ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TIÊU HÓA KÉO DÀI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TIÊU HÓA KÉO DÀI":

XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TIÊU HÓA

XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TIÊU HÓA

XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TIÊU HÓA (CHỨNG TIẾTTẢ)1. ĐẠI CƯƠNGRối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự thay đổi hoặc xuất hiện một số triệuchứng ở đường tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn) ví dụ như nôn, buồn nôn; đaubụng có khi âm ỉ, có khi từng cơn, có khi đau quặn; đi lỏng, phân lúc nhão, lúc rắn;bí trung tiện, bí đại tiện…. yhdt xếp vào chứng tiết tả.2. CHỈ ĐỊNHChứng rối loạn tiêu hóa không do bệnh lý3. CHỐNG CHỈ ĐỊNHRối loạn tiêu hóa do các bệnh lý khác4. CHUẨN BỊ4.1. Người thực hiện- Bác sỹ, Y sỹ được đào tạo về chuyên ngành y học cổ truyền được cấp chứng chỉhành nghề theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh..4.2. Phương tiện- Phòng xoa bóp bấm huyệt, giường xoa bóp bấm huyệt- Gối, ga trải giường- Bột talc- Cồn sát trùng4.3. Người bệnh- Được hướng dẫn qui trình, vị trí bấm huyệt và đồng ý bấm huyệt.- Tư thế nằm ngửa hoặc ngồi.- Được khám và làm hồ sơ bệnh án theo quy định.5. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH- Xoa, xát, miết, day, nhào vùng bụng, lưng* Chứng thực- Do hàn thấp gây raBấm các huyệt
Xem thêm

3 Đọc thêm

 ĐỂ BIẾT TRẺ BỊ BỆNH GIUN KIM

ĐỂ BIẾT TRẺ BỊ BỆNH GIUN KIM

Để biết trẻ bị bệnh giun kimGiun kim có tên khoa học là enterobius vermicularis, là một loại giun nhỏ, sống chủ yếu ở đường tiêu hóa của trẻ em. Giun kim cái thường ra rìa hậu môn đChu kỳ của giun kimGiun kim trưởng thành thường gặp chủ yếu ở ruột non sau đó chúng xuống ruột già (đại tràng). Ngoài ra, cũng có thể gặp giun kim ở ruột thừa và có thể gây nên bệnhđẻ ở hậu môn rất dễ bị nhiễm lại (tái nhiễm), nhất là trẻ nhỏ do dùng tay gãi hậu môn rồi cầm vào đũa, bát, dụng cụ ăn, uống hay thức ăn đồ uống hoặc mút tay... CũngNhững biểu hiện khi mắc bệnh giun kimBệnh giun kim là một bệnh có tính chất kéo dài, mạn tính, chúng thường gây nên các triệu chứng sau:Gây rối loạn tiêu hóa: đầu tiên là ngứa hậu môn, ngứa thường xuất hiện vào buổi tối và lúc lên giường đi ngủ (do nhiệt độ của giường ấm nên dễ kích thích giun kim đẢnh hưởng về thần kinh: trẻ thường bứt rứt, khó chịu, suy nhược thần kinh hoặc thần kinh bị kích thích gây nên hiện tượng khó ngủ, ngủ ít, giấc ngủ không sâu, hay gMắc bệnh giun kim có nguy hiểm không?Bệnh giun kim chủ yếu gây rối loạn tiêu hóa, gây chậm lớn, gây rối loạn thần kinh, đái dầm... Trong một số trường hợp gây nên nguy hiểm như viêm ruột thừa cấp tínLàm thế nào để biết trẻ bị bệnh giun kim?Người lớn biết trẻ bị giun kim là do trẻ bị ngứa hậu môn và nhiều trường hợp bắt được giun kim khi chúng ra đẻ ở rìa hậu môn vào lúc chập tối hoặc lúc lên giường điNguyên tắc điều trị bệnh giun kimĐể điều trị bệnh giun kim, đặc biệt là trẻ em rất cần thiết có sự can thiệp của thầy thuốc để người bệnh được khám và chỉ định dùng thuốc gì, liều lượng và hàm lượngĐề phòng bệnh giun kimĐể đề phòng mắc bệnh giun kim và mắc bệnh tái phát thì việc vệ sinh cá nhân là hết sức cần thiết. Đối với trẻ đang mắc bệnh giun kim không để mắc tái phát, cụ thể lĐể đề phòng mắc bệnh giun kim cho cả người lớn trong gia đình thì mọi người cần rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh hoặc trước khi ăn. Những người mẹ
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân tai biến mạch não (FULL TEXT)

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ HẠ NATRI MÁU Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH NÃO (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch não (TBMN) là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 cho
người bệnh chỉ sau bệnh ung thư và tim mạch [4]. TBMN để lại những di
chứng nặng nề tinh thần và thể chất, là gánh nặng tài chính cho gia đình BN
và xã hội. Ngày nay khi xã hội phát triển, tỷ lệ TBMN ngày càng gia tăng
cùng với các bệnh tiểu đường, rối loạn mỡ máu và bệnh tăng huyết áp.
Hạ Natri máu là rối loạn điện giải thường gặp ở BN TBMN [46] triệu
chứng của hạ Natri máu bao gồm các triệu chứng thần kinh thường lẫn với
triệu chứng của TBMN. Do đó hạ Natri máu là một rối loạn điện giải thường
bị bỏ sót, hậu quả gây nên tình trạng phù não [21] và làm nặng thêm tình
trạng của bệnh nhân (BN) dẫn tới tăng tỷ lệ tử vong, giảm khả năng bình phục
của bệnh nhân TBMN [46].
Trong TBMN hai hội chứng gây hạ Natri máu cấp: hội chứng tăng tiết
hormon chống bài niệu không tương xứng (SIADH: Syndrome of
inappropriate antidiuretic hormone) và hội chứng mất muối não (CSWS:
Cerebral salt wasting syndrome). Hai hội chứng này có cơ chế bệnh sinh và
phương pháp điều trị khác nhau.
Ở nước ngoài hạ natri máu là một biến chứng thường gặp ở các bệnh
nhân sau chấn thương sọ não, và xuất huyết dưới nhện nằm điều trị ở các đơn
vị chăm sóc tích cực chuyên khoa thần kinh (Neurologic intensive care unit)
[46] [47]. Các nghiên cứu đã chứng minh hạ natri máu là nguyên nhân gây
tăng áp lực nội sọ kéo dài ở bệnh nhân bị chấn thương sọ não, tăng tỷ lệ co
thắt mạch não ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện, kéo dài thời gian nằm viện
của bệnh nhân [40].Từ 1998 có các nghiên cứu nhằm phát hiện sớm hạ natri
máu ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện[38] và các thử nghiệm thuốc trên lâm
sàng để điều trị rối loạn điện giải này[51].
2
Ở Việt Nam các nghiên cứu rối loạn natri máu chưa nhiều chỉ tập trung
đối tượng nhi khoa, từ 2002 bệnh nhân hạ natri máu ở đơn vị Hồi sức cấp cứu
hạ natri ở bệnh nhân TBMN gặp thường xuyên hơn[20], tuy nhiên ở nước ta
do điều kiện kỹ thuật còn hạn chế chưa tiến hành xét nghiệm các marker giúp
phát hiện sớm hạ natri máu. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nhận xét đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân
TBMN ” nhằm mục đích:
- Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hạ Natri máu ở bệnh
nhân TBMN.
- Nhận xét kết quả điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân TBMN
Xem thêm

91 Đọc thêm

VIÊM DẠ DÀY Ở TRẺ EM

VIÊM DẠ DÀY Ở TRẺ EM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một bé trai 14 tuổi vào viện với tình trạng đau khắp bụng ngày thứ hai, nôn ói, không sốt. Gia đình em cho biết ngày trước bé đau lâm râm thượng vị, nôn, đi khám được chẩn đoán rối loạn tiêu hóa. Từ sáng, bé đau nhiều hơn nên đến bệnh viện. Khi khám, bụng bé gồng cứng, rất đau. Sau khi làm các xét nghiệm, bé được chẩn đoán: thủng dạ dày. Bé được phẫu thuật cấp cứu khâu lỗ thủng và điều trị 10 ngày thì khỏi bệnh. Bé được kiểm tra thấy nhiễm vi trùng H. Pylori (HP) ở dạ dày. Gia tăng viêm dạ dày ở trẻ Vào một ngày khác, bé trai 15 tuổi vào viện vì chóng mặt và tiêu chảy sệt, được chẩn đoán là viêm ruột và cấp toa thuốc. Sau đó, bé được người nhà đưa vào bệnh viện vì mệt, xanh xao, tay chân lạnh, phân đỏ sậm. Bé được nội soi cấp cứu và chẩn đoán loét dạ dày, tá tràng, chảy máu. Sau 10 ngày điều trị và truyền máu, bé được xuất viện.   Siêu âm kiểm tra sau mổ cho bé (Ảnh: V.H) Trước đây, viêm loét dạ dày, tá tràng là bệnh rất hiếm gặp ở trẻ em, nên đau bụng ở trẻ thường được chẩn đoán là do rối loạn tiêu hóa hoặc đau bụng giun. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy, 2/3 số trẻ dưới 15 tuổi đau bụng do viêm loét dạ dày, tá tràng. Có nhiều trường hợp vào cấp cứu vì ói ra máu. Một số trường hợp biến chứng thủng dạ dày. Viêm loét dạ dày, tá tràng ở trẻ em đa số do nhiễm vi trùng HP. Vi trùng này lây qua đường miệng - miệng, nghĩa là có trẻ bị nhiễm HP, học bán trú ăn chung với bạn cùng lớp thì bị nhiễm HP. Vi trùng theo đường miệng - phân do vệ sinh ăn uống kém, ô nhiễm môi trường, nguồn nước nhiễm bẩn. Tuy nhiên, đối với các trường hợp thủng dạ dày, tá tràng, nhiễm HP chỉ là yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh. Nguyên nhân cũng rất quan trọng là yếu tố tâm lý, học tập căng thẳng, xem tivi, chơi game quá nhiều, thức khuya, ăn nhiều thức ăn nhanh không đúng giờ giấc. Dễ bị bỏ sót Nhờ kỹ thuật nội soi tiêu hóa tiến bộ, đặc biệt nội soi có gây mê, nên việc chẩn đoán viêm loét dạ dày, tá tràng không còn khó khăn nữa. Cơn đau có thể dữ dội, lăn lộn, dễ nhầm với giun chui ống mật. Một số bé chỉ đau bụng trước và sau ăn, không ợ hơi, ợ chua như người lớn, nên có thể nhầm với rối loạn tiêu hóa. Một số trường hợp biểu hiện viêm loét dạ dày, tá tràng ở trẻ thường là ăn uống khó tiêu, đau bụng vùng trên rốn. Các triệu chứng có thể tăng lên khi ăn thức ăn, đồ uống kích thích niêm mạc dạ dày như tỏi, ớt, chuối. Cũng có trường hợp biểu hiện có thể rất rõ là nôn ra máu, đi cầu phân đen như bã cà phê hoặc tiêu máu tươi, nhưng đôi khi gia đình không phát hiện được. Các biểu hiện da xanh xao, ăn uống kém, gầy sút, mất tập trung, căng thẳng cũng thường gặp ở trẻ. Nhiều bậc phụ huynh sợ nội soi vì sẽ làm con mình đau đớn. Thực tế không phải vậy, trẻ sẽ được soi bằng ống soi mềm, nhỏ và sẽ được gây mê nên hoàn toàn không đau đớn. Có thể sử dụng phương pháp kiểm tra HP qua hơi thở để tìm nguyên nhân. Nếu trẻ có dấu hiệu đau bụng kéo dài hoặc đau bụng dữ dội phải đi khám ngay để tránh các biến chứng nguy hiểm. Nên kiểm tra khả năng bé bị nhiễm vi trùng HP dạ dày. Phòng tránh bệnh Hạn chế cho trẻ xem tivi, chơi game có điều độ để phát triển trí não. Khuyến khích trẻ tập luyện thể thao để cơ thể có sức đề kháng với bệnh tật. Ăn nhiều rau quả, đủ chất dinh dưỡng, tránh thức khuya, ngủ đủ 8-10 giờ/ngày. Trò chuyện, gần gũi khi trẻ bị căng thẳng trong học tập. Đặc biệt, không mớm cơm cho con nhỏ để tránh lây nhiễm HP.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN ĐƯỜNG MÁU VÀ LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN SAU GHÉP THẬN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ghép thận là một ngành của y học hiện đại. Nhờ sự phát triển của ngành phẫu thuật, ý tưởng ghép tạng trong đó có ghép thận trong điều trị thay thế các tạng phủ bị hư hại chức năng do nhiều nguyên nhân bệnh đã hình thành từ lâu. Nhưng trước đây, thực hiện đều thất bại vì lý do rào cản miễn dịch. Vào giữa thập niên 1950, mổ ghép đồng loại thành công ở trường hợp song sinh cùng trứng đã mở đường cho ngành ghép phát triển, rồi sự ra đời của ngành miễn dịch ghép và các loại thuốc ức chế miễn dịch làm cho hàng trăm ngàn người hiện nay được ghép thận và nhiều loại tạng ghép khác với tỉ lệ thành công cao. Người ta miệt mài nghiên cứu về miễn dịch ghép, mở rộng tiêu chuẩn tương hợp trong miễn dịch ghép và trong nhiều thập kỷ qua ghép thận đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối (STMGĐC).
Trong các biện pháp điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối, ghép thận được xem là phương pháp mang lại hiệu quả nhất, không những thay thế chức năng bài tiết mà còn hồi phục chức năng nội tiết của thận. Từ những thành công đầu tiên về ghép thận ở Boston do đội ngũ của J.P.Merrill và đội ngũ của J.Hamburger ở Paris. Tính đến nay đã có hơn 400.000 trường hợp ghép thận đã được thực hiện trên toàn thế giới [36].
Việc theo dõi và điều trị bệnh nhân suy thận mạn giai đọan cuối ngày càng nhiều và tốn kém. Ngày nay ghép thận đã được thực hiện ở nhiều trung tâm và đã cải thiện chất lượng cuộc sống của nhiều bệnh nhân.Vì sau ghép thận thì chức năng thận, các triệu chứng và các biến chứng của suy thận mạn giai đoạn cuối được giảm đáng kể và giảm tỷ lệ tử vong.
Sau ghép thận phải dùng thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticoid để chống thải ghép, thường phải dùng liều cao ở giai đoạn sớm sau ghép thận, và từ từ giảm liều duy trì kéo dài. Khi dùng các thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticoid kéo dài sẽ gây ra nhiều biến chứng như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường và loãng xương. Trong đó tăng lipid máu và đái tháo đường là hai biến chứng phổ biến [93]. Trong nghiên cứu của Rostaing L và cs [93] năm 2005 trên 538 bệnh nhân sau 6 tháng ghép thận, kết quả tỉ lệ bệnh đái tháo đường mới mắc và lipid máu đều tăng cao có ý nghĩa thống kê. Theo Brennan CD và cs [53] tăng lipid máu sau ghép thận thường là tăng triglyceride. Các thuốc ức chế miễn dịch như cyclosporine, tacrolimus đều gây tăng lipid máu. Tacrolimus thường gây đái tháo đường [73].
Đái tháo đường và rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành. Tăng đường huyết và tăng lipid máu lâu dài sẽ dẫn đến nhiều biến chứng ở tim, thận, mắt, mạch máu lớn và mạch máu nhỏ [15],[45].
Do đó cần nghiên cứu 2 loại rối loạn này ở bệnh nhân ghép thận để phát hiện sớm nhằm điều chỉnh thuốc ức chế miễn dịch và điều trị bệnh kịp thời, giảm biến chứng và cải thiện tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.
Mathew JT và cs (năm 2003) đã nghiên cứu trên 174 bn ghép thận, tỷ lệ ĐTĐ mới phát hiện sau ghép là 21,4% [81]. Phạm Văn Bùi và cs năm 2010 nghiên cứu trên 33 bệnh nhân kết quả có 75% bệnh nhân bị rối loạn lipid máu, 35,7% bệnh nhân có đái tháo đường sau ghép [4].
Rối loạn đường máu và lipid máu sau ghép thận - những yếu tố nguy cơ tim mạch ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh nhân là những vấn đề cần được nghiên cứu tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thông qua đề tài “Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy ” với các mục tiêu sau:
1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, phác đồ điều trị, rối loạn đường máu và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân trước ghép và sau ghép thận 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng được sử dụng thuốc chống thải ghép.
2. Xác định mối liên quan giữa việc sử dụng các thuốc chống thải ghép với rối loạn đường máu và rối loạn lipid máu trên những bệnh nhân này .
Xem thêm

124 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid huyết tương và hiệu quả điều trị của atorvastatin trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại tỉnh Trà Vinh

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID HUYẾT TƯƠNG VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA ATORVASTATIN TRÊN BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN LỌC MÁU CHU KỲ TẠI TỈNH TRÀ VINH

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lipid máu là tình trạng thay đổi một hay nhiều thành phần lipid máu, là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch, là nguyên nhân gây tử vong chính ở các nước phát triển và đang phát triển.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số lipid máu ở người bình thường, người đái tháo đường. Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự ở Viện Tim mạch học Việt Nam trên 236 người từ 25 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên tại cộng đồng ở Hà Nội năm 2001 cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu khá cao: 54,7% tăng cholesterol; 41,9% tăng triglyceride; 40,7% giảm lipoprotein tỷ trọng cao và 51,3% tăng lipoprotein tỷ trọng thấp. Vì vậy, rối loạn lipid máu máu là một vấn đề rất thường gặp và rất trầm trọng. [2]
Ở Mỹ, theo NCEP - ATP II năm 1993 thì 25% người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên có cholesterol toàn phần > 6,2 mmol/1. [2]
Rối loạn lipid máu là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh xơ vữa động mạch thành lập, chẳng hạn như đột quỵ và bệnh tim thiếu máu cục bộ, và thường được phát hiện ở bệnh nhân có bệnh thận mạn tính [12]. Rối loạn lipid huyết tương làm tăng nguy cơ suy thận (STM) trong dân số trung niên và người già Trung Quốc. Tăng cholesterol máu đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giảm mức lọc cầu thận (MLCT). Cả HDL-c thấp và tăng cholesterol máu có liên quan với tăng nguy cơ albumin niệu [19].
Theo Tổ chức sức khỏe thế giới cho biết nếu cholesterol toàn phần giảm được 23 mg% ở người tuổi 40 sẽ giảm 54% nguy cơ bệnh tim mạch còn ở tuổi 70 thì giảm 20% nguy cơ bệnh tim mạch. Còn nếu lipoprotein tỷ trọng cao tăng 1,2 mg% thì giảm được 3% nguy cơ bệnh tim mạch. Nét mới trong các công trình nghiên cứu can thiệp gần đây là đã nêu lên khái niệm rất tích cực trong điều trị tăng lipoprotein trọng lượng phân tử thấp là: “lipoprotein trọng lượng phân tử thấp càng thấp càng tốt”. Ở bệnh nhân suy thận mạn, tình trạng suy chức năng thận đã tạo nhiều nguy cơ thúc đẩy xơ vữa động mạch, thúc đẩy bệnh tim mạch tiến triển. Chính vì thế, điều chỉnh rối loạn lipid máu trên bệnh nhân suy thận mạn là cấp thiết.
Để điều chỉnh tình trạng tăng cholesterol, tăng lipoprotein trọng lượng phân tử thấp thì có nhiều giải pháp được chọn: thay đổi lối sống, dùng thuốc. Thuốc nhóm statin là nhóm thuốc được chọn đầu tiên để hạ cholesterol và hạ lipoprotein trọng lượng phân tử thấp. Trên cơ sở phân tích cơ chế tác dụng, tác dụng phụ, tiện dụng và giá thành,… “Thuốc atorvastatin là thuốc được ưu tiên chọn lựa điều trị ở bệnh nhân rối loạn lipid máu trên bệnh nhân suy thận mạn vì tần suất nhập viện vì biến cố thận thấp nhất ở bệnh nhân đơn trị bằng atorvastatin” [5]
Ở Trà Vinh, sự quan tâm đến việc điều trị rối loạn lipid (RLLP) ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ chưa đúng mức, các công trình nghiên cứu để đánh giá về hiệu quả điều trị rối loạn lipid ở bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ còn rất ít. Vì vậy, nghiên cứu tình trạng rối loạn lipid và hiệu quả điều trị của atorvastatin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ đã trở thành mục tiêu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị điều trị, phòng ngừa biến chứng tim mạch, cải thiện chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân, giảm tỉ lệ tử vong.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu rối loạn lipid huyết tương và hiệu quả điều trị của atorvastatin trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại tỉnh Trà Vinh”. Nhằm mục tiêu:
1. Khảo sát tình trạng rối loạn lipid huyết tương và xác định mối tương quan giữa các thành phần lipid máu với các yếu tố: ure, creatinine và mức lọc cầu thận ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ (LMCK)
2. Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của atorvastatin sau 3 tháng điều trị rối loạn lipid huyết tương ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ.
Xem thêm

123 Đọc thêm

XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN THẦN KINH THỰC VẬT1

XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN THẦN KINH THỰC VẬT1

XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN THẦN KINH THỰC VẬT1. ĐẠI CƯƠNGRối loạn thần kinh thực vật là những cơn rối loạn về vận mạch như hồi hộp, trốngngực, tăng huyết áp hạ huyết áp, đau đầu, nôn nao, vã mồ hôi, rối loạn tiêu hóa,ngất, thường xuất hiện từng cơn kéo dài từ vài phút đến vài giờ. Có thể mỗi ngàytừ 1 đến vài cơn, có thể vài ngày một cơn, hoặc vài tháng 1 cơn, sau mỗi cơn ngườibệnh lại sinh hoạt và làm việc bình thường. Đông y cho rằng là nguyên nhân củanhiều bệnh khác nhau, có thể do đàm nhiệt tích trệ, có thể do Can phong nội động,do Tâm tỳ khuy tổn, do khí hư, huyết hư2. CHỈ ĐỊNHĐối với tất cả bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn thần kinh thực vật ở mọi lứa tuổi3. CHỐNG CHỈ ĐỊNHNhững bệnh nhân mắc bệnh viêm da vùng mặt4. CHUẨN BỊ4.1. Người thực hiện- Bác sỹ, Y sỹ được đào tạo về chuyên ngành y học cổ truyền được cấp chứng chỉhành nghề theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh..4.2. Phương tiện- Phòng xoa bóp bấm huyệt, giường xoa bóp bấm huyệt- Gối, ga trải giường- Bột talc- Cồn sát trùng4.3. Người bệnh- Được hướng dẫn qui trình, vị trí bấm huyệt và đồng ý bấm huyệt.- Tư thế nằm ngửa hoặc ngồi.- Được khám và làm hồ sơ bệnh án theo quy định.5. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH5.1. Tiến hành kỹ thuật- Xoa, miết, day, nhào, rung vùng đầu mặt cổ.- Bấm các huyệt
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghiên cứu lâm sàng, nội soi dạ dày - tá tràng trong hội chứng thận hư tiên phát điều trị Corticoid tại Khoa thận - tiết niệu, Bệnh viện Nhi trung ương

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG, NỘI SOI DẠ DÀY - TÁ TRÀNG TRONG HỘI CHỨNG THẬN HƯ TIÊN PHÁT ĐIỀU TRỊ CORTICOID TẠI KHOA THẬN - TIẾT NIỆU, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn sinh lý bệnh trong các bệnh cầu thận tiên phát thể thận hư dẫn
đến các rối loạn chuyển hóa các thành phần triglycerit, rối loạn quá trình đông
máu dẫn đến xu hướng tăng đông hoặc ngay liệu trình điều trị thận hư có chỉ
định glucocorticoid, lợi tiểu (Vd: Furosemid), thuốc suy giảm miễn dịch cũng
thúc đẩy quá trình tăng đông có tăng co thắt các vi mạch nhỏ ở phúc mạc,

mạc treo gây các cơn đau bụng không kể vị trí và phần lớn đau lâm dâm, khó
xác định nguyên nhân nhưng ít gây các rối loạn tiêu hóa kèm theo (nôn, ỉa
chảy…).
Glucocorticoid là biện pháp hàng đầu điều trị hội chứng thận hư với
liều cao và kéo dài, riêng liều tấn công ban đầu là 2mg/kg/24giờ trong 4 – 6
tuần sau đó kế tiếp liều duy trì 1mg/kg/24giờ x 5 ngày/tuần hoặc 2mg/kg/24
giờ cách nhật trong 6 – 8 tuần, sau đó chuyển dùng liều củng cố nh
ằm, tránh
tái phát, liều 0,3 – 0,5mg/kg/24giờ uống 4ngày/tuần kéo dài 6 – 8 tháng.
Trong quá trình điều trị hội chứng thận hư bằng corticoid, khi dùng liều cao
và dài ngày dễ gặp những tác dụng không mong muốn, trong đó prednisolon
ức chế tổng hợp Prostaglandin trên đường tiêu hoá tức là làm mất tác dụng ức
chế tiết acid dạ dày và bảo vệ niêm mạc dạ dày, nhiều tác dụng không mong
muốn có liên quan đến tác dụng này của glucocorticoid sẽ dẫn đến viêm loét
dạ dày – tá tràng, buồn nôn, nôn, chướ
ng bụng, viêm loét thực quản, viêm tụy
(Đ.T.N.Bính 1985 xuất huyết tiêu hóa, loét dạ dày – tá tràng, thủng dạ dày
chiếm 2%{17/853 ca bệnh nghiên cứu}, T.Đ.Long và CS [14] thấy tỷ lệ tác
dụng phụ của corticoid ở trẻ bị thận hư là 24%). Phòng loét dạ dày – tá tràng, do sử dụng thuốc corticoid trong hội chứng
thận hư bằng các thưốc kháng Histamin, các thuốc ức chế bơm protein, hoặc
băng niêm mac dạ dày (Gastrofugits) khi dùng liều cao corticorticoid.
Biểu hiện tiêu hoá gặp trong 37 – 66% các trường hợp, đôi khi là khởi
đầu của bệnh, đau bụng lan tỏa hoặc khu trú, đau vùng quanh rốn thường ít dữ
dội, có thể đau thượng vị, và phản ứng hố chậu phải dẫn đế
n chẩn đoán nhầm
viêm ruột thừa, đau liên tục hoặc từng cơn dài hay ngắn, đau không liên quan
đến chu kỳ ngày đêm.
Kèm theo đau bụng thường có buồn nôn, nôn, có khi nôn ra máu, triệu
chứng này có thể tới cuờng độ tối đa. Ỉa phân có máu, ỉa chảy hoặc táo bón,
ngoài triệu chứng đường tiêu hóa đặc biệt hội chứng dạ dày – tá tràng, còn có
thể gặp các triệu chứng của tắc mật, biến chứng gan mật, nhối máu đường
mật, thủng túi mật, rỉ nước mật, viêm tụy, nhiều lỗ dò mật – mật. [31,35].
Để có một nhận xét và đánh giá toàn diện về hình ảnh tổn thương
đường tiêu hóa (khu trú đường dạ dày – tá tràng trong HCTHTP). Chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu lâm sàng, nội soi dạ dày – tá tràng
trong HCTHTP điều trị Corticoid tại khoa thận – tiết niệu, Bệnh viện Nhi
trung ương”.
với các mục tiêu như sau:
1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng của tổn thương dạ dày – tá tràng trong
HCTHTP có điều trị Corticoid.
2. Mô tả hình ảnh tổn thương nội soi, mô bệnh học của tổn thương
dạ dày – tá tràng điều trị Corticoid ở bệnh nhân HCTHTP.
Xem thêm

80 Đọc thêm

đánh giá kết quả lâu dài và chất lượng cuộc sống bệnh nhân sau mổ phình đại tràng bẩm sinh

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÂU DÀI VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG BỆNH NHÂN SAU MỔ PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phình đại tràng bẩm sinh (PĐTBS) được Hirschsprung lần đầu
tiên báo cáo tại Hội nghị Nhi khoa ở Berlin năm 1886 [28],[45], nên còn được
gọi là bệnh Hirschsprung.
Bệnh PĐTBS là một dị tật đặc trưng bởi tắc ruột hoàn toàn hoặc không
hoàn toàn do không có tế bào hạch thần kinh ở đoạn cuối ống tiêu hóa và lan
rộng lên phía trên ở các mức độ khác nhau. Đoạn vô hạch thường ở tr
ực tràng
và đại tràng xích ma nhưng có thể lên đến hết đại tràng, một phần ruột non và
thậm chí kéo dài từ trực tràng cho đến tá tràng [7], [27], [28], [45]. Do đoạn
đại tràng không có tế bào hạch thần kinh không còn chức năng co bóp để đẩy
các chất chứa đựng trong lòng đại tràng nên phân bị ứ đọng lại ở phía trên
làm cho đại tràng bị giãn to, thành đại tràng dày nhu động giảm. Nếu không
được điều trị kịp thời bệnh nhân có thể chết do các biế
n chứng viêm ruột, tắc
ruột hoặc vỡ đại tràng.
Bệnh PĐTBS khá phổ biến ở trẻ em với tỉ lệ khoảng 1/5000 trẻ. Bệnh
gặp ở con trai nhiều hơn con gái với tỉ lệ trai/gái = 4/1 [7], [24], [27], [28],
[45]. Theo thống kê tại Viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ em trong 10 nǎm (19811990)
cho thấy
đã
có 1751 trường
hợp
bệnh
PĐTBS
được
phẫu
thuật,
chiếm

hàng
đầu
(10,5%) trong các bệnh

ngo
ại
khoa ở
trẻ
em

số
phẫu
thuật
điều

trị
bệnh
PĐTBS
chiếm
51% trong tổng
số
phẫu
thuật

đường tiêu hóa (5736
bệnh nhân) [5], [10].
Trước năm 1948, hầu như tất cả bệnh nhân đều chết do không có
phương pháp điều trị đặc hiệu nhưng từ năm 1948 khi Swenson giới thiệu kỹ
thuật mổ cắt bỏ đoạn đại tràng vô hạch và nối
đại tràng lành với ống hậu môn
[50], tỷ lệ bệnh nhân được cứu sống ngày càng tăng. Cũng từ đó đến nay
nhiều kỹ thuật mổ khác cũng đã được nghiên cứu và áp dụng để điều trị bệnh. Với nhiều tiến bộ trong phương pháp mổ bệnh PĐTBS trong kỉ nguyên
này, kết quả sau mổ nói chung là tốt. Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn có rối
loạn chức năng ruột kéo dài như không kiểm soát đại tiện, táo bón và viêm
ruột. Kết quả lâu dài sau mổ PĐTBS rất khác nhau. Thêm vào đó, phần lớn
các theo dõi lâu dài sau mổ PĐTBS chỉ tập trung vào đánh giá kết quả chức
năng. Mặc dù đó là phần rấ
t quan trọng, nhưng rất ít người chú ý đến ảnh
hưởng của những rối loạn chức năng tới chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân
sau mổ PĐTBS [62]. Ở Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về kết quả sau mổ
bệnh PĐTBS với thời gian theo dõi sau mổ chưa lâu và chưa có một nghiên
cứu nào tiến hành nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống sau m
ổ ở những bệnh
nhân này. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu:
1. Đánh giá kết quả lâu dài ở bệnh nhân sau mổ phình đại tràng bẩm
sinh.
2. Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ở bệnh nhân
sau mổ phình đại tràng bẩm sinh.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Bệnh Kawasaki Dịch tễ, triệu chứng, điều trị...

BỆNH KAWASAKI DỊCH TỄ, TRIỆU CHỨNG, ĐIỀU TRỊ...

KD biểu hiện bởi sốt kéo dài, và:
Viêm khớp
Viêm kết mạc
Nốt hồng ban
Sưng hạch bạch huyết
Kích thích
Phát ban
Sưng tấy, đốm xuất huyết
Tiểu mủ vô khuẩn
Lưỡi dâu tây: kích thích ở màng nhầy vùng miệng, môi, và cổ họng
Viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim
Rối loạn chức năng gan, thận, hệ tiêu hóa
Sốt và kích thích thường xuất hiện trước tiên

19 Đọc thêm

VIÊN ĐẠI TRÀNG BIO HERB CHITA HAPPY HEALTH

VIÊN ĐẠI TRÀNG BIO HERB CHITA HAPPY HEALTH

VIÊN TIÊU HÓA BIO HERB CHITA1. Thành phần:Bạch biển đậu 50mgHoắc hương 50mgHoàng liên 30mgHoạt thạch 25mgBạch thược 30mgCam thảo 15mgImmunepath – ip 15 mgKẽm gluconate 20mgThành phần khác (magnesium stearate, talc…) vừa đủ 1 viên2. Công dụng:Chỉ tả, tán hàn, ôn bổ tỳ vịGiúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị:- Tiêu chảy, đau bụng, rối loạn tiêu hóa...- Các trường hợp đường ruột bị yếu mà dẫn đến bị các bệnh đường ruột thường xuyên.3. Đối tượng sử dụng:Với nền tảng là các thảo dược thiên nhiên được bổ sung thêm kẽm, Immunepath – ip,viên tiêu hóa Bio Herbal CHITA rất an toàn – hiệu quả nhanh với các đối tượng sau :- Tiêu chảy, đi ngoài phân lỏng kèm đau bụng ít hoặc nhiều.- Rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, khó tiêu, đi ngoài, phân sống, đau bụng) do bị nhiễm lạnhngộ độc thực phẩm .- Người lớn uống nhiều rượu bia dẫn đến đường ruột bị yếu…- Trẻ em dùng kháng sinh kéo dài dẫn đến rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy…- Trường hợp muốn nâng cao sức khỏe đường ruột để hạn chế các bệnh đường ruộtdo thói quen ăn uống, sinh hoạt.3. Cách dùng:- Trẻ em 1 – 3 tuổi uống 1/2 viên/lần, ngày 2 lần- Trẻ em 3 -7 tuổi uống 1 viên/lần, ngày 2 - 3 lần
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu bào chế viên venlafaxin giải phóng kéo dài theo cơ chế bơm thẩm thấu

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN VENLAFAXIN GIẢI PHÓNG KÉO DÀI THEO CƠ CHẾ BƠM THẨM THẤU

ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoảng vài chục năm gần đây, số người bị rối loạn trầm cảm ngày càng
chiếm tỷ lệ cao ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo ước tính c a Tổ chức Y tế
Thế giới, khoảng 5% dân số trên hành tinh c a chúng ta có rối loạn trầm cảm rõ rệt.
Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ về bệnh trầm cảm. Trong một
nghiên cứu dịch tễ lâm sàng về rối loạn tâm thần thường gặp ở 8 vùng sinh thái do
Trần Văn Cường và cộng sự thực hiện năm 2001 cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm là
2,8% dân số.
Venlafaxin là một chất ức chế mạnh tái hấp thu serotonin và norepinephrin và
cũng ức chế yếu tái hấp thu dopamin được sử dụng để điều trị bệnh trầm cảm. Thời
gian bán thải c a venlafaxin là 5 giờ, do đó nếu điều trị bằng các dạng thuốc qui
ước cần chỉ định 23 lần một ngày để duy trì nồng độ có hiệu q a c a thuốc. ể
tránh phải dùng thuốc nhiều lần trong ngày, giúp duy trì ổn định nồng độ thuốc
trong vùng điều trị, việc bào chế dạng thuốc giải phóng kéo dài chứa venlafaxin là
cần thiết. Hơn nữa việc sử dụng thuốc với dạng bào chế giải phóng kéo dài sẽ làm
giảm tác dụng không mong muốn là buồn nôn và chóng mặt khi dùng venlafaxin.
Trong số các thuốc giải phóng kéo dài, thuốc kiểm soát giải phóng theo cơ
chế bơm thẩm thấu là một dạng có ưu điểm: tốc độ giải phóng dược chất theo động
học bậc 0 và ổn định. Chính vì thế dạng thuốc này hay được ứng dụng trong thực tế
và nghiên cứu. Hiện nay, trong nước đã có một vài công ty sản xuất viên giải phóng
kéo dài theo cơ chế bơm thẩm thấu nhưng chưa nhiều và chưa phát triển mạnh. Việc
nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ bào chế dạng thuốc này có nghĩa
quan trọng trong ngành công nghiệp bào chế dược phẩm.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và phát huy ưu điểm c a dạng viên giải phóng
kéo dài chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bào chế viên venlafaxin giải
phóng kéo dài theo cơ chế bơm thẩm thấu” với mục tiêu nghiên cứu:
Xây dựng được công thức bào chế viên venlafaxin giải phóng kéo dài 24 giờ
theo cơ chế bơm thẩm thấu.
Xem thêm

56 Đọc thêm

RỐI LOẠN NHỊP TIM Ở BỆNH NHÂNNHỒI MÁU CƠ TIM

RỐI LOẠN NHỊP TIM Ở BỆNH NHÂNNHỒI MÁU CƠ TIM

các thuốc giãn ĐMV không đỡ.- Có thay đổi đặc trưng trên điện tâm đồ.- Men tim tăng cao ít nhất gấp 2 lần giới hạn cao củabình thường.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUTiêu chuẩn loại trừ bệnh nhânChúng tôi loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu những bệnh nhânsau:- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.- NMCT có sốc do các nguyên nhân khác như: sốc giảm thểtích, sốc nhiễm trùng, sốc phản vệ.- NMCT trên bệnh nhân có bệnh lý tổn thương cơ học củatim từ trước như: thông liên thất, hở van hai lá, hẹpđộng mạch chủ, suy tim nặng.- NMCT có bệnh đi kèm nặng từ trước như: ưng thư giaiđoạn cuối, tai biến mạch máu não, suy gan, suy thận,suy hô hấp.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUPhương pháp nghiên cứuKhông gian và thời gian nghiên cứuChúng tôi chọn ngẫu nhiên tất cả bệnh nhân được chẩnđoán xác định NMCT cấp có hoặc không có RLNT kèm theo,điều trị tại khoa tại khoa tim mạch BVĐK tỉnhNinh Bình và được ghi Holter ECG 24 giờ trong thời giantừ 1/2013 – 12/2014
Xem thêm

44 Đọc thêm

đánh giá đặc điểm rối loạn đông cầm máu về lâm sàng và xét nghiệm ở các bệnh nhân điều trị tại viện huyết học - truyền máu trung ương từ tháng 8-2007 đến tháng 7-2008

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN ĐÔNG CẦM MÁU VỀ LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG TỪ THÁNG 8-2007 ĐẾN THÁNG 7-2008

Đặt vấn đề

Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trước tháng 3/2004 nằm trong
bệnh viện Bạch Mai, là một bệnh viện đa khoa tiếp nhận và điều trị tất cả các
bệnh nhân của nhiều chuyên khoa khác nhau. Đối tượng bệnh nhân rất đa dạng
nhưng là mô hình bệnh của viện đa khoa, việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý
huyết học chưa được tập trung, chưa có đầu tư chuyên sâu và số lượng bệnh
nhân của chuyên khoa huyết học cũng chưa nhiều.
Sau khi Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tách ra khỏi bệnh
viện Bạch Mai, số lượng bệnh nhân điều trị bệnh máu tại các tuyến được tập
trung gửi về Viện để chẩn đoán và điều trị tăng lên nhiều. Viện Huyết học –
Truyền máu Trung ương thực sự trở thành Viện đầu ngành Huyết học –
Truyền máu. Số lượng bệnh nhân được khám và điều trị tăng cao, các loại
bệnh lý huyết học được chẩn đoán, điều trị tại Viện ngày càng tăng, Viện đI
chẩn đoán được nhiều bệnh lý huyết học khó và hiếm mà trước đây ít gặp như
lơxêmi kinh dòng lympho, các bệnh lý rối loạn các yếu tố đông - cầm máu,
bệnh lý chức năng tiểu cầu, bệnh Wandenstrom, bệnh Von-Willebrand.
Hiện nay các phương tiện kỹ thuật được trang bị đầy đủ hơn, hiện đại
hơn nên việc chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Mô hình bệnh tật tại Viện
Huyết học - Truyền máu Trung ương ngày càng đa dạng, các bệnh lý gặp
tại Viện có thể phân loại như: nhóm bệnh lý giảm sinh tuỷ (suy tuỷ, giảm
sinh tuỷ), nhóm rối loạn sinh tuỷ (theo FAB 1982 có 5 thể, theo WHO 2001
có 8 thể), nhóm tăng sinh tuỷ ác tính (có 5 thể), nhóm tăng sinh lympho ác
tính, nhóm lơxêmi cấp, nhóm u hạch ác tính, nhóm thiếu máu, nhóm
hemophilia, nhóm bệnh lý tiểu cầu, nhóm rối loạn các yếu tố đông máu
ngoài hemophilia, và các bệnh lý khác.
Các loại rối loạn đông cầm máu được thể hiện bởi các triệu chứng sau:
- Lâm sàng: xuất huyết, tắc mạch.
- Xét nghiệm: số lượng tiểu cầu giảm, PT , APTT, TT kéo dài, thiếu hoặc
giảm các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, Von - Willebrand... Các triệu chứng này có thể gặp ở rất nhiều bệnh, với nhiều chuyên khoa
khác nhau như nội, ngoại, sản, nhi, răng hàm mặt... và nhất là trong các bệnh
lý huyết học, đây là vấn đề rất đáng quan tâm, nghiên cứu.
Đặc điểm chung của các nhóm bệnh lý huyết học là sự thay đổi các
thành phần của máu như: tăng sinh, giảm sinh tế bào máu, thiếu hụt hoặc mất
các thành phần của máu (như huyết tương, các yếu tố đông cầm máu…) kết
hợp với việc các bệnh máu ác tính thường phải điều trị hoá chất, thuốc ức chế
sinh tuỷ, dẫn đến tình trạng xảy ra rất nhiều các rối loạn đông cầm máu và tỷ
lệ gặp các loại bệnh lý rối loạn đông cầm máu cũng cao hơn so với các chuyên
khoa khác. Một trong các bệnh lý rối loạn đông cầm máu nguy hiểm là đông
máu rải rác trong lòng mạch (DIC) ngày càng gặp nhiều hơn, việc có được
phác đồ chẩn đoán thích hợp, chính xác các bệnh lý rối loạn đông cầm máu
như DIC là rất quan trọng và cần phải nghiên cứu.
Trên thế giới cũng như khu vực Châu á có rất ít bệnh viện nào tập trung
số lượng Bệnh nhân mắc các bệnh lý Huyết học nhiều như tại Viện Huyết học
– Truyền máu trung ương. Các bệnh lý cũng rất đa dạng, gần như đầy đủ các
nhóm bệnh lý về Huyết học.
Từ khi tách thành Viện đầu ngành đến nay, chưa có nghiên cứu tổng thể
nào về rối loạn đông cầm máu trong các bệnh lý huyết học tại Viện Huyết học
- Truyền máu Trung ương. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
với mục tiêu:
Đánh giá đặc điểm rối loạn đông cầm máu về lâm sàng và xét nghiệm
ở các bệnh nhân điều trị tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương từ
tháng 8/2007 đến tháng 7/2008
Xem thêm

92 Đọc thêm

Nghiên cứu thực trạng rối loạn đông cầm máu gặp tại Viện huyết học truyền máu trung ương

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG RỐI LOẠN ĐÔNG CẦM MÁU GẶP TẠI VIỆN HUYẾT HỌC TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG

Đặt vấn đề

Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trước tháng 3/2004 nằm trong
bệnh viện Bạch Mai, là một bệnh viện đa khoa tiếp nhận và điều trị tất cả các
bệnh nhân của nhiều chuyên khoa khác nhau. Đối tượng bệnh nhân rất đa dạng
nhưng là mô hình bệnh của viện đa khoa, việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý
huyết học chưa được tập trung, chưa có đầu tư chuyên sâu và số lượng bệnh
nhân của chuyên khoa huyết học cũng chưa nhiều.
Sau khi Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tách ra khỏi bệnh
viện Bạch Mai, số lượng bệnh nhân điều trị bệnh máu tại các tuyến được tập
trung gửi về Viện để chẩn đoán và điều trị tăng lên nhiều. Viện Huyết học –
Truyền máu Trung ương thực sự trở thành Viện đầu ngành Huyết học –
Truyền máu. Số lượng bệnh nhân được khám và điều trị tăng cao, các loại
bệnh lý huyết học được chẩn đoán, điều trị tại Viện ngày càng tăng, Viện đI
chẩn đoán được nhiều bệnh lý huyết học khó và hiếm mà trước đây ít gặp như
lơxêmi kinh dòng lympho, các bệnh lý rối loạn các yếu tố đông - cầm máu,
bệnh lý chức năng tiểu cầu, bệnh Wandenstrom, bệnh Von-Willebrand.
Hiện nay các phương tiện kỹ thuật được trang bị đầy đủ hơn, hiện đại
hơn nên việc chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Mô hình bệnh tật tại Viện
Huyết học - Truyền máu Trung ương ngày càng đa dạng, các bệnh lý gặp
tại Viện có thể phân loại như: nhóm bệnh lý giảm sinh tuỷ (suy tuỷ, giảm
sinh tuỷ), nhóm rối loạn sinh tuỷ (theo FAB 1982 có 5 thể, theo WHO 2001
có 8 thể), nhóm tăng sinh tuỷ ác tính (có 5 thể), nhóm tăng sinh lympho ác
tính, nhóm lơxêmi cấp, nhóm u hạch ác tính, nhóm thiếu máu, nhóm
hemophilia, nhóm bệnh lý tiểu cầu, nhóm rối loạn các yếu tố đông máu
ngoài hemophilia, và các bệnh lý khác.
Các loại rối loạn đông cầm máu được thể hiện bởi các triệu chứng sau:
- Lâm sàng: xuất huyết, tắc mạch.
- Xét nghiệm: số lượng tiểu cầu giảm, PT , APTT, TT kéo dài, thiếu hoặc
giảm các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, Von - Willebrand... Các triệu chứng này có thể gặp ở rất nhiều bệnh, với nhiều chuyên khoa
khác nhau như nội, ngoại, sản, nhi, răng hàm mặt... và nhất là trong các bệnh
lý huyết học, đây là vấn đề rất đáng quan tâm, nghiên cứu.
Đặc điểm chung của các nhóm bệnh lý huyết học là sự thay đổi các
thành phần của máu như: tăng sinh, giảm sinh tế bào máu, thiếu hụt hoặc mất
các thành phần của máu (như huyết tương, các yếu tố đông cầm máu…) kết
hợp với việc các bệnh máu ác tính thường phải điều trị hoá chất, thuốc ức chế
sinh tuỷ, dẫn đến tình trạng xảy ra rất nhiều các rối loạn đông cầm máu và tỷ
lệ gặp các loại bệnh lý rối loạn đông cầm máu cũng cao hơn so với các chuyên
khoa khác. Một trong các bệnh lý rối loạn đông cầm máu nguy hiểm là đông
máu rải rác trong lòng mạch (DIC) ngày càng gặp nhiều hơn, việc có được
phác đồ chẩn đoán thích hợp, chính xác các bệnh lý rối loạn đông cầm máu
như DIC là rất quan trọng và cần phải nghiên cứu.
Trên thế giới cũng như khu vực Châu á có rất ít bệnh viện nào tập trung
số lượng Bệnh nhân mắc các bệnh lý Huyết học nhiều như tại Viện Huyết học
– Truyền máu trung ương. Các bệnh lý cũng rất đa dạng, gần như đầy đủ các
nhóm bệnh lý về Huyết học.
Từ khi tách thành Viện đầu ngành đến nay, chưa có nghiên cứu tổng thể
nào về rối loạn đông cầm máu trong các bệnh lý huyết học tại Viện Huyết học
- Truyền máu Trung ương. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
với mục tiêu:
Đánh giá đặc điểm rối loạn đông cầm máu về lâm sàng và xét nghiệm
ở các bệnh nhân điều trị tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương từ
tháng 8/2007 đến tháng 7/2008
Xem thêm

92 Đọc thêm

đánh giá đặc điểm rối loạn đông cầm máu về lâm sàng và xét nghiệm ở các bệnh nhân điều trị tại viện huyết học - truyền máu trung ương từ tháng 8-2007 đến tháng 7-2008

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN ĐÔNG CẦM MÁU VỀ LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG TỪ THÁNG 8-2007 ĐẾN THÁNG 7-2008

Đặt vấn đề

Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trước tháng 3/2004 nằm trong
bệnh viện Bạch Mai, là một bệnh viện đa khoa tiếp nhận và điều trị tất cả các
bệnh nhân của nhiều chuyên khoa khác nhau. Đối tượng bệnh nhân rất đa dạng
nhưng là mô hình bệnh của viện đa khoa, việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý
huyết học chưa được tập trung, chưa có đầu tư chuyên sâu và số lượng bệnh
nhân của chuyên khoa huyết học cũng chưa nhiều.
Sau khi Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tách ra khỏi bệnh
viện Bạch Mai, số lượng bệnh nhân điều trị bệnh máu tại các tuyến được tập
trung gửi về Viện để chẩn đoán và điều trị tăng lên nhiều. Viện Huyết học –
Truyền máu Trung ương thực sự trở thành Viện đầu ngành Huyết học –
Truyền máu. Số lượng bệnh nhân được khám và điều trị tăng cao, các loại
bệnh lý huyết học được chẩn đoán, điều trị tại Viện ngày càng tăng, Viện đI
chẩn đoán được nhiều bệnh lý huyết học khó và hiếm mà trước đây ít gặp như
lơxêmi kinh dòng lympho, các bệnh lý rối loạn các yếu tố đông - cầm máu,
bệnh lý chức năng tiểu cầu, bệnh Wandenstrom, bệnh Von-Willebrand.
Hiện nay các phương tiện kỹ thuật được trang bị đầy đủ hơn, hiện đại
hơn nên việc chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Mô hình bệnh tật tại Viện
Huyết học - Truyền máu Trung ương ngày càng đa dạng, các bệnh lý gặp
tại Viện có thể phân loại như: nhóm bệnh lý giảm sinh tuỷ (suy tuỷ, giảm
sinh tuỷ), nhóm rối loạn sinh tuỷ (theo FAB 1982 có 5 thể, theo WHO 2001
có 8 thể), nhóm tăng sinh tuỷ ác tính (có 5 thể), nhóm tăng sinh lympho ác
tính, nhóm lơxêmi cấp, nhóm u hạch ác tính, nhóm thiếu máu, nhóm
hemophilia, nhóm bệnh lý tiểu cầu, nhóm rối loạn các yếu tố đông máu
ngoài hemophilia, và các bệnh lý khác.
Các loại rối loạn đông cầm máu được thể hiện bởi các triệu chứng sau:
- Lâm sàng: xuất huyết, tắc mạch.
- Xét nghiệm: số lượng tiểu cầu giảm, PT , APTT, TT kéo dài, thiếu hoặc
giảm các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, Von - Willebrand... Các triệu chứng này có thể gặp ở rất nhiều bệnh, với nhiều chuyên khoa
khác nhau như nội, ngoại, sản, nhi, răng hàm mặt... và nhất là trong các bệnh
lý huyết học, đây là vấn đề rất đáng quan tâm, nghiên cứu.
Đặc điểm chung của các nhóm bệnh lý huyết học là sự thay đổi các
thành phần của máu như: tăng sinh, giảm sinh tế bào máu, thiếu hụt hoặc mất
các thành phần của máu (như huyết tương, các yếu tố đông cầm máu…) kết
hợp với việc các bệnh máu ác tính thường phải điều trị hoá chất, thuốc ức chế
sinh tuỷ, dẫn đến tình trạng xảy ra rất nhiều các rối loạn đông cầm máu và tỷ
lệ gặp các loại bệnh lý rối loạn đông cầm máu cũng cao hơn so với các chuyên
khoa khác. Một trong các bệnh lý rối loạn đông cầm máu nguy hiểm là đông
máu rải rác trong lòng mạch (DIC) ngày càng gặp nhiều hơn, việc có được
phác đồ chẩn đoán thích hợp, chính xác các bệnh lý rối loạn đông cầm máu
như DIC là rất quan trọng và cần phải nghiên cứu.
Trên thế giới cũng như khu vực Châu á có rất ít bệnh viện nào tập trung
số lượng Bệnh nhân mắc các bệnh lý Huyết học nhiều như tại Viện Huyết học
– Truyền máu trung ương. Các bệnh lý cũng rất đa dạng, gần như đầy đủ các
nhóm bệnh lý về Huyết học.
Từ khi tách thành Viện đầu ngành đến nay, chưa có nghiên cứu tổng thể
nào về rối loạn đông cầm máu trong các bệnh lý huyết học tại Viện Huyết học
- Truyền máu Trung ương. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
với mục tiêu:
Đánh giá đặc điểm rối loạn đông cầm máu về lâm sàng và xét nghiệm
ở các bệnh nhân điều trị tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương từ
tháng 8/2007 đến tháng 7/2008
Xem thêm

92 Đọc thêm

Giáo trình dược lý học học viện y dược học cổ truyền việt nam

GIÁO TRÌNH DƯỢC LÝ HỌC HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Khái niệm về dược lý học
Dược lý học đại cương
Thuốc tác dụng trên thần kinh thực vật
Thuốc tê
Thuốc giãn cơ trung ương
Thuốc ngủ rượu
Thuốc giảm đau – gây ngủ
Thuốc an thần
Thuốc chữa động kinh
Thuốc hạ sốt – giảm đau – chống viêm
Thuốc chũa goute
Thuốc kháng sinh
Sulfamid
Thuốc chữa lao
Thuốc chữa phong
Thuốc chống sốt rét
Thuốc chống giun sán
Thuốc chống amip
Thuốc sát khuẩn – tẩy uế
Thuốc trợ tim
Thuốc chữa tăng huyết áp
Thuốc chữa cơn đau thắt ngực
Thuốc lợi niệu
Thuốc điều chỉnh rối loạn tiêu hóa
Thuốc điều chỉnh rối loạn hô hấp
Thuốc chữa thiếu máu
Thuốc tác dụng trên quá trình đông máu và tiêu fibrin Thuốc hạ glucose máu
Thuốc hạ lipid máu
Hormon và thuốc điều chỉnh rối loạn hormon
Thuốc viên tránh thai
Histamin và thuốc kháng histamin
Vitamin
Các điện giải chính
Điều trị ngộ độc thuốc cấp tính
Thuốc chống ung thư
Xem thêm

405 Đọc thêm

MỘT BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA LÀNH TÍNH NHƯNG HAY TÁI PHÁT

MỘT BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA LÀNH TÍNH NHƯNG HAY TÁI PHÁT

Một bệnh đường tiêu hóa lành tính nhưng hay tái phátHội chứng ruột kích thích (IBS) là rối loạn chức năng của ruột bởi vì không gây viêm loét tại ruột, không kèm theoBiểu hiện bệnh đa dạngKhi mắc phải hội chứng ruột kích thích, người bệnh thường có triệu chứng nổi bật tại hệ tiêu hóa, ngoài ra còn có biểu hiệCác triệu chứng về tiêu hóa: Đau bụng là triệu chứng thường gặp, vị trí thường thấy nhất là ở vùng hạ vị hoặc hố chậu tráthể đau quặn bụng, bắt buộc phải đi ngoài ngay. Người bệnh có cảm giác chưa thoải mái hoặc chưa đi hết phân sau khi đCác biểu hiện ở ngoài cơ quan tiêu hoá: nhức đầu, dị cảm, mất ngủ, rối loạn vị giác, trầm cảm mệt mỏi, rối loạn kinh nguyệLà bệnh khá phổ biếnCho đến nay, người ta cũng chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh nhưng có nhiều yếu tố liên quan tới cơ chế sinh bệnh nhưRối loạn vận động của ruột: tăng nhu động biểu hiện bằng ỉa lỏng, giảm nhu động biểu hiện bằng táo bón.Rối loạn về cảm thụ của ống tiêu hóa: ống tiêu hóa dễ bị kích thích vì giảm ngưỡng cảm thụ nội tạng biểu hiện bằng đau bRối loạn vận động ruột dễ gây hộichứng ruột kích thích.Các yếu tố thần kinh trung ương: stress, rối loạn về tinh thần, yếu tố tâm lý. Điều này lý giải cho xu hướng bệnh ngày càngTrên thế giới, đây là một trong những bệnh tiêu hóa khá phổ biến. Tại Mỹ có tới 25% dân số mắc bệnh này. Tại Việt Nam,Do triệu chứng của người bệnh rất khác nhau, thậm chí diễn biến bệnh trên một người cũng không cố định mà thay đổi theBS. Nguyễn Trường Sơn - www.suckhoedoisong.vn
Xem thêm

2 Đọc thêm

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI TRẺ BỊ SỐT SIÊU VI

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI TRẺ BỊ SỐT SIÊU VI

Những điều cần biết khi trẻ bị sốt siêu viTrẻ bị sốt siêu vi là căn bệnh phổ biến được gây ra do vi trùng khác nhauxâm nhập vào cơ thể trẻ nhỏ. Tuy đây không phải là bệnh nguy hiểm, nhưngtrong một số trường hợp vẫn có thể dẫn đến tử vong. Sau đây là những điềucần biết khi trẻ bị số siêu vi dành cho các bố mẹ.•Hướng dẫn cách tắm khi trẻ sốt caoNhững dấu hiệu nhận biết trẻ bị sốt siêu vi– Trẻ sốt cao do virus, nhiệt độ cơ thể có thể giao động từ 38 – 41 độ– Viêm đường hô hấp: Viêm họng, họng bị sưng tấy đỏ, rát họng, ho, chảynước mũi, hắt hơi– Trẻ không tỉnh táo: đau đầu, cảm giác quay cuồng, nhức đầu dữ dội, cócảm giác chao đao. Tuy nhiên một số trẻ em có đau đầu nhưng lại tỉnh táo.Thay vào đó là các dấu hiệu khác như chảy mủ tai hoặc tai có nhầy, ngứa– Viêm kết mạc mắt: mắt đỏ, có gỉ mắt, chảy nước mắt– Đau khắp người: Ở trẻ nhỏ khi đau mình sẽ quấy khóc, còn với trẻ lớnthường kêu đau khắp mình và chủ yếu ở cơ bắp.Nên đọc: Trị rôm sảy cho trẻ và những điều cần biết– Nôn: thường thì trẻ sẽ nôn sau khi ăn– Rối loạn tiêu hóa: Nếu nguyên nhân gây sốt do virus đường tiêu hóa sẽ cóđặc điểm tiêu chảy, tiêu chảy kèm máu– Viêm hạch: Đặc biệt là các hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau cóthể nhìn hoặc sờ thấy.Cách xử lý khi trẻ bị sốt siêu vi:
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi và kết quả điều trị chảy máu do tăng áp lực tĩnh mạch cửa tại bệnh viện Việt Đức (2006-2010)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẢY MÁU DO TĂNG ÁP LỰC TĨNH MẠCH CỬA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC (2006-2010)

ĐẶT VẤN ĐỀ



Chảy máu tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản là một biến chứng thường gặp và trầm trọng của hội chứng TALTMC- hậu quả của nhiều nguyên nhân nhưng thường gặp do xơ gan.
Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 50% ( 30-90%) bệnh nhân xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản. Tỷ lệ chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản xảy ra ở 30-40% số bệnh nhân này [1],[2],[8],[15]. Khi vỡ các búi giãn TMTQ gây ra các hậu quả nặng nề: mất máu khối lượng lớn dẫn đến rối loạn huyết động, rối loạn chức năng gan vốn đã suy yếu ở bệnh nhân xơ gan. Điều trị các trường hợp này thường khó khăn, nguy cơ tử vong cao, tỷ lệ tử vong trong chảy máu lần đầu tới 50% nếu không được điều trị kịp thời [2],[8],[15].
Ở Việt Nam, tỷ lệ chảy máu do giãn vỡ TMTQ vào cấp cứu ngày càng tăng [12,13]. Theo thống kê của bệnh viện Việt Đức giai đoạn 1992-1996 : có
12-26% XHTH là do giãn vỡ TMTQ. Giai đoạn 2001-2005 là 24-30%[19]. Tại bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ này là 30% [15].
Từ những số liệu trên cho thấy, việc điều trị chảy máu và dự phòng chảy máu tái phát do giãn vỡ TMTQ do xơ gan TALTMC vẫn là một vấn đề lớn, mang tính thời sự, cần tiếp tục được nghiên cứu.
Có nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã được áp dụng, phương pháp điều trị không phẫu thuật bao gồm điều trị nội khoa và các thủ thuật nội soi như tiêm xơ, thắt vòng cao su các búi giãn tĩnh mạch…là các phương pháp ít xâm hại đang được áp dụng rộng rãi, kết quả cầm máu tốt (80-90%), nhưng tỉ lệ chảy máu tái phát còn cao (20-30% xuất huyết tái diễn hoặc tái phát sớm).Song song với điều trị nội khoa, người ta đồng thời nghiên cứu áp dụng các phương pháp phẫu thuật, tạo ra đường phân lưu cửa-chủ làm giảm áp lực TMC vừa có tác dụng cầm máu, vừa điều trị dự phòng chảy máu tái




phát, tuy nhiên đây là can thiệp nặng nề, tỷ lệ bệnh não gan sau phẫu thuật còn cao. Thời gian gần đây, bệnh viện Việt Đức đã thực hiện kỹ thuật can thiệp nội mạch phân lưu cửa chủ trong gan qua đường TM cảnh (TIPS) để điều trị các biến chứng của xơ gan TALTMC. Kỹ thuật nhằm tạo ra một cầu nối trong nhu mô gan giữa 1 nhánh TMC với TM gan, dẫn lưu máu trực tiếp từ TMC về TM chủ, không qua gan, làm giảm áp lực TMC, hạn chế XHTH và ngăn ngừa tái phát.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài : “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi và kết quả điều trị chảy máu do tăng áp lực tĩnh mạch cửa tại bệnh viện Việt Đức (2006-2010)” nhằm hai mục tiêu:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân chảy máu tiêu hóa do TALTMC được điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ năm
2006-2010.

2. Đánh giá kết quả điều trị chảy máu tiêu hóa do TALTMC ở những bệnh nhân này.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Cùng chủ đề