TIỂU LUẬN XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU GẠO QUA THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TIỂU LUẬN XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU GẠO QUA THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI":

Luận văn tốt nghiệp tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI

LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Kinh tế ngoại thương đã tạo điều kiện cho em có cơ hội thực hiện bài chuyên đề thực tập cuối khóa “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi”. Em xin đặc biệt cảm ơn thầy Đoàn Trọng Hiếu đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian thực hiện bài chuyên đề này.
Nhờ những sự giúp đỡ trên mà em đã có thể hoàn thành bài chuyên đề này một cách tốt nhất. Tuy nhiên, do bản thân còn hạn chế về kĩ năng, kinh nghiệm thực tế nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để em có thể nâng cao kiến thức và hoàn thiện hơn bài chuyên đề của mình.
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên

Trần Thị Tú Quyên










LỜI CAM ĐOAN
Em là Trần Thị Tú Quyên, sinh viên lớp KTN51ĐC2, khoa Kinh tế trường Đại học Hàng Hải Việt Nam
Em xin cam đoan đồ án tốt nghiệp cuối khóa: “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi” là hoàn toàn được thực hiện với sự tìm tòi, nghiên cứu của bản thân em, dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Đoàn Trọng Hiếu. Em xin chịu trách nhiệm về nội dung của bải chuyên đề này và những quy định của nhà trường.
Sinh viên


Trần Thị Tú Quyên




























































DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Các ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
1 APEC Asia Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương
2 ASEAN The Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
3 ASEM The Asia – Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á Âu
4 CIF Cost Insurance Freight Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
5 EU European Union Liên minh Châu Âu
6 FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations Tổ chức Nông lương thế giới
7 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 FOB Free On Board Giao hàng trên tàu
11 IRRI International Rice Research Institute Viện nghiên cứu lúa quốc tế
10 ISO International Organization for Standardization Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
11 ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang
1.1 Xuất khẩu gạo của Việt Nam mùa vụ 20102011 13
2.1 10 thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam lớn nhất tại châu Phi năm 2011 28
2.2 Các nước châu Phi nhập khẩu gạo Việt Nam 9 tháng đầu năm 2012 29
2.3 Kết quả xuất khẩu gạo sang Châu Phi qua các năm 32










DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hình Tên hình Trang
1.1 Xuất khẩu gạo của Việt Nam từ mùa vụ 2005 đến mùa vụ 2011 12
1.2 Xuất khẩu gạo của thế giới năm 2013 14











LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu nhất định, trước hết phải kể đến lĩnh vực nông nghiệp với thành tựu lớn nhất về phát triển sản xuất và xuất khẩu lúa gạo.
Từ một nước nông nghiệp thiếu đói kéo dài, hiện nay Việt Nam không chỉ tự túc được lương thực ổn định, mà còn vươn lên đẩy mạnh xuất khẩu và trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Thành tựu đó chứng minh đường lối đổi mới nông nghiệp của Đảng nói chung, định hướng chiến lược sản xuất và xuất khẩu gạo nói riêng là đúng đắn.
Đối với Việt Nam xuất khẩu gạo có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó không những thúc đẩy sản xuất phát triển mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động đặc biệt là người nông dân. Ngoài ra, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu là nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, chuyển sang kinh tế thị trường, trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực có nhiều biến đổi, cạnh tranh kinh tế toàn cầu diễn ra hết sức gay gắt, thì vấn đề sản xuất và xuất khẩu một sản phẩm nào đó, đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, có sự tính toán kỹ càng, cẩn trọng thì mới có thể thành công và đạt được hiệu quả tối ưu. Trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập cần giải quyết như vấn đề chất lượng sản phẩm, giá cả ,… Nếu những vấn đề trên được giải quyết một cách hợp lý, xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường Châu Phi sẽ có bước phát triển cao hơn trong thời gian tới.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chuyên đề: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi” được chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi. Từ đó chuyên đề đề xuất ra những giải pháp cụ thể nhằm củng cố, đẩy mạnh và phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi. Đồng thời chuyên đề cũng đưa ra các định hướng, giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường này.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến quý I – 2014
Xem thêm

55 Đọc thêm

Tiểu luận: Mô hình SWOT để xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ

TIỂU LUẬN: MÔ HÌNH SWOT ĐỂ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

Bài tiểu luận dưới đây đã chỉ ra điểm mạnh và điểm yếu của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ, đây là một thị trường đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn. Xem thêm các thông tin về Tiểu luận: Mô hình SWOT để xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ tại đây

57 Đọc thêm

Giải pháp chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu gạo qua châu phi của công ty cổ phần xuất nhập khẩu an giang

GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GẠO QUA CHÂU PHI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU AN GIANG

Giải pháp chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu gạo qua châu phi của công ty cổ phần xuất nhập khẩu an giang

82 Đọc thêm

Xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường châu Phi

XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI

Lúagạo được xác định là cây lương thực thứ hai sau lúa mì trên thế giới, với tỷ trọng khoảng 85% được sản xuất ở các nước châu Á.
Toàn thế giới có khoảng 15 nước xuất khẩu gạo với mức từ 100.000 tấnnăm trở lên và trên 100 nước nhập khẩu gạo. Các nước có lượng gạo xuất khẩu lớn bao gồm: Thái Lan, Ấn Độ, Pakixtan, Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam... chiếm khoảng hơn 70% lượng gạo xuất khẩu của thế giới (Việt Nam hiện là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới khoảng 4,5 triệu tấnnăm sau Thái Lan). Các nước nhập khẩu gạo lớn như Braxin, các nước thuộc khối EU, Inđônêxia, Philippin, Nam Phi, Nigiêria... chiếm khoảng 40% lượng gạo nhập khẩu của thế giới.
Xem thêm

103 Đọc thêm

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO, NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO, NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ1.Tính tất yếu của đề tài ( lý do chọn đề tài )Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại đang là những xu hướng cơ bản của phát triển trên thế giới hiện nay. Đối với Việt Nam, nhất là khi gia nhập tổ chức WTO đã mở ra nhiều cơ hội phát huy lợi thế so sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trường XK, tạo lập môi trường thương mại mới nhằm trao đổi hàng hóa – dịch vụ, kỹ thuật và thông tin.Việt Nam là một nước có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, nông sản phong phú và có giá trị, cộng thêm điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi đã tạo điều kiện cho sản xuất lúa gạo, và gạo đã trở thành mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam. Sau khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia WTO vào cuối năm 2006, xuất khẩu nông sản mà đáng chú ý là lúa gạo đã đạt được những thành tựu nổi bật: Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan).Bên cạnh những thành tựu và cơ hội đó, hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu và rộng, xuất khẩu gạo của Việt Nam đang phải đối đầu với những thách thức lớn: thị trường không ổn định, xu hướng cạnh tranh của các nước mới xuất khẩu gạo ngày càng gay gắt. Bên cạnh đó lợi ích của người nông dân sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu không được đảm bảo. Điều đó khiến cho hiệu quả của xuất khẩu gạo của Việt Nam còn thấp, thiếu tính bền vững. Xuất phát từ thực tế đó, nhóm chúng em phân tích đề tài “thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam sau gia nhập WTO”. 2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:Nhằm tìm hiểu về tình hình Xuất Khẩu gạo của Việt Nam sau khi gia nhập WTO và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng gạo Xuất Khẩu.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu3.1 Đối tượng nghiên cứu: Xuất khẩu gạo của Việt Nam sau khi gia nhập WTO3.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam4. Phương pháp nghiên cứu:Phương pháp thu thập và xử lý số liệu từ nguồn số liệu thứ cấp.Phương pháp so sánh: so sánh giữa các năm và giữa Việt Nam và cá nước trên thế giới.Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨUChương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu1.1. Cơ sở lý luận:1.1.1 Khái niệm Xuất Khẩu:Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.Vậy xuất khẩu là việc bán hàng hoá (hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).1.1.2 Khái niệm tổ chức thương mại thế giới WTOWTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization). WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 1541994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 111995.Việt Nam gia nhập vào WTO vào ngày 1112006 và là thành viên thứ 150 của WTO.1.2 Cơ sở thực tiễn1.2.1 Tổng quan về thị trường gạo thế giới trong những năm qua Các nước Xuất – Nhập Khẩu chính trên thế giới:Bảng 1: 10 nước Xuất – Nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới năm 2011dự đoán cho năm 2012. Từ bảng 1, ta thấy: các nước sản xuất gạo trên thế giới giai đoạn 2011 và dự báo cho năm 2012 tập trung chủ yếu ở châu Á và một số nước khác. Cụ thể hơn là những nước có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn như: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan.Các nước nhập khẩu gạo lớn là Indonesia, Nigeria, Iran hay các nước ở thị trừơng EU….và nhiều nước đang có chiều hướng gia tăng về sản lượng tiêu thụ.Bảng 2: Tổng quan thị trường gạo thế giới trong những năm gần đây:201112201213(ước tính)201314(dự báo)% thay đổi 201314 so với 201213Sản lượng486,1489,9494,10,9Thương mại38,437,637,40,5Tổng tiêu thụ470,6476,64892,6thực phẩm395,9402,4409,91,9Dự trữ161174,5179,83Toàn thế giới56,456,656,90,5Các quốc gia thiếu lương thực, thu nhập thấp70,170,170,50,6 Tổng quan thị trường gạo thế giới từ bảng số liệu trên ta thấy được rằng sản lượng gạo năm 2011 đạt 486,1 triêu tấn, ước tính đến năm 2012 đạt khoảng 489,9 triệu tấn có nghĩa là tăng khoảng 3,8%. Đến năm 2013 sản lượng đạt 494,1 triệu tấn điều này làm thay đổi % sản lượng 2013 so với 2012 là 0,9% và 2013 so với 2014 vẫn là 0,9%.Về thương mại có xu hướng giảm dần qua các năm cho đến năm 2013 lượng % thay đổi giảm 0,5%. Tổng tiêu thụ thị trường gạo thế giới thay đổi 2,6% trong năm 2013 so với 2012 và 2013 so với 2014.Thị trường xuất khẩu gạo.Trong những năm vừa qua, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam là những quốc gia xuất khẩu gạo chính, chiếm tới 71,81% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu. Biểu đồ 1: Doanh số xuất khẩu gạo ước tính năm 2012 của 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Xuất khẩu gạo Việt Nam từ đầu năm 2011 đạt kỉ lục gần 7,7 triệu tấn gạo, vượt mức kỷ lục 7,1 triệu tấn xuất khẩu trong cả năm 2010. Với khối lượng xuất khẩu như vậy, Việt Nam chính thức vượt qua Thái Lan. Cũng trong năm nay, Ấn Độ vươn lên là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Xuất khẩu gạo Ấn Độ tăng mạnh nhờ cạnh tranh giá cả và việc nước này dỡ lệnh cấm xuất khẩu gạo phi basmai hồi tháng 92011. Việt Nam xếp ở vị trí thứ 2 về xuất khẩu và Thái Lan rơi xuống vị trí số 3.Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Ấn Độ đứng đầu về xuất khẩu gạo trong hai năm liên tiếp, với tổng khối lượng xuất khẩu năm 2013 đạt 9,61 triệu tấn, tiếp tục nới rộng khoảng cách với các nước xuất khẩu lớn khác.Tuy nhiên, nếu so với mức xuất khẩu kỉ lục của năm 2012, xuất khẩu gạo của Ấn Độ vẫn giảm gần 9,8%.Việt Nam đứng vị trí thứ ba về xuất khẩu gạo, với khối lượng thấp hơn không nhiều so với Thái Lan, đạt 6,74 triệu tấn, giảm 12,9% so với năm 2012. Thị trường nhập khẩu gạo:Các nước nhập khẩu gạo lớn nhất có thể kể đến là: Trung Quốc, Phillipines, Indonesia. Vào đầu năm 2012: Trung quốc đã vượt lên trở thành nước nhập khẩu gạo với khối lượng lớn nhất của Việt Nam, vượt khá xa so với Phillipines. Thị trường nhập khẩu xếp thứ 3 là Châu Phi, chiếm gần 12%, Cuba chiếm gần 6%. Ngoài nhu cầu từ phillipines, cần chú ý là thị trường Indonesia và Malaysia. Tiếp đến là nhập khẩu từ Trung Quốc, Châu Phi.Từ cơ cấu thị trường tiêu thụ hay xuất nhập khẩu của lúa gạo trong những năm qua, ta rút ra được nhận xét sau:Việt Nam cần tăng cường xuất khẩu gạo cho những thị trường chính như Trung Quốc, Indonesia, EU… và tìm kiếm thêm thị trường cạnh tranh, đồng thời cần nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu để có thể cạnh tranh với các nước xuất khẩu lớn như Thái Lan, Ấn Độ…1.2.2 Tổng quan về thị trường gạo Việt Nam những năm gần đây12.2.1 Về giá cảTháng 92014: Tại miền Bắc, giá thóc tẻ thường tháng 92014 ổn định, giá gạo tẻ thường tăng khoảng 500 đồngkg so với tháng 82014, dao động phổ biến ở mức 8.00013.000 đồngkg.Tại Nam Bộ, giá lúa, gạo thành phẩm xuất khẩu tháng 92014 giảm so với tháng 82014: giá lúa dao động ở mức 5.1005.900 đồngkg, giảm khoảng 200 đồngkg; gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm giá trong khoảng 8.9009.250 đồngkg, giảm khoảng 150 đồngkg, loại 25% tấm giá khoảng 7.9508.400 đồngkg, giảm khoảng 50 đồngkg.Bảng 3: Giá gạo 9 tháng đầu năm 2013 của miền Bắc và miền Nam so với 9 tháng đầu năm 2014.ThángMiền BắcNam BộThóc tẻ thườngGạo tẻ thườngThóc tẻ thườngGạo thành phẩm 5% tấmGạo thành phẩm 25% tấm9 tháng đầu năm 20146.0008.5008.00013.0004.7506.2007.7509.2507.2008.4009 tháng đầu năm 20136.0008.5008.00012.5004.6006.2007.1508.5006.4507.7009T2014 so với 9T2013Ổn địnhTăng 500Tăng 150Tăng 600900Tăng 700750Từ bảng trên ta thấy: Giá gạo 9 tháng đầu năm 2014 so với 9 tháng đầu năm 2013 có xu hướng tăng lên, gạo Tẻ thường tăng cao nhất, tăng 500 đồng so với cùng kì. 1.2.2.2 Về sản lượng và diện tích gieo trồngBảng 4: diện tích gieo trồng lúc trong cả nước (tổng cục thống kê 2009)20002001200220032004200520062007200876667492.77504.37452.27445.37329.27324.87207.47414Qua số liệu ở bảng 4 cho thấy diện tích gieo trồng lúa cả nước qua các năm bị thu hẹp dần từ 2000 đến năm 2008 giảm đi 252 nghìn ha, nguyên nhân có thể do quá trình độ thị hóa biến đất ruộng thành đô thị hoặc do một số vùng canh tác cây lúa không hiệu quả.Bảng 5: Sản lượng thóc cả nước Đơn vị: 1000 tấnNămTổng sốĐông xuânHè thumùa200334568.816822.79400.88345.3200436148.917078.010430.98640.0200535832.917331.610436.28065.1200635849.517588.29693.98567.4200735942.717024.110140.88777.8200838725.118325.511414.28985.4Nguồn: tổng cục thống kê 2009Mặc dù diện tích gieo trồng lúa bị thu hẹp qua các năm nhưng nhìn chung: nhờ áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất cộng với trình độ thâm canh cao của người nông dân mà năng suất và sản lượng lúa nước ta vẫn tăng đều qua các năm.Bên cạnh đó ta thấy được sản lượng lúa cả nước ở vụ Đông Xuân chiếm sản lượng lớn nhất trong tổng số lượng thóc cả nước, vì vậy nước ta nên tăng diện tích gieo trồng trong vụ Đông Xuân.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Luận án tiến sỹ - Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2020

LUẬN ÁN TIẾN SỸ - PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO ĐẾN NĂM 2020

TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN:
Công cuộc đổi mới nền kinh tế của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Lào được tiến hành theo hướng mở cửa, đã và đang mang lại những thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực mới cho nền kinh tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để Lào đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền kinh tế của khu vực và thế giới. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội VIII của DNDCM Lào đã khẳng định: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực và ngoại lực thành nguồn lực tổng thể để phát triển đất nước”. Theo chủ trương đó, Đảng và Nhà nước Lào đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế và xuất nhập khẩu hàng hoá. Sự kiện CHDCND Lào trở thành thành viên của ASEAN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển quan hệ đối ngoại cũng như phát triển kinh tế xã hội, đã khẳng định được một quốc gia Lào đang từng bước hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế.
Quá trình đổi mới nền kinh tế sau hơn 30 năm từ một nền kinh tế “tự cung, tự cấp”, đến nay nền kinh tế CHDCND Lào đã có những bước phát triển vượt bậc với tốc độ phát triển kinh tế đạt được 7,7 %/năm, trong đó lĩnh vực nông lâm 3,6%, công nghiệp 13,7%, dịch vụ 7,8%. Bên cạnh đó, mức thu nhập bình quân đầu người năm 2009-2010 đạt 961 USD/năm, cơ cấu kinh tế có sự phát triển vượt bậc, trong năm 2009-2010 ngành nông-lâm chiếm 29,9% của GDP, ngành công nghiệp chiếm 24,6 % của GDP, ngành dịch vụ chiếm 38,5% của GDP, và kim ngạch xuất khẩu năm 2008-2009 đạt 1.124,4 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là Cà phê, hàng nông sản, điện, khoáng sản, sản phẩm gỗ, dệt may và mặt hàng khác [4].
Sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khi nước CHDCND Lào chuyển đổi từ nền kinh tế “tự cung, tự cấp” sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là một thành tựu quan trọng của chính sách mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và mở rộng thị trường xuất khẩu phục vụ phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Lào. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập này, nền kinh tế “non trẻ” của Lào cũng phải đối mặt với vô vàn những khó khăn, thách thức từ quá trình hội nhập. Trước hết là các biến động tài chính thế giới, trong đó gần đây nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực tới tốc độ phát triển kinh tế của CHDCND Lào. Đứng trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế, các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm đảm bảo sự an toàn cho nền kinh tế của mình, điều này đã tác động tiêu cực đến tình hình xuất khẩu của Lào trong vài năm trở lại đây. Từ đó dẫn tới, thị trường xuất khẩu của Lào bị thu hẹp làm cho kim ngạch xuất khẩu bị giảm mạnh. Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, thị trường xuất khẩu hàng hoá đóng một vai trò quan trọng và tất yếu, nó là một trong những yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển của bất kỳ một nền kinh tế nào.
Tuy nhiên, Chính phủ Lào đã nỗ lực triển khai và thực hiện các chính sách khuyến khích thúc đẩy sản xuất trong nước nhằm đáp ứng sự tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu. Nền nông nghiệp của Lào đã từng bước tăng trưởng về sản xuất, tiêu dùng và đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa vượt qua nhiều khó khăn, thách thức trong công cuộc hội nhập kinh tế toàn cầu. Hiện, nhiều mặt hàng hóa xuất khẩu chủ lực như cà phê, gạo, gỗ và các sản phẩm về gỗ đã và đang từng bước khẳng định được vị trí trên trường quốc tế. Tuy nhiên, cho đến nay, kim ngạch xuất khẩu của Lào vẫn còn thấp và kém so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nhiều mặt hàng xuất khẩu dường như vẫn không thể cạnh tranh được về cả giá và chất lượng. Thị trường xuất khẩu của Lào không ngừng được mở rộng trên khắp các châu lục (châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ) nhưng mức độ thâm nhập sâu vào thị trường còn hạn chế. Nhằm tận dụng khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng ngành nông nghiệp, cần phải khai thác và mở rộng hơn nữa thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Lào.
Trước thực trạng mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, tăng cường khả năng cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Lào trong quá trình mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới, đề tài luận án “Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2020” mang tính cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp một phần quan trọng vào việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Lào, mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Xem thêm

191 Đọc thêm

Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty TNHH thắng lợi

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI CÔNG TY TNHH THẮNG LỢI

Ngày nay dưới sự hoạt động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế từng quốc gia và thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế và hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng phong phú và đang trở thành một trong những nội dung cực kỳ quan trong quan hệ quốc tế. trong đó hình thức xuất khẩu là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất, là hoạt động kinh doanh quốc tế cơ bản của một quốc gia, tạo ra nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước.
Đối với Việt Nam, đảng ta cũng khẳng định chiến lược phát triển kinh tế của việt nam là: “xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”.với chiến lược đó đảng và nhà nước ta đã thực hiện dần từng bước, từ tham ra asian, ra nhập afta, dự kiến đến tháng 6( hoặc tháng 11) năm nay việt nam gia nhập WTO.
Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống bằng nghề nông. Nền nông nghiệp việt nam đã có một quá trình phát triển lâu dài và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó là cơ sở và tiền đề vừa là thị trường tiêu thụ vừa là nơi cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp đưa đất nước tiến lên công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Sản xuất nông nghiệp của việt nam không những đã đáp ứng cho nhu cầu của nhân dân trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới( việt nam là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới).
Trong tình hình toàn cầu hóa hiện nay, để nhanh chóng hội nhập và nắm bắt những cơ hội mới, một doanh nghiêp sản xuất để phục vụ xuất khẩu là chính, công ty TNHH Thắng lợi đã xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty là lợn sữa đông lạnh xuất khẩu đã ra đời.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Vận dụng phương pháp thống kê phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến sản lượng xuất khẩu gạo tại Việt Nam giai đoạn 1995-2014

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN SẢN LƯỢNG XUẤT KHẨU GẠO TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2014

1.Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của đất nước. Việt Nam từ một nước đói nghèo đã vươn lên trở thành một nước không những cung cấp đủ gạo cho tiêu dùng nội địa mà còn đứng thứ 2 trên thế giới, sau Thái Lan về xuất khẩu gạo. Có thể nói, cho đến nay, kinh nghiệm và kỹ thuật trồng lúa nước của nước ta đã đạt đến một trình độ khá cao cộng với sự phát triển của công nghệ sinh học và sự đầu tư thích đáng về thủy lợi, giao thông thì nghề trồng lúa nước rõ ràng là một lợi thế lớn của ngành nông nghiệp nước ta.
Nếu trên thế giới, diện tích đất trồng lúa chiếm 22% diện tích đất canh tác thì ở Việt Nam tỷ lệ này là 87%. Diện tích đất trồng lúa nước ta phân bố chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng và hầu hết là đất trồng lúa nước. Sở dĩ Việt Nam là nước sản xuất nhiều lúa gạo là do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng lúa nước.
Với những lợi thế của mình về điều kiện thiên nhiên cũng như số lượng lao động dồi dào, thị trường gạo của Việt Nam vẫn không ngừng phát triển, mang lại nguồn lương thực cũng như giá trị xuất khẩu lớn cho đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những vấn đề, những thách thức đối với lĩnh vực xuất khẩu gạo tại Việt Nam. Với mong muốn chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng gạo xuất khẩu nhằm tìm ra những những yếu điểm, những tồn tại để đưa những phương hướng và chiến lược phát triển ngành xuất khẩu lúa gạo cho đất nước, em xin chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp thống kê phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đếnsản lượng xuất khẩu gạo tại Việt Nam giai đoạn 1995-2014”.
Xem thêm

79 Đọc thêm

Xuất khẩu gạo ở đồng bằng sông cửu long trong điều kiện việt nam là thành viên của WTO

XUẤT KHẨU GẠO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúa/gạo được xác định là cây lương thực thứ hai sau lúa mì trên thế giới,
với tỷ trọng khoảng 85% được sản xuất ở các nước châu Á. Ngày nay, do sự gia
tăng dân số một cách nhanh chóng (nhất là ở châu Phi và một số nước ở châu Á),
trong khi diện tích đất dành cho canh tác lúa ngày càng bị thu hẹp, nên nhu cầu về
lương thực, đặc biệt là gạo ngày càng tăng đối với nhiều quốc gia. “Theo đánh giá
của các chuyên gia của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp quốc
(Food and Agriculture Organization - FAO), nhu cầu lương thực thế giới tăng
64% vào năm 2020, trong đó nhu cầu của các nước đang phát triển tăng gấp đôi,
còn Trung Quốc phải nhập khẩu hơn 200 triệu tấn lương thực vào năm 2030”.
Ở Việt Nam, kể từ năm 1989, sản xuất lúa gạo không những đáp ứng
đủ nhu cầu trong nước, mà còn bắt đầu xuất khẩu ra nước ngoài. Với tốc độ
tăng trưởng sản xuất lúa gạo cao và ổn định, khả năng xuất khẩu của Việt
Nam (chủ yếu là của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long - ĐBSCL) tăng dần
qua các năm - tính đến hết năm 2013, Việt Nam đã cung ứng khoảng 110
triệu tấn gạo cho thị trường thế giới. Xuất khẩu gạo (XKG) tăng cao về khối
lượng và kim ngạch, đã đưa mặt hàng gạo trở thành một trong những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, không những đóng góp quan trọng vào
kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thúc đẩy phát triển triển kinh tế - xã hội…
mà còn dần khẳng định vị thế của Việt Nam trên thị trường gạo thế giới: thị
trường XKG của Việt Nam đã mở rộng tới trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ,
ở tất cả các châu lục. Tháng 10, năm 2012 Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 1
về khối lượng gạo xuất khẩu (GXK) (trên Thái Lan và Ấn Độ).
Tuy vậy, hiện nay trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế sâu
rộng, đặc biệt là Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương
mại thế giới (World Trade Organization - WTO) vào ngày 11-01-2007, xuấtkhẩu gạo của nước ta phải đương đầu với những khó khăn, thách thức lớn,
như: thị trường không ổn định, cạnh tranh của các nước mới XKG (Ấn Độ,
Pakistan…) ngày càng gay gắt; hơn nữa GXK của nước ta kém lợi thế trong
cạnh tranh do chất lượng thấp, chưa có thương hiệu, nên giá GXK của Việt
Nam nhìn chung là thấp hơn của Thái Lan. Bên cạnh đó, lợi ích của người
nông dân sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu không được đảm bảo, thường bị
thua thiệt, nông dân sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu còn nghèo… Điều đó
khiến cho hiệu quả XKG của Việt Nam còn thấp, thiếu tính bền vững. Mặt
khác, trong những năm gần đây, tình hình sản xuất gạo trong nước có nhiều
khó khăn vì thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, do bị ảnh hưởng nặng nề
của biến đổi khí hậu, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, nước biển xâm nhập sâu
do hạn hán, bão, lũ, thiên tai ngày càng nhiều. Tình hình đó tác động không
nhỏ đến hoạt động XKG của ĐBSCL. Vì thế, việc nghiên cứu để tìm ra
phương hướng, biện pháp nhằm đẩy mạnh XKG của ĐBSCL cũng như của
Việt Nam sau khi Việt Nam là thành viên của WTO là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn
vấn đề: "Xuất khẩu gạo ở Đồng bằng Sông Cửu Long trong điều kiện Việt
Nam là thành viên của WTO" làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về xuất khẩu hàng hóa
(XKHH) nói chung, XKG nói riêng, luận án đánh giá thực trạng hoạt động
XKG của ĐBSCL trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO. Từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh XKG ở vùng này trong giai đoạn mới
của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) giai đoạn 2014 - 2020.
2.2. Nhiệm vụ
(1)Trình bày các vấn đề lý luận về xuất khẩu gạo trong điều kiện thực
hiện các cam kết khi gia nhập WTO.
Xem thêm

197 Đọc thêm

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GẠO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GẠO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Trong 5 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thế giới đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, giảm cả về lượng và giá tạ. Phải làm gì để tháo gõ khó khăn, đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong thời gian tới? Đây là vấn để luôn dược dặt ra cho các co quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cúu, Hiệp hội Lương thục Việt Nam và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Trên cơ sở phân tích thực trạng xuất khẩu gạo trong những tháng đẩu năm, nguyên nhân sụt giảm và các thị trường nhập khẩu chủ yếu, bài viết dề xuất một số biện pháp đối với cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp, hiệp hội nhằm góp phẩn đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong thời gian tới một cách bền vững.
1. Tinh hlnh xuât khẩu gạo Kết quả xuất khẩu

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến hết tháng 5 năm 2015, xuất khẩu gạo của cả nước đạt 2,081 triệu tấn, tri giá FOB đạt gán 875 triệu USD, giảm 10,71% vé lượng và 13,6% vẽ tri giá so với cùng kỳ năm 2014.

Trong đó, lượng gạo trong các hợp đổng xuất khẩu đã ký đạt 3,529 triệu tấn, giảm 7,69% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, hợp đổng tập trung (ký giữa các đẩu mối do Chính phủ chỉ định) đạt

798.000 tấn (chiếm 22,61%), hợp đổng thương mại (B2B) dạt 2,731 triệu tấn (chiếm 77,39%). Lượng gạo chưa giao hàng theo hợp đổng là 1,448 triệu tấn; trong đó, hợp đổng tập trung chiếm

220.000 tấn, hợp đổng thương mại chiếm 1,228 triệu tấn.
Tổn kho doanh nghiệp đạt 1,598 triệu tấn. Trong đó, Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinatood 2) tổn 605.949 tấn, Tổng Công ty Lương thực miền Bắc (Vinatood 1) tổn 105.000 tấn và các doanh nghiệp khác tổn 887.771 tấn.

Cơ cấu, chủng loại gạo xuất khẩu Trong 5 tháng dầu năm, xuất khẩu gạo cao cấp và gạo thơm là chủng loại gạo xuất khẩu chủ lực, chiếm khoảng 52,86% tổng lượng gạo xuất khẩu, trong đó so với cùng kỳ năm 2014, lượng gạo cao cấp xuất khẩu tăng 30%, gạo thơm tăng 10%, gạo lứt các loại tăng 413%.

Cơ cấu thi trưởng xuất khẩu Châu Á Thái Bình Dương tiếp tục là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, đạt 1,5 triệu tấn, giảm 15,69% so với củng kỳ 2014 (1,786 triệu tấn) với kim ngạch đạt trên 656 triệu USD, giảm 25% so vói củng kỳ (887 triệu USD), khẩu), tăng 0,12% so với cùng kỳ năm 2014. chiếm tỷ trọng 72% vê lượng (2.081 triệu tấn) và Số liệu cụ thể xin tham khảo:
Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu gạo sang các thị trường khu vực Châu Á Thái Bình Dương

5 tháng 2015
Đơn vị: USD, %
Tên nướcKhu vực 5 tháng 2014 ước 5 tháng 2015 Tăng giảm so với cùng kỳ
Inđônêxia 2,240,500 2,407,687 7%
Malaixia 34,581,560 70,070,255 103%
Philippin 254,444,349 190,579,106 25%
Xinhgapo 46,240,014 26,786,891 42%
Úc 1.798.499 1.831.438 1,83%
NZ 215.819 208.811 3%
Hàn Quốc 00. 0000 00.00
Nhật Bản 162.358 41562,5 74%
Trung Quốc 498,382,974 337,289,260 32.3%
Hong Kong 39,460,571 22,633,188 42.6%
1 Đài Loan 12,384,616 6,445,941 48%
Tổng cộng 887,734,746 656 212,328 25%

Nguổn: TCHQ VN;
75% tổng kim ngạch gạo xuất khẩu ra thế giói (874 triệu USD).

Trong đó, Trung Quốc vân là thị trưởng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt 762.601 tấn, giảm 24,07% so với cùng kỳ, chiếm 36,65% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nưổc. Thị trường Philippines nhập khẩu từ Việt Nam 366.000 tấn, giảm 26,77% so vói cùng kỳ. Malaysia nhập khẩu từ Việt Nam 174.000 tấn tăng 208% so với cùng kỳ năm 2014.

Xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trưòng Châu Phi đạt 287.907 tấn (chiếm 13,84% tổng lượng gạo xuất khẩu), tăng 17,42% so vối năm 2014. Xuất khẩu gạo sang thị trưòng Châu Mỹ đạt 220.481 tấn (chiếm 10,59% tổng lượng gạo xuất
2.Tình hình sản xuất, tạm trữ gạo trong nưỏc Sản xuất lúa, gạo

Tổng sản lượng lúa vụ Đông Xuân 20142015 vùng Đổng bằng sông cửu Long đạt khoảng 11,865 triệu tấn, sản lượng gạo hàng hóa khoảng 4,3 triệu tấn. sản lượng vụ Hè Thu 2015 theo kế hoạch dự kiến đạt 9,092 triệu tấn thóc, sản lượng gạo hàng hóa đạt khoảng 3,146 triệu tẩn. sản lượng vụ Thu Đông 2015 theo kế hoạch ước đạt 4,32 triệu tấn, sản lượng gạo hàng hóa khoảng 1,1 triệu tấn. Tổn kho năm 2014 chuyển sang khoảng

700.000 tấn. Như vậy, không kể tổn kho 1 triệu tấn cuối năm 2015 để gối đầu cho năm 2016 thì lượng gạo hàng hóa từ nay đến cuối năm 2015 cần tiêu thụ cho người nông dân khoảng 6 triệu tấn gạo
Xem thêm

8 Đọc thêm

Tiểu luận marketing nông nghiệp xuất khẩu hạt điều Việt Nam

TIỂU LUẬN MARKETING NÔNG NGHIỆP XUẤT KHẨU HẠT ĐIỀU VIỆT NAM

Mục lục I. Đặt vấn đề……………………………………………………………………..21.1 Tính cấp thiết………………………………………………………………..21.2 Mục tiêu……………………………………………………………………...3II. Nội dung………………………………………………………………………32.1 Cơ sở lý luận………………………………………..………………………..32.2 Giới thiệu về cây điều……………………………………………………….42.3 Tình hình nhập khẩu điều thô và xuất khẩu điều của Việt Nam………...52.3.1 Tình hình xuất khẩu điều của Việt Nam……………………………….. 52.3.2 Tình hình nhập khẩu điều thô từ Châu Phi để chế biến………………..72.4 Chiến lược sản phẩm (Product) …………………………………………...82.5 Chiến lược giá cả (Price)…………………………………………………...11III. Kết luận…..…………………………………………………………………123.1 Nhận xét chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả điều Việt Nam……..123.2 Một số khuyến nghị tăng sức cạn tranh cho điều trên thị trường quốc tế qua chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả...………………………………123.3 Kết luận………………………………………………………………………13Tài liệu tham khảo……………………………………………………………....14I. ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Tính cấp thiếtNước ta là nước thuần nông nghiệp, trong hàng thế kỷ qua, nghành nông nghiệp nước nhà đã tạo ra không ít nông sản góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế. Đăc biệt trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nông sản hàng hóa đóng vai trò chủ đạo với những mặt hành xuất khẩu như cà phê,
Xem thêm

17 Đọc thêm

Hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu lâm sản của Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà nội

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU LÂM SẢN CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT VÀ XUẤT NHẬP KHẨU LÂM SẢN HÀ NỘI

Ngày nay với nền kinh tế thị trường đang là một vấn đề có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp.Hầu như tất cả các nước trên thế giới đã và đang đi theo hướng phát triển của kinh tế thị trường.Trong nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh giữa các công ty là rất khốc liệt.Một nhà sản xuất,kinh doanh muốn đứng vững trong nền kinh tế thị trường,muốn tìm kiếm được lợi nhuận thì không thể không cạnh tranh với các đối thủ của mình mà trong đó có ít nhất hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự thành công hay thất bại của công ty là:tổ chức quản lý sản xuất và tiếp cận thị trường.Bất kỳ một công ty nào hoạt động trong một thị trường mà ở đó có sự cạnh tranh khốc liệt đều nhận thấy một điều là chiến lược kinh doanh mà bộ phận trọng yếu của nó là chiến lược Marketing là nguyên nhân dẫn tới sự thành bại của công ty.Do vậy,hầu hết các nhà quản trị Marketing đều dành phần lớn thời gian và công sức cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh,chiến lược Marketing của công ty mình.
Qua quá trình thực tập khảo sát tại Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà nội và nhận thấy được tầm quan trọng của vịêc hoạch định chiến lược Marketing trong lĩnh vực xuất khẩu,tôi lựa chọn đề tài”Hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu lâm sản của Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà nội.”
Giới hạn nghiên cứu:
Hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu là một đề tài phức tạp và liên quan đến nhiềuvấn đề của một doanh nghiệp.Với thời gian nghiên cứu và khả năng của bản thân có hạn nên việc giải quyết toàn diện và triệt để đề tài là khó có thể thực hiện được.Do vậy đề tài được giới hạn trong những vấn đề cơ bản của việc hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu đó là:quá trình lựa chọn và các quyết định về sản phẩm,giá,phân phối và xúc tiến thương mại của công ty.


Phương pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu các nội dung và thực hiện mục đích của đề tài,các phương pháp cơ bản được sử dụng khi hoàn thành chuyên đề này là:
Phương pháp tiếp cận hệ thống biện chứng,logic và lịch sử.
Phương pháp tiếp cận thực tiễn các vấn đề lý luận.
Phương pháp hiệu quả và hiệu năng tối đa.
Kết cấu của chuyên đề:
ChươngI.Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu của công ty kinh doanh trong điều kiện thương mại quốc tế hiện nay.
ChươngII.Phân tích và đánh giá thực trạng hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu lâm sản của Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà nội trong thời gian qua.
ChươngIII.Những đề xuất nhằm hoàn thiện việc hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu lâm sản tại Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Hà nội.
Xem thêm

53 Đọc thêm

Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo

LỢI THẾ SO SÁNH CỦA VIỆT NAM TRONG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GẠO

MỤC LỤCPhần 1: Cơ sở lý luận về lý thuyết lợi thế so sánh21. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo21.1 Quy luật lợi thế so sánh21.2 Lợi thế so sánh và lý thuyết giá trị của lao động32. Sự phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo32.1 Thương mại trong thế giới có một yếu tố sản xuất32.2 Lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều mặt hàng42.3 Lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều nước4Phần 2: Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo51. Những ưu thế của Việt Nam trong sản xuất và xuất khẩu gạo so với các nước trên thế giới51.1 Vị trí địa lí là một ưu thế nổi trội51.2 Đất đai – nguồn tài nguyên quý giá51.3 Điều kiện tự nhiên, khí hậu và sinh thái61.4 Nguồn lực62. Tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo hiện nay của Việt Nam7Phần 3: Một số kiến nghị tăng lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo121. Cần có sự hỗ trợ về thông tin về thị trường122. Nghiên cứu ra các giống lúa mới123. Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất133.1 Áp dụng 3 giảm, 3 tăng133.2 Đưa cơ giới hoá vào sản xuất14KẾT LUẬN15DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO16 LỜI MỞ ĐẦUNgày nay, trước xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, mỗi quốc gia đều có cơ hội khai thác tối đa lợi thế so sánh của mình để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển với thế mạnh là nước nông nghiệp xuất khẩu gạo, đang dần được các thị trường lớn công nhận. Lợi thế cạnh tranh về xuất khẩu lúa gạo đang ở vị trí cao. Sản xuất tăng trưởng nhanh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, để giữ vững và phát triển thị phần mặt hàng gạo có hiệu quả tối ưu trong thị trường khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung, Việt Nam cần có những chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy những lợi thế so sánh, đồng thời khắc phục những khó khăn, hạn chế trong thời gian tới.Vì vậy, việc tìm hiểu về lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu mặt hàng gạo là vấn đề cần thiết trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Xuất phát từ lý do trên, chúng em chọn vấn đề: “Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo” làm đề tài của tiểu luận.Kết cấu tiểu luận gồm: Ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm 3 phầnPhần 1: Lý thuyết lợi thế so sánh của David RicardoPhần 2: Lợi thế so sánh của Việt nam trong xuất khẩu sản phẩm gạoPhần 3: Một số kiến nghị tăng lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạoChúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giảng dạy của TS Nguyễn Xuân Thiên. Rất mong nhận được sự góp ý và ủng hộ của thầy.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Thực trạng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng điện tử Việt Nam

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

Cùng với những nhành tũy trong sự nghiệp đổi và phát triển kinh tế. Thị trường hàng điện tử đã có những thay đổi mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và ngày càng có vị chí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Các sản phẩm điện tử không ngừng tăng lên, chủng loại ngày càng phong phú và đa dạng. từ thị trường nhập khẩu hoang toàn đã chuyển sang thị trường tự sản xuất, đã có sản phẩm điện tử xuất lkhẩu và kim ngạch xuất khảu tăng trong vài năm gần đây.
Sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại đã tác động đến sự phát teiển hàng điện tử ở việt Nam, điều này vừa tạo điều kiện thuận lợi vùa gây khó khăn cho sự phát triển thị trường hàng điện tử việt nam. Do vậy mà Việt Nam phải xây dựng một chiến lược (đi tắt )để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường hàng điện tử vững mạnh sức mạnh cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới
Để có thể góp một ý kiến chung vào việc tiòm hiểu đánh giá và cụng để nâng cao khả năng chuyên nghành của mình em đã chọn đề tài “ Thực trạng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng điện tử Việt Nam”
Tiểu luận của em gồm ba phần chính:
I. Lí luận chung về xuất khẩu
II. Thực trạng sản xuất, xuất khẩu hàng điện tử Việt Nam
III. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng điện tử Việt Nam.
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC BIẾN ĐỘNG GIÁ GẠO TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

TIỂU LUẬN CAO HỌC BIẾN ĐỘNG GIÁ GẠO TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

A. MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế chung của thế giới, Việt Nam đang mở cửa và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới mà biểu hiện cụ thể là việc chúng ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường ngoài những mặt tích cực không thể phủ nhận thì chúng ta có thể nhận thấy thị trường trong nước luôn biến động đặc biệt là sự thất thường về giá cả của các mặt hàng thiết yếu trong đó phải kể đến gạo. Trước tới nay, lương thực thực phẩm mà nhất là gạo luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào, nước ta cũng không là ngoại lệ. Dạo gần đây tình hình giá cả mặt hàng gạo đang rất được quan tâm. Do giá gạo liên tục biến động cũng như do những tin đồn xung quanh vấn để thiếu, đủ gạo. Những tác động đó làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như hành vi của người tiêu dùng. Điều đó góp phần không nhỏ trong việc giá gạo biến động mạnh. Ngoải ra, việc hạn chế xuất khẩu gạo cũng làm cho người tiêu dùng tin rằng sức cung gạo không đủ cung ứng cho thị trường trong nước nên mới phải hạn chế xuất khẩu ra thị trường thế giới. Do đó ta cũng nhận thấy rằng quan hệ cung cầu về gạo hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng được bàn luận nhiều trong các chương trình thời sự trong nước cũng như quốc tế và trên cả những bài báo thường nhật.Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Biến động giá gạo trên thị trường Việt Nam”. Làm đề tài nghiên cứu viết tiểu luận môn Kinh tế vi mô. Trong quá trình nghiên cứu mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những thiếu xót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài tiểu luận của tôi được hoàn thiện hơn, tôi xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

13 Đọc thêm

tình hình xuất khẩu gạo của việt nam sau khi gia nhập WTO.ptp

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO.PTP

Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨUChương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu1.1. Cơ sở lý luận:1.1.1 Khái niệm Xuất Khẩu:Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.Vậy xuất khẩu là việc bán hàng hoá (hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).1.1.2 Khái niệm tổ chức thương mại thế giới WTOWTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization). WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 1541994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 111995.Việt Nam gia nhập vào WTO vào ngày 1112006 và là thành viên thứ 150 của WTO.1.2 Cơ sở thực tiễn1.2.1 Tổng quan về thị trường gạo thế giới trong những năm qua Các nước Xuất – Nhập Khẩu chính trên thế giới:Bảng 1: 10 nước Xuất – Nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới năm 2011dự đoán cho năm 2012. Từ bảng 1, ta thấy: các nước sản xuất gạo trên thế giới giai đoạn 2011 và dự báo cho năm 2012 tập trung chủ yếu ở châu Á và một số nước khác. Cụ thể hơn là những nước có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn như: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan.Các nước nhập khẩu gạo lớn là Indonesia, Nigeria, Iran hay các nước ở thị trừơng EU….và nhiều nước đang có chiều hướng gia tăng về sản lượng tiêu thụ.Bảng 2: Tổng quan thị trường gạo thế giới trong những năm gần đây:201112201213(ước tính)201314(dự báo)% thay đổi 201314 so với 201213Sản lượng486,1489,9494,10,9Thương mại38,437,637,40,5Tổng tiêu thụ470,6476,64892,6thực phẩm395,9402,4409,91,9Dự trữ161174,5179,83Toàn thế giới56,456,656,90,5Các quốc gia thiếu lương thực, thu nhập thấp70,170,170,50,6 Tổng quan thị trường gạo thế giới từ bảng số liệu trên ta thấy được rằng sản lượng gạo năm 2011 đạt 486,1 triêu tấn, ước tính đến năm 2012 đạt khoảng 489,9 triệu tấn có nghĩa là tăng khoảng 3,8%. Đến năm 2013 sản lượng đạt 494,1 triệu tấn điều này làm thay đổi % sản lượng 2013 so với 2012 là 0,9% và 2013 so với 2014 vẫn là 0,9%.Về thương mại có xu hướng giảm dần qua các năm cho đến năm 2013 lượng % thay đổi giảm 0,5%. Tổng tiêu thụ thị trường gạo thế giới thay đổi 2,6% trong năm 2013 so với 2012 và 2013 so với 2014.Thị trường xuất khẩu gạo.Trong những năm vừa qua, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam là những quốc gia xuất khẩu gạo chính, chiếm tới 71,81% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu. Biểu đồ 1: Doanh số xuất khẩu gạo ước tính năm 2012 của 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Xuất khẩu gạo Việt Nam từ đầu năm 2011 đạt kỉ lục gần 7,7 triệu tấn gạo, vượt mức kỷ lục 7,1 triệu tấn xuất khẩu trong cả năm 2010. Với khối lượng xuất khẩu như vậy, Việt Nam chính thức vượt qua Thái Lan. Cũng trong năm nay, Ấn Độ vươn lên là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Xuất khẩu gạo Ấn Độ tăng mạnh nhờ cạnh tranh giá cả và việc nước này dỡ lệnh cấm xuất khẩu gạo phi basmai hồi tháng 92011. Việt Nam xếp ở vị trí thứ 2 về xuất khẩu và Thái Lan rơi xuống vị trí số 3.Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Ấn Độ đứng đầu về xuất khẩu gạo trong hai năm liên tiếp, với tổng khối lượng xuất khẩu năm 2013 đạt 9,61 triệu tấn, tiếp tục nới rộng khoảng cách với các nước xuất khẩu lớn khác.Tuy nhiên, nếu so với mức xuất khẩu kỉ lục của năm 2012, xuất khẩu gạo của Ấn Độ vẫn giảm gần 9,8%.Việt Nam đứng vị trí thứ ba về xuất khẩu gạo, với khối lượng thấp hơn không nhiều so với Thái Lan, đạt 6,74 triệu tấn, giảm 12,9% so với năm 2012. Thị trường nhập khẩu gạo:Các nước nhập khẩu gạo lớn nhất có thể kể đến là: Trung Quốc, Phillipines, Indonesia. Vào đầu năm 2012: Trung quốc đã vượt lên trở thành nước nhập khẩu gạo với khối lượng lớn nhất của Việt Nam, vượt khá xa so với Phillipines. Thị trường nhập khẩu xếp thứ 3 là Châu Phi, chiếm gần 12%, Cuba chiếm gần 6%. Ngoài nhu cầu từ phillipines, cần chú ý là thị trường Indonesia và Malaysia. Tiếp đến là nhập khẩu từ Trung Quốc, Châu Phi.Từ cơ cấu thị trường tiêu thụ hay xuất nhập khẩu của lúa gạo trong những năm qua, ta rút ra được nhận xét sau:Việt Nam cần tăng cường xuất khẩu gạo cho những thị trường chính như Trung Quốc, Indonesia, EU… và tìm kiếm thêm thị trường cạnh tranh, đồng thời cần nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu để có thể cạnh tranh với các nước xuất khẩu lớn như Thái Lan, Ấn Độ…1.2.2 Tổng quan về thị trường gạo Việt Nam những năm gần đây12.2.1 Về giá cảTháng 92014: Tại miền Bắc, giá thóc tẻ thường tháng 92014 ổn định, giá gạo tẻ thường tăng khoảng 500 đồngkg so với tháng 82014, dao động phổ biến ở mức 8.00013.000 đồngkg.Tại Nam Bộ, giá lúa, gạo thành phẩm xuất khẩu tháng 92014 giảm so với tháng 82014: giá lúa dao động ở mức 5.1005.900 đồngkg, giảm khoảng 200 đồngkg; gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm giá trong khoảng 8.9009.250 đồngkg, giảm khoảng 150 đồngkg, loại 25% tấm giá khoảng 7.9508.400 đồngkg, giảm khoảng 50 đồngkg.Bảng 3: Giá gạo 9 tháng đầu năm 2013 của miền Bắc và miền Nam so với 9 tháng đầu năm 2014.ThángMiền BắcNam BộThóc tẻ thườngGạo tẻ thườngThóc tẻ thườngGạo thành phẩm 5% tấmGạo thành phẩm 25% tấm9 tháng đầu năm 20146.0008.5008.00013.0004.7506.2007.7509.2507.2008.4009 tháng đầu năm 20136.0008.5008.00012.5004.6006.2007.1508.5006.4507.7009T2014 so với 9T2013Ổn địnhTăng 500Tăng 150Tăng 600900Tăng 700750Từ bảng trên ta thấy: Giá gạo 9 tháng đầu năm 2014 so với 9 tháng đầu năm 2013 có xu hướng tăng lên, gạo Tẻ thường tăng cao nhất, tăng 500 đồng so với cùng kì. 1.2.2.2 Về sản lượng và diện tích gieo trồngBảng 4: diện tích gieo trồng lúc trong cả nước (tổng cục thống kê 2009)20002001200220032004200520062007200876667492.77504.37452.27445.37329.27324.87207.47414Qua số liệu ở bảng 4 cho thấy diện tích gieo trồng lúa cả nước qua các năm bị thu hẹp dần từ 2000 đến năm 2008 giảm đi 252 nghìn ha, nguyên nhân có thể do quá trình độ thị hóa biến đất ruộng thành đô thị hoặc do một số vùng canh tác cây lúa không hiệu quả.Bảng 5: Sản lượng thóc cả nước Đơn vị: 1000 tấnNămTổng sốĐông xuânHè thumùa200334568.816822.79400.88345.3200436148.917078.010430.98640.0200535832.917331.610436.28065.1200635849.517588.29693.98567.4200735942.717024.110140.88777.8200838725.118325.511414.28985.4Nguồn: tổng cục thống kê 2009Mặc dù diện tích gieo trồng lúa bị thu hẹp qua các năm nhưng nhìn chung: nhờ áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất cộng với trình độ thâm canh cao của người nông dân mà năng suất và sản lượng lúa nước ta vẫn tăng đều qua các năm.Bên cạnh đó ta thấy được sản lượng lúa cả nước ở vụ Đông Xuân chiếm sản lượng lớn nhất trong tổng số lượng thóc cả nước, vì vậy nước ta nên tăng diện tích gieo trồng trong vụ Đông Xuân. Chương 2: Nội dung chính2.1 Tình hình xuất khẩu gạo Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO2.1.1 Tình hình Xuất Khẩu gạo Việt Nam trước khi gia nhập WTOTăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam khá chậm vào những năm 2001 2002, đã vươn lên đạt mức trên 20%năm từ 2003 tới nay. Kết quả là kim ngạch XKHH đã tăng gấp 2,64 lần trong thời gian 5 năm, từ 15 tỉ USD năm 2001 lên 39,6 tỉ USD năm 2006. Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, AustraliaXuất khẩu của Việt Nam thời gian từ năm 2001 2006 đã đạt được những thành tích rất ấn tượng và được xác định là một thế mạnh của Việt Nam trên con đường hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đặc biệt là xuất khẩu lúa gạo.Bảng 6: sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2003 – 2007.NămSố lượng xuất khẩu (1000 tấn)Giá trị xuất khẩu (1000 USD)20033,813719,91620044,063950,31520055,2501407,22920064,6421275,89520074,5581489,970Nguồn: tổng cục thống kê (2008)Lượng gạo xuất khẩu năm 2003 là 3,813 triệu tấn, năm 2004 là 4,063 triệu tấn. Năm 2005, lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt mức 5,250 triệu tấn thu về cho đất nước hơn 1,40 tỉ USD, giá gạo bình quân đạt 267 USDtấn. Đây là mức cao nhất đạt được trên cả 3 chỉ tiêu số lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị trường gạo thế giới. So với năm 2004, lượng gạo xuất khẩu tăng gần 1,2 triệu tấn (25%), kim ngạch tăng trên 400 triệu USD (45%) và giá cả tăng 48 USDtấn (15%). Đây là năm thứ 17 Việt Nam liên tục xuất khẩu gạo; là năm thứ 3 đạt lượng gạo xuất khẩu trên 4 triệu tấn; năm thứ 2 đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD và giữ vững vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo (vượt qua Ấn Độ). Năm 2005, gạo Việt Nam đã xâm nhập được vào các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Ở thị trường Nhật Bản, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu được 90.000 tấn gạo thơm, tăng 60% so với năm trước và giá cũng cao hơn.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Tiểu luận chiến lược Marketing CTY CP SỮA VIỆT NAM VINAMILK

TIỂU LUẬN CHIẾN LƯỢC MARKETING CTY CP SỮA VIỆT NAM VINAMILK

Tiểu luận chiến lược Marketing CTY CP SỮA VIỆT NAM VINAMILK
Công ty sữa lớn nhất Việt Nam
Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 1976, Công ty đã xây dựng hệ thống phân phối rộng nhất tại Việt Nam
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu “Vinamilk”
Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.

25 Đọc thêm

Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU)

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG LIÊN MINH THUẾ QUAN MIỀN NAM CHÂU PHI (SACU)

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận án
Mở rộng, đa dạng hóa quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng: “Đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định thương mại tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu…”[6].
Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 được ban hành tại Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu: “Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 11–12%/năm trong thời kỳ 2011–2020, trong đó giai đoạn 2011–2015 tăng trưởng bình quân 12%/năm; giai đoạn 2016–2020 tăng trưởng bình quân 11%/năm”[51]. Để thực hiện được mục tiêu đó, Chiến lược đã đề ra định hướng phát triển thị trường, trong đó nhấn mạnh cần phải “đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng”[51]. Đối với thị trường Châu Phi, Chiến lược đề ra định hướng tới năm 2020 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Để thực hiện, cụ thể hóa các chủ trương, sách lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thế giới có nhiều biến động, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc vào một số ít thị trường, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó chú trọng các thị trường mới như thị trường Châu Phi. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh, giành giật thị trường đang diễn ra gay gắt đòi hỏi phải có những nghiên cứu thường xuyên cập nhật, chi tiết về thị trường Châu Phi. Châu Phi là một thị trường rộng lớn với 55 quốc gia. Mỗi quốc gia, khu vực thị trường đều mang những đặc điểm thị trường có tính đặc thù riêng, vì vậy rất cần phải có những nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu từng thị trường và khu vực thị trường.
Trong số các tổ chức kinh tế khu vực của Châu Phi, Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) là tổ chức kinh tế khu vực thành công nhất của châu Phi và là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của cả châu lục. SACU được thành lập từ năm 1910 và là Liên minh thuế quan được thành lập sớm nhất trên thế giới. Hiện nay khối liên minh này bao gồm 5 quốc gia thành viên đó là Nam Phi, Bostwana, Lesotho, Namibia và Swaziland.
Thị trường các nước SACU được đánh giá có nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng khá ổn định, có nhu cầu hàng hóa lớn và đa dạng, chủ yếu là sản phẩm chất lượng vừa phải, giá rẻ. Bên cạnh đó, tình hình chính trị của các nước khu vực SACU khá ổn định; việc Mỹ, EU và một số nước cho phép nhiều sản phẩm các nước khu vực SACU tiếp cận tương đối tự do và thuận lợi hơn thị trường của họ cũng như nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoài khá hấp dẫn đã giúp thị trường các nước khu vực SACU ngày càng giành được sự quan tâm chú ý của nhiều nước trên thế giới.
Các nước SACU là một khu vực thị trường còn khá mới lạ đối với các doanh nghiệp nước ta. Trao đổi thương mại với các nước khu vực này vẫn còn hạn chế. Năm 2014, trao đổi thương mại hai chiều mới đạt mức 1,014 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 814 triệu USD và nhập khẩu đạt 200 triệu USD. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU còn hạn chế đó các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp chưa thực sự có nhiều giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy, phát triển quan hệ thương mại với các nước này.
Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) một cách có hệ thống sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách và giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại của nước ta sang các nước SACU đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây cũng chính là lý do cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu xác lập các quan điểm, định hướng phát triển và các giải pháp về thể chế và thực thể kinh doanh thương mại trong phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng quan các công trình khoa học đã thực hiện liên quan đến việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU, những vấn đề đã được nghiên cứu, xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc nghiên cứu chưa sâu để tập trung nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liên minh thuế quan.
Xem thêm

146 Đọc thêm

Tiểu luận TÌNH HÌNH dân số VÀNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY, cơ hội và THÁCH THỨC, bài học CHO VIỆT NAM đại học kinh tế huế hồ thị khánh trang

TIỂU LUẬN TÌNH HÌNH DÂN SỐ VÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC, BÀI HỌC CHO VIỆT NAM ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ HỒ THỊ KHÁNH TRANG

iểu luận gia tăng dân số ở việt nam×tình hình dân số ở châu phi×tiểu luận tình hình thất nghiệp ở việt nam×tình hình chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay×tiểu luận tình hình khai thác than ở quảng ninh×tình hình sử dụng đất ở nước ta hiện nay×

Để có kết quả cao tại thứ hạng tìm kiếm
tiểu luận tình hình xuất khẩu chè của việt namtình hình khai thác vàng ở việt namthời kỳ dân số vàng ở việt namtiểu luận tình hình xuất nhập khẩu của việt namtình hình chăn nuôi lợn ở nước ta hiện naytiểu luận tình hình khai thác than ở quảng ninhtiểu luận tình hình xuất khẩu gạo của việt namtình hình sử dụng đất ở nước ta hiện naytình hình dân số trên thế giới năm 2012tình hình dân số nước ta 5 năm gần đây
Xem thêm

5 Đọc thêm

TÌM HIỂU VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LÚA GẠO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

TÌM HIỂU VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LÚA GẠO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

Tìm hiểu về thị trường xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam hiện nay Bài tập học kỳ Kinh tế vi mô
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Kinh tế học đại cương, Kinh tế vi mô
Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát triển của dân tộc, cho đến nay cây lúa vẫn là cây trồng chủ đạo của cả nước. Cây lúa ,hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay nó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống .Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lịch sử, bởi lịch sử phát triển của cây lúa gắn với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống, biểu tượng cho dân tộc ,góp phần tạo nên tên tuổi Việt Nam trong nền kinh tế thế giới .Và chúng ta con dân Đất Việt luôn tự hào mà ngân vang câu ca : “Người sống về gạo, cá bạo về nước”.

Trên thế giới ngày nay, các hoạt động kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mỗi quốc gia phải chủ động tham gia khai thác lợi thế của mình trao đổi thương mại quốc tế. Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, việc đề ra các chiến lược kinh tế mới và các giải pháp cải thiện hoạt động sản xuất và kinh doanh là đặc biệt quan trọng. Đối với Việt Nam là một nước đi lên từ nền nông nghiệp với hơn 70% dân số hoạt động trong khu vực kinh tế nông nghiệp thì hoạt động xuất khẩu gạo được coi là hướng chiến lược và càng cần chú ý.

Để hiểu hơn về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam em đã chọn đề tài: “Tìm hiểu về thị trường xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam hiện nay ”.

I. Cơ sở lý luận.

1. Khái niệm cầu

Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

Lượng cầu là lượng hàng hóa và dịch vụ mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định .

2. Khái niệm cung

Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán trong một thời gian nhất định.

Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịnh vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở một mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.

3. Khái niệm thị trường.

Thị trường là tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ.

II. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam hiện nay.

1. Thành tựu trong hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam.

Trong những năm gần đây xuất khẩu gạo của Việt Nam đã trở thành ngành chủ lực quan trọng.Và hoạt động xuất khẩu gạo cùng với xuất khẩu hàng nông sản trở thành 1 trong 6 mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Việt Nam, đạt kim ngạch hàng tỉ USD và đem lại cho đất nước nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Cụ thể như sau:

Về thị trường xuất khẩu gạo của nước ta : không những được mở rộng mà quan hệ bạn hàng cũng từng bước được cải thiện. Trong năm 2014, gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Xinhgapo...Trong đó, thị trường Châu Á chiếm gần 77%, tăng trưởng gần 24 %, thị trường Châu Mỹ chiếm trên 7,6%, tăng trưởng trên 4,6%, thị trường Châu Úc chiếm 0,88%, tăng trưởng trên 12%, thị trường Trung Đông chiếm trên 1,2 %, tăng trưởng gần 33% về lượng so với cùng kỳ năm 2014. Các thị trường xuất khẩu trọng điểm truyền thống của Việt Nam cơ bản được giữ vững và có tăng trưởng đáng kể. Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, thị trường Philíppin tăng trưởng trên 285%, thị trường Inđônêxia tăng trưởng gần 128%, thị trường Trung Đông tăng trưởng gần 33% về lượng so với cùng kỳ năm 2013.

Sản lượng xuất khẩu: chức Nông lương Liên hợp quốc ( FAO) dự báo Việt Nam trong năm 2014 sẽ xuất kaaur koangr 7 triệu tấn gạo,tiếp tục xếp thứ 3 trong danh sách các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan, tăng 5% so với 6,65 triệu tấn năm 2013 chủ yếu nhờ sản lượng tăng và nhu cầu nhập khẩu cao hơn từ các nước châu Á như Indonesia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc. Sáu tháng đầu năm 2014, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 3,3 triệu tấn, giảm 6% so với 3,5 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái. Tổng sản lượng lúa năm 2014 của Việt Nam sẽ đạt kỷ lục 44,5 triệu tấn, cao hơn so với 43,859 triệu tấn năm 2013.

Về giá cả và chất lượng gạo xuất khẩut: thời gian qua cũng không ngừng được cải thiện. Khoảng cách về giá xuất khẩu FOB so với các nước xuất khẩu truyền thống khác (đặc biệt là Thái Lan) đã được rút ngắn đáng kể. Nếu như những năm đầu của thập kỷ 90 khoảng cách chênh lệch ở mức từ 5060 USDtấn (đối với từng loại gạo có phẩm chất tương tự và các điều kiện thương mại giống nhau), có loại chênh lệch tới gần 100USDtấn thì những năm gần đây chỉ còn từ 1539 USDtấn.Giống lúa và chế biến vẫn là hai khâu có ảnh hưởng lớn nhất tới chất lượng gạo xuất khẩu. Cơ chế quản lý hoạt động xuất khẩu có những thay đổi liên tục trong những năm 90 và gần đây để đáp ứng yêu cầu thiết thực trong kinh doanh xuất khẩu gạo, Chính phủ đã bãi bỏ cơ chế giao hạn ngạch xuất khẩu gạo cũng như quy định về doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu. Đây là bước đột phá mới trong cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu.Tuy rằng Việt Nam đã tiếp cận được hầu hết các thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của thế giới, nhưng xét về quy mô hay thị phần thì vẫn còn khiêm tốn. Nhìn chung thị trường xuất khẩu của Việt Nam đang bị cạnh tranh quyết liệt và ngày càng khó khăn hơn.

Đặc biệt ,ở Việt Nam hiện nay đã thực sự có sản xuất lúa hàng hoá.Tuy nhiên, chỉ có khu vực đồng bằng sông Cửu Long mới thực sự là khu vực sản xuất lúa hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.

2. Những khó khăn trong xuất khẩu gạo ở Việt Nam .

Áp lực cạnh tranh gia tăng: sản lượng lúa tăng nhưng không kèm theo sự cải thiện thu nhập của người nông dân. Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đa dạng, và đặc biệt đang tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc. Khi những thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức ép giảm giá lên toàn bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạo trong nước, đặc biệt là người nông dân

Cấu trúc thị trường chưa bền vững: Trong những năm gần đây, tỉ trọng các hợp đồng chính phủ (G2G) có xu hướng giảm dần. Năm 2007, tỷ trọng hợp đồng G2G chiếm 70% trọng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ này giảm xuống còn 42,7% năm 2009 và đến năm 2012, 2013 chỉ còn chưa đến 20%. Điểm đáng chú ý, trên thị trường xuất khẩu gạo hiện nay vẫn còn thiếu vắng các liên kết ngang giữa các công ty (ví dụ như trong việc đàm phán giá lúa gạo xuất khẩu) và liên kết dọc với các công ty cung ứng đầu vào cho sản xuất. Xu hướng xây dựng vùng nguyên liệu hiện được thực hiện rất “gượng ép” do các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn cung sẵn có trên thị trường, sản phẩm xuất khẩu không có sự khác biệt lớn, rủi ro về lợi nhuận cao do thị trường đầu ra không ổn định.

Và đặc biệt là chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa cao nên khó cạnh tranh ,không có khả năng xâm nhập vào các thì trường “khó tính” để mở rộng thì trường .

Ngoài ra, phải chăng sự can thiệp sâu của Chính phủ trong buôn bán gạo hoặc đấu thầu, đôi khi như con dao hai lưỡi, phần hạn chế làm tiêu tính năng động của giám đốc doanh nghiệp trong việc bán thị trường từng thời điểm, tính toán hiệu quả?

Để bù đắp khó khăn đã qua, tránh rủi ro kinh tế, các nhà quản lý, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo từ nay đến cuối năm trước tình hình thị trường và giá cả trong nước và thế giới còn diễn biến rất phức tạp, cần có những biện pháp hợp lý để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam.

III. Những giải pháp đối với việc xuất khẩu gạo ở Việt Nam.

Từ thực trạng trên đây về xuất khẩu lúa gạo hiện nay cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp cho xuất khẩu gạo của Việt Nam. Dưới đây là một số giải pháp nhỏ :

1. Nhóm giải pháp tầm vĩ mô.

Cần phải nhanh chóng hình thành các vùng chuyên canh lúa xuất khẩu trên cơ sở quy hoạch chi tiết của ngành nông nghiệp và phát triển của nông thôn trong mối quan hệ với bộ kế hoạch và đầu tư, bộ tài chính, bộ thương mại.

Nâng cao kỹ thuật canh tác cùng với giải pháp cải tạo đổi mới giống lúa cho năng suất và chất lượng cao hơn.

Tăng cường công tác quản lý sản xuất, chế biến để hạ giá thành, đề cao vai trò của các tổ chức, hợp tác xã, nông hội, liên kết nông dân thành một hệ thống thống nhất để sẵn sàng đối mặt với những thách thức và cạnh tranh của hội nhập quốc tế.

Cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ đầu vào cho sản xuất chế biến và đầu tư trong tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu. Hỗ trợ đầu tư công nghệ, kỹ thuật khâu chế biến bảo quản.

Cải thiện tình hình thu thuế sử dụng đất, nhiên liệu, thuế GTGT và thuế xuất khẩu. áp dụng các biện pháp trợ cấp và bảo hộ sản xuất và xuất khẩu gạo trong giới hạn cho phép nhưng không làm tổn thương tới các cam kết đã ký kết.

Tăng cường huy động vốn tư nhân vào hoạt động xuất khẩu gạo.

Đẩy mạnh công tác chống buôn lậu qua biên giới.

Chủ động, tích cực đàm phán song phương và đa phương đối với Hiệp định về hàng nông sản

2. Giải pháp về phía các doanh nghiệp .

Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lương thực cần xây dựng chiến lược kinh doanh và hội nhập một cách thận trọng trong bối cảnh thời hạn của các cam kết quốc tế đã đến gần. Doanh nghiệp cần chủ động và tăng cường công tác tiếp thị, nắm chắc thị trường thế giới, hạ giá thành xuất khẩu, phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành hàng.

Chú trọng đầu tư cho công tác đăng ký và xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Lựa chọn và thiết lập mắt xích kênh phân phối gạo xuất khẩu ở thị trường nước ngoài.

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương xứng với tầm hoạt động và định hướng chiến lược của doanh nghiệp.

Ngoài những biện pháp trên cũng cần: Hoàn thiện việc tổ chức khâu trồng lúa cung cấp cho xuất khẩu: Thực hiện tốt qui hoạch, phân vùng thâm canh trồng lúa cho xuất khẩu; Hoàn thiện khâu tổ chức nguồn hàng cho xuất khẩu; Hoàn thiện marketing, quảng bá sản phẩm, ký kết hợp đồng và phương tiện thanh toán với sự hỗ trợ của Nhà nước. Ngoài ra chúng ta cần nhanh chóng vươn lên nắm quyền chủ động xuất khẩu trực tiếp. Chấn chỉnh công tác quản lý xuất khẩu gạo theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường và nâng cao vai trò của Hiệp Hội lương thực Việt Nam trong điều hành xuất khẩu gạo.

KẾT LUẬN

Như vậy qua những tìm hiểu của em ở trên về vấn đề thị trường xuất khẩu lúa gạo ở Việt nam hiện nay có thể thấy: Xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, xuất khẩu càng đóng vai trò quan trọng hơn đối với một nền kinh tế, nhất là đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam. Việt nam là một nước đang trên con đường tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá hoà nhập vào khu vực và thế giới. Vì vậy xuất khẩu được coi là một trong những công cụ quan trọng nhất để thực hiện thành công các mục tiêu trên .Xuất khẩu gạo luôn được coi là thế mạnh của nông nghiệp nước ta, việc nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu là vấn đề bức thiết.

Phát triển sản xuất lúa và đẩy mạnh xuất khẩu gạo là một hướng đi đúng đắn.Và cần thấy một điều quan trọng là các chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của nhà nước muốn thực sự phát huy tác dụng và trong tương lai oạt động xuất khẩu lúa gạo có bước đột phá mới thì phải được thực hiện nghiêm túc trong thực tế chứ không phải chỉ dừng lại ở trên giấy tờ, lý thuyết .
Xem thêm

7 Đọc thêm

Cùng chủ đề