ĐƠN VỊ ĐƯỢC KINH DOANH VÀNG MIẾNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐƠN VỊ ĐƯỢC KINH DOANH VÀNG MIẾNG":

Đề tài: Quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng Việt Nam

ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI VỚI THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM

Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái tiền tệ và trở thành vật ngang giá thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế. Mặt khác, nhờ đặc tính lý hóa của nó, vàng được sử dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng. Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần, nhưng giá vàng tăng chậm và có thể cọi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều Ngân hàng Trung ương và nhà đầu tư, nên giá vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh.
Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới biến động, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. Cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của thị trường vàng, thực tiễn quá trình hoạt động kinh doanh của thị trường vàng hiện nay tại Việt Nam đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý đồng bộ, nhất quán, đầy đủ từ phía nhà nước. Đây là một vấn đề khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng ở Việt Nam”.
Chương 1 Khái quát về thị trường vàng và QLNN về TM đối với thị trường vàng Việt Nam
1.1. Khái quát về thị trường vàng Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
Vàng là kim loại mềm, dễ uống, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hóa chất, có dang quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích. Là một kim loại quý, dùng để đúc tiền. Vàng được dùng làm 1 tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước, được sử dụng trong các ngành nha khoa, điện tử, và trang sức.
Đến nay, dường như chưa có một định nghĩa cụ thể về thị trường vàng, song hầu hết mọi người đều hiểu rằng, thị trường vàng là nơi mà các nhà đầu tư mua bán vàng, thường là mua trong thời điểm giá thấp sau đó bán đi với giá cao hơn để kiếm lời. Thị trường vàng cũng như hầu hết các thị trường khác, cơ bản là sự trao đổi mua bán để kiếm lời. Song thị trường vàng là một thị trường đầy rủi ro, thách thức với mỗi nhà đầu tư, bên cạnh đó thị trường vàng cũng nằm trong sự kiểm soát của chính phủ,chịu tác động từ phía chính phủ. Bản thân thị trường vàng cũng tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế cũng như đời sống xã hội.
Những đặc điểm của thị trường vàng Việt Nam
Việt Nam là một thị trường có nhu cầu cao về vàng. Với hơn 90 triệu dân, Việt Nam là một quốc gia có sức mua lớn. Người Việt Nam có thói quen tích trữ vàng cùng với việc vàng được sử dụng nhiều trong đời sống hàng như làm đồ trang sức, làm của hồi môn… Bên cạnh đó, ngày nay nhu cầu đầu tư vàng ngày càng cao nên nhu cầu về vàng trong nhân dân là rất lớn.
Thị trường vàng ở Việt Nam phụ thuộc vào thị trường vàng trên thế giới, bởi chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài, phần sản xuất trong nước không đáng kể. Do vậy, mỗi khi giá vàng trên thế giới tăng, giảm sẽ tác động lập tức đến giá vàng ở trong nước.

1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam
Chính sách nhà nước: Các chính sách của nhà nước liên quan đến kinh doanh vàng ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường vàng Việt Nam, trong đó gồm các pháp lệnh, thông tư, nghị định của Ngân Hàng nhà nước, của Thủ tướng chính phủ. Các chính sách quản lý nhà nước sẽ điều tiết các chủ thể tham gia thị trường vàng và các hoạt động của họ trong thị trường.
Biến động thị trường vàng thế giới: Tác động đến thị trường vàng có rất nhiều yếu tố nhưng không thể thiếu tác động từ thị trường vàng thế giới. Thị trường vàng trong nước hiện nay đã và đang gắn chặt với thị trường thế giới do nguồn cung vàng của chúng ta chủ yếu đến từ nhập khẩu. Vì vậy khi thị trường thế giới biến đổi sẽ lập tức ảnh hưởng đến thị trường trong nước.
Các nhân tố khác: Ngoài chính sách nhà nước hay biến động thị trường thế giới có những tác động đến thị trường vàng Việt nam, thì các yếu tố khác như môi trường kinh tế, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng ít nhiều tác động đến hành vi đầu cơ, đầu vào của doanh nghiệp kinh doanh vàng, điều đó sẽ phần nào là nguyên nhân dẫn đến mỗi biến động của thị trường.
1.1.3. Các chủ thể của thị trường vàng Việt Nam
Có thể chia thị trƣờng vàng Việt Nam theo ba đối tƣợng sau:
Người tích trữ: Đây là những chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi, giữ vàng với mục đích phòng thân. Phần tài sản bằng vàng này là một hợp đồng bảo vệ chắc chắn cho họ trƣớc các biến động về kinh tế xã hội với đặc tính dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt. Những ngƣời tích trữ có thể là công nhân, viên chức, nông dân hay bất kỳ ai khác trong xã hội. Những chủ thể này thƣờng có đặc điểm: giữ vàng như một tài sản chìm tại nơi chắc chắn, giữ trong thời gian dài không cân nhắc tới yếu tố lợi nhuận khi quyết định mua hay bán vàng và không quan tâm tới tác động lên xuống của giá cả.
Người đầu tư: Những người mua vàng với mục đích đầu tư trên thực tế cũng là những ngƣời tích trữ nhưng tích cực hơn những người tích trữ thể hiện ở các đặc điểm: vàng của họ có thể ở dạng “vàng tín dụng” gửi tại một tài khoản ngân hàng, xem vàng như một nguồn vốn đầu tư sinh lợi và chỉ giữ nguồn vốn dưới dạng bằng vàng khi cần thiết. Những ngƣời đầu tư thường thực hiện nhiều hành vi mua bán, hoặc vay và cho vay, qua đó nguồn vốn của họ tăng lên. Họ quan tâm đến sự biến động giá vàng trong cả ngắn hạn và dài hạn và luôn đặt nó lên bàn cân lãi suất.
Người đầu cơ: Những chủ thể này có hoạt động tương tự như những ngƣời đầu tư, nhưng họ có thể dự đoán và khai thác giá vàng trong thời gian ngắn và họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao để có thể thu đƣợc lợi nhuận nhiều hơn bằng cảm nhận nhanh chóng và phản ứng linh hoạt, nhạy bén trước những nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá vàng.
Hiện nay ở nước ta, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vàng, thì số lượng các nhà đầu tư và đầu cơ cũng ngày càng tăng lên nhanh chóng. Điều này thể hiện thị trường vàng Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng ngày càng chuyên nghiệp hoá, và vàng đang dần trở thành một kênh đầu tư hữu hiệu với nhiều người.

1.2. QLNN về TM đối với thị trường vàng
1.2.1. Khái niệm về quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Thị trường vàng là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế của một quốc gia, do đó quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển của thị trường vàng. Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về đối với thị trường, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại đến các chủ thể của thị trường vàng và các hoạt động của họ thông qua việc sử dụng các công cụ, chính sách quản lý thích hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định thị trường vàng.
1.2.2. Chức năng của quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng mang đầy đủ những chức năng của quản lý Nhà nước về thương mại nói chung, được cụ thể hóa ở một số lĩnh vực sau:
Xây dựng kế hoạch hoạt động và phát triển thị trường vàng với từng bước đi cụ thể và thích hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội.
Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của thị trường vàng như: cơ quan quản lý, công ty kinh doanh vàng bạc đá quý… đồng thời phối kết hợp các cơ quan này với nhau trong hoạt động quản lý.
Xây dựng hệ thống pháp lý, chính sách quy định chặt chẽ các hoạt động kinh doanh vàng bạc để tạo ra sự thống nhất trong mọi giao dịch.
Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên thị trường vàng như mua bán gian lận, đầu cơ, …
Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động của thị trường.
Các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ nhằm duy trì sự hoạt động ổn định của thị trường, tạo điều kiện để phát triển thị trường và có thể thích ứng với mọi thay đổi trong xã hội.
1.2.3. Phân cấp quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Tại Việt Nam, vàng luôn là một tài sản tích trữ được ưa chuộng, thậm chí có những giai đoạn, vàng không chỉ còn là phương tiện tích trữ giá trị mà còn đóng vai trò là tiền tệ; giá vàng có lúc đã là một chỉ số ảnh hưởng đến giá cả các loại hàng hóa trong nền kinh tế. Chính vì vậy, các hoạt động của thị trường vàng tại Việt Nam đã sớm được đưa vào quản lý.
Cùng với các chính sách đổi mới nền kinh tế, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các văn bản pháp lý quy định cụ thể về vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đối với thị trường vàng đã lần lượt ra đời. Mới đây nhất là Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Nghị định số 702014NĐCP ngày 1772014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối. Theo đó thì , Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng, cụ thể: Quản lý hoạt động kinh doanh vàng, xuất nhập khẩu vàng, ngoại hối, phương án sản xuất vàng miếng của NHNN trong từng thời kỳ và các hoạt động khác liên quan đến vàng khi được Chính phủ giao; phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước, tổ chức huy động vàng của các tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật.
Ngoài NHNN là cơ quan quản lý trực tiếp chịu trách nhiệm trước chính phủ về việc thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng còn có các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản lý trong phạm vụ và quyền hạn của mình.
Cụ thể trách nhiệm của mỗi cơ quan quản lý như sau:
a) Đối với NHNN
Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban hành chiến lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định này.
Ngân hàng Nhà nước được bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng thông qua các biện pháp sau đây:
+ Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này.
+ Tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời kỳ. Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được hạch toán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng Nhà nước.
+ Thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy động vàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Ngân hàng Nhà nước cấp, thu hồi: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, giấy phép mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định; giấy phép đối với các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu và hoạt động kinh doanh vàng khác.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác liên quan đến quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
b) Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Bộ Công Thương có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và việc doanh nghiệp kinh doanh vàng chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm quy định và hướng dẫn thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và sao gửi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã cấp cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên địa bàn để phối hợp thực hiện.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vàng, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập đối với hoạt động kinh doanh vàng phù hợp trong từng thời kỳ.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm thực hiện ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra, thanh tra và quản lý chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc đấu tranh, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh vàng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng tại địa phương theo quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
Căn cứ vào yêu cầu thực tế, các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ thông tin để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động thị trường; phối hợp thực hiện kiểm tra, thanh tra hoạt động trên thị trường vàng theo quy định của pháp luật.
1.2.4. Nội dung QLNN về TM với thị trường vàng Việt Nam
Chương 2 Thực trạng quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng ở Việt Nam
2.1. Thị trường vàng VN trong những năm gần đây
Qua một quá trình phát triển lâu dài, thị trường Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến vượt bậc so với cách đây vài chục năm. Xu hướng mở thể hiện rõ nét qua tính đa dạng về chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường. Ngoài các công ty chiếm tỷ trọng lớn, có khả năng chi phối giá như công ty Vàng bạc đá quý SJC, PNJ, SACOM, ACB, SCB…còn có sự góp mặt cảu nhiều Ngân hàng thương mại, các tiệm vàng lớn nhỏ trên cả nước cùng mạng lưới nhà đầu tư cá nhân khắp mọi miền. Các chủ thể tiếp cận thị trường với nhiều mục đích khác nhau có thể là kinh doanh, tích trữ, để sản xuất, để thanh toán, hay chỉ đơn giản là nhu cầu trang sức làm đẹp…Và có thể nhận thấy, nhu cầu về giao dịch vàng tại Việt Nam đang có xu hường ngày một cao, sự phát triển của thị trường vàng Việt Nam cũng vì thế mà ngày càng đi lên.
Cung vàng trên thị trường trong nước
Nguồn cung vàng chủ yếu trong nước là do nhập khẩu, Việt Nam là quốc
gia nhập khẩu tới 95% nhu cầu vàng của mình. Việt Nam trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu vàng. Điều này góp phần không nhỏ vào thâm hụt cán cân thương mại của đất nước, đối phó loại với tình hình, giữa tháng 5 năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã ngừng cấp giấy phép nhập khẩu vàng nhằm kiềm chế lạm phát, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Cho đến thời điểm ngừng nhập khẩu vàng thì tổng giá trị nhập
khẩu vàng cho năm 2008 là 1,7 tỷ USD tương đương 45 tấn vàng và bằng
57% sản lượng vàng tiêu thụ năm 2007.Việc ngừng nhập khẩu vàng là việc
phải làm nhưng “liều thuốc” này cũng đã để lại một số tác dụng phụ, trong đó
đáng chú ý là góp phần “đẩy” giá vàng trong nước càng xa với thế giới.
Ngưng nhập khẩu vàng đồng nghĩa với nguồn cung vàng bị bó hẹp lại, vì vậy
làm cung nhỏ hơn cầu tất yếu dẫn đến việc đẩy giá vàng tăng lên và tạo ra những diễn biến phức tạp trong năm 2008. Song đến cuối năm 2009, do có những biến động bất lợi tạo ra sự biến động lớn trên thị trường vàng, đẩy giá vàng lên trên 29triệu đồng lượng,
nguồn cung vàng là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến động này.
Để bình ổn giá vàng Chính phủ đã có những biện pháp ổn định thị trường
vàng trong nước, trong đó đáng chủ ý, là việc Thống đôc Ngân hàng Nhà
nước Nguyễn Văn Giàu đã cho phép nhập khẩu vàng sau 1,5 năm ngừng nhập 32
khẩu. Nhờ đó thị trường vàng phần nào ổn định do cung vàng có thể đáp ứng
đủ nhu cầu vàng trong nhân dân.
Xem thêm

34 Đọc thêm

Tìm hiểu thị trường vàng tại Việt Nam hiện nay

TÌM HIỂU THỊ TRƯỜNG VÀNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Tìm hiểu thị trường vàng tại Việt Nam hiện nay

I. Thị trường vàng:

Chức năng bao quát và sức hấp dẫn mạnh mẽ của vàng là một phương tiện đầu tư, có được nền tảng cơ sở là nguồn cung và nguồn cầu năng động của thị trường vàng.

Vàng mang tính đặc biệt bởi nó vừa là tài sản dạng hàng hóa vừa là tài sản dưới dạng tiền tệ. Bởi vì nó thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng thuộc loại khoáng sản vẫn tồn tại trên mặt đất dưới dạng này hoặc dạng khác và theo lý thuyết đa số trữ lượng vàng trên mặt đất thì dễ khai thác. Điều này có nghĩa là việc khai thác vàng khá đơn giản, chỉ là chuyện tái chế lại từ dạng này sang dạng khác. Đây là một trong những lý do tại sao giá vàng trong lịch sử thường ít biến động hơn giá những hàng hóa thông thường khác. Nó cũng giải thích tại sao thị trường vàng trước đây nhìn chung là ổn định.


GFMS Ltd ước tính cuối năm 2006 trữ lượng vàng trên mặt đất có khối lượng xấp xỉ 158000 tấn, trong đó đã khai thác 66% từ năm 1950.

Trữ lượng vàng được nắm giữ trong các cơ quan có thẩm quyền bao gồm ngân hàng trung ương, những cơ quan chính phủ như Monetary Authority của Singapore, và những tổ chức siêu quốc gia như Quỹ tiền tệ thế giới, ngân hàng trung ương Châu Âu...

Vàng thỏa mãn nhu cầu hằng năm bao gồm cả vàng khai thác và vàng tái chế được khai thác từ những năm trước. Biểu đồ giữa bên trên chỉ ra rằng qua hơn 5 năm, vàng tái chế nhiều từ thị trường trang sức, chiếm ¼ nguồn cung vàng, đứng sau là lượng vàng được bán ra từ ngân hàng trung ương.

Nhu cầu hằng năm về vàng có ba loại chính, lớn nhất là nhu cầu từ thị trường trang sức khoảng 44 tỷ USD năm 2006. Nhu cầu công nghiệp vê vàng lớn nhất là cho lĩnh vực điện tử,nhưng cũng bao gồm lĩnh vực nha khoa và một số ngành công nghiệp khác và đáp ứng cho việc trang hoàng. Cuối cùng trong nguồn cầu là nhu cầu đầu tư. Bởi vì một phần quan trọng trong nhu cầu đầu tư là được xử lý trên thị trường OTC và không dễ dàng để định lượng được tổng giá trị giao dịch. Các hoạt động đầu tư thể hiện trên biều đồ trên bao gồm đầu tư cho vàng thỏi, tiền đồng, huy chương và tiền đồng giả, “ đầu tư nhỏ lẻ khác” và đầu tư trong việc trao đổi giao dịch quỹ vàng và sản phẩm có liên quan.

Nhu cầu đầu tư tăng mạnh vào năm 2006, tăng 8% số lượng và hơn 45% về giá trị USD thu được so với năm trước. Năm 2006 Nam Phi là nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới, với 292 tấn chiếm 12% tổng sản lượng, theo sau là Mỹ với 252 tấn , chiếm hơn 10% tổng sản lượng, kế đó là Trung Quốc hơn 247 tấn. Điểm đặc biệt nổi lên trong thập niên vừa qua là Indonesia, trong năm 1992 chỉ sản xuất 2 tấn nhưng đến năm 2005 là hơn 114 tấn, nổi bật là mỏ Grasberg, là nơi sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Và Peru sản xuất tăng từ 218 tấn trong năm 1992 lên 203 tấn trong năm 2006, với một nửa đến từ mỏ Yanacocha của Newmont, nơi sản xuất vàng lớn thứ 2 thế giới trên mực nước biển 14.000 feet ở dãy Andes.

Nhiều nước sản xuất vàng trên thế giới lại là những nước nghèo bị mắc nợ nhiều của Ngân Hàng Thế Giới. Đối với một vài quốc gia vàng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong xuất khẩu của họ,ví dụ như Ghana và Mali vàng là hàng hóa xuất khẩu đứng thứ ba..

Tóm lại vàng nổi bật trong vai trò là phương tiện cất trữ. Thị trường vàng hình thành dựa trên nguồn cầu và nguồn cung vàng. Nguồn cung bao gồm vàng khoáng sản được khai thác mới và vàng tái chế. Nguồn cầu gồm nhu cầu cho việc làm trang sức, công nghiệp, trang hoàng và đầu tư. Trên cơ sở cung và cầu vàng sẽ hình thành giá vàng, đồng thời cung, cầu vàng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.

II. Các nguồn cung và cầu vàng:

Nguồn cung:

a. Vàng khai thác

Tổng số lượng vàng đã khai thác trong lịch sử xấp xỉ 158 000 tấn, trong đó 66% là được khai thác từ năm 1950. Xu hướng phát triển sản xuất hằng năm bây giờ đã ổn định, bởi vì xu hướng tiêu dùng đã chậm lại vào cuối những năm 1990. Những nhà phân tích độc lập tin rằng khai thác vẫn sẽ duy trì ổn định trong một vài năm tới và nếu có thay đổi giảm xuống thì không đáng kể.

Vàng được khai thác sâu nhất hiện tại là mỏ Savuka, khai thác trên mép tây bắc của Witwatersrand BasinNam Phi. Hoạt động khai thác ở độ sâu 3.774m.Điều này có nghĩa là việc khai thác vàng rất khó khăn và tốn kém, đòi hỏi công nghệ tiên tiến. Chi phí sản xuất thay đổi mạnh tùy theo mỏ tự nhiên (hầm) hay khai thác dưới mặt đất và độ sâu bao nhiêu, trữ lượng quặng và lớp khai thác.

b. Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương và những tổ chức xuyên quốc gia nắm giữ 15 trữ lượng vàng trên mặt đất như tài sản dự trữ, nhưng đang giảm đều qua thời gian. 28 500 tấn trong trữ lượng trên mặt đất trong biểu đồ bên trên gồm vàng sở hữu bởi ngân hàng trung ương và một phần bên ngoài là cho vay với con số cao hơn là không đáng kể.

Người bán buôn, đóng góp trung bình 527 tấn vào dòng chảy cung ứng hằng năm từ năm 2002 đến năm 2006. Kể từ tháng 9 năm 1999, phần lớn việc buôn bán này được kiểm soát bởi Central Bank Agreement on Gold (CBGA). CBGA mới đã kiểm soát giai đoạn từ tháng 92004 đến tháng 92009 đã được tuyên bố thành lập vào tháng 32004.

Thông qua việc mua bán, Ngân hàng trung ương cũng ảnh hưởng đến thị trường vàng thông qua việc cho vay của họ, trao đổi và những hoạt động khác. Họ giữ vai trò người cho vay vàng chính (mặc dù không phải là duy nhất) trên thị trường.

Gần đây các Ngân hàng trung ươong phải báo cáo việc nắm giữ vàng của họ hằng tháng cho IMF và được phát hành hàng tháng trong ấn bản Thống kê tài chính quốc tế của IMF.

Do đó những thay đổi trong việc nắm giữ vàng được giám sát. Tuy nhiên một số ít Ngân hàng trug ương có nắm giữ vàng không cho rằng là phần tích trữ của cơ quan nên không báo cáo. Thêm vào đó cũng có một phần hoặc hầu hết cơ quan không được báo cáo. Do đó giám sát việc nắm giữ này vẫn rất khó khăn.

c. Vàng tái chế

Vàng thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng đã khai thác vẫn tồn tại. Nó cũng dễ phục hồi được từ hầu hết vàng đã qua sử dụng và có khả năng nấu chảy ra, lọc và sử dụng lại. Điều đó cho phép cung vàng tái chế, là một bộ phận quan trọng trên thị trường vàng vốn rất năng động

Hầu hết vàng tái chế thông thường có nguồn gốc từ trang sức. Một lượng nhỏ là từ những thiết bị điện tử được thu lại và cả từ vàng thỏi và tiền đồng.

Việc cung ứng kim loại tái chế phụ thuộc rất lớn vào tình hình nền kinh tế và biến động giá vàng. Vàng cũng có thể bán đổi lấy tiền mặt cả khi người sở hữu vàng cần tiền hay nếu như người đó muốn hưởng lợi nhuận qua chênh lệch giá vàng. Điều này cho phép nguồn cung vàng tái chế gia tăng trong thời gian nền kinh tế ảm đạm.

2. Nguồn cầu Vàng:

a. Nhu cầu cho trang sức

Trang sức chiếm nhu cầu lớn nhất chiếm hơn 70% nhu cầu về vàng, đạt giá trị khoảng 44 tỷ USD theo giá vàng bình quân năm 2006.

Có cả sự khác biệt và tương đồng trong việc mua bán vàng giữa các nước. Nhu cầu chịu ảnh hưởng nhiều từ sự khác biệt văn hóa và thành phần xã hội, nghiên cứu thị trường cũng chỉ ra cảm nhận về vàng là tương tự nhau và quan điểm cốt lõi về vàng qua những thị trường là khác nhau. Như mua vàng trang sức thường được kết hợp với một dịp đặc biệt nào đó như Ngày Valentine, ngày cưới, ngày kỉ niệm và sinh nhật trên khắp thế giới.

Nghiên cứu thị trường chịu trách nhiệm chỉ ra có nhiều khúc thị trường ở khắp các nước mặc dù mỗi nước thì tầm quan trọng của mỗi khúc khác nhau.

Mua trang sức thì có mùa, thường là vào lễ Giáng sinh, ngày 15, những lễ hội cuối năm khi mà trang sức trở thành món quà tặng phổ biến. Ngày quốc khánh và Tết cổ truyền ở Trung Quốc cũng là dịp lớn để mua sắm trang sức.

Năm 2006,thị trường có nhu cầu tiêu thụ trang sức lớn nhất là Ấn Độ (khoảng 522 tấn), vàng trang sức chủ yếu được sử dụng cho lễ hội và đám cưới, vàng truyền thống là 22 carat. Nhu cầu về trang sức ở Ấn Độ nhạy cảm mạnh mẽ với giá vàng, có ảnh hưởng mạnh đến nguồn cầu về vàng. Phần lớn vàng sử dụng ở đây là nhập khẩu nhưng hầu hết trang sức thì được làm ra ngay trong nước. Thực vậy, Ấn Độ có nền công nghiệp nữ trang phồn thịnh và là nước xuất khẩu chính. Mỹ là thị trường có cầu về vàng trang sức đứng thứ hai sau Ấn Độ trong năm 2006 khoảng 306 tấn). Dịp tiêu thụ trang sức mạnh nhất là Giáng sinh, những lễ hội cuối năm, ngoài ra còn có lễ Valentine và Ngày của Mẹ, có thể là vàng 14, 18 hoặc 10 carat.

b. Nhu cầu trong công nghiệp

Nhu cầu về vàng trong công nghiệp và nha khoa chiếm khoảng 12% nhu cầu về vàng, khoảng 400 tấn từ năm 2002 đến 2006.

Hơn một nửa nhu cầu của công nghiệp và nha khoa (khoảng 7%) là sử dụng vàng trong những bộ phận điện tử thích hợp chịu nhiệt độ cao và dẫn nhiệt, dẫn điện và điểm nổi bật của vàng là chống lại sự ăn mòn. Nhu cầu vàng trong lĩnh vực điện tử tăng trong những thập niên vừa qua nhưng nó cũng dao động tùy vào GDP toàn cầu và sự phát triển của ngành công nghiệp. Hầu hết vàng sản xuất cho những linh kiện điện tử là từ Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á. Những công ty chuyển nhà máy đến đó để có ưu thế về chi phí cơ bản thấp hơn thì đang giành phần lớn thị phần. Nhu cầu tương lai trong công nghiệp về vàng thì quan trọng ngày càng rõ hơn khi những thiết bị điện tử tổng quát và hàng hóa tiêu dùng tiếp tục sử dụng vàng trong những bộ phận cấu thành.

Tác dụng của vàng đã được biết đến từ lâu trong lịch sử, có thể dùng trong sinh học, kháng lại vi khuẩn xâm nhập và ăn mòn, do đó được sử dụng thành công trong cơ thể con người. Trong nha khoa nhu cầu sử dụng vàng chiếm ổn định khoảng 2%. Nhật, Mỹ, Đức là 3 nước dẫn đầu trong việc chế tạo hợp kim nha khoa.

Những nghiên cứu trong những thập niên qua không phản ánh tiềm năng thực sự sử dụng vàng đang nhiều hơn trong công nghiệp luyện kim. Vàng còn được sử dụng như chất xúc tác ví dụ như chất xúc tác trong phòng đốt nhiên liệu. Một số công ty đã biết phát triển công nghiệp chất xúc tác dựa trên vàng và điều này có thể làm dẫn đến nhu cầu mới về vàng trong ngành công nghiệp luyện kim. Trong lĩnh vực công nghệ nano phát triển mau lẹ thì vàng được sử dụng cũng khá nhiều như trong việc chế tạo latop và điện thoại di động. Sử dụng vàng trong việc phủ lên chất siêu dẫn cũng có thể tạo ý nghĩa quan trọng trong nhu cầu về vàng trong công nghiệp.

c. Nhu cầu vàng trong đầu tư

Vàng sử dụng cho đầu tư đã có lâu trong lịch sử và được bắt nguồn từ vai trò của nó như vật nắm giữ an toàn, dự trữ giá trị và tài sản tiền tệ. Thời gian gần đây, vai trò của vàng được biết như là loại hình đầu tư hoàn hảo, đầu tư vàng như tiền tệ và bảo đảm trước lạm phát, cũng được nhận ra.

Nhiều trang sức được mua ở Châu Á và Trung Đông cũng được coi như một kênh đầu tư hay mang tính tiết kiệm, dự trữ.

Người đầu tư chuyên nghiệp có xu hướng đưa ra sự khác biệt giữa đầu tư nhỏ lẻ (những cá nhân mua bán) và đầu tư có tính chất tổ chức (mua bán bởi những quỹ đầu tư hay những tổ chức, tập đoàn khác). Trong thực tế khó phân biệt giữa hai loại này, thực tế có một vài nhà đầu tư cá nhân nắm giữ một lượng đáng kể. Trữ lượng nắm giữ đầu tư, hay đầu tư cá nhân chiếm khoảng 16% tổng trữ lượng vàng. Hơn 5 năm qua, một “cuộc cách mạng nhỏ” đã xảy ra trong lĩnh vực đầu tư trên thế giới là nhu cầu đầu tư tăng vọt từ 4% tổng nhu cầu sử dụng cuối cùng năm 2000 lên 19% trong năm 2006. Khi thị trường OTC hoạt động, lượng giao dịch trên tài khoản luôn ít hơn với thực tế, một ước chừng tổng cộng khoảng 13.2 tỷ USD của những nhà đầu tư tiền đã tìm thấy qua cách đầu tư vào vàng trong năm 2006.

Sự thu hút đầu tư vàng có liên quan đến các yếu tố: sự thay đổi của đôla và lạm phát kỳ vọng, sự thay đổi của chính trị và tăng sự thừa nhận vai trò của vàng có thể đầu tư đa dạng.

III. Đặc điểm của thị trường vàng:

Biến động rất nhanh do giá vàng chịu ảnh hưởng lớn từ giá dầu thế giới và diễn biến của thị trường chứng khoán. Trong khi giá dầu thế giới lại phụ thuộc nhiều về cung (Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới là vùng Trung Đông mà các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn đã ảnh hưởng đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều nhà đầu tư thường nhìn vào diễn biến giá dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự đoán cho xu hướng dao động của vàng) và cầu (thị trường cầu lớn về dầu là Mỹ). Còn thị trường chứng khoán thì khi giá chứng khoán giảm thì thường giá vàng tăng và ngược lại, vì vàng mua bán chủ yếu là cho mục đích tích trữ và đầu tư.

Biến động rất nhanh do giá vàng chịu tác động bởi các yếu tố :

Yếu tố tâm lý: Trên thị trường thế giới, khi giá vàng tăng các hoạt động bán vàng tăng mạnh, và ngược lại. Nhưng trên thị trường Việt Nam, khi giá vàng tăng cao mọi người ào ạt mua vàng và khi giá vàng xuống thấp thì lại bán ra nhanh chóng.

Giá dầu (tác động cùng chiều). Giá dầu thế giới phụ thuộc nhiều về cung và cầu.. Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới là vùng Trung Đông mà các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn đã ảnh hưởng đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều nhà đầu tư thường nhìn vào diễn biến giá dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự đoán cho xu hướng dao động của vàng.Thị trường cầu lớn về dầu là Mỹ nên sẽ có tác động mạnh tới gía dầu từ đó ảnh hưởng lên giá vàng.

Thị trường chứng khoán (tác động ngược chiều). Vàng và chứng khoán là hai kênh đầu tư lớn trên thị trường tài chính. Khi chứng khoán mất điểm, nhiều Nhà đầu tư sẽ chuyển sang kênh vàng làm giá vàng tăng và ngược lại.

Gía các loại ngoại tệ mạnh như USD, GBP

Lạm phát kỳ vọng: nếu niềm tin là lạm phát với mức kỳ vọng lớn thì giá vàng có thể sẽ tăng do mọi người đổ xô mua vàng.

Thường hoạt động trên thị trường vàng là hoạt động đầu cơ tích trữ vì vàng được coi là vật bảo đảm giá trị cao khi xảy ra lạm phát, được coi là phương án đầu tư an toàn.

IV. Diễn biến thị trường vàng thế giới và Việt Nam những năm gần đây:

Diễn biến giá vàng trong khoảng 2001 2008:

Giá vàng thế giới: Bắt đầu từ 2001, thời điểm khởi đầu của chu kỳ tăng giá vàng, đặc biệt là từ sau vụ khủng bố 119 cho đến nay. Đây là chu kỳ tăng giá dài nhất trong vòng 3 thập kỷ qua. Nếu như mức tăng giá vàng thế giới trong giai đoạn 1991 – 1995 và 1996 – 2000 giảm lần lượt là 1,44% và 29,65% thì giai đoạn 2001 – 2005 tăng mạnh lên 90,04%. Năm 2006, thị trường kim loại quý vẫn liên tục lên cơn sốt tăng giá và liên tục lập những kỷ lục mới. Trong phiên giao dịch ngày 1252006, giá vàng đã có lúc tăng lên mức cao kỷ lục 731 USDounce – mức cao nhất kể từ tháng 11980. Kỉ lục cho đến nay (92008) là mức giá trên 1000 USDOZ vào ngày 1632007. Giá vàng trong nước: Trong điều kiện nền kinh tế nước ta nói chung và thị trường vàng nói riêng hội nhập càng sâu rộng với thế giới và trong điều kiện thông tin hiện đại nên giá vàng trong nước theo nguyên tắc “bình thông nhau” với giá vàng thế giới, đồng thời giá vàng ở nước ta cũng phản ánh tức thì, cùng chiều và theo sát giá vàng trên thị trường thế giới. Nếu như mức tăng giá vàng trong nước giai đoạn 1996 – 2000 là 6,16% thì giai đoạn 2001 – 2005 tăng mạnh lên 102,07%. Giá vàng trong nước ngày 1732008 đã đến mức 1,925 triệu đồngchỉ, sau đó giảm mạnh xuống 1,760 triệu đồngchỉ vào ngày 2542008. Ngày 1672008 lại lập kỉ lục cũ là 1,928 triệu đồngchỉ rồi tiếp tục giảm. Sự biến động giá vàng gần đây (1 năm) cho thấy rủi ro hiện lên khá rõ, biến động giá vàng quá cao.

Việc giá vàng tăng cao đã gây nên hội chứng tâm lý làm nhiều người dân đổ xô đi mua vàng, một số đã rút tiền tiết kiệm để mua vàng. Tuy nhiên, trong những ngày này, trước sự trồi sụt thất thường của giá vàng thế giới đã khiến không ít người dân bị thua thiệt nghiêm trọng do đầu tư theo “phong trào” – giá lên thì đổ xô đi mua, giá hạ thì ào ạt bán. Đây cũng là một nguyên nhân kỳ vọng tác động đẩy giá vàng trong nước tăng cao ngoài nguyên nhân chính là do giá vàng thế giới biến động.

2. Nguyên nhân làm tăng giá vàng:

a. Về phía cầu:

Do nhu cầu đầu cơ của thị trường tăng: Trước nhu cầu vàng tăng cao, theo Hội đồng Vàng thế giới, nguồn cung hiện chỉ đáp ứng được 14 nhu cầu thị trường; trong đó lại có không ít số lượng vàng bị găm giữ lại, chưa bán, chờ giá cao hơn nữa.

Do sự lên giá của dầu thô trên thị trường thế giới: Giá dầu có xu hướng tăng trong suốt mấy năm qua và hiện nay giá dầu thế giới đã leo lên trên 100 USDthùng đã đẩy giá cả hàng hóa tăng, hệ quả là gia tăng lạm phát, giảm tăng trưởng kinh tế. Lo sợ trước tình hình lạm phát, các nhà đầu tư có xu hướng dịch chuyển đầu tư từ các tài sản khác sang vàng để tìm lợi nhuận cao và an toàn tài sản.

Do nhu cầu sử dụng vàng: Đặc biệt là vàng trang sức trong các mùa lễ hội của người Hồi giáo, lễ giáng sinh, mùa cưới và năm mới tại các nước đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ... ngày càng tăng.

Do hàng loạt các sự kiện chính trị giữa Mỹ và các nước hồi giáo, Triều Tiên cùng với thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai của Mỹ liên tục gia tăng và kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phát triển bền vững khiến đồng USD giảm giá mạnh khiến vàng và một số ngoại tệ khác tăng cao trên thị trường thế giới.

b. về phía cung:

Các ngân hàng trung ương (NHTƯ) trên thế giới hạn chế bán vàng.

Sản lượng vàng khai thác của thế giới tăng chậm, có nước giảm do chi phí sản xuất cao trước tình hình giá vàng giảm 10 năm liên tục trong suốt giai đoạn 1990 – 2000 Như vậy, nguồn cung vàng bị hạn chế trong khi cầu về vàng tăng mạnh trước tình hình căng thẳng về chính trị và sự suy yếu của đồng USD đã làm cho giá vàng tăng mạnh và liên tiếp lập những kỷ lục mới.

Tác động của giá vàng đối với Việt Nam:

Do vàng không nằm trong rổ hàng hoá tiêu dùng CPI nên đa số người dân bình thường không bị ảnh hưởng bởi giá vàng. Dĩ nhiên hiện nay CPI vẫn tăng, nhưng không có sự tác động của giá vàng.

Tuy nhiên, việc giá vàng tăng trong thời gian qua đã có tác động mạnh tới tâm lý của người dân. Đã có thời điểm người dân đổ xô đi mua vàng khiến giá vàng trong nước tăng mạnh cao hơn giá thế giới.

Thị trường bất động sản, chứng khoán thời gian qua diễn ra khá trầm lắng. Giá vàng tăng cao khiến nhà đầu tư tin tưởng chuyển vốn sang vàng.

Diễn biến giá vàng từ năm 2010 – 2011

Giá vàng trên thị trường thế giới đã tăng trên 8% trong năm 2011 và tăng 32% trong vòng1 năm qua. Tại Việt Nam, giá vàng cũng tăng rất cao trong những tháng gần đây, điều này đòi hỏi cần nhanh chóng có những giải pháp để khắc phục và bình ổn giá vàng lâu dài.

Nguyên nhân giá vàng thế giới tăng cao

Lý giải về nguyên nhân giá vàng tăng cao trên thế giới, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nêu lên một số lý do chủ yếu; trong đó nguyên nhân đầu tiên và lớn nhất chính là lạm phát toàn cầu. Bởi cứ mỗi lần xảy ra lạm phát toàn cầu thì mọi người sẽ coi vàng là một trong những nơi đầu tư an toàn nhất. Một nguyên nhân nữa, đó là đồng USD của Mỹ, quốc gia có nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới đang trở nên yếu. Đồng USD trở nên yếu khiến người mua càng mua nhiều vàng hơn. Các nhà phân tích cho rằng đồng USD chưa thể sớm hồi phục ngay, vì vậy giá vàng vẫn tiếp tục tăng. Một nguyên nhân khác, hiện châu Âu vẫn có tốc độ hồi phục khá chậm sau suy thoái. Vấn đề khủng hoảng nợ tại châu Âu vẫn hiện diện và nó có khả năng lan sang các quốc gia có nền kinh tế lớn như Mỹ và Nhật. Khả năng này càng làm nhu cầu đầu tư vào vàng nhiều hơn, cũng đồng nghĩa với việc giá vàng ngày càng càng cao hơn. Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã tập
trung mua vàng. Riêng tại Nga, trong quý 1 năm 2011, Nga đã mua ròng 8 tấn. Tại châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc… cũng đang tích cực mua vàng. Thời điểm tiêu thụ nhiều vàng nhất ở Trung Quốc là những tháng cuối năm Âm lịch. Còn tại Ấn Độ, nhu cầu vàng sẽ tăng đột biến tháng 5 và tháng 9, là những tháng xảy ra nhiều lễ hội.

Một quốc gia nhập khẩu chiếm 95% lượng vàng trong nước như Việt Nam thì việc giá vàng biến động cùng chiều theo giá thế giới là điều dễ hiểu (như một người chấp nhận giá và chịu tác động của cung cầu thế giới).Tuy nhiên, đã có những lúc thị trường vàng Việt Nam ngược dòng thị trường vàng thế giới, trong khi thế giới giảm giá thì Việt Nam tăng giá và ngược lại, đôi lúc giá vàng tại Việt Nam đạt kỷ lục trong mỗi phiên giao dịch và kỷ lục trong việc biến động, phiên giao dịch sáng niêm yết một giá, phiên giao dịch chiều lại niêm yết một giá khác khiến cho nhà đầu tư hoang mang,điêu đứng. Lý giải nguyên nhân tại sao lại có hiện tượng này?

Câu trả lời là: Trước cơn sốt vàng của thế giới, do không nhạy bén trước tình hình và do cơ chế xuất nhập còn nhiều bất hợp hợp lý, trong 7 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã xuất 30 tấn vàng, với giá tính trung bình 40 triệu USDtấn. Trong khi đó, nhiều quốc gia lại mua vào nhiều vàng và chỉ bán ra nhỏ giọt. Thực tế đã chứng minh các quốc gia này nhạy bén và cập nhật hơn chúng ta, bởi hiện tại, dù đã có giảm chút ít, giá vàng thế giới vẫn dao động vào khoảng 60 triệu USDtấn; trước đó, Việt Nam chỉ xuất khẩu với giá 40 triệu USDtấn. Đây là một thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế của nước ta.

Một nguyên nhân nữa góp phần khiến giá vàng tăng mạnh tại Việt Nam, là do giới kinh doanh vàng tranh thủ giá vàng thế giới tăng nhanh, và đoán biết tâm lý của người đầu tư cho rằng giá vàng còn đi lên, đã dùng kỹ xảo đẩy giá vàng trong nước tăng nhanh, cao hơn giá thế giới để trục lợi. Có thể thấy rằng chính những bất hợp lý trong cơ chế điều hành xuất nhập khẩu vàng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cơn sốt vàng trong nước, kéo theo những thiệt hại cho nền kinh tế và người đầu tư. Bởi theo cách quản lý hiện tại, Nhà nước chỉ cho phép nhập khẩu vàng với số lượng nhỏ; trong khi hạn ngạch xuất khẩu vàng lại khá thoải mái. Trước thực tế này, nhiều doanh nghiệp đã dùng thủ thuật hạ hàm lượng, trọng lượng vàng để hưởng thuế xuất 0%, rồi xuất khẩu vàng ra nước ngoài với số lượng lớn. Hệ quả là cung và cầu về vàng mất cân đối, chỉ có lợi cho giới đầu cơ, gây thiệt hại cho nền kinh tế và người dân khi đầu tư vào vàng.

Thế độc quyền của SJC

Hoạt động kinh doanh tại thị trường vàng Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của giá vàng thế giới, của thị trường ngoại hối, giá dầu thô và của những nhà kinh doanh vàng tại Việt Nam, kinh doanh vàng ở Việt Nam có thể gọi là độc quyền nhóm vì không có nhiều doanh nghiệp được nhà nước cấp phép kinh doanh thứ kim loại quý này, cũng có thể gọi thị trường vàng Việt Nam là độc quyền “lệch” khi mà trong độc quyền nhóm thì tới 90% thị phần thuộc về SJC, chúng ta cùng phân tích đôi chút về SJC để tìm hiểu rõ bức tranh về thị trường vàng Việt Nam.

Giới thiệu về công ty SJC

Được thành lập năm 1988, Công ty TNHH Một thành viên Vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC là doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con, bao gồm 6 công ty con, 15 công ty liên kết, 2 chi nhánh các tỉnh, 3 xưởng sản xuất vàng, 2 xưởng sản xuất trang sức, mạng lưới kinh doanh phân phối gồm hệ thống cửa hàng bán lẻ, hệ thống đại lý chính thức trên toàn quốc, đáng kể là hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần trên cả nước đang giao dịch và kinh doanh sản phẩm của SJC.

SJC hoạt động như một tập đoàn kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất, kinh doanh
vàng và trang sức là ngành kinh doanh chính. SJC có 3 xưởng sản xuất vàng SJC SJC tại
Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội, có 2 xưởng sản xuất nữ trang tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiều năm liền đứng vững trên thị trường vàng, chiếm khoảng 90% thị phần, hiện nay
SJC dẫn đầu ngành kinh doanh vàng bạc đá quý tại Việt Nam với doanh số tăng cấp mỗi
năm cụ thể là năm 2010 vừa qua, con số đã vượt trên 4,2 tỉ USD.
Thế độc quyền trên thị trường vàng của SJC tại Việt Nam
Hoàn cảnh:
Trên thực tế, tại Việt Nam, vàng miếng từ lâu đã được coi là thứ hàng hóa đặc biệt, có
đầy đủ các thuộc tính tiền tệ. Vàng được coi là “vịnh tránh bão” trong bối cảnh lạm phát
cao, đồng tiền bị mất giá, các kênh đầu tư khác bấp bênh, giá vàng lại liên tục tăng. Thói
quen tích trữ vàng của người dân cũng có từ lâu, cộng với các yếu tố đầu cơ, lũng đoạn
thị trường làm cho tình trạng vàng hóa càng thêm trầm trọng. Nếu Nhà nước không quản
lý được thị trường vàng, tình trạng vàng hóa sẽ ảnh hưởng tới việc điều hành chính sách
tiền tệ và gây mất ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, gây mất ổn định tỷ giá. Chưa kể,

11
thay vì dồn vốn vào sản xuất kinh doanh, người dân lại đổ xô tích trữ vàng sẽ gây lãng
phí nguồn vốn trong xã hội.
Trên thế giới, vai trò tiền tệ của vàng từ lâu đã được coi trọng. Trong bối cảnh đồng USD
liên tục mất giá trong rổ tiền tệ thì giá vàng thế giới vẫn tăng phi mã. Nói cách khác, thời
điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chỉ có vàng mới có đủ vai trò và trọng lượng làm
thay đổi quy luật lệ thuộc vào đồng USD của các nền kinh tế mới nổi. Giá vàng thế giới
tăng mạnh không những thể hiện giá trị của vàng mà còn cho thấy vàng đang phục hồi lại
chức năng tiền tệ vốn có của nó. Vai trò tiền tệ của vàng còn thể hiệu qua việc các ngân
hàng trung ương có xu hướng tăng mua vàng dự trữ.
Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), từ đầu năm 2011 đến nay, Ngân hàng Trung
ương các nước đã mua vào 208,9 tấn vàng, riêng quý III2011 đã mua 150 tấn vàng. Gần
đây, các ngân hàng Trung ương châu Á liên tục dự trữ ngoại tệ bằng vàng. Đặc biệt là cú
“gây sốc” từ Chính phủ Trung Quốc đột ngột cho công bố về trữ lượng dự trữ vàng của
nước này đã tăng đột biến, cải thiện vị trí dự trữ vàng của họ từ thứ sáu với tổng lượng dự
trữ lên tới gần 745 tấn.
Không những thế, tại nhiều nước chỉ có Ngân hàng Trung ương mới được phép sản xuất
vàng miếng, việc mua bán vàng miếng phải tuân theo các điều kiện khắt khe và chịu sự
giám sát đặc biệt của Nhà nước.
Còn tại Việt Nam, thực tế cho thấy, những động thái điều hành của cơ quan quản lý hay
định hướng của các chính sách quản lý đều tác động mạnh đến sự biến động của giá
vàng.
Thế độc quyền của SJC:
Dự thảo nghị định mới về quản lí hoạt động kinh doanh vàng đã được NHNN trình chính
phủ. Theo dự thảo, chỉ những doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 500 tỉ đồng trở lên, chiếm
25% thị phần trong nước trong 3 năm gần nhất mới được xem xét cho sản xuất, gia công
vàng miếng. Với quy định này, chỉ có duy nhất công ty kinh doanh vàng bạc đá quý SJC
hiện đang chiếm khoảng 90% thị phần, mới đủ điều kiện để sản xuất, gia công vàng
miếng. Cùng đó, thông báo trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố vàng SJC sẽ trở thành nhãn hiệu vàng của NHNN, đơn vị
này phải độc quyền quản lý, sản xuất vàng miếng, điều này không những đúng về lý
thuyết mà còn đúng cả về thực tế.

12
Ông Bình khẳng định, NHNN sẽ làm việc với Thành ủy TP HCM (hiện đang là đơn vị
chủ quản của SJC) để chuyển Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC sang trực thuộc
NHNN và vàng miếng SJC sẽ trở thành nhãn hiệu vàng của NHNN. Điều này đã thể hiện
rõ quan điểm: NHNN sẽ giữ độc quyền trong sản xuất kinh doanh vàng miếng vì SJC
hiện đã chiếm 90% thị phần. Khác với việc có nhiều nhãn hiệu vàng miếng khác nhau
như hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất vàng miếng đều chung một nhãn hiệu
SJC. Hay nói cách khác, SJC trở thành một nhãn hiệu tập thể về vàng miếng của Việt
Nam chất lượng được kiểm soát hoàn toàn bởi NHNN Việt Nam.
Tác động của thế độc quyền của SJC
Tích cực:
NHNN sẽ không phải trực tiếp tham gia kinh doanh nhưng vẫn nắm được đầy đủ thông
tin về thị trường vàng miếng như số lượng vàng miếng đang lưu thông trên thị trường,
bao nhiêu vàng miếng được sử dụng cho mục đích sản xuất trang sức hay công nghiệp, và
bao nhiêu vàng miếng được sử dụng cho mục đích đầu tư.
Trong khi đó, các doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc mua – bán vàng tài khoản
ở nước ngoài trên thế giới để phòng ngừa rủi ro.
Thêm nữa, với khả năng quản lý khác nhau, các doanh nghiệp sản xuất vàng miếng mang
nhãn hiệu tập thể SJC hoàn toàn có thể cạnh tranh với nhau để cung ứng cho thị trường
mức giá tốt nhất.
Tiêu cực:
Với vị trí độc quyền và được đảm bảo bởi nhà nước, rất có thể làm nảy sinh ra những hệ
lụy độc quyền DN.
Hình thành thị trường chợ đen:
Với vàng, khi sự độc quyền của nhà nước xuất hiện, thông qua đơn vị của mình là SJC,
các thương hiệu vàng khác sẽ khó tồn tại, sản xuất và kinh doanh vàng tự do bị kiểm soát
thì liệu khả năng hình thành một cái chợ đen?.
Có thể thấy nhu cầu đối với vàng rất lớn, nó có ở khắp nơi, từ nông thôn tới thành thị, từ
người dân từ nông dân tới trí thức... Câu hỏi đặt ra: tình hình sẽ ra sao nếu nhu cầu
không được đáp ứng đầy đủ, việc mua bán khó khăn hơn.

13
Rất nhiều trong trong số cả chục nghìn tiệm vàng đang hoạt động ở khắp các trị trấn, làng
xã, quận huyện trên khắp cả nước liệu có trở thành các địa điểm kinh doanh chui vàng
miếng mang thương hiệu quốc gia SJC hay SBV không?. Và một khi hoạt động chui và
chợ đen xuất hiện thì mục tiêu xóa bỏ tịnh trạng nhiều giá, đầu cơ, tích trữ liệu có đạt
được? Và khả năng huy động nguồn lực này từ trong dân cũng sẽ rất khó khăn.
Việc dựa vào một đơn vị độc quyền để bình ổn thị trường là điều không dễ. Thị trường
vàng phụ thuộc nhiều yếu tố mà yếu tố quan trọng nhất thiếu niềm tin vào đồng tiền, ưu
thích tích trữ vàng thì lại nằm ngoài khả năng của nghị định quản lý vàng. Các đợt bán
vàng bình ổn của NHNN gần đây dù tốn nhiều nguồn lực nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu
bình ổn như mong muốn. Việc bình ổn này khiến nhiều người có cảm giác đây chỉ là giải
pháp tình thế, không bền vững.
Thực tế của nền kinh tế cho thấy, dù đã có nhiều DN nhà nước độc quyền nhưng chưa có
nhiều kết quả để có thể chứng tỏ vai trò điều tiết thị trường của Nhà nước thông qua một
doanh nghiệp là hiệu quả như mong muốn.
Trong khi đó, việc vàng SJC trở thành vàng độc quyền của nhà nước cũng một lần nữa
gây ra những cảm xúc lo ngại. Bởi vì, độc quyền đã gây ra quá nhiều nghi vấn và hạn chế
trong quản lý từ chuyện điện, xăng dầu cho tới các mặt hàng khác như nước sạnh thậm
chí là xe buýt... thì độc quyền hay vị trí chi phối đều chưa có sự tối ưu mà lại bộc lộ nhiều
lo ngại.
Chặn vốn vàng vào sản xuất.
Với việc quản lý sản xuất vàng theo hạn ngạch và một đầu mối là SJC như nói trên, có
nghĩa là việc tăng giảm cung do NHNN quy định và can thiệp, không cần thiết phải hạn
chế đối tượng kinh doanh vàng. Nhưng dự thảo cũng quy định, hoạt động kinh doanh,
mua bán vàng miếng là hoạt động kinh doanh có điều kiện, có cấp giấy chứng nhận. Như
vậy, đối tượng được phép kinh doanh mua bán vàng miếng sẽ bị thu hẹp.
Dự kiến sẽ chỉ còn một số doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có khả năng tài chính, kinh
nghiệm, uy tín trong lĩnh vực kinh doanh vàng được phép liên tục thực hiện mua bán
vàng miếng. Hiểu một cách đơn giản là số lượng kênh phân phối vàng đến người dân sẽ
giảm. Tình trạng rối loạn, xếp hàng mua vàng, đầu cơ, giá lên, giá xuống… càng khó
kiểm soát hơn.
Do số doanh nghiệp được phép kinh doanh vàng miếng giảm, nhu cầu người dân không
đáp ứng đủ, những doanh nghiệp không được sản xuất, gia công vàng miếng sẽ tìm cách
để khai thác mảng trống này. Đó là sản xuất vàng nữ trang để đáp ứng nhu cầu nắm giữ

14
vàng của người dân. Nguồn vàng trong nước thay vì sản xuất ra vàng miếng như hiện nay
và người mua có thể gửi ngân hàng sẽ được biến thể sang vàng nữ trang. Loại vàng này
không được các ngân hàng thương mại huy động.
Vô hình chung, quy định này đã “chẹn” cửa đưa vốn vàng vào sản xuất kinh doanh như
mục tiêu mà lâu nay chúng ta vẫn hướng tới. Và tình trạng vàng “chui vào tủ” người dân
sẽ tăng mạnh. Không chỉ thế, khi kênh phân phối chính thức bị co lại, hoạt động vàng trái
phép sẽ càng có đất sống, kéo theo các vấn đề khác như tỉ giá, lãi suất…mà chúng ta nỗ
lực lâu nay nhưng vẫn chưa thể giải quyết được.
Kết luận
Thị trường vàng Việt Nam vẫn đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ công chúng,việc
NHNN đưa ra các quyết định biến thị trường độc quyền nhóm vàng thành thị trường độc
quyền hoàn toàn nhằm ổn định, kiểm soát được giao dịch trên thị trường, tránh lặp lại vết
xe đổ của việc đầu cơ tưởng chừng như lợi nhuận lớn lại thành món lỗ khổng lồ và sự
hoang mang, khủng hoảng trên thị trường vàng không dự đoán trước được trong thời gian
vừa qua.Tuy quyết định của ngân hàng trung ương nhận được cả sự tán thành của các nhà
kinh doanh vàng trong nước cũng như các chuyên gia kinh tế nhưng không phải không có
những ý kiến trái chiều, tuy độc quyền sẽ gây ra tổn thất cho nền kinh tế nhưng đổi lại,
những chính sách tiền tệ của NHTW được triển khai có hiệu quả khi mà kênh đầu tư bằng
vàng đã được kiểm soát, và quan trọng là SJC chấp nhận kiểm soát cũng như hầu hết các
nhà kinh doanh vàng trong nước đều không phản đối. Thị trường trong nước sẽ dần ổn
định theo sự quỹ đạo tăng trưởng của nền kinh tế.I. Thị trường vàng:

Chức năng bao quát và sức hấp dẫn mạnh mẽ của vàng là một phương tiện đầu tư, có được nền tảng cơ sở là nguồn cung và nguồn cầu năng động của thị trường vàng.

Vàng mang tính đặc biệt bởi nó vừa là tài sản dạng hàng hóa vừa là tài sản dưới dạng tiền tệ. Bởi vì nó thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng thuộc loại khoáng sản vẫn tồn tại trên mặt đất dưới dạng này hoặc dạng khác và theo lý thuyết đa số trữ lượng vàng trên mặt đất thì dễ khai thác. Điều này có nghĩa là việc khai thác vàng khá đơn giản, chỉ là chuyện tái chế lại từ dạng này sang dạng khác. Đây là một trong những lý do tại sao giá vàng trong lịch sử thường ít biến động hơn giá những hàng hóa thông thường khác. Nó cũng giải thích tại sao thị trường vàng trước đây nhìn chung là ổn định.
________________________________________

GFMS Ltd ước tính cuối năm 2006 trữ lượng vàng trên mặt đất có khối lượng xấp xỉ 158000 tấn, trong đó đã khai thác 66% từ năm 1950.

Trữ lượng vàng được nắm giữ trong các cơ quan có thẩm quyền bao gồm ngân hàng trung ương, những cơ quan chính phủ như Monetary Authority của Singapore, và những tổ chức siêu quốc gia như Quỹ tiền tệ thế giới, ngân hàng trung ương Châu Âu...

Vàng thỏa mãn nhu cầu hằng năm bao gồm cả vàng khai thác và vàng tái chế được khai thác từ những năm trước. Biểu đồ giữa bên trên chỉ ra rằng qua hơn 5 năm, vàng tái chế nhiều từ thị trường trang sức, chiếm ¼ nguồn cung vàng, đứng sau là lượng vàng được bán ra từ ngân hàng trung ương.

Nhu cầu hằng năm về vàng có ba loại chính, lớn nhất là nhu cầu từ thị trường trang sức khoảng 44 tỷ USD năm 2006. Nhu cầu công nghiệp vê vàng lớn nhất là cho lĩnh vực điện tử,nhưng cũng bao gồm lĩnh vực nha khoa và một số ngành công nghiệp khác và đáp ứng cho việc trang hoàng. Cuối cùng trong nguồn cầu là nhu cầu đầu tư. Bởi vì một phần quan trọng trong nhu cầu đầu tư là được xử lý trên thị trường OTC và không dễ dàng để định lượng được tổng giá trị giao dịch. Các hoạt động đầu tư thể hiện trên biều đồ trên bao gồm đầu tư cho vàng thỏi, tiền đồng, huy chương và tiền đồng giả, “ đầu tư nhỏ lẻ khác” và đầu tư trong việc trao đổi giao dịch quỹ vàng và sản phẩm có liên quan.

Nhu cầu đầu tư tăng mạnh vào năm 2006, tăng 8% số lượng và hơn 45% về giá trị USD thu được so với năm trước. Năm 2006 Nam Phi là nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới, với 292 tấn chiếm 12% tổng sản lượng, theo sau là Mỹ với 252 tấn , chiếm hơn 10% tổng sản lượng, kế đó là Trung Quốc hơn 247 tấn. Điểm đặc biệt nổi lên trong thập niên vừa qua là Indonesia, trong năm 1992 chỉ sản xuất 2 tấn nhưng đến năm 2005 là hơn 114 tấn, nổi bật là mỏ Grasberg, là nơi sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Và Peru sản xuất tăng từ 218 tấn trong năm 1992 lên 203 tấn trong năm 2006, với một nửa đến từ mỏ Yanacocha của Newmont, nơi sản xuất vàng lớn thứ 2 thế giới trên mực nước biển 14.000 feet ở dãy Andes.

Nhiều nước sản xuất vàng trên thế giới lại là những nước nghèo bị mắc nợ nhiều của Ngân Hàng Thế Giới. Đối với một vài quốc gia vàng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong xuất khẩu của họ,ví dụ như Ghana và Mali vàng là hàng hóa xuất khẩu đứng thứ ba..

Tóm lại vàng nổi bật trong vai trò là phương tiện cất trữ. Thị trường vàng hình thành dựa trên nguồn cầu và nguồn cung vàng. Nguồn cung bao gồm vàng khoáng sản được khai thác mới và vàng tái chế. Nguồn cầu gồm nhu cầu cho việc làm trang sức, công nghiệp, trang hoàng và đầu tư. Trên cơ sở cung và cầu vàng sẽ hình thành giá vàng, đồng thời cung, cầu vàng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.

II. Các nguồn cung và cầu vàng:

Nguồn cung:

a. Vàng khai thác

Tổng số lượng vàng đã khai thác trong lịch sử xấp xỉ 158 000 tấn, trong đó 66% là được khai thác từ năm 1950. Xu hướng phát triển sản xuất hằng năm bây giờ đã ổn định, bởi vì xu hướng tiêu dùng đã chậm lại vào cuối những năm 1990. Những nhà phân tích độc lập tin rằng khai thác vẫn sẽ duy trì ổn định trong một vài năm tới và nếu có thay đổi giảm xuống thì không đáng kể.

Vàng được khai thác sâu nhất hiện tại là mỏ Savuka, khai thác trên mép tây bắc của Witwatersrand BasinNam Phi. Hoạt động khai thác ở độ sâu 3.774m.Điều này có nghĩa là việc khai thác vàng rất khó khăn và tốn kém, đòi hỏi công nghệ tiên tiến. Chi phí sản xuất thay đổi mạnh tùy theo mỏ tự nhiên (hầm) hay khai thác dưới mặt đất và độ sâu bao nhiêu, trữ lượng quặng và lớp khai thác.

b. Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương và những tổ chức xuyên quốc gia nắm giữ 15 trữ lượng vàng trên mặt đất như tài sản dự trữ, nhưng đang giảm đều qua thời gian. 28 500 tấn trong trữ lượng trên mặt đất trong biểu đồ bên trên gồm vàng sở hữu bởi ngân hàng trung ương và một phần bên ngoài là cho vay với con số cao hơn là không đáng kể.

Người bán buôn, đóng góp trung bình 527 tấn vào dòng chảy cung ứng hằng năm từ năm 2002 đến năm 2006. Kể từ tháng 9 năm 1999, phần lớn việc buôn bán này được kiểm soát bởi Central Bank Agreement on Gold (CBGA). CBGA mới đã kiểm soát giai đoạn từ tháng 92004 đến tháng 92009 đã được tuyên bố thành lập vào tháng 32004.

Thông qua việc mua bán, Ngân hàng trung ương cũng ảnh hưởng đến thị trường vàng thông qua việc cho vay của họ, trao đổi và những hoạt động khác. Họ giữ vai trò người cho vay vàng chính (mặc dù không phải là duy nhất) trên thị trường.

Gần đây các Ngân hàng trung ươong phải báo cáo việc nắm giữ vàng của họ hằng tháng cho IMF và được phát hành hàng tháng trong ấn bản Thống kê tài chính quốc tế của IMF.

Do đó những thay đổi trong việc nắm giữ vàng được giám sát. Tuy nhiên một số ít Ngân hàng trug ương có nắm giữ vàng không cho rằng là phần tích trữ của cơ quan nên không báo cáo. Thêm vào đó cũng có một phần hoặc hầu hết cơ quan không được báo cáo. Do đó giám sát việc nắm giữ này vẫn rất khó khăn.

c. Vàng tái chế

Vàng thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng đã khai thác vẫn tồn tại. Nó cũng dễ phục hồi được từ hầu hết vàng đã qua sử dụng và có khả năng nấu chảy ra, lọc và sử dụng lại. Điều đó cho phép cung vàng tái chế, là một bộ phận quan trọng trên thị trường vàng vốn rất năng động

Hầu hết vàng tái chế thông thường có nguồn gốc từ trang sức. Một lượng nhỏ là từ những thiết bị điện tử được thu lại và cả từ vàng thỏi và tiền đồng.

Việc cung ứng kim loại tái chế phụ thuộc rất lớn vào tình hình nền kinh tế và biến động giá vàng. Vàng cũng có thể bán đổi lấy tiền mặt cả khi người sở hữu vàng cần tiền hay nếu như người đó muốn hưởng lợi nhuận qua chênh lệch giá vàng. Điều này cho phép nguồn cung vàng tái chế gia tăng trong thời gian nền kinh tế ảm đạm.

2. Nguồn cầu Vàng:

a. Nhu cầu cho trang sức

Trang sức chiếm nhu cầu lớn nhất chiếm hơn 70% nhu cầu về vàng, đạt giá trị khoảng 44 tỷ USD theo giá vàng bình quân năm 2006.

Có cả sự khác biệt và tương đồng trong việc mua bán vàng giữa các nước. Nhu cầu chịu ảnh hưởng nhiều từ sự khác biệt văn hóa và thành phần xã hội, nghiên cứu thị trường cũng chỉ ra cảm nhận về vàng là tương tự nhau và quan điểm cốt lõi về vàng qua những thị trường là khác nhau. Như mua vàng trang sức thường được kết hợp với một dịp đặc biệt nào đó như Ngày Valentine, ngày cưới, ngày kỉ niệm và sinh nhật trên khắp thế giới.

Nghiên cứu thị trường chịu trách nhiệm chỉ ra có nhiều khúc thị trường ở khắp các nước mặc dù mỗi nước thì tầm quan trọng của mỗi khúc khác nhau.

Mua trang sức thì có mùa, thường là vào lễ Giáng sinh, ngày 15, những lễ hội cuối năm khi mà trang sức trở thành món quà tặng phổ biến. Ngày quốc khánh và Tết cổ truyền ở Trung Quốc cũng là dịp lớn để mua sắm trang sức.

Năm 2006,thị trường có nhu cầu tiêu thụ trang sức lớn nhất là Ấn Độ (khoảng 522 tấn), vàng trang sức chủ yếu được sử dụng cho lễ hội và đám cưới, vàng truyền thống là 22 carat. Nhu cầu về trang sức ở Ấn Độ nhạy cảm mạnh mẽ với giá vàng, có ảnh hưởng mạnh đến nguồn cầu về vàng. Phần lớn vàng sử dụng ở đây là nhập khẩu nhưng hầu hết trang sức thì được làm ra ngay trong nước. Thực vậy, Ấn Độ có nền công nghiệp nữ trang phồn thịnh và là nước xuất khẩu chính. Mỹ là thị trường có cầu về vàng trang sức đứng thứ hai sau Ấn Độ trong năm 2006 khoảng 306 tấn). Dịp tiêu thụ trang sức mạnh nhất là Giáng sinh, những lễ hội cuối năm, ngoài ra còn có lễ Valentine và Ngày của Mẹ, có thể là vàng 14, 18 hoặc 10 carat.

b. Nhu cầu trong công nghiệp

Nhu cầu về vàng trong công nghiệp và nha khoa chiếm khoảng 12% nhu cầu về vàng, khoảng 400 tấn từ năm 2002 đến 2006.

Hơn một nửa nhu cầu của công nghiệp và nha khoa (khoảng 7%) là sử dụng vàng trong những bộ phận điện tử thích hợp chịu nhiệt độ cao và dẫn nhiệt, dẫn điện và điểm nổi bật của vàng là chống lại sự ăn mòn. Nhu cầu vàng trong lĩnh vực điện tử tăng trong những thập niên vừa qua nhưng nó cũng dao động tùy vào GDP toàn cầu và sự phát triển của ngành công nghiệp. Hầu hết vàng sản xuất cho những linh kiện điện tử là từ Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á. Những công ty chuyển nhà máy đến đó để có ưu thế về chi phí cơ bản thấp hơn thì đang giành phần lớn thị phần. Nhu cầu tương lai trong công nghiệp về vàng thì quan trọng ngày càng rõ hơn khi những thiết bị điện tử tổng quát và hàng hóa tiêu dùng tiếp tục sử dụng vàng trong những bộ phận cấu thành.

Tác dụng của vàng đã được biết đến từ lâu trong lịch sử, có thể dùng trong sinh học, kháng lại vi khuẩn xâm nhập và ăn mòn, do đó được sử dụng thành công trong cơ thể con người. Trong nha khoa nhu cầu sử dụng vàng chiếm ổn định khoảng 2%. Nhật, Mỹ, Đức là 3 nước dẫn đầu trong việc chế tạo hợp kim nha khoa.

Những nghiên cứu trong những thập niên qua không phản ánh tiềm năng thực sự sử dụng vàng đang nhiều hơn trong công nghiệp luyện kim. Vàng còn được sử dụng như chất xúc tác ví dụ như chất xúc tác trong phòng đốt nhiên liệu. Một số công ty đã biết phát triển công nghiệp chất xúc tác dựa trên vàng và điều này có thể làm dẫn đến nhu cầu mới về vàng trong ngành công nghiệp luyện kim. Trong lĩnh vực công nghệ nano phát triển mau lẹ thì vàng được sử dụng cũng khá nhiều như trong việc chế tạo latop và điện thoại di động. Sử dụng vàng trong việc phủ lên chất siêu dẫn cũng có thể tạo ý nghĩa quan trọng trong nhu cầu về vàng trong công nghiệp.

c. Nhu cầu vàng trong đầu tư

Vàng sử dụng cho đầu tư đã có lâu trong lịch sử và được bắt nguồn từ vai trò của nó như vật nắm giữ an toàn, dự trữ giá trị và tài sản tiền tệ. Thời gian gần đây, vai trò của vàng được biết như là loại hình đầu tư hoàn hảo, đầu tư vàng như tiền tệ và bảo đảm trước lạm phát, cũng được nhận ra.

Nhiều trang sức được mua ở Châu Á và Trung Đông cũng được coi như một kênh đầu tư hay mang tính tiết kiệm, dự trữ.

Người đầu tư chuyên nghiệp có xu hướng đưa ra sự khác biệt giữa đầu tư nhỏ lẻ (những cá nhân mua bán) và đầu tư có tính chất tổ chức (mua bán bởi những quỹ đầu tư hay những tổ chức, tập đoàn khác). Trong thực tế khó phân biệt giữa hai loại này, thực tế có một vài nhà đầu tư cá nhân nắm giữ một lượng đáng kể. Trữ lượng nắm giữ đầu tư, hay đầu tư cá nhân chiếm khoảng 16% tổng trữ lượng vàng. Hơn 5 năm qua, một “cuộc cách mạng nhỏ” đã xảy ra trong lĩnh vực đầu tư trên thế giới là nhu cầu đầu tư tăng vọt từ 4% tổng nhu cầu sử dụng cuối cùng năm 2000 lên 19% trong năm 2006. Khi thị trường OTC hoạt động, lượng giao dịch trên tài khoản luôn ít hơn với thực tế, một ước chừng tổng cộng khoảng 13.2 tỷ USD của những nhà đầu tư tiền đã tìm thấy qua cách đầu tư vào vàng trong năm 2006.

Sự thu hút đầu tư vàng có liên quan đến các yếu tố: sự thay đổi của đôla và lạm phát kỳ vọng, sự thay đổi của chính trị và tăng sự thừa nhận vai trò của vàng có thể đầu tư đa dạng.

III. Đặc điểm của thị trường vàng:

Biến động rất nhanh do giá vàng chịu ảnh hưởng lớn từ giá dầu thế giới và diễn biến của thị trường chứng khoán. Trong khi giá dầu thế giới lại phụ thuộc nhiều về cung (Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới là vùng Trung Đông mà các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn đã ảnh hưởng đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều nhà đầu tư thường nhìn vào diễn biến giá dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự đoán cho xu hướng dao động của vàng) và cầu (thị trường cầu lớn về dầu là Mỹ). Còn thị trường chứng khoán thì khi giá chứng khoán giảm thì thường giá vàng tăng và ngược lại, vì vàng mua bán chủ yếu là cho mục đích tích trữ và đầu tư.

Biến động rất nhanh do giá vàng chịu tác động bởi các yếu tố :

Yếu tố tâm lý: Trên thị trường thế giới, khi giá vàng tăng các hoạt động bán vàng tăng mạnh, và ngược lại. Nhưng trên thị trường Việt Nam, khi giá vàng tăng cao mọi người ào ạt mua vàng và khi giá vàng xuống thấp thì lại bán ra nhanh chóng.

Giá dầu (tác động cùng chiều). Giá dầu thế giới phụ thuộc nhiều về cung và cầu.. Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới là vùng Trung Đông mà các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn đã ảnh hưởng đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều nhà đầu tư thường nhìn vào diễn biến giá dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự đoán cho xu hướng dao động của vàng.Thị trường cầu lớn về dầu là Mỹ nên sẽ có tác động mạnh tới gía dầu từ đó ảnh hưởng lên giá vàng.

Thị trường chứng khoán (tác động ngược chiều). Vàng và chứng khoán là hai kênh đầu tư lớn trên thị trường tài chính. Khi chứng khoán mất điểm, nhiều Nhà đầu tư sẽ chuyển sang kênh vàng làm giá vàng tăng và ngược lại.

Gía các loại ngoại tệ mạnh như USD, GBP

Lạm phát kỳ vọng: nếu niềm tin là lạm phát với mức kỳ vọng lớn thì giá vàng có thể sẽ tăng do mọi người đổ xô mua vàng.

Thường hoạt động trên thị trường vàng là hoạt động đầu cơ tích trữ vì vàng được coi là vật bảo đảm giá trị cao khi xảy ra lạm phát, được coi là phương án đầu tư an toàn.

IV. Diễn biến thị trường vàng thế giới và Việt Nam những năm gần đây:

Diễn biến giá vàng trong khoảng 2001 2008:

Giá vàng thế giới: Bắt đầu từ 2001, thời điểm khởi đầu của chu kỳ tăng giá vàng, đặc biệt là từ sau vụ khủng bố 119 cho đến nay. Đây là chu kỳ tăng giá dài nhất trong vòng 3 thập kỷ qua. Nếu như mức tăng giá vàng thế giới trong giai đoạn 1991 – 1995 và 1996 – 2000 giảm lần lượt là 1,44% và 29,65% thì giai đoạn 2001 – 2005 tăng mạnh lên 90,04%. Năm 2006, thị trường kim loại quý vẫn liên tục lên cơn sốt tăng giá và liên tục lập những kỷ lục mới. Trong phiên giao dịch ngày 1252006, giá vàng đã có lúc tăng lên mức cao kỷ lục 731 USDounce – mức cao nhất kể từ tháng 11980. Kỉ lục cho đến nay (92008) là mức giá trên 1000 USDOZ vào ngày 1632007. Giá vàng trong nước: Trong điều kiện nền kinh tế nước ta nói chung và thị trường vàng nói riêng hội nhập càng sâu rộng với thế giới và trong điều kiện thông tin hiện đại nên giá vàng trong nước theo nguyên tắc “bình thông nhau” với giá vàng thế giới, đồng thời giá vàng ở nước ta cũng phản ánh tức thì, cùng chiều và theo sát giá vàng trên thị trường thế giới. Nếu như mức tăng giá vàng trong nước giai đoạn 1996 – 2000 là 6,16% thì giai đoạn 2001 – 2005 tăng mạnh lên 102,07%. Giá vàng trong nước ngày 1732008 đã đến mức 1,925 triệu đồngchỉ, sau đó giảm mạnh xuống 1,760 triệu đồngchỉ vào ngày 2542008. Ngày 1672008 lại lập kỉ lục cũ là 1,928 triệu đồngchỉ rồi tiếp tục giảm. Sự biến động giá vàng gần đây (1 năm) cho thấy rủi ro hiện lên khá rõ, biến động giá vàng quá cao.

Việc giá vàng tăng cao đã gây nên hội chứng tâm lý làm nhiều người dân đổ xô đi mua vàng, một số đã rút tiền tiết kiệm để mua vàng. Tuy nhiên, trong những ngày này, trước sự trồi sụt thất thường của giá vàng thế giới đã khiến không ít người dân bị thua thiệt nghiêm trọng do đầu tư theo “phong trào” – giá lên thì đổ xô đi mua, giá hạ thì ào ạt bán. Đây cũng là một nguyên nhân kỳ vọng tác động đẩy giá vàng trong nước tăng cao ngoài nguyên nhân chính là do giá vàng thế giới biến động.

2. Nguyên nhân làm tăng giá vàng:

a. Về phía cầu:

Do nhu cầu đầu cơ của thị trường tăng: Trước nhu cầu vàng tăng cao, theo Hội đồng Vàng thế giới, nguồn cung hiện chỉ đáp ứng được 14 nhu cầu thị trường; trong đó lại có không ít số lượng vàng bị găm giữ lại, chưa bán, chờ giá cao hơn nữa.

Do sự lên giá của dầu thô trên thị trường thế giới: Giá dầu có xu hướng tăng trong suốt mấy năm qua và hiện nay giá dầu thế giới đã leo lên trên 100 USDthùng đã đẩy giá cả hàng hóa tăng, hệ quả là gia tăng lạm phát, giảm tăng trưởng kinh tế. Lo sợ trước tình hình lạm phát, các nhà đầu tư có xu hướng dịch chuyển đầu tư từ các tài sản khác sang vàng để tìm lợi nhuận cao và an toàn tài sản.

Do nhu cầu sử dụng vàng: Đặc biệt là vàng trang sức trong các mùa lễ hội của người Hồi giáo, lễ giáng sinh, mùa cưới và năm mới tại các nước đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ... ngày càng tăng.

Do hàng loạt các sự kiện chính trị giữa Mỹ và các nước hồi giáo, Triều Tiên cùng với thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai của Mỹ liên tục gia tăng và kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phát triển bền vững khiến đồng USD giảm giá mạnh khiến vàng và một số ngoại tệ khác tăng cao trên thị trường thế giới.

b. về phía cung:

Các ngân hàng trung ương (NHTƯ) trên thế giới hạn chế bán vàng.

Sản lượng vàng khai thác của thế giới tăng chậm, có nước giảm do chi phí sản xuất cao trước tình hình giá vàng giảm 10 năm liên tục trong suốt giai đoạn 1990 – 2000 Như vậy, nguồn cung vàng bị hạn chế trong khi cầu về vàng tăng mạnh trước tình hình căng thẳng về chính trị và sự suy yếu của đồng USD đã làm cho giá vàng tăng mạnh và liên tiếp lập những kỷ lục mới.

Tác động của giá vàng đối với Việt Nam:

Do vàng không nằm trong rổ hàng hoá t
Xem thêm

40 Đọc thêm

Đặc điểm tổ chức hợp đồng kinh doanh và tổ chức công tác kế toán của đơn vị

ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC HỢP ĐỒNG KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA ĐƠN VỊ

1Doanh thu b¸n hµng 65,476 119,896 54,420 83.1 2Tæng vèn kinh doanh TB 38,502 38,089 -413 -1.1 3Lîi nhuËn 535 2,496 1,961 366.5 4HÖ sè doanh thu trªn vèn 1.7 3.1 1.4 85.1 5HÖ sè lîi nhuËn trªn vèn 0.01 0.07 0.06 371.6 Nh×n vµo b¶ng trªn ta thÊy t×nh h×nh tµi chÝnh cña C«ng ty n¨m 2000 ®îc c¶i thiÖn rÊt nhiÒu so víi n¨m 1999. MÆc dï vèn kinh doanh trung b×nh gi¶m 413tr®, nhng doanh thu t¨ng 54,420tr® víi tû lÖ t¨ng 83,1%. Víi doanh thu t¨ng nhanh lîi nhuËn cña C«ng ty còng t¨ng víi tû lÖ lµ 366,5%. HÖ sè lîi nhuËn trªn vèn cña cña c«ng ty t¨ng tõ 0.01 lªn tíi 0.07 cã thÓ nãi C«ng ty ®· vît qua thêi kú khã kh¨n ban ®Çu vµ ®¹t møc lîi nhuËn trung b×nh tiªn tiÕn so víi c¸c doanh nghiÖp cïng ngµnh nghÒ t¹i cïng thêi ®iÓm n¨m 2000.
Xem thêm

47 Đọc thêm

Thực trạng và một số nhận xét và hoàn thiện tổ chức hạch toán chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần xây dựng số 7

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT ĐỂ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 7

Hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đòi hỏi phải được quản lý, hạch toán kế toán là một trong những công cụ hữu hiệu nhất không thể thiếu trong hệ thống quản lý kinh tế, tài chính của các đơn vị cũng như trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nguyên tắc cơ bản của hạch toán kinh tế là sự tự trang trải chi phí và có lợi nhuận.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được định mức chi phí mà đơn vị cần tự trang trải và làm thế nào để xác định được kết quả kinh doanh.Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua hạch toán chính xác quá trình sản xuất kinh doanh tính đúng,tính đử giá thành sản phẩm.Hoạt động này rất quan trọng đối với tất cả các đơn vị sản xuất ra sản phẩm.
Xem thêm

107 Đọc thêm

hạch toán kế toán TK 136, 336 phải thu phải trả nội bộ tại đơn vị cấp trên và đơn vị trực thuộccấp dưới

HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TK 136, 336 PHẢI THU PHẢI TRẢ NỘI BỘ TẠI ĐƠN VỊ CẤP TRÊN VÀ ĐƠN VỊ TRỰC THUỘCCẤP DƯỚI

Kế toán phải thu – phải trả nội bộKế toán phải thu nội bộ Khái niệm, nội dungNội dung, kết cấu.2. Kế toán phải trả nội bộ Một số quy định khi hạch toánNội dung, kết cấu.3. Phương pháp hạch toán và ví dụ minh họa. Phải thu nội bộ là các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên và cấp dưới hoặc giữa các đơn vị cấp dưới với nhau, trong đó đơn vị cấp trên là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đơn vị cấp dưới là các đơn vị thành viên trực thuộc có tổ chức công tác kế toán riêng.1. Tài khoản 336 chỉ phản ánh các nội dung kinh tế về quan hệ thanh toán nội bộ đối với các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và cấp dưới, giữa các đơn vị cấp dưới với nhau2. Quan hệ đầu tư vốn của doanh nghiệp vào công ty con, công ty liên kết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát và các giao dịch giữa công ty mẹ với các công ty con và giữa các công ty con với nhau không phản ánh vào Tài khoản 336.3. PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN VÀ VÍ DỤ MINH HỌA1. Khi đơn vị cấp trên giao vốn kinh doanh cho đơn vị cấp dưới bằng tiềnNợ TK1361 Có TK 111, 1121. Khi đơn vị cấp dưới nhận được vốn do Tổng công ty, công ty giao xuốngNợ TK 111, 112 Có TK 411Ví dụ: Về kế toán thanh toán nội bộ(ĐVT trđ)Công ty A có đơn vị trực thuộc (ĐVTT) X kinh doanh ở tỉnh khác. ĐVTT có bộ máy kế toán độc lập, thuế GTGT khấu trừ 10%.ĐVTT X còn phải trả nội bộ khác cho công ty A là 242Trong kỳ, có các nghiệp vụ liên quan, gồm:1. Công ty A chi quĩ tiền mặt, giao vốn bổ sung cho ĐVTT X: 500Cấp trên: Nợ TK 1361: 500 Có TK 111: 500_cấp dưới: Nợ TK 111: 500 Có TK 411: 500
Xem thêm

35 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH NĂM 2011 (ĐÃ KIỂM TOÁN) - CÔNG TY CỔ PHẦN SIMCO SÔNG ĐÀ

BÁO CÁO TÀI CHÍNH NĂM 2011 (ĐÃ KIỂM TOÁN) - CÔNG TY CỔ PHẦN SIMCO SÔNG ĐÀ

năm tài chính. Tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷgiá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm này. Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lạisố dư cuối năm của các khoản tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ ngắn hạn có gốc ngoại tệ đượcphản ánh ở khoản mục “Chênh lệch tỷ giá hối đoái” trong phần Vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán và sẽđược ghi giảm trong năm tiếp theo.Theo quy định tại Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 10 - "Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái" thì cácnghiệp vụ phát sinh bằng các đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán được hạch toán theo tỷ giá giao dịch vàongày phát sinh nghiệp vụ. Tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, các khoản mục tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi, tiền đangchuyển, nợ phải thu, nợ phải trả) có gốc ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại thờiđiểm này. Tất cả các khoản chênh lệch tỷ giá thực tế phát sinh trong năm và chênh lệch do đánh giá lại số dư tiềntệ có gốc ngoại tệ cuối năm được hạch toán vào kết quả hoạt động kinh doanh của năm tài chính.Nếu Công ty hạch toán theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam thì toàn bộ khoản lãi chênh lệch tỷ giá do đánh giá lạisố dư cuối năm của các khoản tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ ngắn hạn có gốc ngoại tệ đượcphản ánh ở khoản mục “Chênh lệch tỷ giá hối đoái” trong phần Vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán với sốtiền là 37.957.790 đồng sẽ được ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính trong năm 2011.Ghi nhận doanh thuDoanh thu bán hàngDoanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:-Phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa đã được chuyển giao cho ngườimua;-Công ty không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hànghóa;-
Xem thêm

36 Đọc thêm

chiến lược marketing của công ty sách thái hà và các đơn vị tham gia qua chương trình tết sách 2013 nhu anh

chiến lược marketing của công ty sách thái hà và các đơn vị tham gia qua chương trình tết sách 2013 nhu anh

MỞ ĐẦU
Hoạt động xuất bản là một hoạt động truyền bá văn hóa tư tưởng, cung cấp thông tin tri thức, đáp ứng các nhu cầu về lĩnh vực tinh thần của con người. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, xuất bản là một hoạt động hoàn toàn phi kinh doanh, tất cả mọi hoạt động đều theo định hướng, điều tiết của nhà nước, đồng thời nhận sự hỗ trợ và phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, thì hoạt động xuất bản cũng có những bước chuyển mình phù hợp với thời cuộc, các nhà xuất bản trên cơ sở định hướng của nhà nước đưa ra phương hướng sản xuất kinh doanh phù hợp, nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nhỏ và các đơn vị tự hạch toán kinh doanh. Bên cạnh đó là một hệ thống các đơn vị sản xuất kinh doanh tư nhân được thành lập và ngày càng phát triển, kết quả là một hoạt động xuất bản năng động và phát triển như ngày nay.
Để có được những thành công như vậy, mỗi một đơn vị sản xuất kinh doanh phải không ngừng nỗ lực phấn đấu. Khi hoạt động sản xuất kinh doanh trở thành một hoạt động kinh doanh đặc thù thì các biện pháp xúc tiến kinh doanh cũng được tận dụng một cách triệt để và phát huy hiệu quả. Một trong những công cụ đắc lực của các đơn vị đó là Marketing và các chiến dịch Marketing ngày càng phong phú và hiệu quả hơn nữa.
Trong khuôn khổ đề tài tiểu luận cho môn Marketing xuất bản, chúng em xin được tìm hiểu về “chiến lược Marketing của Công ty sách Thái Hà và các đơn vị tham gia qua chương trình Tết sách 2013” nhằm làm rõ mục đích, mục tiêu và hiệu quả Maketing của các hoạt động trong chương trình Tết sách.
Xem thêm

Đọc thêm

CHI PHÍ ĐI VAY

CHI PHÍ ĐI VAY

ĐƠN VỊ KINH DOANH BẰNG VỐN NHÀ NƯỚC LÀ MỘT ĐƠN VỊ CÓ TẤT CẢ CÁC ĐẶC TÍNH SAU: TRANG 5 B ĐƯỢC PHÉP HOẠT ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI CHÍNH ĐỂ THỰC HIỆN KINH DOANH; C BÁN HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ [r]

13 Đọc thêm

KẾ TOÁN ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

KẾ TOÁN ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

Đề tài thảo luậnGiả sử bạn đang công tác tại 1 đoàn nghệ thuật công lập của tỉnh X ( ví dụ như Nhà hát tỉnh X, đoàn xiếc nghệ thuật tỉnh Y …)Loại hình đơn vị sự nghiệp của cơ quanCác cấp dự toán có liên quan đến kinh phí của đơn vị Nội dung cơ bản của quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị bạnMã thuchi ngân sáchLiệt kê một số khoản thuchi sự nghiệp và sản xuất kinh doanh chủ yếu của đơn vị. Lấy ví dụ minh họa thực tế.LỜI MỞ ĐẦUA.Giới thiệu về Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng tỉnh Bình ThuậnB.Tìm hiểu về trung tâmI.Loại hình đơn vị sự nghiệp của đơn vị1.Các loại hình đơn vị sự nghiệp2.Loại hình đơn vị sự nghiệp của đơn vịII.Các cấp dự toán có liên quan đến ĐVSN của đơn vị1.Phân loại ĐVSN2.Các cấp dự toán mà Trung tâm liên quanIII.Nội dung cơ bản của bản qui chế chi tiêu nội bộ của Trung tâmIV.Mã thuchi ngân sách của Ttrung tâmV.Các khoản thu Sự nghiệp Sản xuất kinh doanh của Trung tâmVI.Các khoản chi Sự nghiệp Sản xuất kinh doanh của Trung tâmVII.Ví dụ minh họaKẾT LUẬN
Xem thêm

36 Đọc thêm

“RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ NHỮNG LOẠI HÌNH CỤ THỂ”,

“RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ NHỮNG LOẠI HÌNH CỤ THỂ”,

Mức độ hiểu biết về đơn vị của kiểm toán viên không nhất_ _thiết phải như Ban Giám đốc của đơn vị được kiểm toán.”_ Khi tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng, kiểm toán viên có th[r]

32 Đọc thêm

TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH KINH DOANH, ĐƠN VỊ, CÔNG TY, NGÀNH NGHỀ KIẾN TRÚC

TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH KINH DOANH, ĐƠN VỊ, CÔNG TY, NGÀNH NGHỀ KIẾN TRÚC

VD: Công ty CP Lắp máy điện nước và Xây dựng là thành viên của Tổng Công ty Xây dựng Hà nội - Bộ Xây dựng. Là công ty hoạt động trong các lĩnh vực thế mạnh như: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, xây lắp hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý nước cấp và nước thải, Xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật khu đô thị và khu công nghiệp, Xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, bưu chính viễn thông, Lắp đặt điện, nước, thang máy, điều hoà không khí, hệ thống kho lạnh, hệ thống xử lý độ ẩm không khí, Tư vấn, thiết kế, kinh doanh, hợp tác đầu tư...
Xem thêm

36 Đọc thêm

CHƯƠNG VIII CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH VÀ BỘ PHẬN CHỨC NĂNG

CHƯƠNG VIII CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH VÀ BỘ PHẬN CHỨC NĂNG

không tạo giá tròSáng tạogiá trò mớiSáng tạo cácyếu tố ngànhchưa đáp ứngTăng các yếu tố đáp ứngtốt hơn tiêu chuẩn ngành03/05/2013702003 - Chương 8 - Chiến lượccấp đơn vị kinh doanh và bộ phậnchức năng10CHƢƠNG VIII CHIẾN LƢỢC CẤPĐƠN VỊ KINH DOANH VÀBỘ PHẬN CHỨC NĂNG• 1.4. Chiến lƣợc cấp SBU dựa vào thị phần• 1.4.1. Các đơn vị dẫn đầu thị trƣờng• Chiến lƣợc tăng tổng nhu cầu thị trƣờng• Tìm kiếm các khu vực địa lý mới.• Tìm kiếm khách hàng mới.• Khám phá công dụng mới của sản phẩm• Khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm nhiều
Xem thêm

28 Đọc thêm

MẪU SỐ 01-ĐK-TCT: TỜ KHAI ĐĂNG KÝ THUẾ CHO TỔ CHỨC

MẪU SỐ 01-ĐK-TCT: TỜ KHAI ĐĂNG KÝ THUẾ CHO TỔ CHỨC

Tỷ trọng:10. Loại hình kinh tếCông ty cổ phầnCông ty hợp danhTổ chức kinh tế của tổ chứcchính trị, CT-XH, xã hội, XHNNHợp tác xãCông ty TNHHHợp đồng hợp tác,kinh doanh với nước ngoàiTổ hợp tácĐơn vị vũ trangDoanh nghiệp tưTổ chức là thươngnhân biên giớiĐơn vị sự

3 Đọc thêm

KIỂM TOÁN NỘI BỘ CÔNG CỤ HỮU HIỆU CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT

KIỂM TOÁN NỘI BỘ - CÔNG CỤ HỮU HIỆU CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT

Được xác định bởi hợp đồng giữa đơn vị có nhu cầu kiểm toán và đơn vị cung cấp dịch vụ kiểm toán Đối tượng kiểm toán Đối tượng kiểm toán là hoạt động sản xuất,, kinh doanh của các phòng [r]

33 Đọc thêm

Kiểm toán nội bộ - Công cụ hữu hiệu của hoạt động kiểm soát

KIỂM TOÁN NỘI BỘ - CÔNG CỤ HỮU HIỆU CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT

Được xác định bởi hợp đồng giữa đơn vị có nhu cầu kiểm toán và đơn vị cung cấp dịch vụ kiểm toán Đối tượng kiểm toán Đối tượng kiểm toán là hoạt động sản xuất,, kinh doanh của các phòng [r]

33 Đọc thêm

Chiến lược đơn vị kinh doanh

CHIẾN LƯỢC ĐƠN VỊ KINH DOANH

Eaton được thành lập từ năm 1911, đến nay công ty đã mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của mình trên toàn thế giới, cung cấp nhiều sản phẩm cho các thị trường khác nhau. Công ty hoạt động trên nhiều lĩnh vực, tham gia hoạt động trên phạm vi nhiều quốc gia, do đó số lượng các SBU của công ty là không hề nhỏ. Để đi vào phân tích chiến lược đơn vị kinh doanh, chúng tôi chọn ra đơn vị kinh doanh năng lượng mặt trời trong mảng kinh doanh năng lượng của công ty.
Xem thêm

3 Đọc thêm

HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

Đơn vị đó cũng được giao quyền tham gia vào hợp đồng xây dựng trên cơ sở thương mại với một đơn vị thuộc khu vực tư nhân hoặc đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước và tham gia vào một hợp [r]

25 Đọc thêm

Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh slide prezi

CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH SLIDE PREZI

Mục lục
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ 1
1.1 Khái niệm về công nghệ 1
1.2 Tương quan giữa đổi mới và công nghệ 2
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 4
2.1 Công nghệ tác động đến kinh tế xã hội. 4
2.1.1 Về kinh tế: 4
2.1.1.1 Công nghệ và tăng trưởng kinh tế 4
2.1.2 Văn hóa xã hội: 7
2.2 Những ảnh hưởng đến đầu tư 9
2.3 Công nghệ tác động đến hoạt động thương mại 10
2.3.1 Hình thức giao dịch và lợi lích của TMĐT 10
2.3.2 Những việc còn tồn tại khi áp dụng TMĐT 13
2.3.3 Một số ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam 16
2.3.4 Đối tượng của TMĐT 17
2.3.5 Điều thứ nhất là sự khác nhau về khách hàng 18
2.3.6 Khác biệt về đàm phán, giao dịch: 18
2.3.7 Khác biệt về vấn đề tích hợp: 19
2.4 Công nghệ tác động đến trách nhiệm về môi trường và xã hội của doanh nghiệp 19
2.5 Công nghệ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh 21
2.6 Công nghệ tác động đến R D: 23
2.6.1 Khái niệm R D 23
2.6.2 Các hoạt động và mục tiêu của R D 23
2.6.3 Chức năng R D trong hoạt động sản xuất kinh doanh 24
2.6.4 Những khó khăn mà hoạt động R D đang gặp phải trong các doanh nghiệp ở Việt Nam 27
Chương 3: Tầm quan trọng của công nghệ đến hoạt động sản xuất kinh doanh 29
Xem thêm

32 Đọc thêm

CHIẾN LƯỢC Ở ĐƠN VỊ KINH DOANH VÀ BỘ PHẬN CHỨC NĂNG

CHIẾN LƯỢC Ở ĐƠN VỊ KINH DOANH VÀ BỘ PHẬN CHỨC NĂNG

Những lĩnh vực phân tích ở bộ phận chức năng Marketing Sản xuất Nhân lực Tài chính Nghiên cứu PT Khách hàng Chiến lược SP Định giá Phân phối/tiêu thụ Khuyến mại Kiểm tra CL Vị trí Nhà má[r]

5 Đọc thêm

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần vận tải xây dựng và thương mại Việt Hà

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT HÀ

Các đơn vị kinh doanh không ngừng thu thập thông tin và đổi mới sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Đơn vị nào làm ăn có hiệu quả sẽ thắng được các đối thủ cạnh tranh. Mà vốn là nhân tố quan trọng tới quyết định tới quy mô sản xuất, việc quản lý và sử dụng vốn hiệu quả quyết định tới kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luôn chiếm vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển của các đơn vị kinh doanh.
Xem thêm

56 Đọc thêm

Cùng chủ đề