NGƯỜI DÂN VỚI NHÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGƯỜI DÂN VỚI NHÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ":

vai trò của chính phủ trong tiến trình xã hội hóa ngành giáo dục, y tế và định hướng, tính công bằng, khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế của người dân

VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG TIẾN TRÌNH XÃ HỘI HÓA NGÀNH GIÁO DỤC, Y TẾ VÀ ĐỊNH HƯỚNG, TÍNH CÔNG BẰNG, KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ GIÁO DỤC, Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN

Nhà nước cũng đã có những chính sách những khuyến khích nhất định dành cho các cơ sở thực hiện XHH, đặc biệt là chính sách không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm và dịch vụ của các cơ sở này. Ngoài ra, nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường quản lý các cơ sở hoạt động theo hình thức XHH, cũng như trợ giúp người nghèo để có thể tiếp cận tới các dịch vụ này. Tuy nhiên, hệ thống chính sách XHH mới chỉ nhấn mạnh việc huy động nguồn lực cho cung ứng dịch vụ công mà chưa đề cập rõ ràng và cụ thể tới việc thay đổi tương ứng vai trò quản lý của chính nhà nước trong quá trình XHH. Hệ thống chính sách XHH (các chính sách ở cấp độ hướng dẫn thực hiện) hiện tại chưa gắn liền với việc thay đổi vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ ở địa phương. Hệ quả của việc này là hệ thống chính sách XHH hiện tại có sự thiếu hụt trong các quy định và cơ chế kiểm soát cụ thể về quản lý nhà nước (nhất là quản lý chất lượng dịch vụ) đối với các cơ sở XHH, và sự thiếu cụ thể trong chính sách kiểm soát tài chính nhằm tránh lạm dụng XHH. Kết quả phỏng vấn và khảo sát ở các tỉnh cho thấy chủ trương và các chính sách xã hội hóa trong giáo dục và y tế được các cấp quản lý địa phương đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ. Tuy nhiên các, các địa phương có điều kiện kinh tế chậm phát triển gặp nhiều khó khăn hơn trong việc XHH giáo dục và y tế do hạn chế cả về nguồn cung (nhà đầu tư) và nhu cầu (mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân). Với dịch vụ giáo dục, trên phương diện quản lý nhà nước ở địa phương, việc triển khai chính sách XHH chưa gắn liền với vai trò quản lý nhà nước tương ứng như vai trò định hướng, điều tiết, và giám sát. Điều này là một trong những nguyên nhân làm cho XHH chưa được phát triển toàn diện giữa các vùng, chưa đảm bảo chất lượng dịch vụ cung ứng, và thậm chí bị lạm dụng đối với một số khoản thu. Khi những hạn chế này xảy ra thì người nghèo chính là đối tượng bị thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất. Thực tiễn khảo sát hoạt động của một số cơ sở giáo dục cũng cho thấy người nghèo đang bị thiệt trên một số lĩnh vực. Thứ nhất, chính sách giảm học phí cho người nghèo trên thực tế hiện chỉ áp dụng ở các trường công lập. Trong khi đó, rất nhiều học sinh nghèo lại không thể thi vào được trường công lập (kể từ cấp phổ thông trung học trở lên), mà chỉ có thể vào học ở trường dân lập. Vì vậy, họ đã không được hưởng chính sách trên. Trong khi đó, kết quả dạy và học ở các trường dân lập lại thấp hơn ở trường công lập. Kết quả khảo sát các hộ gia đình cũng chỉ rõ người nghèo đang chịu rào cản lớn hơn về học phí và phụ phí nếu so với 5 năm trước. Như vậy, cùng với việc triển khai XHH thì người nghèo đang gặp khó khăn lớn hơn về chi phí cho giáo dục. Tuy nhiên, người nghèo cũng đang được hưởng những cải thiện về chất lượng tổng thể của giáo dục từ XHH. Với dịch vụ y tế, XHH đã mang lại những tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người dân. Tác động lớn nhất là đã huy động vốn đầu tư mở rộng nguồn cung ứng các dịch vụ y tế, đa dạng hóa loại hình dịch vụ y tế, và tạo sức ép cạnh tranh nhất định, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng các dịch vụ này. Người nghèo được hưởng lợi gián tiếp từ việc các cơ sở XHH làm giảm tải cho bệnh viện công và tạo sức ép nhất định tới việc tăng chất lượng khám chữa bệnh ở bệnh viện công. Tuy nhiên, các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân chủ yếu mới đang cung cấp các dịch vụ ít rủi ro và có lợi nhuận cao, sử dụng các thiết bị hiện đại. Dịch vụ điều trị hoặc chữa bệnh phức tạp vẫn do các bệnh viện công cung cấp. Khác với các cơ sở XHH trong giáo dục (cụ thể là trường dân lập), các cơ sở XHH y tế (khám dịch vụ trong bệnh viện công và phòng khámbệnh viện tư) trực tiếp phục vụ người có khả năng chi trả. Như vậy, người nghèo không phải là đối tượng phục vụ của các cơ sở này. Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân có tiến hành đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất. Tuy nhiên, về nguồn nhân lực chất lượng cao thì các cơ sở này chủ yếu đang tìm cách thu hút từ các cơ sở công. Các bệnh viện công có nhận thấy vấn đề chảy máu chất xám, song chưa có biện pháp đối phó hữu hiệu.Từ những phát hiện đó, các khuyến nghị chính cho việc hạn chế các tác động tiêu cực của XHH được nhóm nghiên cứu đề xuất bao gồm: Với dịch vụ giáo dục (i) nên coi XHH giáo dục là gắn liền với việc chuyển đổi vai trò quản lý của nhà nước từ việc trực tiếp cung cấp dịch vụ sang việc quản lý vĩ mô, nâng cao vai trò dự báo, lên kế hoạch, quy hoạch, điều tiết sự phát triển giữa các vùng, và kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ sở thuộc sở hữu khác nhau; (ii) các địa phương cần có quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở giáo dục ở các vùng khác nhau, từ đó tính toán và có chính sách khuyến khích để các vùng sâu vùng xa vẫn có cơ sở giáo dục, giảm rào cản về khoảng cách cho họ. Trong một số trường hợp, nhà nước có thể dành tiền đầu tư các trường công nhiều hơn cho vùng sâu vùng xa vì ở các vùng đông dân các cơ sở dân lập và tư thục sẽ ngày càng phát triển và bổ sung khá lớn về nguồn cung dịch vụ; (iii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát, kiểm định chất lượng, đặc biệt là việc thực hiện các chính sách học phí và phụ phí, tránh tình trạng lạm dụng chính sách XHH. Với dịch vụ y tế (i) tăng cường chức năng quản lý vĩ mô như quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát của nhà nước; (ii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhằm hạn chế hiện tượng lạm dụng XHH để tăng chi phí khám chữa bệnh tại các bệnh viện công; và (iii) đảm bảo nguyên tắc trong việc xác định hộ nghèo tránh tình trạng các chính sách hỗ trợ người nghèo không hướng đúng vào nhóm đối tượng cần thụ hưởng
Xem thêm

32 Đọc thêm

Đề tài: Cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam 

ĐỀ TÀI: CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM 

    Sự chuyển đổi nền kinh tế đã đem lại những thành tựu đáng kể trong mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều đổi mới và tiến bộ, phục vụ nhu cầu phòng bệnh và khám chữa bệnh của đại đa số nhân dân, từng bước khống chế và thanh toán các dịch bệnh, kể cả các dịch bệnh nguy hiểm. Hầu hết các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản đã đạt và vượt so với mục tiêu quốc gia trong giai đoạn. Những thành công trong lĩnh vực y tế và giáo dục đã góp phần làm tăng nhanh chỉ số phát triển con người của quốc gia, thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực y tế được đánh giá tốt hơn hẳn những nước khác có mức độ phát triển tương tự.    Chuyển sang một nền kinh tế thị trường từ một hệ thống y tế bao cấp, y tế Việt Nam đang gặp phải những thách thức rất lớn. Đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân luôn là một vấn đề lớn của tất cả các nước đang phát triển và cả các nước phát triển. Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã xác định: Thách thức của ngành Y tế là phải đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao. Đảm bảo công bằng về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và giữ được bản chất nhân đạo của chế độ trong điều kiện nền kinh tế thị trường vừa là một vấn đề cấp bách, vừa là một chính sách lâu dài.
Xem thêm

23 Đọc thêm

KHẢO SÁT NHU CẦU LỰA CHỌN DỊCH VỤ DƯỢC CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN CẦU GIẤY VÀ HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI

KHẢO SÁT NHU CẦU LỰA CHỌN DỊCH VỤ DƯỢC CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN CẦU GIẤY VÀ HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI

PHẦN I ỉ ĐẬT VẤN ĐỂ
8
Thuốc là một trong những nhu cầu tất yếu của cuộc sống con người, là một
thành phần cơ bản để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) và
triển khai các dịch vụ y tế. Chính vì vậy mà mục tiêu của Chính sách thuốc
quốc gía (CSTQG) của ngành Dược Việt Nam(2061996) là Bảo đảm cung
ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân.
Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nưóc trong những năm gần đây,
nhiều thành phần kinh tế được khuyên khích cùng tham gia vào hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng thuốc, tạo ra sức bật mới cho ngành Dược
Việt Nam với một thị trường thuốc phong phú, cơ bản đáp ứng nhu cầu thuốc
cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, giải quyết được tình
trạng khan hiếm thuốc của thời kỳ bao cấp. Bên cạnh đó, Bộ Y tê đã ban hành
Pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân nhằm huy động nhiều nguồn lực tham
gia dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ Dược bao gồm hệ thống hành nghề Dược
tư nhân cùng các doanh nghiệp Nhà nước và các công ty dược nước ngoài. Sự
phong phú của các loại hình dịch vụ Dược đặt ra yêu cầu nghiên cứu các ưu
nhược điểm của chúng cũng như đánh giá sự lựa chọn củavcộng đồng đối với
từng loại hình. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài:
Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ Dược của người dân quận Cầu
Giấy và huyện Từ Liêm Hà Nội” nhằm các mục tiêu sau:
Xác định các loại hình dịch vụ Dược được người dân lựa chọn trên địa bàn
nghiên cứu.
Xác định các yếu tố thúc đẩy người dân lựa chọn các loại hình dịch vụ
Dược.
Đánh giá, so sánh các ưu nhược điểm của từng loại hình và trên cơ sở đó
có những kiến nghị và đề xuất nhằm mục đích hoàn thiện mạng lưới cung ứng
thuốc cho cộng đồng.
1
Xem thêm

64 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG BỆNH NHÂN 2015

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG BỆNH NHÂN 2015

Đề cương nghiên cứuNghiên cứu sự hài lòng của người bệnh tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh năm 2015ĐẶT VẤN ĐỀMôi trường hoạt động của bệnh viện trong những năm gần đây đã có nhiều thayđổi, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, nhu cầu của mỗi bệnh nhân cũng thay đổi.Yêu cầu của mỗi bệnh nhân hiện nay không chỉ có chữa đúng, chữa đủ và chữa khỏi màcòn là thái độ tiếp đón, hướng dẫn, chăm sóc của nhân viên y tế, và cả những yếu tố vềvệ sinh dinh dưỡng trong mỗi bệnh viện. Với chính sách mở cửa của Nhà nước ta hiệnnay, sự cạnh tranh giữa y tế tư nhân và y tế nhà nước, sự cạnh tranh giữa các bệnh việntrong mỗi khu vực là yếu tố thúc đẩy phát triển cho ngành y tế Việt Nam nói chung vàQuảng Trị nói riêng.Theo Tổ chức y tế thế giới, chất lượng dịch vụ y tế tác động đến sự hài lòng củabệnh nhân và ngược lại sự hài lòng của bệnh nhân có thể đánh giá được hiệu quả củadịch vụ do bệnh viện và ngành y tế cung cấp. Cho nên bệnh nhân chính là đối tượngtrực tiếp xác định việc đánh giá uy tín chất lượng phục vụ dịch vụ ở bệnh viện, trong đómột phần quan trọng là đánh giá tinh thần, thái độ, trách nhiệm phục vụ của nhân viên ytế[1]. Hàng năm, khi tiến hành kiểm tra các bệnh viện, Bộ Y tế cũng xác định chính sựkhảo sát sự hài lòng của bệnh nhân điều trị nội trú sẽ giúp bệnh viện cải tiến phươngthức phục vụ và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tuy nhiên, hệ thống y tế hiệnnay vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến sự thiếu hài lòng của bệnh nhân vẫn còn cao, nhiều ýkiến than phiền của thái độ phục vụ của nhân viên y tế bệnh viện công, trong khi với cơchế tự chủ về tài chính, bệnh nhân đang đóng vai trò quan trọng đối với nguồn thu củabệnh viện. [2]. Vậy làm thế nào để bệnh nhân ngày càng hài lòng hơn đối với bệnhviện? Vấn đề này là một thách thức đối với nhiều nhà quản lý bệnh viện hiện nay.Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành y tế Việt Nam đã vàđang mang lại cho bệnh nhân cơ hội được hưởng những thành tựu phát triển của ngành yhọc trên thế giới và trong nước. Tuy nhiên chất lượng chăm sóc không chỉ phụ thuộc vàomáy móc, trang thiết bị mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nhưkiến thức, kỹ năng tay nghề, tính hợp lý của quy trình chăm sóc cũng như tinh thần thái độcủa cán bộ y tế. Trong giai đoạn hiện nay vẫn còn một bộ phận cán bộ chưa tuân thủ
Xem thêm

26 Đọc thêm

CÁC PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ

CÁC PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ

HỐI PHIẾU TRANG 5 QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN ĐẾN HỐI PHIẾU  NGƯỜI KÝ PHÁT HỐI PHIẾU DRAWER:  Là người lập hối phiếu, người bán, nhà xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ [r]

39 Đọc thêm

Nên có kế hoạch phòng bệnh cho con

NÊN CÓ KẾ HOẠCH PHÒNG BỆNH CHO CON

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} TS Trần Đắc Phu - Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, nguyên nhân vaccine bị thiếu là do người dân trước đây chưa chủ động đi tiêm ngừa dịch vụ, nay “bỗng nhiên” đổ xô đi tiêm ngừa nên các công ty nhập khẩu vaccine bị động. Được biết, vaccine ngừa thủy đậu không nằm trong danh sách 11 vaccine được tiêm miễn phí cho trẻ mà chỉ tiêm dịch vụ. Việt Nam cũng chưa sản xuất được vaccine ngừa chủng đậu mà phải nhập khẩu. Hiện nay, phổ biến tại các cơ sở tiêm dịch vụ là vaccine Pháp, Bỉ với giá khoảng 800.000 đồng/liều (2 mũi). Do mức giá cao nên từ trước đến nay, người dân ít tiêm dịch vụ vaccine ngừa thủy đậu. Các công ty nhập khẩu cũng nhập dè dặt vì sợ không bán được hàng. Khi dịch bùng lên thì người dân lại đổ xô đi tiêm ngừa, do đó, dẫn đến “cháy” vaccine ngừa thủy đậu tại nhiều tỉnh.   Nhiều tỉnh, thành “cháy” vaccine thủy đậu do người dân đổ xô đi tiêm phòng. Hiện nay, Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) đã có công văn, yêu cầu Công ty TNHH MTV Vaccine và Sinh phẩm số 1 nhập khẩu gần 78.000 liều Varicella Vaccine - GCC đáp ứng nhu cầu phòng bệnh thủy đậu. Đồng thời, Cục Quản lý dược cũng yêu cầu các tỉnh, thành phố chủ động lập dự trù để đảm bảo nhập đủ vaccine, tránh trường hợp thiếu vaccine, tăng giá hoặc bệnh thủy đậu bùng phát. TS Phu cho biết, vaccine thủy đậu có thể tiêm cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên, kể cả người trưởng thành chưa mắc bệnh. Cần tiêm 2 mũi mới ngừa bệnh được tốt nhất. Tuy nhiên, TS Phu cũng khẳng định, người nào đã mắc bệnh thủy đậu thì sẽ có miễn dịch cả đời. Vì thế, người dân nên nhận biết rõ con mình đã bị thủy đậu hay chưa để tiêm phòng. Nếu bị bệnh thì không cần tiêm phòng nữa.
Xem thêm

1 Đọc thêm

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BỆNH VIỆN THIỆN TÂM

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BỆNH VIỆN THIỆN TÂM

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BỆNH VIỆN THIỆN TÂM
Đem lại quyền lợi cho người dân trong khu vực thông qua việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh ngay tại địa bàn, giảm bớt chi phí đi lại không nên có của người bệnh, đảm bảo quyền lựa chọn, tiếp cận với dịch vụ y tế nhanh chóng kịp thời.

33 Đọc thêm

CÁC NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÍ DỊCH VỤ Y TẾ

CÁC NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÍ DỊCH VỤ Y TẾ

I.ĐẶT VẤN ĐỀDịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động thực hiện bởi nhân viên y tế (khám, chữa bệnh) để phục vụ người bệnh và gia đình. Cung cấp dịch vụ y tế là cấu phần đầu tiên trong 6 cấu phần của hệ thống y tế Việt Nam, là chức năng chủ yếu của hệ thống y tế. Cung ứng dịch vụ y tế là lĩnh vực sử dụng nhiều nguồn lực nhất, chiếm tới 75,98% tổng chi của toàn xã hội cho y tế.1Tất cả các hợp phần đầu vào của hệ thống y tế, như nhân lực, tài chính, thông tin, dược và trang thiết bị, công nghệ, quản trị, đều được sử dụng để cung ứng dịch vụ y tế tốt nhất, nhằm thực hiện mục tiêu của cả hệ thống y tế là nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội. Theo Tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ y tế tốt là dịch vụ có hiệu lực, an toàn, có chất lượng, được cung cấp cho những người cần sử dụng tại thời điểm và nơi hợp lý, giảm thiểu chi phí nguồn lực.2Một dịch vụ y tế tốt là dịch vụ y tế đáp ứng được 9 nguyên tắc cung cấp:1.Toàn diệnđầy đủ2.Độ bao phủ3.Sự chấp nhận được4.Tính liên tục5.Chất lượng6.Công bằng7.Hiệu lực8.Hiệu quả9.An toànHiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kéo theo là những thay đổi về dân cư, kinh tế, xã hội. Chính những sự thay đổi này đã đặt những áp lực nhất định nên hệ thống y tế nói chung và việc cung cấp dịch vụ y tế nói riêng. Tăng trưởng kinh tế đã đem lại những cơ hội to lớn cho sự phát triển của hệ thống y tế những lại làm gia tăng khoảng cách giữa nhóm khá giả và nhóm người nghèo thành thị và nông thôn. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng làm thsasy đổi cơ cấu bệnh tật… Dân cư gia tăng khiến nhu cầu cần được cung cấp dịch vu y tế gia tăng trong khi nguồn lực y tế có hạn, dẫn đến tình trạng quá tải bệnh viện và những sai sót trong quá trình điều trị, dự phòng. Tất cả những điều này ảnh hưởng đến những nguyên tắc cần có của việc cung cấp một dịch vụ y tế tốt.Tại Việt Nam, nhìn chung việc cung cấp dịch vụ y tế đã đảm bảo được các nguyên tắc cần thiết, góp phần tạo điều kiện cho người dân nâng cao sức khỏe. Tuy nhiên, cung cấp dịch vụ y tế vẫn có những hạn chế, chẳng hạn như độ bao phủ chưa cao, chất lượng kém, vẫn còn tình trạng bất công bằng khi tiếp cận với dịch vụ y tế hay như dịch vụ chưa đạt hiệu quả và chưa an toàn. Như vậy, một số biện pháp để cải thiện việc cung cấp dịch vụ y tế là rất cần thiết. II.BÀN LUẬN CÁC NGUYÊN TẮC1.Tính toàn diện đầy đủHệ thống y tếcần cung cấp đầy đủ các dịch vụ y tế phù hợp với nhu cầu của đối tượng đích. Những dịch vụ này bao gồm: phòng bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng (PHCN), và các hoạt động cải thiện sức khoẻ. Tính sẵn có là một khía cạnh của tính toàn diệnđầy đủ muốn nói tới sự tồn tại của các dịch vụ thoả mãn tiêu chuẩn tối thiểu. 3a.Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnhTrong những năm gần đây, mạng lưới KCB (KCB) từ tuyến cơ sở đến trung ương, cả công lập và ngoài công lập được mở rộng và củng cố, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Nhờ nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và vốn xã hội hóa mà các cơ sở KCB được củng cố về cơ sở hạ tầng, đào tạo cán bộ, đầu tư trang thiết bị để cung cấp dịch vụ KCB đa dạng và chất lượng hơn. Nhờ đó mà nhiều kĩ thuật tiên tiến đã được triển khai, như ghép thận, ghép giác mạc, ghép tế bào gốc, ghép gan, phẩu thuật nội soi. Đến hết năm 2009, số giường bệnh viện đến năm 2010 đạt mức 20,5 giường bệnh 10000 dân (không tính giường ở TYT xã), tương đương với mức trung bình của các nước trong khu vực. Sau một năm rưỡi thực hiện đề án 1816, đã giảm được trung bình 30% tình hình quá tải bệnh viện tuyến trên. 4
Xem thêm

40 Đọc thêm

Thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã thuộc huyện Đak Tô tỉnh KonTum (FULL TEXT)

THANH TOÁN CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ THEO ĐỊNH SUẤT TẠI MỘT SỐ TRẠM Y TẾ XÃ THUỘC HUYỆN ĐAK TÔ TỈNH KONTUM (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ
Phương thức thanh toán (PTTT) là một trong năm thành phần quan trọng
(Tài chính, PTTT, Cung ứng dịch vụ, Công cụ quản lý của Nhà nước và Tuyên
truyền thay đổi hành vi) nhằm nâng cao hiệu quả và tính công bằng của hệ
thống y tế [82]. PTTT có vai trò kết nối giữa 2 thành phần là tài chính y tế và
cung ứng dịch vụ y tế (DVYT), với nhiệm vụ chủ chốt là kiểm soát chi phí và chất
lượng dịch vụ bằng việc tạo ra các cơ chế khuyến khích phù hợp [98].
Tại Việt Nam, một vấn đề quan trọng đối với cơ chế tài chính tại các cơ sở
cung ứng DVYT là PTTT và cho đến hiện nay thanh toán theo dịch vụ vẫn là PTTT
chủ yếu được áp dụng chung đối với DVYT nói chung cũng như đối với dịch vụ
khám chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) nói riêng. Với PTTT này, việc kiểm
soát chi phí là vô cùng khó khăn do bản chất của PTTT theo dịch vụ là khuyến
khích cơ sở cung ứng càng nhiều dịch vụ càng có lợi, nhất là trong bối cảnh các cơ
sở y tế đang thực hiện tự chủ như hiện nay [23]. Các cơ sở KCB được thanh toán
chi phí cho dịch vụ mà họ cung cấp, do đó, càng lên tuyến trên kinh phí mà các cơ
sở y tế được thanh toán càng lớn vì nó tỷ lệ thuận với dịch vụ được cung cấp chứ
không tính đến nhu cầu KCB của người bệnh. Từ đó dẫn đến xu hướng lạm dụng
DVYT và gây nên tình trạng lạm chi quỹ BHYT. Trong bối cảnh đó, PTTT theo
định suất, một PTTT mới và tiên tiến, lần đầu tiên được đưa vào Luật BHYT do
Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 [10].
Luật BHYT quy định 3 phương thức cơ bản thanh toán chi phí KCB BHYT
là thanh toán theo định suất, thanh toán theo dịch vụ và thanh toán theo trường hợp
bệnh [39]. Liên Bộ Y tế và Bộ Tài chính xác định lộ trình áp dụng thanh toán theo
định suất là đến năm 2015 tất cả cơ sở y tế đăng ký KCB ban đầu tại địa phương
thực hiện PTTT theo định suất [21]. Trạm y tế (TYT) tuyến xã là một trong những
cơ sở y tế đăng ký KCB ban đầu chính ở địa phương. Trên thế giới, PTTT chăm sóc
sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) tiên tiến nhất và ưu việt nhất hiện nay là PTTT theo
định suất, bởi vì phương thức này hướng hoạt động chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho
người dân tới các hoạt động y tế dự phòng (YTDP), nâng cao sức khỏe và quản lý
các bệnh mạn tính tại cộng đồng [74]. 2
Mặc dù Luật BHYT đã xác định thanh toán theo định suất là một phương
thức cơ bản, nhưng việc hoàn thiện cơ chế này cần có thời gian để xác định cụ thể
nguyên tắc, điều kiện và phạm vi áp dụng trên cơ sở các luận chứng khoa học và
thực tiễn. Năm 2011, có 786/1.951 cơ sở KCB ban đầu tại 59/63 tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương áp dụng thanh toán theo định suất, đạt tỷ lệ 40,3% [23]. Tuy
nhiên, hầu hết các cơ sở y tế nói trên đều thuộc tuyến huyện, có một số đơn vị thuộc
tuyến tỉnh và trung ương [4], [13]. Trong khi đó, theo quy định của Luật BHYT và
các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật, PTTT theo định suất được dùng để áp dụng
cho tuyến huyện và xã [21], [28], [39].
PTTT theo định suất hiện đang áp dụng tại Việt Nam còn nhiều điểm bất
cập về cả thiết kế cũng như triển khai thực hiện và tác động. Thiết kế thanh toán
theo định suất của Việt Nam có nhiều điểm không phù hợp với nguyên tắc của
thiết kế định suất nói chung cũng như thực tiễn triển khai định suất thành công
trên thế giới. Theo đó, nguyên tắc của thiết kế thanh toán theo định suất chủ yếu
sử dụng cho điều trị ngoại trú và CSSKBĐ, hay nói cách khác, chủ yếu là hoạt
động dự phòng sức khỏe tại cộng đồng. Trong khi đó, thiết kế định suất tại Việt
Nam bao gồm cả cho điều trị nội trú, không bao gồm CSSKBĐ và điều này sẽ làm
nảy sinh nhiều hệ quả bất cập [68].
Nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cập nhật phục vụ cho việc xây dựng và
hoàn thiện PTTT chi phí KCB BHYT theo định suất tại trạm y tế tuyến xã để có thể
áp dụng ở phạm vi lớn hơn, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thanh toán chi
phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã thuộc
huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum”.
Đây là nghiên cứu về PTTT chi phí KCB BHYT theo định suất tại TYT
tuyến xã được hoàn thành trước năm 2015, thời điểm mà tất cả các cơ sở y tế đăng
ký KCB ban đầu tại địa phương thực hiện PTTT theo định suất theo quy định của
liên Bộ Y tế và Bộ Tài chính. Các kết quả của nghiên cứu được hy vọng có thể đóng
góp nhất định đối với việc điều chỉnh và triển khai thực hiện Luật BHYT nói chung
và thực hiện PTTT theo định suất tại tuyến xã nói riêng.
Xem thêm

266 Đọc thêm

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CUNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH EMS TRONG NƯỚC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHUYỂN PHÁT NHANH BƯU ĐIỆN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CUNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH EMS TRONG NƯỚC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHUYỂN PHÁT NHANH BƯU ĐIỆN

Biện pháp quản lý cung dịch vụ chuyển phát nhanh EMS trong nước của công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu Điện.Biện pháp quản lý cung dịch vụ chuyển phát nhanh EMS trong nước của công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu Điện.Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực là xu hướng của nền kinh tế hiện nay, vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế trong đó có ngành Bưu chính Viễn thông. Hơn nữa, việc chia tách Bưu chính và Viễn thông đòi hỏi các doanh nghiệp Bưu chính phải hết sức năng động trong quản lý cũng như trong sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước ngành Bưu chính Viễn thông đã có những bước phát triển đáng kể về số lượng, chất lượng và phạm vi thông tin. Bên cạnh đó ngành Bưu chính cũng có những bước phát triển mạnh mẽ trong việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng về các dịch vụ Bưu chính theo định hướng tốc độ, tiêu chuẩn và tin học hóa. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong nước đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao. Chính vì thế, nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ luôn được nhiều người lựa chọn hơn nhưng đồng nghĩa với đó thì việc yêu cầu trong chất lượng dịch cung ứng dịch vụ cho khác hàng ngày càng khắt khe hơn trước. Trước những thay đổi nhu cầu đó thì các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành dịch vụ muốn tồn tại và phát triển vững mạnh trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt này thì đòi hỏi những doanh nghiệp này cần phải các biện pháp quản lý cung dịch vụ hợp lý, khoa học nhằm đáp ứng tối đa các nguyện vọng của khác hàng. Từ vấn đề thực tế và cấp thiết về quản lý cung dịch vụ nên nhóm quyết định tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “ Biện pháp quản lý cung dịch vụ chuyển phát nhanh EMS trong nước của công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu Điện” với mục địch hiểu rõ hơn kiến thức trên lớp và các biện pháp quản lý cung dịch vụ tại doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng.CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CUNG DỊCH VỤ.1.1Khái niệm và đặc điểm quá trình cung ứng dịch vụ.1.1.1Khái niệm cung ứng dịch vụ.Cung dịch vụ là sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau cho khách hàng trong một thời gian và không gian nhất định.1.1.2Đặc điểm quá trình cung ứng dịch vụ. Cung ứng dịch vụ thường được thực hiện bởi các nhà sản xuất ra sản phẩm dịch vụ độc lập và mang tính cạnh tranh cao. Chính các nhà sản xuát sản phẩm dịch vụ cung ứng sản phẩm của mình. Đặc điểm này của cung ứng dịch vụ khác với cung ứng hàng hóa vì cung ứng hàng hóa có thể được thực hiện thông qua các môi giới trung gian. Quá trình cung ứng gồm nhiều công đoạn, bắt đầu từ việc khám phá ra nhu cầu dịch vụ trên thị trường đến khi khách hàng kết thúc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Mỗi loại sản phẩm dịch vụ có những đặc thù riêng, vì vậy quá trình cung ứng dịch vụ rất phức tạp, mỗi loại dịch vụ có độ dài thời gian cung ứng khác nhau. Cung dịch vụ thường có khả năng hữu hạn. Sự hữu hạn về các nguồn lực tự nhiên, công nghệ, nhân lực.. làm hạn chế khả năng cung dịch vụ, từ đó có thể tạo ra tính thời vụ
Xem thêm

33 Đọc thêm

Thực tập thực tế tại trạm y tế xã an ninh huyện tiền hải tỉnh thái bình

THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI TRẠM Y TẾ XÃ AN NINH HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH

LỜI MỞ ĐẦU Trạm y tế xã An Ninh huyện Tiền Hải Tỉnh Thái Bình là 1 tổ chức y tế cơ sở thuộc mô hình quản lý khám chữa bệnh và cập phát thuốc cho người dân trong xã, là nơi tiếp xúc đầu tiên của nhân dân trong việc khám và điều trị. Trạm được xây dựng từ năm 1987 nằm ngay Trung tâm xã với diện tích gần 2500m 2 gần 2 dãy nhà ngang đối diện nhau và một dãy nhà giữa với 11 phòng và 10 giường bệnh. Cùng các trang thiết bị kỹ thuật đầy đủ các phòng đều có đủ điều kiện ánh sáng. Trạm có các công trình vệ sinh sạch sẽ. Ngoài ra Trạm y tế còn có một khuôn viên trước cửa Trạm và một vườn thuốc nam với nhiều cây thuốc để phục vụ trong công tác chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Đây là bản báo cáo thực tế tại Trạm trong một tháng qua. Nó sẽ là cơ sở bước đầu quan trọng của người Dược sỹ khi bước chân vào nghiệp Dược. Bản báo cáo gồm 7 phần: Phần I: Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của Trạm, tổ chức bộ máy của Trạm y tế xã An Ninh. Phần II: Tìm hiểu mô hình bệnh tật và thực tế tình hình sử dụng thuốc của người dân trong xã. Phần III: Tham gia các chương trình y tế quốc gia tại cơ sở và các hoạt động TT – GDSK. Những thành tích, kế hoạch đề ra cho năm sau. Phần IV: Tham gia công tác Dược tại Trạm y tế. Lập kế hoạch cung ứng thuốc. Phần V: Vườn thuốc nam tại trạm. Bảng danh mục các cây thuốc Phần VI: Biểu mẫu, báo cáo rổ sách và hồ sơ quản lý sức khoẻ tại Trạm y tế. Phần VII: Lời kết Trong quá trình soạn thảo báo cáo có gì sai sót. Em rất mong được các thầy, cô giáo đánh giá, góp và bổ sung thêm kiến thức mà em còn thiếu Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

36 Đọc thêm

Nghiên cứu sự hài lòng đối với công việc của nhân viên trạm y tế quận Hà Đông và huyện Thanh Oai, Hà Nội – năm 2009

NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TRẠM Y TẾ QUẬN HÀ ĐÔNG VÀ HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI – NĂM 2009

I.
Đ
ẶT VẤN ĐỀ

S
ự hài lòng đối với công việc đề cập đến “suy nghĩ và cảm nhận của nhân viên về
môi trư
ờng và điều kiện làm việc của mình”
[
36]
. S
ự hài lòng bao gồm cả thái độ tích cực
và tiêu c
ực đối với công việc. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng sự hài lòng
của nhân viên đối với công việc là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu
suất công việc [
26]
, [27], [32], [36].
Sự hài lòng đối với công

vi
ệc của nhân viên y tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì
công việc chăm sóc sức khỏe là công việc nhạy cảm liên quan đến tính mạng của con người.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa sự hài lòng đối với công việc
của nhân viên y tế và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Khi nhân viên y tế hài lòng với
công việc, chất lượng các dịch vụ y tế sẽ được nâng lên một cách đáng kể [27], [23].

Ngày nay, cùng v
ới sự phát triển của kinh tế, xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe
của người dân ngày càng cao. Người dân ngày càng yêu cầu các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe có chất lượng tốt hơn. Để đáp ứng những nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân,
phát triển nguồn nhân lực y tế đầy đủ về số lượng và có chất lượng là rất cần thiết. Những
nghiê
n c
ứu tr
ê
n th
ế giới đó chỉ ra rằng sự hài l
ò
ng đ
ối với công việc của nhân viên y tế sẽ
đảm bảo duy tr
ì
đ
ủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế tại các cơ sở y
tế [24], [30].

Tuy v
ậy, hiện đang có một sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực y tế ở quy

toàn c
ầu[39], cũng như ở các quốc gia khu vực ch
â
u Á - Thái Bì
nh Dương[32]. Vi
ệt Nam
c
ũng đang đương đầu với những vấn đề về nguồn nhân lực, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn
nhân l
ực y tế cũng như mất cân đối giữa các chuyên ngành và phân bố giữa các vùng miền
[34].

H
ệ thống y tế công lập ở Việt nam được tổ chức theo 4 tuyến: tuyến trung ương,
tuy
ến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã. Tuyến y tế xã bao gồm các trạm y tế xã có trách
nhiệm cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế ban đầu, bao gồm các dịch vụ phòng bệnh,
khám ch
ữa bệnh thông thường và chuyển các bệnh nhân nặng lên tuyến trên. Đây là các cơ
s
ở y tế gần dân nhất; giải quyết 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ; là nơi thể hiện rõ
nh
ất sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe[14]. Hiện tại, các nhân viên y tế tuyến cơ sở còn g
ặp rất nhiều khó khăn về điều kiện làm việc, trang thiết bị y tế, cơ hội được đào tạo,
mức lương, thưởng rất thấp. Việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở được coi là một trong các
nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Bộ Y tế nhằm mục tiêu phát triển được các nhân viên y
t
ế có trình độ chuyên môn và lòng yêu nghề. Đây ch
í
nh là m
ột trong c
á
c gi
ải pháp để
ngành y t
ế Việt Nam đạt được mục tiêu thiên niên kỷ [3].

Ở Việt Nam, ch
ưa có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của nhân
viên y tế, đặc biệt là nhân viên đang công tác tại tuyến y tế cơ sở. Việc có được các bằng
ch
ứng khoa học về mức độ hài lòng của nhân viên y tế tuyến cơ sở và các yếu tố ảnh
hưởng là hết sức cần thiết đối với cán bộ quản lý y tế từ địa phương cho tới trung ương.
Các bằng chứng này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng được các chiến lược
phát triển nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam.

Vì các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “
S
ự hài lòng đ ối với công việc
của nhân viên trạm y tế quận Hà Đông và huyện Thanh Oai, Hà Nội

năm 2009
” với
các mục tiêu sau:

1.
Mô tả mức độ hài lòng đối với công việc của nhân viên trạm y tế quận Hà
Đông và huyện Thanh Oai, Hà Nội

năm
2009.


2.

Xác đ
ịnh một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của các nhân viên trạm y tế
nêu trên.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Đề tài: Thực trạng cung ứng dịch vụ giáo dục tại Singapore 

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC TẠI SINGAPORE 

    Các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển theo các hình thức và giai đoạn với các thể chế chính trị khác nhau. Nhưng tất cả các nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý hay cai trị và chức năng phụ vụ ở từng mức độ khác nhau, hai chức năng này thể hiện mối quan hệ biện chứng mà nhà nước phải thực hiện nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Về mặt chức năng phụ vụ xã hội, nhà nước phụ vụ công dân của mình trên các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội đáp ứng một cách tối ưu nhất nhu cầu của người dân. Một hoạt động trong những hoạt động trong chức phụ vụ của nhà nước mà chúng ta có thể thấy rõ đó là hoạt động cung cấp dịch vụ công của nhà nước cho công dân.     Cung cấp dịch vụ công phụ vụ nhu cầu chung của người dân là tất yếu khách quan và rất cần thiết trong xu thế hiện nay là nhà nước chuyển dần từ cai trị sang phụ vụ. Việc cung ứng và cải cách dịch vụ công hướng tới nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công dân và xã hội là vấn đề mà được các quốc gia trên thế giới đang quan tâm hiện nay. Với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vì con người, vai trò và trách nhiệm của nhà nước trong việc tổ chức cung ứng các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng các yêu cầu cơ bản thiết yếu của công dân và tổ chức trong xã hội, bảo đảm trật tự và công bằng xã hội ngày càng được đề cao.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Đề tài: Cung ứng dịch vụ văn hóa ở Việt Nam 

ĐỀ TÀI: CUNG ỨNG DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở VIỆT NAM 

    Cung ứng dich vụ công là một chức năng quan trọng của Nhà Nước trong xã hội hiện đại, nhất là khi các Nhà Nước đang cải cách theo hướng gần dân hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nhân dân. Một yêu cầu bức xúc đặt ra của nhiều nước trên thế giới hiện nay là làm rõ vai trò của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công, từ đó xác định những nhiệm vụ nào chỉ có thể do Nhà Nước tự đảm nhận và những dịch vụ nào có thể thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân.    Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công đã và đang là một chủ đề được nhiều chính phủ trên thế giới quan tâm. Ở nước ta cải cách hành chính được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các nội dung của cuộc cải cách hành chính nhằm hướng vào xây dựng một nền hành chính trong sạch vững mạnh, từng bước hiện đại hóa nhằm phục vụ những lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ của người dân. Thông qua cải cách hành chính, nhà nước từng bước nâng cao chất lượng cung ứng dich vụ công cho nhân dân.
Xem thêm

24 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

Thông qua việc khảo sát mức độ hài lòng của người dân, khảo sát thủ tục hành chính công cấp quận chúng ta không những xác định được mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công, mà còn đánh giá được mức độ cung ứng dịch vụ công của bộ máy hành chính nhà nước cấp quận, để từ đó gợi ý các giải pháp có thể áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động phục vụ nhân dân của cơ quan hành chính nhà nước.

160 Đọc thêm

Đề tài: Xã hội hóa dịch vụ y tế tại TPHCM thực trạng và giải pháp

ĐỀ TÀI: XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ Y TẾ TẠI TPHCM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Trong tất cả các chính sách phát triển đất nước thì chính sách xã hội hóa dịch vụ công cộng được xem chính sách mang tầm quan trọng chiến lược hành đầu của Đảng và Nhà nước ta. Trong chính sách xã hội hóa dịch vụ công nói chung thì chính sách xã hội hóa y tế là chính sách được đưa vào một trong ba chính sách đi đầu của đất nước đó là giáo dục, y tế, văn hóa. Vì đây là chính sách phát triển đất nước trong thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập nâng cao đời sống nhân dân cải thiện dịch vụ công cộng xã hội.    Thực trạng xã hội hóa dịch vụ y tế hiện nay đang còn nhiều bất cập, cần có những phương hướng giải pháp đưa ra để nâng cao chất lượng của ngành mà chính sách của Đảng và Nhà nước là phương hướng giải quyết hàng đầu cho những tồ tại này. Tuy nhiên, những chính sách của Đảng và Nhà nước đưa ra đã phù hợp và sát với thực tiễn hay chưa? Có mang lại hiệu quả hay không? Có được người dân và toàn thể xã hội ủng hộ hay không?... đó lại là một chuyện, một vấn đề khác. Chính vì lẽ đó, chúng tôi xin viết về đề tài “Xã hội hóa dịch vụ y tế – thực trạng và giải pháp” nhằm tìm hiểu và đưa ra những nhận xét đúng đắn hơn, một cách nhìn sâu rộng hơn. Nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, chính sách phát triển y tế nói riêng và cụ thể hơn nữa là chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Và nhất là góp phần vào mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng một tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh – một xã hội mà mọi người sống trong ấm no, hạnh phúc, đời sống được nâng cao nhất là trong việc chăm sóc sức khỏe.
Xem thêm

35 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHĂM SÓC BẢO VỆ SỨC KHỎE CHO NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG MỸ BÌNH, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN ĐẾN NĂM 2015

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHĂM SÓC BẢO VỆ SỨC KHỎE CHO NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG MỸ BÌNH, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN ĐẾN NĂM 2015

MỞ ĐẦU
Trong công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân ở nước ta trong nhiều năm qua tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển; nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng; nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng; việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã từng bước thực hiện theo tiêu chuẩn “Thực hành tốt” do Bộ Y tế ban hành góp phần đẩy mạnh việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, có hiệu quả. Bảo hiểm y tế được hình thành và bước đầu phát huy được tác dụng. Nhân dân ở hầu hết các vùng, miền đã được chăm sóc sức khỏe tốt hơn; phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của nước ta đều vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.
Đạt được những thành tựu trên là nhờ có sự phấn đấu nỗ lực của đại đa số cán bộ, nhân viên ngành y tế; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền; sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các ban, ngành, Mặt trận tổ quốc, đoàn thể, tổ chức xã hội và đông đảo nhân dân.
Tuy nhiên, công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém. Hệ thống y tế chậm đổi mới, chưa thích ứng với sự phát triển của xã hội và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân; điều kiện chăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Tổ chức và hoạt động của y tế dự phòng còn nhiều bất cập. Một bộ phận nhân dân chưa hình thành được ý thức và thói quen tự bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe. Vệ sinh môi trường chưa được kiểm soát chặt chẽ.
Trên địa phường Mỹ Bình những năm gần đây, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp gây tình trạng quá tải cho trạm y tế ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội. Công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân được trạm y tế phường thực hiện khá tốt như: kiểm soát được dịch bệnh sốt xuất huyết, bệnh tay chân miệng,..., khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân tại trạm y tế; với công tác khám, chữa bệnh điều trị tiếp tục được nâng cao chất lượng các hoạt động. Tuy nhiên với chất lượng đạt được vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng cao của người dân và ứng phó với nhiều vấn đề xã hội mới phát sinh như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội,...
Xuất phát từ thực tiễn công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn phường Mỹ Bình và những định hướng phát triển y tế phường Mỹ Bình đến năm 2015, nên tôi chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên đến năm 2015 làm Tiểu luận cuối khóa Trung cấp lý luận chính trịhành chính để tham mưu cho Ủy ban Nhân dân phường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế ở địa phương, cũng là thực hiện nhiệm vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của phường giai đoạn 20132015.
Xem thêm

19 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN HỌC: QUẢN LÝ CÔNG Đề tài: QUẢN LÝ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG

TIỂU LUẬN MÔN HỌC: QUẢN LÝ CÔNG ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG

Chương 6: QUẢN LÝ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNGI. Khái niệm về dịch vụ công1.Khái niệm về dịch vụTrong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong chuyên đề này, chúng tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản. Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất Từ điển Wikipedia. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ...và mang lại lợi nhuận. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. 2. Khái niệm về dịch vụ công:Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng. Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng có một số đặc tính cơ bản như: 1. là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; 2. việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác; 3. và không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại. Nói một cách giản đơn, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy.Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này.Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội. Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng. Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: “dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”. Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế xã hội (tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã hội,…). Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước. Tuy vậy, ở mỗi nước lại có nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công. Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khoẻ của người dân (như giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao…, thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường,..thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch,… mà cả hoạt động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện.Ở Việt Nam, nên tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà
Xem thêm

53 Đọc thêm

Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh và sự phản hồi của khách hàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ 2006 - 2008

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHÁM CHỮA BỆNH VÀ SỰ PHẢN HỒI CỦA KHÁCH HÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NINH BÌNH TỪ 2006 - 2008

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, hệ thống Y tế Việt Nam nói chung đặc biệt là hệ thống khám chữa bệnh nói riêng đã có nhiều bước phát triển tiến bộ vượt bậc. Nhiều thiết bị y tế tiên tiến và kỹ thuật mới trên thế giới được đưa vào áp dụng phục vụ cho chẩn đoán và điều trị. Trình độ nhân viên y tế không ngừng được nâng cao. Chất lượng phục vụ người bệnh của các bệnh viện đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên bệnh viện vẫn là cơ sở điều trị không thể thiếu trong mọi thời đại. Là nơi cung ứng các dịch vô khám chữa bệnh cho nhân dân khi dịch, bệnh xuất hiện; nơi cứu sống người bệnh; nơi tiếp xúc với người dân tại thời điểm nhạy cảm nhất. Người dân thường đánh giá, nhận xét hiệu quả nhiệm vô của ngành Y tế thông qua hệ thống bệnh viện. Chính vì vậy mà bệnh viện vẫn được nhìn nhận như là bộ mặt của ngành Y tế.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động của một bệnh viện thường căn cứ vào những tiêu chí có thể định lượng được như lưu lượng người bệnh đến khám bệnh chữa bệnh; khả năng đáp ứng cung cấp các dịch vụ y tế về khám chữa bệnh và những tiêu chí vừa có tính chất định tính lại có cả tính chất định lượng thông qua sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh (khách hàng) khi đến bệnh viện.
Việc nghiên cứu, phân tích lưu lượng bệnh nhân tại bệnh viện đa khoa tuyến cuối của một tỉnh có vai trò quan trọng để xác định tần suất, tình trạng bệnh tật làm cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý chủ động trong việc xác định vấn đề sức khỏe ưu tiên, xác định nguồn lực, lập kế hoạch và định hướng hoạt động khám chữa bệnh của ngành, của địa phương.
Khả năng đáp ứng các dịch vụ y tế phụ thuộc vào một số nguồn lực cơ bản của bệnh viện nh­ nhân lực, vật lực và tài lực. Trong đó nhân lực được đánh giá thông qua cơ cấu, số lượng, trình độ, năng lực, bố trí cán bộ hợp lý;
Với vật lực bao hàm cả trang thiết bị chuyên môn, hành chính và cơ sở hạ tầng kiến trúc xây dựng.
Với tài lực đánh giá thông qua hoạt động tài chính của bệnh viện, khả năng tự chủ trong hạch toán kinh tế y tế, năng lực quản lý tài chính, cân đối thu chi từ các nguồn thu hợp pháp.
Bên cạnh đó việc đánh giá sự phản hồi của người bệnh và người nhà người bệnh còn giúp chóng ta tìm hiểu được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, trả lời được câu hỏi là tại sao khách hàng lại đến khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh nhất là khi mà các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ hoạt động trong cơ chế thị trường đang được đa dạng hóa trên cả hai hệ thống y tế: hệ thống y tế công và hệ thống y tế tư nhân. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong ngành Y, sự phát triển hệ thống giao thông, sự tiếp cận thông tin, nhận thức và nhu cầu tăng cao của người dân về chăm sóc sức khoẻ; sự hài lòng của người bệnh khi đến bệnh viện cũng là những lý do để quyết định đầu tư nguồn lực sao cho phù hợp và hiệu quả nhất.
Nghiên cứu phân tích các nguồn lực cơ bản của bệnh viện, lưu lượng bệnh nhân và sự phản hồi của khách hàng là những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị; khả năng cung cấp dịch vụ y tế của của bệnh viện; chất lượng phục vụ người bệnh; các dịch vụ của bệnh viện cung ứng có được chấp nhận hay không; lựa chọn giải pháp quản lý bệnh viện thế nào cho phù hợp và là cơ sở khoa học để hoạch định chính sách đầu tư mở rộng, phát triển hệ thống điều trị cho ngành, cho địa phương.
Tỉnh Ninh Bình được Chính phủ và Bé Y tÕ đồng ý cho xây mới bệnh viện Đa khoa tỉnh với quy mô 700 giường bệnh thay cho bệnh viện hiện tại quy mô 450 giường bệnh và sẽ đi vào hoạt động vào đầu năm 2010. Việc phân tích lưu lượng bệnh nhân, mô tả thực trạng một sè nguồn lực cơ bản và nghiên cứu những ý kiến phản hồi từ phía người bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh hiện tại sẽ là cơ sở khoa học để có kế hoạch đầu tư, phân bổ các nguồn lực phù hợp cho bệnh viện 700 giường như việc: xác định được cơ cấu, quy mô giường bệnh; nhân lực cán bộ cho từng khoa phòng; cơ số trang thiết bị, thuốc men vật tư y tế, đầu tư nguồn tài chính phù hợp với tình hình bệnh tật và điều kiện kinh tế của tỉnh Ninh Bình.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh và sự phản hồi của khách hàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ 2006 - 2008.
Xem thêm

84 Đọc thêm

Báo cáo thực tập tại trạm y tế xã giao châu – giao thủy – nam định

BÁO CÁO THỰC TẬP TẠI TRẠM Y TẾ XÃ GIAO CHÂU – GIAO THỦY – NAM ĐỊNH

BÁO CÁO THỰC TẬP TẠI TRẠM Y TẾ XÃ GIAO CHÂU – GIAO THỦY – NAM ĐỊNHLời nói đầuTrạm y tế xã, phường là một tổ chức y tế cơ sở trong hệ thống mạng lưới chăm sóc sức khỏe quốc gia. Đó là nơi thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của ủy ban nhân dân xã, trạm y tế là nơi cung ứng đáp ứng nhu cầu thuốc cho nhân dân.Trạm y tế xã Giao Châu cũng là một tổ chức y tế cơ sở thuộc mô hình quản lý thuốc ở xã, phường. Trạm được xây dựng ngay trung tâm xã, nằm trên con đường giao thông liên huyện, là nơi tập trung đông dân cư, con đường này nối liền các thôn trong xã và các xã khác. Giao Châu là một xã tuy nhỏ nhưng đang phát triển từng ngày nhưng không vì thế mà vấn đề sức khỏe bị bỏ qua mà nó luôn được quan tâm hàng đầu, bởi có sức khỏe thì sẽ có tất cả mà do chính sức lực con người mà có được. Công tác chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng luôn được xã đề cao và chú trọng, quan tâm hàng đầu. Với đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình, luôn đặt sức khỏe của người dân lên trên. Trong trái tim cán bộ y tế xã luôn ghi nhớ “ Thầy thuốc như mẹ hiền”. Để phục vụ nhiệt tình hết mình cho nhân dân, nhờ có sự quan tâm chăm sóc của cán bộ y tế xã, sự hướng dẫn nhiệt tình, sự giúp đỡ của họ người dân hiểu và chăm sóc sức khỏe của mình tốt hơn. Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân luôn đảm bảo, phát hiện và chữa trị kịp thời, nên đã đẩy lùi không để bệnh dịch lây lan và phát triển, chính vì thế trạm y tế xã luôn nhận được sự quan tâm và khen ngợi của cấp trên. Trong năm 2012 và những năm tới trạm y tế phấn đấu phát triển nhiều hơn nữa trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cũng như phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư thêm những trang thiết bị mới hơn để chăm sóc sức khỏe của người dân trong xã cũng như một số vùng lân cận.Ngày nay, khi đất nước ngày càng phát triển, ngành y tế được Đảng và Nhà nước, tổ chức y tế thế giới WTO quan tâm từ trung ương đến địa phương. Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng được nâng cao. Sự tận tình quan tâm, chăm sóc người dân của cán bộ y tế xã luôn làm cho người bệnh tin tưởng và quý mến, trạm y tế xã còn phối hợp với cán bộ y tế huyện, tổ chức xuống tận thôn xóm thăm hỏi, khám bệnh cho nhân dân. Nhờ vậy mà công tác chăm sóc sức khỏe luôn thu được kết quả cao, tạo được niềm tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ y tế xã. Ủy ban nhân dân xã luôn chú trọng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đầu tư xây dựng trạm khang trang, rộng lớn, sạch sẽ để công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân tốt hơn. Trạm y tế xã có hai dãy nhà mái bằng, một nhà giữa, hai dãy nhà đối diện nhau: một phòng khám bệnh, phòng hộ sinh, phòng trực, phòng bán thuốc và hai phòng cho bệnh nhân nghỉ ngơi sau khi khám bệnh và điều trị tại trạm. Trong phòng khám bệnh có một giường bệnh, tủ đựng nhiệt kế, xilanh, bông băng, gạc, ống nghe khám bệnh, đo huyết áp, sổ sách, bàn kê đơn, giấy tờ lưu đỡ đẻ, bàn cân sức khỏe, dụng cụ cắt tầng sinh môn, tủ cấp cứu, phòng bán
Xem thêm

39 Đọc thêm

Cùng chủ đề