QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY":

Xu hướng phát triển của tôn giáo trong thời đại ngày nay. quan điểm, chính sách của đảng và nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở việt nam hiện nay

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TÔN GIÁO TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY. QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Xu hướng phát triển của tôn giáo trong thời đại ngày nay. quan điểm, chính sách của đảng và nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở việt nam hiện nay

38 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐẶC ĐIỂM, XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ QUA ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN ĐẶC ĐIỂM, XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ QUA ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thực hiện là: Tín ngưỡng tự do, lương giáođoàn kết. Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương, giáo, Ngườiđã chỉ ra sự đồng thuận giữa mục tiêu của cách mạng với mục đích của nhữngngười sáng lập tôn giáo. Nay đồng bào ta... kháng chiến để cứu quốc dân rakhỏi khổ nạn... là chúng ta làm theo lòng đại từ, đại bi của đức Phật Thích Ca.Những việc Chính phủ và nhân dân ta làm, đều hợp với tinh thần Phúc âm. Từđó đã cùng Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân ta làm hết sức mình, kể cả hysinh xương máu để giữ gìn sự đoàn kết đó; đồng thòi phê phán sâu sắc cáchnhìn thiển cận trong xây dựng khối đoàn kết lương, giáo.Như vậy, nhờ quán triệt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học nhữngquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng sự thấu hiểu sâu sắc lịch sử, vănhóa xã hội và con người Việt Nam đã giúp Hồ Chí Minh sáng tạo nên nhữngtư tưởng vô cùng độc đáo về tôn giáo, mang đậm phong cách, bản sắc ViệtNam, phù hợp với cách nghĩ, cách làm của toàn thể dân tộc Việt Nam vàtrong đó có đồng bào có đạo. Cho nên, những quan điểm, chính sách độc đáovề tôn giáo ấy, sẽ mãi mãi là nền tảng tư tưỏng để Đảng, Nhà nước ta tiếp tụcnhận thức đúng đắn và xử lý sáng tạo vấn đề tôn giáo trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện hay.1.2. Từ thực tế kết quả giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo củamột số nước trên thế giới và của các triều đại phong kiến Việt Nam là cơ sởquan trọng để Đảng, Nhà nước ta nghiên cứu rút kinh nghiệm trong quátrình xây dưng, thực thi các quan điểm, chính sách về tín ngưởng, tôn giáo.Nhận thức và giải quyết vấn đề tôn giáo đã được đặt ra từ lâu trong lịchsử ở từng quốc gia dân tộc và toàn nhân loại. Tùy theo lập trường, quan điểmvà chế độ chính trị khác nhau, mà các nhà nước có sự nhìn nhận, giải quyếtvấn đề tôn giáo không giống nhau.Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, cũng mắc những sailầm, khuyết điểm không nhỏ khi xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin về vấn đề này. Điển hình là Hiến pháp Liên Xô năm 1936, trongkhi khẳng định: “quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng”, lại đồng thời khẳng định
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Cùng với các lĩnh vực khác, trong thời kỳ đổi mới, công tác tôn giáo đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đạt được những thành tựu to lớn đó, một phần rất quan trọng là do sự đổi mới nhận thức về tôn giáo trong những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua.

30 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÔN GIÁO SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO DƯỚI CNXH, ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

TIỂU LUẬN TÔN GIÁO SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO DƯỚI CNXH, ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp cho công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi thành tựu củacách mạng đều có sự đóng góp không nhỏ từ những chính sách đúng đắn củaĐảng và Nhà nước ta đối với các tôn giáo.Quan điểm, chính sách nhất quán của ĐảngNhà nước ta là thừanhận sự tồn tại lâu dài của tín ngưỡng tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tínngưỡng và không tín ngưỡng tôn giáo của công dân; quan tâm nâng cao đờisống mọi mặt cho quần chúng tín đồ chức sắc tôn giáo; cảnh giác, đấu tranhvới mọi sự lợi dụng tôn giáo chống cách mạng của các thế lực thù địch. Bởi12thế về cơ bản trong công tác vận động quần chúng nói chung, công tác tôngiáo nói riêng chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Song giảiquyết vấn đề tín ngưỡng tôn giao là một nhiệm vụ không hề đơn giản, vì vậycó lúc, có nơi cán bộ các cấp đã mắc phải những sai lầm khuyết điểm như cóbiểu hiện quá tả trong giải quyết vấn đề tôn giáo, hoặc phân biệt đối xử vớiđồng bào theo các đạo, dẫn tới mất đoàn kết, từ đó kẻ thù luôn lợi dụng đểtìm cách chống phá cách mạng.Văn kiện Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị (khoá VI), Về tăng cườngcông tác tôn giáo trong tình hình mới, ban hành ngày 16 tháng 10 năm 1990xác định: tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng tôn giáo là nhucầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểmphù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”, "các giáo hội và tổ chức tôngiáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích,điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nước, có tổ chức phù hợp và bộ máy nhânsự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ được Nhà nước xem xét trongtừng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động".Nhằm cụ thể hoá quan điểm của Đảng, điều 70 của hiến pháp nước
Xem thêm

18 Đọc thêm

Sự vận dụng nguyên tắc chủ nghĩa Mác Lenin giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay

SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC CHỦ NGHĨA MÁC LENIN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sự vận dụng nguyên tắc chủ nghĩa Mác – Lênin giải quết vấn đề tôn giáo của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin. Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào, có tôn giáo nội sinh. Trong những năm qua tôn giáo ở Việt Nam phát triển phong phú và đa dạng. Vấn đề tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm, nếu ko giải quyết vấ đề này một cách khéo léo và đúng đắn thì sẽ dẫn đến những hậu quả lớn. Vì vậy trong pham vi bài tiểu luận này, tás giả xin được viết về đề tài: “Những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quết vấn đề tôn giáo và sự vận dụng nguyên tắc này của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay.” NỘI DUNG I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO. 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo. a. Định nghĩa tôn giáo. Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau. b. Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo. Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX. Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ… Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch. Tôn giáo có rất nhiều nguồn gốc khác nhau bao gồm: Thứ nhất, nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người. Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Cuối cùng là nguồn gốc tâm lí của tôn giáo. Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”. 2. Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hôi chủ nghĩa. Các tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài trong các nước xã hội chủ nghĩa là do nguyên nhân chủ yếu sau: Đầu tiên là về nguyên nhân nhận thức: thế giới khách quan là vô cùng tân, nhiều hiện tượng tự nhiên đến nay con người vẫn chưa giải thích được. Do vậy tâm lý sợ hãi, trông chờ và nhờ cậy, tin tưởng vào thần thánh...chưa thể gạt bỏ khỏi ý thức của con người trong xã hội, trong đó có nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa. Tiếp theo là nguyên nhân tâm lý: tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử loài người, ăn sâu vào trong tiềm thức của nhiều người dân. Trong m ối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thì ý thức xã hội bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội, trong đó tôn giáo lại là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất. Tín ngưỡng, tôn giáo đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệđến mức trở thành một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của cuộc sống. Cho nên, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội... thì tín ngưỡng, tôn giáo cũng không thayđổi ngay theo tiến độ của những biến đổi kinh tế, xã hội mà nó phản ánh. Sau đó là nguyên nhân chính trị, xã hội: trong các nguyên tắc tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là mặt giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Mặt khác, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn, lật đổ... còn xảy ra ở nhiều nơi. Nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo... cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại. Tiếp đến là nguyên nhân kinh tế: trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Sự bất bình đẳng về kinh tế, văn hoá, xẫ hội vẫn là mọt thực tế. Đời sống vật chất của người dân chưa cao thì con người càng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên may rủi. Điều đó làm con người có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên. Cuối cùng là nguyên nhân văn hoá: do lợi ích đáp ứng mức độ nào đó nhu cầu văn hoá, tinh thần, giáo dục cộng đồng, đạo đức, phong cách lối sống của người dân. Vì vậy việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hoá (có chọn lọc) của nhân loại trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết. 3. Nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giải quết vấn đề tôn giáo. Khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần nắm vững các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất là cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo, bởi vì: ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không như nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo. Thứ hai là khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội củ, xây dựng xã hội mới. điều đó nói lên rằng: muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng. Điều cần thiết trước hết phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nhèo đói và thất học... cùng những tệ nạn nảy sinh trong xã hội Thứ ba là tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Quyền ấy không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các Đảng. Tuy nhiên, đi đôi với việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng phải chống lại những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng để chống phá cách mạng. Thứ tư là cần phân biệt 2 mặt nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tính ngưỡng tôn giáo. Vì có sự phân biệt được 2 mặt đó mới tránh khỏi khuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo sẽ còn tồn tại lâu dài, phải được tôn trọng và bảo đảm. Mọi biểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên đây là 4 nguyên tắc quan trọng cần phải chú ý khi giải quyết vấn đề về tôn giáo để có thể giúp đất nước phát triển ổn định và hòa bình. II. VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 1. Thực tiễn tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Tôn giáo tại Việt Nam khá đa dạng, gồm có các nhánh Phật giáo như Đại thừa, Tiểu thừa, Hòa Hảo..., một số nhánh Kitô giáo như Công giáo Rôma, Tin Lành, tôn giáo nội sinh như Đạo Cao Đài, và một số tôn giáo khác. Nền tín ngưỡng dân gian bản địa cho tới nay vẫn có ảnh hưởng nhất định tại Việt Nam Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất. Theo thống kê dân số năm 2009 thì số tìn đồ Phật Giáo là 6.802.318 người trong đó 2.988.666 tín đồ ở thành thị và 3.813.652 tín đồ ở nông thôn. Công giáo Rôma (hay Thiên Chúa giáo La Mã), lần đầu tiên tới Việt bởi những nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một thuộc địa của Pháp. Theo thống kê năm 2009 ở Việt Nam có khoảng 5.677.086 tín đồ Công giáo trong đó có 1.776.694 tín đồ ở khu vực thành thị và 3.900.392 ở các khu vực nông thôn, địa phương có đông đảo tín đồ Công giáo nhất là tỉnh Đồng Nai với 797.702 tín đồ, và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước. Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ ba tại Việt Nam. tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước) Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh. Theo điều tra Ban Tôn giáo chính phủ, có 3 triệu người tự xem mình là tín đồ Cao Đài phân bố tại 39 tỉnh thành cả nước. Tin Lành được truyền vào Việt Nam năm 1911. Năm 2009, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam là 734.168 chủ yếu tập trung ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc và là tôn giáo chính của nhiều dân tộc thiểu số. Tỉnh có đông đảo tín đồ Tin Lành nhất là Đăk Lăk với 149.526 tín đồ. Hầu hết tín đồ Hồi giáo và Hindu giáo tại Việt Nam là người Chăm. Người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm. Năm 2009, tại Việt Nam có khoảng 75.268 tín đồ Hồi giáo. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một số tôn giáo khác nhưng nó nhỏ lẻ không đáng kể và còn có một số người không có tôn giáo. Về mặt tích cực thì tôn giáo là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp phần chế ngự các hành vi phi đạo đức. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của các tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày càng thuần khiết. Ở Việt Nam giáo phái sống hòa thuận, không có xung đột dẫn đến chiến tranh như một số nước hồi giáo ở Trung Đông. Bên cạnh đó thì tôn giáo cũng có một số mặt tiêu cực. Một số người lợi dụng vào vấn đề tâm linh để lừa gạt người khác như vụ làm giả hài cốt nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng nhà ngoại cảm “rởm” “cậu Thủy” của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam khoảng 8 tỷ đồng, … Còn có một số kẻ phản động chuyên đi kích động một số bà con giáo dân làm loạn để chống phá Đảng và Nhà nước ta… 2. Chủ trương đường lối tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về quan điểm, chính sách: Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai là, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền, nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo. Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nước ta hiện nay có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bổ ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước. Vì vậy, công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành. Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo,.. của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật. 3. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới. Để thực hiện tốt chính sách tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng, trong những năm tới, theo tác giả cần làm tốt những nhiệm vụ cụ thể sau: Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quan tâm đúng mức đối với các vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo. Hai là, nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể đối với công tác tôn giáo. Trên cơ sở triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tôn giáo, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Ba là, đẩy mạnh công tác tham mưu, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với công tác tôn giáo, tích cực tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về tôn giáo, đồng thời bổ sung kịp thời những chính sách đối với tôn giáo ở những vùng, miền khác nhau Bốn là, thực hiện tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều kiện giúp đỡ Đại hội, Hội nghị thường niên của các tổ chức tôn giáo, xem xét cho đăng ký hoạt động một số tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương. Năm là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác tôn giáo hiện nay. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng đông tôn giáo. Sáu là, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Bảy là, công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo trong tình hình hiện nay, cần chủ động và tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành trong việc đối thoại và xử lý những vấn đề tôn giáo nhạy cảm đang được các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” để xuyên tạc tình hình tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, gây sức ép với Nhà nước về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Tám là, tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng , chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo Đồng thời xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. KẾT LUẬN Như vậy, quan điểm của Đảng ta về tôn giáo là rõ ràng, nhất quán, đảm bảo quyền tự do, dân chủ. Trong khi đó, hiện nay, có những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước vẫn cho rằng ở Việt Nam người dân không có quyền tự do tín ngưỡng, tôn của nhân loại, kìm hãm sự phát triển của tư duy con người trong những bức tường chật hẹp của những sách kinh, giáo điều. Nhưng cũng không thể không nhắc đến ý nghĩa của tôn giáo như là một phương thuốc giảm đau cho những con người đang bất lực trước tự nhiên kinh khủng và bí ẩn, đang rên siết trong gông cùm của nô dịch và đàn áp, bất công. Bởi vậy, khi nghiên cứu về tôn giáo phải nắm vững quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác Lênin, không thể chỉ xem xét nó một cách phiến diện trong những mặt tiêu cực và hạn chế. Qua bài tập này, ta còn thấy tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm cần được giải quyết trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã hiểu được vấn đề tôn giáo rất quan trọng và đã đưa ra những nghị quyết hợp lí để giải quyết vấn đề này. Việc giải quyết hợp lí vấn đề tôn giáo giúp cho đất nước ta ổn định và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa được thuận lợi hơn.
Xem thêm

11 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÔN GIÁO,CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

TIỂU LUẬN TÔN GIÁO,CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

tính hiện thực thực sự.Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là tráitim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những điềukiện xã hội không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hộitrở thành sức mạnh siêu nhiên có quyền uy đối tối thượng và tác động đến mộtcộng đồng , một nhóm xã hội có tổ chức.Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấpvà có đấu tranh giai cấp.V.I. Lênin đã định nghĩa: Tôn giáo là một trong nhữnghình thức áp bức vè tinh thần, luôn luôn và bất cứ nơi đâu cũng đè nặng lên quầnchúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phảichịu cảnh bần cùng và cô độc.Những quan điểm của chủ nghĩa Mác lê nin về tôn giáo đã được Hồ chí Minh,ĐảngNhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện lịch sử của Việt nam.Mặcdù hiện nay chưa có tài liệu nào giải thích cụ thể về tôn giáo , song nói đến mộttôn giáo hoàn chỉnh thì có mấy dấu hiệu cơ bản sau:+ Nói đến tôn giáo là nói đến cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêunhiên, huyền bí.+ Có hệ thống giáo lí, luật lệ, lễ nghi.4+ Có tổ chức hoạt động từ giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ.1.1.2.Nguồn gốc và bản chất của tôn giáo.a) nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo.Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém,con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậyhọ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh quyền lực to lớn, thần thánh hóa nhữngsức mạnh đó . Đó là hình thức tồn tại đầu tiên của tôn giáo.Khi xã hội bắt đầu xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếuđuối trước sức mạnh của tự nhiên, con người lại cảm thấy bất lực trưos những sứcmạnh tự phát hoặc của thế lực nào đó trong xã hội.Không giải thích được nguồn
Xem thêm

16 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ lịch sử: Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm 1990 đến 2007

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ: CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1990 ĐẾN 2007

Tôn giáo là một hiện tượng thuộc hình thái ý thức, tư tưởng đồng thời là một thực tại xã hội. Tôn giáo xuất hiện sớm trong xã hội loài người, đã ăn sâu vào đời sống của nhiều dân tộc và còn tồn tại lâu dài với loài người, khi con người còn có nhu cầu tâm lý được an ủi trong hư ảo, còn có những ước mơ về một cuộc sống thần tiên ở thế giới bên kia.Do có một vị trí địa lý đặc biệt, nằm ở giữa ngã ba đường của Đông Nam Á và trông ra biển Đông, là cầu nối từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, từ Tây sang Đông, Việt Nam sớm trở thành nơi giao lưu của các nền văn hoá, là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình. Đặc điểm này góp phần làm phong phú, đặc sắc cho nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy cảm, trong lịch sử đã từng bị các thế lực phản động lợi dụng để chống phá cách mạng. Những năm gần đây, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá Nhà nước, thực hiện mưu đồ “diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho tình hình tôn giáo trở nên phức tạp hơn.Để đáp ứng nhu cầu tôn giáo của người dân, bất cứ một Nhà nước nào cũng phải giải quyết nhiều vấn đề trong quan hệ với các tổ chức tôn giáo, phải định ra một thái độ ứng xử đối với tôn giáo. Đó chính là vấn đề xây dựng, hoàn thiện chính sách tôn giáo. Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi nước mà chính sách tôn giáo được thể hiện khác nhau. Ở nước ta, đường lối, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước là “bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân”, đồng thời đặt việc bài trừ mê tín dị đoan là một bộ phận của cách mạng tư tưởng văn hóa.
Xem thêm

96 Đọc thêm

Chính sach tôn giáo của đảng và nhà nước ta

CHÍNH SACH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TAI. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO1. Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với cuộc vận động toàn dân đoàn kết cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới .Chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định, do tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nên để thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải làm thay đổi tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người phải xóa bỏ nguồn gốc gây nên những ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng chứ không phải là trực tiếp tấn công vào thần, thánh và những biểu hiện tín ngưỡng khác. Muốn đẩy lùi những ước mơ về thiên đường hư ảo ở thế giới bên kia, thì con người phải từng bước xây dựng một thiên đường có thực trên trần thế. Đó là một quá trình lâu dài, gắn liền với công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và trí tuệ cho con người. Phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ vì sự khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo; khai thác và phát huy tiềm năng của đồng bào là tín đồ các tôn giáo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chỉ có thông qua quá trình đó, mới có khả năng gạt bỏ dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội.Sự thống nhất về lợi ích của giai cấp, quốc gia và dân tộc sẽ tạo điều kiện tiến tới sự thống nhất về tư tưởng và hành động.Để khắc phục những yếu tố tiêu cực của tôn giáo cần quan tâm đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, coi trọng tuyên truyền, giáo dục thế giới duy vật biện chứng phương pháp luận khoa học cho quần chúng nhân dân. 2. Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng và đảm bảo là một bước tiến của xã hội loài người, trong đó giai cấp tư sản trong quá trình đấu tranh chống phong kiến đã đóng góp một phần nhất định. Song, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, những tư tưởng về tự do tín ngưỡng chỉ nằm trong khuôn khổ mà những hoạt động của giáo hội các tôn giáo phù hợp hoặc ít nhất cũng không đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản. Đấy là chưa kể giai cấp tư sản cầm quyền đang lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của chúng, chống phá phong trào cách mạng trong nước và trên thế giới.Trong chủ nghĩa xã hội, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng là một nguyên tắc. Quyền ấy được thể hiện về mặt pháp lý và trên thực tiễn. Đó là quan điểm nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của Đảng Cộng sản. Căn cứ vào bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và quy luật của quá trình chuyển biến về mặt tư tưởng của con người, những người cộng sản tôn trọng và đảm bảo những quyền tự do tín ngưỡng của quần chúng có đạo, cũng như quyền không theo một tôn giáo nào.Nội dung cơ bản của quyền tự do tín ngưỡng là:
Xem thêm

13 Đọc thêm

Chính sách tôn giáo của đảng cộng sản việt nam trong giai đoạn hiện nay

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Lí do chọn đề tài. Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang tiến lên quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có được sự phát triển đó là nhờ công cuộc đổi mới mà đảng ta khởi xướng và tiến hành hơn 20 năm qua kể từ sau đại hội VI. Tuy nhiên trong những năm qua đất nước ta đã trải qua rất nhiều khó khăn, một loạt những vấn đè kinh tế, chính trị, xã hội cần được giải quyết. Một trong những vấn đề đó chính là tôn giáo.Trong điều kiện chính trị xã hội hội hiện nay vẫn còn điều kiện cho tôn giáo tồn tại và phát triển, tôn giáo vẫn ngự trị trong cuộc sống tinh thần của một bộ phận nhân dân lao động, sinh hoạt tôn giáo và niềm tin tôn giáo là một nhu cầu không thể thiếu được. Chính vì vậy mà Đảng nhà nước ta phải có những chính sách phù hợp đối với tôn giáo.
Xem thêm

37 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN VẤN ĐỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN VẤN ĐỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn giáo hiện nay đã được Đảng và Nhà nước ta xem xét, đánh giá lại trên quan điểm khách quan hơn, không xoá bỏ một cách duy ý chí như trước nữa mà nhìn nhận trên quan điểm phát huy những mặt tích cực, gạt bỏ những mặt tiêu cực trong các tôn giáo, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, toàn cầu hóa, quốc tế hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay cần đánh giá xác đáng những tác động của nó đến thế giới quan tôn giáo của một bộ phận nhân dân, để từ đó phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cùng thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong bài thu hoặc ngắn của mình, tác giả muốn tìm hiểu những tác động của quá trình hội nhập quốc tế tới vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.
Xem thêm

14 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đối với đạo Tin lành; đồng thời tổ chức th[r]

35 Đọc thêm

BÀI GIẢNG: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

BÀI GIẢNG: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

Kính thưa các đồng chí Việt Nam là một quốc gia thống nhất, bao gồm 54 dân tộc, tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong quá trình đó nhân dân ta thường xuyên phải đương đầu với thiên tai, địch họa. Để bảo vệ sự tồn tại của mình, các dân tộc đã sớm cố kết, dựa vào nhau hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất tạo thành sức mạnh chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh, trong mọi giai đoạn, mọi hoàn cảnh khó khăn gian khổ, các cộng đồng dân tộc Việt Nam luôn luôn đoàn kết, chung sống hòa hợp, giúp đỡ nhau cùng tồn tại và phát triển. Đặc biệt, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng thiên tai, chiến thắng thù trong, giặc ngoài, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết của 54 dân tộc trong nước, chúng ta mới bảo vệ được độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đất nước mới có điều kiện sống trong hòa bình và phát triển bền vững. Để hiểu rõ hơn những vấn đề trên, sau đây chúng ta hãy cùng nhau đi vào phần nội dung chính của bài hôm nay
Xem thêm

14 Đọc thêm

LUẬN VĂN PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở TỈNH ĐỒNG NAI

Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo là một hoạt động đặc biệt, chỉ thắng lợi khi quầnchúng nhận thức rõ được bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch, tự giác ủng hộ và cùngtham gia với các cơ quan Nhà nước để đấu tranh. Bởi vậy, cần phải phát huy tinh thầnyêu nước của đồng bào, làm cho đồng bào nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụngtôn giáo của các thế lực thù địch để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ.Năm, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đốingoại của Đảng, Nhà nước, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về CSTG, đấu tranh làmthất bại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch đối vớiCSTG ở nước ta.Các tôn giáo ngoại nhập như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo có quan hệ kháchặt chẽ với các tổ chức cùng tôn giáo ở bên ngoài. Bởi vậy, công tác tôn giáo có nhiệmvụ hướng dẫn hoạt động đối ngoại của các tôn giáo phù hợp với chủ trương, CSTG khônglàm ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, không làmtổn hại đến quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.Cùng với việc bảo đảm cho quan hệ đối ngoại tôn giáo thực hiện đúng pháp luật, tônchỉ, đường hướng của các tôn giáo, cần đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, đấu tranh làmthất bại các luận điệu xuyên tạc, vu khống của kẻ địch về vấn đề tôn giáo và CSTG ởnước ta.Sáu, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo.Tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa họctrong việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, CSTG trước mắt và lâu dài.Thực tiễn luôn biến đổi, việc quán triệt và thực hiện quan điểm, chính sách về tínngưỡng, tôn giáo đạt hiệu quả ngày càng cao, nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót,khuyết điểm. Do vậy, kịp thời sơ, tổng kết rút kinh nghiệm để phát huy ưu điểm, khắcphục hạn chế, điều chỉnh, bổ sung các chủ trương, giải pháp là một yêu cầu khách quantrong thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước.Sáu nhiệm vụ đó quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện tốt sáu nhiệm vụ là trách nhiệmcủa cả HTCT, của mọi cấp, mọi ngành, trong mọi lĩnh vực, của mọi cán bộ, đảng viên và
Xem thêm

129 Đọc thêm

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang cónhững diễn biến phức tạp, vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính đặc thù riêngcủa từng quốc gia. Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền... luôn là những vấn đềnhạy cảm mà các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng, chống phá sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, chia rẽ khối đạiđoàn kết toàn dân, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, nhằm gây mất ổn định cả vềchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảngta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc, việc hoạch định và thựchiện chính sách dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta.Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của ĐảngNhà nước ta trong thời gianqua đã đưa lại nhiều thành tựu rất quan trọng: kinh tế, văn hóa, xã hội..., khẳngđịnh tính ưu việt của chế độ mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu này cũngcòn bộc lộ những vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra và sự mong đợi củacác đồng bào dân tộc trên phạm vi cả nước nói chung và huyện Định Hoá nóiriêng hiện nay.Định Hoá là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, trên địa bàn huyện cótám dân tộc anh em cùng sinh sống: Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa,Kinh và Hmông. Định Hoá là huyện ở trung tâm Việt Bắc, có nhiều đường bộ đicác địa phương có thể lên biên giới phía Bắc, đi Tây Bắc, Đông Bắc tới trung du,xuống đồng bằng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, do có vị trí chiến lượcđặc biệt Định Hoá được chọn làm căn cứ địa nơi các cơ quan đầu não kháng6chiến, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của ĐảngNhà nước ở và làm việc. Hơn60 năm đã trôi qua, việc thực hiện chính sách dân tộc của ĐảngNhà nước trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội ở huyện Định Hoá đã đạt được những thành tựu
Xem thêm

67 Đọc thêm

Thực trạng, phương hướng và giải pháp trong việc thực hiện chính sách xã hội ở xã Long Sơn, huyện Sơn Động giai đoạn hiện nay

THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở XÃ LONG SƠN, HUYỆN SƠN ĐỘNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới đất nước thực chất là một quá trình nhận thức đúng đắn hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, là thực hiện mong muốn “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Thực hiện lời di huấn của người: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Do vậy, chính sách xã hội giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì mục tiêu làm cho “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”, bản thân là một cán bộ đảng viên, một công dân đang sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa, được hưởng thụ những chính sách của Đảng và Nhà nước. Tôi rất vinh dự và tự hào vì Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với điều kiện xã hội qua các thời kỳ. Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi Đảng phải đề ra các chính sách xã hội đúng và phù hợp với thực tế. Bởi vì, thực tiễn cho thấy trong quá trình triển khai thực hiện một số chính sách xã hội như chính sách người có công, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm... còn gặp nhiều khó khăn và bất cập là thực trạng chung đòi hỏi Đảng và Nhà nước cũng như mỗi cán bộ đảng viên cần quan tâm nhiều hơn nữa đến chính sách xã hội. Xã Long Sơn là một đơn vị xa trung tâm huyện. Việc thực hiện các chính sách xã hội ở xã Long Sơn trong những năm gần đây, tuy có nhiều tiến bộ và kết quả đáng kể song vẫn gặp không ít khó khăn, một số chính sách xã hội trở thành vấn đề bức xúc của địa phương cần phải có những giải pháp thiết thực để giải quyết có hiệu quả cho nhân dân. Vì vậy, việc nghiên cứu lý giải một cách có hệ thống, đánh giá chung thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách xã hội ở xã Long Sơn vừa có ý nghĩa lý luận và là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng, phương hướng và giải pháp trong việc thực hiện chính sách xã hội ở xã Long Sơn, huyện Sơn Động giai đoạn hiện nay” với mong muốn được ứng dụng những kiến thức đã học góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp và văn minh.
Xem thêm

30 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Câu 1: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về chiến lược xây dựng con người trong thời đại mới. Liên hệ với thực trạng nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam?Câu 2: Phân tích vai trò đoàn kết quốc tế theo TTHCM. Liên hệ với chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng ta?Câu 3: Phân tích vai trò đoàn kết dân tộc theo TT HCM. Liên hệ với tình hình đoàn kết hiện nay của dân tộc ta?Câu 4: Phân tích tư tưởng HCM về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Liên hệ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở VN hiện nay?
Xem thêm

29 Đọc thêm

XU LY DIEM NONG TAI GIAO XU THAI HA HA NOI

XU LY DIEM NONG TAI GIAO XU THAI HA HA NOI

A. PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTôn giáo là một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo ra và xuất hiện khá sớm trong xã hội loài người; nó tồn tại phổ biến ở tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới. Nhìn chung tôn giáo ra đời là sự phản ứng của con người trước tự nhiên và mâu thuẫn xã hội gay gắt. Bản chất của tôn giáo là niềm tin hư ảo vào đấng siêu nhiên, đáp ứng nhu cầu cuộc sống tâm linh của một bộ phận nhân dân. Niềm tin tôn giáo nói riêng, ý thức tôn giáo, hiện thực tôn giáo nói chung có tác động rất lớn tới văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, tâm lý con người. Cả về khía cạnh tích cực, cả về khía cạnh tiêu cực.Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, có sáu tôn giáo chính và các tín ngưỡng dân gian luôn gắn liền với đời sống chính trị xã hội rộng lớn cùng với cả dân tộc đấu tranh anh dũng chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và kẻ thù xâm lược trong mặt trận đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Vì vậy vấn đề tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc.Trong những năm qua nhờ có những quan điểm chỉ đạo đúng đắn và những chính sách thích hợp trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo cũng như việc thực hiện có hiệu quả đến chỉ đạo những chính sách đó, hầu hết các tôn giáo và đồng bào có đạo đã hồ hởi, phấn khởi tham gia một cách tự giác vào quá trình xây dựng bảo vệ tổ quốc, thực hiện “sống tốt đời, đẹp đạo”.Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là các thế lực thù địch đang tiếp tục lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước dưới nhiều hình thức như kích động chia rẽ, tổ chức truyền đạo trái pháp luật để nhen nhóm lực lượng chống đối, ly khai; nuôi dưỡng, sử dụng các phần tử phản động đội lốt tôn giáo gây mất ổn định, hòng tổ chức, thực hiện mưu đồ “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ ở Việt Nam.Trước thực tế đó chúng ta ý thức được sâu sắc tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống chính trị xã hội của đất nước. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của tôn giáo như thế, cùng tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc và thực sự cầu thị tiểu luận xin được bàn tới vấn đề “Xử lý điểm nóng tôn giáo tại Giáo sứ Thái Hà Hà Nội”.2. Tình hình nghiên cứu
Xem thêm

20 Đọc thêm

Đảng viên với tín ngưỡng tôn giáo

ĐẢNG VIÊN VỚI TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

I. VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO l. Cán bộ, Đảng viên ở cơ sở giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Công tác tôn giáo là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo của các cấp ủy đảng và đảng viên từ Trung ương đến cơ sở. Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, các cấp ủy đảng cần phải xác định rõ nội dung lãnh đạo công tác tôn giáo của mình trong từng thời gian cụ thể. Trên cơ sở đó phân công trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên lãnh đạo và chỉ đạo chính quyền các tổ chức quần chúng thực hiện. Kinh nghiệm cho thấy, nơi nào phát huy được vai trò lãnh đạo và chỉ đạo của cấp ủy đảng, vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên thì nơi đó tình hình diễn biến thuận lợi. Ngược lại, nơi nào coi nhẹ vai trò của cấp ủy nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng trong việc thực hiện chính sách tôn giáo thì ở nơi đó dễ làm cho tình hình phức tạp thêm, gây khó khăn cho việc giải quyết và đôi khi gây ra những hậu quả không nhỏ. 2. Yêu cầu chung đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo
Xem thêm

11 Đọc thêm

tiểu luận cao học nền công vụ việt nam và sự cần thiết áp dụng chế độ sử dụng theo năng lực

TIỂU LUẬN CAO HỌC NỀN CÔNG VỤ VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG THEO NĂNG LỰC

Điều 4, Hiến pháp nước ta khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo Nhà nước được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: lãnh đạo trong tổ chức và hoạt động của toàn bộ máy nhà nước, đưa ra các chủ trương, quan điểm xây dựng Nhà nước, định hướng chính trị cho hoạt động của Nhà nước, thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thông qua công tác cán bộ. Xuất phát từ nhận thức chung đó, hoàn thiện chế độ công vụ cần phải: Dựa trên cơ sở quan điểm, đường lối chính trị, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác cán bộ thành pháp luật điều chỉnh quan hệ công vụ, công chức. Xây dựng đội ngũ công chức ngày càng chính quy, hiện đại, có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức trong công vụ. Tôn trọng sự kiểm tra, hướng dẫn, lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ và tôn trọng sự giới thiệu của các cơ quan, tổ chức đảng trong lựa chọn, đề bạt cán bộ. Xây dựng đạo đức công vụ theo những tiêu chí đạo đức cách mạng. Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về công tác cán bộ, trong đó nhấn mạnh những tiêu chuẩn của người cán bộ, đảng viên nói chung và công chức nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là: có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Hiện nay, trong nền công vụ nước ta đã và đang tồn tại hai hình thức hoạt động đánh dấu sự sử dụng cán bộ theo hai cách khác nhau:
Xem thêm

21 Đọc thêm

Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo thông qua các ví dụ cụ thể

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHUẨN MỰC PHÁP LUẬT VÀ CHUẨN MỰC TÔN GIÁO THÔNG QUA CÁC VÍ DỤ CỤ THỂ

Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo thông qua các ví dụ cụ thể Bài tập học kỳ Xã hội học pháp luật Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xã hội học pháp luật Bài tập học kỳ Xã hội học pháp luật. Pháp luât là một công cụ điều chỉnh hiệu quả nhất giúp nhà nước quản lí và điều tiết trật tự xã hội, là chuẩn mực mà tất cả mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tôn trọng và thực hiện. trong quá trình hình thành và phát triển, pháp luật luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố, chuẩn mực xã hội, trong đó có chuẩn mực tôn giáo. Chuẩn mực tôn giáo có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau với pháp luật, và có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lí xã hội của nhà nước bởi nước ta là một nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Để làm rõ mối quan hệ giữa chuẩn mực tôn giáo và pháp luật, em xin đi sâu vào đề tài: Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo thông qua các ví dụ cụ thể. Bài viết còn nhiều thiếu sót, mong quý thầy cô cho ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. NỘI DUNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUẨN MỰC PHÁP LUẬT VÀ CHUẨN MỰC TÔN GIÁO 1. Chuẩn mực pháp luật a. Khái niệm Chuẩn mực pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng cho hành vi ứng xử của các cá nhân và các nhóm xã hội. b. Đặc điểm Chuẩn mực pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp luật có tính hệ thống, thủ tục ban hành đặc biệt, tính cưỡng chế và tính chặt chẽ về hình thức. 2. Chuẩn mực tôn giáo a. Khái niệm Tôn giáo là một hệ thống niềm tin về vị trí của cá nhân con người trong thế giới, tạo ra một trật tự cho thế giới đó và tìm kiếm một lí do cho sự tồn tại trong đó. Chuẩn mực tôn giáo là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, giáo lí tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo cùng với các thiết chế tôn giáo (nhà thờ, chùa chiền, thánh đường), được ghi chép và thể hiện trong các bộ sách kinh điển của các dòng tôn giáo khác nhau. b. Đặc điểm Chuẩn mực tôn giáo là chuẩn mực thành văn. Tính chất thành văn thể hiện ở các giáo điều, giáo lí, những lời răn dạy được ghi chép trong các bộ kinh của các tôn giáo khác nhau như Kinh thánh, Kinh phật,… Chuẩn mực tôn giáo được hình thành xuất phát từ niềm tin thiêng liêng, sâu sắc của con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu nhiên. Các yêu cầu, quy tắc của chuẩn mực tôn giáo được đảm bảo tôn trọng và được hiện thực hóa trong hành vi của con người chủ yếu nhờ vào niềm tin tâm linh và cơ chế tâm lí. Chuẩn mực tôn giáo có những tác động tích cực và tiêu cực tới nhận thức, hành vi của con người. c. Một số tôn giáo ở nước ta hiện nay Việt Nam là một đất nước còn ngàn năm lịch sử, có sự kết hợp hài hòa giữa tôn giáo và các chuẩn mực xã hội khác. Tôn giáo có một vị trí, vai trò quan trọng trong sự ohats triển của đất nước. Ở nước ta hiện nay có một số tôn giáo lớn như: Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành, đạo Hồi, đạo Cao đài… II. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHUẨN MỰC PHÁP LUẬT VÀ CHUẨN MỰC TÔN GIÁO 1. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức a. Những điểm tương đồng Thứ nhất, chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức dều là các công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội , đều gồm các quy tắc xử sự chung để hướng dẫn cách xử sự của mọi người trong xã hội. Thứ hai, đều là chuẩn mực thành văn. Thứ ba, đều được thực hiện nhiều lần trong đời sống. b. Những điểm khác nhau Thứ nhất, về con đường hình thành: pháp luật hình thành thông qua hoạt động xây dựng pháp lí của nhà nước, còn tôn giáo hình thành xuất phát từ niềm tin của con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu nhiên Thứ hai, về biện pháp thực hiện pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, tất cả mọi người đều phải tôn trọng và làm theo pháp luật. Còn tôn giáo được bảo đảm tôn trọng và thực hiện bằng niềm tin tâm linh và cơ chế tâm lí. Niềm tin tâm linh là yếu tố thường trực trong suy nghĩ của con người, trở thành động cơ nội tâm trong ý thức, điều chỉnh hành vi của con người trong việc thực hiện chuẩn mực tôn giáo một cách tự nguyện. Về cơ chế tâm lí, con người luôn có tâm lí sợ hãi trước sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên khiến con người tự giác phục tùng vô điều kiện, không dám làm điều ác, phạm vào điều cấm, điều răn của chuẩn mực tôn giáo. Có thể thấy, dù không có một biện pháp cưỡng chế nào, song các chuẩn mực tôn giáo vẫn được con người tuân thủ một cách tự nguyện, tự giác, vô điều kiện. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo. Thứ ba, pháp luật tác động đến mọi cá nhân, tổ chức, bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, còn các chuẩn mực tôn giáo lại chỉ tác động đến các tín đồ của mình. Như vậy, phạm vi tác động của tôn giáo hẹp hơn so với pháp luật. Thứ tư, pháp luật luôn thể hiện ý chí của nhà nước còn các chuẩn mực tôn giáo thể hiện những mong muốn nguyện vọng của con người về một cuộc sống tốt hơn. Thứ năm, pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong các giai đoạn lịch sử nhất định, có sự tồn tại của giai cấp, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp còn tôn giáo tồn tại trong mọi giai đoạn lịch sử, nó là một phần trong đời sống con người bởi nó đã bao gồm những sức mạnh nằm bên ngoài con người và được phản ánh vào trong thế giới quan của con người. 2. Mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo Chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau a. Chuẩn mực tôn giáo tác động đến pháp luật Chuẩn mực tôn giáo tác động tích cực đến pháp luật: Thứ nhất, Chuẩn mực tôn giáo giúp cho hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước. Khi đến một giai đoạn nhất định, rất nhiều những tín điều tôn giáo được nhà nước thừa nhận và trở thành các quy phạm pháp luật được áp dụng chung cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Các tín điều tôn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt Nam hiện nay. Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ. Như vậy, có thể khiến các tín điều tôn giáo phù hợp với pháp luật, đạo đức, phong tục tập quán của nước ta trở thành các quy phạm pháp luật thì hiệu quả của thực hiện pháp luật sẽ được nâng cao. Ví dụ: Trong Kinh thánh của đạo Thiên chúa giáo có quy định về hôn nhân một vợ một chông, quy định này hoàn toàn phù hợp với quy định về hôn nhân của nước ta trong Luật Hôn nhân và gia đình. Thứ hai, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thể của cuộc sống thế tục và ít nhiều mang giá trị có tính nhân văn. Trên thực tế, những giá trị, chuẩn mực đạo đức của các tôn giáo có ý nghĩa nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội, hơn nữa, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà làm luật đưa ra những quy định phù hợp với ý chí nhà nước và nhân dân cũng như trong việc phát hiện ra những lỗ hổng, những thiếu sót trong pháp luật hiện hành. Ví dụ: giáo lí của nhà Phật yêu cầu người xuất gia, tu hành phải tuyệt đối tuân theo “ngũ giới”, bao gồm không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm và không uống rượu. Ta có thể thấy được một số điều răn của Phật hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật của nước ta. Thứ ba, tôn giáo giúp san sẻ một phần gánh nặng cho pháp luật. Hầu hết các tín điều giáo lí đều răn dạy con người phải biết làm điều thiện, giúp đỡ người khó khăn,tránh làm việc ác. Khi các tín đồ thực hiện những lời răn dạy đó thì đã phần nào giúp xã hội ổn định và phát triển. Hơn nữa, có những tín điều giáo lí phù hợp với pháp luật, khi các tín đồ thực hiện những tín điều đó thì đó cũng là một hành động thực hiện pháp luật. Ví dụ: Kinh mười điều răn của Chúa trong Thiên chúa giáo khuyên răn con người nên làm điều thiện, tránh điều ác, chớ nói dối, chớ nảy sinh lòng tham. Những điều răn này hoàn toàn phù hợp với mục đích của Pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Như vậy, khi con người nghe theo những lời răn này thì cũng có nghĩa là họ đang chấp hành pháp luật. Tuy các chuẩn mực tôn giáo có nhiều ảnh hưởng tích cực tới hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật nhưng nó cũng có những biểu hện tiêu cực, tác động đến xã hội. Ở nước ta hiện nay, các tổ chức tôn giáo không chỉ hoạt động trong phạm vi trong nước mà còn liên quan đến các tôn giáo nước ngoài gây khó khăn trong hoạt động quản lí của nhà nước, không những thế, lợi dụng tinh thần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, rất nhiều tổ chức tôn giáo tự phát, tự do hoạt động mặc dù không được nhà nước cho phép gây ảnh hưởng đến trật tự và đời sống của người dân. Không những thế, một số lễ nghi tôn giáo còn mạng nặng những tư tưởng lạc hậu, trái pháp luật nghiêm trọng. Đặc biệt là chỉ vì những lễ tế để cầu xin đáng siêu nhiên ban phát cho mùa màng bội thu, cuộc sống ổn định mà họ mang con người ra làm vật hiến tế. Ví dụ như vụ giết trẻ em hàng loạt để mong có cuộc sống giàu sang ở Uganda năm 2012 đã rung lên một hồi chuông cảnh báo về việc bảo vệ tính mạng trẻ em khỏi những hủ tục lạc hậu, tàn bạo và dã man. Mặt khác, hiện nay, tình trạng lợi dụng tôn giáo để biểu tình, chống phá Đảng và nhà nước diễn ra ngày càng đáng lo ngại. Các thế lực thù địch bên ngoài hoạt động xuyên tạc các chủ trương chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, còn tăng cường vu cáo nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm dân chủ, dân quyền gây mâu thuẫn giữa giáo dân và nhà nước. Hơn thế, bọn chúng còn lừa gạt, kích động cho người dân nổi loạn, làm xung đột chính trị ở các vùng tôn giáo, tạo cớ quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, gây sức ép kinh tếchính trị hòng phá hoại chế độ chính trị của nhà nước ta. Điển hình là vụ việc vào các ngày 308, mùng 3 và 492013, hàng trăm giáo dân thuộc giáo xứ Mỹ Yên và vùng lân cận đã kéo đến bao vây trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Nghi Phương (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), trương băng rôn, khẩu hiệu, gây rối trật tự công cộng. Sau đó họ còn xúc phạm và hành hung 6 cán bộ của huyện Nghi Lộc và xã Nghi Phương trong giờ làm việc, với những đòi hỏi hết sức vô lý. Vụ việc trên đã gây sự chú ý trong dư luận; và đã có không ít thông tin của một số hãng thông tấn, đài phát thanh nước ngoài và trên các trang mạng vu khống, xuyên tạc, cố ý bóp méo sự thật, như một kế hoạch tiếp ứng có bài bản từ bên ngoài nhằm kích động chống đối, gây mất trật tự xã hội và an ninh chính trị. Chúng ta có thể thấy, đây không chỉ là một vụ náo loạn để đòi quyền lợi mà thực chất là một cái cớ để phá hoại mối quan hệ giữa chính quyền và giáo dân với mục đích phá hoại chế độ, chống phá chính quyền. Không chỉ vậy, chuẩn mực tôn giáo cũng còn nhiều yếu tố tiêu cực, nó hướng con người đến hạnh phúc hư ảo và làm mất tính chủ động, sáng tạo của con người. Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đúng vai trò của đạo đức tôn giáo nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo và hạn chê những tác động tiêu cực của nó đối với việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay. b. Pháp luật tác động đến tôn giáo Pháp luật cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chuẩn mực tôn giáo. Pháp luật hướng tôn giáo theo con đường đúng đắn. Khi có một hay nhiều tổ chức tôn giáo có các tư tưởng, quan niệm, tín điều không phù hợp với thực tế gây cản trở, kìm hãm, tác động xấu đến sự ổn định vì phát triển của xã hội thì pháp luật sẽ bằng cac biện pháp của mình để điều chỉnh hoặc loại bỏ nó. Không chỉ vậy, pháp luật còn tạo điều kiện cho tôn giáo hoạt động và phát triển. Theo đó, nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân được quy định trong điều 24 Hiến pháp 2013 cho thấy sự quan tâm đặc biệt của nhà nước ta tới hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, tâm linh của nhân dân. Không chỉ có vậy, nhà nước còn có những chủ trương chính sách về vấn đề tôn giáo như: Nghị định số 922012NDCP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Pháp lệnh số 212004PLUBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng tôn giáo… Qua đây ta có thể nhận thấy sự quan tâm đặc biệt của nhà nước ta đối với hoạt động tín ngưỡng của nhân dân, nhà nước luôn tạo điều kiện để tôn giáo hoạt động và phát triển. III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 1. Thực trạng Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và đa dân tộc. Giáo hội các tôn giáo khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đều được chính quyền các cấp quan tâm và tạo thuận lợi để hoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ luật pháp. Giai đoạn gần đây, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam sôi động và đang có chiều hướng gia tăng. Lễ hội trong các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo được tổ chức rầm rộ với quy mô ngày một lớn và diễn ra khắp mọi miền của Tổ quốc như lễ Nôen, lễ Phật đản…, và những lễ hội này đã trở thành ngày hội chung của toàn dân, lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Những nhu cầu tín ngưỡng được chính quyền các địa phương tạo điều kiện đáp ứng, làm cho tín đồ, chức sắc các tôn giáo an tâm, phấn khởi, ngày càng tin tưởng vào chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Việc xây dựng, sửa chữa, tu bổ nơi thờ tự diễn ra khắp nơi; các lớp bồi dưỡng, đào tạo, hoặc phong bổ, thuyên chuyển, cũng như in ấn, xuất bản các ấn phẩm tôn giáo, hoạt động đối ngoại tôn giáo đều gia tăng. Tuy nhiên, tôn giáo ở nước ta hiện nay cũng tồn tại những mặt trái của nó. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề tôn giáo ở nước ta hiện nay để chống phá nhà nước nhằm tiếp tục “diễn biến hòa bình”, điển hình là vụ gây rối của cộng đồng giáo dân tại huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, hay vụ “đàn áp người Thượng theo đạo Tin lành” ở Tây Nguyên vào ngày 1042004,… qua các vụ việc trên, ta nhận thấy rằng niềm tin của các tín đồ tôn giáo vào Đảng, vào Nhà nước rất mong manh, dễ nghi ngờ, dao động hoang mang, nên khi có những tin đồn chỉ trích các chủ trương chính sách thì lập tức họ sẽ tin ngay, và có thể gây ra các cuộc bạo động. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể chỉ nhìn vào các hành động của giáo dân để phán xét, trong những sự việc này, nhà nước ta cũng có những điểm hạn chế. Đó là chính sách tôn giáo của ta vẫn còn chung chung, chậm được cụ thể hoá, một số cán bộ Đảng viên còn hạn chế trong việc nhận thức, đánh giá thấp tầm quan trọng của công tác tôn giáo. Việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở nơi này hay nơi khác còn nhiều bất cập đã tác động tiêu cực đến việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Nhiều vụ việc nổi cộm liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo còn xãy ra, chúng ta vẫn bị động hoặc xử lý thiếu tế nhị làm mất lòng tin của chức sắc, tín đồ, là kẻ hở cho kẻ xấu lợi dụng. 2. Một số đề xuất Thứ nhất, nhà nước cần sửa đổi một số nội dung của các chủ trương chính sách cho phù hợp với tình hình thực tại vấn đề tôn giáo ở nước ta. Nhiều quan hệ xã hội về vấn đề tôn giáo chưa được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo cũng như các giáo dân vẫn còn chung chung, chưa rõ rang gây ra sự lúng túng trong hoạt động quản lí của nhà nước. Thứ hai, cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, mỗi cán bộ trong hệ thống chính trị phải nắm vững và vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm vận động đông đảo đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ ba, xử lý các vấn đề nảy sinh trong tín ngưỡng, tôn giáo, chúng ta cần làm cho mọi người dân thấy rằng, đổi mới quan điểm, chính sách, quan hệ với các tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những đổi mới quan trọng của quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Thứ tư, cần coi trọng hoạt động đối ngoại tôn giáo. Hoạt động này không chỉ giúp nước ta mở rộng mặt trận ngoại giao mà còn tạo ra môi trường giao lưu văn hóa giữa các tôn giao trên thế giới. Thứ năm, nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng giáo dân, tăng cường giao lưu với các giáo xứ để họ nắm rõ được tình hình các chủ trương chính sách của Nhà nước về tôn giáo, đồng thời lắng nghe những ý kiến đóng góp của họ để hoàn thiện những chủ trương chính sách của Nhà nước, tạo niềm tin vững chắc cho cộng đồng giáo dân vào Đảng, Nhà nước. KẾT LUẬN Chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực tôn giáo luôn nằm trong một mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong việc điều chỉnh hành vi con người, hướng tới sự hoàn thiện, góp phần vào sự ổn định xã hội. Tôn giáo có thể sẽ giúp cho xã hội phát triển một cách ổn định hơn, giúp củng cố, nâng cao những truyền thống đạo đức quý báu của dân tộc, giúp tăng cường và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nươc. Mặt khác, pháp luật cũng tạo ra môi trường ổn định với những chủ trương chính sách ưu tin cho sự tồn tại và phát triển của các tôn giáo tại Việt Nam.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Cùng chủ đề