri-xtốt, Anh-xtanh….mà còn rất nhiều danh nhân khác mà nhân loại không thể nào quên sự cống hiến, những thành tựu của họ. Ai cũng phải trải qua một cuộc đời thắng và bại, dại và khôn luân chuyển tiếp lẫn nhau. Thất bại, dại khờ chỉ càng là động lực cho họ sửa sai. Sự thành công và uyên bác không làm họ quên đi khát khao học tập, cống hiến. Với họ, thắng và bại, dại và khôn đều không mang ý nghĩa quá tích cực hay tiêu cực mà là những chặng đường mỗi người đều phải vượt qua cho sự trưởng thành của mình. Thắng và bại, dại và khôn luôn đến và đi không một lời báo trước. Đó đều là những bài học cuộc sống đem đến cho con người. Không có người luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh hay dại khờ. Chỉ có những người có thể và không thể nhận ra những cơ hội và thử thách mình gặp phải, cả khi thành công hay thất bại, thông minh hay dại khờ.Điều đáng quý nhất mà lời thơ trên của Tố Hữu đem đến là thái độ tỉnh táo và kiên trì cần có để nhìn rõ quy luật những dòng chảy của thắng, bại, dại, khôn. Dù đang đứng giữa yếu tố nào, con người vẫn cần có thái độ sống đó. Bằng cách nhìn nhận cuộc sống như vậy, sự thắng bại, dại, khôn tạm thời góp phần tạo nên những gì vĩnh hằng mà cuộc đời để lại. Thắng, bại,dại, khôn chỉ là những yếu tố luôn đến và đi, điều còn ở lại là sự trưởng thành và chín chắn, sự kiên trì và tỉnh táo mà con người tìm ra được. Nhưng dù thắng, bại, dại, khôn luôn chuyển tiếp lẫn nhau, yếu tố quyết định sự chuyển tiếp ấy vẫn là nhận thức của con người. Thất bại sẽ mãi còn đó nếu con người không rút ra những kinh nghiệm hợp lí để tìm tới thành công. Sự dại khờ sẽ ám ảnh một cuộc đời mãi mãi nếu cuộc đời đó không có ý thức tìm đến cơ hội để có sự khôn ngoan. Lúc đó, sự thất bại, dại khờ chỉ còn mang nghĩa tiêu cực như cách nhìn nhận thông thường. Bên cạnh đó, vẫn còn những cá nhân mang cách nhìn rất sai lâm về thành bại. Họ dựa vào sự chuyển tiếp của thành bại để biện hộ cho một chuỗi thất bại, dại khờ của mình. Không phải cuộc sống làm họ thất bại mà chính họ đã khiến mình như vậy ngay khi bước vào cuộc sống. Trong cuộc sống vẫn đầy thay đổi của ngày hôm nay, sự đến và đi của thắng, bại, dại, khôn càng không thể báo trước. Điều làm nên bản lĩnh sống của từng cá nhân là thái độ, những bước đi của cá nhân đó trong sự luân chuyển giữa các yếu tố trên. Sự sợ hãi , lúng túng, bi quan những lúc vấp ngã vì thử thách chỉ làm mọi việc tồi tệ hơn. Thái độ sống, sự nhìn nhậnđúng đắn các yếu tố thắng, bại, dại, khôn luôn cần cho mọi thế hệ vì sự tồn tại và phát triển của xã hội Sự sống đem cho từng cuộc đời những chuỗi thử thách ngẫu nhiên và bất định. Sự thắng, bại, dại, khôn là những hình thái khác nhau của những chuỗi thử thách đó. Nhân cách, tâm hồn của từng người luôn được mài giũa, tôi luyện cho một cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa hơn. Trong sự mài luyện ấy, mọi cách nhìn quá coi trọng thành công hay quá khinh rẻ thất bại đều không phải là thái độ sống hợp lí. Mỗi người đều trải qua sự thắng, bại, dại, khôn của riêng mình. Cách nhìn hợp lí vị thế của bản thân ở từng giai đoạncũng là một cách tạo nên sự trân trọng, niềm tin vào chính mình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đọc hiểu bài thơ &quot;Đồng chí&quot; của Chính Hữu

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ &QUOT;ĐỒNG CHÍ&QUOT; CỦA CHÍNH HỮU

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: Nhà thơ Chính Hữu tên khai sinh là Trần Đình Đắc, sinh năm 1926, quê huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1946 ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Chính Hữu hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. "Bài thơ đầu tiên của Chính Hữu được biết đến là bài Ngày về (1947), thể hiện ý chí của những người chiến sĩ Hà Nội quyết trở về giành lại quê hương đang nằm trong tay giặc. Chính Hữu thành công thực sự là bài Đồng chí (1948). Bài thơ được viết ngay sau chiến dịch Việt Bắc, thể hiện chân thực hình ảnh người lính cách mạng trong vẻ đẹp bình dị và tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, thắm thiết của họ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cũng như trong hòa bình, Chính Hữu gần như chỉ viết về người chiến sĩ và cuộc chiến đấu: tình đồng chí, đồng đội (Đồng chí, Giá từng thước đất), cảm xúc và suy nghĩ của người lính về nhân dân, đất nước (Tháng Năm ra trận, Sáng hôm nay, Lá nguỵ trang. Ngọn đèn đứng gác...), tình cảm tha thiết với gia đình (Gửi mẹ, Thư nhà), nỗi đau thương và căm giận trước tội ác của kẻ thù thúc giục người chiến sĩ ra trận (Trang giấy học trò). Thơ Chính Hữu in đậm những hình ảnh của một đất nước ngày đêm đánh giặc, với khí thế mạnh mẽ và hào hùng của những cuộc hành quân không ngừng nghỉ. Mọi khung cảnh, âm vang của thời đại đã được đón nhận và tái hiện với sức vang ngân rất sâu trong tâm khảm nhà thơ, để trở thành những hình ảnh và ấn tượng đậm nét, giàu sức gợi cảm và ý nghĩa biểu trưng. Hiện Chính Hữu mới chỉ công bố: tập thơ Đầu súng trăng treo (1966), Thơ Chính Hữu (1977), Tuyển tập Chính Hữu (1988). Thơ Chính Hữu giàu hình ảnh, nhiều suy tưởng, ngôn ngữ chọn lọc, cô đọng. Ông thường sử dụng thể thơ tự do, giàu nhạc điệu, mà chủ yếu là nhạc điệu của nội tâm, vừa lắng đọng vừa có sức âm vang. Chính Hữu làm thơ không nhiều nhưng vẫn có một vị trí xứng đáng trong nền thơ hiện đại Việt Nam, và một số bài thơ của ông thuộc số những tác phẩm tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến (Đồng chí, Đường ra mặt trận, Ngọn đèn đứng gác, Trang giấy học trò). Chính Hữu được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000" (Nguyễn Văn Long - Từ điển văn học, Sđd). 2. Tác phẩm: Bài thơ Đồng chí được sáng tác đầu năm 1948, thể hiện những cảm xúc sâu xa và mạnh mẽ của nhà thơ Chính Hữu với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc. Cảm hứng của bài thơ hướng về chất thực của đời sống kháng chiến, khai thác cái đẹp và chất thơ trong sự bình dị của đời thường. Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội gắn bó thắm thiết của những người nông dân mặc áo lính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, tình cảm đó thật cảm động, đẹp đẽ. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Nói đến thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp không thể không nói đến Đồng chí (1948) của Chính Hữu. Bài thơ mang vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí giản dị, mộc mạc mà sâu sắc của những người lính cách mạng trong những tháng ngày kháng chiến gian lao. Nhà thơ Chính Hữu đã từng nói về tác phẩm của mình: "... Trong bài thơ Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội. Suốt cả cuộc chiến đấu, chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu là tình đồng chí, tình đồng đội. Đồng chí ở đây là tình đồng đội. Không có đồng đội, tôi không thể nào hoàn thành được trách nhiệm, không có đồng đội, có thể nói, tôi cũng chết lâu rồi. Bài Đồng chí là lời tâm sự viết ra để tặng đồng đội, tặng người bạn nông dân của mình." Thật vậy, không gian trữ tình trong Đồng chí giá buốt mà không lạnh lẽo. Hơi ấm toả ra từ tình người, từ tình tri kỉ, kề vai sát cánh bên nhau của những con người chung lí tưởng, chung chí hướng. Đứng trong hàng ngũ cách mạng, chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, người lính vượt lên trên mọi gian khó bằng sự sẻ chia, đồng tâm hiệp lực. Họ sống trong tình đồng đội, nhờ đồng đội, vì đồng đội. Những người đồng đội ấy thường là những người "nông dân mặc áo lính". Điểm giống nhau về cảnh ngộ xuất thân giúp họ có thể dễ dàng gần gũi, đồng cảm với nhau: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, "Anh và tôi" từ những vùng quê khác nhau, chỉ giống nhau cái nghèo khó của đất đai, đồng ruộng. Anh từ miền quê ven biển: "nước mặn đồng chua". Tôi từ vùng đất cao "cày lên sỏi đá". Hai người xa lạ, từ hai phương trời xa lạ trở thành tri kỉ: Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Những người "nông dân mặc áo lính" ấy gặp nhau trong cuộc chiến đấu vì chính cuộc sống của họ, cùng đứng trong hàng ngũ những "người lính cụ Hồ". Sự nghiệp chung của dân tộc đã xoá bỏ mọi khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người. ""Súng bên súng" là chung chiến đấu, "đầu sát bên đầu" thì chung rất nhiều: không chỉ là gần nhau về không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng" (Trần Đình Sử - Đọc văn học văn, Sđd). Đến khi đắp chung chăn trong đêm giá rét thì họ đã thực sự là anh em một nhà. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng viết: "Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" để thể hiện tình kháng chiến gắn bó, bền chặt. Để nói về sự gần gũi, sẻ chia, về cái thân tình ấm áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung. Như thế, tình đồng chí đã bắt nguồn từ cơ sở một tình tri kỉ sâu sắc, từ những cái chung giữa "anh" và "tôi". Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai tiếng: "Đồng chí". Nếu không kể nhan đề thì đây là lần duy nhất hai tiếng "đồng chí" xuất hiện trong bài thơ, làm thành riêng một câu thơ. Câu này có ý nghĩa quan trọng trong bố cục của toàn bài. Nó đánh dấu một mốc mới trong mạch cảm xúc và bao hàm những ý nghĩa sâu xa. Sáu câu thơ đầu là tình đồng đội tri kỉ, đến đây được nâng lên thành tình đồng chí thiêng liêng. Đồng chí nghĩa là không chỉ có sự gắn bó thân tình mà còn là cùng chung chí hướng cao cả. Những người đồng chí - chiến sĩ hoà mình trong mối giao cảm lớn lao của cả dân tộc. Gọi nhau là đồng chí thì nghĩa là đồng thời với tư cách họ là những con người cụ thể, là những cá thể, họ còn có tư cách quân nhân, tư cách của "một cây" trong sự giao kết của "rừng cây", nghĩa là từng người không chỉ là riêng mình. Hai tiếng đồng chí vừa giản dị, thân mật lại vừa cao quý, lớn lao là vì thế. ở phần tiếp theo của bài thơ, với những chi tiết, hình ảnh cụ thể tác giả đã thể hiện tình cảm sâu sắc của những người đồng chí. Trước hết, họ cùng chung một nỗi nhớ quê hương: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Trong nỗi nhớ quê hương ấy có nỗi nhớ ruộng nương, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nước, gốc đa. Nhưng ruộng nương cũng như nhớ tay ai cày xới, ngôi nhà nhớ người trong lúc gió lung lay, và giếng nước, gốc đa cũng đang thầm nhớ người ra đi. Nỗi nhớ ở đây là nỗi nhớ hai chiều. Nói "giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính" cũng là thổ lộ nỗi nhớ cồn cào về giếng nước, gốc đa. Tình quê hương luôn thường trực, đậm sâu trong những người đồng chí, cũng là sự đồng cảm của những người đồng đội. Người lính hiện ra cứng cỏi, dứt khoát lên đường theo tiếng gọi non sông song tình quê hương trong mỗi người không khi nào phai nhạt. Và bên cạnh hình bóng quê hương, điểm tựa vững chắc cho người lính, là đồng đội: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Kể sao xiết những gian khổ mà người lính phải trải qua trong chiến đấu. Nói về cái gian khổ của người lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhớ đến cái rét xé thịt da trong bài Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu: Cuộc đời gió bụi pha xương máu Đợt rét bao lần xé thịt da Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh Đâu còn tươi nữa những ngày hoa! Lòng tôi xao xuyến tình thương xót Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa Nhớ đến cái ác nghiệt của bệnh sốt rét trong Tây Tiến của Quang Dũng: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi của bệnh sốt rét trong những câu thơ của Chính Hữu. Nhưng nếu như Thôi Hữu viết về cái rét xé thịt da để khắc hoạ những con người chấp nhận hi sinh, "Đem thân xơ xác giữ sơn hà", Quang Dũng nói đến sốt rét để tô đậm vẻ đẹp bi tráng của những người chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái rét, cái ác nghiệt của sốt rét là để nói về tình đồng đội, đồng chí trong gian khổ, là sự thấu hiểu, cảm thông giữa những người lính. Trong bất cứ sự gian khổ nào cũng thấy họ sát cánh bên nhau, san sẻ cho nhau: "Anh với tôi biết...", "áo anh... - Quần tôi...", "tay nắm lấy bàn tay". Cái "Miệng cười buốt giá" kia là cái cười trong gian khổ để vượt lên gian khổ, cười trong buốt giá để lòng ấm lên, cũng là cái cười đầy cảm thông giữa những người đồng đội. Giá buốt mà không lạnh lẽo cũng là vì thế. Bài thơ kết bằng hình tượng những người đồng chí trong thời điểm thực tại, khi họ đang làm nhiệm vụ chiến đấu: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Có thể xem đây là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất về người lính trong thơ ca kháng chiến. Ba câu thơ phác ra một bức tranh vừa mang chất chân thực của bút pháp hiện thực, vừa thấm đẫm cái bay bổng của bút pháp lãng mạn. Trên sắc xám lạnh của nền cảnh đêm rừng hoang sương muối, hiện lên hình ảnh người lính - khẩu súng - vầng trăng. Dưới cái nhìn của người trong cuộc, người trực tiếp đang cầm súng, trong một sự kết hợp bất ngờ, đầu súng và vầng trăng như không còn khoảng cách xa về không gian, để thành: "Đầu súng trăng treo.". Sự quan sát là hiện thực, còn sự liên tưởng trong miêu tả là lãng mạn. Hình ảnh súng tượng trưng cho hành động chiến đấu, tinh thần quyết chiến vì đất nước. Trăng tượng trưng cho cái đẹp yên bình, thơ mộng. Hình ảnh "đầu súng trăng treo" mang ý nghĩa khái quát về tư thế chủ động, tự tin trong chiến đấu, tâm hồn phong phú của người lính. Nói rộng ra, hai hình ảnh tương phản sóng đôi với nhau tạo nên biểu tượng về tinh thần, ý chí sắt đá mà bay bổng, trữ tình của dân tộc Việt Nam. Những người lính là đồng đội, đồng chí, cả dân tộc là đồng chí. Người nghệ sĩ cũng trở thành đồng chí, nên Hồng Nguyên và Chính Hữu đồng cảm với nhau trước những người áo vải: Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi "một hai" Súng bắn chưa quen, Quân sự mươi bài, Lòng vẫn cười vui kháng chiến Lột sắt đường tàu, Rèn thêm dao kiếm, áo vải chân không, Đi lùng giặc đánh. Chung nhau cảnh ngộ, chung nhau lí tưởng, chung nhau cái rét, cái khổ,... những người lính - những người đồng chí sống, chiến đấu vì sự nghiệp chung của dân tộc. Bài thơ Đồng chí đã thể hiện rất rõ vẻ đẹp của những con người sống và chiến đấu cho hạnh phúc, tự do. (Sưu tầm)
Xem thêm

4 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ &QUOT;TRÀNG GIANG&QUOT; CỦA HUY CẬN

PHÂN TÍCH BÀI THƠ &QUOT;TRÀNG GIANG&QUOT; CỦA HUY CẬN

Bài số 1: Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"... Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng tám. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc. Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp .... Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "anh" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại. Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc. Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào. Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn. Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi. Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng. Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông: "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu." "Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu". Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa. Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu: BÈo dạt về đâu, hàng nối hàng, Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cần gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết: Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật. Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào. Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển. Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại: Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. "Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "lòng quê". Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước. Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay. Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim... Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường. Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được. Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương. Bài số 2: "Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu". "Tràng giang" là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ "Lửa thiêng" (1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài". Tác giả đã có lần nói: "Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn". "Tràng giang" tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế "sầu trăm ngả". Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của "Tràng giang": "Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu". Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng... ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô "lơ thơ" như nối tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ "đìu hiu" gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ: "Non Kì quạnh quẽ trăng treo, Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò". (Chinh phụ ngâm) Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảnh khắc tan chợ, vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm "lơ thơ" và "đìu hiu", có vần lưng: "nhỏ - gió", có vần chân: "hiu - chiều". Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu: "Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều"... (Thơ duyên) Các điệp thanh: "nhỏ nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả"; các vần thơ, như vần lưng "nhỏ" với "gió", vần chân "xiêu" với "chiều". Những vần thơ "tươi nhạc tươi vần" ấy đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học. Trở lại đoạn thơ trong bài "Tràng giang" của Huy Cận, ta như được nhập hồn mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Thu vịnh); "Trời cao xanh ngắt - Ô kìa..." (Tiếng sáo Thiên Thai); "Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng" (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, "sâu chót vót": "Nắng xuống / trời lên sâu chót vót" Bầu trời và lòng sông "sóng gợn" là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường nói "cao chót vót" và "sâu thăm thẳm", nhưng Huy Cận lại cảm nhận là "sâu chót vót" vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: "nắng xuống" // "trời lên", vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ. Dòng sông như dài thêm ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn, xa vắng, quạnh hiu hơn. Lời đề từ nhà thơ đã viết: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài", cảm hứng ấy đã được láy lại ở câu thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đầy ám ảnh về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ bé, hữu hạn: "Sông dài, trời rộng, bến cô liêu" Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật đẹp mà buồn. Vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân. Vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến. "Tràng giang" đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi. Đọc đoạn thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước cách mạng: "Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...".
Xem thêm

5 Đọc thêm

Anh (chị) có ý kiến gì về Dân gian ta có câu &quot;Ở hiền gặp lành&quot; nhưng trong tác phẩm &quot;Ở hiền&quot;, nhà văn Nam Cao lại để cho nhân vật Nhu suy nghĩ “Tại sao ở đời lại có nhiều sự b

ANH (CHỊ) CÓ Ý KIẾN GÌ VỀ DÂN GIAN TA CÓ CÂU &QUOT;Ở HIỀN GẶP LÀNH&QUOT; NHƯNG TRONG TÁC PHẨM &QUOT;Ở HIỀN&QUOT;, NHÀ VĂN NAM CAO LẠI ĐỂ CHO NHÂN VẬT NHU SUY NGHĨ “TẠI SAO Ở ĐỜI LẠI CÓ NHIỀU SỰ B

ĐỀ BÀI Dân gian ta có câu "Ở hiền gặp lành" nhưng trong tác phẩm "Ở hiền", nhà văn Nam Cao lại để cho nhân vật Nhu suy nghĩ “Tại sao ở đời lại có nhiều sự bất công đến thế? Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn hay nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhường mình? Còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?”. Anh (chị) có ý kiến gì về vấn đề đặt ra trong những câu nói trên? Hãy viết bài văn bày tỏ ý kiến của mình. BÀI LÀM Con người bon chen, giành giật của nhau. Những người hiền thì cứ nhẫn nhục, chịu đựng, phải chăng họ nghĩ mình đối tốt với người khác thì cũng sẽ nhận lại sự đối xử tương tự? Hay chỉ mong có vậy, những lũ người xấu xa, vô nhân tính càng ỷ thế, “được đằng chân lân đằng đầu” mà hà hiếp, bắt nạt họ, coi họ là những cái gai trong mắt, là ngọn cỏ để tha hồ chà đạp, đè nén, muốn loại họ ra khỏi thế giới này. Dòng suy nghĩ của Nhu tiếp diễn, nhân vật này nghĩ tới những ác ma gây ra bao tội lỗi cho những người hiền lành: “Còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?”. Những “kẻ thành công” chỉ những loại người giàu có, hoặc cao sang, có quyền cao chức trọng. Đáng lẽ đây chính là những con người đáng được xã hội tôn vinh, trân trọng, sùng bái vì sự giỏi giang của họ. Có mấy ai biết rằng đằng sau sự hào quang chói lòa ấy chứa đựng những bản chất “tham lam”, “chẳng biết chịu nhường ai”. Đây đúng hẳn là loại người bỉ ổi, dẫm đạp lên quyền lợi của người khác để giành được lợi riêng, làm giàu cá nhân. Chẳng nói đâu xa, ta lấy chính nước Việt Nam khi xưa: nước ta là một đất nước nhỏ bé, con người sống ôn hòa và đặc biệt rất ghét chiến tranh. Có phải vì lẽ đó mà tạo hóa đã ban tặng cho dân tộc ta những tài nguyên phong phú, những khoáng sản quý hiếm? Thế nhưng, chính vì nước ta hiền lành, luôn chủ trương hòa bình mà mấy nghìn năm bị áp bức, đô hộ, đánh chiếm. Hết Tây lại đến Tàu, những kẻ tham lam, độc ác đã đày đọa tù ải biết bao con người yêu nước, giết hại bao sinh linh bé bỏng mới chào đời. Như vậy vẫn chưa đủ, lũ “uống máu người” còn phá hoại nơi sống, chỗ ở của dân tộc ta, đốt rừng, đốt nhà, thiêu hủy mọi nguồn sống của những người yêu đất nước và căm thù chiến tranh. Sự bất công này không phải ai cũng thấu và hẳn cũng chẳng ai giải đáp nổi. Trở về thế kỉ 21, một thế kỉ của sự văn minh, hiện đại, có tòa án, luật pháp, có nhà tù nhưng cũng chỉ là cái vỏ bọc, đằng sau đấy là những bàn tay đen tối, lọc lừa, “đổi trắng thay đen”, những hành vi hết sức bạo ngược, tàn nhẫn. Chúng – xã hội đen tối mưu hại tất cả những ai làm hỏng hay muốn tố cáo ngăn chặn những việc làm phi pháp, vô nhân đạo nhằm kiếm lợi, Nhà nước dân chủ thì luôn sang sảng “do dân, vì dân, phục vụ hết lòng” nhưng thực sự rỗng tuếch. “Thuế là nguồn ngân sách chủ yếu để xây dựng phát triển đất nước”, ở đây cần thêm chữ “và con người” ở sau cùng. Nhà nước bỏ ra mười tỉ để xây dựng một nhà máy, trong đó chỉ có một tỉ đưa vào sử dụng, còn lại nào là chủ thầu công trình một ít, chủ tịch tỉnh một ít... Thôi thì cứ mãi bài ca “Dân thời giàu nhưng nước thời nghèo”. Một đất nước đang phát triển mà tồn tại những con người như vậy thử hỏi đến bao giờ mới “sánh vai được với các cường quốc năm châu”? Câu hỏi này có lẽ sẽ chẳng bao giờ được giải đáp khi vẫn tồn tại những con người lấy tham ô, trục lợi riêng làm mục đích sống, chỉ quan tâm tàm giàu cho bản thân chứ không góp phần chung tay xây dựng xã hội. Nam Cao là nhà văn ở thế kỉ 20 – có lẽ là khá xa so với đời sống thực tại của ta nhưng tư tưởng mà ông gửi gắm qua suy nghĩ của nhân vật trong tác phẩm của mình thì vẫn thực sự đúng đắn, là vấn đề bức bối của thời kì hiện tại. Cuộc sống vốn dĩ còn quá nhiều nghịch lí chưa được giải tỏa. Những người tốt ở hiền chưa thực sự được sung sướng thậm chí họ toàn nhận phải nhiều điều bất hạnh vì tính khiêm nhường, nhẫn nhịn đã ngấm sâu vào bản chất của họ khiến họ không thể đủ dũng khí và sức mạnh đứng lên đấu tranh với những mưu mô, tính toán của bao kẻ cường quyền, bạo ác nhằm giành lấy công lí, lẽ phải. Đây là ý trời, cũng là lẽ ở đời. Vì vậy, mỗi người trong chúng ta hãy học tập, phấn đấu, rèn luyện đạo đức để trở thành những người tốt, bảo vệ công lí và chống lại những âm mưu xấu xa, khiến cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. (Tăng Bích Ngọc, lớp chuyên Anh khóa 2006 - 2009)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề