LOẠI NGUYÊN LIỆU SẮN VÀ TIÊU CHUẨN NGUYÊN LIỆU DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LOẠI NGUYÊN LIỆU SẮN VÀ TIÊU CHUẨN NGUYÊN LIỆU DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT":

TÌM HIỂU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIO ETHANOL TỪ NGUYÊN LIỆU SẮN LÁT KHÔ VÀ TÍNH TOÁN, KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ THÁP CẤT TINH TRONG CÔNG NGHỆ CỦA NHÀ MÁY ETHANOL BÌNH PHƯỚC

TÌM HIỂU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIO ETHANOL TỪ NGUYÊN LIỆU SẮN LÁT KHÔ VÀ TÍNH TOÁN, KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ THÁP CẤT TINH TRONG CÔNG NGHỆ CỦA NHÀ MÁY ETHANOL BÌNH PHƯỚC

Tìm hiểu quy trình công nghệ sản xuất bio ethanol từ nguyên liệu sắn lát khô và tính toán, kiểm tra và đánh giá tháp cất tinh trong công nghệ của nhà máy ethanol bình phước

74 Đọc thêm

Quy trình sản xuất tinh bột khoai mì luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp

QUY TRÌNH SẢN XUẤT TINH BỘT KHOAI MÌ LUẬN VĂN, ĐỒ ÁN, ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

MỞ ĐẦU Cây sắn (hay còn gọi là cây khoai mì) là một trong những loại cây lương thực có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazone (Nam Mỹ). Ở nước ta cây sắn được du nhập vào khoảng thế kỷ 18 và được trồng ở nhiều tỉnh thành như Tây Ninh, Đồng Nai . Cùng với truyền thống trồng sắn từ lâu đời, nhân dân ta đã biết chế biến củ sắn làm lương thực cho người và làm thức ăn cho gia súc. Trong các loại cây lương thực, sắn là cây trồng cho nguồn nguyên liệu có khả năng chế biến sản phẩm vào loại phong phú nhất. Sản phẩm từ cây sắn được sử dụng trong thực phẩm như dùng tinh bột sắn làm tinh bột biến tính, làm nguồn nguyên liệu để chế biến các loại bánh hay sản xuất đường glucose, sản xuất mì chính Tuy nhiên, không chỉ có ứng dụng rộng rãi trong công nghệ sản xuất thực phẩm, mà trong các lĩnh vực khác cây sắn cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng như làm chất kết dính, thúc ăn gia súc, làm chất độn trong dược phẩm, ngăn cản các tác nhân gây ô nhiễm trong quá trình in ấn, hoặc được sử dụng như chất bao phủ bề mặt trong công nghệ sản xuất giấy . Qua đó ta thấy tinh bột sắn có rất nhiều ứng dụng trong các ngành kinh tế khác nhau. Điểm đáng chú ý, tinh bột sắn được dùng rất phổ biến và thông dụng trong nhiều loại bánh kẹo, phụ gia thực phẩm, mì ăn liền với các công thức phối trộn phong phú và đa dạng. Chính vì vậy trên thị trường giá sắn nguyên liệu mới được tăng lên gần đây, kéo theo sự quan tâm trở lại của bà con nông dân sau nhiều năm thăng trầm của việc phát triển cây sắn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Báo cáo thực tập nhà máy tinh bột sắn FOCOCEV thừa thiên huế

BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY TINH BỘT SẮN FOCOCEV THỪA THIÊN HUẾ

Sắn là loại cây hoa màu mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước trên Thế Giới. Nó được du nhập vào Việt Nam vào giữa thế kỷ 18 và sớm thích ứng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi đây. Sắn được trồng chủ yếu ở vùng trung du và miền núi. Hiện nay, ở nước ta, sắn được sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu sản xuất tinh bột sắn.Nhờ áp dụng nhiều giống mới có năng suất cao và có hàm lượng bột lớn như giống KM60, KM94,… Trong những năm gần đây, năng lực sản xuất và biến sắn của Việt Nam đã có bước tiến bộ đáng kể. Năm 2008 diện tích trồng sắn của nước ta đã tăng mạnh từ 270.000 ha (năm 2005) lên 510.000 ha, sản lượng ước đạt hơn 8 triệu tấn, tăng 2,3% so với năm ngoái nhưng tăng gần gấp đôi so với 3 năm trước. Đáng chú ý là diện tích tăng vượt 135 nghìn ha so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010. Năng suất những năm vừa qua cũng tăng, mặc dù không nhiều, từ 15,35 tấnha năm 2005 (trung bình của thế giới là 12,16 tấnha) lên 15,7 tấnha năm 2008 nhưng vẫn thấp so với Ấn Độ (31,43 tấnha), Thái Lan (21,09 tấnha). Sản lượng cả năm 2009 ước đạt 8,1 đến 8,6 triệu tấn, cao hơn năm trước khoảng 0,2 đến 0,4 triệu tấn. Nhận rõ hiệu quả vấn đề do cây sắn đem lại, một số tỉnh ở miền núi phía Bắc đã xây dựng nhà máy chế biến, cùng một số tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Trong đó, đặc điểm đất đai, khí hậu Thừa Thiên Huế cũng rất phù hợp với cây sắn. Vì vậy, nó đã sớm trở thành cây hoa màu chủ lực của địa phương. Nhà Máy tinh bột sắn FOCOCEV Thừa Thiên Huế ra đời đã giải quyết được vấn đề đầu ra của sản phẩm và giải quyết hàng trăm tấn nguyên liệu mỗi năm, đem lại nguồn thu đáng kể cho địa phương. Được sự đồng ý của Ban Giám Đốc Nhà Máy Tinh Bột Sắn, nhóm chúng tôi đã được thực tập chuyên môn tại Nhà Máy với mục tiêu giúp cho mỗi thành viên nắm vững quy trình công nghệ, điều hành sản xuất và phát triển kỹ năng điều hành sản xuất sau khi ra trường của người kỹ sư công nghệ.
Xem thêm

56 Đọc thêm

Tìm hiểu quy trình sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy FOCOCEV thừa thiên huế

TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT TINH BỘT SẮN TẠI NHÀ MÁY FOCOCEV THỪA THIÊN HUẾ

Sắn là loại cây hoa màu mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước trên Thế Giới. Nó được du nhập vào Việt Nam vào giữa thế kỷ 18 và sớm thích ứng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi đây. Sắn được trồng chủ yếu ở vùng trung du và miền núi. Hiện nay, ở nước ta, sắn được sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu sản xuất tinh bột sắn.
Nhờ áp dụng nhiều giống mới có năng suất cao và có hàm lượng bột lớn như giống KM60, KM94,… Trong những năm gần đây, năng lực sản xuất và biến sắn của Việt Nam đã có bước tiến bộ đáng kể. Năm 2008 diện tích trồng sắn của nước ta đã tăng mạnh từ 270.000 ha (năm 2005) lên 510.000 ha, sản lượng ước đạt hơn 8 triệu tấn, tăng 2,3% so với năm ngoái nhưng tăng gần gấp đôi so với 3 năm trước. Đáng chú ý là diện tích tăng vượt 135 nghìn ha so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010. Năng suất những năm vừa qua cũng tăng, mặc dù không nhiều, từ 15,35 tấnha năm 2005 (trung bình của thế giới là 12,16 tấnha) lên 15,7 tấnha năm 2008 nhưng vẫn thấp so với Ấn Độ (31,43 tấnha), Thái Lan (21,09 tấnha). Sản lượng cả năm 2009 ước đạt 8,1 đến 8,6 triệu tấn, cao hơn năm trước khoảng 0,2 đến 0,4 triệu tấn.
Nhận rõ hiệu quả vấn đề do cây sắn đem lại, một số tỉnh ở miền núi phía Bắc đã xây dựng nhà máy chế biến, cùng một số tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Trong đó, đặc điểm đất đai, khí hậu Thừa Thiên Huế cũng rất phù hợp với cây sắn. Vì vậy, nó đã sớm trở thành cây hoa màu chủ lực của địa phương. Nhà Máy tinh bột sắn FOCOCEV Thừa Thiên Huế ra đời đã giải quyết được vấn đề đầu ra của sản phẩm và giải quyết hàng trăm tấn nguyên liệu mỗi năm, đem lại nguồn thu đáng kể cho địa phương.
Được sự đồng ý của Ban Giám Đốc Nhà Máy Tinh Bột Sắn, nhóm chúng tôi đã được thực tập chuyên môn tại Nhà Máy với mục tiêu giúp cho mỗi thành viên nắm vững quy trình công nghệ, điều hành sản xuất và phát triển kỹ năng điều hành sản xuất sau khi ra trường của người kỹ sư công nghệ.
Xem thêm

40 Đọc thêm

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT MALT VÀNG NĂNG SUẤT 10 TẤN SẢN PHẨMNGÀY ( FULL BẢN VẼ )

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT MALT VÀNG NĂNG SUẤT 10 TẤN SẢN PHẨMNGÀY ( FULL BẢN VẼ )

Malt là một loại bán thành phẩm nhưng rất giàu chất dinh dưỡng: chứa 16÷18% các chất thấp phân tử dễ hòa tan, chủ yếu là đường đơn giản, dextrin bậc thấp, các axit amin, các chất khoáng, các nhóm vitamin và đặc biệt là các hệ enzyme phong phú, chủ yếu là proteaza và amylaza…
Malt có thể dùng để chế biến các loại thực phẩm có chất lượng cao như bột dinh dưỡng cho trẻ em, các loại đồ uống tổng hợp cho người già và phụ nữ có thai, dùng làm tác nhân dịch hóa trong công nghệ sản xuất rượu cồn từ tinh bột, làm tác nhân đường hóa trong sản xuất kẹo mạch nha,…Nhưng có lẽ công dụng lớn nhất của malt là dùng để sản xuất các loại đồ uống có độ cồn thấp.
Ngành công nghiệp sản xuất malt phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu như Nga, Đức, Canada, Anh, Pháp….
Ở nước ta, ngành công nghiệp bia rượu ngày càng phát triển, đòi hỏi một lượng lượng lớn nguyên liệu, đặc biệt là nguyên liệu malt. Tuy nhiên, từ trước tới nay, phần lớn nguyên liệu đều phải nhập khẩu từ nước ngoài về, khiến cho chúng ta không thể chủ động về nguồn nguyên liệu, làm cho quá trình sản xuất bị gián đoạn. Xuất phát từ tình hình đó, tôi được giao nhiệm vụ “Thiết kế nhà máy sản xuất malt vàng năng suất 10 tấn sản phẩmngày”.
Xem thêm

116 Đọc thêm

thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại năng suất 1.600 tấn sản phẩmnăm từ nguyên liệu tinh bột sắn

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT MÌ CHÍNH HIỆN ĐẠI NĂNG SUẤT 1.600 TẤN SẢN PHẨMNĂM TỪ NGUYÊN LIỆU TINH BỘT SẮN

LỜI MỞ ĐẦUMì chính, tên chính thức là monosodium glutamate, thường viết tắt là MSG, (glutamat natri) là một muối natri của axit glutamic, một thứ amino axit có tự nhiên trong cơ thể con người, trong protein thịt động vật và trong thực vật cà rốt, rong biển…Axit amin là 1 thành phần rất cần thiết cho cơ thể. Thiếu một số axit amin là nguyên nhân gây nên bệnh tật hay suy giảm sức khoẻ. Axit glutamic rất quan trọng đối với cơ thể, là một loại axit amin tham gia vào việc cấu tạo nên protein của cơ thể. Trong 20 loại axit amin có trong cơ thể thì axit glutamic thuộc loại axit amin thay thế nghĩa là cơ thể có thể tổng hợp được và có công thức C5H9NO4. Ở điều kiện bình thường cơ thể không cần axit glutamic cung cấp từ bên ngoài, ngày nay chúng được dùng chủ yếu trong việc sản xuất chất điều vị. Năm 1908, giáo sư Ikeda trường đại học Tokyo Nhật Bản đã phân tích thành phần rong biển, phát hiện trong rong biển có một hàm lượng lớn natri glutamat và cũng chính natri glutamat đã tạo nên nên vị ngon cho thực phẩm. Từ đó, người Nhật đã bắt đầu thực hiện chiết xuất natri glutamat có độ thuần khiết cao để làm gia vị thực phẩm.Tuy nhiên ngày nay axit glutamic được sản xuất từ nguyên liệu như tinh bột, rỉ đường….Axit glutamic có vai trò quan trọng trong y học, sinh học và thực phẩm. Đây là nguồn nguyên liệu chủ yếu sản xuất mì chính và một số chất điều vị khác, mục đích của nó là tạo hương vị làm thức ăn thêm ngon hơn. Việc sản xuất axit glutamic là một việc cần thiết, là ngành công nghiệp quan trọng cho công nghiệp chế biến thực phẩm, dược phẩm nói riêng và ngành công nghiệp nói chung. Có rất nhiều phương pháp sản xuất axit glutamic như tổng hợp hoá học, thuỷ phân và lên men vi sinh vật. Trong đó phương pháp tổng hợp từ vi sinh vật có nhiều ưu điểm nhất. Sau đó dùng NaOH ở nồng độ cao sản xuất ra mì chính. Đây là một trong những ứng dụng của công nghệ sinh học vào trong sản xuất. Vì ý nghĩa đó nên ở đề tài này tôi chọn thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại năng suất 1.600 tấn sản phẩmnăm từ nguyên liệu tinh bột sắn.10
Xem thêm

77 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy sản xuất cồn 96 độ từ sắn lát khô năng suất 145 tấn nguyên liệungày

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT CỒN 96 ĐỘ TỪ SẮN LÁT KHÔ NĂNG SUẤT 145 TẤN NGUYÊN LIỆUNGÀY

Ngành công nghệ thực phẩm là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và giải quyết nhu cầu cần thiết về đời sống của con người. Ngày nay, ngành công nghệ thực phẩm đang phát triển mạnh mẽ góp phần làm giàu nguồn thực phẩm cho xã hội đồng thời làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp khác. Trong đó ngành công nghệ sản xuất cồn etylic có đóng góp đáng kể.
Rượu etylic có tên khoa học là spiritus vini có công thức phân tử là C2H6O, được sản xuất chủ yếu theo phương pháp lên men từ các nguồn nguyên liệu chứa gluxit.
Rượu etylic có vai trò quan trọng đối với các ngành công nghiệp như: Trong công nghiệp thực phẩm dùng để pha chế thành các loại rượu mùi, chế biến thức ăn, chế biến các loại hương hoa quả. Trong y tế cồn dùng để sát trùng, sản xuất dược phẩm,… Đặc biệt cồn etylic còn dùng để pha chế làm nhiên liệu cho ngành giao thông vận tải vì vậy trong tương lai nhu cầu về cồn etylic là rất cao.
Ngoài việc ứng dụng sản phẩm rượu etylic thì các sản phẩm phụ của quá trình sản xuất như CO2, bã rượu, dầu fusel cũng mang lại những lợi ích rất to lớn. Do đó mà sản xuất cồn etylic sẽ càng phát triển mạnh trong tương lai và chiếm vị trí quan trọng trong ngành công nghiệp thực phẩm.
Để sản xuất cồn có thể sử dụng nhiều loại nguyên liệu chứa đường lên men được như rỉ đường, nước quả,… chứa tinh bột như gạo, ngô, lúa mì, khoai, sắn,… và các loại có chứa xenluloza như gỗ, mùn cưa,… Nói chung là các nguyên liệu có hàm lượng hydrat cacbon cao.
Ở Việt Nam sắn là loại cây lương thực quan trọng chứa nhiều tinh bột nên việc thiết kế và xây dựng nhà máy sản xuất cồn từ sắn lát khô với năng suất cao là hoàn toàn phù hợp. Sắn tươi thuộc loại nguyên liệu khó bảo quản. Vì vậy được sử dụng dưới dạng sắn khô: Dễ bảo quản, thuận lợi cho quá trình vận chuyển, đảm bảo quá trình sản xuất liên tục, giảm đáng kể hàm lượng HCN.
Xuất phát từ tình hình đó, tôi được giao nhiệm vụ “Thiết kế nhà máy sản xuất cồn 96 0 từ sắn lát khô năng suất 145 tấn nguyên liệungày”.
Xem thêm

161 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN GIỐNG SẮN MỚI HL2004 28 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN GIỐNG SẮN MỚI HL2004 28 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

1PHẦN 1MỞ ĐẦU1.1.Đặt vấn đềCây sắn (Manihot esculenta crantz) là một trong những cây lương thựcdễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đấtnghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Sắnđược trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100 nướcnhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á.Trên thế giới sắn là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệungười đồng thời là cây thức ăn gia súc và cũng là cây hàng hóa có giá trị xuấtkhẩu cao.Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt:Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thếgiới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thựcchính, nhất là các nước của Châu Phi. Tinh bột sắn còn là một thành phầnquan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới. Sắn cũng làthức ăn cho gia súc. gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài rasắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành côngnghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinhhọc và phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc nghiên cứu pháttriển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thếgiới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn lànguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol).Chương trình sản xuất ethanol của chính phủ Braxin đã tạo ra gần 1 triệu việc
Xem thêm

72 Đọc thêm

Tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Thịnh An

TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI THỊNH AN

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP

1.1: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguyên vật liệu
1.1.1: Khái niệm Nguyên vật liệu
Nguyên liệu vật liệu của doanh nghiệp là đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng chủ yếu cho quá trình chế tạo ra sản phẩm. Giá trị nguyên liệu vật liệu thường chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản phẩm.
1.1.2: Đặc điểm của Nguyên vật liệu:
Trong các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu được coi là đối tượng lao động chủ yếu được tiến hành gia công chế biến ra sản phẩm. Nguyên vật liệu có các đặc điểm chủ yếu sau:
Tham gia vào từng chu kỳ sản xuất để chế tạo ra sản phẩm mới thường không giữ lại hình thái vật chất ban đầu.
Giá trị nguyên vật liệu sản xuất cũng được chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm do nó chế tạo ra sản phẩm
Nguyên vật liệu có rất nhiều chủng loại và thường chiểm tỉ trọng lớn trong chi phí sản xuất.
Giá trị nguyên vật liệu dự trữ thường chiếm một tỉ trọng lớn trong tài sản lưu động của doanh nghiệp
Để đảm bảo yêu cầu sản xuất doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành thu mua, dự trữ và quản lý chặt chẽ chúng về mặt số lượng, chủng loại, chất lượng.
1.1.3:Vai trò của nguyên vật liệu
Là một yếu tố trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm, do vậy, chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ về số lượng chất lượng chủng loại... có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cho sản xuất còn là một biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nguyên vật liệu liên quan trực tiếp tới kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, cung ứng nguyên vật liệu kịp thời với giá cả hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Xét cả về mặt hiện vật lẫn về mặt giá trị, nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu trong bất kì quá trình sản xuất nào, là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động. Chính vì vậy, quản lý nguyên vật liệu chính là quản lý vốn sản xuất kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp.
1.2: Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu
1.2.1:Phân loại nguyên vật liệu
Trong doanh nghiệp xây lắp nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau với nội dung kinh tế khác nhau, có vai trò, công dụng, tính chất lý hoá khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện đó, để quản lý chặt chẽ và có hiệu quả NVL đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải phân loại đối tượng này. Phân loại NVL có thể dược hiểu là việc sắp xếp NVL theo từng nhóm dựa trên một tiêu thức phân loại phù hợp và thuận tiện cho quản lý. Trong thực tế của công tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp xây lắp, đặc trưng (tiêu chí) dùng để phân loại NVL thông dụng nhất là vai trò và tác dụng của NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý, nguyên liệu, vật liệu bao gồm:
Nguyên vật liệu chính;
Nguyên vật liệu phụ;
Nhiên liệu;
Phụ tùng thay thế;
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản;
Các loại vật liệu khác.
+ Nguyên vật liệu chính: Đặc điểm chủ yếu của nguyên vật liệu chính là khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ cấu thành nên thực thể sản phẩm; toàn bộ nguyên vật liệu được chuyển vào giá trị của sản phẩm mới.
+ Nguyên vật liệu phụ: Là các loại nguyên vật liệu được sử dụng trong sản xuất để làm tăng chất lượng sản phẩm, hoàn thành sản phẩm hoặc phục vụ cho công việcquản lý sản xuất: bao bì sản phẩm… Các loại vật liệu này không cấu thành nên thực thể của sản phẩm.
+ Nhiên liệu: Là các thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh, phục vụ cho công nghệ sản xuất, phương tiện vận tải, công tác quản lý… Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, rắn hay thể khí.
+ Phụ tùng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ…
+ Vật liệu và các thiết bị xây dựng cơ bản: Là những vật tư được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp và thiết bị không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt cho công trình xây dựng cơ bản.
+ Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như các loại phế liệu, vật liệu thu hồi do thanh lý TSCĐ…
Căn cứ vào nguồn gốc, nguyên liệu, vật liệu được chia thành:
Nguyên liệu, vật liệu mua ngoài
Nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, gia công;
Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, nguyên liệu, vật liệu được chia thành
Nguyên liệu, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh
Nguyên liệu, vật liệu dùng cho công tác quản lý.
Nguyên liệu, vật liệu dùng cho các mục đích khác.
Xem thêm

72 Đọc thêm

Đồ án tốt nghiệp - Thiết kế phân xưởng lên men nhà máy bia năng suất 30 triệu lít trên năm

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP - THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG LÊN MEN NHÀ MÁY BIA NĂNG SUẤT 30 TRIỆU LÍT TRÊN NĂM

Bia là một loại đồ uống giúp giải khát rất tốt và đang được người dân ưa chuộng ở nước ta cũng như trên thế giới. Đây là một loại nước giải khát có độ cồn thấp ,rất hấp dẫn bởi hương vị và màu sắc đặc trưng của nó. Ngoài khả năng giúp cho ta giải khát nó còn cung cấp một lượng lớn các chất dinh dưỡng, các chất giúp tăng cường tiêu hóa và các Vitamin cần thiết.
Nguyên liệu dùng để sản xuất bia chủ yếu là malt đại mạch, nước, hoa houblon và một số chất phụ gia khác. Để tăng hiệu quả kinh tế và giảm giá thành sản phẩm các nhà sản xuất có dùng thêm các nguyên liệu giàu tinh bột để thay thế như gạo, ngô, khoai, sắn…
Hiện nay tổng năng suất của các nhà máy bia trong cả nước lên tới gần 3tỉ lít/ năm, lượng bia tiêu thụ đã vượt quá 3 tỉ lít/năm vào năm 2013. Bên cạnh đó rất nhiều thương hiệu bia ngoại đã xuất hiện ở nước ta như Tiger, Heineken... Hưởng ứng tinh thần “ Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” cần đẩy mạnh sản xuất trong nước, đáp ứng lượng tiêu thụ càng ngày càng tăng cao.
Ở nước ta đã có rất nhiều cơ sở sản xuất bia tư nhân cũng như cơ sở sản xuất bia nhà nước, tuy nhiên nhu cầu sử dụng sản phẩm này của người dân rất cao nên các cơ sở sản xuất này vẫn chưa đáp ứng được hết các nhu cầu đó.Vì vậy việc xây dựng thêm nhà máy sản xuất bia là rất cần thiết để đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân.
Với tương lai rộng mở của ngành bia, em xin lập bản thiết kế phân xưởng lên men nhà máy sản xuất bia với công xuất 30 triệu lít/năm
Xem thêm

70 Đọc thêm

Thiết kế quy trình công nghệ sản xuất cồn công nghiệp lấy nguồn nguyên liệu từ sắn lát với năng suất 20 000 lít

THIẾT KẾ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỒN CÔNG NGHIỆP LẤY NGUỒN NGUYÊN LIỆU TỪ SẮN LÁT VỚI NĂNG SUẤT 20 000 LÍT

Công ty cổ phần Dịch vụDu lịch Dầu khí (Petrosetco) và Tập đoàn Itochu Nhật Bản sẽ hợp tác lập liên doanh đầu tư 100 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất ethanol đầu tiên từ sắn lát đầu tiên tại Việt Nam. Thỏa thuận vừa đượcký kết ngày hôm nay (93) tại Hà Nội. Nhà máy dự định được đặt tại Khu công nghiệp Hiệp Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, công suất 100 triệu lít ethanolnăm, từ nguồn nguyên liệu sắn lát. xây dựng nhà máy sản xuất ethanol đầu tiên tại Việt Nam. Phát biểu tại buổi lễ ký kết, ông Trần Công Tào, Chủ tịch Hội đồng quản trị Petrosetco cho biết sự có mặt của ethanol trong xăng không chỉ giảm thiểu được một phần lượng xăng nhập khẩu mà còn góp phần không nhỏ vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ông Toshio Shigemi, Phó giám đốc điều hành Itochu Tokyo khẳng định Itochu sẽ chia sẻ thông tin và kiến thức mà Tập đoàn này đã có được và hy vọng sẽ đóng góp vào sự thành công của dự án sản xuất Ethanol đầu tiên tại Việt Nam. Toàn bộ sản phẩm của nhà máy sẽ cung ứng cho thị trường để pha vào xăng, phục vụ cho các hoạt động công nghiệp và giao thông vận tải. Nhà máy dự kiến sẽ hoàn thành vào quý I2009. Ngoài ra, Trong thực phẩm có thể cải tiến quy trình sản xuất cồn từ sắn thành cồn thực phẩm dùng trong sản xuất rượu.

Nguồn: TPHCM : 100 triệu USD sản xuất cồn ethanol từ sắn
Xem thêm

80 Đọc thêm

Luận văn tốt nghiệp kế toán đề tài Kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần VPP Cửu Long

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KẾ TOÁN ĐỀ TÀI KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VPP CỬU LONG

LỜI NÓI ĐẦU
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Quá trình sản xuất chính là hoạt động tự giác và có ý thức của con người nhằm biến các vật thể tự nhiên thành các vật phẩm, hàng hoá có ích đáp ứng được nhu cầu riêng của bản thân cũng như phục vụ nhu cầu chung của toàn xã hội.
Khi xã hội ngày càng phát triển, mức sống được nâng cao kéo theo nhu cầu khách quan của con người được nâng lên. Ai cũng muốn bản thân mình sử dụng các thứ hàng hóa chất lượng tốt, mẫu mã đẹp nhưng giá cả phải vừa phải. Doanh nghiệp hơn ai hết họ hiểu rõ điều này, chính vì thế các doanh nghiệp đã không ngừng cải tiến mẫu mã sản phẩm, nâng cao quy trình công nghệ sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm ... nhưng cần giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất để trực tiếp hạ giá bán tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
Trong quá trình sản xuất chi phí trực tiếp ảnh hưởng lớn đến giá thành chính là chi phí nguyên liệu vật liệu. Nếu giảm được chi phí này dẫn đến việc hạ giá thành thì doanh nghiệp mới thu được lợi nhuận cao. Muốn làm được điều đó các nhà quản lý doanh nghiệp phải có trình độ thực sự, kinh nghiệm của bản thân và hơn hết là phải có chiến lược hạch toán chi phí nguyên liệu vật liệu. Sử dụng tiết kiệm, hợp lý nguyên liệu vật liệu để giảm thiểu chi phí sản xuất, giá bán nâng cao sức cạnh tranh ( Cần phải nói thêm là sự cạnh tranh của sản phẩm chính là điều kiện thúc đẩy xã hội tiến lên). Thấy được tầm quan trọng của nguyên liệu vật liệu trong sản xuất nên trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần VPP Cửu Long em đã chọn đề tài “Kế toán nguyên liệu vật liệu” nhằm đi sâu và tìm hiểu về công tác kế toán nguyên liệu vật liệu.



Ngoài phần mở đầu nội dung của chuyên đề này gồm ba chương:

CHƯƠNG I: Các vấn đề chung về kế toán nguyên liệu vật liệu.

CHƯƠNG II: Thực tế công tác kế toán nguyên liệu vật liệu tại công ty cổ phần VPP Cửu Long.

CHƯƠNG III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán nguyên liệu vật liệu tại công ty cổ phần VPP Cửu Long.















MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu.......................................................................................1

Chương I: Các vấn đề chung về
kế toán nguyên liệu vật liệu .............................................................4

Chương II: Thực tế công tác kế toán nguyên liệu
vật liệu tại công ty cổ phần VPP Cửu Long.....................................25

Chương III: Nhận xét và kiến nghị về công tác
kế toán NLVL tại công ty cổ phần VPP Cửu Long........................68

Kết luận...........................................................................................72









CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN LIỆU VẬT LIỆU.

1. Khái niệm, đặc điểm của NLVL.
1.1 Khái niệm đặc điểm của NLVL.
a. Khái niệm.
Nguyên liệu vật liệu là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến hoặc hình thành từ những nguồn khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
b. Đặc điểm.
Chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất bị tiêu hao toàn bộ và khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu vật liệu thay đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu và giá trị được chuyển toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Yêu cầu quản lý nguyên liệu vật liệu xuất phát từ vai trò, đặc điểm của nguyên liệu. Trong quá trình sản xuất nguyên liệu vật liệu cần được theo dõi, quản lý chặt chẽ về các mặt hiện vật và giá trị ở tất cả các khâu:
Mua sắm.
Dự trữ, bảo quản.
Sử dụng.
Ở khâu mua hàng đòi hỏi phải quản lý đúng việc thực hiện kế hoạch mua hàng về số lượng, khối lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí mua cũng như đảm bảo đúng tiến độ, thời gian đáp ứng kịp thời nhu cầu của sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.



Ở khâu bảo quản phải tổ chức tốt kho tàng bến bãi trang bị đầy đủ các phương tiện đo lường cần thiết tổ chức và kiểm tra việc thực hiện chế độ
bảo quản đối với từng loại nguyên liệu vật liệu tránh hư hỏng mất mát bảo đảm an toàn tài sản.
Ở khâu sử dụng đòi hỏi phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm, chấp hành tốt các định mức dự toán chi phí nguyên liệu vật liệu góp phần quan trọng để hạ giá thành, tăng thu nhập và tích luỹ đơn vị.

1.2 Vai trò của nguyên liệu vật liệu trong sản xuất kinh doanh .
Để phát huy vai trò chức năng của kế toán trong công tác quản lý nguyên liệu vật liệu kế toán có nhiệm vụ sau:
Tổ chức ghi chép phản ánh chính xác kịp thời số lượng phẩm chất quy cách và giá trị thực tế của từng loại, từng thứ nguyên liệu vật liệu nhập, xuất, tồn.
Vận dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán, tính giá nguyên liệu vật liệu nhập kho, hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận, phòng ban chấp hành các nguyên tắc thủ tục nhập, xuất và thực hiện nghiêm chỉnh chế độ chứng từ kế toán.
Mở các loại sổ (thẻ) kế toán chi tiết theo từng thứ nguyên liệu vật liệu theo đúng chế độ phương pháp quy định. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch mua hàng, tình hình dự trữ và sử dụng nguyên liệu vật liệu theo dự toán tiêu chuẩn định mức chi phí và phát hiện các trường hợp vật tư ứ đọng, hao hụt, tham ô lãng phí, xác định nguyên nhân và biện pháp xử lý.
Tham gia kiểm kê và đánh giá nguyên liệu vật liệu theo chế độ quy định của Nhà nước.
Cung cấp thông tin về tình hình nhập, xuất, tồn kho nguyên liệu vật liệu phục vụ công tác quản lý. Định kỳ tiến hành phân tích tình hình mua hàng, bảo quản và sử dụng nguyên liệu vật liệu .
Xem thêm

69 Đọc thêm

Tổng quan về tinh bột biến tính trong sản phẩm thực phẩm

TỔNG QUAN VỀ TINH BỘT BIẾN TÍNH TRONG SẢN PHẨM THỰC PHẨM

Tinh bột là polysaccharide chủ yếu có trong hạt, củ, thân, lá cây. Tinh bột cũng có nhiều ở trong các loại củ như khoai tây, củ mài, sắn… Một lượng đáng kể tinh bột cũng có nhiều trong các loại quả như chuối và nhiều loại rau. Tinh bột có nhiều trong các loại lương thực do đó các loại lương thực được coi là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất tinh bột. Hình dạng và cấu trúc của tinh bột phụ thuộc vào giống cây và điều kiện trồng trọt.Tinh bột là loại polysaccharide khối lượng phân tử cao gồm các đơn vị glucose được nhau bởi các liên kết αglucozit, có công thức phân tử là (C6H10O5)n , ở đây n có thể từ vài tram đến 1 triệuTinh bột gồm 2 thành phần chính là: Amiloza và Amilopectin. Tỷ lệ amiloza Amilopectin xấp xỉ 14 .
Xem thêm

45 Đọc thêm

THIẾT KẾ – XÂY DỰNG MỚI CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT BỘT XENLULOZA

THIẾT KẾ – XÂY DỰNG MỚI CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT BỘT XENLULOZA

Để sản xuất giấy thì đầu tiên phải có nguyên liệu bột. Bởi vậy công nghiệp bộtxenluloza đóng vai trò quyết định trong công nghiệp giấy, nó cung cấp tới 90% lợng bột cho ngành giấy, phần còn lại bột xenluloza còn là nguyên liệu quan trọngcho các ngành khác nh sản xuất sợi nhân tạo, vật liệu compozit, thuốc nổ, CMCĐối với mỗi quốc gia,để có một ngành giấy phát triển, hiện đại thì ngành côngnghiệp sản xuất bột xenluloza phải tiến hành trớc một bớc cả về số lợng cũng nhchất lơng. Theo thời gian, song song với sự phát triển cải tiến của máy xeo giấytheo hớng ngày càng hiện đại, ngành công nghiệp bột xenluloza không ngừng biếnđổi, nhiều phơng pháp sản xuất mới ra đời. Trong thời gian những năm cuối củathập kỷ 90 các công nghệ nấu bột đã đi tới sự cơ gíơi hoá, tự động hoá điều khiểubằng chơng trình trên máy tính, tận dụng hầu hết các phần d của gỗ thừa, thảomộc, gỗ lá rộng, phế phẩm của nông nghiệp mà vẫn cho chất l ợng bột tốt cũngnh hiệu suất cao. Các công nghệ truyền thống với quy trình không ngừng đợc cảitiến nhằm nâng cao hiệu suất cũng nh công tác bảo vệ môi trờng, cải thiện điềukiện làm việc cho công nhân. Phơng pháp sunfat vẫn đang thay thế dần các phơngpháp sunfit, axit. Mặc dù các nhà máy bột sunfat vẫn còn thải ra các khí có mùikhó chịu, độc hại phát sinh ra từ những hoạt chất của lu huỳnh sử dụng trong quátrình nấu. Để loại bỏ hoàn toàn mùi tạo ra do lu huỳnh, một số phơng pháp côngnghệ mới đang đợc nghiên cứu và thử nghiệm nh : công nghệ xút oxy, côngnghệ này là : nấu xút một thời gian ngắn, sau đó tiếp tục tách lignin bằng oxy, códùng chất xúc tác Anthraquynonđể tăng nhanh tốc độ phăn ứng giữa xút và lignin.Ngoài ra, việc nghiên cứu và đa ra ứng dụng các phơng pháp nấu bằng dungmôi hữu cơ với mục đích ngoài việc thu xenluloza còn tinh cất để tận thu các sảnphẩm phụ. Đối với phơng pháp dùng dung môi hữu cơ để nấu bột nó cho phép nấuhầu hết đợc các nguyên liệu xơ sợi thực vật khác nhau, thu hồi hiệu quảhemixenluloza và lignin Các chất này có thể dùng làm nguyên liệu để sản xuất :benzen, phenol, Đăc điểm của phơng pháp là nấu nhanh, liên tục, hiệu suất cao,thu hồi dung môi dễ dàng bằng phơng pháp chng cất, bảo vệ môi trờng. Các dung8
Xem thêm

200 Đọc thêm

BÀI GIẢNG QUY HOẠCH TUYẾN TÍNH

BÀI GIẢNG QUY HOẠCH TUYẾN TÍNH

Một nhà máy muốn sản xuất ra n loại sản phẩm từ m loại nguyên liệu. Biết: là lượng nguyên liệu loại i cần để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm loại j; là lượng nguyên liệu loại i hiện có của nhà máy; là tiền lãi từ việc bán một đơn vị sản phẩm loại j;

53 Đọc thêm

Tiểu luận tinh bột biến hình và sản phẩm thủy phân tinh bột

TIỂU LUẬN TINH BỘT BIẾN HÌNH VÀ SẢN PHẨM THỦY PHÂN TINH BỘT

Tinh bột đã được biết đến từ hàng nghìn năm. Người La Mã gọi là amilum, một từ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp amilon. Tinh bột là polysaccarit chủ yếu có trong hạt, củ, thân cây và lá cây, đặc biệt nó có nhiều ở các loại củ như khoai tây, sắn, củ mài. Một lượng đáng kể tinh bột cũng có trong các loại quả như chuối và nhiều loại rau. Tinh bột có nhiều trong các loại lương thực do đó các loại lương thực được coi là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất tinh bột. Tinh bột đầu tiên được tách ra từ bột mỳ hoặc một loại ngũ cốc khác đã được biết đến từ thời xa xưa. Thời gian sau nó được sản xuất từ loại khoai tây ở Châu Âu và Nhật Bản, từ củ sắn và lúa gạo ở phương Đông và từ ngô ở Mỹ. Hình dạng và thành phần hóa học của tinh bột phụ thuộc vào giống cây, điều kiện trồng trọt . . . Tinh bột có nguồn gốc từ các loại cây khác nhau có tính chất vật lí và thành phần hóa học khác nhau. Kích thước các hạt khác nhau dẫn đến những tính chất cơ lí khác nhau như nhiệt độ hồ hoá, khả năng hấp thụ xanh metylen. Tinh bột có vai trò dinh dưỡng đặc biệt lớn vì trong quá trình tiêu hóa chúng bị thủy phân thành đường glucozơ là chất tạo nên nguồn calo chính của thực phẩm cho con người. Và nó thường được dùng làm chất tạo độ nhớt sánh cho thực phẩm dạng lỏng, là tác nhân làm bền cho thực phẩm dạng keo, là các yếu tố kết dính và làm đặc tạo độ cứng và độ đàn hồi cho nhiều thực phẩm . Tinh bột được tách ra từ hạt như ngô và lúa mì, từ rễ và củ như sắn, khoai tây, dong là những loại tinh bột chính dùng trong công nghiệp. Nó được ứng dụng để xử lí nước thải, tạo màng bao bọc kị nước trong sản xuất thuốc nổ nhũ tương, thành phần chất kết dính trong công nghệ sơn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Bài tập tính toán phối liệu men

BÀI TẬP TÍNH TOÁN PHỐI LIỆU MEN

Đạt được độ chính xác cao nhất về thành phần hoá và tỉ lệ các loại cỡ hạt, thành phần phối liệu và các tính chất kĩ thuật của nó ở các khâu khác nhau trong dây chuyền công nghệ để đảm bảo đúng tính chất cần mong muốn của các loại sản phẩm sau khi nung.Đạt được độ đồng nhất cao về thành phần hoá, thành phần hạt, lượng nước tạo hình, chất điện giải hay các loại phụ gia v.v... trong phối liệu theo thời gian và vị trí khác nhau.Kiểm tra nguyên liệu và tính bài phối liệuNgười ta thường tiến hành nghiêm ngặt việc kiểm tra chất lượng đầu vào của tất cả các loại nguyên liệu dùng cho quá trình sản xuất, nhất là đối với các sản phẩm gốm có yêu cầu chất lượng cao (như gốm mịn, gốm kỹ thuật ...). Việc kiểm tra bao gồm: phân tích thành phần hoá, thành phần khoáng, các tính chất công nghệ của nguyên liệu (chẳng hạn như độ dẻo và lượng nước tạo hình thích hợp của đất sét, khả năng đổ rót, độ mịn, độ co khi sấy và nung v.v...) để từ đó tính toán bài phối liệu sản xuất xương (hay men) bao gồm cấp phối của từng nguyên liệu một, được tính theo % trọng lượng hay phần trọng lượng.Độ sạch cũng như chất lượng đạt yêu cầu của nguyên liệu, sự phân tích chính xác và tính toán đúng bài phối liệu là những tiền đề cơ bản để cho sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng cao.Việc tính toán các bài phối liệu đế sản xuất các loại xương gốm sẽ được nêu trong phần sau, các bài phối liệu để sản xuất men gốm sẽ được nêu trong chương Men phủ và chất màu trang trí sản phẩm gốm.Khi tính toán và thiết lập bài phối liệu nguời ta thường dùng nhiều nguyên liệu của cùng một loại (chẳng hạn đất sét có thể dùng từ hai đến ba loại). Mục đích là để ổn định thành phần phối liệu khi một nguyên liệu nào đó có thành phần dao động không mong muốn.Chuẩn bị phối liệu:Mục đích của việc chuẩn bị phối liệu là:Tạo ra phối liệu đúng theo bài cấp phối.Tiếp tục nghiền mịn các loại nguyên liệu đến cỡ hạt yêu cầu.Tạo được sự hoà trộn đồng nhất của tất cả các loại nguyên liệu trong phối liệu, có độ ẩm đồng nhất, có những thông số công nghệ tối ưu phù hợp với công đoạn tạo hình tiếp theo.
Xem thêm

5 Đọc thêm

đồ án thiết kế lắp ráp thiết bị sấy tầng sôi

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ LẮP RÁP THIẾT BỊ SẤY TẦNG SÔI

Ý NGHĨA KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT CỦA THIẾT BỊ SẤY TẦNG SÔI
Việc làm ra tinh bột sắn đã có từ lâu đời trong nhân dân ta. Bằng những công nghệ thô sơ mà cũng sản xuất ra được những loại tinh bột có chất lượng cao, mặc dù hiệu suất thu hồi thấp. Từ dạng củ chuyển thành tinh bột là đã tạo ra một loại hàng hóa có giá trị cao. Nó được sử dụng rộng rãi và thuận tiện để chế biến ra các món ăn rất được ưa thích. Hiện nay với công nghệ sản xuất hiện đại, việc làm ra tinh bột sắn được tự động hóa và công đoạn sấy không mất nhiều thời gian cũng như chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên với điều kiện thời tiết thay đổi không ổn định như ngày nay thì việc chọn lựa phương pháp sấy và thiết bị sấy là rất quan trọng.
Với kích thước hạt tinh bột bé thì phương pháp sấy tầng sôi là phù hợp nhất. Hệ thống sấy tầng sôi này hoạt động liên tục. Luồng không khí nóng với áp lực lớn đẩy nguyên liệu tung lên nhằm sấy nhanh chóng tức thì, tốc độ truyền nhiệt nhanh, do vậy lượng nước ngậm trong nguyên liệu được bay hơi nhanh và theo khí nóng thoát ra ngoài. Chất lượng sản phẩm khá đồng đều, tiết kiệm được nhiều chi phí. Vì thế, việc nghiên cứu và phát triển hệ thống sấy tầng sôi để đưa vào trong sản xuất là đáp ứng thiết thực nhu cầu của ngành công nghiệp nước ta.
Xem thêm

45 Đọc thêm

Tiểu luận công nghệ sản xuất etanol từ tinh bột

TIỂU LUẬN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ETANOL TỪ TINH BỘT

1.Giới thiệu về nguyên liệu sắn lát∙ Về cơ bản củ sắn gồm 3 phần chính: vỏ, thịt củ và lõi (ngoài ra còn có cuống và rễ củ). ∙ Vỏ sắn gồm có 2 phần là vỏ gỗ và vỏ cùi: ∙ Vỏ gỗ có tác dụng bảo vệ củ và chống mất nước của củ, tuy nhiên vỏ gỗ dễ bị mất khi thu hoạch và vận chuyển. ∙ Vỏ cùi là một lớp tế bào cứng phủ bên ngoài, thành phần chủ yếu là xenluloza ngoài ra còn có chứa polyphenol, enzim, và linamarin. ∙ Phần thịt củ có chứa nhiều tinh bột, protein và các chất dầu, một ít polyphenol, độc tố và enzim. ∙ Lõi sắn nằm ở tâm củ dọc suốt chiều dài,thành phần chủ yếu là xenluloza. Lõi có chức năng dẫn nước và các chất dinh dưỡng giữa cây và củ đồng thời giúp thoát nước khi phơi hoặc sấy sắn. ∙ Thành phần sắn tươi dao động trong giới hạn khá lớn: tinh bột 20 34%, protein 0,8 1,2%, chất béo 0,3 0,4%, xenluloza 1 3,1%, chất tro 0,54%, polyphenol 0,1 0,3% và nước 60 74,2%. Ngoài ra trong sắn còn chứa một lượng Vitamin và độc tố. Vitamin trong sắn thuộc nhóm B. Các Vitamin này sẽ bị mất một phần khi chế biến và nhất là khi nấu trong sản xuất rượu. ∙ Độc tố trong sắn có tên chung là phazéolunatin gồm 2 glucozit Linamarin và Lotaustralin. Các độc tố này thường tập trung ở vỏ cùi. Bình thường phazéolunatin không độc nhưng khi bị thuỷ phân thì các glucozit này sẽ giải phóng axit HCN. Sắn tươi đã thái lát và phơi khô sẽ giảm đáng kể hàm lượng glucozit gây độc kể trên. Đặc biệt trong sản xuất rượu, khi nấu ở nhiệt độ cao đã pha loãng nước nên với hàm lượng ít chưa ảnh hưởng đến nấm men. Hơn nữa các muối xyanat khi chưng cất không bay hơi nên bị loại cùng bã rượu. ∙ Thời vụ thu hoạch: ∙ Duyên Hải Miền Trung: Vùng đồng bằng, vùng thấp trũng thu hoạch vào mùa hè thu (khoảng tháng 9 đến tháng 10) nhằm tránh mùa mưa lụt, miền núi và những vùng cao thu hoạch tháng 12 đến tháng 3. ∙ Tây Nguyên thời vụ thu hoạch nguyên liệu sắn tháng 12 đến tháng 3. ∙ Nguồn thu mua: Petrosetco Trading sẽ cung cấp một phần nguyên liệu sắn lát đầu vào. Bên cạnh đó, Nhà máy sẽ chủ động quy hoạch vùng nguyên liệu tại một số khu vực như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Tây Nguyên. ∙ Tiêu chuẩn sắn lát sử dụng cho Nhà máy: ∙ Hình dạng lát sắn: đường kính 30 – 70 mm, bề dày: 20 – 30 mm ∙ Độ ẩm: 12 – 14 %kl ∙ Hàm lượng tinh bột: 70 – 75 %klg ∙ Protein: 1,5 – 1,8 %klg∙ Hàm lượng tro: 1,8 – 3,0 %klg ∙ Lipid: 0,5 – 0,9 %klg ∙ Độ xơ: 2,1 – 5,0 %klg ∙ Các tạp chất khác: ≤ 3,0 %klg2.vi sinh vật
Xem thêm

18 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy sản xuất cồn 96 độ từ sắn lát khô với năng suất 100.000 lít sản phẩm ngày ( full bản vẽ )

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT CỒN 96 ĐỘ TỪ SẮN LÁT KHÔ VỚI NĂNG SUẤT 100.000 LÍT SẢN PHẨM NGÀY ( FULL BẢN VẼ )

Rượu etylic có vai trò quan trọng trong xã hội và đã đem lại thu nhập đáng kể, đóng góp to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, công nghệ sản xuất rượu luôn được cải tiến. Rượu etylic có thể sản xuất từ dầu mỏ hoặc các nguyên liệu chứa đường hoặc các polysaccarit có thể thủy phân thành đường lên men được. Hiện nay, nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt dần. Tuy nhiên, nguyên liệu giàu xenluloza để thủy phân thành đường lại hiệu quả kinh tế không cao. Vì vậy, nguyên liệu chủ yếu chứa đường được sử dụng là mật rỉ và tinh bột. Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Bên cạnh đó các ngành trồng trọt như rau, củ, quả cũng phát triển không ngừng. Tất cả những yếu tố trên cho thấy, nguồn nguyên liệu ở Việt Nam rất dồi dào và phong phú, đặc biệt là các loại cây lương thực chứa hàm lượng tinh bột cao như lúa, ngô, sắn... Tuy nhiên, ngô, lúa là hai cây lương thực chính của Việt Nam và theo khuyến cáo thế giới là không nên sản xuất rượu từ hai loại này. Hơn nữa, sắn có hàm lượng tinh bột cao; là loại cây thích hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam, đặc biệt là vùng trung du. Vì vậy, sắn là nguyên liệu chủ yếu. Có thể dùng sắn tươi hoặc sắn lát khô nhưng sắn lát khô giảm đáng kể hàm lượng glucozit gây độc và thuận lợi trong vận chuyển, bảo quản.
Xuất phát từ đề tài đó, tôi được giao nhiệm vụ“ Thiết kế nhà máy sản xuất cồn 96o từ sắn lát khô với năng suất 100.000 lít sản phẩm ngày. ”
Xem thêm

141 Đọc thêm

Cùng chủ đề