BỆNH UỐN VÁN RỐN LÀ GÌ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BỆNH UỐN VÁN RỐN LÀ GÌ":

Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TIÊM VẮC XIN PHÒNG UỐN VÁN Ở PHỤ NỮ MANG THAI PHƯỜNG HƯƠNG LONG THÀNH PHỐ HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀUốn ván ở phụ nữ mang thai và ở trẻ sơ sinh là bệnh rất nguy hiểm, với tỉ lệ tử vong cao. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ mỗi năm trên Thế giới ước tính có khoảng 500.000 trẻ em tử vong vì uốn ván sơ sinh (UVSS) 12. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc UVSS giảm một cách đáng kể nhờ có việc tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai (PNMT) và phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ). Năm 2000, cả Thế giới có khoảng 200.000 trẻ em tử vong vì UVSS, tỷ lệ này ở Việt Nam là 70 trẻ 12. WHO đã đúc kết và chính thức nhận định “Uốn ván hầu như không có miễn dịch tự nhiên và nếu hữu hạn có thì củng không đủ lượng kháng thể để phòng bệnh uốn ván” 8,19. Vì thế để tạo được miễn dịch chống lại bệnh uốn ván ở bà mẹ và uốn ván rốn ở trẻ sơ sinh thì không có cách nào khác là phải làm tốt công tác dự phòng, đặc biệt là tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT và PNTSĐ 8,14.Chính vì vậy, gần 3 thập kỷ qua, chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được WHO phát động và triển khai rộng khắp trên toàn thế giới. Năm 1981 nước ta đưa TCMR vào thực hiện, trong đó có tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT 4. Từ đó đến nay, tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT không ngừng được tăng lên. Năm 1995 UVSS được loại trừ trên quy mô tỉnh (Tỷ lệ mắo UVSS < 11000 trẻ đẻ sống) và đến năm 2005 cả nước đã loại trừ được UVSS trên quy mô huyện, tỷ lệ tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván cho PNMT luôn đạt trên 80%, các hoạt động nhằm bảo vệ thành quả loại trừ UVSS luôn được duy trì 2.Được sự hổ trợ của WHO, chương trình TCMR Quốc gia, năm 1982 Thừa Thiên Huế đưa chương trình TCMR triển khai. Sau gần 20 năm thực hiện, nay đã có 99 Huyện, Thành phố và 150 xã, phường đã triển khai đầy đủ 28. Qua kết quả tổng kết chương trình TCMR của tỉnh năm 2010 cho thấy, tỉ lệ tiêm vắc xin uốn ván cho PNMT đạt 92,8%, luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS 13.Tuy UVSS đã được loại trừ hơn 5 năm qua, nhưng chúng ta không chủ quan mà cần chủ động giám sát, đôn đốc và thường xuyên theo dõi tình hình chủng ngừa và sự tiếp cận dịch vụ tiêm vắc xin phòng uốn ván, đặc biệt là ở PNMT, nhằm nâng cao chất lượng của công tác phòng bệnh mà cụ thể là tỉ lệ PNMT được tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván đạt yêu cầu và luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS, góp phần trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc thai sản nói riêng, phù hợp thực tế với chiến lược hoạt động và phát triển của ngành y tế nước ta lấy “ y học dự phòng làm gốc”. Chính vì những lẽ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dề tài: “Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường Hương Long thành phố Huế ”.Với những mục tiêu như sau:1. Xác định tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường Hương Long thành phố Huế.2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai.
Xem thêm

54 Đọc thêm

BÀI GIẢNG UỐN VÁN (TETANUS)

BÀI GIẢNG UỐN VÁN (TETANUS)

phải sau một thời gian dài, tuy nhiên có thể gặp tử vong bất ngờ, đặc biệt là suy hôhấp cấp trong và sau cơn giật.Uốn ván cục bộ: Có 2 thể sau:Uốn ván chi: Thường là ở bệnh nhân đã được tiêm SAT có thời gian ủ bệnh dài,thường ở chi dưới (rất hiếm ở chi trên), co giật ở cạnh vết thương. Tăng trương lựccơ, chuột rút, co rút xương bánh chè, rung giật bàn chân hoặc bánh chè. Tiên lượngthường tốt tuy vậy có thể chuyển thành uốn ván toàn thân thứ phát với báo hiệu làcứng hàm.Uốn ván đầu: Thường sau khi bị các vết thương vùng đầu, có co cứng hàm, cứnggáy, co cứng cơ mặt. Tuỳ thể bệnh mà không hoặc có kèm khó nuốt (gây uốn vánthể sợ nước), liệt một hoặc nhiều các dây thần kinh sọ não (dây VII kiểu ngoại vidây III, IV, VI v.v.), rối loạn tâm thần.Uốn ván sau phá thai: Bệnh thường nặng, tử vong cao và nhanh.Uốn ván rốn: Rất nặng.Uốn ván sau phẫu thuật: Hiếm gặp nhưng thường nặng, hay gặp sau cácphẫu thuậtở ruột, nhổ răng, cắt amydal v.v... bằng các dụng cụ không được tiệt trùng tốt.Uốn ván sau tiêm: Đặc biệt sau tiêm Quinin thường rất nặng.Uốn ván sau bỏng: Cũng rất nặng.Uốn ván không rõ cửa vào: Thường có tiên lượng tốt hơn, cần chú ý tìm cửa vào làmột vết rách ở miệng và đường tiêu hóa, có thể là những vết thương rất nhỏ đã liềnsẹo mà bệnh nhân đã bỏ qua hoặc quên đi.Chẩn đoán xác địnhChủ yếu dựa vào lâm sàng:Có vết thương nghi ngờ là cửa vào.Khởi bệnh đầu tiên là cứng hàm, sau đó co cứng các cơ theo thứ tự: Đầu, mặt, thânmình và tứ chi. Các cơ co cứng liên tục.Cơn giật cứng kịch phát trên nền các cơ co cứng.Chưa được tiêm phòng vacxin phòng uốn ván.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Chậm cắt rốn giúp trẻ phát triển tốt hơn

CHẬM CẮT RỐN GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN TỐT HƠN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những nghiên cứu trước đây cho thấy việc chậm cắt rốn có nhiều lợi ích đối với trẻ sinh non. Tháng 12-2014, trang tin MNT công bố khảo sát cho thấy trì hoãn cắt rốn sau khi sinh 2 phút khiến trẻ phát triển lành mạnh hơn ở những ngày tháng đầu đời. Trong công trình mới được công bố trên tờ JAMA Pediatrics lần này, nhóm nghiên cứu đã khảo sát 263 trẻ sơ sinh đủ ngày tháng được chia làm 2 nhóm: Cho cắt rốn ngay hoặc cắt rốn chậm hơn 3 phút sau khi sinh. Khi lên 4 tuổi, các cháu được kiểm tra chỉ số thông minh, kỹ năng vận động và giao tiếp, việc giải quyết vấn đề và hành vi.   Chậm cắt rốn khiến trẻ nhận được máu từ nhau thai nhiều hơn (Ảnh MNT) Các nhà khoa học nhận thấy ít có khác biệt ở các bé gái thuộc 2 nhóm nêu trên. Trong khi đó, bé trai chậm cắt rốn thường có điểm số về kỹ năng giao tiếp và vận động tốt hơn các bé được cắt rốn ngay. Nhóm nghiên cứu nêu giả thuyết rằng kết quả ít khác biệt ở bé gái là do chúng nhận thêm sự bảo vệ từ mức độ estrogen trong bào thai cao hơn bé trai. Những nghiên cứu mới đây cho thấy việc cắt rốn muộn không tăng nguy cơ mất máu ở sản phụ nhưng giới khoa học chưa xác định liệu chậm cắt rốn có làm tăng nguy cơ bệnh vàng da và đa hồng cầu ở trẻ hay không. Hiện Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên cắt rốn trẻ ít nhất sau khi sinh 1 phút.
Xem thêm

1 Đọc thêm

CÂU 1, CÂU 2, CÂU 3 TRANG 47 SINH HỌC LỚP 8

CÂU 1, CÂU 2, CÂU 3 TRANG 47 SINH HỌC LỚP 8

Câu 1. Các bạch cầu đã tạo nên những hàng rào phòng thủ nào để bảo vệ cơ thể ? Câu 2. Người ta thường tiêm phòng (chích ngừa) cho trẻ em những loại bệnh nào ? Câu 1. Các bạch cầu đã tạo nên những hàng rào phòng thủ nào để bảo vệ cơ thể ?Câu 2. Người ta thường tiêm phòng (chích ngừa) cho trẻ em những loại bệnh nào ? Trả lời: Câu 1. Các bạch cầu tạo nên 3 hàng rào phòng thủ để bảo vệ cơ thể là :- Sự thực bào do các bạch cầu trung tính và đại thực bào thực hiện- Sự tiết ra kháng thể để vô hiệu hóa các kháng nguyên do các bạch cầu limphô B thực hiện- Sự phá hủy các tế bào cơ thể đã nhiễm bệnh do các tế bào limphô T thực hiện.Câu 2: Người ta thường tiêm phòng (chích ngừa) cho trẻ em những loại bệnh sau : sởi, lao, ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BỊ VẬT NHỌN ĐÂM TRƯỜNG HỢP NÀO CẦN ĐI TIÊM PHÒNG UỐN VÁN

BỊ VẬT NHỌN ĐÂM TRƯỜNG HỢP NÀO CẦN ĐI TIÊM PHÒNG UỐN VÁN

Bị vật nhọn đâm, trường hợp nào cần đi tiêmuốn ván ngay?08/11/2016 09:204•••Các chuyên gia khuyến cáo, nếu bị đâm hoặc giẫm phải vật nhọn (thủy tinh,đinh, kim loại...) gây rách da, chảy máu, không nên chủ quan vì vết thươngnày dễ dẫn đến nhiễm trùng uốn ván.Sán "chọc" thủng mắt, "đâm" vào tim: Đây là hậu quả kinh hoàng của thói quen ăn"vô tội vạ"Chuyện gì sẽ xảy ra khi người đàn ông được tiêm thêm hóc môn nam tính?Bé gái chết 5 ngày sau tiêm, chuyên gia vẫn khẳng định vắcxin này ngừa 90% nguycơ ung thưThông thường những trường hợp bị dị vật như gai nhọn, mảnh thủy tinh, dằm, kimloại... đâm vào tay, chân, nhiều người thường chủ quan vì nghĩ đó là vết thươngnhỏ, không nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo ThS.BS Nguyễn Trung Cấp - PhóTrưởng khoa Cấp cứu (Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương), những vết thươngtưởng chừng như nhỏ bé đó lại có thể gây hại nếu không được xử lý đúng cách vàkịp thời.BS Nguyễn Trung Cấp cho biết, nếu không may bị vật nhọn đâm vào người, saukhi xử lý vết thương, nên đến cơ sở y tế để tiêm uốn ván vì không biết trong dị vậtđó có vi trùng gây uốn ván hay không.Nhiều người thường lầm tưởng chỉ có giẫm phải đinh sắt, kim loại gỉ mới bị uốnván, nhưng thực tế những vết thương trầy xước nhỏ cũng dễ gây ra tình trạng này.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nhận xét tình hình trẻ mắc một số bệnh truyền nhiễm ngoài diện tiêm chủng mở rộng điều trị ngoại trú tại Trạm y tế Phường Thuận Thành - Thành phố Huế

NHẬN XÉT TÌNH HÌNH TRẺ MẮC MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM NGOÀI DIỆN TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRẠM Y TẾ PHƯỜNG THUẬN THÀNH - THÀNH PHỐ HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển sức khoẻ của người dân vẫn còn bị đe doạ bởi các bệnh nhiễm trùng và suy dinh dưỡng. Trong nhiều thập niên trở lại đây, với nỗ lực của các Tổ chức y tế quốc tế, tình hình sức khoẻ trẻ em ở các nước đang phát triển ngày càng được cải thiện.
Hàng năm có khoảng hơn 12 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết ở các nước đang phát triển, trong đó 2/3 số tử vong này xảy ra trong năm đầu. Nguyên nhân chủ yếu là do các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng và một số bệnh nhiễm khuẩn có thể phòng được bằng biện pháp tiêm chủng [22], [23],
[24] [26].
Trước tình hình đó, năm 1974 tổ chức y tế thế giới đã đề xướng thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng với mục tiêu “Phổ cập tiêm chủng cho trẻ em vào năm 1990”. Theo dự đoán của Tổ chức y tế thế giới nếu tiêm chủng bảo vệ được cho tất cả trẻ em trên toàn thế giới thì có thể cứu sống trên 3 triệu trẻ mỗi năm [20].
Việt Nam triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1960 nhưng chỉ một vài Vaccine như Sabin và BCG. Đầu năm 1982 chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Từ đó đến nay trở thành chương trình y tế quốc gia trọng điểm, nhằm hạn chế tỷ lệ mắc bệnh, giảm tử vong và di chứng 6 bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em. Với các loại Vaccine phòng 6 bệnh: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Bại liệt, Lao. Năm 2000 nước ta đã thanh toán được bệnh bại liệt trên toàn quốc, loại trừ uốn ván Sơ sinh và bắt đầu khống chế Sởi. Trong vòng 5 năm trở lại đây Bộ Y tế đã chỉ thị tiêm phòng thêm 2 bệnh: Viêm não Nhật bản B và Viêm gan siêu vi B. Đây là 2 bệnh gây ra nhiều biến chứng trầm trọng cho trẻ em.
Dưới sự giúp đỡ của tổ chức y tế thế giới và chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, tỉnh Thừa Thiên Huế đã bắt đầu triển khai thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1982. Từ đó đến nay hầu hết các vùng cao, vùng sâu được tiến hành tiêm chủng một cách thường xuyên và có định kỳ, nên tỷ lệ mắc các bệnh như: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, sởi, bại liệt, lao ... đã giảm một cách đáng kể. Tuy nhiên trong nhóm tiêm chủng này vẫn có một số bệnh nhi bị mắc những bệnh truyền nhiễm ngoài diện tiêm chủng mở rộng và được điều trị ngoại trú tại trạm y tế phường Thuận Thành - Thành phố Huế. Bên cạnh đó một số bệnh chưa đủ điều kiện phòng ngừa bằng Vaccine thì vẫn xảy ra thành dịch và diễn tiến lâm sàng đôi khi còn đang phức tạp.
Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nhận xét tình hình trẻ mắc một số bệnh truyền nhiễm ngoài diện tiêm chủng mở rộng điều trị ngoại trú tại Trạm y tế Phường Thuận Thành - Thành phố Huế”
Với 2 mục tiêu.
- Khảo sát tình hình trẻ em mắc các bệnh truyền nhiễm ngoài diện tiêm chủng mở rộng tại Phường Thuận Thành.
- So sánh tỷ lệ mắc bệnh giữa 2 nhóm được điều trị tại Trạm Y tế Phường Thuận Thành và phòng nhi lây Bệnh viện Trung ương Huế.
Xem thêm

45 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG LÝ THUYẾT VI SINH Y HỌC

ĐỀ CƯƠNG LÝ THUYẾT VI SINH Y HỌC

khuẩn gây bệnh bằng ngoại độc tố như vi khuẩn tả, vi khuẩn ho gà, ETEC(Enterotoxigenic E. coli) đã không xâm nhập vào tế bào. Chúng làm tổn hạimàng tế bào, sinh sản trên màng nhầy niêm mạc, sản xuất và tiết ra ngoại độctố, các ngoại độc tố này thấm vào các tế bào và gây ra những tác dụng đặc hiệunghiêm trọng cho cơ thể.Khả năng sinh sản trong tế bào góp phần tạo nên độc lực cho vi sinh vật. Hìnhnhư là khả năng sinh sản này được xác định bởi nhu cầu dinh dưỡng và sự thíchứng với môi trường của vi khuẩn để phục vụ cho dinh dưỡng. Ví dụ Chlamydiapsittaci ký sinh nội bào bắt buộc đã cạnh tranh với tế bào chủ về isoleucin ởtrong tế bào, khi amino acid này quá ít, vi khuẩn không thể sinh sản. Cũngtương tự, các vi sinh vật yêu cầu ion kim loại cho sự thay đổi của các hoạt độngsinh lý, nhu cầu ion kim loại là đặc biệt quan trọng.Độc tốĐộc tố là những chất độc của vi sinh vật để gây bệnh. Nó gồm 2 loại là nội độctố và ngoại độc tố.Nội độc tố là những chất độc gắn ở vách vi khuẩn Gram âm, bản chất hóa học làlipopolysaccharid (LPS), thường có ở các vi khuẩn Gram âm như Salmonella,Shigella… Nội độc tố chịu được nhiệt độ sôi và không bị phân hủy bởi protease;tính kháng nguyên yếu và không sản xuất được thành vaccine.Ngoại độc tố là những chất độc do vi khuẩn tiết ra môi trường; bản chất hóa họclà protein nên không chịu được nhiệt độ sôi và protease; tính kháng nguyên tốtvà có thể sản xuất thành vaccine; có độc lực rất cao (cao hơn nội độc tố). Ngoạiđộc tố có thể do cả vi khuẩn Gram dương (bạch hầu, uốn ván, hoại thư) và vikhuẩn Gram âm (ho gà, tả, ETEC của E. coli) tạo ra.Một số enzym ngoại bàoVi khuẩn có hai loại enzym ngoại bào. Một loại dùng cho phân cắt các phân tửcó trọng lượng lớn để giúp cho vi khuẩn có thể hấp thu được. Loại khác lànhững enzym ngoại bào có vai trò độc lực và có liên quan đến khả năng gây
Xem thêm

64 Đọc thêm

Hạng mục chăn nuôi ngựa

HẠNG MỤC CHĂN NUÔI NGỰA

1. Giới thiệu chung
Ngựa nuôi không chỉ lấy sức kéo, làm ngựa đua, ngựa cảnh, nấu cao… mà còn để khai thác huyết thanh chế ra rất nhiều thuốc điều trị bệnh vô sinh, kháng bệnh dại, chống uốn ván... Từ nhiều năm nay, chế phẩm kích dục tố từ huyết thanh ngựa chửa đã được các nhà khoa học nghiên cứu thành công. Thành phần chính của kích dục tố là FSH và LH, 2 hoocmon có tác dụng kích thích động dục và gây rụng trứng, tăng khả năng sinh sản của gia súc cái, được chiết xuất từ huyết thanh của máu ngựa cái có chửa, từ ngày thứ 40 đến ngày thứ 120, đỉnh cao là khoảng thời gian từ 60 đến 90 ngày có chửa. Như chúng ta biết, hiện nay do ảnh hưởng của môi trường số lượng cặp vợ chồng trẻ bị hiếm muộn con và vô sinh tăng rất nhiều so với những năm trước đây. Do đó nhu cầu sử dụng huyết thanh của ngựa chửa ngày càng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, chúng tôi đưa thêm hạng mục chăn nuôi ngựa với mục đích chính là lấy huyết thanh vào trong dự án của mình.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đánh giá kiến thức về tầm quan trọng của việc tiêm chủng, tác dụng phụ và chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của bà mẹ

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TIÊM CHỦNG, TÁC DỤNG PHỤ VÀ CHĂM SÓC TRẺ SAU TIÊM CHỦNG CỦA BÀ MẸ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêm chủng phòng bệnh bằng các vaccine là một thành tựu trong y học ở thế kỷ XX, có ý nghĩa to lớn trong Y học dự phòng. Chương trình tiêm chủng mở rộng đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và chết của trẻ em dưới 1 tuổi và 5 tuổi về các bệnh truyền nhiễm. Ước tính hàng năm tiêm chủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển .
Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 được sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ nhi Đồng liên Hiệp Quốc với vaccine phòng 6 bệnh truyền nhiễm: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Lao, Bại liệt cho trẻ em dưới 1 tuổi. Năm 1985 tiêm chủng mở rộng được đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước. Mục tiêu tiêm chủng mở rộng đã hoàn thành với tỷ lệ 87% năm 1990 và trên 90% vào năm 1993 cho toàn trẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccin. Năm 2003 có 100% số huyện trên cả nước được tiêm vaccine viêm gan B. Năm 2004 tỷ lệ tiêm 3 mũi viêm gan B đạt 94,2%. Từ đó vaccine viêm gan B được coi là vaccine thứ 7 trong chương trình tiêm chủng mà trẻ em Việt Nam dưới 1 tuổi phải được tiêm chủng đầy đủ [2].
Chương trình tiêm chủng mở rộng không chỉ bảo vệ sức trẻ em mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội và quan hệ quốc tế quan trọng [3]. Là một trong những chương trình y tế Quốc gia ưu tiên hàng đầu và được đưa vào 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, đã mang lại thành công lớn trong việc giảm tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở trẻ em do 7 bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra. Việt Nam ta đã thanh toán bại liệt năm 2000, dần dần loại trừ Uốn ván sơ sinh và tiến tới khống chế bệnh Sởi.
Nâng cao sức khỏe con người là nhiêm vụ trọng tâm của ngành y tế, sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là sự nghiệp của toàn xã hội.

Do đó việc tìm hiểu kiến thức về tiêm chủng mở rộng, tác dụng phụ, chăm sóc sau tiêm chủng của các bà mẹ của Tổ 15 phường Thủy Phương – thị xã Hương Thủy là yêu cầu cần thiết.
Vì vậy được sự đồng ý của nhà trường, Khoa điều dưỡng trường Đại Học Y Dược Huế và chính quyền địa phương phường Thủy Phương – thị xã Hương Thủy chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kiến thức về tầm quan trọng của việc tiêm chủng, tác dụng phụ và chăm sóc trẻ sau tiêm chủng của bà mẹ” Với 2 mục tiêu nghiên cứu:
1. Tìm hiểu kiến thức của bà mẹ về tầm quan trọng của tiêm chủng.
2. Tìm hiểu kiến thức của các bà mẹ về tác dụng phụ và chăm sóc trẻ sau tiêm chủng.
Xem thêm

32 Đọc thêm

KHÁM DẤU HIỆU RỐI LOẠN Ý THỨC VÀ VẬN ĐỘNG

KHÁM DẤU HIỆU RỐI LOẠN Ý THỨC VÀ VẬN ĐỘNG

nhớ các ảo tưởng ảo giác đã qua khi bệnh nhân tỉnh trở lại. Gặp trong giang maithần kinh giai đoạn III, thoái hóa não nặng, bệnh não do tăng huyết áp...Tính trạng vận độngKhám cơ lựcCơ lực phụ thuộc hệ thần kinh, hệ cơ xương khớp, yếu tố tâm lý... Có 3 cáchkhám cơ lực theo tuần tự sau đây:Cách khámLàm động tác thông thường: Hướng dẫn bệnh nhân thực hiện các động tác đồngthời hai bên như giơ hai tay hoặc hai chân, gấp hoặc duỗi 2 tay hoặc 2 chân...nếu không thực hiện được là liệt nặng sau khi đã loại trừ hystérie, bệnh cơxương khớp.Chống đối động tác: Cho chúng ta biết cơ lực của từng nhóm cơ một. Ngườibệnh làm một động tác nào đó thì thầy thuốc chống lại như bệnh nhân co tay thìthầy thuốc cố kéo ra hoặc ngược lại... và phải làm đối xứng hai bên. Sau khikhám biết được nhóm cơ nào yếu, nếu nghi ngờ thì phải dùng các nghiệm phápđể đánh giá.Nghiệm pháp: Có hai nghiệm pháp, chỉ dùng khi liệt nhẹ còn liệt nặng khôngcần đến nghiệm pháp.Nghiệm pháp Barré:Chi trên: Người bệnh nằm ngữa, giơ thẳng 2 tay ra phía trước tạo với mặtgiường một góc 60( và lòng bàn tay để ngửa. Bên nào liệt thì cẳng tay sẽ rơixuống nhanh là liệt rõ còn liệt nhẹ thì tay bên liệt bàn tay quay sấp và từ từ rơixuống hay cứ đưa lên đưa xuống (bập bênh).Hình: Nghiệm pháp Barré chi trên kết hợp với nghiệm pháp Mingazini theoStrumpel (Liệt tay chân trái).Ở chi trên còn có thể sử dụng nghiệm pháp gọng kìm để đánh giá cơ lực ngón
Xem thêm

11 Đọc thêm

Trắc nghiệm truyền thông giáo dục và nâng cao sức khỏe

TRẮC NGHIỆM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE

1. Nguyễn Huỳnh Thịnh – ĐH Võ Trƣờng Toản – Fb: tailieuykhoa2000 Trang 1 BÔ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE LƢU HÀNH NỘI BỘ 20152. Nguyễn Huỳnh Thịnh – ĐH Võ Trƣờng Toản – Fb: tailieuykhoa2000 Trang 2 LỜI NÓI ĐẦU Bộ câu hỏi trắc nghiệm giáo dục và nâng cao sức khỏe đƣợc thực hiện trên nền tảng bộ chuyên đề “TÀI LIỆU THAM KHẢO”. Bộ câu hỏi nhắm đáp án nhu cầu học tập, rèn luyện và nâng cao tính tự giác học tập, trao dồi của sinh viên. Bộ câu hỏi tuy đã khái quát đƣợc gần hết nội dung của chƣơng trình đào tạo bác sĩ đa khoa nhƣng vẫn còn thiếu sót. Chính vì vậy, mong các bạn đọc và thầy cô giáo đóng góp thêm. Kính mong quí đọc giả đóng góp thêm ý kiến. Mọi chi tiết xin gửi về hộp thƣ: conheokisslovegmail.com Lƣu ý: Đây là bộ câu hỏi đƣợc thực hiện lại bởi sinh viên của trƣờng chứ không phải do giảng viên chính thức ban hành. Vì vậy, tài liệu này chỉ có tính chất tham khảo và không có bất kỳ khả năng pháp lý nào. Mọi vấn đề xử phạt hay thƣa kiện điều vô hiệu quả. TÁC GIẢ (ĐÃ CẬP NHẬT MỚI)3. Nguyễn Huỳnh Thịnh – ĐH Võ Trƣờng Toản – Fb: tailieuykhoa2000 Trang 3 MỤC LỤC 1.Lời nói đầu ....................................................................2 2.Mục lục..........................................................................3 3.Khái niệm về TT – GDNCSK.......................................4 4.Hành vi sức khỏe – quá trình thay đổi HVSK ..............10 5.Các nội dung TT – GDSK ............................................19 6.Mô hình TT và kỹ năng TT – GDSK ...........................25 7.Lập kế hoạch và quản lý hoạt động TT – GDSK .........32 8.Tình huống tƣ vấn sức khỏe..........................................41 9.Truyền thông có phƣơng tiện........................................45 10.Lập kế hoạch một buổi TT – GDSK ..........................52 11.Tài liệu tham khảo.......................................................55 12.Đáp án..........................................................................??4. Nguyễn Huỳnh Thịnh – ĐH Võ Trƣờng Toản – Fb: tailieuykhoa2000 Trang 4 BÀI KHÁI NIỆM VỀ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE Câu 1. Định nghĩa sức khỏe theo WHO, có 3 mặt: A. Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tâm thần, sức khỏe văn hóa. B. Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tâm thần, sức khoẻ xã hội. C. Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tâm thần, sức khỏe cộng đồng. D. Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tâm linh, sức khỏe cá nhân Câu 2. Ở các nƣớc đang phát triển, các bệnh không lây có xu hƣớng ngày càng gia tăng thƣờng: A. Các bệnh mãn tính nhƣ bệnh chuyển hóa, đột quỵ, tai nạn giao thông. B. Các bệnh mãn tính nhƣ bệnh tâm thần, đột quỵ, tai nạn giao thông. C. Các bệnh mãn tính nhƣ bệnh tim mạch, trầm cảm, tai nạn giao thông. D. Các bệnh mãn tính nhƣ bệnh tim mạch, đột quỵ, tai nạn giao thông. Câu 3. Mƣời bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ chết trung bình 10 năm cao nhất Việt Nam giai đoạn 1994 – 2003 gồm: A. Bệnh lao, HIVAIDS, sốt rét, uốn ván, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, viêm màng não do não mô cầu, lỵ amíp, bạch hầu, và tả. B. Bệnh cúm gia cầm, HIVAIDS, sốt rét, uốn ván, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, viêm màng não do não mô cầu, lỵ amíp, bạch hầu, và tả. C. Bệnh dại, HIVAIDS, sốt rét, uốn ván, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, viêm màng não do não mô cầu, lỵ amíp, bạch hầu, và tả. D. Bệnh nhiễm giun, HIVAIDS, sốt rét, uốn ván, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, viêm màng não do não mô cầu, lỵ amíp, bạch hầu, và tả. Câu 4. WHO tổng kết rằng ….. tất cả các loại bệnh tật ở nƣớc đang phát triển có liên quan đến sử dụng nƣớc và vệ sinh môi trƣờng kém. A. 60% B. 70% C. 80%. D. 90% Câu 5. Các vấn đề sức khoẻ phổ biến ở các nƣớc đang phát triển gồm: A. Các bệnh nhiễm trùng, siêu vi trùng và nhiễm ký sinh trùng. B. Các bệnh không lây. C. Bệnh tật và tử vong ở bà mẹ và trẻ em. D. Tất cả 3 ý trên đều đúng. Câu 6. Làm thay đổi hành vi sức khỏe , liên quan tới: A. Nhận thức, Thái độ. Lòng tin, Các hành động có lợi cho sức khỏe5. Nguyễn Huỳnh Thịnh – ĐH Võ Trƣờng Toản – Fb: tailieuykhoa2000 Trang 5 B. Nhận thức, Thái độ, Lòng tin, Suy nghĩ có lợi cho sức khỏe C. Mong muốn, Thái độ, Lòng tin, Các hành động có lợi cho sức khỏe D. Tất cả đều đúng Câu 7. IEC viết tắt của: A. Investion, Equal, Communication B. Information, Education, Communication C. Information, Education, Compression D. Investigation, Education, Communication Câu 8. Định nghĩa về GDSK: A. Giáo dục sức khoẻ cũng giống nhƣ giáo dục chung đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con ngƣời, phát triển những thực hành mang lại tình trạng sức khoẻ tốt nhất cho con ngƣời. B. GDSK còn đƣợc định nghĩa là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào tình cảm và lý trí của con ngƣời nhằm làm thay đổi hành vi sức khoẻ cá nhân và tập thể trong cộng đồng. C. Câu a+b đúng. D. Không câu nào đúng cả. Câu 9. Mục tiêu cơ bản của GDSK là giúp cho mọi ngƣời: A. Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khoẻ của họ. B. Hiểu rõ những điều họ có thể làm để giải quyết những vấn đề sức khoẻ và bảo vệ tăng cƣờng sức khoẻ bằng những khả năng của chính họ và sự giúp đỡ từ bên ngoài. C. Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cƣờng cuộc sống khoẻ mạnh. D. Tất cả 3 ý trên đều đúng Câu 10. Bản chất của quá trình GDSK: A. Là một quá trình truyền thông B. Là một quá trình tác động tâm lí C. Là làm thay đổi hành vi sức khỏe D. Cả 3 câu trên đều đúng Câu 11. Lĩnh vực tác động của GDSK: A. Kiến thức: thông tin truyền bá kiến thức mới hoặc làm thay đổi những kiến thức sai lầm B. Thái độ: làm chuyển đổi thái độ cũ có hại cho sức khỏe C. Cách thực hành: Hƣớng dẫn những kỹ năng thực hành mới hoặc làm thay đổi cách thực hiện cũ D. Tất cả đều đúng6. Nguyễn Huỳnh Thịnh – ĐH Võ Trƣờng Toản – Fb: tailieuykhoa2000 Trang 6 Nguồn tin Người nhậnThông tin Câu 12. Sơ đồ: Quá trình tuyên truyền – giáo dục (thông tin hai chiều): A. 1. Thông điệp 2. Ngƣời nhận 3. Phản hồi B. 1. Đƣờng truyền 2. Ngƣời nhận 3. Phản
Xem thêm

57 Đọc thêm

HÚT THUỐC LÁ LÀM TRẦM TRỌNG HƠN BỆNH HEN

HÚT THUỐC LÁ LÀM TRẦM TRỌNG HƠN BỆNH HEN

Hút thuốc lá làm trầm trọng hơn bệnh henHút thuốc lá gây nguy hiểm cho mọi người. Nếu bạn bị hen, hút thuốc tác hại còn nặng nề hơn. Khói thuốc chứNhững độc chất từ khói thuốcKhói thuốc lá chứa trên 4.000 chất có thể gây hại cho sức khỏe. Các chất này gồm 2 dạng: những hạt rất nhỏ thể rắn cChất hắc ín gây tổn thương tế bào ở đường thở, những thương tổn này làm cho tế bào phát triển không kiểm soát đượKhói thuốc còn mang các độc chất vào trong máu và làm hủy hoại những cơ quan khác như những mạch máu ở tim, nKhói thuốc lá kích thích các khí đạo trong phổi làm các tế bào này tiết ra nhiều chất nhầy (đờm). Lúc này chức năng làmNgười hút thuốc thụ động vừa hít phải khói thuốc, vừa hít khói từ phần điếu thuốc đang cháy đỏ chứa nồng độ chất độKhói thuốc dễ gây mắc và làm trầm trọng hơn bệnh hen ở mọi lứa tuổiPhụ nữ khi mang thai mà hút thuốc thì những hóa chất trong khói thuốc có thể đi vào bào thai qua đường cuống rốn vàHút thuốc gần trẻ em không những có thể làm trẻ dễ mắc bệnh hen và các bệnh hô hấp khác mà còn nguy hiểm hơn vKhảo sát cho thấy, những trẻ con của những người hút thuốc thụ động sau khi sinh dễ mắc phải những bệnh hô hấp nSống trong nhà không có người hút thuốc, trẻ bị hen có thể kiểm soát hen đến 90%, tỷ lệ này chỉ còn 50% đối với trẻ bMột vấn đề quan trọng khác bạn cần biết là những trẻ sống với người hút thuốc, sau này khi lớn lên chúng cũng dễ trởSo sánh với người mắc bệnh hen không hút thuốc, người bệnh hen hút thuốc sẽ phải chịu những hậu quả đáng tiếc s- Triệu chứng hen thường xảy ra hơn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐÁP ÁN ĐỀ THI BỆNH TRUYỀN NHIỄM H P1 HUU ANH LAN 1

ĐÁP ÁN ĐỀ THI BỆNH TRUYỀN NHIỄM H P1 HUU ANH LAN 1

- Nội dung 3 (0,25 điểm): Hạch lâm ba xuất huyết vân đá hoa- Nội dung 4 (0,25 điểm): Lách nhồi huyết hình răng cưa- Nội dung 5 (0,25 điểm): Van hồi manh tràng loét hình cúc áoÝ 2 (1 điểm) Bệnh Tụ huyết trùng lợn- Nội dung 1 (0,25 điểm): Lợn chết đột ngột- Nội dung 2 (0,25 điểm): Da tụ máu, xuất huyết thành đám không có hìnhdạng nhất định, thường ở bụng.- Nội dung 3 (0,25 điểm): Xoang bao tim tích nước- Nội dung 4 (0,25 điểm): Viêm phổi thùy, gan hóa theo các giai đoạnkhác nhauÝ 3 (1 điểm) Phó thương hàn lợn- Nội dung 1 (0,25 điểm): Tím tai, tím mõm, tím 4 chân- Nội dung 2 (0,25 điểm): Lợn con bị tiêu chảy nặng, phân vàng, có cácmảng tế bào bong tróc, mùi thối khắm.- Nội dung 3 (0,25 điểm): Lách sưng, dai như cao su- Nội dung 4 (0,25 điểm): Ruột xuất huyết, hoại tử, đặc biệt ở ruột giàÝ 4 (0,75 điểm) Đóng dấu lợn- Nội dung 1 (0,25 điểm): Da xuất hiện những nốt đỏ hình vuông, hìnhquả trám. Da hoại tử, bong tróc.- Nội dung 2 (0,25 điểm): Van tim loét sùi như hoa súp lơ (thể mạn tính)- Nội dung 3 (0,25 điểm): Lách tụ máu, nổi gồ từng chỗCâu 3: ( 2 điểm)Trình bày biện pháp phòng bệnh Uốn ván? Cơ sở khoa học của các biện pháp đó?- Nội dung 1 (0,5 điểm): Vi khuẩn Clostridium là vi khuẩn yếm khí triệtđể nên cần tạo điều kiện bất lợi cho vi khuẩn bằng những thuốc sát trùng giàuoxi hóa. =&gt; Mở rộng vết thương, sát trùng bằng thuốc tím, oxy già.- Nội dung 2 (0,5 điểm): Vi khuẩn cần tránh sự thực bào để có điều kiệnnhân lên tại vết thương =&gt; Loại bỏ dị vật, cắt bỏ tổ chức dập nát.- Nội dung 3 (0,5 điểm): Chuột là động vật trung gian đóng vai trò quantrọng trong đường truyền lây bệnh =&gt; Thường xuyên tiêu diệt chuột
Xem thêm

40 Đọc thêm

Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA TOLPERISON HYDROCLORID TIÊM TĨNH MẠCH TRONG PHỐI HỢP ĐIỀU TRỊ UỐN VÁN TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC VIỆN CÁC BỆNH TRUYỀN NHIỄM VÀ NHIỆT ĐỚI QUỐC GIA

Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia Nghiên cứu tác dụng của tolperison hydroclorid tiêm tĩnh mạch trong phối hợp điều trị uốn ván tại khoa điều trị tích cực viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia
Xem thêm

74 Đọc thêm

Đừng lơ là với vi khuẩn uốn ván!

ĐỪNG LƠ LÀ VỚI VI KHUẨN UỐN VÁN!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bệnh viện (BV) Bệnh nhiệt đới trung ương thời gian gần đây đã tiếp nhận nhiều ca bệnh uốn ván. Có những trường hợp mắc uốn ván với nguyên nhân hết sức đơn giản như bị dằm đâm vào tay hay một vết xước nhỏ trong lúc lao động, chơi thể thao. Suýt chết chỉ vì giẫm phải đinh Bệnh nhân Nguyễn Văn C. (17 tuổi) ở Thái Bình là một trong những ca bệnh uốn ván nặng điều trị tại Khoa Cấp cứu BV Bệnh nhiệt đới trung ương. Trước đó, anh C. đi đá bóng cùng bạn và không may giẫm phải đinh. Thấy vết thương nhỏ, nghĩ chẳng ăn nhằm gì nên anh chỉ rửa chân qua loa. Thế nhưng 5 ngày sau, anh có biểu hiện đau cổ, gáy, cứng hàm, co giật. Gia đình vội đưa đến BV gần nhà nhưng do tình trạng bệnh diễn biến nặng nên anh C. được chuyển tiếp lên BV Bệnh nhiệt đới trung ương. Bác sĩ Nguyễn Trung Cấp, phụ trách Khoa Cấp cứu ở đây, cho biết bệnh nhân nhập viện đã hơn 1 tuần nhưng vẫn trong tình trạng hôn mê sâu, tăng trương lực cơ, toàn thân co giật, phải dùng thuốc an thần liều cao. Tiếp đó, bệnh nhân được mở khí quản, thở máy. Tuy nhiên, do có bội nhiễm phổi nên việc điều trị phức tạp, tiên lượng bệnh nhân phải nằm điều trị ít nhất 1 tháng với chi phí cả trăm triệu đồng. Cũng tại Khoa Cấp cứu này, một trường hợp khác nhập viện do uốn ván là bệnh nhân Trần Thị M., 65 tuổi ở Bắc Giang. Theo người nhà bệnh nhân, 2 tuần trước khi nhập viện, bà M. bị gạch rơi vào chân, chảy máu. Dù đã rửa bằng ôxy già và băng bó vết thương nhưng 1 tuần sau, bà M. thấy cứng hàm, khó há miệng nên vào BV huyện điều trị. Sau 3 ngày, bệnh tăng nặng, co giật nhiều cơn, bệnh nhân được chuyển lên BV Bệnh nhiệt đới trung ương trong tình trạng co cứng cơ toàn thân, co giật liên tục và có thể phải điều trị kéo dài. Nằm cùng phòng với bà M., một thanh niên 28 tuổi ở Hà Nam cũng bị uốn ván phải thở máy vì một vết thương ở mu bàn chân do tai nạn giao thông.   Bệnh uốn ván là tình trạng nhiễm khuẩn nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao Vi khuẩn uốn ván ở khắp nơi Bác sĩ Cấp cho biết bệnh uốn ván là tình trạng nhiễm khuẩn nguy hiểm, có tỉ lệ tử vong cao gây ra bởi một độc tố protein mạnh là tetanospasmin do Clostridium tetani tiết ra. Vi khuẩn gây uốn ván có ở mọi nơi trong đất, cát, bụi; phân trâu, bò, ngựa và gia cầm; nơi cống rãnh hay dụng cụ phẫu thuật không tiệt trùng kỹ… Trong các môi trường này, vi khuẩn uốn ván dễ dàng xâm nhập vào các vết thương hở dù chỉ là trầy xước. “Đáng lưu ý là nha bào uốn ván có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường, chỉ bị tiêu diệt trong nước sôi 30 phút, trong môi trường dung dịch sát khuẩn 20 phút. Khi lọt được vào trong vết thương yếm khí (vết thương bị dập nát dính cát bẩn, không có không khí, vết thương bị băng bó chặt, bó lá...), nha bào trở thành vi khuẩn, tiết độc tố uốn ván. Các độc tố này sẽ xâm nhập vào cơ thể, đi vào hệ thần kinh và gây ra co cứng cơ hoặc co giật cơ khi có kích thích, rất nguy hiểm” - bác sĩ Cấp nhấn mạnh. Bệnh khởi phát sau chấn thương từ 3-14 ngày. Triệu chứng của bệnh thường là trương lực cơ và co cứng toàn thân. Lúc đầu tăng trương lực cơ ở các cơ nhai, nuốt hay đau các cơ cổ, vai, lưng. Kế tiếp, các cơ khác cũng bị tăng trương lực gây cứng bụng và cứng các chi. Giới chuyên môn cho biết hiện nay, đa phần bệnh nhân bị nhiễm trùng uốn ván là nam giới, tập trung ở lứa tuổi thanh niên và trung niên. Lý giải điều này, bác sĩ Nguyễn Hồng Hà, BV Bệnh nhiệt đới trung ương, cho biết hầu hết phụ nữ mang thai đã được tiêm vắc-xin uốn ván nên đã có kháng thể bảo vệ. Đối với nam giới, dù đã được tiêm vắc-xin từ lúc còn nhỏ nhưng sau một thời gian dài (khoảng 10 năm), hiệu lực bảo vệ của vắc-xin sẽ giảm nên dễ mắc bệnh uốn ván. Cách tốt nhất để phòng bệnh uốn ván là tiêm vắc-xin phòng bệnh sau 10 năm. Nếu chẳng may bị thương tích, cần lấy hết dị vật ở vết thương ra, sau đó nên đi tiêm ngay huyết thanh chứa kháng thể uốn ván và vắc-xin phòng uốn ván.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bệnh uốn ván

BỆNH UỐN VÁN

Bệnh uốn ván, Thư viện số,Thư viện online, Thư viện chia sẻ sách, luận văn, đồ án, tài liệu, ebook, giáo trình, giáo án,bài giảng, báo cáo thực tập,luận văn tốt nghiệp,Đồ án tốt nghiệp,văn bản, biểu mẫu, quảng cáo, tập trung các lĩnh vực về giáo dục cho sinh viên, học sinh, giảng viên đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.

48 Đọc thêm

BỆNH UỐN VÁN - TETANUS

BỆNH UỐN VÁN - TETANUS

BỆNH UỐN VÁN - TETANUS

39 Đọc thêm

ỨNG DỤNG CỦA MÁU CUỐNG RỐN TRONG GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU

ỨNG DỤNG CỦA MÁU CUỐNG RỐN TRONG GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU

Phát hiện và ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh hiện nay được xem là một trong những thành tựu nổi bật trong ngành y học hiện đại trong thế kỉ XX. Tế bào gốc có ở tủy xương, máu ngoại vi và máu cuống rốn.Tuy nhiên tế bào máu cuống rốn được các nhà khoa học đánh giá là một thành quả to lớn trong việc điều trị nhiều loại bệnh trong đó có cả bệnh nan y. Trước kia khi chưa phát hiện ra tầm quan trọng của máu cuống rốn thì dây rốn khi được cắt ra khỏi mẹ và em bé được coi như là rác thải y tế. Nhưng ngày nay nó được các bác sỹ chuyên khoa nhận định, có thể sử dụng máu cuống rốn để chữa nhiều bệnh hiểm nghèo cho chính bản thân em bé hay cho người thân trong gia đình và thậm chí cho những người tương đồng HLA, ngoài ra nó còn đảm bảo về vấn đề đạo đức. Vì thế lưu trữ máu cuống rốn được xem như một loại bảo hiểm sinh học trọn đời, là một biện pháp bảo đảm tương lai sức khoẻ cho con cái và các thành viên trong gia đình
Xem thêm

34 Đọc thêm

Bài giảng về bệnh uốn ván

BÀI GIẢNG VỀ BỆNH UỐN VÁN

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

10 Đọc thêm