THỰC ĐƠN CHO BÉ 1 TUỔI VIỆN DINH DƯỠNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "THỰC ĐƠN CHO BÉ 1 TUỔI VIỆN DINH DƯỠNG":

Vua dinh dưỡng phô mai: Cảnh báo mẹ!

VUA DINH DƯỠNG PHÔ MAI: CẢNH BÁO MẸ!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Phô mai từ trước đến nay được công nhận không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới là “vua dinh dưỡng” bởi rất giàu năng lượng và các chất dinh dưỡng tốt cho sự phát triển của trẻ, đồng thời lại là món ăn dễ dàng kết hợp với các loại thực phẩm khác kích thích trẻ thèm ăn, thêm phần ngon miệng và dễ tiêu hóa. Tuy nhiên nếu cho con ăn quá  nhiều loại “vua dinh dưỡng” cũng không tốt cho sự tiêu hóa của trẻ. 1. Phô mai thì có "chất" gì? * Ưu Chất đạm: Lượng đạm trong phô mai rất cao, chiếm gần 25% tổng giá trị dinh dưỡng nên phô mai là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho khẩu phần ăn, tương đương với thịt, cá, trứng,… Giàu canxi: Theo nghiên cứu của các chuyên gia lượng canxi có trong phô mai nhiều gấp 100 lần có trong các loại thịt. Do đó phô mai cũng đóng vai trò bổ sung canxi rất tốt cho trẻ Chất béo và năng lượng: So với các loại thực phẩm cùng nhóm, phô mai có lượng chất béo nhiều gấp 3 lần vì vậy năng lượng cung cấp cũng nhiều hơn gấp đôi. Một miếng phô mai tam giác nặng trung bình 15gr có giá trị dinh dưỡng tương đương với 100ml sữa tươi đấy nhé. * Nhược Nhiều cholesterol và rất ít chất sắt: “Vua dinh dưỡng” cũng có nhược điểm các mẹ nhé. Giàu cholesterol không có lợi cho sức khỏe. Nghèo chất sắt cũng vậy. Vì vậy cho trẻ ăn liên tục, ép trẻ ăn phô mai hàng ngày cũng là điều không tốt chút nào.   Mẹ không nên lạm dụng cho trẻ ăn phô mai (ảnh minh họa) 2. Lưu ý khi cho bé ăn Phô mai Chính vì rất giàu dinh dưỡng như vậy nên mẹ cần lưu ý những điểm sau khi cho trẻ ăn phô mai: - Mấy tháng thì bé ăn được phô mai Do phô mai, bơ và các thực phẩm cùng loại được sản xuất từ sữa bò, có khá nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm nên cho bé làm quen với phô mai. Các chuyên gia dinh dưỡng ở Anh thì cho rằng, khoảng 6 tháng tuổi là bé có thể ăn được phô mai. Nhưng một số chuyên gia ở Mỹ lại gợi ý, cha mẹ chỉ nên cho bé làm quen với món ăn này khi bé được khoảng 8 tháng tuổi. Ngoài ra, một số ít cho rằng, do phô mai thuộc nhóm sản phẩm từ sữa bò nên chỉ an toàn cho bé 1 tuổi trở lên (vì khả năng gây dị ứng cho nhóm bé có cơ địa mẫn cảm với sữa bò). - Phô mai không thể thay thế thịt, cá để nấu bột, cháo cho bé Mặc dù phô mai được mệnh danh là “vua dinh dưỡng” rất nhiều chất đạm, chất béo và canxi nhưng lại không hàm chứa nhiều loại vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Vì thế mẹ chỉ nên cho con ăn phô mai như một bữa ăn phụ chứ không thể thay thế hoàn toàn  sữa, thịt, cá,… để nấu bột, nấu cháo cho bé.  Vì thế, mẹ nên cho con ăn Phô mai như một bữa phụ, hoặc kết hợp với các sản phẩm khác như: phết vào bánh mì, trộn vào bột, cháo… để vừa bổ sung thêm năng lượng, vừa có các vitamin, chất khoáng từ nguồn thực phẩm khác trong bát cháo. - Không thể kết hợp phô mai bừa bãi Mẹ đặc biệt lưu ý đừng kết hợp phô mai với các thực phẩm khác như cua, lươn, rau mồng tơi hay rau dền vì sẽ khiến bé dễ bị đau bụng. Nhóm thực phẩm có thể kết hợp với phô mai kích thích sự ngon miệng cho bé là khoai tây, cà rốt, thịt bò, thịt gà,… - Không nên cho bé ăn phô mai trước bữa ăn Vì phô mai giàu chất dinh dưỡng nên nếu mẹ cho bé ăn ngay trước bữa ăn bé sẽ no và bỏ bữa ăn chính. Ăn phô mai trước khi đi ngủ cũng thường khiến bé đầy bụng và khó ngủ hơn.  - Bảo quản phô mai như thế nào? Phômai có thể được dự trữ trong ngăn mát của tủ lạnh. Không nên dùng túi nilon để bọc những viên phômai đang ăn dở vì chất béo trong phômai có thể dính vào những hóa chất độc hại có trong túi nilon. Mẹ cũng có thể tham khảo cách tự làm phô mai tươi cho con tại đây. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cho bé ăn sữa chua người lớn: Mẹ "lầm to"

CHO BÉ ĂN SỮA CHUA NGƯỜI LỚN: MẸ "LẦM TO"

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Viện dinh dưỡng khuyến cáo các bà mẹ nên cho trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và ăn bổ sung từ giai đoạn 6-12 tháng tuổi. Từ giai đoạn này, mẹ có thể cho bé ăn sữa chua, tuy nhiên, hãy đảm bảo đó là loại sữa chua dành riêng cho trẻ em. Lý do được đưa ra là sữa chua dành cho người lớn thường có công thức ít béo hoặc giảm ngọt và đây không phải là lựa chọn tốt cho các bé. Bên cạnh đó, giai đoạn mới tập ăn, các bé sẽ cần một một loại sữa chua được làm từ sữa công thức và phải đảm bảo an toàn, hạn chế nguy cơ dị ứng. Vì thế, sữa chua dành cho trẻ con sẽ là lựa chọn thích hợp hơn cho sự phát triển và sức khỏe của các bé. Để trẻ làm quen với sữa chua, bạn cần cho bé thử dần từ 1-3 thìa và sau đó tăng dần lên khoảng 50g/ngày. Bé từ 1-2 tuổi có thể ăn 80g/ngày. Còn từ 2 tuổi trở đi, mẹ có thể cho bé ăn 100g/ngày. Mẹ có thể cho bé ăn sữa chua cho trẻ nguyên chất hoặc trộn thêm vào loại hoa quả mà bé yêu thích. Lưu ý, sữa chua đã đủ ngọt nên mẹ không cần phải cho thêm đường.   Mẹ có thể trộn sữa chua cho bé với hoa quả mà bé yêu thích để tăng hương vị cho món mới. (Hình minh họa) Ngoài ra, còn một số điều mẹ cần chú ý khi cho bé tập ăn sữa chua: 1. Không nên để sữa chua là món chính trong chế độ ăn của bé từ 6-12 tháng. Mẹ chỉ nên bổ sung sữa chua hàng ngày với lượng 50g trong chế độ ăn uống chất rắn đa dạng. 2. Không pha sữa chua với mật ong khi bé chưa tròn 1 tuổi.  Mật ong có chứa vi khuẩn có thể gây ngộ độc cho trẻ em độ tuổi đó. 3. Không chọn sữa chua ít béo hoặc không béo trước khi bé được 2 tuổi trừ khi bác sĩ yêu cầu. Đây là độ tuổi mà bé cần bổ sung lượng calo từ chất béo. 4. Không lựa chọn sữa chua có bổ sung hương vị. Nếu thích, mẹ có thể trộn thêm hoa quả bởi hầu hết các loại sữa chua dâu, cam.. đều có pha thêm đường và các chất làm ngọt khác. 5. Mẹ nên kiểm tra nhãn hộp sữa để đảm bảo sữa không sử dụng vani, chất làm ngọt hay các loại hương liệu khác.   Sữa chua cho trẻ em chỉ là thực phẩm bổ sung, mẹ vẫn cần chú ý cho bé ăn đầy đủ thức ăn đa dạng trong ngày. 6. Nếu bé có tiền sử dị ứng với sữa thì không tự ý cho bé dùng sữa chua nếu không có ý kiến của bác sĩ. 7. Coi sữa chua như một thức ăn mới và cho bé làm quen ít nhất 3 ngày trước khi chuyển sang loại thức ăn mới. Cách này sẽ giúp cơ thể bé điều chỉnh để làm quen dần. 8. Nếu bé xuất hiện phát ban quanh miệng, quấy gắt hoặc tiêu chảy sau khi ăn sữa chua, hãy cho bé đi khám bác sĩ. 9. Nếu định trộn trái cây và sữa chua, nên chọn loại trái cây bé thích để quen dần.
Xem thêm

2 Đọc thêm

''''Độc tố'''' với trẻ tuổi ăn dặm

''''ĐỘC TỐ'''' VỚI TRẺ TUỔI ĂN DẶM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi trẻ bước vào độ tuổi ăn dặm, các bậc phụ huynh luôn muốn dành tặng cho bé yêu những thực đơn phong phú và đầy đủ dưỡng chất. Tuy nhiên hệ tiêu hóa của trẻ dưới 1 tuổi vẫn chưa hoàn thiện và không thể hấp thụ được tất cả các loại thực phẩm. Việc cho trẻ ăn quá nhiều hoặc lạm dụng một số loại thực phẩm còn có thể gây rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng tới dạ dày và đường ruột. Chị em hãy cùng tìm hiểu "danh sách cấm" của bé yêu nhé. Mật ong Đứng đầu "danh sách cấm" đó chính là mật ong. Ngoài việc chế biến món ăn hoặc pha nước trái cây cùng mật ong cho con, các bà các mẹ thường có thói quen vệ sinh răng miệng buổi sáng cho bé bằng mật ong, hay những khi bé khò khè thì cho bé uống mật ong ấm. Đây là một lựa chọn sai lầm bởi khi bé chưa đến 1 tuổi, lượng bào tử vi khuẩn clostridium botulinum có trong mật ong có thể khiến trẻ bị ngộ độc botulism. Trường hợp ngộ độc này tuy hiếm gặp nhưng nếu mắc phải có thể dẫn tới tử vong. Vậy nên các mẹ hãy khoan dùng mật ong cho con cho tới khi hệ tiêu hóa của bé tròn 1 tuổi nhé.   Thói quen sử dụng mật ong vệ sinh cho bé có thể vô tình làm hại con yêu (ảnh minh họa) Sữa bò Sữa bò rất tốt cho người lớn, vậy nhưng các bé dưới 1 tuổi thì không nên thử loại “chất bổ” này. Sữa bò có hàm lượng lớn protein và chất khoáng mà trẻ nhỏ chưa thể hấp thụ được, do đó có thể ảnh hưởng xấu đến dạ dày và ruột của trẻ. Bên cạnh đó, sữa bò lại không thể cung cấp đủ vitamin C và sắt cho trẻ như sữa mẹ hoặc sữa công thức. Do đó khi bé dưới 1 tuổi, mẹ chỉ cần cho bé ti mẹ hoặc uống sữa công thức phù hợp.   Sữa bò dễ gây dị ứng cho trẻ trong khi lại không cung cấp đủ lượng sắt cần thiết (ảnh minh họa) Lòng trắng trứng Trứng là nguồn cung cấp protein, vitamin D và nhiều loại vitamin, khoáng chất khác cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên lòng trắng trứng lại rất dễ gây dị ứng. Để đảm bảo an toàn cho trẻ, mẹ hãy chờ đến khi bé 1 tuổi hãy cho bé thử món ăn này. Còn trước đó, lòng đỏ trứng cũng đã là một món ăn rất bổ dưỡng cho bé rồi, nhưng do hàm lượng chất béo và vitamin cao nên mẹ nhớ cho bé ăn đúng liều lượng.      (Các mẹ có thể tham khảo bài viết: Cho trẻ ăn trứng theo từng độ tuổi, tại đây )                  Dưới 1 tuổi bé chỉ nên ăn lòng đỏ trứng thôi mẹ nhé (ảnh minh họa) Các loại động vật có vỏ Trẻ dưới 1 tuổi rất dễ bị dị ứng, những động vật có vỏ như tôm, cua có thể khiến trẻ mẩn ngứa, phát ban. Do đó các mẹ đừng vì ham lượng dưỡng chất có trong dạng thực phẩm này mà vội vàng bổ sung vào thực đơn của bé khi bé chưa đầy 1 tuổi nhé. Chúng ta luôn có các thực phẩm giàu vitamin khác cho mẹ và bé cùng lựa chọn đó! Lúa mì Trong lúa mì có hàm lượng lớn gluten khó hấp thụ có thể khiến trẻ bị phát ban, rối loạn tiêu hóa hoặc khó ngủ. Do vậy, khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ dinh dưỡng, mẹ không nên vội vàng cho bé thử các loại thức ăn làm từ lúa mì như Đường, muối và các loại hương liệu Trong giai đoạn đầu đời, khả năng lọc của thận trẻ sơ sinh chưa được hoàn thiện. Muối, đường và các loại hương liệu có thế sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho thận của bé. Mẹ đừng lo thức ăn nhạt trẻ sẽ từ chối không ăn. Ta hoàn toàn có thể sử dụng gia vị tự nhiên như dùng nước luộc rau củ để nấu cháo, chọn hoa quả đúng mùa và chín đều sẽ có vị ngọt tự nhiên mà không cần cho đường.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGUYÊN TẮC ĂN UỐNG GIÚP CON “NĂM ĐẦU ĐỜI KHÔNG ỐM”

NGUYÊN TẮC ĂN UỐNG GIÚP CON “NĂM ĐẦU ĐỜI KHÔNG ỐM”

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 6 tháng sau khi sinh, hệ miễn dịch của bé sẽ dần hoàn thiện. 1 tuổi, khả năng kháng bệnh của bé tương đương 60% người trưởng thành và đến 3 tuổi mới đạt 80%. Nuôi con mà suốt 1, 2 năm đầu đời không ốm đau là điều tưởng chừng “bất khả thi” với rất nhiều bà mẹ. Tuy nhiên, không phải là không làm được. Muốn tăng sức đề kháng của con, nhất là trong mùa lạnh, mẹ nên tuân theo những gợi ý sau để có thể giúp bé “cả năm không ốm” Không phân biệt thực phẩm đắt tiền và thực phẩm giá rẻ Nhiều chị em có thói quen đo lường mức độ dinh dưỡng của thực phẩm dựa theo ...giá cả và cho rằng thực phẩm giá càng đắt càng có lợi cho em bé. Thực tế, không cần cầu kỳ đến tổ yến, tôm hùm, cua biển hay cá hồi nếu không có điều kiện. Những món ăn thường xuyên và phổ thông như sữa, trứng, thịt lợn, gà, đậu, trái cây và rau quả bình dân đã đảm bảo đủ yêu cầu dinh dưỡng để phát triển thể chất của trẻ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sữa,trứng chứa các thành phần acid amin rất gần với axit amin trong tế bào của con người. Thịt lợn, bò, gà rất giàu chất sắt, kẽm và các nguyên tố vi lượng khác. Giá trị dinh dưỡng của những loại rau thịt bình dân này đôi khi vượt xa giá trị tiền của chúng. Mẹ nên cho bé ăn đầy đủ và phong phú, giá cả không liên quan trực tiếp đến giá trị dinh dưỡng.    Nhiều chị em có thói quen đo lường mức độ dinh dưỡng của thực phẩm dựa theo ...giá cả và cho rằng thực phẩm giá càng đắt càng có lợi cho em bé. (ảnh minh hoạ) Cho con bú và để trẻ ăn bổ sung từ 6 tháng Sữa mẹ rất tốt cho sức đề kháng của trẻ, không ai nghi ngờ lợi thế đó. Trong 4-6 tháng đầu sữa mẹ đáp ứng đủ các chất dinh dưỡng cần thiết. Tuy nhiên sau 6 tháng, do nhu cầu sắt, axit folic, vitamin, canxi bắt đầu tăng mạnh, nếu mẹ không bổ sung kịp thời các loại thực phẩm khác, bé không chỉ chậm phát triển mà còn có nguy cơ thiếu máu, còi xương và dễ mắc bệnh. Thiếu nước là sẽ hay ốm Chú trọng vào việc ăn cháo ăn cơm “cho khoẻ”, nhiều cha mẹ bỏ qua sự tồn tại của một thành phần dinh dưỡng rất quan trọng khác: Nước. Nước là góp phần vào tất cả các hoạt động sinh lý và trao đổi chất, bao gồm cả tiêu hóa thức ăn, chuyển hoá dinh dưỡng, hấp thu và bài tiết các chất thải, không việc gì không cần tới nước. Trẻ em lại càng có nhiều nhu cầu uống nước.  Vì vậy, giữa các bữa ăn, mẹ cần cung cấp một lượng nước nhất định cho bé uống. Thực phẩm  giúp điều chỉnh cảm xúc Thực phẩm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của trẻ. Chẳng hạn như ăn quá nhiều đồ ngọt rất dễ khiến bé bị kích động, ăn quá nhiều muối gây bức bối khó ngủ, thiếu canxi gây co giật chân tay, nghiến răng vào ban đêm, thiếu kẽm rất dễ mất tập trung, thiếu chú ý, thiếu sắt là trí nhớ kém, chậm phát triển tâm thần….  Chính vì vậy, mẹ lưu ý quan sát tình trạng tâm lý, sức khoẻ của bé để điều chỉnh dinh dưỡng hợp lý.
Xem thêm

1 Đọc thêm

10 thực phẩm tăng chiều cao cực tốt cho con

10 THỰC PHẨM TĂNG CHIỀU CAO CỰC TỐT CHO CON

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, yếu tố dinh dưỡng quyết định phần lớn đến chiều cao của trẻ. Vì thế, cho con ăn gì để phát triển tầm vóc là vấn đề mà hầu hết các mẹ đều quan tâm. Trong khá nhiều thực phẩm được xem là tốt cho mục tiêu tăng trưởng chiều cao, mẹ nên tập trung vào những thực phẩm mấu chốt dưới đây: 1. Sữa chua Sữa chua là nguồn cung cấp vitamin D tuyệt vời cho bé, ngoài ra nó còn chứa lượng can-xi rất dồi dào. Cả hai dưỡng chất này đều tốt cho việc phát triển chiều cao của con. Nếu bé nhà bạn không “hâm mộ” món sữa chua, mẹ có thể thay thế bằng pho mát, bơ hay lassi (loại đồ uống chế từ sữa chua pha với hoa quả nghiền như xoài, dâu,…hay nước hoa quả như lê, táo,.. và cũng mang lại lợi ích tương tự như ăn sữa chua). 2. Lương thực thô Gạo, ngô, lúa mì, yến mạch,… là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Các loại ngũ cốc này cũng chứa nhiều vitamin B, chất xơ, sắt, megie và selen thiết yếu, rất có lợi cho chiều cao. Các mẹ nhớ cho bé ăn thêm nhiều món được chế biến từ các loại lương thực thô này nhé!   Ngũ cốc tốt cho chiều cao của bé. (Ảnh minh họa) 3. Trứng Protein được xem là dưỡng chất có vai trò to lớn nhất trong việc cải thiện chiều cao cho trẻ em. Do đó, mẹ nên cho con mình ăn trứng thường xuyên hơn. Một quả trứng luộc hay món trứng tráng ăn kèm bánh mì sẽ là một gợi ý lý tưởng cho bữa sáng của bé, vì chúng cung cấp nhiều dinh dưỡng để con phát triển tốt hơn. 4. Các loại hạt Magie là một trong những yếu tố thiết yếu giúp xương phát triển khỏe mạnh. Vì thế, các loại thực phẩm giàu magiê được coi như những “siêu thực phẩm” giúp bé cao lớn hơn. Trong hạt điều, hướng dương, hạt dưa, hạt bí ngô… rất giàu magie, ngoài ra còn chứa vitamin, sắt, kẽm và nhiều khoáng chất khác nên cực kì tốt cho sự tăng trưởng chiều cao của bé.   Những món ăn vặt cực kì tốt cho xương của con. (Ảnh minh họa) Mẹ hãy khuyến khích bé ăn các loại hạt này một cách đều đặn, giống như một món ăn nhẹ lành mạnh để bé cao lớn như “siêu nhân”. 5. Đậu nành Đậu nành nằm trong nhóm những thực phẩm cung cấp protein có nguồn gốc từ thực vật. Chúng giúp cải thiện sự phát triển của xương và hệ cơ bắp. Mẹ có thể sáng tạo được khá nhiều món ngon từ đậu nành để bé có cơ hội tiêu thụ loại thực phẩm giàu dinh dưỡng này nhiều hơn.  6. Rau dền Chứa hàm lượng canxi vượt trội hơn cả sữa bò, ngoài ra loại rau này còn cung cấp một lượng lớn nguyên tố khoáng chất và vitamin K giúp hấp thụ canxi. Mẹ bổ sung loại rau này vào thực đơn của con sẽ rất tốt cho sự tăng trưởng chiều cao của bé. Ngoài ra, một số rau củ khác cũng giàu dinh dưỡng không kém, chẳng hạn như: giá đỗ, súp lơ, cải chíp, cà chua, cà rốt,… mẹ có thể thay thế để thực đơn của bé phong phú hơn. 7. Hải sản Các loại hải sản cũng chứa một lượng canxi không nhỏ. Ngoài ra nó cũng chứa các chất khác hỗ trợ hấp thụ canxi như: vitamin D, K, B1… Một số loại hải sản như: tôm, cua, cá hồi, sò, hàu…rất tốt để bổ sung canxi trong quá trình phát triển của trẻ.   Đừng bỏ qua các loại hải sản để bé cao hơn. (Ảnh minh họa) Tuy nhiên, nếu bé chưa đầy một tuổi thì mẹ nên lưu ý khi chế biến hải sản cho con ăn, để tránh nguy cơ bị dị ứng hoặc rối loạn tiêu hoá. 8. Sữa Sữa là thực phẩm đầu tiên mẹ thường nghĩ đến khi muốn bổ sung dưỡng chất để tăng chiều cao cho bé. Bởi sữa rất giàu canxi. Trung bình, một cốc sữa bò chưa tới khoảng 300mg canxi. Vì thế, mẹ nên cho bé uống sữa hàng ngày để con cao hơn. Đồng thời, sữa cũng tốt cho hệ tiêu hóa của bé, giúp hấp thụ thức ăn tốt hơn và đặc biệt là một ly sữa ấm vào buổi tối sẽ giúp bé ngủ ngon hơn rất nhiều. 9. Thịt gà Chắc hẳn bé nhà bạn cũng rất thích thịt gà vì sự thơm ngon của nó. Vậy thì đừng ngại cho con ăn loại thực phẩm tuyệt vời này. Bởi những món ăn chế biến từ thịt gà chứa nhiều dưỡng chất, nổi bật nhất là protein. Lượng protein này đóng vai trò quan trọng trọng sự phát triển chiều cao của trẻ, đồng thời làm tăng độ kết dính của xương, giúp xương dẻo dai hơn.   Món ăn vừa ngon vừa tốt cho con. (Ảnh minh họa) Ngoài ra, mẹ cũng nên thêm thịt bò, thịt heo,… vào thực đơn của bé, bởi các loại thịt này cũng giàu dinh dưỡng không kém. 10. Trái cây Không ai phủ nhận vai trò tuyệt vời của trái cây trong việc cung cấp nguồn vitamin dồi dào cho cơ thể. Một số trái cây như kiwi, cam, chuối, dâu tây… chứa rất nhiều vitamin C, K, E, kali, chất xơ, folate và canxi… không chỉ thúc đẩy sự phát triển chiều cao, mà còn giúp bé thông minh vượt trội nữa. Ngoài ra, mẹ cũng nên bổ sung thêm các loại thực phẩm khác để khẩu phần ăn của bé phong phú hơn. Và để con có thể phát triển tối đa chiều cao, mẹ đừng quên khuyến khích bé tham gia các hoạt động thể chất, giúp cung cấp máu đầy đủ các mô xương, xương tế bào chuyển hóa mạnh mẽ, liên tục phát triển xương mới, góp phần vào sự tăng trưởng xương chiều cao của bé.
Xem thêm

4 Đọc thêm

THỪA CANXI VẪN CÒI CỌC

THỪA CANXI VẪN CÒI CỌC

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Muốn con trẻ cao lớn, không bị còi xương nên phụ huynh ra sức bổ sung canxi cho trẻ. Thế nhưng, theo các chuyên gia dinh dưỡng, việc bổ sung canxi không đúng cách còn gây hại cho sức khỏe của trẻ. Hầu như ngày nào chị Mai Thị Hòa (ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) cũng mua xương ống hoặc xương sườn về để ninh lấy nước nấu cháo cho con trai 12 tháng tuổi. Theo chị, nước xương rất ngọt, nhiều canxi mà người lớn lại còn tận dụng bã thịt nên rất tiết kiệm. Thế nhưng, triền miên mấy tháng liền mà con trai chị vẫn còi cọc, chậm lớn, ra mồ hôi nhiều, tóc rụng vành khăn… Nghi con mắc bệnh gì đó, chị đưa đi khám dinh dưỡng mới biết chế độ ăn thiếu khoa học đã khiến bé thiếu chất, ảnh hưởng đến sự phát triển. Nước hầm xương không bổ xương Theo bác sĩ Hoàng Kim Thanh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông giáo dục dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia - dùng nước hầm xương không bổ xương như nhiều người vẫn nghĩ. Với trẻ nhỏ, nếu ăn bột, cháo với nước hầm xương sẽ khiến các bé thiếu nhiều thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu vi chất dinh dưỡng.    Cha mẹ nên đến các trung tâm tư vấn dinh dưỡng để có những lời khuyên về chế độ ăn hợp lý cho con trẻ (Ảnh: Khánh Anh) Thực chất, nước hầm xương, hầm thịt chỉ có cảm giác thơm ngon nhưng lại không có nhiều chất bổ dưỡng như đạm, canxi. Trong nước hầm xương chứa nhiều chất béo động vật. Khi bé ăn sẽ bám lại ở thành ruột và dạ dày, gây đầy bụng, nhanh no, chán ăn, khó hấp thu các chất dinh dưỡng khác, thậm chí ăn nhiều còn dẫn đến rối loạn tiêu hóa. “Ngay cả thành phần canxi có trong xương ống cũng chủ yếu là canxi vô cơ mà cơ thể bé không hấp thụ được. Nếu các bậc cha mẹ chỉ ninh xương để lấy nước khuấy bột thôi thì chắc chắn không đủ dinh dưỡng vì các chất bổ, canxi, chất xơ... lại ở trong phần thịt”- bác sĩ Thanh giải thích. Thừa canxi dễ gây sỏi thận Ngoài việc bổ sung canxi bằng các loại nước xương thì nhiều loại thuốc, thực phẩm chức năng có thành phần canxin cũng được các bậc cha mẹ sử dụng cho con. Tuy nhiên, theo bác sĩ Thanh, không phải cứ uống canxi, đưa canxi vào cơ thể thật nhiều là tốt. Một số bác sĩ dinh dưỡng cho hay nhiều bậc cha mẹ lo con cái sau này có chiều cao “khiêm tốn” giống mình nên ra sức cho trẻ uống sữa hàm lượng canxi cao ngay từ còn nhỏ và bổ sung các loại cốm canxi khi lớn hơn nhưng cách làm này cũng sai. Do bổ sung canxi quá đà, có những cháu bé mới 3-4 tuổi đã bị sỏi thận. “Muốn hấp thu canxi thì phải có vitamin D. Vi chất này giống như người điều hành ở trung ương, có cho canxi vào xương hay không thì mới được phép vào. Để có đủ vitamin D, cơ thể phải lấy từ 3 nguồn thức ăn hằng ngày, ánh nắng mặt trời và vitamin D uống trực tiếp, trong đó phần lớn vitamin D được tổng hợp từ thức ăn” - bác sĩ Thanh phân tích. Bác sĩ Lê Thị Hải - Giám đốc Trung tâm Khám Tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng quốc gia - cho hay khi thiếu vitamin D và canxi, trẻ sẽ bị còi xương nhưng thừa canxin cũng rất nguy hiểm. Việc thừa canxi từ nguồn thực phẩm sẽ được thải ra ngoài qua đường tiểu nhưng nếu do thuốc sẽ gây sỏi thận, tăng canxi máu, mệt mỏi, chán ăn, thậm chí khiến trẻ lùn, ngừng phát triển chiều cao. “Khi các bậc cha mẹ có ý định bổ sung canxi cho con thì cần theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Không nên tự mua cốm canxi hoặc các thuốc bổ hàm lượng canxi cao cho trẻ dùng với quan niệm “dùng càng nhiều càng tốt”. Ngay cả khi được bác sĩ chỉ định dùng thuốc canxi, các bậc cha mẹ cũng nên cho trẻ uống tốt nhất vào buổi sáng, sau khi ăn 1 giờ” - bác sĩ Hải tư vấn. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, canxi có nhiều trong tôm, cá tươi, thịt, trứng... Ngoài ra, các loại rau lá có màu xanh sậm, hải sản (cua, sò) đậu… cũng là nguồn cung cấp canxi tự nhiên cho cơ thể. Đây là canxi hữu cơ, cơ thể trẻ rất dễ hấp thu.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Minh họa 100 calo bằng từng loại thực phẩm cho bé

MINH HỌA 100 CALO BẰNG TỪNG LOẠI THỰC PHẨM CHO BÉ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sẽ thay đổi và tăng theo từng giai đoạn, từng lứa tuổi. Năng lượng của trẻ sẽ tăng theo từng độ tuổi, cụ thể như sau: Với trẻ dưới 1 tuổi cần từ: 100 – 200 calo /Kg/ngày. Với trẻ lớn hơn sẽ là: 1000 calo + 100 x tuổi. (với X là số tuổi của bé). Ví dụ: với công thức trên thì bé 2 tuổi sẽ cần lượng calo cho 1 ngày = 1000+100×2=1200 calo /ngày. Để đảm bảo cung cấp dinh dưỡng cho bé phát triển một cách toàn diện, thực đơn hàng ngày của bé cần đáp ứng được đầy đủ hai yếu tố là: đủ số lượng và đủ chất lượng. Vậy nhưng thế nào là đủ, 100 calo là phải ăn bao nhiêu? Xin mách mẹ loạt ảnh minh hoạ về 100calo bằng thực phẩm đầy thú vị:   Một quả chuối tiêu cỡ trung bình là đủ cho 100 calo.   Một và một nửa dải thịt xông khói cho bữa sáng   Một quả táo và chùm nho to bằng khoảng bàn tay   3/4 lon nước ngọt có ga   Một quả trứng gà và 1/5 miếng bánh mì gối   20gram phô mai   1/4 miếng bánh ngọt nhân socola   200ml nước cam   1 thìa phở nho khô   150ml sữa cacao   8 quả đào khô   1/2 cái bánh muffin   8 thanh cà rốt và 1 thìa sốt cà chua   27 quả dâu tây   Một quả táo xanh và 1/2 hộp sữa chua
Xem thêm

2 Đọc thêm

Top thực phẩm bổ dưỡng nhưng trẻ dưới 1 tuổi không nên ăn

TOP THỰC PHẨM BỔ DƯỠNG NHƯNG TRẺ DƯỚI 1 TUỔI KHÔNG NÊN ĂN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Dưới đây là danh sách những thực phẩm không nên cho bé ăn nếu bé dưới 1 tuổi vì hệ tiêu hóa của bé chưa đủ hoàn thiện để tiêu hóa được một số thành phần trong đó: Hoa quả họ cam chanh và quả mọng    Hoa quả có múi như cam, chanh, bưởi,... chứa hàm lượng axit cao có thể làm dạ dày của bé khó chịu. (Ảnh minh họa) Họ hàng nhà quả mọng như dâu tây, dâu tằm, việt quất, phúc bồn tử,... chứa một lượng protein rất khó cho trẻ dưới 1 tuổi tiêu hóa. Hoa quả có múi như cam, chanh, bưởi,... cũng chứa hàm lượng axit cao có thể làm dạ dày của bé khó chịu và gây ra chứng rôm sảy. Muối Nhu cầu về muối của trẻ dưới 1 tuổi là nhỏ hơn 1 gam/ngày. Lượng muối này trong sữa mẹ và sữa công thức đã có đủ. Thận của trẻ dưới 1 tuổi chưa phát triển đủ để hấp thụ lượng muối cao, vì thế mẹ cần tránh cho muối vào thực đơn hàng ngày của con. Cần nhớ rằng, các loại thức ăn đã qua xử lí công nghiệp, thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh cũng chứa hàm lượng muối rất cao. Nếu mẹ không cho muối vào đồ ăn của con nhưng lại ăn những loại thực phẩm đã đóng gói sẵn thì nguy cơ bé phải hấp thụ lượng muối thừa là điều không thể tránh khỏi. Vì thế, tốt nhất là mẹ nên nấu đồ ăn dặm tại nhà cho bé, nếu mua đồ chế biến sẵn cần đọc kĩ thành phần các chất trên nhãn mác trước khi quyết định cho bé ăn. Các loại hạt   Trẻ dưới 1 tuổi có đường khí quản rất nhỏ nên kể cả lạc giã nhỏ, nghiền vụn cũng dễ bị mắc kẹt trong cổ họng của bé. (Ảnh minh họa) Các loại hạt không chỉ đứng đầu danh sách những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ dưới 1 tuổi mà còn có nguy cơ gây hóc nghẹn rất cao. Trẻ dưới 1 tuổi có đường khí quản rất nhỏ nên kể cả lạc giã nhỏ, nghiền vụn cũng dễ bị mắc kẹt trong cổ họng của bé. Sữa không phải là sữa mẹ hoặc sữa công thức Trẻ cần được bú sữa mẹ hoặc sữa công thức trong suốt một năm đầu đời. Sữa bò, sữa đậu nành,... tuy giàu dinh dưỡng nhưng lại chứa loại protein mà trẻ không thể tiêu hóa được và khoáng chất trong những loại sữa này có thể làm hại đến thận của trẻ - vốn đang còn non yếu và chưa phát triển hoàn thiện. Nhiều trường hợp cho thấy bé dưới 1 tuổi bị dị ứng với sữa bò, dẫn đến tiêu chảy, chảy máu đường ruột,... Mật ong   Trẻ dưới 1 tuổi ăn phải mật ong sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gặp phải một số triệu chứng như táo bón, đi phân lỏng, quấy khóc, ngậm tìm núm vú khó khăn,... (Ảnh minh họa) Mật ong tươi có nguồn gốc tự nhiên và mang hương vị ngọt ngào rất giàu dinh dưỡng nhưng lại là nguồn chứa bào tử Clostridium botulinum – một loại trực khuẩn dễ nảy nở và sinh độc tố trong ruột trẻ nhỏ. Trẻ hơn 1 tuổi có hệ tiêu hóa cứng cáp hơn có thể chống lại được loại bào tử này  nhưng trẻ dưới 1 tuổi ăn phải mật ong sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gặp phải một số triệu chứng như táo bón, đi phân lỏng, quấy khóc, ngậm tìm núm vú khó khăn,... Một số loại hải sản Một số loại cá như cá kiếm, cá mập, cá mackerel,...có chứa hàm lượng thủy ngân quá cao so với khả năng hấp thu của trẻ. Nếu trong gia đình có người có tiền sử mắc dị ứng với hải sản, nên đợi đến khi trẻ 1-2 tuổi mới cho tập ăn cá và 3 tuổi mới tập cho ăn hải sản có vỏ. Bạch tuộc và tôm hùm cũng là những loại hải sản dễ gây dị ứng nhất, nên đợi khi bé 3 tuổi mới cho tập ăn. Mẹ nên cho con tập ăn với liều lượng thật nhỏ và chú ý theo dõi để không xảy ra trường hợp dị ứng đáng tiếc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Sai lầm khi cho con ăn sữa chua người lớn

SAI LẦM KHI CHO CON ĂN SỮA CHUA NGƯỜI LỚN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sữa chua là một trong những món ăn yêu thích của rất nhiều bé, vì nó không chỉ ngon mà còn rất tốt cho tiêu hoá. Vậy ở độ tuổi nào thì mẹ bắt đầu cho bé ăn sữa chua? Viện dinh dưỡng khuyến cáo các bà mẹ nên cho trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và từ giai đoạn 6-12 tháng tuổi, mẹ có thể cho bé ăn bổ sung các thực phẩm khác. Từ giai đoạn này, mẹ có thể cho bé ăn sữa chua, nhưng tốt hơn hết mẹ nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng vì tùy theo thể trạng, cân nặng của bé mà có một chế độ dinh dưỡng riêng, phù hợp. Sữa chua có chứa nhiều thành phần dinh dưỡng tốt cho trẻ như protein, chất béo, canxi, phot pho, kali và i-ốt; ngoài ra còn một số loại sữa chua còn có thành phần dinh dưỡng khác như vitamin D, sắt, kẽm hoặc các axit béo omega 3.   Giai đoạn trẻ từ 6-12 tháng tuổi, mẹ có thể bắt đầu cho bé ăn sữa chua (Ảnh minh họa) Nhiều nhãn hiệu sữa chua có chứa các chế phẩm sinh học, trong đó các vi khuẩn có lợi được tìm thấy trong ruột con người có thể giúp hỗ trợ tiêu hóa. Theo một nghiên cứu được công bố năm 2009 cho rằng cho trẻ ăn sữa chua sẽ hạn chế  bị tiêu chảy. Sữa chua chứa ít lactose và nhiều lactase, được biết đến như là một loại thuốc chữa bệnh đường ruột, an toàn ngay cả khi bé mắc tiêu chảy. Nghiên cứu cho thấy, các bé phục hồi nhanh hơn từ tiêu chảy khi ăn sữa chua. Đặc biệt, mẹ nên cho con ăn sữa chua trong quá trình bé phải dùng thuốc kháng sinh, bởi vì sữa chua giúp giảm tác hại của kháng sinh tới những vi khuẩn trong đường ruột. Hiện nay, có một số mẹ khi bắt đầu cho con ăn sữa chua đã không chịu nghiên cứu và tìm hiểu kĩ dẫn đến một số sai lầm không nên có. Những sai lầm mẹ mắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới dưỡng chất mà con sẽ hấp thu được. Dưới đây là một số sai lầm mà các mẹ gặp phải khi cho con ăn sữa chua. 1. Cho con ăn sữa chua người lớn Giai đoạn mới tập ăn, các bé sẽ cần một một loại sữa chua được làm từ sữa công thức và phải đảm bảo an toàn, hạn chế nguy cơ dị ứng. Vì thế, sữa chua dành cho trẻ con sẽ là lựa chọn thích hợp hơn cho sự phát triển và sức khỏe của các bé. Mẹ không nên cho trẻ ăn sữa chua người lớn bởi sữa chua dành cho người lớn thường có công thức ít béo hoặc giảm ngọt và nên không phải là sự lựa chọn tốt cho các bé. Mẹ nên cho bé ăn các loại sữa chua nguyên chất, vì nó có chứa hàm lượng chất béo cao, có nhiều dinh dưỡng hơn so với sữa chua hoa quả. Sữa chua trắng chứa gấp đôi protein, canxi tốt cho quá trình phát triển của trẻ, đặc biệt là sự phát triển về khả năng nhận thức. 2. Pha trộn thêm sữa bột vào sữa chua Khi cho trẻ ăn sữa chua trắng, một số bé sẽ cảm thấy chua, mẹ liền tăng thêm vị ngọt bằng cách trộn sữa bột vào, nghĩ rằng như vậy thì càng làm tăng chất dinh dưỡng. Thực tế, mẹ không nên “pha trộn” như vậy vì sữa bột không đủ lượng nước để hòa tan sẽ khiến cơ thể bé rất khó hấp thu. 3. Cho con ăn sữa chua xong không xúc miệng Do các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động rất mạnh nên dễ làm hỏng men răng. Vì vậy nếu sau khi ăn sữa chua xong, mẹ không xúc miệng cho bé xúc miệng sẽ ảnh hưởng không tốt tới men răng của bé. 4. Cho bé ăn sữa chua khi đói Mẹ không nên cho bé ăn sữa chua khi đói. Bởi vì khi bụng đói, độ axit trong dạ dày lớn (pH=2), ăn sữa chua vào lactic axit sẽ giết chết hết axit trong dạ dày, tác dụng bảo vệ sức khỏe giảm rõ rệt. Tốt nhất là nên ăn vào 1-2 tiếng sau bữa ăn chính. 5. Hâm nóng sữa chua Đừng vì sợ các bé ăn sữa chua lạnh sẽ bị viêm họng, lạnh bụng mà mẹ ngâm sửa chua qua nước sôi nóng hoặc hâm nóng sữa chua trong lò vi ba, lò vi sóng bởi vì khi gặp nhiệt độ cao, sữa sẽ vón cục và làm cho các vi khuẩn có lợi bị tiêu diệt, mất hết tác dụng tăng sức đề kháng bảo vệ sức khỏe. Sữa chua nên bảo quản trong tủ lạnh nhưng không nên cho trẻ ăn khi quá lạnh. Hãy lấy sữa chua khỏi tủ lạnh từ 15 đến 20 phút trước khi cho trẻ ăn. 6. Dùng chung sữa chua với những thực phẩm chế biến sẵn Mẹ không nên dùng chung sữa chua với những thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, thịt hun khói, thực phẩm đông lạnh chế biến từ vì chúng có thể gây táo bón, đau dạ dày, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tử vong, rất nguy hiểm cho bé.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Món ngon an toàn cho bé tập ăn bốc

MÓN NGON AN TOÀN CHO BÉ TẬP ĂN BỐC

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ăn bốc không chỉ là phương pháp vui vẻ, kích thích trẻ ngon miệng mà còn giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động của đôi tay và kỹ năng phối hợp giữa tay và mắt. Thông qua ăn bốc, trẻ cũng sẽ học được cách phân biệt chất liệu, màu sắc, hương vị riêng… của từng loại thức ăn. Thời điểm phù hợp nhất để bé ăn bốc là khi bé được 7-9 tháng tuổi. Dưới đây là những món tuyệt vời để bé tập ăn bốc, mẹ đừng quên thêm vào menu hàng ngày của bé nhé! 1. Cà rốt luộc xắt nhỏ Màu sắc bắt mắt và vị ngọt dịu tự nhiên của cà rốt mê hoặc đến 90% trẻ đang độ tuổi ăn dặm. Củ cà rốt không chỉ chứa nhiều vitamin A giúp trẻ tăng sức đề kháng mà còn rất nhiều canxi, vitamin C, chất xơ, không có chất béo hoặc cholesterol… Vì vậy, trong thực đơn của bé, mẹ đừng quên món cà rốt luộc rồi xắt thành từng miếng nhỏ, dài bằng ngón tay út để bé dễ bốc ăn nhé! Ngoài ra, nếu mẹ khéo tay có thể tỉa thành bông hoa nhỏ xinh để bé thấy món ăn thêm ngon mắt, hấp dẫn.   Ăn bốc không chỉ là phương pháp vui vẻ, kích thích trẻ ngon miệng mà còn giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động của đôi tay và kỹ năng phối hợp giữa tay và mắt. (Ảnh minh họa). 2. Chuối chín cắt lát Chuối có chứa kali, chất xơ, vitamin B6, vitamin C và B2 khá cao rất tốt cho sức khỏe của bé. Bởi thế, ngay khi bé được 4 tháng tuổi, mẹ đã nên giới thiệu món ăn này chó bé. Khi cho bé nếm món chuối, các mẹ nên thái chuối dạng hạt lựu để bé không bị hóc. Ngoài ra, nên chọn loại chuối chín mềm để an toàn cho bé. Xin lưu ý là chuối cũng có thể khiến bé bị táo bón nếu ăn quá nhiều đấy các mẹ ạ! 3. Bơ thái miếng Không phải ngẫu nhiên các chuyên gia dinh dưỡng khuyên các mẹ nên cho bé bắt đầu ăn dặm thử nghiệm trái bơ đầu tiên. Bơ có lợi cho sức khỏe của bé bởi chúng chứa chất béo không bão hòa giúp kích thích sự phát triển tối ưu của não bộ; chất xơ tốt cho hệ tim mạch; vitamin E,C,B giúp tăng cường trí nhớ… Khi bơ đã chín sờ tay thấy mềm, mẹ có thể bảo quản số bơ đó trong tủ lanh và cho bé ăn dần. Còn nếu mua phải trái bơ xanh trong khi mẹ muốn chế biến ngay cho bé, có một mẹo đơn giản là hãy cho trái bơ vào túi giấy cùng với một quả chuối. Chỉ trong một ngày, khí ethylene từ chuối sẽ làm bơ chin và ngon một cách tự nhiên. Hãy xắt nhỏ bơ thành miếng dài bằng ½ ngón tay giữa của mẹ và cho bé tự bốc để thưởng thức món ăn tuyệt vời này nhé!   Bơ có lợi cho sức khỏe của bé (Ảnh minh họa). 4. Khoai lang hấp chín Giống như cà rốt, khoai lang là nguồn cung cấp nhiều beta-carotene (vitamin A cũng như magie và các loại vitamin, chất khoáng khác). Các bé rất thích vị ngọt tự nhiên có trong khoai lang bởi thế khi bé bắt đầu tập ăn dặm, khoai lang là top thực phẩm mẹ có thể chọn. Cho bé ăn khoai lang, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mẹ nên nướng hoặc hấp khoai thay cho luộc vì như thế mới giữ được nhiều dinh dưỡng trong khoai. Nên thái khoai dạng hạt lựu cho bé mới ăn bốc. 5. Đậu Hà Lan Đậu Hà Lan giàu sắt, vitamin C, axit folic và vitamin B6 giúp tăng cường hệ miễn dịch, tốt cho sức khỏe tim mạch của bé. Ngoài ra, món ăn này còn giúp bé duy trì xương chắc khỏe. Cha mẹ nên cho bé ăn món này sau 7 tháng tuổi (có thể nghiền ra nấu cháo). Ngoài ra đây cũng là một món ăn bốc khá thú vị với bé trên 2 tuổi. Tuy nhiên, bé ăn cần sự giám sát của người lớn phòng trường hợp bị hóc. Với món này thì mẹ chỉ cần luộc lên là bé có thể ăn được rồi. 6. Ngũ cốc Các loại ngũ cốc không đường là một món ăn tuyệt vời. Hãy chắc chắn rằng món ngũ cốc bé ăn được làm từ ngũ cốc nguyên hạt và không có các thành phần bổ sung và chất bảo quản. Bánh ngũ cốc, bánh mì có thể ăn không hoặc cũng có thể phết bơ đậu phộng cho trẻ. Lưu ý Cha mẹ cho bé ngồi trên ghế riêng khi ăn bốc. Bởi vì nguy cơ bị hóc ở bé sẽ tăng lên nếu bé vừa bốc ăn vừa chạy nhảy hoặc không có người lớn trông chừng. - Không bao giờ được để bé ăn bốc một mình. - Không nên giục bé mà chỉ nên hướng dẫn bé bốc thức ăn thật chậm rãi. - Dù bé đã thành thạo bốc thức ăn mẹ cũng không nên chủ quan cho bé tự do ăn những loại thực phẩm cứng, dễ hóc, không an toàn... - Nên bắt đầu cho bé bốc những loại thức ăn bé yêu thích trước. Sau đó, mới cho bé làm quen với những đồ ăn mới. Bởi vì, một số bé khá nhạy cảm với mùi vị mới, nhất là những loại thịt. Để bé thích bốc thịt, bạn nên luộc thịt chín kĩ, xắt lát mỏng như tờ giấy và cho bé làm quen. Nên chọn thịt gà, vừa bổ dưỡng lại giúp bé ngon miệng. - Các bé đều thích bốc những món ăn chứa đường như bánh, kẹo nhưng mẹ không nên “thỏa mãn” bé. Bé cần những loại thực phẩm giàu dưỡng chất thay vì loại đồ ăn nhanh chứa năng lượng tức thời. Tất nhiên, không phải mọi loại bánh kẹo đều xấu với sức khỏe bé nhưng nên kiểm soát lượng đường bé tiêu thụ hàng ngày. Mẹ có thể chọn những loại bánh kem mềm, ít đường cho bé để thay thế loại bánh quy hoặc kẹo cứng.
Xem thêm

3 Đọc thêm

8 món mẹ đừng “dại” cho con ăn

8 MÓN MẸ ĐỪNG “DẠI” CHO CON ĂN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Có một số thực phẩm khi cho trẻ ăn vào từng giai đoạn nhất đinh, không đơn giản chỉ khiến bé bị dị ứng mà thậm chí, mẹ còn có thể mất con chỉ vì những lỗi không thể ngờ tới. Từ 0-9 tháng tuổi không nên ăn muối Trẻ sơ sinh, nhất là trong giai đoạn 0-9 tháng tuổi chức ăn thận vẫn còn đang hoàn thiện. Độ lọc cầu thận, khả năng bài tiết và tái hấp thu ở ống thận chưa phát triển hoàn chỉnh. Vì vậy thức ăn quá mặn sẽ làm tăng gánh nặng cho thận, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thận nhi. Tất nhiên, không cho trẻ ăn muối không có nghĩ rắng bé không cần muối. Tuy nhiên trong ít nhất 0-9 tháng đầu, lượng muối có trong sữa mẹ và sữa công thức hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu cơ thể trẻ. Ba tháng cuối khi gần đạt một tuổi, mẹ có thể bắt đầu cho một ít muối hoặc từ 1-2 giọt mắm vào thức ăn của bé. 6 tháng đầu không nên uống quá nhiều nước lọc Nước lọc có hàm lượng vitamin và khoáng chất cao. Nước rất tốt cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên, nhược điểm của nước, đó là không có protein và chất béo. Nếu mẹ cho bé uống quá nhiều nước, chúng sẽ chiếm không gian dạ dày trẻ, khiến bé luôn cảm thấy no và không có nhu cầu muốn ăn sữa. Thêm vào đó, đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi, uống quá nhiều nước lọc không chỉ  cản trở khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ hoặc sữa bột mà thậm chí còn làm loãng nồng độ natri của cơ thể hoặc gây ngộ độc. Dưới 12 tháng không nên ăn mật ong, sữa ong chúa và lòng trắng trứng Các chuyên gia nước ngoài luôn khuyến cáo các bà mẹ không nên cho trẻ ăn mật ong khi chưa tròn một tuổi. Bào tử clostridium botulinum - thủ phạm gây một chứng ngộ độc thực phẩm rất nguy hiểm thường xuất hiện trong mật ong với tỷ lệ 5%. Con số này rất nhỏ, do đó trường hợp ngộ độc mật ong ít xảy ra. Tuy nhiên nếu trẻ đã lỡ ăn phải, hậu quả nhẹ nhất là ảnh hưởng đến hệ thần kinh còn không có thể gây tử vong. Chỉ khi trẻ lớn lên và ruột đã đủ hoàn thiện, khi đó nếu có ăn phải  mật ong chứa bào tử botulium, chúng cũng sẽ nhanh chóng bị “tiêu diệt” bởi các vi khuẩn đường ruột khác (như bifidobacteria).   Lòng trắng trứng dễ gây dị ứng cho trẻ dưới 1 tuổi (ảnh minh họa) Về phần lòng trắng trứng, chúng có chứa khá nhiều protein, khi trẻ dưới 12 tháng ăn vào rất dễ bị dị ứng với các phân tử protein này. Thường các trường hợp trẻ bị dị ứng lòng trắng trứng hay dẫn đến đau bụng hay nặng hơn là nổi mề đay, chàm. Để an toàn, mẹ chỉ nên cho bé ăn lòng đỏ nếu con dưới 12 tháng. Trong 5 năm đầu đời không nên ăn thạch và các loại thức ăn bố sung Thạch vốn trơn, mềm nên khi trẻ ăn hay thường bị trôi cả miếng vào họng gây hóc. Chưa kể, khi dùng dụng cụ gắp thạch ra cũng rất dễ gây vỡ vụn, những mảnh vụn này lại tiếp tục rơi sâu xuống đường thở, gây khó khăn cho việc cấp cứu. Để phòng ngừa, tốt nhất mẹ không nên cho trẻ dưới 5 tuổi ăn thạch.   Bổ sung quá nhiều dinh dưỡng có thể khiến bé bị dậy thì sớm (ảnh minh họa) Về phẩn thực phẩm bổ sung, mẹ nên lưu ý: 5 năm đầu là giai đoạn phát triển quan trong của cơ thể. Nếu trong giai đoạn này, mẹ bổ sung cho bé quá nhiều chất dinh dưỡng có tác dụng tăng hormon hoặc nội tiết tố có thể dẫn đến việc dậy thì sớm ở trẻ nhỏ: đối với bé gái là phát triển ngực, vùng kín và bé trai là tăng trưởng râu, tinh hoàn. Vì vậy, bác sĩ nhi khoa khuyên mẹ không nên cho bé dưới 5 tuổi dùng nhân sâm, sữa ong chúa hay tổ yến quá nhiều. Khi trên 5 tuổi, nếu bé còi cọc, suy dinh dưỡng có thể bổ sung theo chỉ dẫn của bác sĩ. Dưới 10 tuổi không thích hợp ăn cá muối Các loại cá muối chứa một lượng lớn dimethyl sulfoxide nitrat, chúng sẽ được chuyển hóa thành chất gây ung thư khi vào cơ thể trẻ. Dimethyl sulfoxide nitrat thường gây ra ung thư mũi họng đặc biệt nguy hiểm. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới 10 tuổi ăn cá muối có khả năng mắc ung thư cao gấp 3 lần người lớn. Do đó, đừng bao giờ cho trẻ ăn cá muối, ít nhất cho đến khi 10 tuổi. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ ĂN DẶM Ở TRẺ MẸ NÊN BIẾT

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ ĂN DẶM Ở TRẺ MẸ NÊN BIẾT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cho trẻ ăn dặm là giai đoạn làm quen với "thực đơn" mới lạ của bé ngoài sữa mẹ - một giai đoạn thú vị nhưng đầy khó khăn cho cả trẻ và người mẹ. Khi bắt đầu cho trẻ tiếp xúc với đồ ăn dặm, các mẹ đã phải dày công nghiên cứu và học hỏi từ các bà mẹ khác hay thậm chí là hỏi ý kiến chuyên gia.  Những lời khuyên vàng  của mọi người thường luôn là ‘cứu cánh’ cho các bà mẹ nuôi con nhỏ, đặc biệt là chị em lần đầu làm mẹ. Tuy nhiên, các mẹ cần biết rằng không phải ý kiến nào cũng chính xác, điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình phát triển của trẻ. Dưới đây là 3 quan niệm sai lầm khi cho trẻ ăn dặm mà các mẹ nên biết để tránh. 1. Nếu trẻ cố gắng với tay đến đồ ăn người lớn đang dùng, điều đó có nghĩa bé đã sẵn sàng để ăn thức ăn đặc Sự thật: Một số bé trong giai đoạn 4 - 5 tháng bắt đầu biểu hiện rất háo hức khi thấy người lớn ăn, nhưng điều đó không có nghĩa là bé đã sẵn sàng ăn dặm. Đây chỉ là mốc phát triển rất bình thường, khi bé muốn bắt chước những gì mà người lớn làm. Tuy nhiên để các mẹ yên tâm và năm bắt được đúng thời điểm cho trẻ ăn dặm, các mẹ có thể dựa vào một số dấu hiệu của trẻ dưới đây: - Bé có thể ngồi vững: Khi trẻ đã sẵn sàng cho giai đoạn ăn dặm cũng là lúc xương cổ của bé đã có thể đỡ được đầu và bé đủ kiểm soát mình trong tư thế ngồi. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một biểu hiện không thuộc số đông mà chỉ đúng với một số trường hợp. - Bé trông rất hứng khởi khi người lớn ăn: khi người lớn ăn bé  có biểu hiện nhóp nhém mồm và dường như muốn đưa tay với lấy thức ăn mà mẹ đang cầm. - Bé có thái độ hợp tác: khi mẹ thử đút thức ăn trong đĩa của mình cho bé và nhận thấy bé sẵn sàng há miệng và chồm đến để đón bằng được thức ăn. - Trằn trọc về đêm: Bình thường, nhu cầu ăn đêm chỉ có ở trẻ sơ sinh và kéo dài tối đa đến 3 tháng. Sau thời gian này hầu như trẻ không còn duy trì thói quen thức đêm. Vì thế, khi những trẻ đã dần bước đến mốc 6 tháng lặp lại tình trạng này rất có khả năng trẻ đã ăn không đủ no vào ban ngày. Mẹ có thể dựa vào sự thay đổi này để đoán biết bé đã sẵn sàng để được ăn dặm. - Bé đòi bú thêm: Trong những tháng đầu đời, trẻ bú liên tục theo nhiều cữ trong ngày. Mỗi cữ bú của trẻ có thể cách nhau từ 2-3 tiếng tùy thuộc đó là sữa công thức hay sữa mẹ. Khi dần đến mốc 6 tháng, trẻ bú thưa hơn và số lượng sữa mỗi cữ sẽ tăng lên. Nếu sau mỗi cữ bú trẻ vẫn khó chịu, khóc rứt và chỉ nín khi được cho bú thêm chứng tỏ trẻ đã có nhu cầu khẩu phần cao hơn 2. Khi mới cho trẻ ăn dặm nên cho trẻ tập ăn hoa quả trước khi ăn rau sẽ tốt cho răng Sự thật: Đây cũng là một trong những quan niệm sai lầm khi cho trẻ ăn dặm bởi khi đến tuổi ăn dặm rau, củ, quả là một trong những thực phẩm không thể thiếu bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Ở rau xanh có chất xơ và các loại vitamin mà ở hoa quả không đủ để thay thế do đó cha mẹ hãy lựa chọn hoa quả như một thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng bên cạnh rau xanh bổ dưỡng cho các bé.   Khi đến tuổi ăn dặm rau, củ, quả là một trong những thực phẩm không thể thiếu bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ (Ảnh minh họa) Ngoài ra, trong độ tuổi từ 6-9 tháng tuổi, lượng sắt trong cơ thể bé có thể giảm, do đó mẹ nên chọn cho bé ăn bổ sung một số loại ngũ cốc tăng cường chất sắt như bột yến mạch, thịt xay nhuyễn, cá...Sữa chua cũng là một trong những thực phẩm rất tốt cho trẻ ăn dặm bởi nó có chứa nhiều canxi và protein. Khi mới đầu cho trẻ ăn dặm, các mẹ chỉ nên cho ăn từng ít một để xem trẻ có bị dị ứng hay không. 3. Nên tránh cho trẻ ăn những thực phẩm dễ gây dị ứng trong khoảng thời gian bé ăn dặm Sự thật: Không có bằng chứng rõ ràng về việc này. Tháng 2/ 2013,  Học viện Nhi khoa Mỹ (APP) đã ra một thông báo rằng ngoại trừ sữa bò thì trẻ từ 4 đến 6 tháng tuổi có thể tiêu thụ được các loại thực phẩm dễ gây dị ứng như đậu phộng, sữa, trứng, lúa mì, đậu nành, cá và động vật có vỏ. Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên gia cũng khuyến cáo rằng, khi muốn cho trẻ làm quen với các loại thực phẩm này, người lớn nên tìm hiểu trước xem gia đình mình có tiền sử bị dị ứng hay không để có biện pháp an toàn nhất khi cho trẻ ăn. Không những vậy, khi mới đầu cho trẻ ăn, mẹ nên quan sát kỹ biểu hiện của trẻ, nếu thấy trẻ có dấu hiệu bất thường thì nên dừng lại ngay.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TẤT TẦN TẬT NHỮNG ĐIỀU MẸ CẦN BIẾT VỀ: ĂN DẶM LÀ GÌ?

TẤT TẦN TẬT NHỮNG ĐIỀU MẸ CẦN BIẾT VỀ: ĂN DẶM LÀ GÌ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhu cầu dinh dưỡng của bé luôn thay đổi theo từng chu kì phát triển. Lúc mới sinh ra, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quan trọng. Nhưng chỉ vài tháng sau đó sẽ đến giai đoạn sữa mẹ không đủ thỏa mãn bé. Giai đoạn này thường đến khi bé từ khoảng 4 đến 6 tháng tuổi. Đây chính là thời điểm đa số các bé sẵn sàng cho việc ăn dặm. Trẻ ăn dặm lúc nào thì hợp lý? Chuyển sang giai đoạn ăn dặm là một mốc thời gian quan trọng cho cả bạn và bé. Do vậy, không có gì là bất ngờ khi một số bà mẹ có thể cảm thấy không chắc chắn về việc khi nào cho bé ăn và cho bé ăn gì. Tạo lập thói quen cho ăn vào những thời gian nhất định trong ngày sẽ giúp bé quen với chế độ ăn mới khi ăn dặm. Các mẹ không nên quá vội vàng khi cho trẻ ăn dặm quá sớm, hãy đợi đến khi con thực sự sẵn sàng. Nếu cho bé ăn sớm quá sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bé như: bé dễ bị đầy bụng, khó tiêu, biếng ăn, và lâu dài sẽ có nguy cơ bị thiếu hụt dinh dưỡng, dẫn đến bé bị suy dinh dưỡng, chậm lớn… Theo các bác sĩ chuyên gia, thời điểm ăn dặm ở trẻ thường là vào khoảng 6 tháng tuổi. Khi tròn 6 tháng tuổi, bé mới có đủ khả năng về hoạt động miệng lưỡi để có thể nuốt được thức ăn đặc. Khởi đầu chỉ nên cho bé ăn 1 loại thức ăn mới trong ngày để theo dõi khả năng dung nạp của bé. Sau khi quan sát thấy bé ăn được, đến lúc đó mẹ mới tăng số lượng và bổ sung thêm một số vị khác. Việc thay đổi các nguyên liệu chế biến, giúp mẹ nhận biết được khẩu vị của con.   Ăn dặm là gì luôn là câu hỏi của nhiều chị em lần đầu làm mẹ (Ảnh minh họa) Dấu hiệu nào nhận biết trẻ sẵn sàng cho việc ăn dặm? Cơ thể và mức độ phát triển của mỗi bé là khác nhau, nên không thể áp công thức chung cho tất cả. Tuy nhiên có 3 dấu hiệu rõ ràng nhất minh chứng cơ thể trẻ đã  sẵn sàng tiếp nhận một nguồn dinh dưỡng mới. - Bé có thể ngồi và giữ vững đầu - Bé có thể kết hợp được cả mắt, tay, mồm để nhìn vào đồ ăn, tự cầm lên và cho vào miệng - Bé đã biết nuốt. Đối với những bé chưa sẵn sàng ăn bột, bé sẽ đùn ra. Cần lưu ý gì khi mới bắt đầu cho bé ăn dặm? - Giảm lượng sữa cho bé bú. Sau đó, mẹ nên tập cho bé ăn từ bột ngọt sau đó đến bột mặn. Trong khi cho trẻ ăn dặm, mẹ phải đảm bảo quan sát bé thật kỹ, tránh tình huống bé bị nghẹn. - Mẹ tuyệt đối tránh nhồi nhét, bắt ép bé. Mẹ cần tạo không khí thoải mái, tìm món bé thích ăn và sử dụng các loại tô, bát, thìa có hình ngộ nghĩnh để thu hút bé. - Mẹ cho bé ăn bổ sung theo nguyên tắc: ăn từ ít đến nhiều, ăn từ lỏng đến đặc. Nên cho bé ăn đa dạng các loại thực phẩm để nhận biết chính xác hương vị và món ăn yêu thích của con. - Mẹ có thể ninh nhừ rau, củ, thịt hoặc nấu mì cắt nhỏ cho bé bốc. Cách mẹ bày biện, trang trí món ăn nhiều màu sắc giúp bé tò mò và cảm thấy thích thú với món ăn mới. - Trong quá trình ăn, mẹ nên dỗ dành hoặc cho bé chơi, chạy nhảy thêm một lúc để bé nhanh cảm thấy đói và ăn sẽ ngon hơn. - Mẹ nên xen kẽ một bữa cháo hoặc mì là một bữa sữa. Thường sau khi ăn cháo 3 tiếng, mẹ có thể cho bé uống sữa, sau uống sữa khoảng 2 tiếng có thể ăn cháo hoặc mì. - Không nên cho con ăn quá lâu, mẹ nên tập trung cho con ăn trong khoảng 30 phút, nếu bé chưa ăn hết cũng không nên cố ép bé. Ăn dặm bao nhiêu là đủ? - Trẻ từ 0-6 tháng tuổi: Trong 6 tháng đầu đời của trẻ, sữa mẹ đóng vai trò qua trọng trong việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho cơ thể bé. Mẹ có thể bổ sung thêm sữa bột công thức cho con, nhưng không nên cho con uống quá nhiều, mỗi ngày chỉ nên cho uống một lượng vừa đủ. Trong giai đoạn này, nếu mẹ nhận thấy con tăng cân chậm hay có những dấu hiệu sớm cho việc sẵn sàng ăn dặm thì mẹ nên tập cho con ăn. Tuy nhiên, mẹ nên tránh những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ như: lúa mì, các loại hạt, đậu phộng, gan, trứng, cá, sữa bò, pho mai… - Trẻ tử 6 -8 tháng tuổi: Đây là giai đoạn lí tưởng để mẹ cho bé tiếp cận với đồ ăn dặm. Mẹ nên nghiền hoặc xay nhuyễn hoặc nấu chín mềm các loại rau như củ cải, khoai tây, khoai lang, cầ rốt… Tất cả thực phẩm này mẹ bắt buộc phải nấu chín cho con, không cho trẻ ăn thực phẩm tươi sống. Mẹ có thể trộn ngũ cốc trẻ em với sữa thông thường của trẻ để làm món ăn nhẹ cho con. Mẹ tuyệt đối không được cho con dùng sữa bò đến khi con 1 tuổi. Sau 1 thời gian, mẹ nên bổ sung thêm một món ăn khác để làm đa dạng khẩu phần ăn của con. - Trẻ tư 8-9 tháng tuổi: Thông thường vào giai đoạn này, trẻ có thể ăn 3 bữa/ngày. Mẹ có thể kết hợp cho bé ăn các thực phẩm mà bé có thể tự cầm tay ăn cùng với các đồ ăn nghiền và băm nhỏ. Mẹ nên đa dạng khẩu phần ăn của trẻ với nhiều loại thực phẩm khác nhau: trái cây và rau củ; bánh mì; mì ống; khoai tây và các loại thực phẩm giàu tinh bột khác (thịt, cá, trứng…) - Trẻ 9 - 12 tháng tuổi: Mẹ cho bé ăn bột, cháo đặc 2-3 bữa mỗi ngày với khoảng 2/3 bát mỗi bữa. Ǎn thêm trái cây tươi và các loại thức ăn mềm như pho mát, bánh flan, rau câu, tào phớ đường. Tuy nhiên các mẹ nên nhớ kĩ rằng sữa vẫn không thể thiếu trong khẩu phần hằng ngày của bé. Mỗi đứa trẻ sẽ có khả năng tiếp thụ và nhu cầu khác nhau, nên mẹ không nên ép buộc khẩu phần của các bé lên nhau. Các mẹ đặc biệt là những bà mẹ trẻ, thiếu kinh nghiệm cần phải tìm hiểu và nghiên cứu kĩ để tập cho trẻ ăn dặm đúng cách.
Xem thêm

2 Đọc thêm

LỜI ĐỒN THỔI SAI LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP CHO CON ĂN DẶM

LỜI ĐỒN THỔI SAI LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP CHO CON ĂN DẶM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi bắt đầu cho trẻ tiếp xúc với đồ ăn dặm, các mẹ đã phải dày công nghiên cứu và học hỏi từ các bà mẹ khác hay thậm chí là hỏi ý kiến chuyên gia.  Những lời khuyên vàng  của mọi người thường luôn là ‘cứu cánh’ cho các bà mẹ nuôi con nhỏ, đặc biệt là chị em lần đầu làm mẹ. Tuy nhiên, các mẹ cần biết rằng không phải ý kiến nào cũng chính xác, điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình phát triển của trẻ. Dưới đây là 4 lời đồn thổi sai lầm về phương pháp cho con ăn dặm mà các mẹ nên biết để tránh. 1.  Sữa mẹ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ trong một năm đầu đời Có rất nhiều bà mẹ tin tưởng rằng trong năm đầu tiên, ăn dặm chỉ đơn thuần là để bé làm quen với thức ăn và tập ăn thô. Sữa mẹ vẫn cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ trong một năm đầu đời. Sự thật: Trên thực tế, ngay từ khi 6 tháng tuổi nguồn dự trữ sắt trong cơ thể trẻ đã cạn kiệt, trong khi đó sữa mẹ thì lại không còn chứa đủ lượng sắt cần thiết cho bé. Kẽm cũng là một trong số những vi lượng bị thiếu hụt vào thời điểm 6 tháng này. Theo một nghiên cứu tổng quan của tạp chí khoa học dinh dưỡng lâm sàng Mỹ, thời điểm 9-11 tháng thì đến 90% lượng sắt và kẽm trẻ sơ sinh hấp thụ được là từ việc ăn dặm thức ăn bên ngoài.   Trên thực tế, ngay từ khi 6 tháng tuổi nguồn dự trữ sắt trong cơ thể trẻ đã cạn kiệt, trong khi đó sữa mẹ thì lại không còn chứa đủ lượng sắt cần thiết cho bé (Ảnh minh họa) Ở các nước đang phát triển, việc thiếu sắt ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến tăng trưởng thể lực và trí não. Thiếu kẽm cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị chậm lớn, suy dinh dưỡng. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, 30% trẻ 9 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn bị thiếu hụt sắt và kẽm so với qui định. 2.  Chỉ nên bắt đầu cho trẻ ăn thịt khi được 9 tháng Sự thật: Không chỉ riêng các bà mẹ mà ngay cả các chuyên gia dinh dưỡng cũng tin tưởng vào điều này. Tuy vậy, theo báo cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ, thịt là một trong các thức ăn lý tưởng cho bé ăn dặm và mẹ hoàn toàn có thể bổ sung thịt cho bé ngay từ tháng thứ 6. Bởi trong thịt có chứa rất nhiều sắt và kẽm. Tổ tiên của chúng ta là những người lớn lên từ việc ăn thịt, họ đã nhá thịt rồi đưa bã mềm cho con mình ăn. Vì vậy, các nhà khoa học khuyên mẹ không đừng e dè hay trì hoãn việc cho bé làm quen với thịt ngay từ tháng thứ 6. 3. Thêm ngũ cốc vào bình sữa của bé sẽ giúp bé ngủ suốt đêm Sự thật: Chẳng có bằng chứng nào cho thấy việc thêm ngũ cốc vào bình sữa bú trước khi ngủ sẽ giúp bé ngủ lâu hơn, vì thế bạn không nên làm thế. Trên thực tế, ngũ cốc trong bình sữa làm tăng lượng calo mà bé hấp thụ, và một số nghiên cứu chỉ ra rằng cho bé chưa đến 4 tháng ăn thức ăn đặc có thể góp phần làm bé bị béo phì. Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ, chẳng như nếu bác sĩ khuyến cáo bổ sung ngũ cốc để điều trị chứng trào ngược. Trong những trường hợp ngoại lệ này thì mẹ cần làm theo khuyến cáo của bác sĩ thật cẩn thận. 4. Không cho bé ăn dầu mỡ vì hệ tiêu hóa chưa hấp thụ được Rất nhiều mẹ khi bắt đầu cho bé ăn dặm thường tránh thịt mỡ, dầu ăn vì sợ con bị béo phì hay rối loạn tiêu hóa. Sự thật: Điều này hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Trên thực tế, các bé cần khoảng 30-40% lượng calo từ chất béo hàng ngày để cơ thể và bộ não phát triển bởi não bộ có những yêu cầu đặc biệt từ axit béo và các thành phần khác của chất béo.  Lượng chất béo phù hợp cho trẻ ăn dặm dưới 1 tuổi là 3,5g trên 1kg cân nặng mỗi ngày. Tốt nhất là cho trẻ ăn chất béo từ dầu thực vật, mỡ cá, có chứa hàm lượng Omega 3 cao giúp tăng sức đề kháng, giảm thiểu các căn bệnh viêm nhiễm, hỗ trợ hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn. 
Xem thêm

1 Đọc thêm

Chuẩn cho con ăn dặm theo từng tháng tuổi

CHUẨN CHO CON ĂN DẶM THEO TỪNG THÁNG TUỔI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Với mỗi bé thì khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, khẩu vị và lượng thức ăn sẽ là khác nhau. Mẹ nên quan tâm và chăm sóc kỹ tới bé, như thế mẹ có thể dễ dàng biết được khẩu vị ưa thích của bé. 4 - 6 tháng tuổi Tới 5 tháng tuổi, bé có thể sẵn sàng hơn cho những dinh dưỡng và thực phẩm mới. Đây là thời điểm thích hợp cho trẻ ăn các loại thực dạng lỏng như ngũ cốc, nước trái cây. Ngũ cốc cung cấp cho trẻ chất sắt – một thành phần quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Khi chào đời, trong cơ thể bé có một lượng sắt nhất định, nhưng nếu không được bổ sung kịp thời bé sẽ bị thiếu máu, gây nguy hại đến sức khỏe. Để cho bé dễ ăn, mẹ nên trộn ngũ cốc với sữa bột, sữa mẹ hoặc với nước. Trong giai đoạn này, nhiều mẹ nhận thấy con tăng cân chưa đủ nên tiến hành cho con ăn dặm. Mẹ cần chú ý để nhận biết các dấu hiệu sẵn sàng để con có thể ăn thức ăn dặm như có thể kiểm soát các cử động của đầu và cổ; mọc răng; có thể ngồi lên với sự trợ giúp của người thân... 6-8 tháng tuổi Đây là giai đoạn phù hợp để các mẹ bắt đầu cho con ăn dặm. Hoa quả và rau củ là lựa chọn lí tưởng nên trong danh sách đồ ăn dặm của bé. Mẹ nên chọn những loại quả mềm, giàu dinh dưỡng, vị thơm ngon để bé dễ ăn hơn như chuối, kiwi, đu đủ, lê...Rau củ thích hợp hơn cả cho bé là bông cải xanh, củ cải trắng, củ cải đỏ, bí xanh, bí ngô, khoai tây, cà rốt, khoai lang... Sau khi đã lựa chọn được loại rau củ quả thích hợp, mẹ bắt tay vào chế biến. Trước tiên, mẹ rửa sạch các loại hoa quả (rau củ), sau đó luộc hoặc nướng cho đến khi mềm. Chờ nguội bớt, các mẹ nghiền nhuyễn bằng tay hoặc dùng máy xay sinh tố. Mẹ có thể tạo hỗn hợp bằng cách cho thêm vào một ít sữa bột pha sẵn, sữa mẹ hoặc nước trắng. Bên cạnh đó, mẹ cũng có thể xay nhuyễn các loại thịt (thịt bò, thịt gà, thịt lợn), cá, đậu (đậu đỏ, đậu lăng, đậu đen, đậu điểm). Các bác sĩ khuyên mẹ không nên cho con ăn thịt quá sớm, tuy nhiên thịt có chứa lượng chất sắt lớn đặc biệt phù hợp với các bé dùng sữa mẹ.   6-8 tháng tuổi, mẹ có thể cho bé ăn dặm (Ảnh minh họa) 8-10 tháng tuổi Thời điểm này, các bé đã mọc răng, nên việc ăn uống cũng trở nên dễ dàng hơn. Các thức ăn không nhất thiết không nhất thiết phải nghiền nhuyễn, chỉ cần nấu cho đến khi mềm. Bé bắt đầu có thể ăn bốc. Những loại thực phẩm bé có thể tự cầm ăn như chuối chín cắt lát, bánh mì miếng cắt nhỏ, bánh quy giòn, đậu phụ, mì…Mẹ nên cắt nhỏ để bé dễ cầm và đảm bảo con không bị nghẹn khi ăn. Ngoài ra, mẹ nên cho bé dùng thêm các sản phẩm từ sữa nhữ sữa chua, pho mai làm từ sữa đã gạn kem, pho mát tiệt trùng. Đối với pho mai, các mẹ cũng cắt nhỏ cho con dễ ăn. 10-12 tháng tuổi Vào giai đoạn này, bé có thể ăn được đa dạng các loại thực phẩm hơn. Tuy nhiên, một số bác sĩ nhi khoa vẫn khuyến cáo nên tránh xa đậu phộng, lạc hoặc tôm, sò…vì chúng có thể khiến trẻ bị dị ứng. Mẹ không nên cho con dùng sữa bò và mật ong cho đến khi con 1 tuổi. Khi bé mọc nhiều răng và biết nhai, bé có thể ăn được những miếng lớn hơn một chút. Trong thời điểm này, bạn hãy quan sát cẩn thận, thấy bé gặp khó khăn khi ăn miếng lớn thì nên cắt nhỏ ra cho bé. Đặc biệt cẩn thận nếu cho bé ăn nho, xúc xích…vì chúng dễ khiến trẻ bị nghẹt thở.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Mơ - trái ngon bé ăn dặm mê tít

MƠ - TRÁI NGON BÉ ĂN DẶM MÊ TÍT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mơ rất giàu beta-carotene (vitamin A), không chỉ bổ dưỡng cho thị giác mà còn ngăn chặn ung thư phổi. Vitamin C và các nguyên tố vi lượng khác (canxi, photpho, folate…) cũng là những thành phần không thể bỏ qua trong loại trái cây này. Những dưỡng chất trong mơ nếu được bổ sung thường xuyên sẽ là liều thuốc tự nhiên bảo vệ cơ thể khỏi các vấn đề tim mạch và bệnh nan y. Khi con đến tuổi ăn dặm, tại sao không thử làm phong phú vị giác của bé bằng một ít vị chua chua từ trái mơ? Tuy nhiên, dù mẹ có háo hức được giới thiệu vị mới với cục cưng đến đâu, cũng nên đợi sau khi bé lên tháng thứ 8. Đó là thời điểm thuận lợi không chỉ riêng với mơ mà còn với nhiều loại thực phẩm dinh dưỡng nói chung.   Mơ rất giàu beta-carotene (vitamin A), không chỉ bổ dưỡng cho thị giác mà còn ngăn chặn ung thư phổi. Để chế biến món mơ cho bé tuổi ăn dặm, mẹ cần chú ý một số điểm sau: - Trước tiên, chị em rửa mơ với một phần dấm trắng và 3 phần nước để loại bỏ vi khuẩn. Sau đó, rửa sạch mơ dưới vòi nước đang chảy và để ráo nước. Cuối cùng, các mẹ nên tráng mơ qua một lần nước đun sôi để nguội trước khi gọt, để đảm bảo mơ được rửa sạch nhất. - Khi gọt vỏ xong, mẹ tách lấy phần thịt, bỏ hạt rồi cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn. Mẹ thử 'sản phẩm' nếu quá đặc và chua thì có thể cho thêm một chút nước. Lưu ý: * Muốn giảm bớt vị chua, mẹ có thể dằm chung mơ với các loại trái cây quen thuộc khác để làm phong phú thực đơn của bé. Nhiều loại thực phẩm có thể phối hợp với mơ như: gạo, bột ngũ cốc, chuối, bơ, đào, khoai lang, cà rốt, sữa chua... * Không cần bánh hay kẹo ngọt, thỉnh thoảng mẹ có thể dọn cho bé một ít mơ khô thay cho những món ăn vặt thông thường. Mơ khô không chỉ giảm bớt nguy cơ tim mạch mà còn cung cấp một lượng dưỡng chất cần thiết như các vitamin, kali, sắt... * Khi mua mơ các mẹ nên chọn loại quả tròn trịa, trông mượt mà, có màu đỏ ửng hay vàng rộm đều. Những quả mơ như vậy là những quả chín cây hay hái đúng lúc, vừa chín tới, ăn rất ngon. Các mẹ tránh mua những quả mềm nhũn vì nó là những quả sắp hỏng, thối. Nhưng cũng không nên mua quả mơ cứng quá vì thịt mơ sẽ giòn nên chưa thích hợp với bé. Ngoài ra, các mẹ cũng có thể tự tay làm cho bé món sinh tố mơ sữa chua ngon tuyệt theo công thức dưới đây nữa nhé! Nguyên liệu: 1 chén mơ trộn chung với nước si-ro; 1 chén sữa chua không béo; 3 muỗng đường. Cách làm: - Trộn đều mơ, sữa chua và đường - Cho hỗn hợp vào máy xay đến khi bọt nổi lên là có thể đổ ra cốc và cho bé thưởng thức.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những món mẹ đang cho con ăn “sai bét”

NHỮNG MÓN MẸ ĐANG CHO CON ĂN “SAI BÉT”

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay, do kinh tế phát triển, đời sống được cải thiện nên ngoài cơm cháo gạo thịt cho con ăn dặm hàng ngày, hầu hết chị em đều có thói quen bổ sung thêm cho con những loại thực phẩm dinh dưỡng khác như  sữa chua, váng sữa hay phô mai, hoa quả…Tuy nhiên, cho con ăn thế nào, liều lượng ra sao để bé có thể hấp thụ được tốt nhất thì không phải bà mẹ nào cũng biết. Có rất nhiều bà mẹ bỏ hàng trăm nghìn để mua thức ăn cho con mà lại vô tình làm mất chất của thực phẩm chỉ vì không biết sử dụng. Xin mách mẹ những lỗi sai cơ bản trong việc sử dụng thực phẩm ăn dặm cho con Dầu ăn cho vào cháo, phải tắt bếp mới cho! Mẹ nào khi bắt đầu cho con ăn dặm đều luôn nhớ phải sắm sanh ngay cho bé một lọ dầu ăn. Chỉ cần 1 đến 2 thìa dầu ăn bổ sung vào bột giúp bé ăn ngon miệng và no lâu hơn. Ngoài tác dụng cung cấp năng lượng cho cơ thể, dầu ăn cho vào cháo ăn dặm còn là dung môi giúp hòa tan các vitamin. Khi có dầu ăn trong cháo, các loại vitamin A, D, E, K mới được hòa tan và hấp thu vào cơ thể. Tuy nhiên, đừng chủ quan khi nghĩ dầu ăn có thể cho vào cháo, bột bất cứ lúc nào. Một muỗng dầu ăn cho vào thức ăn của trẻ khi chuẩn bị bắc khỏi bếp nấu sẽ có tác dụng tốt hơn đối với sự phát triển của bé vì khi đó dầu chưa bị biến chất do tác động của nhiệt độ cao và sẽ dễ hấp thu hơn.  Sữa chua cho con, ăn buổi tối là phí tiền?   Không cho trẻ ăn sữa chua buổi tối là mẹ đã bỏ qua thời điểm vàng giúp con tận dụng tối đa lượng canxi có trong sữa chua. (ảnh minh họa)   Cho trẻ ăn sữa chua buổi tối sẽ chẳng hấp thụ được gì lại phí tiền? Nếu bà mẹ nào có suy nghĩ như thế thì nên xem xét lại. Theo các bác sĩ dinh dưỡng, không cho trẻ ăn sữa chua buổi tối là mẹ đã bỏ qua thời điểm vàng giúp con tận dụng tối đa lượng canxi có trong sữa chua. Sữa chua cũng giàu canxi như sữa, nhưng nhờ có chứa acid lactic và giữ lại canxi nên sữa chua tốt hơn hẳn sữa thường về vai trò thúc đẩy sự hấp thụ canxi. Nói chung, sau khi ăn tối khoảng 30 phút đến 2 tiếng là thời điểm ăn sữa chua tốt nhất. Tuy nhiên, theo các bác sỹ thì để tối đa hóa hiệu quả của canxi trong sữa chua, tốt nhất là mẹ nên cho bé ăn sữa chua vào bữa tối trước khi đi ngủ. Váng sữa là “tinh túy” của sữa, có thể cho con ăn thay sữa? Theo quan sát của Viện Nghiên cứu Y-Xã hội học trên tổng cộng 10 loại váng sữa hiện đang được bán rộng rãi trên thị trường Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, một hộp váng sữa nguyên chất, chất béo chiếm đến trên 70% tổng năng lượng mà trẻ cần, cao gấp đôi so với chất béo trong một ly sữa thông thường của trẻ. Do đó, đây là nguồn cung cấp năng lượng rất cao, có thể dùng làm thức ăn tốt để điều trị suy dinh dưỡng, hoặc phục hồi cho trẻ mới ốm dậy.   Tuy nhiên điều này không có nghĩa là “váng sữa có nhiều chất dinh dưỡng” và có thể dùng ăn thay sữa. Trái lại, có thể nói váng sữa là một sản phẩm mất cân đối về năng lượng, quá giàu chất béo, quá ít chất đạm, rất nghèo chất khoáng và vi chất dinh dưỡng. Mẹ chỉ nên cho con tập ăn váng sữa khi đạt 6 tháng tuổi, lý tưởng nhất là 1 tuổi mới ăn. Liều lượng cũng cần được hạn chế theo gợi ý: - Từ 6-12 tháng: 20g - 55g/ngày (tương đương với 1/3 đến 1 hộp) - Từ 1-2 tuổi: 55g - 70g/ngày. - Trên 2 tuổi: 55g -110g/ngày. Cho con ăn hoa quả để “tráng miệng” sau bữa ăn? Đây là một trong những lỗi sai rất phổ biến của mẹ Việt, bắt đầu từ nhu cầu ăn mặn xong thường cần có đồ ngọt ngọt để tráng miệng và đổi vị. Tuy nhiên, mẹ nên ghi nhớ: Hoa quả chỉ nên được ăn với một cái dạ dày “rỗng”, tức là trước đó, trẻ chưa từng được ăn gì. Cứ tưởng tượng, khi bé vừa ăn xong bát cháo lớn, mẹ cho con ăn them chút chuối. Hai thìa chuối đáng lẽ ra đã có thể đi thẳng vào ruột và được cơ thể hấp thụ. Vậy nhưng bát cháo lớn còn đang trong dạ dày đã cản trở chúng. Thêm vào đó, hoa quả vào ruột sẽ sản sinh ra axit. Các axit này sẽ làm hỏng các chất dinh dưỡng có trong “bát cháo” đang ở dạ dày bé, đồng thời gây ra đầy bụng, khó tiêu. Hẳn mẹ còn nhớ cảm giác vừa ăn tối xong mà ăn một quả chuối, ta sẽ “có hứng” đi toilet ngay lập tức. Đó là vì axit trong chuối ở dạ dày đã khiến bữa ăn bị “hỏng” và cơ thể muốn tống chúng ra ngoài. Đừng để điều đó xảy ra tương tự với bé. Lời khuyên hợp lý nhất, đó là cho trẻ ăn hoa quả vào bữa chiều hoặc 30 phút trước khi mẹ dự định cho bé ăn bất cứ thứ gì. Phô mai quá tốt, cho vào cháo con ăn thoải mái? Phô mai là một trong những món ăn mới đây rất được mẹ Việt chuộng vì độ thơm ngon và hàm lượng dinh dưỡng tuyệt vời. Nhiều chị em có thói quen cho phô mai vào cháo của con “vô tội vạ” mà không nghĩ đến những hậu quả sau đó. Để cân đối dinh dưỡng cho bé, mẹ cần biết một điều là khi kết hợp phô mai với cháo thì cần bớt đi một chút thịt/ cá/ tôm... tránh trường hợp bị thừa đạm. Bởi vì một bát cháo nấu đúng như tính toán dinh dưỡng theo độ tuổi đã cung cấp đủ nhu cầu năng lượng, chất béo, khoáng chất cho trẻ, nếu trộn thêm phô mai, tức là bát cháo đã được cộng thêm phần năng lượng, chất đạm, béo chứ không riêng gì canxi. Vì trong phô mai có cả chất béo vì thế các mẹ cũng nên bớt đi chút dầu/ mỡ ăn trong bát cháo của con. Mặt khác, cũng không thể kết hợp phô mai bừa bãi. Mẹ đặc biệt lưu ý đừng kết hợp phô mai với các thực phẩm khác như cua, lươn, rau mồng tơi hay rau dền vì sẽ khiến bé dễ bị đau bụng. Nhóm thực phẩm có thể kết hợp với phô mai kích thích sự ngon miệng cho bé là khoai tây, cà rốt, thịt bò, thịt gà,…
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “XÂY DỰNG THỰC ĐƠN VÀ CHẾ BIẾN MÓN ĂN GIÚP TRẺ ĂN NGON MIỆNG”

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “XÂY DỰNG THỰC ĐƠN VÀ CHẾ BIẾN MÓN ĂN GIÚP TRẺ ĂN NGON MIỆNG”

2.3. Kĩ thuật chế biến món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng.Để chất lượng bữa ăn ngày càng được nâng cao, bản thân tôi đã tham giađầy đủ các buổi bồi dưỡng chuyên đề, các lớp tập huấn, các buổi tuyên truyền vềdinh dưỡng và kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ. Bằng những kiến thức đã họcvà qua quá trình công tác tại trường tôi đã nhận thấy rằng: Để đáp ứng yêu cầu,nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ được tốt hơn, bản thân tôi đã cùng các thành viêntrong tổ nuôi cố gắng tạo ra những bữa ăn ngon, hợp lí, đầy đủ chất dinh dưỡng20và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Là người trực tiếp nấu ăn và thườngxuyên đi thăm giờ ăn của trẻ tôi hiểu được sự thích thú của trẻ khi ăn các món ăncó màu sắc đẹp, hiểu được cảm giác bữa ăn có hương vị lạ. Vì vậy tôi và các chịem tổ nuôi luôn tìm tòi cách chế biến món ăn cho trẻ theo đúng thực đơn theomùa và theo tuần và thường xuyên thay đổi cách chế biến của mình sao cho phùhợp với sở thích, và màu sắc mới lạ để giúp trẻ ăn ngon miệng. Vì vậy khi chếbiến cần tuân thủ theo các bước sau:Bước 1: Sơ chế sạch nguyên liệu thực phẩm.Khâu lựa chọn thực phẩm là khâu mở đầu cho quá trình chế biến thức ăn.Nếu ta lựa chọn thực phẩm không tốt và không rõ nguồn gốc thì không nhữngảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn mà còn rất dễ bị ngộ độc đối với người ăn. Vìvậy để đảm bảo tốt chất lượng bữa ăn chúng ta nên lựa chọn thực phẩm sạch từnhà cung cấp có uy tín và có giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Vềkhâu này nhà trường chúng tôi đã từ lâu tin dùng thực phẩm sạch nên tôi rất yêntâm trong việc chế biến các món ăn cho trẻ.Sau khi chọn thực phẩm xong ta bắt đầu sơ chế thức ăn: Loại bỏ những phầngià không ăn được và những phần gân, xơ có giá trị dinh dưỡng thấp. Phải rửasạch hoa quả khi còn tươi, phải rửa từng quả, củ bằng nước sạch và rửa nhiềunước dưới vòi nước sạch . Không ngâm thực phẩm quá lâu trong nước vì ngâmlâu sẽ làm giảm các giá trị dinh dưỡng có trong thực phẩm.
Xem thêm

40 Đọc thêm

Nghiên cứu tình hình thiếu máu nhẹ cân và các yếu tố liên quan ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi tại xã hương hồ thừa thiên huế

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THIẾU MÁU NHẸ CÂN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI XÃ HƯƠNG HỒ THỪA THIÊN HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀThiếu máu, nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi là tình trạng phổ biến ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Đây là tình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình thường của cơ thể không được đáp ứng đầy đủ.Suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển 7. Theo Tổ chức Y tế thế giới (91980), mỗi năm tại các nước đang phát triển có 10,4 triệu trẻ em dưới 11 tháng tuổi và 4,4 triệu trẻ em từ 14 tuổi chết, trong đó 57% là do suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng còn làm cho trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, chậm phát triển thể chất và tinh thần.Điều trị suy dinh dưỡng rất phức tạp và tốn kém trong khi đó phát hiện sớm suy dinh dưỡng và dự phòng có thể làm được nhờ biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu.Tại Việt Nam tỷ lệ suy dinh dưỡng đã giảm nhiều. Nếu tính từ năm 1985 (51,5%) đến năm 1995 (44,9%), mỗi năm giảm trung bình 0,66%. Kể từ năm 1995 khi nước ta bắt đầu kế hoạch quốc gia thì suy dinh dưỡng giảm xuống chỉ còn 36,7% (1999). Trung bình mỗi năm giảm 2%, là tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh. Năm 2000 theo số liệu thống kê, tỷ lệ trên chỉ còn 33,1%. Suy dinh dưỡng ở nước ta hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và vừa, thể nặng đã giảm hẳn (0,8%). Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta vẫn còn ở mức cao so với quy định của Tổ chức Y tế Thế giới.Vấn đề thiếu máu dinh dưỡng là một vấn đề bức xúc hiện nay. Về sức khoẻ cộng đồng, thiếu máu ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần, thể chất, khả năng lao động và có thể đe dọa đến tính mạng.Tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng trên thế giới theo De Maryer và cộng sự được chia theo vùng và các nhóm tuổi sau: Trẻ 0 4 tuổi có tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng ở Châu Phi là 56%, Châu Mỹ La Tinh là 26%, Nam Á là 56%, đông Á là 20%, đặc biệt các nước đang phát triển là 51%.Ở Việt Nam theo điều tra dịch tễ học năm 1995 của Viện dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai 52,7%, phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ là 40,2%, trẻ em trước tuổi đi học là 61,1% 20.Vẫn còn sự khác biệt về phân bố tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu máu giữa các vùng như giữa thành phố và nông thôn. Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở thành phố Hồ Chí Minh là 18,1%, thành phố Hà Nội 21%, đồng bằng Sông Cửu Long 32,2%, cao nhất là vùng Tây Nguyên 49,1% 4.Để xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi của xã Hương Hồ huyện Hương Trà Thừa Thiên Huế, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu tình hình thiếu máu nhẹ cân và các yếu tố liên quan ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi tại xã Hương Hồ Thừa Thiên Huế với hai mục tiêu sau:1. Tìm hiểu tình hình thiếu máu nhẹ cân ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi.2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng nhẹ cân và thiếu máu ở các trẻ này.
Xem thêm

47 Đọc thêm

Dinh dưỡng cho đối tượng trẻ từ 3 – 6 tuổi

DINH DƯỠNG CHO ĐỐI TƯỢNG TRẺ TỪ 3 – 6 TUỔI

LỜI MỞ ĐẦU4I. KHÁI NIỆM51. DINH DƯỠNG LÀ GÌ?52. CHẤT DINH DƯỠNG LÀ GÌ?5II. ĐẶC DIỂM SINH LÍ CỦA TRẺ TỪ 3 – 6 TUỔI5III. NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA TRẺ71. VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ.72. NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 3 ĐẾN 6 TUỔI7IV. MỘT SỐ LƯU Ý TRONG CUNG CẤP DINH DƯỠNG CHO TRẺ111. LƯU Ý TRONG CÁC BỮA ĂN TẠI NHÀ112. LƯU Ý VỀ THỨC ĂN TRƯA CHO TRẺ KHI ĐẾN TRƯỜNG12V. XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO TRẺ141. KHẨU PHẦN LÀ GÌ?142. CHẾ ĐỘ ĂN LÀ GÌ?143. THỰC ĐƠN LÀ GÌ?144.THẾ NÀO LÀ MỘT KHẨU PHẦN ĂN CÂN ĐỐI VÀ HỢP LÝ?145. NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG THỰC ĐƠN15VI. KẾT LUẬN18TÀI LIỆU THAM KHẢO :19 
Xem thêm

19 Đọc thêm

Cùng chủ đề