ĐIỀU KIỆN PHÁ GIÁ TIỀN TỆ THÀNH CÔNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐIỀU KIỆN PHÁ GIÁ TIỀN TỆ THÀNH CÔNG":

CHUONG 11 TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

CHUONG 11 TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Phá giá hay nâng cao tiền tệ: TRANG 10 Tác dụng của việc phá giá: - Tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong n−ớc, khuyến khích hàng xuất khẩu do nhận đ−ợc lợi nhuận tăng thêm từ đó k[r]

13 Đọc thêm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ DOC

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ DOC

• Can thiệp ngoại hối: Khi tỷ giá hối đoái tăng cao, NHNN tung ngoại tệ bán, làm cho khả năng cung ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, tỷ giá sẽ từ từ giảm xuống. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, NHNN sẽ mua ngoại tệ vào, làm cho cầu ngoại tệ tăng lên, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, tỷ giá hối đoái sẽ từ từ tăng lên. Tuy nhiên, việc NHNN bán hoặc mua ngoại tệ sẽ có ảnh hưởng làm cho khối tiền tệ giảm hoặc tăng. Do đó, nếu NHNN không muốn điều này xảy ra, thì NHNN có thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở để trung hòa ảnh hưởng nói trên, nhất là trong trường hợp ảnh hưởng đó làm trầm trọng thêm áp lực lạm phát. Mặt khác, để áp dụng được biện pháp này hiệu quả, đòi hỏi khối lượng dự trữ ngoại hối phải đủ lớn. Do đó, đối với các nước đang phát triển, việc áp dụng biện pháp này có những hạn chế.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Khủng hoảng tài chính Đông Á 1997

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐÔNG Á 1997

Tìm hiểu về khủng hoảng tài chính Đông Á 1997. Nguyên nhân và tác động tới các nước trong khu vực. Những bài học rút ra từ cuộc khủng hoáng. Sự tác động đối với nền kinh tế thế giới và hệ lụy.Một cú sốc, ví dụ như tỷ giá ngoại thương thay đổi theo chiều hướng xấu làm tăng thâm hụt cán cân xuất nhập khẩu, có thể dẫn tới một cuộc tấn công mang tính đầu cơ vào đồng nội tệ và làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối. Chính phủ lúc đó buộc phải từ bỏ tỷ giá hối đoái cố định và để đồng nội tệ phá giá. Đây là diễn biến điển hình của một cuộc khủng hoảng tiền tệ (currency crisis).
Xem thêm

13 Đọc thêm

Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẢM BẢO AN NINH TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế vv
Xem thêm

40 Đọc thêm

Tìm hiểu về thuế chống bán phá giá

TÌM HIỂU VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

đề tài tiểu luận tìm hiểu về thuế chống bán phá giá và thực trạng bán phá giá áp dụng đối với nước ta, những điều lệ quy định về bán phá giá khi ta gia nhập wto, và những vụ kiện mà nước ta bị áp thuế chống bán phá giá, điển hình là vụ kiện cá tra, cá basa

12 Đọc thêm

Tìm hiểu về bán phá giá

TÌM HIỂU VỀ BÁN PHÁ GIÁ

Bán phá giá là một khái niệm cơ bản của thương mại quốc tế. Các sản phẩm bán vào một thị trường với giá bán ở mức dưới giá thành sản xuất thì được xem là bán phá giá và có thể phải chịu các cuộc điều tra và bị trừng phạt.
Bán phá giá là tổng hợp những biện pháp bán hạ giá một số mặt hàng xuất khẩu nào đó để cạnh tranh nhưng có hiệu quả với những bạn hàng khác trên thị trường thế giới. Mục tiêu là đánh bại đối thủ, chiếm lĩnh thị trường ngoài nước hoặc kiếm ngoại tệ khẩn cấp, có khi cả mục tiêu chính trị.
Phân loại bán phá giá: gồm 2 loại:
Bán phá giá chớp nhoáng ( Bán phá giá độc quyền ): là hình thức BPG xuất khẩu tạm thời thấp hơn giá nội địa để tăng sức cạnh tranh, loại trừ đối thủ. Khi đã đạt được mục đích thì mức giá sẽ được nâng lên ở mức giá độc quyền. Phá giá độc quyền là hành vi vi phạm thô bạo nguyên tắc cạnh tranh vì bản chất của nó là hành vi nhằm độc quyền hóa. PGĐQ làm hủy hoại cạnh tranh và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những bất ổn về kinh tế. PGĐQ chia làm 2 loại:
• Phá giá chiến lược: là hành vi BPG nằm trong một chiến lược cạnh tranh tổng thể của nước XK.
• Phá giá cướp đoạt: là hành vi định giá thấp nhằm mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh vào tình trạng phá sản để giành vị trí độc quyền tại nước NK.
Bán phá giá không độc quyền: biểu hiện các loại hình thức:
Xem thêm

4 Đọc thêm

Bài giảng Định giá dựa trên nhu cầu truyền thông

BÀI GIẢNG ĐỊNH GIÁ DỰA TRÊN NHU CẦU TRUYỀN THÔNG

Bài giảng Định giá dựa trên nhu cầu truyền thông
Chia sẻ: but_xanh | Ngày: 18072014
Bài giảng Định giá dựa trên nhu cầu truyền thông có nội dung giới thiệu đến người học các kiến thức về các điều kiện để giám định cấp độ giá, phân biệt giá, chiến lược giới thiệu sản phẩm mới, chiến lược bán phá giá, định giá giờ cao điểm. Mời các bạn cùng tham khảo.

11 Đọc thêm

NHÌN LẠI 2014 NỢ CÔNG THÁCH THỨC NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THỜI GIAN TỚI

NHÌN LẠI 2014 NỢ CÔNG THÁCH THỨC NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THỜI GIAN TỚI

Năm 2014, kinh tế Việt Nam đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng đặc biệt đã đạt được nhiều dấu mốc trong hội nhập kinh tế toàn cầu. Trước hết là tăng trưởng kinh tế vượt mục tiêu đề ra; lần đầu thắng kiện và khởi kiện chống bán phá giá; hoàn tất đàm phán hai hiệp định thương mại tự do song phương với Hàn Quốc và với Liên Minh Hải quan NgaBelarusKazakhstan; hoàn thành nhiều công trình quan trọng như công trình Tòa nhà Quốc Hội và dự án Cầu Nhật Tân; ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối...Trong niềm hân hoan chứng kiến những thành quả mà cả Nhà Nước, Chính phủ, và các thành phần trong nền kinh tế đã nỗ lực đạt được cũng cần nghiêm túc nhìn lại một số vấn đề đã “thách thức” nền kinh tế thời gian vừa qua. Trong đó một vấn đề khá nổi cộm được Đảng, Nhà Nước và nhân dân rất quan tâm đó là tình trạng nợ công sát ngưỡng cho phép.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Qua cơ sở lý luận về lạm phát anh (chị) hãy phân tích tình hình lạm phát và biện pháp giải quyết lạm phát ở việt nam

QUA CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦU

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.
Bài Tiểu luận với đề tài: “ Qua cơ sở lý luận về lạm phát anh (chị) hãy phân tích tình hình lạm phát và biện pháp giải quyết lạm phát ở Việt Nam” Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức còn hạn chế, em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó một cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ và thách thức, khó khăn có liên quan trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam

HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO VÀ LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ VÀ THÁCH THỨC, KHÓ KHĂN CÓ LIÊN QUAN TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM

Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang lại nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở một nền thương mại và đầu tư công bằng. Nhưng trong khi các quốc gia thành viên WTO đang phải dẫn dỡ bỏ các rào cản thuế quan và thuế hoá các rào cản phi thuế quan thì các biện pháp tự vệ, thuế chống phá giá và thuế đối kháng vẫn ngày càng được nhiều quốc gia phát triển áp dụng một cách triệt để, nhất là, nhiều nước đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt với tình trạng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá tại thị trường của mình, và gánh chịu những thiệt hại cho sản xuất trong nước. Cho nên việc tìm các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng - biện pháp chống bán phá giá, đang được rất nhiều nước quan tâm, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên không phải nước nào áp dụng biện pháp chống bán phá giá một cách đúng đắn, đôi khi mang tính chủ quan áp đặt mang tính chính trị.... Hàng hoá của Việt Nam cũng đã gặp phải những biện pháp chống bán phá giá mà nước sở tại áp dụng. Sự việc đó cũng đã ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của chúng ta. Trong bài viết này đề cập đến vấn đề “Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ và thách thức, khó khăn có liên quan trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam”

Xem thêm

21 Đọc thêm

TRƯƠNG sĩ tú GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN tệ của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM

TRƯƠNG SĨ TÚ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

MỤC LỤCMỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ21.1. Khái niệm21.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ31.2.1. Kiểm soát lạm phát31.2.2. Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp41.2.3. Ổn định và tăng trưởng kinh tế.41.2.4. Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền51.2.5. Xung đột giữa các mục tiêu51.2.6. Các mục tiêu trung gian61.3. Cơ cấu chính sách tiền tệ:61.4. Phối hợp chính sách tài khoá và tiền tệ71.5. Các công cụ của chính sách tiền tệ71.5.1. Nghiệp vụ thị trường mở81.5.2. Dự trữ bắt buộc.91.5.3. Chiết khấu, tái chiết khấu101.5.4. Chính sách lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi.121.5.5. Cung ứng tiền mặt pháp định131.5.6. Kiểm soát tín dụng chọn lọc141.5.7. Ấn định hạn mức tín dụng14CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM162.1. Chính sách tiền tệ ở Việt Nam162.1.1 Tình hình kinh tế tiền tệ162.1.1.1.Tình hình tỷ giá162.1.1.2 Tình hình lạm phát172.1.1.3.Tình hình thất nghiệp172.1.1.4 Tăng trưởng kinh tế172.2. Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ.182.2.1 Dự trữ bắt buộc.182.2.2. Chiết khấu, tái chiết khấu.182.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở192.2.4 Quản lý lãi suất của NHTM từ năm 2009đến nay.192.2.5 Quản lý ngoại hối202.3.Đánh giá quá trình điều hành chính sách tiền tệ.212.3.1 Những mặt tích cực212.3.2 Những kết quả đạt được232.3.3 Những hạn chế còn tồn tại232.3.4 Nguyên nhân242.3.4.1 Nguyên nhân khách quan242.3.4.2 Nguyên nhân chủ quan252.3.4.3. Đó là sự bất cập của các thủ tục pháp ý, hành chính, sự yếu kém của bộ máy hành chính.262.3.4.4 Nguyên nhân thuộc về những người lập , ra quyết định ,thực hiện quyết định.262.3.4.5 các công cụ chính sách tiền tệ nói riêng và các chính sách kinh tế noi chung chưa thực sự đồng bộ. Nhiều khi còn kìm hãm nhau, nhất là trong dài hạn.272.3.4.6 Những hạn chế của chính sách lãi suất trong giai đoạn 2010 đến nay27CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NÀH NƯỚC VIỆT NAM323.1. Một số giải pháp sử dụng nghiệp vụ thị trường mở.323.1.1. Hoàn thiện cơ chế tổ chức, điều kiện công nghệ nhằm thực hiện có hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở.323.1.2. Ban hành quy chế về hoạt động của thị trường mở và hình thành cơ chế can thiệp linh hoạt, kịp thời của NHNN trên thị trường mở323.1.3. Các biện pháp liên quan khác:333.2. Các giải pháp đối với chính sách lãi suất.333.2.1. Cần có một chính sách lãi suất đồng bộ.333.2.2. Thực hiện lãi suất cơ bản để tiến tới tự do hoá lãi suất .343.2.3. Đã đến lúc cần một lãi suất sàn.353.3. Cần có các công cụ gián tiếp để điều hành CSTT.373.4. Về các thủ tục hành chính, bộ máy hành chính.373.5. Chính sách tiền tệ cần được sử dụng một cách đồng bộ cùng với các chính sách quốc tế khác.38KẾT LUẬN39 LỜI MỞ ĐẦUChiến lược phát triển kinh tế Việt Nam từ nay đến 2020 được khẳng định tại hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII là Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đổi mới là phải ổn định được được môi trường kinh tế vĩ mô và có các chính sách kinh tế phù hợp. Trong đó chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế quan trọng tác động mạnh mẽ nhiều mặt đến các biến số kinh tế vĩ mô.Trong các công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất được coi là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua tác động điều chỉnh các mối quan hệ trên thị trường tài chính, tiền tệ. Vì vậy muốn ổn định thị trường tài chính tiền tệ, tạo điều kiện ổn định môi trường kinh tế vĩ mô không thể không đề cập đến vai trò của chính sách lãi suất trong hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia và trong hệ thống các chính sách kinh tế.Trong nền kinh tế thị trường , chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ mô cực kỳ quan trọng nhằm ổn định giá trị của đồng tiền kiềm chế lạm phát, hạn chế thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Thời gian gần đây nền kinh tế nước ta đã có những dấu hiệu của sự suy thoái tăng trưởng kinh tế giảm, tổng cầu giảm lạm phát ở mức thấp, vốn đầu tư giảm, sản xuất kinh doanh trì trệ. Điều này đòi hỏi một chính sách tiền tệ đúng đắn, linh hoạt để tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển trong sự nghiệp CNHHĐH đất nước.Từ những nhận định trên, em đã quyết định lựa chọn đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do tài liệu và trình độ còn nhiều hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được cô xem xét và chỉ bảo. em xin phép được dành những lời trân trọng nhất bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài
Xem thêm

41 Đọc thêm

BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁTRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁTRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tếBiện pháp chống bán phá giátrong thương mại quốc tếBởi:Đại Học Kinh Tế Quốc DânTrong thương mại quốc tế, khi hàng hoá bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị áp đặtcác biện pháp chống bán phá giá (antiduming) như thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thếchấp, can thiệp hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằmtriệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhập khẩu, trong đó thuếchống bán pháp giá và biện pháp phổ biến nhất hiện nay.Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào nhữnghàng hoá bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bánphán giá đưa đến cho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trongthương mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước). Thuếnày đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho hànghoá của một quốc gia. Nguyên tắc chung nêu ra những Hiệp định của WTO là khôngđược phân biệt đối xử khi áp dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hoá bị bán phágiá được xuất khẩu từ những quốc giá khác nhau với cùng biên độ phá giá như nhau thìsẽ áp đặt mức thuế chống phá giá thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất khẩu chứkhông phải áp dụng bình quân (ngay cả khi các nhà xuất khẩu từ cùng một quốc gia) vàkhông được phép vượt quá biên độ phá giá đã được xác định.Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp đặt các biện phápchống bán phá giá. Theo quy định của WTO cũng luật pháp của rất nhiều nước thì thuếchống bán phá giá chỉ được áp đặt khi hàng hoá được bán phá giá gây thiệt hại đángkể hay đe doạ gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Như vậy,nếu một hàng hoá được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng không gây thiệthại đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặtthuế chống bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá khác. Thiệt hại cho ngànhsản xuất trong nước được hiểu là tình trạng suy giảm đáng kể về số lượng, mức tiêu thụtrong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm cho người lao động,
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

Tính cấp thiết của đề tài
Đối với một nước đang phát triển, do khan hiếm về vốn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá việc phát triển các ngành kinh tế có lợi thế của quốc gia là điều kiện quan trọng hàng đầu. Trong những năm qua, ngành thuỷ sản Việt Nam từng bước khẳng định lợi thế và vị trí trong cơ cấu kinh tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất thế giới giai đoạn 1998-2008.
Khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới hàng xuất khẩu Việt Nam nói chung và thủy sản nói riêng gặp không ít khó khăn. Một trong những khó khăn thường gặp nhất là quốc gia nhập khẩu tiến hành kiện bán phá giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Kể từ năm 1994, số vụ kiện chống bán phá giá lên đến 47 vụ. Thực tế cho thấy, các vụ kiện chống bán phá giá có tác động lớn đến kinh tế Việt Nam, thể hiện ở chi phí tốn kém do phải thuê luật sư tư vấn, tham gia tố tụng, kim ngạch xuất khẩu giảm do doanh nghiệp giảm nhập khẩu những mặt hàng là đối tượng chịu sự điều tra vì lo ngại nguy cơ phải trả thêm các khoản thuế chống bán phá giá. Các tác động kinh tế không chỉ dừng lại ở các nhà sản xuất sản phẩm bị kiện bán phá giá mà còn lan rộng sang các ngành công nghiệp khác. Đó là phản ứng mang tính dây chuyền của các ngành công nghiệp sử dụng các sản phẩm bị điều tra bán phá giá làm nguyên liệu đầu vào.
Nhằm giảm thiểu các vụ kiện bán phá giá đối với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời giúp các doanh nghiệp chủ động phòng tránh các vụ kiện có thể xảy ra, Cục quản lý cạnh tranh đã xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Hệ thống được khai trương và bắt đầu hoạt động từ ngày 22/9/2010.
Hệ thống cảnh báo sớm hiện nay thực hiện cảnh báo cho 10 mặt hàng xuất khẩu trên 8 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam với cùng một cơ chế cảnh báo. Do đó, cơ chế cảnh báo hiện tại khó phát huy hiệu quả trong việc cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá cho từng mặt hàng nói riêng và mặt hàng thủy sản nói chung. Để hệ thống cảnh báo sớm thực sự là công cụ hỗ trợ cho việc điều chỉnh chính sách kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, đề tài “Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam” được chọn để nghiên cứu.
Xem thêm

116 Đọc thêm

Một số giải pháp giúp Việt Nam chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một mốc quan trọng trong quá trình chuyển đổi của đất nước từ nền kinh tế với cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra những triển vọng to lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của các thành phần kinh tế nước ta. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, thị trường mở rộng cho hàng hoá của Việt Nam, tạo điều kiện để các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi, triển vọng to lớn, hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít rào cản về thuế quan cũng như phi thuế quan, trong đó các vụ kiện chống bán phá giá càng ngày càng gây thêm nhiều khó khăn cho việc thâm nhập thị trường quốc tế của các mặt hàng vốn là thế mạnh của chúng ta.
Trên thực tế, hàng hoá Việt Nam xuất khẩu cũng đang trở thành đối tượng của các vụ kiện chống bán phá giá ở nhiều thị trường như: Hoa Kỳ, EU, Canada, Mexico, Peru, ... Hàng hoá bị kiện là những sản phẩm mà chúng ta có thế mạnh xuất khẩu ( thuỷ sản, giày dép, gạo ). Nhưng những mặt hàng chúng ta xuất khẩu với số lượng chưa đáng kể cũng đã bị kiện ( đèn huỳnh quang, ván lướt sóng.,.). Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần được trang bị những hiểu biết cơ bản về thực tế các vụ kiện chống bán phá giá để từ đó có biện pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại.
Làm thế nào để ứng phó có hiệu quả đối với các vụ kiện chống bán phá giá đang là một vấn đề hết sức mới mẻ, bỡ ngỡ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Chỉ ra những quy định trong luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và WTO.
Phân tích thực trạng áp dụng luật chống bán phá giá đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, dự báo các tình huống có thể xảy ra và hành động ứng phó của Việt Nam.
Đưa ra các giải pháp để ngăn ngừa và giảm tối thiểu thiệt hại cho các doanh nghiệp và ngành hàng kinh tế Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề chốngsss bán phá giá hàng hoá.
Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu các quy định về chống bán phá giá của Hoa Kỳ.
Thực trạng áp dụng biện pháp chống bán phá giá hàng Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ với trường hợp cụ thể là vụ kiện chống bán phá giá cá da trơn và tôm.
Thời gian nghiên cứu : từ sau hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ ( từ 2001 đến nay)
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng , phân tích tổng hợp và so sánh số liệu.
Kết cấu bài viết:
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài viết gồm 3 phần chính:
Chương I: Tổng quan về bán phá giá hàng hoá trong Thương mại quốc tế.
Chương II: Thực trạng và bài học kinh nghiệm ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá hàng Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Đây là một vấn đề tương đối mới mẻ, có ít tài liệu nghiên cứu và trở thành đề tài nổi cộm trong thời gian gần đây. Bài viết của em chỉ mang tính tổng hợp dựa trên phân tích diễn biến hàng hoá Việt Nam đang bị kiện bán phá giá ở thị trường Hoa Kỳ nên chắc chắn còn sơ sài và nhiều thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy giáo Th.s Vũ Thành Hưởng và các chuyên viên thuộc ban nghiên cứu các vụ kiện chống bán phá giá thuộc Cục quản lý cạnh tranh Bộ công thương để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

81 Đọc thêm

Giới thiệu ngành tài chính công ty

GIỚI THIỆU NGÀNH TÀI CHÍNH CÔNG TY

Tổng quát ngành tài chính:Hiện trạng thách thức và cơ hội của ngành tài chínhMinh chứng cho sự thành công trong ngành tài chính.Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Sự ra đời: Sản xuất hàng hóa và tiền tệ là nhân tố mang tính khách quan có ý nghĩa quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính; và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo điều kiện tạo ra hành lang pháp lý và điều tiết sự phát triển của tài chính.Hệ thống tài chính bao gồm: Tài chính công (gồm ngân sách nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách) Tài chính doanh nghiệp Thị trường tài chính (gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn) Tài chính đối ngoại Tài chính hộ gia đình, cá nhân Tài chính trung gian bao gồm các tổ chức ngân hàng và phi ngân hàng
Xem thêm

13 Đọc thêm

Tìm hiểu về luật chống bán phá giá của Mỹ và EU, thực trạng chống bán phá giá của Việt Nam và biện pháp khắc phục

TÌM HIỂU VỀ LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ VÀ EU, THỰC TRẠNG CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

Tìm hiểu về luật chống bán phá giá của Mỹ và EU, thực trạng chống bán phá giá của Việt Nam và biện pháp khắc phục.
TÓM TẮT
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp...để bảo hộ sản xuất trong nước. Bài viết này đề cập đến một số qui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.
Nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu không ngừng bị áp dụng các thủ tục và biện pháp chống bán phá giá tại thị trường EU, Mỹ như mặt hàng cá da trơn đông lạnh, tôm đông lạnh, giày dép.
I. Bán phá giá:
1. Khái niệm:
Phá giá là hành động của bản thân doanh nghiệp. Việc bán sản phẩm hàng hoá dưới giá thành chỉ có thể thực hiện dựa trên tiềm lực tài chính của chính doanh nghiệp đó. Nếu không, họ sẽ bị phá sản.
Theo cách hiểu giản đơn, bán phá giá là hành động bán một hàng hoá nào đó với mức giá thấp hơn chi phí nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc giành thêm thị phần.
Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được hiểu là hàng hoá xuất khẩu được bán sang một nước khác với giá thấp hơn “giá trị bình thường” của nó và gây “tổn hại vật chất” đối với ngành sản xuất nội địa (theo điều VI của GATT). Có thể thấy rằng, việc xác định mức giá bị coi là “phá giá” rất phức tạp, vì nó liên quan đến hàng loạt vấn đề như xác định chi phí sản xuất, xác định mức độ thiệt hại tiềm năng và thực tế.
Ở Mỹ bán phá giá được hiểu là việc bán hàng tại thị trường Mỹ với mức giá thấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu; việc bán các mặt hàng đó gây ra hoặc đe dọa thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất của Mỹ.
Đối với Cộng đồng châu âu (EC) thì phá giá liên quan đến bất cứ hàng hoá nhập khẩu nào với giá thấp hơn chi phí. Quy chế chống bán phá giá của EC năm 1996 cho phép áp dụng thuế chống phá giá trong các điều kiện:
Thứ nhất, giá hàng hoá bán trên thị trường EC thấp hơn giá trên thị trường của nước sản xuất;
Thứ hai, hàng hoá nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa ngành sản xuất của EC như là việc mất thị phần, lợi nhuận, việc làm…
Biện pháp bán phá giá có thể được sử dụng với tư cách phản ứng ngắn hạn để đối phó với tình hình suy thoái trong nước, nghĩa là sản lượng dư ra được đổ bán tháo ở nước ngoài; hoặc với tư cách một chiến lược dài hạn để tham nhập thị trường xuất khẩu hoặc đẩy đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường. Khi các công ty bán phá giá đã chiếm được địa vị vững chắc trên thị trường, họ thường tăng giá lên để tạo ra lợi nhuận.Cho dù được vận dụng với mục đích nào thì biện pháp bán phá giá vẫn bị coi là hình thức buôn bán không công bằng và bị các hiệp định thương mại điều chỉnh.
Theo hiệp định thực thi điều VI của hiệp định chung về thuế quan và thương mại một sản phẩm bị coi là bán phá giá ( tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khẩu với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của một sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu thep các điều kiện thương mại thông thường.
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hóa được XK với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường
Xem thêm

24 Đọc thêm

Thực trạng và tác động của phá giá tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁ GIÁ TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2. Những tác động của phá giá tiền tệ:2.1. Tác động của phá giá tiền tệ lên cán cân thanh toán:Cán cân thanh toán tổng thể bao gồm cán cân vãng lai và cán cân vốn.2.1.1.Tác động lên cán cân vốn: Nhân tố chủ yếu tác động lên cán cân vốn là lãi suất. Khi mức lãi suất nội tệ thay đổi sẽ kích thích làm cho các luồng vốn chạy vào hay chạy ra khỏi quốc gia, làm cho cán cân vốn thay đổi. Yếu tố tỷ giá hầu như không ảnh hưởng lên cán cân vốn, nghĩa là khi phá giá tiền (tỷ giá tăng) thì cán cân vốn hầu như không thay đổi. Tuy nhiên, nếu thực hiện phá giá mạnh sẽ có thể gây ra tâm lý lo ngại về các bất ổn, yếu kém trong nền kinh tế cho các nhà đầu tư, có thể khiến họ đưa ra quyết định rút vốn. Hậu quả là có thể gây bất ổn định đến các luồng vốn ra vào.2.1.2.Tác động lên cán cân vãng lai. Mục tiêu của phá giá tiền tệ là làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa và từ đó cải thiện cán cân thanh toán vãng lai. Khi đồng nội tệ giảm giá sẽ làm tăng tỷ giá danh nghĩa, kéo theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại. Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng ngoại tệ, giá nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng được gọi là hiệu ứng giá cả. Khi tỷ giá giảm làm giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng xuất khẩu trong khi hạn chế khối lượng nhập khẩu.2.1.2.1.Tác động lên cán cân thu nhập và cán cân chuyển giao vãng lai một chiều:Cán cân thu nhập phụ thuộc vào những khoản đã đầu tư trước đó; còn cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc vào mối quan hệ hay lòng tốt giữa người cư trú và người không cư trú hầu như việc chính phủ phá giá tiền tệ (tỷ giá tăng) không tác động lên cán cân thu nhập, chuyển giao vốn một chiều.2.1.2.2.Tác động lên cán cân thương mại và dịch vụ.a.Trong ngắn hạn. Khi tỷ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước tương đối cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỷ giá cũ, các doanh nghiệp trong nước chưa huy động đủ nguồn lực để sẵn sàng tiến hành sản xuất nhiều hơn trước nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên. Cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm lý người tiêu dùng. Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu dùng có thể lo ngại về chất lượng hàng nội chưa xứng đáng thay thế hàng nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay. Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng không giảm mạnh. Vì vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả thường có tính trội hơn hiệu ứng số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi.b.Trong dài hạn.Giá hàng nội địa giảm đã kích thích sản xuất trong nước và người tiêu dùng trong nước cũng đủ thời gian tiếp cận và so sánh chất lượng hàng trong nước với hàng nhập. Doanh nghiệp có thời gian tập hợp đủ các nguồn lực để tăng khối lượng sản xuất. Lúc này sản lượng bắt đầu co giãn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện.2.2.Tác động của phá giá tiền tệ đối với nền kinh tế.2.2.1.Tác động của phá giá tiền tệ đối với lạm phát.Do giá cả nhập khẩu tăng, nên giá cả nội địa cũng thường tăng lên sau khi thực hiện phá giá tiền tệ. Việc tăng giá hàng nội địa sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giá cả – lương. Nếu lương được điều chỉnh theo mức độ lạm phát thì trong trường hợp này lương sẽ tăng. Như vậy, sẽ dẫn tới hiện tượng lạm phát leo thang gây ảnh xấu đến tiết kiệm, đầu tư, phát triển kinh tế, phân bổ thu nhập cũng như ổn định chính trị. Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ gây nên lạm phát có thể kiểm soát được bằng cách giảm tín dụng kinh tế và giảm thâm hụt ngân sách.2.2.2. Tác động của phá giá tiền tệ đối với sản xuấtTrong ngắn hạn, việc tăng giá sẽ làm giảm tiền lương thực tế (trước khi lương danh nghĩa được điều chỉnh), đồng thời giảm tài sản của người dân đang được cất giữ dưới dạng đồng tiền nội địa, tài khoản ngân hàng và trái phiếu nội địa. Giảm thu nhập thực tế sẽ hạn chế người dân tiêu dùng dẫn tới giảm mức chi tiêu của quốc gia. Do vậy, thông thường sẽ có sự tái phân bổ thu nhập và tài sản sau khi phá giá tiền tệ. Việc giảm chi tiêu có thể cải thiện tài khoản vãng lai, nhưng đồng thời cũng làm giảm cầu đối với hàng hóa nội địa, từ đó gây ra thất nghiệp trong một số ngành kinh tế.2.2.3.Tác động của phá giá tiền tệ đến ngân sáchPhá giá tiền tệ có thể có những ảnh hưởng gián tiếp đến ngân sách, có thể cải thiện hay làm thâm hụt ngân sách. Điều này phụ thuộc vào tầm quan trọng của các khoản thu và chi chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ giá hối đoái. Xét về nguồn thu ngân sách bao gồm các khoản như thuế xuất nhập khẩu và viện trợ nước ngoài. Phá giá có xu hướng làm tăng thuế thu đối với giao dịch thương mại nước ngoài. Mức độ ảnh hưởng của chính sách này phụ thuộc vào tương quan so sánh giữa thuế thu từ xuất nhập khẩu và tổng thuế thu được, độ co giãn về thuế, độ co giãn theo giá của xuất nhập khẩu. Nếu đất nước nhận được một lượng lớn viện trợ nước ngoài, thì khoản thu này cũng sẽ tăng theo tỉ lệ của phá giá tiền tệ. Xét về nguồn chi ngân sách gồm những khoản bù trừ nguồn thu. Trước hết, nếu đất nước đang có một khoản nợ nước ngoài lớn, thì việc phá giá tiền tệ sẽ làm cho họ phải trả khoản lãi suất lớn. Thứ hai, khoản chi của chính phủ cho mua xăng dầu, máy tính, thiết bị quân sự từ nước ngoài sẽ tăng lên.2.2.4.Một số tác động khác. Chi phí sản phẩm thiết yếu: Các nước đang phát triển đặc biệt phụ thuộc vào một số sản phẩm nhập khẩu, đầu tư, năng lượng và sản phẩm y tế. Phá giá tiền tệ làm giá thành các sản phẩm này tương đối đắt đỏ và có thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng và đời sống nhân dân. Nợ nước ngoài: Một số nước nghèo luôn ở trong tình trạng vay nợ nước ngoài nhiều. Việc phá giá danh nghĩa đồng tiền nội địa làm tăng nợ nước ngoài tính bằng đồng nội địa. Điều này đặt ra nhiều vấn đề cho ngân sách nhà nước, do phải trả lãi, và các khoản trả góp nước ngoài cao do đồng ngoại tệ tăng giá Vấn đề cơ cấu chính sách: Khi có tác động của những chính sách như trợ giá, kiểm soát giá hoặc hạn ngạch xuất khẩu, sẽ làm cản trở sự cân bằng các nhân tố bên ngoài theo qui luật kinh tế. Những vấn đề này cần được xử lý ngay nếu không phá giá tiền tệ sẽ không có ý nghĩa.Phá giá tiền tệ không chỉ tác động đến những vấn đề kinh tế mà còn ảnh hưởng đến những vấn đề mang tính chính trị, xã hội. Vì thế, để thực hiện chính sách phá giá đồng nội tệ, các nước đều phải xem xét và cân nhắc một cách kỹ lưỡng các mặt lợi và hại của biện pháp này dựa trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế.3.Thực tiễn về phá giá tiền tệ ở thế giới và Việt Nam:3.1.Trung Quốc phá giá đồng NDT:Ngày 118, Trung quốc đã chính thức tuyên bố phá giá nhân dân tệ 1.9% , sau đó đồng nhân dân tệ giảm 3% trong 3 phiên liên tiếp – giảm mạnh nhất kể từ năm 1994 đến nay.Nguyên nhân:Do trung quốc đang gặp phải một loạt khó khăn dồn dập:a.Hồi tháng bẩy, xuất khấu bất ngờ giảm 8%, chiếm phần lớn trong nền kinh tế Trung Quốc.b.Sụt giảm kinh tế, doanh số trượt dốc, thu nhập cũng sụt giảm theo.c.TTCK Trung Quốc sụt giảm mạng sau nhiều năm hình thành bong bóng và dòng vốn đầu tư bị rút ra ồ ạt, bộ máy xuất khẩu đất nước bị đình trệd.Chính phủ kìm giá trị của đồng Nhân Dân Tệ so với mặt bằng chung của thế giới đã đẩu giá hàng hóa Trung Quốc trở nên đắt hơn so với hàng hóa các nước khác => Phá giá tiền tệ để đấy mạnh hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc.Diễn biến:1.Ngày 1182015, Ngân hàng nhân dân trung quốc áp dụng cơ chế xác định tỷ giá tham chiếu mới: công bố tỷ giá hàng ngày trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng dựa trên tỷ giá đóng cử bình quân trên thị trường liên ngân hàng ngày hôm trước. Các ngân hàng được phép giao dịch trong biên độ 2% xung quanh tỷ giá tham chiếu.2.Trong ngày 128, Tỷ giá CNYUSD được công bố tăng 1.6 % và 1.1% trong ngày 138 theo diễn biến thị trường3.PBOC cũng chỉ đạo NHTM bán USD để hạn chế mức tăng tỷ giá CNYUSD.4.Một số số liệu:a.1082015: 1000usd= 6211.5 cny – 118 là chủ nhậtb.128: 1000usd = 6440 CNYc.148: 1000usd = 6399.9 CNYd.(Hiện nay ổn định ở mức khoảng 6352.5 CNY, ngày 2210 = 6354,4 )5.Ngày 138, trợ lý thống đốc PBOC thông báo việc thị trường điều chỉnh những ngày qua thi hẹp chênh lệch 3% giữa tỷ giá tham chiếu với kỳ vọng tỷ giá của thị trường, giá trị CNY đang dần phục hồi sau 3 ngày giảm và sẽ giữ ở mức cao, không có cơ sở để tiếp tục giảm mạnh.6. PBOC tuyên bố sẽ không để thị trowngf ngoại tệ biến động quá mức và khẳng định mức tỷ giá hiện nay là phù hợp với yếu tố kinh tế vĩ mô.7. Kết quả là tự ngày 11.8 đến sáng 138, tỷ giá CNYUSD tăng nhưng mức tăng chậm dần và đến chiều 13.8, CNY phục hòi nhẹ, tỷ giá CNYUSD giao dịch đóng cửa giảm khoảng 0,03% so vơi mức công bố đầu ngành.Ảnh hưởng:Thế giới: Dầu thô lao dốc, chứng khoán đỏ lửa.Sáng 128, hầu hết thị trường chứng khoán các nước châu A đều đỏ lửa.oChỉ sổ MSCI châu Á – Thái bình dương giảm 1.5 %, xuống chạm mức thấp nhất kể từ tháng 22014oChỉ số Nikkei 225 của Nhật mất 1.15%,oHang Seng của Hongkong mất 0.95%oASX của ÚC giảm 0.67%Giá dầu tại thị trường Mỹ cũng tụt dốc tới 1.88USD xuống chỉ còn 43.08 usdthùng.Sau động thái của PBOC ngày 11.8, các đồng tiền Châu Á đồng loạt giảm giá khoảng 0,52% so với USD nhưng từ ngày 12.8, mức độ giảm giá chậm lại, đến chiều ngày 13.8.2015, hầu hết đã tăng giá trở lại so với đồng USD: Hong Kong (+0,04%), Đài Loan (+0,4%); Hàn Quốc (+1,41%); Philippines (+0,12%), Ấn độ (+0,24%), Malaysia (+0,42%), Thái Lan (+0,25%) so với đồng USD trong ngày 138 cho thấy thị trường quốc tế đang đi vào ổn định, quen dần biến động thường xuyên của CNY.Thị trường chứng khoán các nước cũng diễn biến tích cực, sau hai ngày giảm thì đến ngày 13.8, cả chứng khoán Châu Âu và Châu Á đều tăng điểm trở lại: Nhật Bản tăng 0,99%, Mỹ tăng 0,15%, Hồng Kong tăng 0,43%, Singapore tăng 1,03%, Indonesia tăng 2,5%, Hàn Quốc tăng 0,4%, đặc biệt Trung Quốc tăng 1,76%Việt Nam:1.Thị trường việt nam lâu nay phụ thuộc rât nhiều vào thị trường trung quốc nên việc phá giá đồng nhân dân tệ chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nước ta.2.Hàng hóa trung quốc sẽ trở nên rẻ hơn hàng việt => tạo tình hình cạnh tranh mãnh liệt hơn với hàng việt.3.Vấn đề ngoại thương: trung quốc và việt nam không chỉ là chính ngạch mà còn là tiểu ngạch, ngoại ngạch. Tức là buôn lậu qua cửa khẩu mà biên giới của Việt Nam không được kiểm tra chặt chẽ. Vấn đề đặt ra cho việt nam phải kiểm soát ngoại thương, không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi buôn lậu.4.Ngoài vấn đề tiền tệ ra, một vấn đề khác cũng hết sức nhức nhối là vấn đề sức khỏe, an toàn thực phẩm. 5.Thị trường chứng khoán việt nam Vnindex giảm 0.62%, HNX – index cũng mất 0.45%.
Xem thêm

11 Đọc thêm

TÀI LIỆU THANH TOÁN QUỐC TẾ TỶ GIÁ

TÀI LIỆU THANH TOÁN QUỐC TẾ TỶ GIÁ

Phá giá tiền tệ TRANG 14 _CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT_ NỘI DUNG: THÔNG QUA NHTW THỰC HIỆN ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT CHIẾT KHẤU, TÁC ĐỘNG VÀO LÃI SUẤT CỦA CÁC NHTM ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN CUNG CẦU TRAN[r]

39 Đọc thêm

Vấn đề lạm phát oqr Việt Nam

VẤN ĐỀ LẠM PHÁT OQR VIỆT NAM

Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác. Thế nào là lạm phát?

21 Đọc thêm

NHỮNG ĐIỀU CHÚ Ý VỀ LẠM PHÁT

NHỮNG ĐIỀU CHÚ Ý VỀ LẠM PHÁT

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.1 Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.
Xem thêm

15 Đọc thêm