THĂNG LONG HÀ NỘI TRONG CA DAO NGẠN NGỮ PHẦN 7

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "THĂNG LONG HÀ NỘI TRONG CA DAO NGẠN NGỮ PHẦN 7":

Một số biện pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại nhà máy Thuốc lá Thăng long Hà Nội

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KHUYẾN KHÍCH VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NHÀ MÁY THUỐC LÁ THĂNG LONG HÀ NỘI

Đã hơn 10 năm kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Từ một nền kinh tế vận hành trong vỏ bọc bao cấp khép kín, tự cung tự cấp bước vào thời mở cửa cạnh tranh khốc liệt, đầy những biến động và không ít rủi ro, các doanh nghiệp Việt Nam đã thật sự đặt mình vào một cuộc chiến mang tính sinh tồn. Chưa bao giờ vấn đề miếng cơm manh áo, vận mệnh của doanh nghiệp lại bấp bênh, ngàn cân treo sợi tóc như bây giờ. Bởi vậy, các doanh nghiệp, một mặt vừa phải cải tiến hoàn thiện bộ máy tổ chức, đầu tư công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại, sáng tạo mẫu mã, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để có thể cạnh tranh, chiếm được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Mặt khác, phải duy trì để đứng vững, từ đó phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng ra thị trường quốc tế, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Đó là một thách thức không nhỏ đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp phải có những chính sách, những cách nhìn mang tính chiến lược, đúng đắn và hiệu quả.
Cần phải công nhận rằng, chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học kỹ thuật đã phát triển đến đỉnh cao, đã đạt tới sự tinh tế, hoàn hảo. Nhưng không thể không khẳng định rằng, dù cho khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu, máy móc thiết bị có tinh vi hiện đại đến mấy chăng nữa thì con người vẫn là yếu tố then chốt, chủ đạo và quan trọng nhất của mọi quá trình, mọi hoạt động. Vấn đề là ở chỗ quản lý và sử dụng như thế nào để tạo và gia tăng động lực làm việc cho người lao động, từ đó phát huy tối đa năng suất, sự nhiệt tình cũng như chất lượng lao động. Đó là một bài toán không dễ giải đáp, huấn giải được nó, chỉ có cách hướng sự quan tâm về phía người lao động. Các cấp quản trị phải xây dựng và thực hiện một cách tốt nhất các chương trình khuyến khích vật chất và tinh thần, giúp người lao động ổn định cuộc sống, yên tâm công tác gắn bó và phấn đấu hết mình vì tổ chức, doanh nghiệp. Khi đó hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể đạt hiệu quả.
Em quyết định chọn đề tài trên để tập trung đi sâu phân tích nghiên cứu lý thuyết công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay, những điểm mạnh cần biểu dương và những điểm yếu cần khắc phục đồng thời cũng qua số tài liệu thực tế xin được ở nhà máy thuốc lá thăng long Hà Nội để thấy thực trạng của công tác này tại một nhà máy Một đơn vị sản xuất kinh doanh có hiệu quả của Nhà nước. Qua đó đề xuất một số giải pháp củng cố và hoàn thiện nhằm đem lại hiệu quả tích cực hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy nói riêng và doanh nghiệp nhà nước nói chung.
Nội dung đề án gồm 3 phần
Phần I: Lý luận về công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động.
Phần II: Thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại nhà máy thuốc lá Thăng long Hà Nội .
Phần III: Một số biện pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại nhà máy Thuốc lá Thăng long Hà Nội.
Nhân đây em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo Nguyễn Vân Thuỳ Anh lời cảm ơn sâu sắc những hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô trong quá trình em viết đề án.

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2004
Sinh viên: Phạm thị Ngọc Thanh
Xem thêm

45 Đọc thêm

Luận văn tốt nghiệp kế toán đề tài Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần May Thăng Long

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KẾ TOÁN ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY THĂNG LONG

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, trong nền kinh tế nước ta, dệt may là một trong những ngành có đóng góp lớn cho ngân sách của Nhà nước. Không những thế còn giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều lao động. Trong ngành dệt may ở Việt Nam, Công ty may Thăng Long là một đơn vị sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu các mặt hàng dệt may. Trước đây, Công ty thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, trong hơn 45 năm phát triển Công ty đã có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Công ty đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý vì các thành tích của mình. Năm 2003, Công ty được cổ phần hoá theo Quyết định số 1496QĐTCCB ngày 2662003 của Bộ công nghiệp. Để tiến hành sản xuất, kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng cao như ngày nay, một mặt Công ty đã đầu tư thay đổi công nghệ ngay từ những năm 80, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Mặt khác, Công ty đã chú trọng đến công tác quản lý sản xuất để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh ngày một phát triển. Bộ máy kế toán trong Công ty hiện nay đã phát huy được hiệu quả, giúp quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, đồng thời cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết cho ban giám đốc. Đây cũng là một thành công của Công ty may Thăng Long. Chính vì vậy, em đã chọn Công ty làm nơi để nghiên cứu, nắm vững cách thức thực hành kế toán trong thực tế. Em đã chọn đề tài Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần May Thăng Long làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
Luận văn tôt nghiệp gồm ba phần:
Phần I : Tổng quan chung và đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty may Thăng Long.
Phần II: Tổ chức bộ máy kế toán và đánh giá chung về tình hình Công ty may Thăng Long.
Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Do điều kiện thời gian thực tập và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên báo cáo thực tập tổng hợp này không tránh khỏi có một số thiếu sót, mong nhận được ý kiến phản hồi, đóng góp và bổ sung của những người quan tâm để báo cáo này có thể hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trương Anh Dũng trong bộ môn kế toántrường Đại học Kinh Tế Quốc Dân cùng các cán bộ nhân viên phòng kế toán tài vụ Công ty may Thăng Long đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn thực tập này
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2005
Sinh viên
Nguyễn Chí Hưng











PHẦN I
TỔNG QUAN CHUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY MAY THĂNG LONG

I Quá trình thành lập và đặc điểm kinh doanh của công ty:
1. Quá trình thành lập
Tên đầy đủ:
Tên thường gọi:
Tên giao dịch tiếng anh:
Tên viết tắt:
Trụ sở chính:
Điện thoại:
EMail:
Web : Công ty cổ phần may Thăng Long
Công ty may Thăng Long
Thanglong garment joint stock company
Thaloga
250 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
(844) 8623372 Fax: (844) 8623374
THALOGAFPT.VN
www.thaloga.com.vn
Công ty cổ phần may Thăng Long, tiền thân là công ty may Thăng Long thuộc tổng công ty dệt may Việt Nam, được thành lập vào ngày 08051958 theo quyết định của Bộ ngoại thương. Khi mới thành lập Công ty mang tên Công ty may mặc xuất khẩu, thuộc tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm, đóng tại số nhà 15 phố Cao Bá Quát Hà Nội. Ban đầu, Công ty có khoảng 2000 công nhân và 1700 máy may công nghiệp. Mặc dù trong những năm đầu hoạt động công ty gặp rất nhiều khó khăn như mặt bằng sản xuất phân tán, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, nhưng công ty đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch do nhà nước giao. Đến ngày 15121958 Công ty đã hoàn thành kế hoạch năm với tổng sản lượng là 391.129 sản phẩm đạt 112,8% chỉ tiêu. Đến năm 1959 kế hoạch Công ty được giao tăng gấp 3 lần năm 1958 nhưng Công ty vẫn hoàn thành và đạt 102% kế hoạch. Trong những năm này Công ty đã mở rộng mối quan hệ với các khách hàng nước ngoài như Liên Xô, Đức, Mông Cổ, Tiệp Khắc.
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 1965) Công ty đã có một số thay đổi lớn. Vào tháng 7 năm 1961, Công ty chuyển địa điểm làm việc về 250 phố Minh Khai, thuộc khu phố Hai Bà Trưng nay là quận Hai Bà Trưng, là trụ sở chính của công ty ngày nay. Địa điểm mới có nhiều thuận lợi, mặt bằng rộng rãi, tổ chức sản xuất ổn định. Các bộ phận phân tán trước, nay đã thống nhất thành một mối, tạo thành dây chuyền sản xuất khép kín khá hoàn chỉnh từ khâu nguyên liệu, cắt, may, là, đóng gói.
Ngày 3181965 theo quyết định của Bộ ngoại thương công ty có sự thay đổi lớn về mặt tổ chức như: tách bộ phận gia công thành đơn vị sản xuất độc lập, với tên gọi Công ty gia công may mặc xuất khẩu; còn Công ty may mặc xuất khẩu đổi thành Xí nghiệp may mặc xuất khẩu; Ban chủ nhiệm đổi thành Ban giám đốc.
Vào những năm chiến tranh chống Mỹ, Công ty gặp rất nhiều khó khăn như công ty đã phải 4 lần đổi tên, 4 lần thay đổi địa điểm, 5 lần thay đổi các cán bộ chủ chốt nhưng Công ty vẫn vững bước tiến lên thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Trong các năm 19761980, Công ty đã tập trung vào một số hoạt động chính như: triển khai thực hiện là đơn vị thí điểm của toàn ngành may, trang bị thêm máy móc, nghiên cứu cải tiến dây chuyền công nghệ. Năm 1979, Công ty được Bộ quyết định đổi tên thành xí nghiệp may Thăng Long.
Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (19801985) trước những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Công ty đã không ngừng đổi mới và phát triển. Trong quá trình chuyển hướng trong thời gian này, Công ty luôn chủ động tạo nguồn nguyên liệu để giữ vững tiến độ sản xuất, thực hiện liên kết với nhiều cơ sở dịch vụ của Bộ ngoại thương để nhận thêm nguyên liệu. Giữ vững nhịp độ tăng trưởng từng năm, năm 1981 Công ty giao 2.669.771 sản phẩm, năm 1985 giao 3.382.270 sản phẩm sang các nước: Liên Xô, Pháp, Đức, Thuỵ Điển. Ghi nhận chặng đường phấn đấu 25 năm của Công ty, năm 1983 Nhà nước đã trao tặng xí nghiệp may Thăng Long: Huân chương Lao động hạng Nhì.
Cuối năm 1986 cơ chế bao cấp được xoá bỏ và thay thế bằng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp lúc này phải tự tìm bạn hàng, đối tác. Đến năm 1990, liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, thị trường của Công ty thu hẹp dần. Đứng trước những khó khăn này, lãnh đạo của Công ty may Thăng Long đã quyết định tổ chức lại sản xuất, đầu tư hơn 20 tỷ đồng để thay thế toàn bộ hệ thống thiết bị cũ của Cộng hoà dân chủ Đức (TEXTIMA) trước đây bằng thiết bị mới của Cộng hoà liên bang Đức (FAAP), Nhật Bản (JUKI). Đồng thời Công ty hết sức chú trọng đến việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Công ty đã ký nhiều hợp đồng xuất khẩu với các Công ty ở Pháp, Đức, Thuỵ Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Với những sự thay đổi hiệu quả trên, năm 1991 xí nghiệp may Thăng Long là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành may được Nhà nước cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp. Công ty được trực tiếp ký hợp đồng và tiếp cận với khách hàng đã giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước và địa phương trong thời kỳ đổi mới, tháng 61992, xí nghiệp được Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ công nghiệp) cho phép được chuyển đổi tổ chức từ xí nghiệp thành Công ty và giữ nguyên tên Thăng Long theo quyết định số 218 TCLĐ CNN. Công ty may Thăng Long ra đời, đồng thời là mô hình Công ty đầu tiên trong các xí nghiệp may mặc phía Bắc được tổ chức theo cơ chế đổi mới. Nắm bắt được xu thế phát triển của toàn ngành năm 1993 Công ty đã mạnh dạn đầu tư hơn 3 tỷ đồng mua 16.000 m2 đất tại Hải Phòng, thu hút gần 200 lao động. Công ty đã mở thêm nhiều thị trường mới và trở thành bạn hàng của nhiều Công ty nước ngoài ở thị trường EU, Nhật Bản, Mỹ. Ngoài thị trường xuất khẩu Công ty đã chú trọng thị trường nội địa, năm 1993, Công ty đã thành lập Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm tại 39 Ngô Quyền, Hà Nội với diện tích trên 300 m2. Nhờ sự phát triển đó, Công ty là một trong những đơn vị đầu tiên ở phía Bắc chuyển sang hoạt động gắn sản xuất với kinh doanh, nâng cao hiệu quả. Bắt đầu từ năm 2000, Công ty đã thực hiện theo hệ thống quản lý ISO 90012000, hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn SA 8000.
Năm 2003, công ty may Thăng Long được cổ phần hoá theo Quyết định số 1496QĐTCCB ngày 2662003 của Bộ Công nghiệp về việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Công ty may Thăng Long trực thuộc tổng Công ty Dệt may Việt Nam. Công ty may Thăng Long chuyển sang công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối 51% vốn điều lệ, bán một phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp cho cán bộ công nhân viên Công ty (49%). Trong quá trình hoạt động, khi có nhu cầu và đủ điều kiện, công ty cổ phần sẽ phát hành thêm cổ phiếu hoặc trái phiếu để huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Theo phương án cổ phần hoá:

Vốn điều lệ của công ty:
Vốn điều lệ được chia thành:
Mệnh giá thống nhất của mỗi cổ phần: 23.306.700.000 đồng
233.067 cổ phần
100.000 đồng
Xem thêm

65 Đọc thêm

Luyện từ và câu: luyện tập viết tên người, tên địa lí Việt Nam

LUYỆN TỪ VÀ CÂU: LUYỆN TẬP VIẾT TÊN NGƯỜI, TÊN ĐỊA LÍ VIỆT NAM

Câu 1. Viết lại cho đúng các tên riêng trong bài ca dao sau, Câu 2. Trò chơi du lịch trên bản đồ Việt Nam; Câu 1.  Viết lại cho đúng các tên riêng trong bài ca dao sau :Rủ nhau chơi khắp Long Thành Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai :Hàng bồ, hàng bạc, hàng gai Hàng Buồm, Hàng thiếc, Hàng hài,Hàng Khay Mã vĩ, Hàng Điếu, hàng giày Hàng Lờ, hàng cót, hàng mây, hàng Đàn Phố Mới, phúc kiến, hàng Than Hàng mã, hàng mắm, hàng Ngang, hàng Đồng Hàng Muối, hàng nón, cầu Đônglưng ngựa, tay Hàng hòm, hàng đậu, hàng bông, hàng bèHàng Thùng, hàng bát, hàng treHàng Vôi, hàng giấy, hàng The, hàng Gà Quanh quanh về đến Hàng Da Trải xem phường phố thật là đẹp xinh._ Long Thành: thành Thăng Long, nay là Hà Nội.Câu 2. Trò chơi du lịch trên bản đồ Việt Nam; a) Đố - tìm và viết đúng tên các tỉnh, thành phố.b) Đố - tìm và viết đúng tên những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng. Trả lời: Câu 1: Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Mã Vĩ, Hàng Giày, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn, Phúc Kiến, Hàng Than, Hàng Mã, Hàng Mổm, Hàng Ngang, Hàng Đồng, Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bóng, Hàng Bà, Hàng Bút, Hàng Tre, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà. Câu 2: Ví dụ
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hoàn thiện công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TẠI CÔNG TY DỆT KIM THĂNG LONG

Trong những năm qua, ngành dệt may giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta. Năm 2007 với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 7,7 tỉ USD Việt Nam đã nằm trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới.
Có được thành tích này là do các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã tăng cường chiến lược tiêu thụ và mở rộng thị trường nhờ vào đổi mới công nghệ và đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh.
Đóng góp vào thành tích chung của toàn ngành dệt may, Công ty dệt kim Thăng Long cũng có những bước tiến nhất định của mình. Được thành lập từ những năm 50, trải qua nhiều khó khăn thử thách với nỗ lực của chính mình Công ty đã vượt qua mọi khó khăn và đứng vững trên thị trường.
Với mong muốn tìm hiểu về ngành nghề dệt may, đặc biệt là công tác tổ chức hạch toán kế toán em đã xin đến thực tập tại phòng tài vụ Công ty dệt kim Thăng Long và chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long” và trình bày báo cáo chuyên đề thành 3 phần như sau:
Phần 1: Tổng quan về Công ty dệt kim Thăng Long
Phần 2: Thực trạng kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu
thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long
Phần 3: Hoàn thiện kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu
thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long



Phần 1: Tổng quan về Công ty dệt kim Thăng Long
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty dệt kim Thăng Long
Công ty dệt kim Thăng Long là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở công nghiệp Hà Nội.
Tên gọi: Công ty dệt kim Thăng Long
Tên giao dịch quốc tế: Thang Long knitting company
Trụ sở chính: 46 Hàng Quạt Quận Hoàn Kiếm Hà Nội
Mã số thuế: 01001012411
Tổng số CBCNV năm 2007: 510
Điện thoại: 048256379
Fax: 048257511
Công ty dệt kim Thăng Long có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế độc lập. Công ty có tài khoản riêng tại các ngân hàng:
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Tài khoản VNĐ: 0021000002208
Tài khoản ngoại tệ: 0021370021559
Ngân hàng công thương KV.2 Hai Bà Trưng Hà Nội
Tài khoản VNĐ: 710A – 00320
Tài khoản ngoại tệ: 362101710A – 00120
Quá trình hình thành và phát triển của công ty trải qua nhiều giai đoạn mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác biệt trong cách thức tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và được chia như sau:
Xem thêm

73 Đọc thêm

Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ

NHỮNG HÌNH ẢNH THƯỜNG GẶP TRONG CA DAO NAM BỘ TRONG ĐỐI SÁNH VỚI BẮC BỘ

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài luận văn Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng. Nó là nơi thể hiện rõ nhất điệu tâm hồn dân tộc (Tố Hữu), phô diễn trực tiếp thế giới tâm hồn của con người, biểu đạt những tình cảm, cảm xúc đa dạng của nhân dânNó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lao động. Bởi vậy, ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người Việt Nam. Nó là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam qua bao thế hệ. Từ cái thủa vẫn còn nằm nôi, chúng ta đã được nghe những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà, của mẹ. Tuy vậy, ca dao có sự khác biệt giữa vùng miền, cụ thể là sự khác biệt giữa ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ đã khá quen thuộc với chúng ta còn ca dao Nam Bộ đang trong quá trình khảo cứu. Đó là bởi vì ca dao Nam Bộ ra đời muộn. Nam Bộ là một mảnh đất được khai sinh trong hành trình lịch sử Nam tiến của dân tộc. Đây là vùng đất “sinh sau đẻ muộn” , nhưng đây thường được gọi là vùng đất nhiều tài nguyên và mang nét văn hóa đặc sắc. Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này cũng đã để lại những dấu ấn văn hóa riêng. Đáng chú ý là ca dao bởi nó được xem là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con người nơi đây. Ca dao miền Nam vẫn có sức sống mãnh liệt. Nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được. Tuy vậy, từ trước đến nay, ca dao Nam Bộ chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước. Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ bác học; hay đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử... Chương trình văn học có sự mất cân đối, nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót. Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế. Sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh Nam Bộ trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ. Chúng ta cần dành một chỗ đứng thích đáng cho ca dao miền Nam. Trả lại cho văn chương và ca dao miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều người. Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông đã bổ dung thiếu sót này bằng việc yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ cũng là điều cần thiết và bổ ích trong quá trình giảng dạy của mình. Trong ca dao Nam Bộ có những hình ảnh thường gặp phản ánh rõ nét thiên nhiên, đời sống con người Nam Bộ. Những hình ảnh ấy đơn giản mộc mạc như chính vùng đất non trẻ này của đât nước. Chất nôm na, chất phác của lớp người bình dân đã thấm đẫm trong cái nhìn về cuộc sống, vạn vật. Qua cái nhìn của người dân Nam Bộ, ta thấy vẻ hoang vu của thiên nhiên một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước. Ta còn thấy những sự vật đặc trưng của Nam Bộ như cái cầu khỉ, bông điên điển, trái bần,…hay con sấu, con rắn,… Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:“Tới đây sứ sở lạ lùngChim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghꔓ Chèo ghe sợ sấu ăn chưngXuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma”. Cùng với đó là hình ảnh con người Nam Bộ chất phác. Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này. Họ đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng lực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật. Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:Chiều chiều ông Ngữ thả câu Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông (sưu tầm ở Phú TânAn Giang) Đem đối sánh với ca dao Bắc Bộ, ta sẽ có những phát hiện thú vị. Nếu ca dao Bắc Bộ ngọt ngào thì Nam Bộ chân chất. Nếu Bắc Bộ giàu hình ảnh miền Bắc thì Nam Bộ mang hình ảnh của một thiên nhiên mới khai phá, cùng nếp sống đậm chất miền Nam. Nếu con người Bắc Bộ nhẹ nhàng, trừ tình thì con người Nam Bộ mang nét đẹp khỏe khắn của người mở cõi.Vì vậy, chúng tôi chọn khảo cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ là đối tượng nghiên cứu cho đề tài này. Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung.2. Lịch sử nghiên cứu Từ trước đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn. Đầu tiên là các công trình về ca dao Nam Bộ. Tiêu biểu là công trình “Ca dao dân ca Nam Bộ”(1984) của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình này có những bài nghiên cứu chung về ca dao Nam Bộ. Tiếp theo là công trình “Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long” (1999) của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Cần Thơ, NXB Giáo Dục. Công trình này chủ yếu công bố những tư liệu đã sưu tầm được về các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian ở đồng bằng sông Cửu Long. “Ca dao Đồng Tháp Mười” của Đỗ Văn Tân chủ biên, Sở VHTT Đồng Tháp xuất bản, 1984 cũng là cuốn sách có nhiều tư liệu để nghiên cứui đối chiếu. Ngoài ra, có nhiều công trình lẻ tẻ nói về ca dao từng tỉnh Nam Bộ, như công trình “Văn học dân gian Bến Tre” (1988) của Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đã chú ý nét riêng và nhấn mạnh một hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt hình thức là hiện tượng là những bài ca có ba dòng lời . Tác giảcó nêu sốliệu khảo sát nhưng không lý giải. Về ngôn ngữ ca dao, tác giả khái quát mang đặc điểm của phương ngữ, nhất là phương ngữ Nam bộ, ngôn ngữ đầy sức sống, tươi rói, tác động mạnh vào cách nhìn, cách nghe của con người . Đối với vấn đề này, tác giả chỉ dừng lại bằng việc nêu ví dụ. Tuy nhiên, đây là những gợi ý quý báu mà trong luận văn này chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn. Phần sau là công bốnhững tư liệu đã sưu tầm về các thể loại. Trong đó ca dao là 88 trang (với 900 bài). Tiếp đó là công trình nghiên cứu “Văn học dân gian Bạc Liêu” do Chu Xuân Diên chủ biên, NXB Văn nghệ TP HCM, 2005. Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 354 bài ca dao. Để đối chiếu, so sánh, chúng tôi có nghiên cứu bổ sung về ca dao Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ phong phú hơn và được nghiên cứu từ rất lâu. Ở đây, để lấy được các hình ảnh trong ca dao Bắc Bộ mà so sánh với Nam Bộ, chúng tôi đã xem xét các tài liệu như: “Ca dao ngạn ngữ Hà Nội” 20 và Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh Phú 119 , Dân ca quan họBắc Ninh 113, song tài liệu 20 và tài liệu 119 có số lượng bài ít.Như vậy, qua những công trình giới thiệu trên đây chúng tôi không thấy công trình nghiên cứu riêng về hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ chưa có. Phần lớn những nghiên cứu về hình ảnh ca dao Nam Bộ được viết chung trong phần nghiên cứu về ca dao Nam Bộ. Việc khảo sát những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ vẫn chưa trở thành đề tài nghiên cứu trọn vẹn. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ khảo sát những hình ảnh xuất hiện trong ca dao Nam Bộ một cách có hệ thống.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Đề tài nhằm góp phần vào việc tìm hiểu diện mạo chung của ca dao Nam Bộ. Làm rõ những hình ảnh thường gặp của ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ và qua đó hiểu thêm đời sống văn hoá tinh thần của con người Bến Tre. Đề tài cũng khẳng định những giá trị đã tạo nên vẻ đẹp, sức sống của ca dao Nam Bộ. Từ đó phát huy những vẻ đẹp đó để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần bảo tồn ca dao Nam Bộ.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: chúng tôi chọn nghiên cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ. Phạm vi nghiên cứu:Trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát ca dao Nam Bộ về hình ảnh quen thuộc trong so sánh với ca dao Bắc Bộ. Theo định hướng đã đề ra như trên, đối tượng mà người viết khảo sát là những bài ca dao trữ tình của dân tộc Việt ở đất Nam Bộ, không khảo sát ca dao lao động và nghi lễ. Việc gọi câu hát dân gian, bài hát dân gian, bài ca, lời thơ dân gian, đơn vị tác phẩm trong luận văn này đều là một, chỉ bài ca dao. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận vănTrong quá trình thực hiện đềtài luận văn, chúng tôi sửdụng một sốphương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp sưu tầm: Văn học dân gian ra đời sớm và được lưu lại trong trí nhớcủa nhân dân bằng con đường truyền miệng. Trước đây, việc sưu tầm ca dao đã được tiến hành nhưng chưa thể nào tập hợp hết những bài ca dao tồn tại trong trí nhớ của nhân dân. Để có thêm tư liệu trong quá trình khảo sát, cũng như góp phần nhỏ trong công tác sưu tầm tập hợp, chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm. Phương pháp thống kê: Việc sửdụng phương pháp thống kê giúp chúng tôi tính toán được sốlượng nhiều hay ít của các từngữ, công thức, hình ảnh… trong ca dao. Phương pháp này giúp đưa ra được những số liệu cụ thể, chính xác về vấn đề cần khảo sát. Từ đó dẫn đến những kết luận khách quan. Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệthống là cách đặt những bài ca dao Nam Bộ trong cùng một hệthống như hệthống ca dao cả nước để thấy được nét chung cũng như nét riêng của nó. Phương pháp phân tích, so sánh: Tìm ra những điểm giống và điểm khác của ca dao Nam Bộ với ca dao của Bắc Bộ, người viết phải phân tích, đối chiếu những bài ca dao Nam Bộ với những bài ca dao Bắc Bộ. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này dùng để lý giải cho những hình ảnh ca dao Nam Bộ. Kiến thức của nhiều ngành khác nhau như: lịch sử, địa lí,dân tộc học, văn hóa học… sẽrất hữu ích trong việc nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lí luận:Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung. Ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương, đặc biệt ở miền Trung và Nam. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ nói chung và hình ảnh trong ca dao Nam Bộ nói riêng là điều cần thiết và bổ ích. Nó sẽ là tư liệu bổ sung cho việc giảng dạy kiến thức địa phương ở các trường THPT miền Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm 3chương: Chương I: Nhìn chung về ca dao Nam Bộ. Chương II: Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ Chương III: Đặc điểm nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Đánh giá chất lượng môi trường không khí tại khu công nghiệp thăng long đông anh hà nội

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP THĂNG LONG ĐÔNG ANH HÀ NỘI

MỤC LỤCPhần 1. MỞ ĐẦU11.1 Đặt vấn đề11.2. Mục tiêu nghiên cứu.21.3. Yêu cầu của đề tài.21.4. Ý nghĩa của đề tài.2PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU32.1 Cơ sở khoa học của đề tài.32.1.1 Một số khái niệm liên quan.32.1.2 Chức năng về môi trường.32.1.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người và môi trường.52.1.4 Tiêu chuẩn chất lượng không khí.142.2.Cơ sở pháp lý142.3 Cơ sở thực tiễn.152.3.1. Ô nhiễm BTEX trên thế giới.152.3.2. Ô nhiễm BTEX ở Việt Nam.19PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU223.1 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu223.2 Địa điểm và thời gian tiến hành223.3 Phương pháp nghiên cứu223.3.1 Phương pháp kế thừa223.3.2 Phương pháp lấy mẫu chủ động223.3.3 Phương pháp sắc ký khí xác định BTEX243.3.4 Thực nghiệm273.3.5 Định tính và định lượng bằng thiết bị GCFID30Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN324.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đông Anh Hà Nội.324.1.1 Điều kiện tự nhiên.324.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội364.2 Khái quát về khu công nghiệp Bắc Thăng Long Đông Anh – Hà Nội384.3 Đánh giá môi trường khí thải khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Đông Anh – Hà Nội.454.3.1 Xác định thời gian lưu và đường ngoại chuẩn BTEX454.3.2 Đặc điểm ô nhiễm BTEX trong không khí khu công nghiệp Bắc Thăng Long464.3.3 Đặc điểm ô nhiễm BTEX trong không khí tại khu dân cư484.4 Thảo luận494.4.1 So sánh nồng độ giữa khu công nghiệp và khu dân cư494.4.2.So sánh mẫu lấy buổi sáng và mẫu lấy buổi chiều504.4.3 So sánh tỷ lệ giữa các chất với nhau51Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ525.1 Kết luận525.2 Kiến nghị52TÀI LIỆU THAM KHẢO54PHỤ LỤC
Xem thêm

71 Đọc thêm

Đề tài nhận xét, đánh giá chung về hoạt động của ngân hàng techcombank thăng long luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp

ĐỀ TÀI NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TECHCOMBANK THĂNG LONG LUẬN VĂN, ĐỒ ÁN, ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

Việt Nam là một đất nước đang phát triển với nhiều tiềm năng về kinh tế , xã hội và ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế bằng những thành tựu khả quan về phát triển kinh tế , xã hội đã đạt được trong những năm qua ,bằng chứng điển hình nhất đó là việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO trong năm 2006. Nền kinh tế Việt Nam có thêm nhiều vận hội mới cho sự phát triển nhưng cũng không ít thách thức đang chờ ở phía trước. Ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó . Có thể thấy Việt Nam trong những năm gần đây xuất hiện ngày càng nhiều các ngân hàng thương mại cổ phần, chứng tỏ nhu cầu của nền kinh tế đối với ngân hàng ngày càng tăng, khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế năng động trong xu thế phát triển mạnh mẽ của Việt Nam. Nền kinh tế thị trường phát triển kéo theo đó là sự phát triển của hang hóa, nó tác động trực tiếp làm cho hàng hóa trở nên phong phú đa dạng, tuy nhiên với mức thu nhập như hiện nay thì đại đa số người tiêu dùng không thể chi trả cho các nhu cầu mua sắm cùng một lúc, đặc biệt là những hàng hóa đắt tiền.Nắm bắt được thực tế đó, các ngân hàng đã đẩy mạnh việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ tiêu dùng dưới nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện cho khách hàng thỏa mãn nhu cầu của mình trước khi có khả năng thanh toán, và chỉ sau một thời gian ngắn sau khi loại hình sản phẩm này ra đời, số lượng khách hàng tìm đến sản phẩm ngày càng tăng và tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng . Techcombank là một trong những ngân hàng hàng đầu ở Việt Nam đã thành công trong việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng. Techcombank coi việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng là một trong những định hướng phát triển chủ đạo của ngân hàng trong tương lai. Hiện tại hoạt động cho vay tiêu dùng của techcombank đã có những bước đi và kết quả khả quan. Tuy nhiên trước sự biến động của nền kinh tế và sự cạnh tranh cao độ từ nhiều phía nên ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn, thêm vào đó đã là cho vay thì không thể nói là không có rủi ro hay không có những khó khăn tồn tại cần phải khắc phục . Qua thời gian thực tập tại NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Thăng Long, với mục đích tiếp cận hoạt động thực tế của ngân hàng nhằm bổ xung kiến thức học tại trường, đến nay em đã hoàn thành báo cáo thực tập. Báo cáo được chia làm 3 phần: Phần 1: Khái quát chung về ngân hàng Techcombank Thăng Long Phần 2: Tình hình hoạt động của ngân hàng Techcombank Thăng Long Hà Nội Phần 3: Nhận xét,đánh giá chung về hoạt động của ngân hàng Techcombank Thăng Long
Xem thêm

21 Đọc thêm

Bản thiết kế cầu Nhật Tân

BẢN THIẾT KẾ CẦU NHẬT TÂN

Cầu Nhật Tân là một cây cầu được xây dựng với tổng mức đầu tư hơn 13.626 tỷ đồng nằm trong tổng số 7 cầu bắc qua sông Hồng đoạn Hà Nội, nối quận Tây Hồ với huyện Đông Anh, kết cấu nhịp của cầu chính theo dạng cầu dây văng nhiều nhịp với 5 trụ tháp hình thoi và 6 nhịp dây văng, bắt đầu tại phường Phú Thượng, quận Tây Hồ đến điểm cuối giao với quốc lộ 3 tại km 7+100, xã Vĩnh Ngọc huyện Đông Anh. Cầu được khởi công ngày 7 tháng 3 năm 2009,1 ngay sau khi hoàn thành cầu Thanh Trì và hoàn thành nhân kỷ niệm Thăng LongHà Nội 1000 năm. Theo dự án, cầu được kết cấu kiểu dây văng liên tục bê tông cốt thép dự ứng lực, thi công bằng phương án đúng hẫng cân bằng2. Cầu Nhật Tân được khánh thành vào ngày 412015,3 đồng bộ với đường Nhật Tân Nội Bài tạo nên một tuyến cao tốc nội đô hiện đại, rút ngắn thời gian di chuyển từ cảng hàng không quốc tế Nội Bài tới trung tâm Hà Nội. Cầu được xem là biểu tượng mới của Thủ đô Hà Nội với 5 nhịp dây văng tượng trưng cho 5 cửa ô.Mặt cầu rộng 33,2m với 8 làn xe cho cả hai chiều, chia thành 4 làn xe cơ giới, 2 làn xe buýt, 2 dải xe hỗn hợp, phân cách giữa, đường dành cho người đi bộ. Cầu dài 3,9 km và có đường dẫn 5,17 km, trong đó phần chính của cầu qua sông dài 1,5 km.Đã từng có một số ý kiến cho rằng nên đổi tên cầu thành cầu Cổ Loa hoặc Đông Đô, theo tên của kinh thành Thăng Long các thời An Dương Vương và Lê Lợi, vì địa danh xây dựng cầu không nằm trên đất vùng trồng đào Nhật Tân nổi tiếng
Xem thêm

163 Đọc thêm

Thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long - Hà Nội

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHUYẾN KHÍCH VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NHÀ MÁY THUỐC LÁ THĂNG LONG - HÀ NỘI

Đã hơn 10 năm kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Từ một nền kinh tế vận hành trong vỏ bọc bao cấp khép kín, tự cung tự cấp bước vào thời mở cửa cạnh tranh khốc liệt, đầy những biến động và không ít rủi ro, các doanh nghiệp Việt Nam đã thật sự đặt mình vào một cuộc chiến mang tính sinh tồn. Chưa bao giờ vấn đề "miếng cơm manh áo", vận mệnh của doanh nghiệp lại bấp bênh, "ngàn cân treo sợi tóc" như bây giờ. Bởi vậy, các doanh nghiệp, một mặt vừa phải cải tiến hoàn thiện bộ máy tổ chức, đầu tư công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại, sáng tạo mẫu mã, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để có thể cạnh tranh, chiếm được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Mặt khác, phải duy trì để đứng vững, từ đó phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng ra thị trường quốc tế, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Đó là một thách thức không nhỏ đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp phải có những chính sách, những cách nhìn mang tính chiến lược, đúng đắn và hiệu quả.
Cần phải công nhận rằng, chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học kỹ thuật đã phát triển đến đỉnh cao, đã đạt tới sự tinh tế, hoàn hảo. Nhưng không thể không khẳng định rằng, dù cho khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu, máy móc thiết bị có tinh vi hiện đại đến mấy chăng nữa thì con người vẫn là yếu tố then chốt, chủ đạo và quan trọng nhất của mọi quá trình, mọi hoạt động. Vấn đề là ở chỗ quản lý và sử dụng như thế nào để tạo và gia tăng động lực làm việc cho người lao động, từ đó phát huy tối đa năng suất, sự nhiệt tình cũng như chất lượng lao động. Đó là một bài toán không dễ giải đáp, huấn giải được nó, chỉ có cách hướng sự quan tâm về phía người lao động. Các cấp quản trị phải xây dựng và thực hiện một cách tốt nhất các chương trình khuyến khích vật chất và tinh thần, giúp người lao động ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, gắn bó và phấn đấu hết mình vì tổ chức, doanh nghiệp. Khi đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể "thuận buồm xuôi dòng".
Tôi quyết định chọn đề tài trên để qua quá trình thực tập tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long Hà Nội, nghiên cứu thực tế sản xuất cũng như tài liệu thống kê…, thấy rõ thực trạng của công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại nhà máy, những điểm mạnh cần biểu dương và những điểm yếu cần khắc phục. Từ đó, đề suất một số giải pháp giúp củng cố và hoàn thiện công tác trên nhằm đem lại hiệu quả tích cực hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy.
Chuyên đề tập trung đi sâu phân tích thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long Hà Nội - một đơn vị sản xuất và kinh doanh có hiệu quả trong cả nước, kết hợp với việc đưa ra những giải pháp đề xuất để hoàn thiện công tác này.
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 phần:
Phần I: Lý luận về công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động.
Phần II: Thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long - Hà Nội.
Phần III: Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long - Hà Nội.
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Nhà Máy Thuốc lá Thăng Long; ông Đặng Ngọc Phi - Chủ tịch công đoàn nhà máy; ông Nguyễn Văn Hán - Trưởng phòng tổ chức bảo vệ, cùng các cán bộ, chuyên viên phòng tổ chức bảo vệ, các phòng ban đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thực tập, nghiên cứu cũng như đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo trong quá trình tôi thực tập tại Nhà máy.
Đồng thời, em cũng gửi tới cô giáo, tiến sĩ Phạm Thị Liên lời biết ơn sâu sắc về những hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô trong quá trình em thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp cũng như trong suốt thời gian học tập.
Em cũng gửi lời cám ơn tới ban lãnh đạo nhà trường, các thầy cô giáo, những người đã tận tình dạy bảo, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt bốn năm ngồi ở giảng đường trường Đại học Công đoàn.
Chuyên đề tốt nghiệp chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo góp ý của cô giáo cũng như quý Nhà máy.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Hãy đọc kĩ đoạn trích dưới đây trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, và cho biết ý kiến về ý nghĩa nội dung của đoạn trích ấy. "Bên ngoài trời rét………. cư xử với nhau ở ngoài đường là đủ rõ".

HÃY ĐỌC KĨ ĐOẠN TRÍCH DƯỚI ĐÂY TRONG TRUYỆN NGẮN MỘT NGƯỜI HÀ NỘI CỦA NGUYỄN KHẢI, VÀ CHO BIẾT Ý KIẾN VỀ Ý NGHĨA NỘI DUNG CỦA ĐOẠN TRÍCH ẤY. "BÊN NGOÀI TRỜI RÉT………. CƯ XỬ VỚI NHAU Ở NGOÀI ĐƯỜNG LÀ ĐỦ RÕ".

Có lẽ lòng cảm thấy đau lắm khi tác giả viết lên điều này. Và người đọc là con dân Việt đau cùng không kém. I. Giới thiệu sơ lược về Nguyễn Khải và truyện ngắn Một người Hà Nội để dẫn đến nội dung (tâm tư của nhà văn) qua đoạn trích. II. Vị trí của đoạn trích: Đoạn trích nằm ở giữa của phần 7, phần cuối truyện, ở đoạn trước, tác giả “thỉnh thoảng có việc phải ra Hà Nội đều ghé lại thăm cô Hiền”. Mọi người đều già, lớp người Hà Nội như cô đã mất, kể cả chồng cô; chỉ còn lại vài người, trong đó có cô đã ngoài 70 tuổi “nhưng cô vẫn là người của hôm nay, một người của Hà Nội hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn”. Kế tiếp là đoạn trích, và đoạn cuối, sau đoạn trích là chuyện cây si bị trốc gốc bên đền Ngọc Sơn và nghĩ ngợi một cách duy tâm của cô Hiền. + Ý kiến về nội dung của đoạn trích - Đọc phần đầu của đoạn trích, dù không là người Hà Nội, chưa một lần đến Hà Nội vào cuối đông, nhưng đã học địa lí Việt Nam, ai cũng sẽ nghĩ rằng thiên nhiên, khí hậu Hà Nội không mấy thay đổi. “Trời rét, mưa rây” của thiên nhiên, khí hậu Hà Nội không mấy thay đổi “Trời rét, mưa rây” của những ngày cuối đông, cận Tết khiến người nơi xa, những người của Hà Nội cũ bỗng cảm nhận: Thanh sác chưa phai màu lệ cũ Ảnh hình thêm đậm mối thương xưa - Bỗng như thấy Bà Huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ. - Bỗng như thấy Lưu Trọng Lư trong bài thơ Ông đồ. - Bỗng như thấy Thạch Lam trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Và bỗng như “bà lão (nếu là một thiếu nữ thì phải hơn) lau đánh cái bát bày thủy tiên”, cái còn lại của người Hà Nội “thưởng thức vẻ đẹp của một dò hoa thủy tiên” chẳng kém gì thưởng thức một cành đào trong những ngày mừng Tết. - Nét đẹp văn hóa ấy mai một vì hoàn cảnh chiến tranh, đó là điều tất yếu. Thế những điều đau lòng là phần hồn ấy của Hà Nội đã bị “tâm lí sông ồ ạt, xô bồ, vụ lợi của đám người vừa thoát khỏi cái chết, cái khổ” đẩy ra khỏi tâm hồn của họ. Họ chỉ biết “nhảy tàu lên Lạng Sơn buôn bán đủ thứ” để xây nhà, sắm xe, những tiện nghi hiện đại, ăn nhậu ở nhà hàng, quán bar... mà quên mất bản sắc lối sống của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội. - Khi nghe cô Hiền cho biết: “ Nhiều người nói Hà Nội đã sống lại”. Nhân vật “tôi” đã góp ý rõ hơn: “Có đúng một phần, phần xác thôi, còn phần hồn thì chưa. Cứ nhìn... ở ngoài đường là đủ rõ”. “Có đúng một phần, phần xác thôi”, tác giả đã xác định và nhấn mạnh như thế. Mà đúng vậy. Hà Nội xã hội chủ nghĩa được xây dựng từ năm 1954, sau Hội nghị Genève. Kể từ sau khi quân Pháp thua trận và rút về nước, Hà Nội đã thay da đổi thịt. Rồi trong cuộc chiến thống nhất đất nước, bom đạn Mĩ đã cày nát một phần Hà Nội mà phố Khâm Thiên là hình ảnh hãi hùng nhất. Mười lăm năm sau. sau 30-4-1975. nhà cửa đẹp, phố xá sầm uất; người người ăn mặc sang trọng, đã làm thay đổi “phần xác” của Hà Nội. Đúng vậy, và đang thay đổi ngày một to lớn hơn, hình thức đẹp và hoành tráng hơn. “Còn phần hồn thì chưa”. Để chứng minh cho lời khắng định ấy, tác giả đã chỉ ra nơi chốn, cách biểu hiện cụ thể: “ở ngoài đường”. Mà đúng vậy. Bản chất, chiều sâu của phần hồn không biểu lộ ở các buổi lễ trang trọng thỉnh thoảng mới được tổ chức bởi không khí của buổi lễ đã toát ra phần hồn buộc người ta phải giữ lễ. Phần hồn tốt hay xấu, lịch sự hay thô lỗ, hiền hòa hay lỗ mãng,... đều được biểu hiện trong “buôn bán, ăn uống, nói năng “ở ngoài đường” mỗi ngày, ở ngay sau đoạn trích, tác giả đả chứng minh cụ thể nhận xét ấy của minh về sự ứng xử vô lễ của giới trẻ khi ông đi xe đạp trên đường Phan Đình Phùng; về sự vô cảm đến lạnh lùng hay tâm lí chuộng kẻ giàu sang của người Hà Nội mà ông đã gặp, hỏi đường đi thì có người trả lời, là nói sõng hoặc hất cằm, có người cứ giương mắt nhìn mình như nhìn con thú lạ”. Những lời mắng chửi, cách ứng xử ở chốn Hà Nội thanh thiên bạch nhật mà tác giả đã gặp không có ở những nơi khác. Nếu quả đúng như thế thì rõ ràng Hà Nội chưa thay đổi phần hồn. Và tất nhiên người Hà Nội chưa là giai tầng “để làm chuẩn cho mọi giá trị”, là mẫu người để cả nước noi theo. III. Có lẽ lòng cảm thấy đau lắm khi tác giả viết lên điều này. Và người đọc là con dân Việt đau cùng không kém. - Cảm ơn tác giã đã can đảm nói lên sự thật ấy, để không chỉ nhắc nhở người Hà Nội mà còn với người dân cả nước quan tâm đến việc chăm sóc phần hồn, làm cho nó ngày thêm tươi đẹp: Hồn Việt! Trích: Loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Viết bài văn nêu cảm nghĩ của em nhân sự kiện Thăng Long - Hà Nội sắp tròn 1000 năm tuổi

VIẾT BÀI VĂN NÊU CẢM NGHĨ CỦA EM NHÂN SỰ KIỆN THĂNG LONG - HÀ NỘI SẮP TRÒN 1000 NĂM TUỔI

Tháng 10 năm 2010, Thăng Long - Hà Nội tròn 1000 năm tuổi. Lòng người nao nức, khao khát thời đại mình sẽ đi vào lịch sử để đất kinh kì có một năm mừng tuổi huy hoàng. “Thành Đại La... là trung tâm trời đất có thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi...”. Gần một nghìn năm trước, vua Lí Công Uẩn đã sáng suốt nhận ra vị trí địa lí vô cùng linh thiêng của thành Đại La. Và sau đó, trong chuyến thiên đô về mảnh đất này, vị vua khai triều nhà Lý đã được nhìn thấy hình ảnh rồng bay lên báo trước những điềm lành cho tương lai dân tộc. Sự kiện đặc biệt ấy đã dẫn đến việc đổi tên của kinh đô mới: từ Đại La chuyển thành Thăng Long (rồng bay lên). Từ năm 1010 đến nay, trải qua nhiều thăng trầm và những biến cố lịch sử quan trọng, trong đó có cả những lần đổi tên: Thăng Long, Đông Đô, kẻ chợ,... rồi Hà Nội, người và đất kinh thành đã khẳng định được vị thế quan trọng của mình đối với vận mệnh đất nước. Là một mảnh đất trù phú về tài nguyên, dân cư chăm chỉ, cần cù lại có vị trí địa lí vô cùng đặc biệt nên dải đất hình chữ S Đại Việt — Việt Nam luôn bị hoạ xâm lăng đe doạ. Nhưng dù trong bất kì cuộc chiến nào, Thăng Long - Hà Nội cũng chứng tỏ được vị thế trung tâm chính trị của cả nước. Năm 1258, 1285, 1287, ba lần quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta, ba lần Thăng Long sát cánh cùng dân tộc đánh đuổi kẻ thù. Vua tôi nhà Trần cùng nhân dân kinh thành di tản kháng chiến thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, thành Thăng Long cho giặc mượn tạm mình một đêm làm nơi trú ngụ để đến hôm sau cùng con người quét sạch giặc khỏi bờ cõi. Đến thế kỉ XV, sau những cay đắng ngậm ngùi phải chứng kiến cảnh giặc Minh giày xéo, năm 1428, sau khúc khải hoàn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thành Đông Quan (tên Thăng Long - Hà Nội khi ấy) vui mừng chứng kiến “Hội thề Đông Quan" binh tướng nhà Minh làm lễ tế trời đất rút quân khỏi bờ cõi nước ta. Cuối thế kỉ XIX, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi thống nhất đất nước, đánh tan âm mưu xâm lược nước ta của nhà Thanh. Ngày mùng năm Tết Kỉ Sửu 1789, thành Thăng Long trong bầu không khí nồng khói thuốc súng và xôn xao tiếng cười, tiếng nói, niềm vui sướng của nhân dân kinh thành đón chào vị anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ với cành đào Nhật Tân tươi thắm trên tay. Năm 1838, đất cố đô được đổi tên thành Hà Nội. Suốt những năm của thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Hà Nội không còn là kinh đô của đất nước nhưng vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội - chính trị của mảnh đất này không ai có thể phủ nhận được. Cũng trong thời gian ấy, Hà Nội cùng nhân dân cả nước chứng kiến thời kì suy thoái của chế độ phong kiến Việt Nam và cuộc xâm lược tàn bạo của thực dân Pháp. Những năm tháng đau thương qua đi, khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ngày mùng 2 tháng 9, Hà Nội tưng bừng cờ hoa mừng ngày chiến thắng. Nắng Ba Đình như tươi hơn, trời mùa thu như trong xanh hơn, và người Hà Nội cũng vui tươi hơn bao giờ hết. Sau ngày thu lịch sử ấy, Hà Nội chính thức trở lại vị trí Thủ đô - trung tâm chính trị của cả nước - lại sát cánh cùng cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược và cuộc kháng chiến chống Mĩ - nguỵ. Lịch sử kháng chiến của Hà Nội còn ghi nhận những ngày tháng oanh liệt và hào hùng khác: 10/10/1954, 18/12/1972 - 31/12/1972,... Có thể nói, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Hà Nội luôn hoàn thành sứ mạng của một kinh đô - Thủ đô anh hùng. Không chỉ chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Hà Nội còn khẳng định được vị trí của mình trong thời bình. Dưới triều đại các vua Lí Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông,... Thăng Long - Hà Nội là biểu tượng của sự phát triển, trù phú: “Đời vua Thái Tổ Thái Tông thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”. Điều đặc biệt nữa ở Thăng Long - Hà Nội là trải qua gần một nghìn năm hình thành và phát triển, dù bao lần bị kẻ thù đồng hoá nhưng đất kinh thành vẫn giữ vững những truyền thống văn hoá tốt đẹp đồng thời tiếp thu tinh hoa các nền văn hoá khác để làm giàu có, phong phú cho mình. Thăng Long - Hà Nội dưới thời Lí từng tồn tại tới ba tôn giáo làm nên hiện tượng Tam giáo đồng nguyên vô cùng thú vị: Đạo Nho, Đạo Phật, Đạo Giáo. Đặc biệt, từ xa xưa, đây đã là nơi tụ họp của tinh hoa học vấn khắp đất nước. Người kinh kì lấy việc học hành, tu rèn đạo đức làm trọng. Năm 1079, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học của nước ta, được xây dựng giữa chốn phồn hoa đô thị này, và từ đó đến nay, địa danh ấy trở thành biểu tượng cho tinh thần nhân văn, nhân ái và hiếu học của người Thãng Long. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, vua từng sáng lập ra hội Tao đàn với Nhị thập bát tú nêu cao tinh thần yêu chuộng chữ nghĩa văn chương. Trong lối sống và những phong tục tập quán hàng ngày, con người nơi này cũng tạo ra cho mình những nét riêng không thể trộn lẫn. Đó là phong cách thanh lịch, nho nhã: "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cùng người Tràng An". Nét thanh lịch ấy thể hiện rất rõ trong cách nói năng, đi đứng, ăn uống của người Tràng An. Họ "đi nhẹ, nói khẽ”, "ăn trông nồi ngồi trông hướng",... Và họ cũng góp vào cho văn hoá dân tộc những nét đặc sắc trong trang phục, ẩm thực,... Nổi tiếng nhất phải kể đến món "Phở" làm say lòng mỗi du khách đến nơi này. Gần một nghìn năm đã qua đi. Bụi thời gian không làm phai mờ được những chứng tích của một thời huy hoàng trong lịch sử: "Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời", "Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn", và vẫn còn đó những Gò Đống Đa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, bia chiến thắng B52,... Thăng Long - Hà Nội trở thành biểu tượng của niềm tự hào về truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tháng 10 năm 2010, Thăng Long - Hà Nội tròn 1000 năm tuổi. Lòng người nao nức, khao khát thời đại mình sẽ đi vào lịch sử để đất kinh kì có một năm mừng tuổi huy hoàng. Là những công dân nhỏ tuổi của Thủ đô, chúng em xúc động và tự hào biết bao vì đã được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đô thành linh thiêng này. Để góp vào đoá hoa mừng tuổi của Thủ đô, chúng em sẽ học thật tốt, giành nhiều điểm 10 tươi thắm góp phần hương sắc của mình vào vườn hoa rực rỡ ấy. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Ứng xử Nét đẹp văn hóa của người Hà Thành trong thời đại hiện nay

ỨNG XỬ NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA NGƯỜI HÀ THÀNH TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước thời kỳ đổi mới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa ứng xử của người Hà Nội, thí dụ:
Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội (1974), Người Hà Nội thanh lịch, Nxb Hà Nội. Công trình tập trung phân tích đánh giá những giá trị văn hóa và biểu hiện chất thanh lịch ở người Hà Nội trong lịch sử và trong cuộc sống hàng ngày lúc đó. Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nét đẹp thanh lịch trong cuộc sống tập thể.

Trong thời kỳ đổi mới có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn, cụ thể:
Nhiều tác giả (1993), Nhân cách văn hóa trong bảng giá trị Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Các tác giả tập trung làm rõ nhân cách văn hóa biểu đạt cho những giá trị cơ bản trong bảng giá trị Việt Nam và cũng góp phần tích cực vào việc hình thành bảng giá trị Việt Nam. Trong nhân cách văn hóa, tính cách, hành động văn hóa, môi trường văn hóa có mối quan hệ thống nhất biện chứng.
Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát (1991), Văn hóa Thủ đô hôm nay và ngày mai, Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội. Thông qua việc phân tích, đánh giá văn hóa Thủ đô qua 45 năm xây dựng và phát triển (1945 1990), nhất là mục “Bộ mặt Thủ đô qua nếp sống ngày nay”, các tác giả đã làm rõ sự biến đổi cách thức ứng xử trong sinh hoạt vật chất, tinh thần và cuộc vận động xây dựng Nếp sống văn minh Gia đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới. Các tác giả dự báo xu hướng phát triển nếp sống văn hóa tiếp theo qua mối quan hệ ứng xử trong gia đình, giao tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa ứng xử với môi trường xã hội và với bản thân.
Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Cho đến nay công trình đã được tái bản lần thứ hai. Trong đó tác giả dành hai chương để bàn về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Văn hóa ứng xử được tác giả quan niệm gồm hai hàm nghĩa: tận dụng và ứng phó thông qua giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Văn hóa Thăng Long Hà Nội hội tụ và tỏa sáng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tuy không trực tiếp bàn về văn hóa ứng xử, nhưng thông qua việc làm sáng tỏ các giá trị văn hóa Thăng Long Hà Nội (văn học, kiến trúc, mỹ thuật, giáo dục, lễ hội...), các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về diễn trình lịch sử, về đặc điểm chung của văn hóa ứng xử và mối tương quan giữa văn hóa Thăng Long Hà Nội với văn hóa các vùng, miền trên đất nước (Phú Xuân Huế, Sài Gòn TP Hồ Chí Minh). Hội tụ và tỏa sáng là đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Thăng Long Hà Nội, trong đó có văn hóa ứng xử của nó.
Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2001), Nếp sống người Hà Nội, Viện Văn hóa và Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. Tập thể các tác giả làm rõ khái niệm nếp sống, đánh giá khái quát quá trình phát triển của nếp sống người Thăng Long Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử và dự báo biến đổi nếp sống trong thời kỳ CNH, HĐH. Từ phân tích thực trạng nếp sống hiện nay các tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại và đề xuất kiến nghị xâydựng nếp sống người Hà Nội trong thời gian tới.
Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2002), Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Viện Văn hóa và Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên ở người Hà Nội, từ truyền thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên.
Nhìn chung, cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chủ đề văn hóa ứng xử của người Hà Nội trong thời kỳ đổi mới. Các công trình nêu ở trên là sự gợi ý và cung cấp một số cơ sở luận cứ, luận chứng để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài của luận văn.
Xem thêm

80 Đọc thêm

ý nghĩa nội dung của đoạn trích: Bên ngoài trời rét, mưa cây lả lướt …cư xử với nhau ở ngoài đường là đủ rõ. trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.

Ý NGHĨA NỘI DUNG CỦA ĐOẠN TRÍCH: BÊN NGOÀI TRỜI RÉT, MƯA CÂY LẢ LƯỚT …CƯ XỬ VỚI NHAU Ở NGOÀI ĐƯỜNG LÀ ĐỦ RÕ. TRONG TRUYỆN NGẮN MỘT NGƯỜI HÀ NỘI CỦA NGUYỄN KHẢI.

Cảm ơn tác giả đã can đảm nói lên sự thật ấy, để không chỉ nhắc nhở người Hà Nội mà còn với người dân cả nước quan tâm đến việc chăm sóc phần hồn, làm cho nó ngày thêm tươi đẹp: Hồn Việt! Giới thiệu sơ lược về Nguyền Khải và truyện ngắn Một người Hà Nội để dẫn đến nội dung (tâm tư của nhà văn) qua đoạn trích. Vị trí của đoạn trích: Đoạn trích nằm ở giữa của phần 7, phần cuối truyện, ở đoạn trước, tác giá “thỉnh thoảng có việc phải ra Hà Nội đều ghé lại thăm cô Hiền”. Mọi người đều già, lớp người Hà Nội như cô đã mất, kể cả chồng cô; chỉ còn lại vài người, trong đó có cô đã ngoài 70 tuổi “nhưng cô vẫn là người của hôm nay, một người của Hà Nội hôm nay. thuần túy Hà Nội, không pha trộn”. Kế tiếp là đoạn trích, và đoạn cuối, sau đoạn trích là chuyện cây si bị trốc gốc bên đền Ngọc Sơn và nghĩ ngợi một cách duy tâm của cô Hiền. Ý kiến về nội dung của đoạn trích Đọc phần đầu của đoạn trích, dù không là người Hà Nội, chưa một lần đến Hà Nội vào cuối đông, nhưng đã học địa lí Việt Nam, ai cũng sẽ nghĩ rằng thiên nhiên, khí hậu Hà Nội không mấv thay đổi. “Trời rét, mưa rây” của thiên nhiên, khí hậu Hà Nội không mấy thay đổi “Trời rét, mưa rây” của những ngày cuối đông, cận Tết khiến người nơi xa, những người của Hà Nội cũ bỗng cảm nhận: Thanh sắc chưa phai màu lệ cũ Ảnh hình thêm đậm mối thương xưa Bỗng như thấy Bà Huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ. Bỗng như thấy Lưu Trọng Lư trong bài thơ Ông đồ. Bỗng như thấy Thạch Lam trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Và bỗng như “bà lão (nếu là một thiếu nữ thì phải hơn) lau đánh cái bát bày thủy tiên”, cái còn lại của người Hà Nội “thưởng thức vẻ đẹp của một giỏ hoa thủy tiên” chẳng kém gì thưởng thức một cành đào trong những ngày mừng Tết. Nét đẹp văn hóa ấy mai một vì hoàn cảnh chiến tranh, đó là điều tất yêu. Thế nhưng điều đau lòng là phần hồn ấy của Hà Nội đã bị “tâm lí sống ồ ạt, xô bồ, vụ lợi của đám người vừa thoát khỏi cái chết, cái khổ” đẩy ra khỏi tâm hồn của họ. Họ chỉ biết “nhảy tàu lên Lạng Sơn buôn bán đủ thứ” để xây nhà, sắm xe, những tiện nghi hiện đại, ăn nhậu ở nhà hàng, quán bar... mà quên mất bản sắc lối sống của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội. Khi nghe cô Hiền cho biết: “ Nhiều người nói Hà Nội đã sống lại”. Nhân vật “tôi” đã góp ý rõ hơn: “Có đúng một phần, phần xác thôi, còn phần hồn thì chưa. Cứ nhìn... ở ngoài đường là đủ rõ” “Có đúng một phần, phần xác thôi”, tác giả đã xác định và nhấn mạnh như thế. Mà đúng vậy. Hà Nội xã hội chủ nghĩa được xây dựng từ năm 1954, sau Hội nghị Genève. Kể từ sau khi quân Pháp thua trận và rút về nước, Hà Nội đã thay da đổi thịt. Rồi trong cuộc chiến thống nhất đất nước, bom đạn Mĩ đã cày nát một phần Hà Nội mà phố Khâm Thiên là hình ảnh hãi hùng nhất. Mười lăm năm sau sau 30-4-1975. nhà cửa đẹp, phố xá sầm uất; người người ăn mặc sang trọng, đã làm thay đổi “phần xác” của Hà Nội. Đúng vậy, và đang thay đổi ngàv một to lớn hơn, hình thức đẹp và hoành tráng hơn. “Còn phần hồn thì chưa”. Để chứng minh cho lời khẳng định ấy, tác giả đã chỉ ra nơi chốn, cách biểu hiện cụ thể: “ở ngoài đường”. Mà đúng vậy. Bản chất, chiều sâu của phần hồn không biểu lộ ở các buổi lễ trang trọng thỉnh thoảng mới được tổ chức bởi không khí của buổi lễ đã toát ra phần hồn buộc người ta phải giữ lễ. Phần hồn tốt hay xấu, lịch sự hay thô lỗ, hiền hòa hay lỗ mãng,... đều được biểu hiện trong “buôn bán, ăn uống, nói năng” “ở ngoài đường” mỗi ngàv. ở ngay sau đoạn trích, tác giả đã chứng minh cụ thể nhận xét ấy của mình về sự ứng xử vô lễ của giới trẻ khi ông đi xe đạp trên đường Phan Đình Phùng; về sự vô cảm đến lạnh lùng hay tâm lí chuộng kẻ giàu sang của người Hà Nội mà ông đã gặp. hỏi đường đi thì có người trả lời, là nói sõng hoặc hất cằm, có người cứ giương mắt nhìn mình như nhìn con thứ lạ”. Những lời mắng chửi, cách ứng xử ở chốn Hà Nội thanh thiên bạch nhật mà tác giả đã gặp không có ở những nơi khác. Nếu quả đúng như thế thì rõ ràng Hà Nội chưa thay đổi phần hồn. Và tất nhiên người Hà Nội chưa là giai tầng “để làm chuẩn cho mọi giá trị”, là mẫu người để cả nước noi theo. Có lẽ lòng cảm thấy đau lắm khi tác giả viết lên điều này. Và người đọc là con dân Việt đau cũng không kém. Cảm ơn  tác giả đã can đảm nói lên sự thật ấy, để không chỉ nhắc nhở người Hà Nội mà còn với người dân cả nước quan tâm đến việc chăm sóc phần hồn, làm cho nó ngày thêm tươi đẹp: Hồn Việt! Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Kế Toán Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, Kế toán Tiền Lương Và Các Khoản Trích Theo Công ty trách nhiệm hữu hạn thiết bị xe nâng Thăng Long

KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ, KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THIẾT BỊ XE NÂNG THĂNG LONG

Bố cục của chuyên đề gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về công ty trách nhiệm hữu hạn thiết bị xe nâng Thăng Long.
Phần 2: Thực trạng một số phần hành kế toán chủ yếu tại công ty trách nhiệm hữu hạn thiết bị xe nâng Thăng Long.
Phần 3: Nhận xét và khuyến nghị về tổ chức quản lý và công tác kế toán tại công ty trách nhiệm hữu hạn thiết bị và xe nâng Thăng Long.

48 Đọc thêm

BÁO CÁO TỔNG HỢP CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CENSTAF GROUP ĐH KHÁO 7

BÁO CÁO TỔNG HỢP CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CENSTAF GROUP ĐH KHÁO 7

Tổng hợp quá trình hình thành và phát triển công ty. Đặc điểm quản lý và đặc điểm kinh doanh của Censtaf Group tại Công ty cổ phần đầu tư thương mại dịch vụ Thăng Long, tổng hợp đặc điểm chung về công tác kế toán tại Censtaf Group với kết cấu nội dung 4 phần Chương 1 : Đặc điểm tổ chức kinh doanh và quản lý tổ chức kinh doanh ở công ty cổ phần đầu tư thương mại dịch vụ Thăng Long.
Chương 2: Hình thức kế toán và tổ chức bộ máy kế toán trong công ty cổ phần đầu tư thương mại dịch vụ Thăng Long.
Chương 3:Đặc điểm một số phần hành kế toán tại công ty cổ phần đầu tư thương mại dịch vụ Thăng Long.
Chương 4: Nhận xét về tình hình tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần đầu tư thương mại dịch vụ Thăng Long.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Giáo án bồi dưỡng HSG ngữ văn 7 cả năm

GIÁO ÁN BỒI DƯỠNG HSG NGỮ VĂN 7 CẢ NĂM

I. Giới thiệu chương trình ngữ văn 7. SGK ngữ văn 7 kết hợp 3 phần: Văn TV TLV nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu riêng có tính tương đối độc lập của mỗi phần.1. Về môn văn. Được sắp xếp theo thể loại văn bản: + Văn thơ trữ tình bao gồm thơ và ca dao.+ Thể loại tự sự.+ Văn bản, tác phẩm văn chương nghị luận.+ Kịch dân gian.+ Văn bản nhật dụng

75 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KẾ TOÁN: KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TOYOTA THĂNG LONG

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KẾ TOÁN: KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TOYOTA THĂNG LONG

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU 2
LỜI MỞ ĐẦU 4
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1. Đặc điểm, vai trò, vị trí của tiền lương và các khoản trích theo tiền lương trong doanh nghiệp. 6
1.1.1.Bản chất và chức năng của tiền lương 6
1.1.2 . Vai trò và ý nghĩa của tiền lương 6
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương 7
1.2. Các hình thức tiền lương trong Doanh Nghiệp 8
1.2.1. Hình thức tiền lương theo thời gian: 8
1.2.2. Hình thức tiền lương theo sản phẩm 9
1.3. Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, quỹ BHYT,và KPCĐ 11
1.3.1 Quỹ tiền lương: 11
1.3.2. Quỹ bảo hiểm xã hội 12
1.3.3 Quỹ Bảo Hiểm Y Tế 12
1.3.4. Kinh phí công đoàn: 13
1.4. Yêu cầu và nhiệm vụ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương. 14
1.5 Hạch toán chi tiết tiền lương và các khoản trích theo lương 14
1.5.1. Hạch toán số lượng lao động: 14
1.5.2. Hạch toán thời gian lao động: 15
1.5.3.Hạch toán kết quả lao động: 16
1.5.4.Hạch toán tiền lương cho người lao động: 16
1.6.Hạch toán tổng hợp và các khoản trích theo lương 17
1.6.1.Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương, BHXH, BHYT,KPCĐ 17
1.6.2. Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương 18
1.7. Hình thức sổ kế toán: 23
PHẦN II: THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TOYOTA THĂNG LONG 29
2.1. Khát quát chung về Công Ty cổ phần toyota Thăng Long 29
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công Ty cổ phần Toyota Thăng Long 29
2.1.2.Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công Ty cổ phần Toyota Thăng Long. 31
2.2. Thực trạng thực hiện công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công Ty cổ phần Toyota Thằng Long 32
2.2.1. Đặc điểm về lao động của Công Ty cổ phần Toyota Thăng Long 32
2.2.2. Phương pháp xây dựng quỹ lương tạicông ty cổ phần toyota Thăng Long 33
2.2.3. Hạch toán các khoản trích theo lương tại Công Ty cổ phần Toyota Thăng Long 36
2.2.4. Các kỳ trả lương của Công Ty cổ phần Toyota Thăng Long 38
2.2.5 Thực tế hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương của Công ty cổ phần Toyota Thăng Long 38
PHẦN III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TOYOTA THĂNG LONG 65
3.1. Nhận xét chung về công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Công Ty Cổ phần Toyota Thăng Long. 65
3.1.1. Nhận xét chung về công tác kế toán của Công Ty. 65
3.1.2. Nhận xét về công tác kế toán lao động tiền lương trích BHXH, BHYT, KPCĐ tại Công Ty. 65
3.1.3 Ưu điểm: 67
3.1.4. Nhược điểm: 69
3.2. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. 70
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Xem thêm

78 Đọc thêm

Tài liệu đề án thực tập về hoàn thiện kế toán nguyên liệu công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

TÀI LIỆU ĐỀ ÁN THỰC TẬP VỀ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGUYÊN LIỆU CÔNG CỤ DỤNG CỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG

Đề án thực tập về hoàn thiện kế toán nguyên liệu công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long, nghiện cứu vấn đề phương pháp để cải thiện hệ thống kế toán trong công ty xây dựng, đặc biệt về vấn đề nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ. I. LỜI MỞ ĐẦU phần I. Những vấn đề lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp xây lắp. phần II. Thực trạng kế toán nguyên vật liệu công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long. phần III. Nhận xét về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần số 4 Thăng Long và một số kiến nghị hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu công cụ dụng cụ tại công ty
Xem thêm

97 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 11 THĂNG LONG

BÁO CÁO THỰC TẬP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 11 THĂNG LONG

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Phạm vi nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Ý nghĩa, đóng góp của đề tài 3
7. Kết cấu đề tài 4
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 11 THĂNG LONG 5
1.1. Khái quát chung về Công ty Cổ phần cầu 11 Thăng long 5
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty CP cầu 11 Thăng Long 5
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của bộ máy Công ty 8
1.2. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1. Khái niệm và các khái niệm liên quan 12
1.2.2. Chủ thể cấu thành và nội dung của quan hệ lao động 12
1.2.3. Hợp đồng lao động 15
1.2.4. Thỏa ước lao động tập thể 18
1.2.5. Kỷ luật lao động 21
1.2.6. Tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động 25
Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 11 THĂNG LONG 28
2.1. Xây dựng mối quan hệ lao động trong Công ty 28
2.1.1. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong Công ty 28
2.1.2. Quan hệ giữa người lao động với người lao động 29
2.2. Việc ký kết hợp đồng lao động trong Công ty 30
2.1.1. Trình tự ký kết và hiệu lực của hợp đồng lao động 30
2.2.2. Quyền lợi, nghĩa vụ hai bên trong Hợp đồng lao động 31
2.3. Thỏa ước lao động tập thể của Công ty Cổ phần cầu 11 Thăng Long 32
2.3.1. Những quy định chung 32
2.3.2. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể 33
2.3.3. Trách nhiệm của người sử dụng lao động và tổ chức Công đoàn trong Thỏa ước lao động tập thể. 34
2.4. Kỷ luật lao động trong Công ty Cổ phần cầu 11 Thăng Long 35
2.4.1. Thực trạng thực hiện kỷ luật lao động trong Công ty 35
2.4.2. Nội dung của nội quy lao động của Công ty. 35
2.4.3. Vi phạm kỷ luật trong Công ty Cổ phần cầu 11 Thăng Long 36
2.5. Tranh chấp lao động trong Công ty Cổ phần cầu 11 Thăng long 38
2.5.1. Tranh chấp lao động cá nhân 38
2.5.2. Tranh chấp lao động tập thể 39
2.6. Những bất bình trong Công ty 39
2.7. Đánh giá chung về thực trạng quan hệ lao động trong Công ty 40
Chương 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 11 THĂNG LONG. 42
3.1. Giải pháp chung cho Công ty 42
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm hai bên trong hợp đồng lao động 43
3.3. Giải pháp về hình thức trả lương 44
3.4. Giải pháp về Quan hệ lao động 44
3.5. Giải pháp về nội quy lao động 45
3.6. Giải pháp về kỷ luật lao động 46
3.7. Một số khuyến nghị đối với Công ty Cổ phần cầu 11 Thăng Long 47
PHẦN KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 52
Xem thêm

56 Đọc thêm

Xây dựng mô hình kinh doanh Nhà hàng Chả cá Thăng Long

XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH DOANH NHÀ HÀNG CHẢ CÁ THĂNG LONG

Đã từ lâu, người Hà Nội vẫn nổi tiếng với văn hóa ẩm thực truyền thống. Trong hàng trăm, hàng ngàn danh sách món ăn của văn hóa ẩm thực cổ truyền đó, sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến món ăn vừa dân dã vừa sang trọng mà thực khách sành ăn hay tìm đến, đó là món chả cá.
Nằm trên con phố nhỏ gần thành cổ Hà Nội, Nhà hàng Chả Cá Thăng Long (số 21- 31 Phố Đường Thành Hoàn Kiếm Hà Nội) chính là một địa chỉ đỏ được nhiều thực khách sành ăn tìm đến. Với tiêu chí duy trì và phát triển ẩm thực cổ truyền dân tộc nhà hàng Chả Cá Thăng Long đã đem đến cho thực khách Hà Thành cũng như thực khách mọi nơi món ăn Chả Cá thơm ngon mà chắc hẳn ai từng được nếm thử sẽ nhớ mãi không quên.
Xem thêm

32 Đọc thêm