NGUYÊN NHÂN TÁO BÓN Ở TRẺ EM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGUYÊN NHÂN TÁO BÓN Ở TRẺ EM":

PHÁT HIỆN TÌM NGUYÊN NHÂN VÀ LỰA CHỌN KHÁNG SINH THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU Ở TRẺ EM TỪ 1 ĐẾN 5 THÁNG TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN TỪ 11 2001 ĐẾN 8 2002

PHÁT HIỆN TÌM NGUYÊN NHÂN VÀ LỰA CHỌN KHÁNG SINH THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU Ở TRẺ EM TỪ 1 ĐẾN 5 THÁNG TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN TỪ 11 2001 ĐẾN 8 2002

Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Phát hiện tìm nguyên nhân và lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002
Xem thêm

82 Đọc thêm

TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN LỰA CHỌN KHÁNG SINH THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TỪ 1 ĐẾN 5 THÁNG TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN TỪ 11 2001 ĐẾN 8 2002

TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN LỰA CHỌN KHÁNG SINH THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TỪ 1 ĐẾN 5 THÁNG TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN TỪ 11 2001 ĐẾN 8 2002

Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002 Tìm hiểu nguyên nhân lựa chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em từ 1 đến 5 tháng tuổi tại bệnh viện thanh nhàn từ 11 2001 đến 8 2002
Xem thêm

89 Đọc thêm

NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TỪ XÃ HỘI GIA ĐÌNH ẢNH HƯỞNG TỚI TRẺ EM

NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TỪ XÃ HỘI, GIA ĐÌNH ẢNH HƯỞNG TỚI TRẺ EM

Hiện tại, Công ty Cổ phần Thương mại AIC là đối tác tin cậy cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho rất nhiều cơ quan quan trọng của Đảng và Nhà nước như Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ t[r]

34 Đọc thêm

NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TỪ XÃ HỘI, GIA ĐÌNH ẢNH HƯỞNG TỚI TRẺ EM

NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TỪ XÃ HỘI, GIA ĐÌNH ẢNH HƯỞNG TỚI TRẺ EM

DO SỰ KÉM HIỂU BIẾT, THIẾU Ý THỨC CỦA NHỮNG THIẾU NỮ MỚI LỚN: Với sự phát triển về mọi mặt của trẻ ở lứa tuổi mới lớn, quan hệ của các em với cha mẹ đã bắt đầu có những thay đổi so với n[r]

12 Đọc thêm

Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã phú xuân, huyện phú vang tỉnh thừa thiên huế năm 2007

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ PHÚ XUÂN, HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2007

4 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em, đã và đang là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi quốc gia, là một trong những vấn đề mà tổ chức y tế thế giới quan tâm, nhất là tại các nước đang phát triển ở châu Á , châu Phi , châu Mỹ La tinh. NKHHCT là tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp cấp do virus hoặc vi khuẩn gây ra, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi 3,9,11,30, nhất là ở trẻ em dưới 1 tuổi .Cùng với suy dinh dưỡng và ỉa chảy, NKHHCT được xếp vào nhóm những bệnh có ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe trẻ em. Theo Tổ chức Y tế thế giới ( TCYTTG ),hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết, trong đó có 5 triệu trẻ em chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp , chủ yếu là ở các nước đang phát triển. Trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em thì NKHHC chiếm hàng đầu (37,6%), tiếp đến là tiêu hóa ( 26,4%), bệnh máu (4,3% ), tim mạch (4,2%) và thận (1,7%) , số còn lại là do các nguyên nhân khác. Tại Việt Nam, NKHHCT cũng là một vấn đề quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng nói chung và của trẻ em nói riêng , đặc biệt là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, là nguyên nhân hàng đầu gây mắc và tử vong ở trẻ em 21.Theo số liệu điều tra chung của toàn quốc thì tỷ lệ mắc và tử vong do NKHHC chiếm 13 so với tổng số trẻ em vào khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế , ước tính hàng năm có từ 20.000 25.000 trẻ em chết vì bệnh lý đường hô hấp . Số lần mắc bệnh của một trẻ trong một năm cũng cao, trung bình một trẻ có thể mắc bệnh từ 35 lần năm . Vì tính chất phổ biến và nghiêm trọng của bệnh NKHHC, Tổ chức Y tế thế giới đề ra chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em và được triển khai trên phạm vi toàn cầu từ năm 1981. Việt Nam là một trong những nước trên thế giới sớm triển khai chương trình phòng chống NKHHC từ năm 1984, đến nay chương trình đã được triển khai rộng khắp trên toàn quốc , đã góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi do NKHHC gây ra.Theo số liệu báo cáo hoạt động chương trình NKHHC giai đoạn 1996 2000, đến năm 2000 đã có 100% tỉnh, 100% số huyện , 97,9 % số xã triển khai chương trình và có 997,6% số trẻ em dưới 5 tuổi đuợc chương trình bảo vệ 4 Hiện nay tỷ lệ tử vong do NKHHC đã giảm một cách đáng kể, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn cao và việc sử dụng kháng sinh không hợp lý vẫn chưa được cải thiện nhiều 4. Xã Phú Xuân, huyện Phú Vang là một xã nghèo thuộc vùng đầm phá, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong nhiều năm qua đã được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, nhất là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên tình hình bệnh tật vẫn còn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe và đời sống của nhân dân ,nhất là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, đặt biệt là bệnh NKHHCT, mặc dù tỷ lệ tử vong đã giảm rỏ rệt nhưng tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn tương đối cao. Xuất phát từ tầm quan trọng trên, nhằm góp phần tìm hiểu nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang sau nhiều năm triển khai chương trình, chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dƣới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, Huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2007 với các mục tiêu : 1. Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú xuân, huyện Phú Vang . 2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang.
Xem thêm

62 Đọc thêm

Hội chứng nôn trớ, táo bón, biếng ăn

HỘI CHỨNG NÔN TRỚ, TÁO BÓN, BIẾNG ĂN

bài giảng về hội chứng nôn trớ, táo bón, biếng ăn của trẻ em . được soạn bởi bác sỹ NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ, bộ môn Nhi đại học Y Hà Nội, trưởng khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi trung ương. bài giảng dành cho đối tượng sinh viên bác sỹ đa khoa y4

99 Đọc thêm

Phòng ngừa bệnh táo bón

PHÒNG NGỪA BỆNH TÁO BÓN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Táo bón là tình trạng thay đổi thói quen đại tiện theo xu hướng đại tiện khó khăn thể hiện dưới nhiều hình thức như phân trở nên cứng hay nhỏ. Đại tiện khó khăn, phải gắng sức, phải rặn nhiều, mỗi tuần đại tiện dưới 3 lần. Thực sự thì táo bón là một triệu chứng, không phải là bệnh. Vì vậy, khi đi khám bác sĩ, bạn không nên xin bác sĩ cho thuốc táo bón mà cần phối hợp tìm ra nguyên nhân của táo bón. Để phát hiện ra nguyên nhân của táo bón, bạn cần cho bác sĩ biết thói quen sinh hoạt của bạn (ăn, uống, tập thể dục, các loại thuốc đang uống…). Bác sĩ có thể phải loại trừ trường hợp bạn bị khối u đại tràng hay phình đại tràng thông qua việc khám trực tràng bằng ngón tay, bằng nội soi trực tràng hay đại tràng, hay chụp X-quang đại tràng. Khi nào bạn cần đến bác sĩ? Vì táo bón là triệu chứng rất thường gặp và thường là do nguyên nhân cơ năng, lành tính. Do đó, bạn có thể tự chẩn đoán và điều trị. Các triệu chứng mà bạn cần quan tâm đến là: - Mới xuất hiện - Kéo dài hơn 3 tuần - Nặng - Kèm theo triệu chứng tiêu máu, sụt cân, sốt, yếu, mệt. Điều trị táo bón Muốn thành công trong cuộc sống, bạn cần nhạy bén và cần biết nắm bắt thời cơ. Để tránh hay khắc phục tình trạng táo bón bạn cũng phải như vậy. Nếu bạn có nuôi những chú cún, có lẽ bạn sẽ dễ dàng nhận thấy đặc điểm là các chú cún của bạn thường đại tiện ngay sau khi bạn cho chúng ăn. Đó là vì ruột hoạt động mạnh nhất sau bữa ăn và đây thời điểm ruột sẽ tống xuất phân ra ngoài.   Táo bón tuy không phải là căn bệnh quá nguy hiểm, những rõ ràng nếu bị chứng táo bón hoành hành thì không dễ chịu chút nào (Ảnh minh họa) Nếu bạn bận rộn làm việc gì đó (vội đi làm, chở con đi học, hoàn cảnh không thuận lợi để đại tiện…), bạn sẽ nín lại. Hậu quả là tín hiệu đòi hỏi đại tiện (mắc cầu) sẽ giảm dần. Bạn sẽ không thấy mắc cầu nữa. Sự lưu lại trong ruột lâu sẽ làm phân bị hút mất nước và trở nên cứng, táo bón càng nặng hơn nữa. Và thế là bạn mắc chứng táo bón. Như vậy, để tránh bị táo bón, bạn phải lắng nghe cơ thể bạn, bạn phải kịp thời nhận biết nhu cầu đại tiện để không bỏ lỡ thời điểm vàng trong ngày. Việc dùng thức uống có cà phê vào buổi sáng (trái với suy nghĩ thông thường) có thể giúp gợi ra cảm giác mắc cầu. Để phân mềm, tín hiệu đòi hỏi đại tiện rõ ràng, bạn hãy uống đủ nước và ăn nhiều chất xơ (20 – 35 g/ ngày). Có một số loại trái cây giúp dễ đại tiện mà bạn nên biết như đu đủ, thanh long, xoài, mận, cam, chanh, quýt… Lưu ý là nếu đột ngột ăn 1 lượng chất xơ nhiều quá bạn có thể bị đầy bụng, trung tiện nhiều, để tránh tác dụng phụ này, bạn nên tăng dần lượng chất xơ ăn vào. Nếu sau tất cả những cố gắng trên mà chứng táo bón vẫn không giảm, thì bạn có thể dùng thêm thuốc nhuận trường. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy việc sử dụng lâu dài các thuốc nhuận trường gây ra ung thư hay làm hại đại tràng. Điều lưu ý là việc sử dụng thuốc phải chỉnh liều theo từng cá thể sao cho đại tiện dễ nhưng không gây ra tiêu chảy (mất nước, rối loạn điện giải, mất Kali…). Tốt nhất đừng tự ý dùng thuốc nếu không có sự hướng dẫn của bác sĩ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đánh giá tác dụng điều trị táo bón cơ năng ở bệnh nhân tai biến mạch máu não bằng điện châm phối hợp thuốc Ma Tử Nhân

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ TÁO BÓN CƠ NĂNG Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG ĐIỆN CHÂM PHỐI HỢP THUỐC MA TỬ NHÂN

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là vấn đề luôn mang tính thời sự
của y học, đã và đang được quan tâm trên toàn thế giới vì tỷ lệ thường gặp và
tỷ lệ tử vong cao, để lại di chứng nặng nề. Theo Tổ chức Y tế Thế giới
(1990), tỷ lệ tử vong do TBMMN chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnh thần
kinh và là nguyên nhân tử vong thứ ba sau các bệnh ung thư và tim mạch. Tại
Hoa Kỳ (2001), tỷ lệ m
ắc TBMMN hàng năm là 1.250/100.000 dân, tỷ lệ mới
mắc là 2,5/1.000 dân, tỷ lệ tử vong 28,6%. Tại Trung Quốc tỷ lệ mới mắc
hàng năm là 219/100.000 dân [
13], [17].
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra dịch tễ học (1994) của Bộ môn Thần
kinh - Trường Đại học Y Hà Nội, tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, tỷ lệ
hiện mắc là 116/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 53/100.000 dân [
13].
Tai biến mạch máu não là nhóm bệnh lý thường gặp do nhiều nguyên
nhân khác nhau, có thể gây tử vong nhanh chóng hoặc để lại nhiều hậu quả
nặng nề cho bản thân người bệnh như: liệt nửa người, loét do đè ép, nhiễm
trùng phổi, nhiễm trùng tiết niệu, táo bón...[
17], [19]. Những khiếm khuyết
sau TBMMN làm cho người bệnh giảm hoặc mất khả năng độc lập, phải phụ
thuộc người khác trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày [
12], [23].
Táo bón được công nhận là một vấn đề nghiêm trọng trong thực hành
lâm sàng, xảy ra trên một tỷ lệ lớn các bệnh nhân bị TBMMN đang trong thời
kỳ phục hồi chức năng [
55]. Thực tế cũng cho thấy rất nhiều bệnh nhân sau
TBMMM có biểu hiện táo bón. Theo kết quả của một số nghiên cứu, tỷ lệ táo
bón ở bệnh nhân TBMMN là trên 60% [
19], [66].
Về điều trị táo bón, Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp, tuỳ
theo nguyên nhân có thể dùng thuốc chống táo bón, thủ thuật thụt tháo, phẫu
thuật. Thuốc nhuận tràng có nhiều loại: thuốc làm trơn ruột, thuốc thẩm thấu,
thuốc nhuận tràng kích thích...[
20], [31], [39], [68]. Các thuốc chống táo bón
tuy có hiệu quả nhưng khi dừng thuốc bệnh nhân thường táo bón trở lại, nếu
lạm dụng có thể gây những tác dụng không mong muốn như mất nước, lệ
thuộc thuốc, giảm hấp thu, rối loạn phản xạ đại tiện... [
8], [27], [34].
Y học cổ truyền (YHCT) cũng có nhiều phương pháp điều trị chứng táo
bón có hiệu quả như: châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, khí công dưỡng sinh và
dùng thuốc. Các phương pháp này đã được sử dụng từ nhiều năm qua bởi các
thầy thuốc YHCT hoặc truyền miệng trong dân gian [
9], [21], [27], [50]. Tuy
nhiên chưa có nhiều nghiên cứu (NC) đánh giá một cách hệ thống, khoa học
về hiệu quả điều trị của các phương pháp. Ở nước ta việc NC các vị thuốc, bài
thuốc cũng như các phương pháp không dùng thuốc để điều trị chứng táo bón
chưa nhiều, đặc biệt cho tới nay chưa có NC nào về phương pháp của YHCT
trong điều trị chứng táo bón ở bệnh nhân bị TBMMN. Vì vậ
y, để góp phần
nâng cao hiệu quả điều trị chứng táo bón và cải thiện chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân bị TBMMN, giúp cho người bệnh nhanh chóng trở lại hoà
nhập với cuộc sống gia đình và xã hội. Đồng thời đánh giá hiệu quả phối hợp
nhiều phương pháp của YHCT trong cả lĩnh vực dùng thuốc và không dùng
thuốc trong điều trị, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đ
ánh giá tác dụng điều trị
táo bón cơ năng ở bệnh nhân tai biến mạch máu não bằng điện châm
phối hợp thuốc “Ma tử nhân”.
Với hai mục tiêu sau:
1/ Đánh giá tác dụng điều trị chứng táo bón cơ năng ở bệnh nhân tai
biến mạch máu não bằng điện châm phối hợp “Ma tử nhân”.
2/ Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị
bằng điện châm kết hợp “Ma tử nhân” dựa trên một số chỉ số lâm sàng và
cận lâm sàng.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Dịch tễ học và lâm sàng sốc nhiễm khuẩn trẻ em

DỊCH TỄ HỌC VÀ LÂM SÀNG SỐC NHIỄM KHUẨN TRẺ EM

Mở đầu

Sốc nhiễm khuẩn (SNK) là tình trạng suy tuần hoàn cấp do tiến triển xấu
từ tình trạng nhiễm khuẩn nặng, gây giảm tưới máu các tạng, thúc đẩy các
phản ứng viêm hệ thống và các rối loạn chuyển hoá, đưa đến tình trạng suy đa
tạng và tử vong nếu không được ghi nhận sớm và sử trí kịp thời.
Tỷ lệ tử vong của SNK và nhiễm khuẩn nặng (NKN) còn cao, nằm trong
nhóm nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển và là nhóm
bệnh ngày càng tăng ở các nước phát triển. Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của
NKN và SNK trẻ em rất đa dạng do đáp ứng miễn dịch với phản ứng viêm ở
nhiều hình thái khác nhau phụ thuộc nhóm tuổi, biểu hiện lâm sàng xuất hiện
trên nhiều cơ quan và dễ đưa đến tình trạng nguy kịch. Tìm hiểu tốt các vấn đề
dịch tễ lâm sàng SNK sẽ giúp cho xác định tình trạng bệnh chính xác ở từng
giai đoạn của nhiễm khuẩn, từ đó sẽ có những can thiệp kịp thời, xác định tố
các yếu tố tiên lượng trước, trong quá trình điều trị ở các giai đoạn bệnh, nhằm
mục đích giảm được tỷ lệ tử vong trong NKN và SNK.


Chuyên đề dịch tễ học và lâm sàng SNK này đề cập đến một số vấn đề sau:
- Định nghĩa SNK, định nghĩa suy đa tạng.
- Tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và nguyên nhân gây bệnh của SNK ở trẻ em.
- Biểu hiện lâm sàng và các dấu hiệu suy đa tạng trong SNK trẻ em.
- Một số yếu tố nguy cơ, yếu tố tiên lượng tử vong trong SNK trẻ em.
Xem thêm

62 Đọc thêm

Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá thụ động ở trẻ em nhập viện vì hen và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại khoa nhi bệnh viện trung ương huế

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH HÚT THUỐC LÁ THỤ ĐỘNG Ở TRẺ EM NHẬP VIỆN VÌ HEN VÀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀThông điệp của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2009: “Cảnh báo về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ”. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng 4.900.000 người chết bởi các nguyên nhân do thuốc lá gây nên 50. Mỗi năm có khoảng 400.000 người Việt Nam chết vì các bệnh liên quan đến hút thuốc. Tại Việt Nam, tình trạng hút thuốc còn khá phổ biến trong cộng đồng, nhất là ở nông thôn 15. Tác hại của việc hút thuốc lá đến sức khỏe đã được biết đến từ nhiều thập kỷ trước đây. Khói thuốc lá cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của những người không hút thuốc, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em 24. Hút thuốc lá thụ động là tình trạng người không hút thuốc lá phải tiếp xúc (hít, ngửi) với hơi, khói thuốc lá do người khác hút có trong môi trường. Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ trẻ em phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động khá cao. Báo cáo kết quả Điều tra Y tế quốc gia năm 2002 cho thấy có tới 71,7% trẻ em dưới 5 tuổi phơi nhiễm với khói thuốc thụ động tại gia đình 3. Khói thuốc lá được chứng minh là gây ra các hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe trẻ em. Từ năm 2008 2010, nhóm nghiên cứu của Đại học Y Hà Nội, Đại học Y tế Cộng đồng Hà Nội và Dự án HealthBridge đã khẳng định: trẻ em dưới 6 tuổi trong gia đình có người hút thuốc mắc các bệnh về đường hô hấp nhiều hơn 40% so với trẻ em sống trong các gia đình không có người hút thuốc 8. Như vậy, hút thuốc lá thụ động gây ra nhiều bệnh tật đường hô hấp cho trẻ em trong đó phải kể tới là hen phế quản và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.Hen phế quản hiện nay đã trở thành một vấn đề toàn cầu, hen có mặt ở mọi quốc gia dù ở trình độ phát triển nào. Hen phế quản là nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong số những trẻ dưới 15 tuổi nhập viện; là nguyên nhân hàng đầu trong số các bệnh mạn tính ở trẻ em. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhóm bệnh rất phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. Đây là nhóm bệnh có tỉ lệ mắc cao, tần suất xuất hiện nhiều lần trong năm và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong độ tuổi này. Có nhiều yếu tố nguy cơ gây ảnh hưởng đến hen và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em và một trong số đó là hút thuốc lá thụ động 13, 18.Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá thụ động ở trẻ em nhập viện vì hen và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại khoa Nhi Bệnh viện Trung Ương Huế” nhằm mục tiêu: Xác định tỷ lệ trẻ em nhập viện vì hen và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính có hút thuốc lá thụ động. Tìm hiểu ảnh hưởng của hút thuốc lá thụ động đối với bệnh hen và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ.
Xem thêm

54 Đọc thêm

BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH TRĨ NGOẠI

BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH TRĨ NGOẠI

Biến chứng của bệnh trĩ ngoạiBệnh trĩ ngoại gặp khá nhiều trong cộng đồng, gây phiền toái cho người bệnh,đặc biệt là người cao tuổi (NCT). Trĩ ngoại không được chữa trị có thể gây biếnchứng.Bệnh trĩ bao gồm trĩ nội, trĩ ngoại. Trĩ ngoại là những búi trĩ bị phồng to, sẫm màu, xơ cứng bởicác đám rối tĩnh mạch căng giãn, gấp khúc tạo nên và thường thòi ra ngoài hậu môn. Trĩ ngoạicó thể không nguy hiểm ngay tức thì, nhưng theo thời gian, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọngcủa bệnh, từ khó chịu đến nhiễm trùng. Đồng thời bệnh trĩ ngoại có thể có biến chứng, trĩ ngoạithường làm đảo lộn cuộc sống của người bệnh, đặc biệt là NCT, vì luôn lo lắng về bệnh tật củamình.Đáng chú ý nhất của bệnh trĩ ngoại đau khi đi đại tiện và ra máuNguyên nhânNguyên nhân gây trĩ ngoại khá đa dạng, nhưng với NCT, do thói quen ăn uống và thói quen điđại tiện là các nguyên nhân thường gặp nhất. Bởi vì, đa số NCT thường ăn ít, thêm vào đó ăn ítrau, ngại ăn canh và uống rất ít nước (sợ đi tiểu nhiều, nhất là những người vận động khó khăn,mùa lạnh…). Những lý do này càng dễ gây táo bón và nếu táo bón kéo dài, rất dễ mắc trĩ, trongđó có bệnh trĩ ngoại. Vì táo bón cho nên khi đi đại tiện phải ngồi lâu và rặn nhiều, nếu tình trạngnày lặp đi lặp lại nhiều lần và thời gian bị táo bón kéo dài, không được chữa trị, không đượckhắc phục sẽ rất dễ bị bệnh trĩ (trĩ nội hoặc trĩ ngoại hoặc cả hai).Một số người có tuổi bị béo phì, thừa cân, vận động khó khăn cũng là một trong các nguyênnhân gây ra bệnh trĩ ngoại. Bởi vì, hoạt động thể lực suy giảm sẽ ảnh hưởng đến lưu thông củahệ tuần hoàn gây nên tụ máu cục bộ hoặc mao mạch những vị trí thường xuyên bị tác độngnhư: mao mạch vùng hậu môn sẽ phồng to rất dễ trở thành trĩ ngoại. Bên cạnh đó, những ngườivì nghề nghiệp hay do thói quen ngồi lâu, ít vận động (xem vô tuyến, đọc sách báo, chơi cờ, lườivận động) rất dẽ dẫn đến mắc bệnh trĩ ngoại.Một số người do thói quen ăn cay, uống nhiều rượu, bia, dùng nhiều chất kích thích (cà phê,
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nhận biết trẻ bị đau

NHẬN BIẾT TRẺ BỊ ĐAU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khó nhận biết khi trẻ đau đầu Đau ở trẻ em rất phức tạp, có những cách biểu hiện khác nhau, triệu chứng thay đổi theo thời gian, do đó dễ chẩn đoán nhầm Trẻ em thường không thể nói, diễn tả đúng, đầy đủ các triệu chứng đau mà thường chỉ biết khóc. Theo các bác sĩ, bệnh đau ở trẻ thường ít nhận biết, dễ chẩn đoán nhầm. Có 2 bệnh đau ở trẻ phổ biến là đau bụng và đau đầu. Khoảng 70% trẻ ở tuổi đến trường có một lần đau đầu. Theo thống kê của cấp cứu nhi khoa, đau đầu ở trẻ gồm: Đau đầu do siêu vi (29%-39%), Migraine (đau nửa đầu) và đau đầu căng thẳng (2%-29%), viêm mũi xoang (9%-16%), viêm màng não (2%-9%), dị dạng thông nối hay nhức đầu nước (2%-11%), u não (3%-4%).  Theo TS Hùng, loại nhức đầu thường gặp ở trẻ là Migraine với tần suất ở bé trai 5%, bé gái 10%, cơn nhức đầu có tính tái phát, kéo dài 4-72 giờ. Biểu hiện là đau một bên đầu, có tính chất theo mạch đập, cường độ trung bình đến nặng, tăng cường độ khi hoạt động thể lực kết hợp với buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng ồn. "Rất khó chẩn đoán ở trẻ em bởi thời gian đau ngắn hơn, có xu hướng ở cả hai bên đầu, hơn nữa, trẻ em khó diễn tả các dấu hiệu và triệu chứng, triệu chứng học thay đổi theo thời gian. Thường có các biểu hiện khác đi kèm như chóng mặt, xây xẩm, đau một chi... 1/2 trường hợp trẻ bị đau đầu Migraine khi lớn sẽ tiếp tục bị" - TS Hùng nhận định.   Cha mẹ nên theo dõi các dấu hiệu cảnh báo đau ở trẻ để giúp bác sĩ biết trong chẩn đoán, điều trị (Ảnh: Phạm Đào) Ngoài ra, ở trẻ còn thường gặp chứng đau đầu căng thẳng (chiếm tỉ lệ khoảng 10%-25%). Nguyên nhân là do stress như ngủ không đủ, bố mẹ ly dị, học tập sa sút, chơi game quá nhiều... Nhức đầu căng thẳng có cường độ nhẹ đến trung bình, đau âm ỉ vùng trán, chẩm hay thái dương, thường đau lúc thức dậy, ít khi buồn nôn hay chóng mặt, kém tập trung, đau cơ, cơn kéo dài 30 phút đến 24 giờ… Có thể làm giảm đau đầu cho trẻ bằng các biện pháp như khuyến khích con nghỉ ngơi trong phòng tối yên tĩnh, ngủ đủ giấc. Có thể đặt một miếng vải ướt lạnh trên trán trẻ, nên giúp trẻ kiểm soát cảm xúc và giảm stress… Đau bụng: Nhiều nguyên nhân Theo BS Hoàng Lê Phúc, Trưởng Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi Đồng 1, khoảng 20% trẻ em bị đau bụng khi đến tuổi 15, trong đó 5% cần nhập viện, một số ít hơn phải phẫu thuật. Có rất nhiều nguyên nhân đau bụng ở trẻ em, khoảng 30% trẻ đau bụng cấp, 2%-11% đau do ruột thừa hoặc tiêu chảy. Đau bụng cấp là cơn đau xảy ra đột ngột, đau từng cơn kèm theo những triệu chứng như đề kháng hay phản ứng thành bụng. Bệnh gặp ở bất cứ lứa tuổi nào. Nguyên nhân rất đa dạng như viêm ruột thừa, viêm phổi, viêm cơ tim, nhiễm trùng đường tiểu, sỏi tiết niệu, viêm dạ dày ruột cấp, viêm gan siêu vi, nhiễm giun, viêm loét dạ dày… Đau bụng mạn ở trẻ em có tỉ lệ 10%-15%; biểu hiện khoảng 3 cơn đau tái diễn hoặc kéo dài trong ít nhất 1 tháng. Nguyên nhân thường gặp là Colic, táo bón, bất dung nạp lactose, viêm loét dạ dày tá tràng, đau bụng chức năng chiếm 90%. Colic rất phổ biến ở trẻ dưới 3 tháng với những cơn khóc dữ dội, không dỗ được, tái diễn, co cứng bụng, đỏ mặt, gập gối, thường vào buổi chiều tối, giảm dần theo thời gian. Táo bón cũng có thể dẫn đến đau bụng ở trẻ. Trẻ đau bụng do táo bón thường có hành vi giữ phân biểu hiện là trẻ ngồi xổm, bắt chéo hai mắt cá, gồng cứng người, đỏ mặt, đổ mồ hôi, khóc, bấu vào mẹ hoặc vật dụng nào đó. Ngoài ra, trẻ khoảng 3-5 tuổi có sự bất dung nạp lactose, sau đó 3-4 năm thì mất hoàn toàn. Để cải thiện tình trạng này nên cho trẻ uống sữa sau khi ăn cơm… Theo các bác sĩ, đau đầu, đau bụng ở trẻ em là vấn đề thường gặp, cần lưu ý các dấu hiệu cảnh báo. Cha mẹ nên thông tin các triệu chứng của trẻ để bác sĩ thuận tiện cho việc chẩn đoán và điều trị.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh

CÁCH TRỊ TÁO BÓN CHO TRẺ SƠ SINH

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh – Táo bón ở trẻ sơ sinh là một bệnh rất phổ biến ở nhiều trẻ nhỏ. Táo bón ở trẻ sơ sinh làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bé, mặt khác cũng gây nhiều khó khăn và lo lắng cho cha mẹ. Vậy cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh như thế nào cho hiệu quả? Bạn hãy tham khảo cách tri táo bón cho trẻ sơ sinh nhé.
http:wapmaster.vncachtritaobonchotresosinh.html
http:wapmaster.vn

6 Đọc thêm