ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI":

Phân tích các giải pháp kích cầu mà chính phủ việt nam áp dụng trong giai đoạn 2008 -2009

PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP KÍCH CẦU MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ÁP DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN 2008 -2009

Phân tích các giải pháp kích cầu mà chính phủ việt nam áp dụng trong giai đoạn 2008 -2009

28 Đọc thêm

thảo luận kinh tế vĩ mô: Việc thực hiện gói kích cầu bằng chính sách tài khóa là cần thiết và đúng đắn ở Việt Nam trong giai đoạn suy thoái 20072011

THẢO LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ: VIỆC THỰC HIỆN GÓI KÍCH CẦU BẰNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA LÀ CẦN THIẾT VÀ ĐÚNG ĐẮN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN SUY THOÁI 20072011

Việc thực hiện gói kích cầu bằng chính sách tài khóa là cần thiết và đúng đắn ở Việt Nam trong giai đoạn suy thoái 20072011
Tổng quan về gói kích cầu tại Việt Nam giai đoạn 20072011
chúc các bạn học tập vui vẻ

24 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI

_ _1.2.2.BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ_ Đứng đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư là Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, kế tiếp là các thứ trưởng: TRANG 9 Bộ máy tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư t[r]

47 Đọc thêm

THƯC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1988 ĐẾN ĐẦU NĂM 2000

THƯC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1988 ĐẾN ĐẦU NĂM 2000

Trước thực trạng đó, để thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo em thấy cần phải đẩy mạnh hoạt động tư vấn đầu tư theo các hướng sau: Trước hết, chúng ta cần[r]

25 Đọc thêm

Đề cương Thạc sĩ Đánh giá thực trạng hoạt động và giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

ĐỀ CƯƠNG THẠC SĨ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT

Ở Việt Nam nói chung và thành phố Cần Thơ chưa có một nghiên cứu nào tập trung vào việc thu hút đầu tư ngoài ngân sách để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Như đã đề cập ở trên, đầu tư ngoài ngân sách (tư nhân, doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài) có vai trò hết sức quan trọng trong việc củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng của một nước. Việc tìm hiểu thực trạng, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng ở thành phố Cần Thơ có ý nghĩa vồ cùng quan trọng đối với người làm chính sách, nhà nghiên cứu và cả xã hội. Vì thế, nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp thu hút ngồn vốn đầu tư ngoài ngân sách để phát triển cơ sở hạ tầng ở... là hết sức cấp thiết. Trên cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm về sự tham gia của đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng, đề tài này sẽ tập trung vào mục tiêu chính: Đánh giá thực trạng hoạt động và giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại....
Xem thêm

10 Đọc thêm

Một số giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN FDI

Để duy trì và đảm bảo tăng trưởng kinh tế thì đầu tư là điều kiện thiết yếu. Tuy nhiên, đối với các nước nghèo như Việt Nam với thu nhập thấp và thị trường tài chính chưa phát triển, mức độ tiết kiệm và huy động vốn trong nước là không đủ. Điều đó đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa nhu cầu đầu tư và khả năng cung ứng vốn. Về nguyên tắc, sự thiếu hụt này có thể được bù đắp bằng luồng vốn nước ngoài, trong đó, FDI thường tỏ ra ưu việt hơn.Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, luồng FDI vào Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ từ 0,32 tỷ USD vốn thực hiện năm 1988 tới 4,1 tỷ USD năm 2006 (TCTK 2006). Trong suốt quá trình này, luồng vốn FDI vào đất nước ta đã đóng một vai trò khá quan trọng, không chỉ cung cấp lượng vốn đầu tư khá lớn mà còn thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu cũng như chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, tạo việc làm..., có ảnh hưởng tràn tích cực đến các doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đó, việc đánh giá đúng đắn vai trò, vị trí và những tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay cũng như trong tương lai sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút và nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Sử dụng các mô hình kinh tế lượng là một trong các cách tiếp cận khoa học nhằm lượng hóa những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tăng trưởng và phát triển đó. Các mô hình kinh tế lượng còn là cơ sở để Nhà nước đề xuất các chính sách đối với việc huy động và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế nước ta. Tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu về FDI nói chung, nhưng rất ít các nghiên cứu thực nghiệm sâu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, việc ứng dụng các phương pháp kinh tế lượng khác nhau để kiểm tra mối quan hệ này. Với những lý do và thực tiễn đã nêu, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp tăng cường thu hỳt và sử dụng nguồn vốn FDI”.Mục tiêu nghiên cứu:Do mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài là khá rộng do đó luận văn chỉ tập trung phân tích mức độ tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và dự báo xu hướng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới. Đánh giá thực trạng của luồng vốn FDI đến Việt Nam, những tác động tích cực và bất lợi của nó đối tăng trưởng kinh tế. Với việc sử dụng bộ số liệu cập nhật, kết hợp phân tích định lượng với phân tích định tính, luận văn sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề chính sau:a. Có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hay không?b. Vai trò của FDI tới tăng trưởng kinh tế như thế nào?c. FDI có tác động thay thế hoặc bổ xung đối với đầu tư trong nước? d. Sự khác biệt (chính sách, vị trí địa lý...) giữa các địa phương có vai trò gì?e. Một số biện pháp để tăng cường thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI một cách hiệu quảMục tiêu cụ thể:Đánh giá tác động của FDI tới tổng sản phẩm trong nước, xuất khẩu, đầu tư trong nước và dự báo xu hướng của FDI trong thời gian tới.Số liệu: Số liệu được thu thập từ các niên giám thống kê theo năm, quý và các địa phương giai đoạn 19882006 Các báo cáo của Bộ Kế Hoạch Đầu Tư , Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thống Kê và các nguồn khácPhương pháp luận: Các phương pháp nghiên cứu chung và đặc thù sẽ được áp dụng (phân tích tổng hợp, lôgíc và lịch sử...) Phương pháp so sánh đối chiếu để làm rõ tương đồng và khác biệt của chính sách các vùng về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế. Một số mô hình kinh tế lượng (phương trình hồi quy bội, mô hình Var và kiểm định nhân quả Granger)Bố cục luận văn:Luận văn sẽ bao gồm 4 chươngChương 1: Lý luận chung về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tếChương 2: Thực trạng về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam (19882006).Chương 3: Vận dụng mụ hỡnh kinh tế lượng vào phân tích và dự báo sự tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt NamChương 4: Một số giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI
Xem thêm

86 Đọc thêm

Tác động của chính sách đầu tư công đối với phát triển kinh tế nước ta giai đoạn 2000 – 2013

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ CÔNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2000 – 2013

1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam. Trong quá trình này việc huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của nhà nước (đầu tư công) có một ý nghĩa quan trọng. Đầu tư công đóng vai trò tạo những nền tảng vật chất kỹ thuật quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Phần vốn này được nhà nước giao cho các bộ, ngành và các địa phương, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị và chính trị xã hội quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển đất nước không thể phủ nhận, đầu tư công của Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Việc chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đòi hỏi phải thay đổi một cách căn bản cách thức, quyết định đối tượng mà nhà nước phải đầu tư và phương thức tiến hành đầu tư. Trong thực tế chính sách đầu tư công của nhà nước cũng đã có nhiều thay đổi. Nhưng chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đặc biệt, phải nói đến hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam hiện nay còn thấp. Đầu tư công luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém thậm chí với mức độ ngày càng nặng nề. Đầu tư công và quản lý đầu tư công kém hiệu quả không chỉ khiến hiệu quả đầu tư xã hội bị hạn chế mà còn làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực và kéo dài khác như tăng sức ép lạm phát trong nước; mất cân đối vĩ mô trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại hối và tích lũy tiêu dùng. Cũng như làm hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội nhập.
Đầu tư công sẽ phát huy hết vai trò quan trọng của mình nếu định hướng đầu tư của nhà nước là đúng đắn, hợp lý. Nếu nhà nước đầu tư dàn trải không mang lại hiệu quả thiết thực thì sẽ gây tổn hại lớn cho nhà nước và toàn xã hội, tăng áp lực nặng nề cho nền tài chính công.
Vì vậy, nghiên cứu, tổng kết và đánh giá về tác động của chính sách đầu tư công đối với kinh tế nước ta hiện nay để thấy được điểm còn hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện chính sách đầu tư công trong giai đoạn tới có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Tác động của chính sách đầu tư công đối với phát triển kinh tế nước ta giai đoạn 2000 – 2013”làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế Chính trị của mình.
Xem thêm

65 Đọc thêm

Hoàn thiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô

HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề về hội nhập kinh tế của mỗi quốc gia đã không còn mới mẻ, đặc biệt là trong hoàn cảnh kinh tế ngày càng khó khăn, suy thoái, dấu hiệu của sự phục hồi là chưa rõ rệt, đòi hỏi các quốc gia phải liên kết lại với nhau, cùng hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để khắc phục các hậu quả của suy thoái kinh tế. Việt Nam đang ở trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực thi các chính sách thông thoáng, minh bạch hơn, ban hành các văn bản pháp lý đổi mới để đáp ứng nhu cầu cho tăng trưởng kinh tế và hội nhập. Tuy cũng đã có những kết quả nhất định nhưng còn khá hạn chế.
Các hoạt động của các ngân hàng đếu bắt nguồn từ hoạt động kinh tế chung và phục vụ cho hoạt động kinh tế chung đó, những đổi mới trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian qua đã đóng góp một phần không nhỏ cho quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. Điều này thể hiện rõ nhất ở việc các ngân hàng thương mại không chỉ quan tâm đến các nghiệp vụ ngân hàng ở trong nước mà còn chú trọng đến việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Sau quá trình học tập tại trường Đại học và thực tập tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô. Em nhận thấy nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã được ngân hàng trú trọng phát triển và được coi là một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Đặc biệt là trước yêu cầu hội nhập kinh tế của đất nước và sự cạnh tranh quyết liệt của các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, nghiệp vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng vẫn còn tồn tại một số những hạn chế cần tìm ra giải pháp hoàn thiện. Vì lý do trên em đã chọn đè tài: “Hoàn thiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình.



2. Đối tượng và phạm vi nhiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng nghiệp vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn từ 2008 – 2013 và đề xuất phương hướng, giải pháp đến năm 2020.
3. Kết cấu chuyên đề
Chuyên đề gồm có 3 chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô
Chương 2: Thực trạng nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Đô
Xem thêm

60 Đọc thêm

Đầu tư công tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. Vấn đề nghiên cứu 2
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Phương pháp nghiên cứu 3
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
5. Nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG 4
1.1. Khái niệm đầu tư công 4
1.1.1 Khái niệm đầu tư 4
1.1.2 Khái niệm đầu tư công 4
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công 5
1.3. Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế xã hội 8
1.4. Chỉ số đo lường hiệu quả kinh tế của đầu tư công 8
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 11
2.1. Bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay 11
2.2. Tình hình đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay 12
2.3. Những thành tựu đã đạt được của quá trình đầu tư công 26
2.4. Một số vấn đề còn tồn tại trong đầu tư công tại Việt Nam 27
2.4.1. Một số vấn đề cơ bản 27
2.4.2. Hạn chế trong quản lý đầu tư công 29
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM 34
LỜI KẾT 39




LỜI MỞ ĐẦU
1. Vấn đề nghiên cứu
Công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều cơ hội phát triển cũng như thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong quá trình này, đầu tư công có một ý nghĩa quan trọng, đóng vai trò tạo nền tảng vật chất kỹ thuật quan trọng cho đất nước, là “cú huých” đối với một số ngành và vùng trọng điểm, đồng thời thúc đẩy thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Mặc dù có đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, song đầu tư công vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Trong những năm qua, việc chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đòi hỏi phải thay đổi một cách căn bản cách thức quyết định, đối tượng mà Nhà nước phải đầu tư và phương thức tiến hành đầu tư. Những thay đổi này tuy đã diễn ra, song chưa thực sự phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và vẫn mang nhiều đặc tính của cơ chế bao cấp và nguyên tắc “xin – cho” trong quy trình quyết định và phân phối vốn đầu tư. Hiệu quả thấp trong đầu tư công đã được nói đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội, trong các cuộc hội thảo, diễn đàn. Không ít hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực đầu tư công diễn ra rất nghiêm trọng và gây ra mối quan ngại về tính hiệu quả của đầu tư công như lãng phí, tham nhũng, đầu tư dàn trải, đầu tư không đúng mục tiêu… Tất cả những vấn đề này bắt nguồn cả từ thể chế phân bổ và quản lý đầu tư công chưa hoàn thiện, lẫn từ sự yếu kém của cơ quan quản lý.
Trong thời kỳ tới, nền kinh tế Việt Nam phải chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển chủ yếu theo chiều sâu. Mặt khác, việc tham gia ngày càng sâu và rộng hơn vào các quan hệ kinh tế quốc tế, sự mở cửa thị trường đầu tư theo các hiệp định quốc tế đã ký kết (WTO, AFTA, CAFTA, song phương) tạo ra môi trường và thị trường đầu tư khác hẳn so với trước đây. Việc nghiên cứu chính sách đầu tư công của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, là nhiệm vụ có ý nghĩa cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Nghiên cứu, tổng kết và đánh giá thực tiễn đầu tư công trong hơn 12 năm qua là công việc cần thết để thấy được những điểm yếu, rút ra những bài học và đề xuất cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách đầu tư công và hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Đây là lý do nhóm chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Đầu tư công tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên việc nghiên cứu, đánh giá tình hình đầu tư công, hiệu quả đầu tư công để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội là điều rất cần thiết. Do đó, chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài này nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan, những phân tích, đánh giá về thực trạng đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay; từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế yếu kém còn tồn tại và không ngừng nâng cao hiệu quả đầu tư công, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
3. Phương pháp nghiên cứu
Xem thêm

38 Đọc thêm

Giải pháp hạn chế rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã thành công trong việc thu hút đầu tư FDI, riêng trong năm 2013, tổng số vốn đăng ký đã lên tới 21,6 tỷ USD, không chỉ dừng lại ở mảng đầu tư trực tiếp mà đầu tư gián tiếp cũng có những tín hiệu đáng khả quan. FII tăng tới 70% trong năm 2013 so với năm 2012, đóng góp lớn cho nền kinh tế Việt Nam, tác động không nhỏ đến việc làm tăng tính thanh khoản và kích thích các nhà đầu tư trong nước. Không những vậy, nguồn vốn FII luôn mang một ý nghĩa rất quan trọng, trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, để có thể hoàn thiện được kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội thì cần phải thu hút một lượng vốn rất lớn trong giai đoạn tiếp theo. Con số nêu trên đã cho thấy được những thành công trong nỗ lực thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, và cụ thể là thành quả trong thu hút đầu tư trên thị trường tài chính và đặc biệt là thông qua kênh thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán luôn là tâm điểm của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư gián tiếp vào Việt Nam bởi vì thị trường chứng khoán tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn phù hợp, đồng thời các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể dễ dàng chuyển đổi xu hướng đầu tư trong thời gian khá ngắn. Không chỉ đem lại lợi ích cho chính bản thân các nhà đầu tư nước ngoài mà dòng vốn ngoại vào chứng khoán luôn có tác động mạnh mẽ đến thị trường và dòng tiền của nhà đầu tư trong nước. Trong năm 2013 vừa qua, mặc dù thị trường chứng khoán có phần ảm đạm nhưng sang đến năm 2014, chỉ riêng tháng 1 đã có 70 triệu USD từ quỹ nước ngoài tham gia đầu tư. Chủ trương của Nhà nước vẫn luôn cố gắng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường để làm động lực thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, tạo ra sự hấp dẫn đối với chứng khoán. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động với một thời gian chưa lâu (ra đời vào năm 2000), vẫn còn khó khăn trong việc điều hành, quản lý các dòng vốn đầu tư, sự hiện diện của các nhà đầu tư ngoại cũng đem lại không ít rủi ro cho thị trường chứng khoán nói riêng và cho toàn bộ nền kinh tế của Việt Nam nói chung. Đơn cử như việc các nhà đầu tư nước ngoài có thể thao túng thị trường, sáp nhập, thôn tính doanh nghiệp, sự chuyển hướng đầu tư đột ngột cũng sẽ gây ra tác động không nhỏ. Một minh chứng cụ thể trên thế giới cho thấy tác động của nhà đầu tư ngoại trên thị trường này chính là sự kiện khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 đã gây ra thiệt hại cho một số nước có nền kinh tế mạnh như Thái Lan, Hàn Quốc…Hay như ở Việt Nam, cũng đã có những rủi ro mà hậu quả là đáng tiếc như cuộc tháo chạy đồng loạt của nhà đầu tư ngoại năm 2008. Lấy kinh nghiệm từ đó, sẽ thật cần thiết khi cần đánh giá lại những biện pháp mà Việt Nam đã áp dụng đồng thời có những hướng đi mới để giảm thiểu những rủi ro này nhưng vẫn đem lại hiệu quả trong nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Cùng với quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo, em cũng đã tiếp thu các kiến thức cơ bản về hoạt động đầu tư gián tiếp. Và khi nghiên cứu tại phòng thị trường tài chính thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng, em nhận thấy việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và gặp nhiều rủi ro. Vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro là rất quan trọng.
Chính vì những lý do đó, em quyết định chọn đề tài: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam làm đề tài nghiên cứu chuyên đề của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các lý luận về rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán.
Đánh giá thực trạng và hiệu quả giảm thiểu rủi ro trong việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phân tích một số bài học kinh nghiệm từ những rủi ro trên để đúc kết ra những bài học quý báu để học tập và tránh lặp lại những giải pháp thiếu hiệu quả.
Trên cơ sở các lý luận và đánh giá về thực trạng thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chuyên đề thực tập sẽ đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế được các rủi ro trong hoạt động thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các rủi ro trong thu hút đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Rủi ro trong thu hút đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 5 năm gần đây ( từ năm 2008 đến năm 2013).
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài áp dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn giải, quy nạp qua những tài liệu của các tổ chức, bộ ngành của Việt Nam, các công trình nghiên cứu, các bài báo và các tạp chí kinh tế, tài chính của Việt Nam để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trong phạm vi đề tài.
Em cũng xin nghiên cứu nhừng bài học kinh nghiệm từ việc quản lý nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới và đặc biệt là các nước láng giềng Châu Á để rút ra những bài học quý giá và thiết thực với thực tế.
5. Kết cấu bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chuyên đề thực tập được nêu vấn đề nghiên cứu của mình thông qua 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Xem thêm

80 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MỤC LỤC
CHƯƠNG I 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1
1.1. Lãi suất 1
1.1.1. Khái niệm và phân loại lãi suất: 1
1.1.1.1. Khái niệm: 1
1.1.1.2. Phân loại: 1
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất: 1
1.1.2.1. Mức cung cầu tiền tệ: 1
1.1.2.2. Sự tác động của cung cầu tín dụng: 1
1.1.2.3. Sự tác động của tỷ lệ lạm phát 2
1.1.3. Vai trò của lãi suất: 2
1.1.3.1. Kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm 2
1.1.3.2. Lãi suất là công cụ phân phối vốn, kích thích sử dụng vốn có hiệu quả và điều chỉnh các hoạt động đầu tư 2
1.1.3.3. Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế 2
1.1.3.4. Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của NHNN 2
1.2. Tỷ giá hối đoái: 3
1.2.1. Khái niệm: 3
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 3
1.2.2.1. Sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế: 3
1.2.2.2. Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế: 3
1.2.2.3. Hiện trạng cán cân thanh toán quốc tế: 3
1.2.2.4. Mức chênh lệch lãi suất: 3
1.2.2.5. Hoạt động đầu cơ ngoại tệ: 4
1.2.2.6. Các nhân tố khác: 4
1.2.3. Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế 4
1.2.3.1. Đối với cán cân thanh toán: 4
1.2.3.2. Với lạm phát và lãi suất 4
1.2.3.3. Với sản lượng và việc làm 5
1.2.3.4. Đối với đầu tư quốc tế 5
CHƯƠNG 2 7
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
2.1. Lãi suất 7
2.1.1. Thực trạng chính sách lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua: 7
2.1.1.1. Giai đoạn từ năm 1989 đến 5.1992: Cơ chế chính sách lãi suất cố định 7
2.1.1.2. Giai đoạn từ 6.1992 đến 1995: Cơ chế điều hành khung lãi suất 7
2.1.1.3. Giai đoạn từ 1996 đến 7.2000: Cơ chế điều hành lãi suất trần 7
2.1.1.4. Giai đoạn từ 582000 đến 162002: Cơ chế lãi suất cơ bản kèm biên độ 7
2.1.1.5. Giai đoạn từ ngày 01062002 đến nay: 10
2.1.2. Giải pháp điều hành Lãi suất ở Việt Nam hiện nay: 12
2.1.2.1. Những khó khăn trong quá trình chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận. 12
2.1.2.2. Những giải pháp: 13
2.2. Tỷ giá hối đoái 15
2.2.1. Thực trạng tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong những năm gần đây: 15
2.2.1.1. Giai đoạn 20012005 15
2.2.1.2. Giai đoạn 20062007 16
2.2.1.3. Giai đoạn năm 2008 18
2.2.1.4. Giai đoạn năm 2009 21
2.2.1.5. Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 22
2.2.2. Những giải pháp cho chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay 24
2.2.2.1. Chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh linh hoạt và theo hướng thị trường hơn. 24
2.2.2.2. Chính sách tỷ giá điều chỉnh theo hướng tách rời sự neo buộc vào đồng USD 24
2.2.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động của NHNN trên thị trường ngoại hối. 25
2.2.2.4. Hoàn thiện thị trường ngoại hối 25
2.2.2.5. Phá giá nhẹ đồng Việt Nam. 26
2.2.2.6. Thực hiện chính sách đa ngoại tệ 26
2.2.2.7. Tạo điều kiện để đồng Việt Nam có thể chuyển đổi được 27
2.2.2.8. Phối hợp đồng bộ chính sách tỷ giá với các chính sách kinh tế vĩ mô khác 27
2.2.2.9. Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro 28
2.2.2.10. Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối 29




















LỜI MỞ ĐẦU


Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nền kinh tế toàn cầu hồi phục chậm sau cuộc khủng hoảng, nhưng nền kinh tế Việt Nam đã sớm thoát ra khỏi tình trạng suy giảm này và lấy lại đà tăng trưởng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đối mặc với những khó khăn và thách thức trước mắt về các vấn đề như lạm phát, nhập siêu và nợ công. Những bất ổn này không chỉ cản trở tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, mà còn làm xói mòn sự tăng trưởng bền vững trong trung hạn, và có thể làm suy yếu đi tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn.

Vì vậy, mục tiêu trước mắt của nền kinh tế Việt Nam vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế, đồng thời từng bước chuyển đổi mô hình kinh tế. Để thực hiện những điều này, Ngân hàng Nhà nước giữ một vai trò quan trọng trong việc điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ và các hoạt động của ngân hàng. Trong đó, vẫn đề về lãi suất và tỷ gá hối đoái là hai vấn đề có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế hiện nay.

Xuất phát từ tầm quan trọng đó, nhóm 06 quyết định chọn đề tài tiểu luận nghiên cứu cho nhóm mình là “Lãi suất và tỷ giá hối đoái ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khái quát về tình hình lãi suất và tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong thời gian qua, cũng như ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định lãi suất và tỷ giá hoái đoái trong giai đoạn hiện nay.
Xem thêm

35 Đọc thêm

HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM THEO CÁCH TIẾP CẬN PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH

HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM THEO CÁCH TIẾP CẬN PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Sử dụng cách tiếp cận phân tích chi phí – lợi ích (CP-LI) để nghiên cứu hiệu quả đầu tư (HQĐT) cho giáo dục đại học (GDĐH), luận án đã có một số đóng góp mới về học thuật như sau:

(1) Phát triển khái niệm Đầu tư cho GDĐH từ tiếp cận phân tích CP-LI đối với một cá nhân người học trên cơ sở lý thuyết kinh tế đầu tư. Đồng thời, cùng với việc phân tích và nêu cách xác định các khoản CP-LI, luận án phát triển các công thức tính NPV, BCR và IRR của đầu tư cho GDĐH phù hợp với các đặc điểm của hệ thống GD và luật lao động Việt Nam.

(2) Phát triển quy trình ước lượng HQĐT cho GDĐH phù hợp với điều kiện về dữ liệu của Việt Nam, cụ thể là sử dụng phương pháp hàm thu nhập làm “bước đệm” để tính HQĐT cho GDĐH theo phương pháp tính đầy đủ, đồng thời sử dụng kết quả ước lượng hàm thu nhập để phân tích, làm phong phú thêm những nhận định về sự khác biệt trong HQĐT cho GDĐH giữa các ngành, nghề, thành phần kinh tê, giới tính,…

(3) Xác định các nhân tố tác động tới HQĐT cho GDĐH và phân nhóm để phân tích theo ảnh hưởng của chúng lên chi phí hay lợi ích của đầu tư. Các nhân tố này bao gồm: Tài chính và chi tiêu cho GDĐH; Chất lượng GDĐH; Sự tham gia vào thị trường lao động và đặc điểm nghề nghiệp của người lao động; Thu nhập và thuế thu nhập; và Những đặc điểm của cá nhân người lao động.

Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu

(1) Đầu tư cho GDĐH ở Việt Nam hiện nay là có hiệu quả, thể hiện ở cả 3 chỉ số: NPV, BCR và IRR. Trong đó, HQĐT đối với nam cao hơn nữ; HQĐT cá nhân cao hơn xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được còn thấp trong so sánh với số liệu trung bình của các quốc gia OECD. Luận án đã nhận định nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ: (i) Những bất cập trong đầu tư cho GDĐH; Bất hợp lý trong chính sách sử dụng lao động và thu nhập; (ii) Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu XH; (iii) Thời gian đào tạo còn dài; (iv) Công tác hướng nghiệp chưa được thực hiện tốt; (v) Nhận thức và thái độ của người học đối với GDĐH chưa đúng đắn, tích cực

(2) Trong so sánh quốc tế, HQĐT cho GDĐH ở Việt Nam hiện nay có thể được khái quát ở dạng “chi phí thấp – lợi ích thấp – hiệu quả thấp”. Trên cơ sở nhận định này cùng với việc phân tích số liệu quốc tế, luận án đã đưa ra quan điểm đối với việc nâng cao HQĐT cho GDĐH Việt Nam giai đoạn tới. Đó là việc nâng cao HQĐT cho GDĐH phải được xuất phát từ yếu tố “nội lực” là chất lượng của GDĐH để đảm bảo tính ổn định, bền vững trong dài hạn. Với xuất phát điểm thấp như Việt Nam, để có thể tiếp cận được với những chuẩn khu vực và quốc tế về chất lượng GDĐH cũng như để hướng tới một thị trường lao động toàn cầu thì việc tăng cường đầu tư cho GDĐH là một xu thế tất yếu. Đồng thời, việc nâng cao HQĐT cho GDĐH phải trên cơ sở sự nỗ lực, chung tay góp sức của tất cả các bên hữu quan (Nhà nước – Nhà trường – Người học – Doanh nghiệp).

(3) Với quan điểm đó, luận án đã đề xuất 4 phương hướng và 6 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao HQĐT cho GDĐH Việt Nam, bao gồm: (1) Sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống GDĐH; (2) Đổi mới đầu tư cho GDĐH theo hướng tăng cường chia sẻ chi phí và thay đổi phương thức cấp vốn nhằm đảm bảo chất lượng, công bằng, hiệu quả; (3) Tăng cường tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở GDĐH; (4) Phát triển năng lực người học đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước và hội nhập quốc tế; (5) Đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả công tác hướng nghiệp theo tiếp cận năng lực; (6) Nghiên cứu điều chỉnh chính sách tiền lương của người lao động qua đào tạo.
Xem thêm

232 Đọc thêm

Cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Sau 15 năm tái lập tỉnh, Bắc Giang từ một tỉnh có điểm xuất phát thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém. Với định hướng phát triển kinh tế xã hội đúng đắn, định hướng thu hút đầu tư phù hợp, đến nay tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang đã từng bước phát triển và có tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân giai đoạn 20062010 là 9%năm, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng công nghiệp dịch vụ tăng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tổng vốn đăng ký đầu tư giai đoạn 20062010 đạt 393,51 triệu USD và 25.275,7 tỷ đồng. Nghị quyết số 43NQTU ngày 22022011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về về ban hành 5 Chương trình phát triển kinh tế xã hội trọng tâm, giai đoạn 20112015, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, có chương trình đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp – dịch vụ, đặt ra mục tiêu về tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 1112%năm, trong đó công nghiệp tăng 20,521,5%năm, vốn đầu tư thực hiện giai đoạn 20112015 đạt 32.700 tỷ đồng, trong đó vốn doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 18.900 tỷ đồng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt khoảng 13.800 tỷ đồng. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tình hình suy thoái kinh tế thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia, mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, thì xu hướng suy giảm nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng đang đặt ra nhiều thách thức. Để đạt được mục tiêu trên, có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó giải pháp cải thiện môi trường đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI, nguồn vốn đầu tư trong nước của các doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bắc Giang, tôi lựa chọn đề tài: “Cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ” sẽ đánh giá được thực trạng môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh để từ đó đề ra định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa tính hấp dẫn của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.
Xem thêm

115 Đọc thêm

Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia nhật bản vào việt nam

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM

Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đặc điểm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đặc thù đầu tư vào việt nam của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản. Khảo sát khai thác thị trường và dự báo triển vọng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật bản tại Việt Nam. Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản ở Việt Nam.

27 Đọc thêm

THẤT NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THẤT NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Kinh tế Vĩ mô Nhóm 03 Trang 10  Xut nhp khi Năm 2009, tình hình xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự đình trệ sản xuất và hạn chế tiêu dùng những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 ước đạt khoảng 56,5 tỷ USD, giảm 9,9% so với năm 2008. Tình hình xuất khẩu như vậy không đến nỗi quá xấu nếu chúng ta nhìn vào nguyên nhân của nó. Kim ngạch xuất khẩu giảm là do giá cả thế giới giảm (riêng yếu tố giảm giá trong 9 tháng đầu năm làm kim ngạch xuất khẩu giảm trên 6 tỷ USD) - một yếu tố ngoài tầm kiểm soát của chúng ta; trong khi đó khối lượng hàng hoá xuất khẩu có sự tăng đáng kể giúp chúng ta giảm thiểu được đáng kể đến tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu và xa hơn là giảm thiểu được tác động tiêu cực đến việc làm và thu nhập của người lao động. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khẩu bộc lộ trong nhiều năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến vẫn mang tính chất gia công. Như vậy, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu. Trong thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu thách thức lớn hơn, nhất là trong bối cảnh tác động của khủng hoảng những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn sẽ dành cho các mặt hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như khoáng sản, nông, lâm, hải sản. Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 ước đạt 67,5 tỷ USD, giảm 16,4% so với năm 2008. Điều này phản ánh những khó khăn của sản xuất trong nước do suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, trong các tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu có thể tăng lên khi các biện pháp hỗ trợ sản xuất phát huy tác dụng. Mặc dù cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều giảm sút, nhưng do tốc độ giảm kim ngạch xuất khẩu chậm hơn tốc độ
Xem thêm

37 Đọc thêm

Lý thuyết kích cầu và khả năng vận dụng ở Việt Nam

LÝ THUYẾT KÍCH CẦU VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

Trong hai thập kỷ trở lại đây, thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian kể trên thế giới đã chứng kiến khá nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính tiền tệ. Chẳng hạn, khủng hoảng tài chính quốc tế nổ ra từ Mexico vào năm 1995, tiếp đến là cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khởi nguồn từ một số nước châu Á gồm Thái Lan, Hàn Quốc và điển hình nhất là Indonesia vào năm 1997. Sau đó không lâu một loạt khủng hoảng cục bộ đã nổ ra ở Brazin, Thổ Nhĩ Kỳ, Achentina và cách đây không lâu vào năm 2008, cuộc khủng hoảng tín dụng thế chấp ở Mỹ đã lan nhanh từ khu vực tài chính sang khu vực kinh tế và từ nước Mỹ ra toàn cầu.
Nhìn lại các cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế kể trên, người ta dễ nhận thấy những nhân tố “châm ngòi” cho khủng hoảng là:
1. Bất ổn về chính trị như trường hợp Mexico (1995), Indonesia (1998) dẫn tới nhiều nhà đầu tư mất lòng tin vào tương lai kinh tế ở hai nước này;
2. Đồng tiền nội tệ bị mất giá, giá trị tài sản giảm sút;
3. Lãi suất tăng cao, đi cùng sụt giảm lòng tin trong đầu tư;
4. Các ngân hàng có vấn đề về tín dụng, mất thanh khoản, sụp đổ hệ thống ngân hàng và lan sang các ngành công nghiệp chủ chốt, giảm lòng tin quốc tế vào nền kinh tế các nước này (trường hợp Thái Lan năm 1997 và Mỹ năm 2008).
Khủng hoảng kinh tế, tài chính xảy ra được ví như những trận bão, lụt tràn về, nó có thể phá hủy nhanh chóng các thành quả phát triển kinh tế không phải trên phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi quốc tế hoặc khu vực. Chẳng hạn, do ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế, tài chính Mỹ các nền kinh tế thuộc khu vực đồng Euro, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước khác đều nhanh chóng bị lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế. Ngân hàng Thế giới nhận định: “GDP toàn cầu năm nay (2009) sẽ giảm lần đầu tiên từ sau đại chiến thế giới lần hai”; nửa đầu năm 2009 sản lượng công nghiệp thế giới sẽ thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm 2008. Thương mại quốc tế giảm nhiều nhất, kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm 2009 của Nhật Bản giảm 46,3%. Mỹ giảm 31%, Trung Quốc giảm 17,5%, Đài Loan giảm 42,9% so với tháng 12008 (theo AFP, Reuteurs).
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã ngày càng gắn kết với nền kinh tế thế giới, ngoài những thuận lợi như thị trường hàng hóa được mở rộng, tăng cường giao lưu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia…thì Việt Nam cũng phải đương đầu với ảnh hưởng bất lợi từ thị trường thế giới và những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đến với Việt Nam là điều khó có thể tránh khỏi.
Như vậy có thể thấy rất rõ, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các nền kinh tế riêng lẻ trong quá trình phát triển, ngoài việc tự đương đầu với các chu kỳ kinh doanh, chúng còn luôn chịu ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực từ các nền kinh tế khác. Khi nền kinh tế thế giới tăng trưởng, các kinh tế riêng rẽ cũng có cơi hội thuận lợi phát triển và có thể được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó. Ngược lại, khi nền kinh tế thế giới hoặc kinh tế của những nước chủ đạo (như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc) chao đảo hay lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng thì các nền kinh tế khác cũng dễ dàng bị ảnh hưởng và tổn thương. Mức độ ảnh “lâm bệnh” suy thoái tùy thuộc vào mức độ quốc tế hóa của nền kinh tế đó.
Ngày nay, để có thể chống đỡ và giảm thiểu đến mức tối đa những ảnh hưởng tiêu cực do khủng hoảng kinh tế gây ra nói riêng hoặc làm dịu bớt biên độ giao động của các chu kỳ kinh doanh mà nền kinh tế phải trải qua, hầu hết chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam, đều sử dụng các công cụ chính sách, đặc biệt là sử dụng chính sách tài khóa và tiền tệ để nhanh chóng “cải thiện” tổng cầu nhằm mục đích cuối cùng là giảm tới mức tối thiểu tình trạng gia tăng thất nghiệp và giảm sút về thu nhập quốc dân. Chẳng hạn, đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong năm 2008 để nhằm hạn chế tác động xấu tới nền kinh tế của nước mình, hàng loạt các nước và nền kinh tế tuyên bố sử dụng các gói cứu trợ và kích thích kinh tế với tổng dự toán lên tới 3000 tỷ USD, chiếm từ 5% đến 30% GDP của các nước này. (Mỹ lên tới 2.500 tỷ USD; Anh 850 tỷ, Trung Quốc 586 tỷ; Liên minh Châu Âu (EU) 200 tỷ; Nhật Bản 255 tỷ; Đài Loan (Trung Quốc) 125,5 tỷ, Hàn Quốc 141 tỷ)
Tương tự như các nước kể trên, Việt Nam đã sử dụng gói kích cầu có trị giá 6 tỷ USD và đây được coi là gói kích cầu lớn nhất đầu tiên trong lịch sử nhằm đối phó với những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới.
Trong thời gian cuộc khủng hoảng đang diễn ra và sau đó (từ 2008 đến 2009), kích cầu đã được trao đổi rộng rãi trên báo chí và trên các diễn đàn, thu hút sự quan tâm của nhiều giới, từ chính phủ đến người dân. Có khá nhiều học giả và các nhà lập chính sách đã thảo luận sôi nổi về các biện pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế ở nước ta và hầu hết các cuộc thảo luận đều tập trung vào 3 vấn đề sau: (i) sự cần thiết của gói kích cầu – tại sao chúng ta lại cần kích cầu trong hoàn cảnh hiện nay? (ii) kích cầu như thế nào – những nguyên tắc của kích cầu để đảm bảo kích cầu hiệu quả; và (ii) kích cầu vào đâu? kinh nghiệm của các nước như thế nào?...
Xuất phát từ lý thuyết kinh tế, khi nền kinh tế trải qua chu kỳ kinh doanh (suy thoái, phục hồi và phát triển) thì hai công cụ chính mà chính phủ thường hay sử dụng là (1) chính sách tài khóa –chính sách thuế và chi tiêu chính phủ (ví như gói kích cầu) và (2) chính sách tiền tệ tăng giảm lãi suất và một số biện pháp khác để điều chỉnh cung tiền trong nền kinh tế. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn thì việc sử dụng hai chính sách công cụ này luôn là vấn đề nhạy cảm và thường gây tranh luận, chẳng hạn như chính sách nào sẽ phát huy hiệu quả hơn? gói kích cầu có kích cỡ bao nhiêu thì vừa đủ? hoặc thời điểm kích cầu khi nào…thời gian kích cầu cần kéo bao lâu?…. Tức là, mọi người không chỉ quan tâm tới cơ sở lý luận, tìm hiểu về những nguyên tắc của kích cầu mà còn rất quan tâm tới việc xém xét các kinh nghiệm cũng như các cách thức ứng phó của chính phủ chẳng hạn như tính kịp thời trong việc sử dụng các chính sách công cụ mà trong đó có kích cầu.
Để góp phần cung cấp cái nhìn đa chiều hơn cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, cũng như giáo viên và sinh viên của các trường đại học giảng dạy về kinh tế, trong đề tài này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau đây:
(1) Cơ sở lý thuyết về kích cầu;
(2) Khảo sát và rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế về kích cầu;
(3) Xây dựng những nguyên tắc kích cầu; và
(4) Đề xuất những việc cần thực hiện và chuẩn bị để kích cầu có thể được áp dụng và phát huy hiệu quả cao nhất trong hoàn cảnh của Việt Nam.
Bài viết của chúng tôi được bố cục như sau: trong chương 1, chúng tôi sẽ nghiên cứu các cơ sở lý luận của kinh tế học xung quanh vấn đề kích cầu, trong chương này chúng tôi sẽ nghiên cứu các cấu phần cơ bản của tổng cầu, tìm hiểu cơ chế tác động của các chính sách tài khóa và tiền tệ để trả lời câu hỏi: Kích cầu cần phải tác động vào đâu, khâu nào? và tác động như thế nào để tăng tổng cầu, từ đó có thể kích thích nền kinh tế khi nó gặp khó khăn.
Trong chương 2, chúng tôi sẽ giới thiệu những kinh nghiệm của một số nước chọn lọc trên thế giới đã thực thi các chính sách kích thích nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng xảy ra từ năm 2008 và rút ra các bài học kinh nghiệm để từ đó có định hướng xác lập các nguyên tắc cơ bản của kích cầu có thể áp dụng cho Việt Nam.
Trong chương 3, nghiên cứu những ảnh hưởng của khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt Nam, nhận định và và đánh giá gói kích cầu vừa qua của Chính phủ, để từ đó tìm kiếm những khả năng có thể áp dụng lý thuyết và kinh nghiệm thực tế của thế giới và Việt Nam trong giai đoạn vừa qua để đề xuất khả năng áp dụng vào Việt Nam.
Xem thêm

98 Đọc thêm

dự báo số lượng khách du lịch quốc tế năm 2014

DỰ BÁO SỐ LƯỢNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ NĂM 2014

PHÂN TÍCH SỐ LƯỢT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20102013
DỰ BÁO NĂM 2014
Phân tích chung số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thể hiện qua các quý trong 4 năm từ năm 2010 đến 2013. Sau đó, dự báo cho các quý trong năm 2014.
Sử dụng các mô hình dự báo để lựa chọn mô hình dự báo tốt nhất. Từ đó, đưa ra ưu nhược điểm của mô hình dự báo.
Đề xuất một số giải pháp và dự báo cho tương lai số lượt khách du lịch đến Việt Nam trong thời gian tới

21 Đọc thêm

Giải pháp đầu tư công trong xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình

GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ CÔNG TRONG XÂY DỰNG HẠ TẦNG CƠ SỞ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

Trên cơ sở đánh giá đúng hiện trạng các giải pháp đầu tư công cho phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn, từ đó đề xuất các định hướng giải pháp làm tăng hiệu quả của đầu tư công cho phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn của huyện Yên Mô.
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp đầu tư công cho phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn.
Phân tích đúng hiện trạng các giải pháp đầu tư công trong xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện và xác định các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả của các giải pháp đầu tư công.
Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công trong xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Xem thêm

117 Đọc thêm

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA EU VÀO VIỆT NAM

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA EU VÀO VIỆT NAM

1.Tính cấp thiết của chuyên đề
Kể từ khi Việt Nam mở cửa hội nhập năm 1986, đặc biệt từ khi luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành (1987) nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tếxã hội Việt Nam. Đối với Việt Nam, từ một điểm xuất phát thấp, FDI có vai trò hết sức quan trọng, nó là nguồn bổ sung vốn đầu tư, là một kênh để chuyển giao công nghệ, là một giải pháp tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu ngân sách và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sau hàng loạt sự kiện, đặc biệt là sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô (cũ) làm cho nền kinh tế Việt Nam mất đi các thị trường truyền thống trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang phát triển theo xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng. Do đó yêu cầu phải thường xuyên mở rộng và nâng cao hiệu quả các quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển có nguồn vốn dồi dào và công nghệ hiện đại nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu ngày càng trở nên cấp thiết. Trong đó, liên minh châu Âu (EU) là một trong những trung tâm kinh tế lớn nằm trong tam giác Hoa KỳEUNhật Bản, có ảnh hưởng nhiều mặt chi phối tới kinh tế thế giới, từ đầu tư, thương mại tới khoa học công nghệ. Việt Nam và EU đã và đang có những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ hợp tác phát triển, tuy nhiên nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ các nhà đầu tư EU vào Việt Nam còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực này. Chính vì vậy cần có sự nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng cũng như tìm ra nguyên nhân của những vấn đề còn tồn tại trong thu hút vốn FDI từ EU vào Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút các nguồn lực từ EU cho phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với những lý do trên, em chọn đề tài cho chuyên đề cuối khóa là: “Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam”.

2.Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề
Tìm hiểu tiềm năng về nguồn vốn đầu tư của EU đối với Việt Nam
Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam, từ đó chỉ rõ những kết quả đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân gây ra những tồn tại đó trong quá trình thu hút vốn đầu tư từ EU vào Việt Nam
Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn FDI từ EU vào Việt Nam
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chuyên đề
Đối tượng nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU vào Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động đầu tư trực tiếp của EU và một số nước thành viên có vốn đầu tư lớn vào Việt Nam trong giai đoạn 19882013 và đề xuất định hướng, giải pháp đến năm 2020
4.Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và phân tích, phương pháp so sánh.
5.Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết phải tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam
Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam
Xem thêm

72 Đọc thêm

Mâu thuẫn trong cách xác định nợ công, giải pháp hạn chế nợ công ở ngưỡng an toàn

MÂU THUẪN TRONG CÁCH XÁC ĐỊNH NỢ CÔNG, GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NỢ CÔNG Ở NGƯỠNG AN TOÀN

Họ và tên : Ngô Thị Giang
Mã số sinh viên: 10010753
Lớp : ĐHTN6TH
Đề tài: Mâu thuẫn trong cách xác định nợ công, giải pháp hạn chế nợ công ở ngưỡng an toàn.

Trong những năm gần đây, nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng khiến toàn thế giới phải quan tâm. Bởi lẽ nợ công đang tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến không chỉ một vài nước mà ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia, bất kể đó là quốc gia nghèo đói, đang phát triển hay phát triển đi nữa.
Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều biến động từ khủng khoảng kinh tế, xung đột chính trị…làm cho nền kinh tế toàn cầu trở nên ì ạch với tốc độ tăng trưởng chậm như hiện nay. Bối cảnh kinh tế ảm đạm, lạm phát, thất nghiệp và hàng loạt hệ lụy khác đã làm cho Chính phủ của tất cả các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với vấn đề sống còn là phải khôi phục lại nền kinh tế.Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy chung của thế giới. Chính xuất phát từ lý do này mà Chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn cho các chính sách, các gói kích cầu nhằm mục đích khôi phục , đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, để có thể ổn định và phát triển toàn bộ nền kinh tế trong những năm tới đây.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc sử dụng Ngân sách để chi cho các gói kích cầu kinh tế, hay các dự án đầu tư phát triển… trong khi nguồn thu Ngân sách không tăng kịp với tốc độ chi đã dẫn đến tình trạng bội chi ( thâm hụt ) ngân sách ngày càng gia tăng.Và khi đó, Chính phủ thường phải đi vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách, điều này dẫn đến chúng ta phải đối mặt với nợ công. Có thể thấy rằng, không quốc gia nào không có nợ công, tuy nhiên duy trì nợ công như thế nào, ở tỷ lệ nào là hợp lý, thì đây đang là vấn đề nan giải đối với các nhà quản lý đất nước. Do đó việc làm thế nào để tăng mức độ an toàn của nợ công Việt Nam trong giai đoạn tới đang là vấn đề khiến nhiều người quan tâm hiện nay.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Cùng chủ đề