ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM BẰNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM BẰNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU":

Nghiên cứu lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ và tác dụng điều trị thoát vị đĩa đệm cốt sống thắt lưng của phương pháp phong bế cạnh rễ thần kinh

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỐT SỐNG THẮT LƯNG CỦA PHƯƠNG PHÁP PHONG BẾ CẠNH RỄ THẦN KINH

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau thắt lưng hông là một chứng bệnh song hành với loài người, được coi là cái giá mà con người phải trả cho dáng đi đứng thẳng. Ngày nay, y học xác định đau thắt lưng hông phần lớn là do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy của đĩa đệm thoát khỏi vị trí sinh lý và chèn ép vào các rễ thần kinh tuỷ sống kế cận gây nên hội chứng thắt lưng hông (đau cột sống thắt lưng và lan dọc phía sau của chân theo đường đi của dây thần kinh hông to).
Trong các bệnh lý về thần kinh ngoại vi thì hội chứng thắt lưng hông chiếm 60,32%. Trong đó, theo Lambert (1960) 63% số bệnh nhân đau thắt lưng là do thoát vị đĩa đệm, theo các tác giả Hồ Hữu L¬ương, Nguyễn Văn Chương, Cao Hữu Hân (1991) tỷ lệ này là 84,27%.
Trên cơ sở lão hóa đĩa đệm theo thời gian (sinh lý) và các quá trình bệnh lý của bản thân đĩa đệm cùng với những tác động (chấn thương) những động tác vận động đột ngột, gắng sức quá mức hay sự thay đổi tư thế bất lợi của cột sống... rất dễ dẫn tới thoát vị đĩa đệm gây ra một bệnh cảnh lâm sàng cột sống đa dạng và phức tạp biểu hiện ở nhiều mức độ, giai đoạn bệnh khác nhau. Người bị thoát vị đĩa đệm sẽ bị hạn chế mọi hoạt động trong sinh hoạt và làm việc, làm giảm năng xuất lao động, giảm chất lượng cuộc sống… Nhiều trường hợp thoát vị đĩa đệm không được điều trị kịp thời hoặc không điều trị đúng cách đã làm cho bệnh tiến triển xấu, để lại di chứng nặng nề, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Trên nền tảng của sự phát triển y học trong nước và thế giới, từ thập kỷ 50 - 60 của thế kỷ XIX đã có nhiều công trình nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị thoát vị đĩa đệm được công bố và ứng dụng trong thực tiễn đó là: các phương pháp điều trị bảo tồn (dùng thuốc, vật lý trị liệu, châm cứu...); điều trị can thiệp tối thiểu (giảm áp bằng LASER, dùng sóng radio...); điều trị phẫu thuật (phẫu thuật nội soi, phẫu thuật mở). Mỗi phương pháp đều có những hạn chế nhất định và chỉ định phương pháp điều trị cụ thể cho từng mức độ tiến triển của từng giai đoạn bệnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của người bệnh. Tuy nhiên, 80 - 90% bệnh nhân được điều trị khỏi bằng phương pháp bảo tồn. Trong đó, các tác giả trên thế giới thu được kết quả điều trị thoát vị đĩa đệm bằng phương pháp phong bế cạnh rễ thần kinh.
Tại Bộ môn - khoa Nội Thần kinh - Viện 103, các bệnh nhân cũng được điều trị bằng phương pháp phong bế rễ thần kinh với kết quả tốt. Tuy nhiên kết quả này chưa được đánh giá một cách có hệ thống.
Ở Lào hiện nay nền kinh tế còn thấp, điều kiện lao động phần nhiều là làm thủ công, người lao động thư¬ờng phải mang vác nặng, việc giáo dục phương pháp lao động, sinh hoạt còn hạn chế. Chính vì vậy tỷ lệ bệnh lý do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lư¬ng rất cao và thư¬ờng gặp ở lứa tuổi lao động. Việc ứng dụng các kỹ thuật điều trị hiện đại vào điều trị thoát vị đĩa đệm là khó khăn, điều trị bảo tồn vẫn là phương pháp phổ biến. Vì vậy, ứng dụng kỹ thuật phong bế cạnh rễ thần kinh sẽ là thích hợp ở đất nước chúng tôi.
Xuất phát từ nhận xét trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ và tác dụng điều trị thoát vị đĩa điệm cốt sống thắt lưng của phương pháp phong bế cạnh rễ thần kinh”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng và những thay đổi của đĩa đệm trên hình ảnh cộng hưởng từ cột sống thắt lưng.
2. So sánh hiệu quả điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của phương pháp phong bế bằng corticoid cạnh rễ thần kinh thắt lưng - cùng do đĩa đệm thoát vị chèn ép.
Xem thêm

64 Đọc thêm

BÀI GIẢNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

BÀI GIẢNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

ngoài đùi và mặt trước trong ở cẳng chân, cổchân ngón cái .4. Triệu chứng lâm sàng4.2. Hội chứng rễ4.2.1. Rối loạn cảm giác:+ Đau rễ S1 cột sống thắt lưng: đau ở saumông, dọc mặt sau đùi, cẳng chân và ngón út,các điểm đau Walleix (+).+ Đau tương ứng với điểm hoàn khiêu, thừaphù, ủy trung...4. Triệu chứng lâm sàng4.2. Hội chứng rễ4.2.1. Rối loạn cảm giác:- Ở cổ: Đau rễ C6, C7. Dị cảm tê bì, đau cánhtay, cẳng tay, bàn tay.4. Triệu chứng lâm sàng4.2. Hội chứng rễ4.2.2. Rối loạn vận động:+ Thoát vị đĩa đệm ở thắt lưng L4 – L5 bị ép rễL5 teo, nhẽo cơ tứ đầu, cơ cẳng chân trước, cáccơ trước ngoài cẳng chân, gập bàn chân về phíamu chân yếu, phản xạ gân gót bình thường. Khókhăn khi bước đi bằng gót chân
Xem thêm

35 Đọc thêm

Nghiên cứu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bằng phẫu thuật lối trước đặt dụng cụ cespace

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ BẰNG PHẪU THUẬT LỐI TRƯỚC ĐẶT DỤNG CỤ CESPACE

Nghiên cứu điều trị phẫu thuật lấy đĩa đệm, loại bỏ gai xương giải ép tủy rễ, ghép Cespace trên 89 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 42007 đến tháng 112010, chúng tôi đã đưa ra được chỉ định điều trị phẫu thuật phù hợp, qua đó có được kết quả điều trị tốt

135 Đọc thêm

Nghiên cứu chẩn đoán và kết quả điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cùng lệch bên bằng phương pháp mở cửa sổ xương

NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG CÙNG LỆCH BÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP MỞ CỬA SỔ XƯƠNG

Đặt vấn đề
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là một bệnh lý thường gặp ở Việt nam cũng
như trên thế giới, gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng có hơn 70% trong độ tuổi lao
động [19]. Khoảng 80% trường hợp đau dây thần kinh hông to là do TVĐĐ
[19]. ở các nước phương tây tỷ lệ 5 - 10/1000 dân hàng năm bị đau cột sống
thắt lưng với mức độ đau và diễn biến bệnh khác nhau [81]. ở Pháp có 23,5%
số bệnh nhân khám bệnh hàng năm do đau cột sống thắt lưng [88]. ở Mỹ theo
thống kê của Tổ chức Y tế Hoa Kỳ có 85% dân số ít nhất có 1 đợt đau lưng
trong đời, chi phí điều trị đứng thứ 3 sau bệnh ung thư và tim mạch [81].
TVĐĐ biểu hiện lâm sàng bằng hai hội chứng chính là hội chứng cột
sống và hội chứng rễ thần kinh. Về chẩn đoán cận lâm sàng trước kia có nhiều
phương pháp như: chụp đĩa đệm cản quang, chụp tĩnh mạch cột sống, chụp tủy
cản quang. Tuy nhiên chụp cộng hưởng từ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh
có giá trị nhất. Đây là phương pháp không cần can thiệp, an toàn cho bệnh
nhân và thầy thuốc.
Có nhiều phương pháp điều trị TVĐĐ, điều trị nội khoa được áp dụng
rộng rãi như dùng thuốc giảm đau chống viêm, bất động cột sống, kéo giãn
cột sống, vật lý trị liệu, phong bế giảm đau, châm cứu bấm huyệt. Khoảng từ
10% - 20% là phải can thiệp phẫu thuật, bao gồm phẫu thuật mở, vi phẫu,
phẫu thuật nội soi [19]. Tuy nhiên phẫu thuật mở vẫn được áp dụng nhiều nhất
(80-90%), và là một phương pháp chuẩn mực [11, 19, 56]. Trong phẫu thuật
mở có nhiều đường mổ khác nhau phụ thuộc vào mối liên hệ của thoát vị với
lỗ ghép, tình trạng hẹp và thoái hóa kèm theo [29]. Các yếu tố cân nhắc là
trường mổ phải đủ rộng để lấy nhân thoát vị không gây tổn thương thần kinh,
tổn thương phần mềm cơ cạnh sống, mức độ mất vững cột sống sau mổ.
Phẫu thuật vi phẫu, nội soi là phẫu thuật ít xâm lấn, có hiệu quả nhất
định nhng
yêu cầu đòi hỏi kỹ thuật cao, phương
tiện dụng cụ hiện đại, nên số
trung tâm phẫu thuật thần kinh triển khai được không nhiều. Hơn nữa một số nghiên cứu cho thấy khi chỉ định đúng thì kết quả không khác biệt giữa phẫu
thuật mở cửa sổ xương, vi phẫu và phẫu thuật nội soi [33, 78, 85]. Phẫu thuật
mở cửa sổ xương là một kỹ thuật ít xâm hại, yêu cầu phương tiện dụng cụ đơn
giản, dễ áp dụng, phù hợp với điều kiện kinh tế của bệnh nhân còn nghèo, việc
đầu tư trang thiết bị của cơ sở y tế còn hạn chế.
Xuất phát từ những thực tế đó, để góp phần giải quyết những vấn đề
trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu chẩn đoán và kết
quả điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cùng lệch bên
bằng phương pháp mở cửa sổ xương" nhằm hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, hình ảnh học của thoát vị đĩa
đệm cột sống thắt lưng, thắt lưng - cùng lệch bên.
2. Đánh giá bước đầu kết quả điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột
sống thắt lưng cùng lệch bên bằng phương pháp mở cửa sổ xương.
Xem thêm

116 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bằng sóng cao tần tại Bệnh viện Việt Đức

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ BẰNG SÓNG CAO TẦN TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

đặt vấn đề

Bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống rất thường gặp với tỷ lệ ngày càng
tăng do thói quen sinh hoạt trong cuộc sống hiện đại. Chỉ riêng tại Mỹ, bệnh
lý cột sống ảnh hưởng đến khoảng 10 triệu người với chi phí điều trị lên đến
khoảng 20 tỷ đô la hàng năm [Carey 1995].
ở Bắc Mỹ, theo nghiên cứu của Kelsey tỷ lệ mắc thoát vị đĩa đệm cột
sống cổ mỗi năm chừng 5,5/100.000 nguời [38]. Tại Việt Nam theo Trần
Ngọc Ân thoát vị đĩa đệm cổ gặp tới 40% trong số thoát vị cột sống nói
chung.
Đã có những nghiên cứu về bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, và các
công trình nghiên cứu áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới
đem lại kết quả tốt trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý thoát vị đĩa đệm.
ở Việt Nam, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ chưa được quan tâm và
nghiên cứu nhiều trong giới y học cũng như trong cộng đồng. TVĐĐ cột sống
cổ chỉ được chú ý chẩn đoán và điều trị từ những năm 90 của thế kỷ XX. Tiếp
đó là các công trình nghiên cứu của Hà Kim Trung, Dương Chạm Uyên [3],
Võ Xuân Sơn (1999), Nguyễn Đức Hiệp (2000), Hồ Hữu Lương (2003),
Nguyễn Đức Liên (2007) [3;8;17;7;4] … về các phương pháp chẩn đoán và
điều trị bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
Hiện nay việc chẩn đoán bệnh lý thoát vị đĩa đệm đã đạt được những
bước tiến mới do áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại: Chụp cắt
lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ…
Về điều trị thoát vị đĩa đệm, điều trị nội khoa, đã được đề cập từ lâu.
Trong mấy năm gần đây điều trị ngoại khoa đã được áp dụng rộng rãi và bước
đầu mang lại kết quả khả quan. Nhưng trong một nghiên cứu của Carragee và
cộng sự (2001) với những trường hợp kích thước của thoát vị nhỏ hơn 6mm (tính từ bờ sau của thân đốt sống), mổ lấy thoát vị cho kết quả tốt chỉ đạt 24%
so với 98% của những BN có kích thước thoát vị lớn hơn 9mm. Như vậy, cần
có phương án điều trị phù hợp với những trường hợp thoát vị đĩa đệm giai
đoạn sớm, nhỏ, chưa vỡ (thoát vị còn bao) chưa có dấu hiệu chèn ép tuỷ, điều
trị nội khoa thất bại. Sóng cao tần có thể là một giải pháp cho những trường
hợp này, được áp dụng vào điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống từ năm 2000. Với
tác dụng làm phân hủy, bốc hơi một phần nhân nhầy đĩa đệm, giảm áp lực nội
đĩa, từ đó giúp phần thoát vị tự co nhỏ lại (khi đĩa đệm chưa rách bao xơ),
giảm chèn ép cho những trường hợp thoát vị nhỏ. Mặt khác, sóng cao tần giúp
cân bằng các rối loạn vật lý, hóa học tại vị trí thoát vị chèn ép, góp phần làm
giảm triệu chứng kích thích rễ cũng như đau cột sống.
Từ năm 2007 Bệnh viện Việt Đức đã áp dụng các kỹ thuật cao trên thế
giới vào điều trị bệnh lý đĩa đệm, trong đó có kỹ thuật tạo hình nhân nhầy
trong thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bằng sóng cao tần, nhưng chưa có công
trình nghiên cứu, đánh giá nào về kỹ thuật này và theo dõi kết quả sau phẫu
thuật một cách có hệ thống.
Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài: “
Nghiên cứu ứng dụng điều trị
thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bằng sóng cao tần tại Bệnh viện Việt
Đức” nhằm mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của TVĐĐ cột sống cổ
điều trị bằng sóng cao tần
2. Đánh giá kết quả điều trị bằng sóng cao tần trong thoát vị đĩa đệm cột
sống cổ tại bệnh viện Việt Đức
Xem thêm

85 Đọc thêm

PHÁC ĐỒ CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG

PHÁC ĐỒ CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG
A. TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN

Đau theo rễ thần kinh + Đau lưng

Hội chứng chùm đuôi ngựa

Đã được chẩn đoán nơi khác

B. BỆNH LÝ

I. ĐẠI CƯƠNG

Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng xơ, gây chèn ép ống sống hay rễ thần kinh,

Thoát vị: nhân đệm di lệch khu trú (<50% hay 180o) vượt ngoài chu vi đĩa đệm: Khu trú: <25% chu vi, Vừa: 25% 50% chu vi, Lồi: mảnh vỡ không có “cổ”,

Vỡ ra: Mảnh vỡ có “cổ” (2 loại: mảnh rời hẳn, mảnh vỡ di trú).

II. CHẨN ĐOÁN

1. Đặc điểm lâm sàng

Khởi đầu đau lưng, vài ngày vài tuần, hoặc đau đột ngột đau theo rễ thần kinh, thường khi đó đau lưng giảm. Đau tăng khi làm nặng, ho, nhảy mũi, rặn, giảm khi nghỉ ngơi hay khi gấp gối và đùi.

Thường không dám vận động mạnh. Tuy nhiên, giữ quá lâu một tư thế (đứng, ngồi hay nằm) cũng gây ra đau, do đó cần phải thay đổi tư thế trong vài phút đến 1020 phút.

Triệu chứng bàng quang, như tiểu khó, tiểu gắt hay tiểu không hết, thường gặp trong những trường hợp nặng.

2. Thăm khám

2.1. Dấu hiệu gợi ý chèn ép rễ bao gồm

Triệu chứng rễ thần kinh: đau xuống chi dưới, yếu vận động chi dưới, thay đổi cảm giác theo khoanh cảm giác da, giảm phản xạ gân xương.

Dấu hiệu căng rễ thần kinh dương tính (nghiệm pháp Lasegue +....).

Đau khi ấn dọc đường đi của dây thần kinh.

2.2. Dấu hiệu căng rễ thần kinh

a. Nghiệm pháp Lasègue: Bệnh nhân nằm ngửa, nâng chân từ từ trong tư thế duỗi gối cho đến khi đau xuất hiện (thường dưới 60 độ). Dương tính khi đau theo đường đi của dây thần kinh. Nghiệm pháp Lasègue nhạy với L5 và S1, rễ L4 ít nhạy hơn, những rễ thần kinh thắt lưng khác rất ít nhạy.

b. Nghiệm pháp Cram, nghiệm pháp căng đùi (nghiệm pháp Lasègue ngược), dấu hiệu Bowstring, nghiệm pháp duỗi gối khi ngồi ghế.

Bảng 1. Biểu hiện triệu chứng theo tầng thoát vị

Tầng đĩa đệm thắt lưng

L34

L45

L5S1

Rễ thường bị chèn ép

L4

L5

S1

Tỷ lệ % đĩa đệm bị

3%10% (TB 5%)

40% 45%

45% 50%

Giảm PXGX

Phản xạ gối

Gân vùng khoeo

Phản xạ gót

Yếu vận động

Cơ tứ đầu đùi (duỗi gối)

Cơ chày trước (bàn chân rớt)

Cơ bụng chân (gấp lòng bàn chân)

Giảm cảm giác

Mắt cá trong và bờ trong bàn chân

Ngón I và mu bàn chân

Mắt cá ngoài và bờ ngoài bàn chân

Vị trí đau

Mặt trước đùi

Mặt sau chân

Mặt sau chân, thường đến cổ chân

2.3. Hội chứng chùm đuôi ngựa

a. Dấu hiệu lãm sàng: Rối loạn cơ vòng: ứ đọng nước tiểu; tiêu tiểu không tự chủ; trương lực cơ vòng hậu môn giảm. Mất cảm giác vùng hội âm. Yếu 2 chi dưới. Đau thắt lưng vàhoặc đau thần kinh tọa. Mất phản xạ gân gót hai bên. Rối loạn chức năng tình dục.

b. Nguyên nhân do đĩa đệm bị vỡ một mảnh lớn ở đường giữa, chủ yếu tại tầng L4L5, thường xảy ra ở bệnh nhân có tình trạng hẹp ống sống, dị tật tủy bám thấp...

2.4. Những điểm quan trọng của bệnh lý đĩa đệm thắt lưng

Ở thắt lưng, rễ thần kinh ra ở bên dưới và ngay dưới chân cung của đốt sống.

Khoang đĩa đệm nằm cách xa dưới chân cung.

Không phải tất cả bệnh nhân có 5 đốt sống thắt lưng.

3. Cận lâm sàng: Hình ảnh học

3.1. X quang: Cần chụp tư thế cúi ngửa tối đa. Giúp phát hiện những bất thường bẩm sinh và hình ảnh thoái hóa.

3.2. MRI: MRI được lựa chọn đầu tiên. Thuận lợi: Cung cấp thông tin tốt hơn ở bình diện đứng dọc, thấy rõ hình ảnh mô mềm, không xâm lấn và không bị nhiễm xạ.

Bất lợi: khó thực hiện ở bệnh nhân đau nhiều hay sợ nhốt kín, đánh giá xương không tốt, đắt tiền, khó đọc kết quả ở trường hợp vẹo cột sống.

3.3. CT cột sống thắt lưng cùng: CT có thể phát hiện phần lớn bệnh lý cột

sống. Thuận lợi: hình ảnh xương rõ, không xâm lấn, bệnh nhân ngoại trú được, nhanh, rẻ. Bất lợi: không khảo sát bình diện đứng dọc, độ nhạy thấp.

3.4. MyelogramCT: độ nhạy 62% 100% và đặc hiệu 83% 94%. Thuận lợi: cung cấp thông tin trên bình diện đứng dọc, đánh giá được chùm đuôi ngựa. Bất lợi: xâm lấn, bệnh nhân phải nằm viện, có thể có tác dụng phụ (đau đầu, buồn nôn, nôn, động kinh).

3.5. Điện cơ: Khi nghi ngờ bệnh lý khác (bệnh lý thần kinh cơ, bệnh lý tủy..) hoặc bệnh lý rễ chưa chắc chắn.

III. ĐIỀU TRỊ

1. Nội khoa bảo tồn

Thay đổi sinh hoạt: nghỉ tại giường 24 ngày khi đau theo rễ nhiều: Hạn chế khuân nặng, ngồi lâu, cúi ngửa hay vặn cột sống thắt lưng. Trong tháng đầu tập thể dục nhẹ nhàng giúp cơ thể giảm suy nhược, tập tăng dần mang lại kết quả tốt, chỉ ngưng tập khi đau.

Thuốc giảm đau: Acetaminophene hay NSAIDS đầu tiên. Giảm đau mạnh hơn (á phiện) khi đau dữ dội và không dùng quá 23 tuần.

Thuốc giãn cơ: tác dụng chưa rõ, có hể tác dụng phụ (li bì, uể oải), dùng dưới 23 tuần.

Giáo dục cho bệnh nhân.

Liệu pháp xoa bóp cột sống (Spinal manipulation theraphySMT).

Tiêm ngoài màng cứng: hiệu quả không rõ ràng.

2. Điều trị ngoại khoa

2.1. Chỉ định

(1) Điều trị nội khoa trung bình 6 tuần không hiệu quả.

(2) “Phẫu thuật cấp cứu”: hội chứng chùm đuôi ngựa, khiếm khuyết vận động

tiến triển, hay bệnh nhân đau không chịu được dù thuốc giảm đau mạnh.

(3) Bệnh nhân không kiên nhẫn điều trị nội khoa.

2.2. Các phương pháp phẫu thuật

1) Phẫu thuật qua ống sống (Transcanal approaches): (a) Cắt bản sống và lấy

nhân đệm qua mổ hở; (b) Cắt bản sống toàn bộ trong những trường hợp có hội

chứng chùm đuôi ngựa; (c) Lấy nhân đệm vi phẫu, ít xâm lấn hơn.

2) Phẫu thuật trong đĩa đệm (Intradiscal produres): (a) Tiêu nhân đệm

(Chemonucleolysis), kém hiệu quả; (b) Phẫu thuật trong đĩa đệm: chỉ định hạn chế và hiệu quả chưa cao, gồm: lấy nhân đệm qua da tự động, giải áp đĩa đệm bằng laser, lấy nhân đệm bằng kỹ thuật nội soi qua da, liệu pháp nội nhiệt tại đĩa đệm...

3) Điều trị hỗ trợ trong phẫu thuật cắt bản sống thắt lưng như tiêm steroid, ghép mỡ tự do ngoài màng cứng, hiệu quả còn bàn cãi.

3. Biến chứng của phẫu thuật cắt bản sống thắt lưng

1. Biến chứng thường gặp: nhiễm trùng vết mổ nông hay sâu, khiếm khuyết vận động, thủng màng cứng, dò dịch não tủy, giả thoát vị màng tủy.

2. Biến chứng ít gặp: tổn thương rễ thần kinh, tổn thương cấu trúc trước than

sống, thùng mạch máu lớn như động mạch chủ bụng, động mạch chậu chung hay tĩnh mạch lớn, có thể gây tử vong do mất máu.

3. Tái phát (cùng tầng hay cùng bên): 4% trong 10 năm.

4. Săn sóc hậu phẫu

Theo dõi: sức cơ chi dưới, quan sát dấu hiệu mất máu, dò dịch não tủy, dấu hiệu chùm đuôi ngựa
Xem thêm

3 Đọc thêm

Điều trị đau bằng Vật lý trị liệu

ĐIỀU TRỊ ĐAU BẰNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU

Điều trị đau bằng các phương pháp không dùng thuốc đang ngày càng được lựa chọn nhiều hơn với các phương pháp hiệu quả và an toàn. Bởi vậy, cả thầy thuốc nội khoa lẫn thầy thuốc tại các khoa VLTLPHCN đều cần có những kiến thức tổng hợp về điều trị đau bằng cả các phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc để có thể áp dụng hoặc tư vấn cho bệnh nhân khi cần thiết.

54 Đọc thêm

Nghiên cứu điều trị bệnh lý hẹp ống sống cổ bằng phương pháp tạo hình bản sống kết hợp ghép san hô (TT)

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ HẸP ỐNG SỐNG CỔ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO HÌNH BẢN SỐNG KẾT HỢP GHÉP SAN HÔ (TT)

1. Đặt vấn đề
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
Hẹp ống sống cổ là một bệnh lý thoái hóa cột sống thường gặp.
Bệnh thoái hóa đĩa đệm và các mặt khớp cột sống cổ thường xảy ra ở
người lớn, đặt biệt từ trên 40 tuổi. Theo Kramer Jurgen, tỷ lệ mắc bệnh
đĩa đệm cột sống cổ chiếm 36,1%, đứng thứ hai sau bệnh lý đĩa đệm cột
sống thắt lưng. Theo Kokubun (Nhật Bản), có 1,54 bệnh nhân trong
100 nghìn dân bị bệnh thoát vị đĩa đệm cổ cần can thiệp phẫu thuật. Ở
Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Hồng cho thấy hẹp ống
sống cổ do thoái hóa ngày càng thường gặp chiếm 51%. Bệnh hẹp ống
sống cổ có thể biểu hiện nhiều triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy mức
độ: từ đau cổ, đau vai hoặc đau theo rễ thần kinh cột sống cổ, có thể
biểu hiện bằng các thương tổn thần kinh như giảm cảm giác hoặc dị
cảm, yếu hoặc liệt vận động, teo cơ, rối loạn cơ vòng… Nó làm giảm
một số chức năng thần kinh, từ đó làm giảm chất lượng sống. Việc điều
trị hẹp ống sống cổ nhằm phục hồi các chức năng thần kinh cho bệnh
nhân, làm giảm đau, bớt liệt, đưa bệnh nhân về cuộc sống bình thường
với chất lượng sống cao. Các phương pháp điều trị rất đa dạng từ điều
trị bảo tồn đến điều trị phẫu thuật tùy theo mức độ hẹp ống sống cổ.
Ở nước ta, trong quá trình hiện đại hóa các phương tiện chẩn đoán
đồng thời với sự nâng cao mức sống và dân trí, bệnh lý hẹp ống sống cổ
ngày càng được phát hiện nhiều hơn, đòi hỏi cần phải có các nghiên
cứu về chẩn đoán và điều trị bệnh lý hẹp ống sống cổ sâu hơn. Xuất
phát từ vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu điều trị
bệnh lý hẹp ống sống cổ bằng phương pháp tạo hình bản sống kết
hợp ghép san hô” với các mục tiêu như sau:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của bệnh lý hẹp
ống sống cổ.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình bản sống cổ có ghép san
hô trong điều trị bệnh lý hẹp ống sống cổ qua các dữ liệu lâm sàng,
hình ảnh học, ưu điểm, nhược điểm và biến chứng của phẫu thuật.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều trị phẫu thuật, đối với hẹp ống sống cổ một hoặc hai
tầng, phương pháp mổ đường trước được ưa chuộng với lấy nhân đệm
hoặc cắt thân sống và ghép xương như phương pháp Cloward, Robinson-Smith, Bailey-Badgley. Đối với hẹp ống sống cổ nhiều tầng
(ba tầng trở lên), các phương pháp đường sau thường được chấp nhận.
Giải áp đường sau bằng cắt bản sống cổ được biết có nhiều biến chứng
hậu phẫu. Gần đây phương pháp tạo hình bản sống cổ đã được các tác
giả Nhật Bản bước đầu sử dụng thay thế dần phương pháp cắt bản sống
cổ. Do đó, đánh giá hiệu quả, biến chứng và chỉ định điều trị đúng loại
bệnh này ở nước ta là hết sức cần thiết đối với chuyên ngành phẫu thuật
thần kinh, đồng thời mở ra thêm một phương pháp mới để điều trị bệnh
lý hẹp ống sống cổ đa tầng.
3. Những đóng góp mới của luận án
Nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về lâm sàng, hình ảnh học góp phần
chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả bệnh lý hẹp ống sống cổ.
Phẫu thuật tạo hình bản sống cổ kết hợp ghép san hô là phương
pháp điều trị hiệu quả bệnh lý hẹp ống sống cổ, tỷ lệ hồi phục cao, tỷ lệ
tử vong và biến chứng rất thấp.
Sử dụng mô ghép san hô vào phẫu thuật giúp rút ngắn thời gian
mổ, tránh đau và di chứng về sau cho bệnh nhân do cuộc mổ lấy xương
mào chậu gây ra.
4. Bố cục của luận án
Luận án gồm 123 trang, đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu 45
trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 13 trang, kết quả 23 trang,
bàn luận 37 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang. Có 38 bảng, 19 biểu
đồ, 37 hình, 103 tài liệu tham khảo.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Báo cáo thực tập môn Điện tử Y Sinh Kỹ thuật y khoa ở công ty Chí Anh Thành Tâm

BÁO CÁO THỰC TẬP MÔN ĐIỆN TỬ Y SINH KỸ THUẬT Y KHOA Ở CÔNG TY CHÍ ANH THÀNH TÂM

I Giới thiệu :Công ty TNHH Một Thành Viên CHÍ ANH THÀNH TÂM136A Cống Lở Phường 15 Quận Tân Bình TP.HCMTel: (08) 62996629 62996639 Fax: (08) 62974766Website: www.chianhthanhtam.com Email: infochianhthanhtam.comChúng ta đang bước vào thời đại mớithời đại của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Tiến bộ vượt bậc của khoa học đã và đang mang lại cho con người những tiện ích vô cùng lớn lao. Trong số đó, y tế và sức khoẻ con người luôn là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu. Công ty TNHH một thành viên Chí AnhThànhTâm được thành lập với mong muốn là chiếc cầu nối giữa những công nghệ hiện đại nhất kết tinh trong những sản phẩm y tế và thẩm mỹ công nghệ cao với đông đảo đối tác, được khách hàng quan tâm trên toàn lãnh thổ Việt Nam.Là nhà phân phối thiết bị Vật lý trị liệu của các dòng sản phẩm phổ thông và cao cấp của các hãng nổi tiếng. Và là đại lý độc quyền các hãng Laser Y học và thẩm mỹ tại Việt Nam, nhiệm vụ của chúng tôi là cung cấp, phân phối các thiết bị vật lý trị liệu laser y học và chất lượng cao của chính hãng. Thêm vào đó, Công ty TNHH một thành viên Chí Anh ThànhTâm còn có giải pháp cung cấp trang thiết bị trọn gói cho các khoa VLTL, Da liễu, Thẩm mỹ của bệnh viện hoặc phòng khám đa khoa, với chi phí hợp lý nhất, hiệu quả điều trị cao nhấtTôn chỉ của chúng tôi:Cung cấp tới tận tay khách hàng các sản phẩm có chất lượng và kỹ thuật cao trong ngành y tế và thẩm mỹ với giá cả hợp lý.Mang đến cho khách hàng một mạng lưới dịch vụ kỹ thuật sau bán hàng hoàn hảo với phương châm “ Vừa lòng khách – hết lòng ta”Giữ uy tín và luôn lấy lợi ích của khách hàng làm quyền lợi cho mình Công ty tự hào có đội ngũ kỹ sư được đào tạo đúng chuyên ngành thiết bị y tế ở trong và ngoài nước. Đội ngũ này không ngừng được nâng cao tay nghề thông qua các khoá đào tạo của các nhà sản xuất..Được sự hỗ trợ về mặt khoa học công nghệ của Viện Vật Lý Y Sinh học và sự ủng hộ của Hội Laser Y Học và Laser Ngoại khoa TP.HCM trong việc đảm bảo về đào tạo, huấn luyện và cấp giấy chứng nhận cho các khách hàng đã và đang triển khai các thiết bị từ công ty chúng tôi.Chúng tôi cam kết mang lại cho khách hàng những nền tảng tốt nhất để đưa thiết bị vào sử dụng hiệu quảVới thế mạnh của mình, chúng tôi hy vọng rằng trong một tương lai gần, Công ty TNHH một thành viên Chí Anh Thành Tâm sẽ trở thành một đối tác truyền thống của Quý khách hàng với tư cách là một nhà cung cấp thiết bị Vật lý trị liệu , laser y tế và thiết bị thẩm mỹ có chất lượng tốt nhất và dịch vụ sau bán hàng chuyên nghiệp nhất.Khi cần tìm hiểu về thiết bị VLTL và thiết bị Laser thẩm mỹĐến với chúng tôiCông ty TNHH Một Thành Viên CHÍ ANH THÀNH TÂMII Những mặt hàng sản phẩm dịch vụ công ty chuyên cung cấp:Công ty TNHH một thành viên Chí Anh Thành Tâm là một trong những nhà phân phối thiết bị Vật lý trị liệu của các dòng sản phẩm phổ thông và cao cấp của các hãng nổi tiếng như: Health care,Medical,Chattanooga,EME,…Chuyên cung cấp các mặt hàng sản phẩm dich vụ như:Thiết bị vật lý trị liệu,phục hồi chức năngLaser thẩm mỹ,thiết bị chăm sóc daDịch vụ bảo trì và sửa chữa các thiết bị y tếDịch vụ tư vấn trang thiết bị y tếCó chứa tất cả các tác nhân vật lý trị liệu: Ví dụ:Cơ: Hệ thống kéo giãn cột sống thế hệ mới,hệ thống tập khớp vaitay,…Quang:Thiết bị ánh sáng sinh học điều trị,laser CO2 …Nhiệt:Thiết bị siêu âm điều trị,thiết bị sóng ngắn điều trị,…Điện:Thiết bị kích thích điện thấp tần và trung tầnTừ:Thiết bị từ trường trị liệu toàn thânThủy:Thiết bị điều trị thủy trị liệuIII Hệ thống công ty bao gồm : Phòng Giám Đốc: Điều hành quản lý toàn bộ công tyPhòng Kỹ Thuật: Lắp đặt,vận hành,bảo trì,bảo dưỡngPhòng Tư Vấn và RD: Nghiên cứu đối tác,thị trường,cạnh tranh,giá cảPhòng Tài Chính: Thanh toán,kiểm soát chi phí,quản lý vốn tài sản của công tyPhòng Kinh Doanh: Lập kế hoạch tiếp thị,bán hàng cho 2 mặt hàng chính:+ Thiết bị vật lý trị liệu,phục hồi chức năng+ Thiết bị thẩm mỹIV Sau khi đi thực tập:Trong đó,bộ phận phòng kỹ thuật là nơi em chú ý đến nhiều nhất.Là nơi mà em có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm:cách sử dụng hay cách bảo trì bảo dưỡng cho máy.Đặc biệt là loại dòng sản phẩm điện trị liệu thấp tần và trung tần của công ty như:Dòng thiết bị kích thích điện tần số thấp, tần số trung bình của hãng EMRSlr (Italia)Có tác dụng giảm đau: Đau lưng,đau thần kinh ngoại vi,đau khớp,đau chấn thươngKích thích:Cơ,thần kinh cơĐiều trị:Teo và yếu cơ,luyện tập cơ sau chấn thươngNgoài ra còn có các tác dụng khác:Điều trị bệnh Buerger,hội chứng Raynaud,loạn dưỡng Sudeck và một số bệnh thần kinh vận động khácBện cạnh đó có nhiều loại dòng kích thích để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân:Dòng Galvaniccontinuous,interrupted,MFDòng Dyadinamicmonophasic,biphasic,monophasic sync,biphasic sync,CP,LPDòng Pulserectangular,triangular,trarbertDòng Faradicrectagular,triangular,neodynamicDòng Tensburst,random,modulated,al tensDòng Biphasicsymmetric,asymmetricDòng Interferntialquadripolar,isoplanar,vector,bipolar,stimulating,russian current (kozt)Tùy vào từng loại dòng mà có hơn 100 chương trình trị liệu có kết quả từ thực tế lâm sàng và còn có thẻ nhớ để có thể lưu thêm 200 chương trình khác với các phác đồ trị liệu của người sử dụng giúp dễ dàng tham khảo đối chiếu khi sử dụngChính vì sự tối ưu và hiệu quả đến như vậy,nên em đã chọn điện trị liệu để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn sau này.Đó chính là nghiên cứu và thiết kế máy điện trị liệu tần số thấp
Xem thêm

8 Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ ĐAU: TỪ CƠ SỞ SINH HỌC ĐẾN BỆNH HỌC

ĐIỀU TRỊ ĐAU: TỪ CƠ SỞ SINH HỌC ĐẾN BỆNH HỌC

Đau là một hội chứng gặp trong rất nhiều bệnh lý khác nhau và là nguyên nhân chủ yếu làm cho người bệnh phải đi khám và điều trị. Các hội chứng đau được nghiên cứu và điều trị trong nhiều chuyên khoa như: Thần kinh, Cơ xương khớp, Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền dân tộc… Hội chứng đau ở các cơ quan bộ phận tuy có những biểu hiện triệu chứng khác nhau nhưng việc điều trị đều có những điểm tương đồng.

379 Đọc thêm

Bệnh học Điều trị đau

BỆNH HỌC ĐIỀU TRỊ ĐAU

Đau là một hội chứng gặp trong rất nhiều bệnh lý khác nhau và là nguyên nhân chủ yếu làm cho người bệnh phải đi khám và điều trị. Các hội chứng đau được nghiên cứu và điều trị trong nhiều chuyên khoa như: Thần kinh, Cơ xương khớp, Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền dân tộc…

156 Đọc thêm

Giày cao gót: Hiểm họa đối với cơ thể

GIÀY CAO GÓT: HIỂM HỌA ĐỐI VỚI CƠ THỂ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hãy cùng đọc để tìm hiểu về những tác hại kinh hoàng của giày cao gót: Thường xuyên đi giày cao gót làm nhiễu loạn sự liên kết, do đó xương sống bị bẻ quá cong (hyperlordosis), gây tổn thương cho cột sống. Trước hết, giày cao gót ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế của bạn và tư thế không đúng chính là nguyên nhân của mọi vấn đề về lưng. Đó là lý do tại sao phụ nữ công sở thường bị đau lưng.   Giày cao gót giúp phái nữ tự tin và quyến rũ hơn nhưng ẩn chứa nhiều hiểm họa Sử dụng giày cao gót trong thời gian dài dẫn đến sự co cứng và co rút của cơ đùi sau, cơ mông. Các cơ bắp co thắt khiến cột sống bị xoắn và biến dạng. Hyperlordosis làm tăng áp lực lên các đĩa đệm, các khớp xương lưng và khớp xương chậu. Tình trạng biến dạng cột sống còn làm giãn dây chằng nâng đỡ phía trước của xương lưng, đồng thời thắt chặt các dây chằng phía sau xương lưng. Sự mất cân bằng này nếu kéo dài sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm và các khớp xương cũng như bệnh viêm khớp sacroiliac. Dây chằng bị thái hóa, viêm và xơ cứng sẽ làm mất sự dẻo dai, linh hoạt của cơ thể.   Mang giày cao gót trong thời gian dài có thể bị giãn dây chằng Giày cao gót còn gây đau lưng dưới, đau thần kinh tọa và nhất là thoát vị đĩa đệm, vấn đề phổ biến ở phụ nữ. Đau lưng sẽ thành bệnh nếu kéo dài 3-4 tuần và chỉ chấm dứt khi bệnh nhân nghỉ ngơi hoàn toàn. Thông thường, mọi người hay uống thuốc hay thoa thuốc mỡ để giảm đau. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ mang tính tạm thời còn nguyên nhân chính gây ra cơn đau vẫn tồn tại. Trong trường hợp đó, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được chữa trị hoàn toàn.   Giày cao gót gây đau cột sống Nếu cơn đau đi kèm tình trạng sưng tấy, hãy chườm đá để giảm đau. Túi chườm đá làm tăng tuần hoàn máu trong tĩnh mạch, giải phóng khí ô-xy trong các mô. Bên cạnh đó, các bài tập giúp tăng khả năng linh hoạt và chuyển động của cơ vùng lưng và hông cũng mang lại hiệu quả nếu được thực hiện dưới sự hỗ trợ của chuyên gia vật lý trị liệu. Phụ nữ có thể lựa chọn giày dép đệm silicon hoặc miếng gel để làm dịu bàn chân, bảo vệ và tránh tạo áp lực lên phần lưng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ĐẶT TẤM LƯỚI NHÂN TẠO THEO PHƯƠNG PHÁP LICHTENSTEIN ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN Ở BỆNH NHÂN TỪ 40 TUỔI TRỞ LÊN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ĐẶT TẤM LƯỚI NHÂN TẠO THEO PHƯƠNG PHÁP LICHTENSTEIN ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN Ở BỆNH NHÂN TỪ 40 TUỔI TRỞ LÊN

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị bẹn là bệnh lý ngoại khoa thường gặp ở các nước trên thế giới
cũng như ở Việt Nam, nhất là ở người cao tuổi [16]. Trong 10.000 dân, thoát vị
bẹn xảy ra 11 trường hợp tuổi từ 16 - 24 và 200 trường hợp trên 75 tuổi [25].
Mỗi năm, thế giới có khoảng 20 triệu trường hợp phẫu thuật thoát vị bẹn, tại
Phần Lan là 11.000, tại Anh hơn 80.000, tại Mỹ hơn 800.000 [102], [111].
Kể từ năm 1884, Edoardo Bassini đã đặt nền móng điều trị thoát vị bẹn
bằng phẫu thuật sử dụng mô tự thân, đến nay đã có hơn 100 loại kỹ thuật khác
nhau như: Bassini, Mc Vay, Nyhus, Ferguson, Shouldice, Berliner… Nhưng, tỉ
lệ tái phát vẫn còn cao. Tại Mỹ 10 - 15%, châu Âu 10 - 30%. Theo nghiên cứu đa
trung tâm tỉ lệ tái phát của phương pháp: Shouldice 6,1%, Bassini 8,6%, Mc Vay
11,2% [131]. Theo Kux, kỹ thuật Bassini tái phát sau hai năm là 13% [125]. Tại
Việt Nam, tỉ lệ tái phát theo Nguyễn Văn Liễu 3,8% [9], Bùi Đức Phú 19% [13],
Tạ Xuân Sơn 6,45% [15] và Ngô Viết Tuấn 3,7% [16].
Các phẫu thuật kinh điển trong điều trị thoát vị bẹn, sử dụng mô tự thân
để tái tạo, khâu che lại điểm yếu của thành bụng, mô cân từ hai vị trí xa nhau
được khâu vào nhau, gây căng đường khâu. Bệnh nhân đau nhiều, hậu phẫu kéo
dài, và chậm phục hồi sinh hoạt cá nhân sau mổ. Hơn nữa, các lớp khâu tạo hình
bị căng, đưa đến thiếu máu nuôi dưỡng, sẹo lành không tốt, nguy cơ gây thoát vị
tái phát cao [1], [4], [8], [31]. Các kỹ thuật này thường gặp khó khăn trong
trường hợp thoát vị bẹn có cấu trúc tại chỗ bị suy yếu, khiếm khuyết, và mô bị
lão hóa biến đổi [9], [18], [114].
Để giảm tỉ lệ tái phát, tránh những nhược điểm do tái tạo thành bụng bằng
mô tự thân. Người ta sử dụng tấm lưới nhân tạo đặt vào vùng bẹn, che chắn và
tăng cường sự vững chắc thành sau ống bẹn để điều trị thoát vị bẹn. Đây là phẫu
thuật tái tạo thành bụng không căng nên đau ít, và không làm thay đổi các cấu
trúc tạo thành ống bẹn. Các kỹ thuật đặt tấm lưới nhân tạo cho kết quả tái phát
thấp: Stoppa 1,5%, Rives 1,6%, Lichtenstein < 1% [131]. Với kỹ thuật mổ mở Lichtenstein, tỉ lệ tái phát 0,6% [114]. Theo Hermández 0,24% [68], Holzheimer
1,1% [71], Novik 1,8% [99]. Hiện nay trên thế giới, điều trị thoát vị bẹn đặt tấm
lưới nhân tạo, áp dụng rộng rãi bằng phẫu thuật mở Lichtenstein và phẫu thuật
nội soi bởi ưu điểm: không gây căng, ít đau sau mổ, thời gian phục hồi nhanh, ít
tai biến, biến chứng và tái phát thấp [17], [80].
Ngày nay tại Việt Nam, điều trị thoát vị bẹn sử dụng đặt “tấm lưới nhân
tạo”, bằng kỹ thuật mổ mở của Lichtenstein và phẫu thuật nội soi được ưa
chuộng. Phẫu thuật nội soi trong điều trị thoát vị bẹn không phải cơ sở y tế nào
trong nước cũng thực hiện được do kỹ thuật khá phức tạp, trang thiết bị và dụng
cụ đắt tiền, phải gây mê toàn thân làm tăng nguy cơ phẫu thuật nhất là bệnh
nhân cao tuổi. Khi mà phẫu thuật nội soi chưa thực sự hoàn thiện thì ứng dụng
kỹ thuật Lichtenstein rất thiết thực, tính khả thi cao, tiết kiệm chi phí.
Đặc biệt, ở bệnh nhân cao tuổi, có thành bụng suy yếu, thoát vị bẹn lớn,
khiếm khuyết, thiếu mô tại chỗ, hay thoát vị tái phát thì sử dụng mô tự thân tái
tạo thành bụng rất bất lợi, khó khăn. Theo Peacock và Madden, bệnh nhân từ 40
tuổi trở lên có sự biến đổi cân, cơ, mạc, do giảm quá trình tổng hợp và tăng quá
trình thoái hóa collagen làm suy yếu cấu trúc thành ống bẹn dễ gây thoát vị mắc
phải [63]. Vì thế, sử dụng tấm lưới nhân tạo để tăng cường thành bụng thì càng
hiệu quả. Tuy nhiên, tấm lưới nhân tạo như một dị vật ghép vào vùng bẹn, có
nguy cơ nhiễm khuẩn và thải loại tấm lưới. Ở lứa tuổi này chưa được nghiên cứu
một cách đầy đủ. Với mong muốn hoàn thiện hơn chất lượng điều trị thoát vị bẹn, xác
định mức độ an toàn, hiệu quả và mở rộng áp dụng cho các bệnh viện tuyến dưới.
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả ứng dụng đặt tấm
lưới nhân tạo theo phương pháp Lichtenstein điều trị thoát vị bẹn ở bệnh
nhân từ 40 tuổi trở lên” nhằm hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu lâm sàng, siêu âm, chỉ định và đặc điểm kỹ thuật đặt tấm
lưới nhân tạo điều trị thoát vị bẹn ở bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên.
2. Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân tạo theo
phương pháp Lichtenstein.
Xem thêm

147 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân tạo có nút (Mesh-Plug)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT THOÁT VỊ BẸN BẰNG TẤM LƯỚI NHÂN TẠO CÓ NÚT (MESH-PLUG)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, mổ thoát vị bẹn vẫn còn là một vấn đề đang được các nhà
ngoại khoa quan tâm. Bằng chứng hơn 130 năm qua, dựa vào kỹ thuật mổ của
Bassini đã có hơn 100 loại phẫu thuật cải biên khác của nhiều tác giả được áp
dụng trên khắp thế giới nhằm mục đích chọn ra được một phương pháp tối ưu
mang lại kết quả điều trị tốt nhất như: tránh tái phát, hạ thấp tỉ lệ các tai biến,
biến chứng trong và sau mổ, hậu phẫu đơn giản, rút ngắn thời gian nằm viện
và có tính thẩm mỹ [44].
Các phẫu thuật tái tạo thành bụng để điều trị thoát vị bẹn có sử dụng cấu
trúc giải phẫu là phương pháp xuất hiện và phổ biến rộng rãi đầu tiên trong lịch
sử. Tuy nhiên, các loại phẫu thuật sử dụng cấu trúc giải phẫu này vẫn còn gặp
không ít khó khăn trong những trường hợp thoát vị bẹn mà cấu trúc các thành
của ống bẹn bị phá hủy, hư hại và biến đổi nhiều. Hơn thế nữa, sức căng của
đường khâu gây đau kéo dài sau mổ và đôi khi gây ra sự thiếu máu làm các tổ
chức liền không tốt có thể dẫn tới nguy cơ tái phát.
Để loại bỏ sự căng của đường khâu tái tạo thành bụng bằng mô tự thân một
cách có hiệu quả người ta dùng tấm lưới nhân tạo vá vào vị trí suy yếu của thành
sau ống bẹn. Vì vậy, người ta chấp nhận sử dụng tấm lưới nhân tạo trong điều trị
thoát vị bẹn, đây là phẫu thuật không tạo nên sức căng của các cấu trúc thành
ống bẹn. Năm 1965, Rives sau đó là Détrie rồi Stoppa, Rotkow, Robbins đã tiến
hành mổ thoát vị bẹn bằng phương pháp đặt tấm lưới nhân tạo cho kết quả tỉ lệ
tái phát thấp: kỹ thuật Stoppa (1,5%), kỹ thuật Rives (1,6%), kỹ thuật
Lichtenstein (<1%). Năm 1986, Lichteinsten đã dùng mảnh ghép đặt vào khoang
trước phúc mạc để điều trị thoát vị bẹn, đạt được kết quả tốt [52], [96].
Năm 1989, Lichtenstein I.L., Shulman A.G., Amid P.K. và Montlor M.M. đã
dùng tấm lưới nhân tạo có nút (Mesh-Plug) để tái tạo sự khiếm khuyết của sàn
ống bẹn [63]. Sau đó lần lượt Gilbert năm 1992, Rutkow và Robbins năm 1993
lần lượt đưa ra luận điểm và áp dụng kỹ thuật này. Cho đến nay kỹ thuật mổ dùng tấm lưới nhân tạo có nút (Mesh-Plug) trong bệnh lý thoát vị bẹn đã và
đang được áp dụng khá rộng rãi nhờ nhiều ưu điểm nổi bật [98], [99].
Phương pháp phẫu thuật dùng tấm lưới nhân tạo có nút (Mesh-Plug) ở Việt
Nam hiện còn mới mẻ, chưa được áp dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên, với
nhiều ưu điểm như các tác giả trên thế giới đã ghi nhận, chúng tôi mạnh dạng
tiến hành công trình nghiên cứu về phương pháp phẫu thuật này đối với người
Việt Nam. Đồng thời góp phần làm phong phú thêm các phương pháp mổ điều
trị thoát vị bẹn ở Việt Nam. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT THOÁT VỊ BẸN
BẰNG TẤM LƯỚI NHÂN TẠO CÓ NÚT (MESH-PLUG)” với mục tiêu:
- Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chỉ định điều trị và
đặc điểm phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân tạo có nút
(Mesh-Plug).
- Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân
tạo có nút (Mesh-Plug).
Xem thêm

168 Đọc thêm

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

thẩm mỹ, Mắt, Răng hàm mặt - nha thẩm mỹ kỹ thuật cao, Sản, Y học cổ truyềnvà vât lý trị liệu - phục hồi chức năng, Khoa dinh dưỡng….Một số điểm nổi bật của bệnh viện:Phẫu thuật ngoại thần kinh như chấn thương sọ não, bướu não; phẫu thuậtcác chấn thương gãy cột sống, bệnh lý thoát vị đĩa đệm… ;Phẫu thuật tim mạch can thiệp như mổ tim, mổ can thiệp sớm...;Phẫu thuật nội soi: các bệnh lý về khớp, các bệnh lý sản phụ khoa, bệnh lýngoại tổng quát, bệnh lý thận, niệu, tuyến tiền liệt…;Chẩn đoán kỹ thuật cao với hệ thống máy móc hiện đại thế hệ mới tự độngthực hiện tất cả các xét nghiệm với chất lượng chẩn đoán chính xác, trả kết quảnhanh không mất nhiều thời gian chờ đợi;Tư vấn và phẫu thuật thẩm mỹ toàn diện: Tạo hình vành tai, tai vểnh, cà damặt, điều trị sẹo lồi, sẹo xấu, vết nám, bớt, nốt ruồi, phẫu thuật tạo hình ngực,nâng ngực, phẫu thuật tạo hình thành bụng sau sinh, hút mỡ bụng, laser thẩmmỹ, mí đôi,lấy mỡ mí mắt, lọc da thừa, nâng sống mũi, thu hẹp cánh mũi, lấysilicon mũi, thu nhỏ môi dày, cằm lẹm, căng da mặt, da trán…Dịch vụ cấp cứu tại nhà: Cấp cứu có hiệu quả ngay tại nhà người bệnhtrong điều kiện tối ưu, Giải quyết vấn đề chuyển viện an toàn, Hạn chế đến mứcthấp nhất tỉ lệ tử vong và di chứng.Hệ thống hạ tầng mạng Hsoft hỗ trợ khám chữa bệnh, phát số tự động, mànhình truyền thông…đã và vẫn đang được tiếp tục phát triển nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho y bác sĩ trong công tác phục vụ khám chữa bệnhMở rộng dịch vụ khám chữa bệnh bằng việc liên kết với 12 trạm y tếphường, trung tâm bảo trợ người tàn tật, trung tâm điều dưỡng tâm thần, xây2dựng thêm các phòng khám đa khoa vệ tinh…Ngoài ra bệnh viện còn khám chữabệnh, khám sức khoẻ, xét nghiệm, siêu âm, X-quang tại các cơ quan, công ty…
Xem thêm

140 Đọc thêm

Nghiên cứu khai thác nguyên lý hoạt động ở máy trị liệu sóng ngắn Curapuls 419

NGHIÊN CỨU KHAI THÁC NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG Ở MÁY TRỊ LIỆU SÓNG NGẮN CURAPULS 419

Nghiên cứu khai thác nguyên lý hoạt động và cách sửa chữa những hư hỏng thường gặp ở máy trị liệu sóng ngắn Curapuls 419
Sóng ngắn điều trị và thấu nhiệt cao tần đã được đưa vào sử dụng từ lâu ở Việt Nam và Ngành điện tử y sinh ra đời nhằm mục đích để cho con người nghiên cứu và phát triển các ứng dụng của thiết bị y tế trong chuyên ngành vật lý trị liệu sóng ngắn. Ở nước ta hiện nay thì các thiết bị vật lý trị liệu đã cũ và còn khan hiếm. Do đó, việc khai thác nghiên cứu sử dụng và duy trì trang thiết bị trong ngành vật lý trị liệu trở thành cấp thiết để cho chúng ta có thể sử dụng thiết bị đạt hiệu quả cao nhất.
Xem thêm

90 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ĐẶT TẤM LƯỚI NHÂN TẠO THEO PHƯƠNG PHÁP LICHTENSTEIN ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN Ở BỆNH NHÂN TỪ 40 TUỔI TRỞ LÊN (TÓM TẮT)

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ĐẶT TẤM LƯỚI NHÂN TẠO THEO PHƯƠNG PHÁP LICHTENSTEIN ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN Ở BỆNH NHÂN TỪ 40 TUỔI TRỞ LÊN (TÓM TẮT)

ĐẶT VẤN ĐỀ1. Tính cấp thiết của đề tàiThoát vị bẹn là bệnh lý ngoại khoa thường gặp, nhất là ở người cao tuổi, và được điều trị bằng phẫu thuật. Các kỹ thuật sử dụng mô tự thân trong điều trị thoát vị bẹn, tỉ lệ tái phát vẫn còn cao: Shouldice 6,1%, Bassini 8,6%, Mc Vay 11,2%. Tại Việt Nam, theo Nguyễn Văn Liễu 3,8%, Bùi Đức Phú 19%, và Ngô Viết Tuấn 3,7%. Các phẫu thuật này, sử dụng mô tự thân để tái tạo thành bụng, gây căng đường khâu, đau nhiều, và hậu phẫu kéo dài. Để tránh sự căng của đường khâu, giảm tỉ lệ tái phát. Người ta sử dụng tấm lưới nhân tạo đặt vào vùng bẹn. Đây là phẫu thuật tái tạo thành bụng không gây căng, và cũng không làm thay đổi cấu trúc ống bẹn. Kỹ thuật Lichtenstein cho kết quả tái phát thấp <1%, ít đau sau mổ, tính khả thi cao, tiết kiệm chi phí. Ở bệnh nhân cao tuổi, có thành bụng nhão, thoát vị bẹn lớn, hay thoát vị tái phát thì sử dụng mô tự thân tái tạo thành bụng rất bất lợi, khó khăn. Đặc biệt bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên, giảm quá trình tổng hợp và tăng quá trình thoái hóa collagen, cân mạc thành bụng suy yếu. Do đó, dùng tấm lưới nhân tạo để tăng cường thành bụng rất hiệu quả. Tuy nhiên, tấm lưới nhân tạo như là một dị vật ghép vào vùng bẹn, có nguy cơ nhiễm khuẩn và thải loại tấm lưới. Với mong muốn hoàn thiện hơn chất lượng điều trị thoát vị bẹn, xác định mức độ an toàn, và hiệu quả của tấm lưới nhân tạo.2. Mục tiêu của đề tài 1. Nghiên cứu lâm sàng, siêu âm, chỉ định và đặc điểm kỹ thuật đặt tấm lưới nhân tạo điều trị thoát vị bẹn ở bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên. 2. Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân tạo theo phương pháp Lichtenstein.3. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tàiThoát vị bẹn là bệnh thường gặp, điều trị phẫu thuật là chủ yếu, mổ tái tạo thành bụng bằng mô tự thân và tấm lưới nhân tạo. Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng và có tỉ lệ biến chứng và tái phát nhất định. Đối với bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên, thành bụng thường yếu, lỏng lẽo nên dễ bị thoát vị bẹn và dễ tái phát sau mổ. Vì vậy, lựa chọn một phương pháp mổ thích hợp nhằm hạn chế tái phát và có kết quả lâu dài tốt sau mổ cho các đối tượng này là mối quan tâm của nhiều phẫu thuật viên. Trong các phương pháp tái tạo thành bụng không căng, kỹ thuật Lichtenstein được đánh giá tốt, để nâng cao hơn nữa chất lượng điều trị thoát vị bẹn. Việc tiến hành nghiên cứu và đánh giá kết quả điều trị là cần thiết.Nghiên cứu cho thấy: tìm ra được một số đặc điểm lâm sàng và siêu âm giúp phát hiện, chẩn đoán, điều trị, và kết quả tốt.Kết quả nghiên cứu đánh giá được ưu điểm của kỹ thuật Lichteinstein. Biến chứng: tụ dịch 1,5%, tụ máu 1%, nhiễm trùng vết mổ 0,5%, đau mạn tính 2,6%, tỉ lệ tái phát 1,6%. Kết quả phẫu thuật thành công là đóng góp rất có giá trị về ứng dụng kỹ thuật Lichtenstein trong điều trị thoát vị bẹn ở bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên.4. Cấu trúc luận ánLuận án được trình bày trong 121 trang (không kể tài liệu tham khảo và phụ lục)Luận án được chia ra:+ Đặt vấn đề 2 trang+ Chương 1: Tổng quan tài liệu 38 trang+ Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu 24 trang+ Chương 4: Bàn luận 35 trang+ Kết luận 2 trangLuận án gồm 36 bảng, 8 biểu đồ, và 135 tài liệu tham khảo trong đó có 20 tài liệu tiếng Việt, 103 tài liệu tiếng Anh, 12 tài liệu tiếng Pháp.
Xem thêm

56 Đọc thêm

Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật của chèn ép tủy cổ do bệnh lý thoái hóa

NGHIÊN CỨU TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG, CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CỦA CHÈN ÉP TỦY CỔ DO BỆNH LÝ THOÁI HÓA

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoái hóa cột sống cổ là bệnh lý khá phổ biến, chiếm 70% đến 75% số
người trên 50 tuổi. Theo Schmorl và Junghann, khoảng 90% nam giới trên 50
tuổi và nữ giới trên 60 tuổi có biểu hiện thoái hóa cột sống cổ trên phim chụp
X quang. Thoái hóa có thể xảy ra ở tất cả các thành phần của cột sống: đĩa
đệm, đốt sống, dây chằng…..
Hậu quả của quá trình thoái hóa các thành phần của cột sống có thể gây
ra thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, tạo các gai xương, làm biến đổi cấu trúc thân
đốt sống (xẹp thân đốt sống, trượt thân đốt sống…), vôi hóa, phì đại các dây
chằng cột sống.
Do đặc điểm giải phẫu của cột sống cổ có liên quan tới cả rễ thần kinh
và tủy sống nên thoái hóa cột sống cổ có thể ảnh hưởng đến cả chức năng của
rễ và tủy, tạo nên bệnh cảnh lâm sàng đa dạng và phong phú. Có khi lâm sàng
chỉ là bệnh cảnh của rễ hoặc tủy đơn thuần, cũng có khi là sự kết hợp bệnh
cảnh lâm sàng của cả tủy và rễ. Khối thoát vị đĩa đệm, các gai xương, thân đốt
sống bị trượt, phì đại dây chằng…. là những nguyên nhân chèn ép rễ và tủy
cổ. tuy không gây nguy hiểm ngay đến tính mạng người bệnh nhưng những
yếu tố trên gây ảnh hưởng đến chức năng thần kinh, làm giảm khả năng lao
động, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh và lâu dài sẽ gây
tàn phế do tổn thương rễ và tủy cổ không hồi phục.
Từ khi ra đời máy chụp cắt lớp vi tính và đặc biệt là máy chụp cộng
hưởng từ thì việc chẩn đoán tổn thương vùng tủy cổ như thoát vị đĩa đệm, cốt
hóa dây chằng… đã trở lên an toàn và chính xác hơn rất nhiều. Các phương
tiện này có thể phát hiện được thoát vị ở tất cả các vị trí, mức độ thoát vị, tình
trạng của xương và các tổ chức phần mềm xung quanh.

Biểu hiện lâm sàng của thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng và phong phú. Người bệnh có thể điều trị nội khoa kéo dài như dùng thuốc giảm đau, châm
cứu, vật lý trị liệu…. do vậy khi đến khám tại các cơ sở ngoại khoa thường
bệnh đã tiến triển muộn như rối loạn vận động, cảm giác, rối loạn cơ tròn….
Điều trị ngoại khoa thoái hóa cột sống cổ là một trong những phương
pháp điều trị chính, mục đích chính của điều trị ngoại khoa là giải phóng chèn
ép rễ và tủy cổ đồng thời không làm mất chức năng sinh lý của cột sống cổ.
Có nhiều kỹ thuật mổ khác nhau đã được áp dụng, nó phụ thuộc vào từng
nguyên nhân khác nhau mà có những chỉ định và lựa chọn các kỹ thuật khác
nhau cho phù hợp. Gần đây trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về
sinh lý bệnh, nguyên nhân và các phương pháp phẫu thuật được ứng dụng như
mở cung sau kết hợp mở lỗ liên hợp, lấy bỏ thân đốt sống và đĩa đệm có mảnh
ghép, tạo hình cung sau….
Tại Việt nam các công trình nghiên cứu về thoát vị đĩa đệm cổ đơn
thuần đã được nghiên cứu nhưng những nghiên cứu kết quả điều trị phẫu
thuật của chèn ép tủy cổ do thoái hóa nói chung vẫn ít được quan tâm và mới
chỉ được áp dụng điều trị tại một số trung tâm ngoại khoa lớn như bệnh viện
Việt Đức, bệnh viện Chợ Rẫy, viện quân Y 108 ….
Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu triệu chứng
lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật của chèn ép tủy cổ
do bệnh lý thoái hóa” nhằm mục đích:
1. Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của chèn ép
tủy cổ do bệnh lý thoái hóa
2. Đánh giá kết quả bước đầu của điều trị phẫu thuật
Xem thêm

99 Đọc thêm

Điện trị liệu Nguyên lý Thiết bị Thực hành

ĐIỆN TRỊ LIỆU NGUYÊN LÝ THIẾT BỊ THỰC HÀNH

LỜI NÓI ĐẦU
Trong chuyên ngành vật lý trị liệu phục hồi chức năng, điện trị liệu có thể hiểu theo hai cách. Theo cách hiểu thứ nhất, đó là các phương pháp dùng kích thích điện trong thực hành lâm sàng, như kích thích điện thần kinh cơ, viết tắt theo tiếng Anh là NMES (Neuromuscular Electrical stim ulation) để tạo sự co cơ; hoặc kích thích thần kinh bằng điện qua da, viết tắt theo tiếng Anh là TENS (Transcutaneous Electrical Nerve stimulation) để giảm đau. Chẳng hạn cuốn Sinh lý điện lâm sàng: Điện trị liệu và chẩn đoán điện sinh lý của Robinson và SnyderMackler, do Lippincott W illiams Wilkins xuất bản năm 2007, viết theo quan điểm này. Theo cách hiểu thứ hai, điện trị liệu gồm tất cả các tác nhân điện vật lý (electrophysical agents) bao gồm kích thích điện; sóng ngắn và vi sóng; laser công suất thấp, hồng ngoại và tử ngoại; siêu âm; và các phương pháp nhiệt trị bề mặt, theo phân loại của Hội Vật lý trị liệu Anh CSP và Hội Vật lý trị liệu Úc APA. Đa số tài liệu điện trị liệu viết theo cách hiểu này, điển hình là cuốn Điện trị liệu: Thực hành dựa trên bằng chứng, lần xuất bản thứ 12 của bộ Điện trị liệu Clayton lừng danh, do Watson chủ biên, được Churchill Livingstone xuất bản năm 2008. Xin lưu ý thêm, các tác nhân điện vật lý, cùng trị liệu bằng tay, thủy trị liệu và một vài phương pháp khác hợp thành nhóm các mô thức vật lý (physical modalities) có vai trò quan trọng trong vật lý trị liệu. Còn theo tài liệu định hướng đào tạo chuyên ngành của Hội Liên hiệp Vật lý trị liệu thế giới WCPT, 2007, điện trị liệu bao gồm hai trong số 11 nhóm can thiệp vật lý trị liệu điển hình.
Trong cuốn sách này, điện trị liệu được hiểu theo quan điểm thứ hai, tức nhóm phương pháp dùng các tác nhân điện vật lý trong vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Sách gồm ba phần với 11 chương.
Phần thứ nhất, Một số vấn đề cơ bản, gồm hai chương: Lành vết thương và Đau: Cơ chế, lượng giá, kiểm soát và điều trị. Đây là hai loại rối loạn bệnh lý mà các tác nhân điện vật lý có thể can thiệp với hiệu quả cao. Chương Lành vết thương miêu tả ngắn gọn ba giai đoạn của quá trình lành vết thương và các can thiệp vật lý trị liệu thích hợp cho từng giai đoạn. Chương Đau: Cơ chế, lượng giá, kiểm soát và điều trị nhấn mạnh các cơ chế gây đau và điều biến đau, chủ yếu dựa trên thuyết kiểm soát cổng của Melzack và Wall, 1965, và những phát triển sau đó; cũng như cách đánh giá, kiểm soát và điều trị đau bằng hóa trị liệu và vật lý trị liệu. Đặc biệt, cơ chế giảm đau của hầu hết các can thiệp vật lý trị liệu sẽ được tổng kết và trình bày ở cuối chương.
Phần thứ hai, Các phương pháp điện trị liệu, gồm bảy chương về các can thiệp điển hình như kích thích điện, ion di, thấu nhiệt sóng ngắn và vi sóng, siêu âm, các mô thức nhiệt trị bề mặt và laser công suất thấp. Theo đúng sự định hướng
thể hiện trên tiêu đề cuốn sách, với mỗi tác nhân điện vật lý, đều trình bày các cơ chế tương tác sơ cấp, tác dụng sinh lý và điều trị, trang thiết bị thường dùng trong thực hành, và qui trình can thiệp cụ thể trong lâm sàng.
Phần thứ ba, Tích hợp các phương pháp trong thực hành, gồm hai chương Tác dụng của điện trị liệu trên các hệ thống chức năng và Phương hướng và triển vọng của điện trị liệu. Không thể bỏ qua một thực tế, ngay tại các nước phát triển, thói quen của nhà vật lý trị liệu hoặc tuyên bố của các hãng trang thiết bị từng được sử dụng để ra các quyết định điều trị. Do đó việc tiếp cận hệ thống, lưu tâm tới tác dụng của các tác nhân điện vật lý trên các hệ thống chức năng của cơ thể, có thể mang lại cơ sở lý luận và thực hành vững chắc cho điện trị liệu nói riêng, vật lý trị liệu nói chung. Nó dựa trên hướng dẫn thực hành của Hội vật iý trị liệu Mỹ năm 1997. Do đó chương Tác dụng của điện trị liệu trên các hệ thống chức năng sẽ trình bày hiệu ứng của các can thiệp điện trị liệu trên bảy hệ thống chức năng của cơ thể, bao gồm hệ tim phổi; hệ nội tiết; các hệ tiêu hóa, tiết niệu, phụ khoa; hệ da; hệ cơ xương khớp; hệ thần kinh cơ; và hệ mạch và bạch huyết ngoại biên. Còn chương Phương hướng và triển vọng của điện trị liệu sẽ trình bày ngắn gọn yêu cầu đối với các nghiên cứu tương lai về cơ sở lý thuyết và thực hành của điện trị liệu, đặc biệt nhấn mạnh tới các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên RCT (randomized controlled trial) tiêu chuẩn, vốn cùng với các tổng quan tài liệu mang tính hệ thống (systematic review of literature) và các phân tích tổng hợp (metaanalysis) tạo nên nền tảng của y học thực chứng (evidencebased medicine), nền y học tiên tiến nhất hiện nay. Cuối mỗi chương trong sách đều có phần tổng kết kiến thức và các tài liệu tham khảo điển hình, chủ yếu bằng tiếng Anh.
So với các tài liệu điện trị liệu tiêu chuẩn, cuốn sách này không có phần phản hồi sinh học (biofeedback) và tử ngoại, hoặc do chưa được ứng dụng tại Việt Nam (phản hồi sinh học), hoặc do hiện nay ít dùng trong vật lý trị liệu phục hồi chức năng (tử ngoại). Có thể chúng sẽ xuất hiện trong lần xuất bản sau, nếu cuốn sách này có được sự may mắn đó.
Các tác giả cuốn sách, một người chuyên nghiên cứu về cơ chế tương tác của các phương pháp vật lý trị liệu và một bác sĩ chuyên về các mô thức vật lý, vốn có nhiều năm họat động trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu vật lý trong các khoa học sự sống, nên cũng hiểu những thuận lợi và khó khăn của ngành vật lý trị liệu nói chung, điện trị liệu nói riêng trong nền y học nước nhà. Vì thế cuốn sách này được xem như một đóng góp của các tác giả đối với việc phổ biến các phương pháp điện trị liệu trên cả hai phương diện lý thuyết và thực hành.
Do kiến thức và kinh nghiệm của các tác giả còn nhiều hạn chế, nên chắc chắn
cuốn sách có những sai sót và khiếm khuyết cần được sửa chữa và hoàn thiện. Vì thế các tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và nhận xét của giới chuyên môn và bạn đọc. Các tác giả xin chân thành cảm tạ.
Các tác giả.
Xem thêm

300 Đọc thêm

Nghiên cứu chẩn đoán và kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại bệnh viện việt đức (8 2004 6 2005)

NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC (8 2004 6 2005)

Ngoại khoa NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC (82004 62005) Nguyễn Đức Liên 1 Người hướng dẫn: Hà Kim Trung 2, Dương Đại Hà 3 TÓM TẮT Mô tả các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đặc trưng của thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống cổ. Đánh giá kết quả bước đầu của điều trị phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu 27 bệnh nhân TVĐĐ cột sống cổ được phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức trong 10 tháng (82004 – 62005). Kết quả: tỷ lệ namnữ là 2, tuổi trung niên (70,4%), lứa tuổi thường gặp là 4049 (40,8%). Vị trí thoát vị thường gặp là C5C6 (50%) và C6C7 (19,4%). Khởi phát bệnh không liên quan đến chấn thương (88,9%) và diễn biến từ từ (27 tháng). Các hội chứng thường gặp: hội chứng chèn ép tuỷ (74,1%), hội chứng chèn ép rễ (25,9%). Hội chứng chèn ép tuỷ gồm: liệt tứ chi (65%), rối loạn cảm giác (95%), rối loạn cơ tròn (60%). Hội chứng chèn ép rễ gồm: Đau kiểu rễ cổ (85,7%), rối loạn cảm giác(85,7%), nghiệm pháp Spurling dương tính (71,4%). Chụp X quang qui ước (55,6%): thoái hoá cột sống cổ (73,3%). Chụp cộng hưởng từ (100%): thấy rõ vị trí thoát vị (100%), thoát vị trung tâm (51,9%), thoát vị cạnh trung tâm (25,9%), thoát vị bên (18,5%). Các phương pháp phẫu thuật: mổ lối trước theo phương pháp SmithRobinson (85,2%), mổ lối sau (18,5%). Kết quả khám lại sau mổ 5,5 tháng (88,9%) theo bảng tiêu chuẩn của Hiệp hội Chấn thương Chỉnh hình Nhật Bản: Nhóm chèn ép rễ có điểm trung bình trước phẫu thuật là 10 điểm, khám lại là 16,7 điểm; Nhóm chèn ép tuỷ có điểm trung bình trước phẫu thuật từ 8,3 đã đạt 13,9 điểm khi khám lại. Chụp X quang kiểm tra (62,9%): Kết xương tốt (94,1%). Kết luận: Phẫu thuật là biện pháp điều trị có kết quả tốt khi điều trị nội khoa thất bại. Từ khoá: thoát vị đĩa đệm cột sống cổ; phẫu thuật. SUMMARY DIAGNOSIS AND SURGICAL RESULT OF CERVICAL DISC HERNIATIONS AT VIET DUC HOSPITAL (82004 62005) The description of specific clinical symptoms and paraclinical symptoms, investigate early surgical result of cervical disc herniations. Subjects: the prospective study on 27 patients with cervical disc herniations were operated at Viet Duc hospital during ten months (82004 62005). The results: the sex ratio is 2, almost of the middleage (70,4%) in which the age group of 4049 years olds major (40,8%). Hernia position major is C5C6 (50%), C6C7 (19,4%). In which 88,9% of cases is not due to cervical trauma, average time of medical history is 27 months. Majority syndromes are: spinal cord compression syndrome (74,1%), nerve root compression syndrome (25,9%). Majority symptoms of spinal cord compression are whole body paralysis (65%), dysaesthesiae (95%). Majority symptoms of nerve root compression are: root pain (85,7%), dysaesthesiae (85,7%), Spurling test (71,4%). Xray examination (55,6%): cervical spondylosis (73,3%). Magnetic resonance image on 27 patients (100%): real hernia position (100%), median herniation (51,9%), paramedian herniation (25,9%), lateral herniation (18,5%). The surgical technics are: anterior cervical discectomy with Smit Robinson (85,2%), laminectomy (18,5%). The result reexamination after 5,5 months based on score system of the Japanese Orthorpaedic Association (JOA) is the 1 Sinh viên Y5. Trường Đại học y Hà Nội. 2 Tiến sỹ Khoa PTTK Bệnh viện Việt Đức Hà Nội. 3 Thạc sỹ Khoa PTTK Bệnh viện Việt Đức Hà Nội. 488 Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Tuổi Trẻ Các Trường Đại Học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII preoperative mean score of 10 point improved to 16,7 at the final followup with radiculopathy patients group; the preoperative mean score of 8,3 point improved to 13,9 with myelopathy patients group. Xray examination (62,9%): good fusion bone (94,1%). Conclusion: Surgery is effective in treating cervical disc herniations. Keywords: Cervical disc herniation; Surgery 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thường gặp trong bệnh cảnh thoái hoá cột sống cổ, theo Kelsey tỷ lệ mới mắc hàng năm chừng 5,5100.000 người 6. Người đầu tiên mô tả bệnh lý này là Gutzeit, một tác giả người Đức năm 1927, nhân một trường hợp chèn ép rễ thần kinh cổ 6 do đĩa đệm. Ngày nay vấn đề này còn mang ý nghĩa thời sự trong các lĩnh vực nghiên cứu: mô phôi học, sinh bệnh học, giải phẫu bệnh học, chẩn đoán và điều trị … Ở Việt Nam, TVĐĐ cổ được chú ý chẩn đoán và điều trị vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Đa số bệnh nhân đến viện muộn để lại hậu quả là chèn ép tuỷ và rễ thần kinh cổ. Tới nay việc chẩn đoán đã đạt được những bước tiến nhất định do áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại: chụp cộng hưởng từ… Về điều trị TVĐĐ hiện nay, điều trị ngoại khoa với mục đích giải phóng chèn ép tuỷ và rễ thần kinh, trả lại khả năng hoạt động bình thường cho bệnh nhân (BN). Việc điều trị phẫu thuật đã được tiến hành ở các Bệnh viện (Chợ rẫy, Việt Đức ...) và đã có một số công trình nghiên cứu về chẩn đoán, điều trị được công bố, tuy nhiên việc đánh giá các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả sau phẫu thuật một cách chuyên biệt và hệ thống chưa được đề cập và nghiên cứu đầy đủ. Do đó chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu chẩn đoán và kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ” nhằm 2 mục tiêu sau: 1 Mô tả các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đặc trưng của TVĐĐ cột sống cổ. 2 Đánh giá kết quả bước đầu của điều trị phẫu thuật. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 27 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật TVĐĐ cột sống cổ trong thời gian 10 tháng (8200462005) tại khoa phẫu thuật thần kinh (PTTK) Bệnh viện Việt Đức. • Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: được chẩn đoán TVĐĐ cột sống cổ, được mổ và xác định có thoát vị trong quá trình phẫu thuật, được theo dõi đánh giá kết quả sau phẫu thuật • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ, có các bệnh lý bẩm sinh hay mắc phải ở tứ chi, có bệnh lý cột sống khác (viêm tuỷ, ung thư cột sống, u tuỷ ...). 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu tất cả các trường hợp TVĐĐ cột sống cổ được khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và có điều trị phẫu thuật. 2.2.2. Các bước tiến hành: 27 BN được nghiên cứu tiến cứu. 24 BN kiểm tra sau mổ. • Phương pháp thu thập số liệu: Các thông tin được thu thập theo mẫu bệnh án thống nhất: Trực tiếp khám và đánh giá bệnh nhân trước mổ, quan sát và đánh giá các hình ảnh cận lâm sàng qua phim chụp, tham gia phụ mổ và trực tiếp đánh giá sau mổ. • Khám lâm sàng và cận lâm sàng: + Hội chứng chèn ép rễ: Đau cổ, đau kiểu rễ (đau lan theo đường đi của rễ thần kinh bị chèn ép chi phối). Nghiệm pháp Spurling dương tính khi ấn đầu xuống trong tư thế cúi và nghiêng về phía đau thì tạo ra đau từ cổ lan xuống vai, cánh tay, bàn tay. + Hội chứng tuỷ: biểu hiện là liệt vận động. Ở giai đoan sớm còn có dấu hiệu L’hermitte (cảm giác như điện giật đột ngột lan từ cổ xuống lưng khi ngửa cổ), rối loạn cơ tròn... 491 Ngoại khoa + Đánh giá chung: bảng tiêu chuẩn Hiệp hội Chấn thương chỉnh hình Nhật Bản (JOA). + Cận lâm sàng: quan sát các hình ảnh trên phim chụp X quang và cộng hưởng từ. Hình 1: SmithRobinson Hình 2: Mở cung sau • Chỉ định mổ: + Đối với chèn ép rễ: khởi đầu bằng điều trị nội khoa. Chỉ định phẫu thuật đặt ra nếu điều trị nội 3 tháng mà triệu chứng không giảm hoặc đau và liệt hơn. + Đối với chèn ép tuỷ: nên mổ sớm khi đã chẩn đoán là chèn ép tuỷ vì cần đề phòng các biến chứng ở tuỷ 1. Chỉ định tuyệt đối của điều trị phẫu thuật là biến chứng thần kinh nặng dần hay đã tiến triển xa. • Phương pháp phẫu thuật: giải ép lối trước theo phương pháp Smith Robinson và giải ép lối sau (mở cung sau hoặc tạo hình ống sống) (hình 1 và hình 2). • Đánh giá kết quả sau phẫu thuật: + Khi ra viện: so sánh các triệu chứng trước và sau mổ. + Khám lại sau phẫu thuật: chúng tôi tiến hành khám lại từ 312 tháng sau phẫu thuật: Đánh giá lâm sàng theo bảng tiêu chuẩn cuả Hiệp hội Chấn thương Chỉnh hình Nhật Bản (JOA). Chụp X quang qui ước cột sống cổ để đánh giá mức độ kết xương. Bảng JOA Bệnh lý rễ thần kinh cổ 9 Tr.c cổ 0 Æ 3 điểm Tr.c cánh tay 0 Æ 3 1, Triệu chứng chủ quan Tr.c ngón tay 0 Æ 3 2, Khả năng làm việc 0 Æ 3 3, Chức năng ngón tay 2 Æ 0 Spurling test 0 Æ 3 Cảm giác 0 Æ 2 Vận động 0 Æ 2 4, Dấu hiệu tìm thấy Phản xạ gân sâu 0 Æ 1 Mức 2 Æ 20 Bình thường 20 điểm Bảng JOA Bệnh lý tuỷ cổ 7 1, Mất vận động chi trên 0 Æ 4 điểm 2, Mất vận động chi dưới 0 Æ 4 3, Rối loạn cảm giác 0 Æ 6 4, Rối loạn cơ tròn 0 Æ 3 Mức 0 Æ 17 Bình thường 17 điểm 2.2.3. Xử lý kết quả: thuật toán thống kê thường qui. Sử dụng phần mềm SPSS 13.0 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm chung • Tuổi: Trung bình 50,2 (2178). Dưới 40 tuổi (11,1%), 4049 tuổi (40,8%), 5059 tuổi (29,6%), trên 60 tuổi (18,5%). • Giới: Nam (66,7%), nữ (33,3%). Tỷ lệ namnữ = 2. • Nghề nghiệp: lao động chân tay (40,7%), lao động hành chính nội trợ (59,3%). • Tiền sử: chấn thương đầu mặt cổ (11,1%), không chấn thương (88,9%). 3.2. Bệnh cảnh lâm sàng • Vị trí thoát vị: C3C4 (13,9%), C4 C5 (16,7%), C5C6 (50%), C6C7 (19,4%). Thoát vị 1 tầng (74%), 2 tầng 490 Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Tuổi Trẻ Các Trường Đại Học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII (22,2%), trên 3 tầng có 1 bệnh nhân (3,7%). • Khởi phát bệnh: từ từ (88,9%), đột ngột (11,1%). Thời gian bệnh sử trung bình 27 tháng, gồm: dưới 1 tháng (7,4%), 112 tháng (51,8%), trên 12 tháng (40,8%). • Triệu chứng khởi điểm:đau cổ (66,7%),RL cảm giác (22,2%), RLvận động (11,1%). • Lý do vào viện: liệt tứ chiliệt 2 chân (51,9%); tê bì (18,5%); đau cổ, đau rễ (29,6%). • Hội chứng lâm sàng: hội chứng cột sống cổ (81,5%). Hội chứng tuỷ (44,4%), hội chứng rễtuỷ (29,6%), hội chứng rễ (25,9%). Bảng 1: Hội chứng rễ (n=7) Triệu chứng N % Đau cổ cơ học 7 100 Đau kiểu rễ 6 85,7 RL cảm giác 6 85,7 Spurling (+) 5 71,4 Bảng 2: Hội chứng tuỷ (n=20) Triệu chứng N % Liệt tứ chiliệt 2 chân 15 75 Rl cảm giác 19 95 RL cơ tròn 12 60 Giảm phản xạ chi trên 10 50 Tăng phản xạ chi dưới 16 80 Dấu hiệu L’hermitte 3 15 3.3. Cận lâm sàng • Chụp X quang qui ước (áp dụng cho 15 BN): mất đường cong sinh lý (40%), gai xương (73,3%), hẹp khe khớp (53,3%). • Chụp cộng hưởng từ + Hình ảnh trên lớp cắt dọc (bảng 3): Hình ảnh N % Hình ảnh toàn thể cột sống 27 100 Hình ảnh TVĐĐ ra sau Tăng tín hiệu tuỷ tại vị trí chèn ép Mảnh rời trong ống tuỷ Lồi đĩa đệm (cùng tầng hoặc khác tầng) 27 18 1 15 100 66,7 3,7 55,6 Hình ảnh cốt hoá dây chằng dọc sau Hình ảnh cốt hoá dây chằng vàng 8 3 29,6 11,1 + Hình ảnh trên lớp cắt ngang: thoát vị trung tâm (51,9%), thoát vị cạnh trung tâm (25,9%), thoát vị bên (18,5%). + Đối chiếu hình ảnh cộng hưởng từ và lâm sàng (bảng 4): MRI Lâm sàng Thoát vị trung tâm Cạnh trung tâm Thoát vị bên Hội chứng tuỷ 14 6 Hội chứng rễ 2 5 3.4. Điều trị phẫu thuật: giải ép lối trước theo phương pháp SmithRobinson (85,2%), mở cung sau (11,1%), tạo hình ống sống (3,7%). 3.5. Kết quả khám lại sau mổ: • Khám khi ra viện và so sánh với trước phẫu thuật (bảng 5). STT Triệu chứng Trước mổ Khi ra viện p 1 Đau cổ 25 2 Liệt tứ chiliệt 2 chân 15 11 >0,05 3 Rối loạn cảm giác 25 15 <0,05 4 Rối loạn cơ tròn 12 3 <0,05 • Khám lại: 24 BN (88,9%), thời gian 5,5 tháng, ngắn nhất 3 tháng, dài nhất 10 tháng. + Hội chứng rễ (theo bảng tiêu chuẩn của JOA): khám lại 77 BN (100%). Điểm trung bình trước phẫu thuật là 10,0±2,8, khám lại là 16,7±1,4 với mức hồi phục 83,6%. + Hội chứng tuỷ (theo bảng tiêu chuẩn của JOA): khám lại 1720 BN (85%). Điểm trung bình trước phẫu thuật là 491 Ngoại khoa 8,3±2,8, khám lại là 13,9±2,9 với mức hồi phục 81,7%. + Chụp X quang kiểm tra (62,9%): kết xương tốt (94,1%), chỉ có 1 bệnh nhân mảnh xương ghép trật khỏi vị trí ghép. 4. BÀN LUẬN 4.1. Đặc điểm chung Trong nghiên cứu này, nam giới chiếm 66,7% gấp 2 lần nữ giới.Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 50,2 (2178). Có 40,8% BN ở độ tuổi 4049, như vậy bệnh lý TVĐĐ cổ thường thấy ở tuổi trung niên. TVĐĐ cổ ở nhóm lao động chân tay (59,3%), nhóm lao động hành chính nội trợ (40,7%). Phần lớn bệnh nhân đến viện không liên quan đến tiền sử chấn thương (88,9%). 4.2. Bệnh cảnh lâm sàng • Vị trí thoát vị: thường gặp nhất là ở đĩa đệm C5C6 (50%), rồi đến C6C7 (19,4%). Các tác giả khác cũng cho thấy thoát vị ở đĩa đệm C5C6 là thường gặp nhất: Kokubun (47%) 7, Bucciero (54%) 5. Các tác giả đều thống nhất rằng đĩa đệm C5C6 đóng vai trò như một điểm tựa cho một đòn bẩy trong sự vận động của đầu và cổ, thường xuyên chịu tải trọng lớn của cơ thể và lực bổ xung gây nên thoái hoá sớm, do đó dễ xảy ra thoát vị. • Khởi phát bệnh: Đa số diễn biến từ từ không liên quan đến chấn thương (88,9%). Đau cổ (66,7%) thường xuất hiện sớm và thường là triệu chứng đầu tiên của TVĐĐ cột sống cổ. Đa số bệnh nhân trước khi đến viện thường được điều trị nội khoa và có tác dụng tạm thời nên thời gian từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi được mổ tương đối dài: trung bình là 27 tháng, ngắn nhất là 3 tuần, dài nhất là 10 năm, đa số đến từ 112 tháng (51,8%). Lý do đến viện chủ yếu là liệt vận động (51,8%) bao gồm: liệt tứ chi hoàn toàn hoặc không hoàn toàn, liệt 2 chân. • Bệnh cảnh lâm sàng: chủ yếu là chèn ép tủy (74,1%) trong đó chèn ép tuỷ đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất (44,4%), chèn ép tuỷ và rễ phối hợp (29,6%); chèn ép rễ chỉ chiếm 25,9%). Nghiên cứu của Kokubun 1996 7 cũng cho kết quả tương tự: chủ yếu là hội chứng tuỷ (84,2%), còn hội chứng rễ chỉ chiếm 15,8%. Chúng tôi thấy không có sự khác biệt các hội chứng lâm sàng tại các vị trí thoát vị đĩa đệm khác nhau (p>0,05). Như vậy đa số bệnh nhân đến viện muộn với hội chứng lâm sàng chủ yếu là hội chứng chèn ép tuỷ. Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân chèn ép rễ (bảng 1) chủ yếu là đau cổ cơ học (100%), đau kiểu rễ cổ (85,7%), rối loạn cảm giác kiểu tê bì, kiến bò (85,7%), nghiệm pháp Spurling dương tính (74,1%). Nguyên nhân của đau là do chèn ép của đĩa đệm và dây chằng dọc sau (đĩa đệm là 1 tổ chức không nhận cảm đau), thêm vào đó chính màng cứng cũng có khả năng nhận cảm đau khi bị kích thích, nhất là bao rễ thần kinh được chi phối bởi dây thần kinh cảm giác cột sống và khi bao rễ kích thích sẽ gây phản xạ co thắt mạch, thiếu máu cũng có thể gây ra đau, đau tăng lên khi rễ bị chèn ép trong lỗ tiếp hợp. Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân chèn ép tuỷ (bảng 2): Tất cả 20 trường hợp chèn ép tuỷ đều có rối loạn vận động, trong đó: liệt tứ chi liệt 2 chân (75%), rối loạn cảm giác (90%), rối loạn cơ tròn (60%), rối loạn phản xạ. Trong đó liệt tứ chi hoàn toàn là nặng nhất, chúng tôi gặp 4 trường hợp (20%), đây là yếu tố tiên lượng nặng vì sau phẫu thuật phần lớn chua tự đi lại ngay được mà cận phục hồi chức năng. 15% BN có dấu hiệu L’hermitte dương tính, triệu chứng này cho thấy giai đoạn sớm của bệnh và khả năng phục hồi sau phẫu thuật. 4.3. Hình ảnh cận lâm sàng • Chụp X quang qui ước: cho thấy thoái hoá cột sống cổ (73,3%) gồm: mất đường cong sinh lí, gai xương. Dấu hiệu gián tiếp của TVĐĐ cổ là hẹp khe khớp (53,3%). • Chụp cộng hưởng từ Ảnh trên lớp cắt dọc (bảng 3): nhìn thấy vị trí thoát vị (100%), tăng tín hiệu tủy tại vị trí chèn ép(66,7%), đây là hình ảnh chứng tỏ chèn ép tuỷ, chúng tôi thấy tất cả các bệnh nhân này đều có biểu hiện chèn ép tuỷ trên lâm sàng. Theo Bucciero 5 thì đó là dấu hiệu của phù hay xuất huyết ở tuỷ do chèn ép. Chúng tôi còn thấy hình ảnh cốt hoá dây chằng dọc sau (29,6%) và cốt hoá dây chằng vàng 494 Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Tuổi Trẻ Các Trường Đại Học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII (11,1%), đây là những yếu tố góp phần gây chèn ép tuỷ. Ảnh trên lớp cắt ngang: Thoát vị trung tâm chiếm tỷ lệ cao nhất (51,9%), tiếp theo là thoát vị cạnh trung tâm (25,9%), thoát vị bên (18,5%) Đối chiếu lâm sàng (bảng 4) thấy: Thoát vị trung tâm chỉ gây chèn ép tuỷ trên lâm sàng, thoát vị bên chỉ gây chèn ép rễ, thoát vị cạnh trung tâm có thể gây chèn ép tuỷ hoặcvà rễ. 4.4. Điều trị phẫu thuật • Chỉ định mổ: Đối với chèn ép rễ chỉ định phẫu thuật đặt ra nếu điều trị nội 3 tháng mà triệu chứng không giảm hoặc đau và liệt hơn. Đối với chèn ép tuỷ nên mổ sớm khi có chẩn đoán xác định vì cần đề phòng các biến chứng ở tuỷ • Phương pháp phẫu thuật thường được sử dụng là giải ép lối trước theo phương pháp SmithRobinson (85,2%). Phẫu thuật lối sau thường được sử dụng khi thoát vị đĩa đệm trên 3 tầng hoặc có hẹp ống sống cổ kèm theo: mở cung sau (11,1%), tạo hình ống sống (3,7%). 4.5. Kết quả khám lại sau mổ: • Kết quả khi ra viện (bảng 5): một số triệu chứng rối loạn cảm giác, rối loạn cơ tròn bước đầu cải thiện và có ý nghĩa thống kê. • Kết quả khám lại: được 24 BN (88,9%), thời gian khám lại trung bình là 5,5 tháng. Hội chứng rễ: Phẫu thuật cho kết quả thoả đáng: trung bình trước phẫu thuật là 10 điểm, khi khám lại là 16,7 điểm, hồi phục 85,6%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Kokubun 9. Hội chứng tuỷ: trước phẫu thuật là 8,3 điểm, khám lại là 13,9 điểm, với mức hồi phục 81,7%. Nghiên cứu của Kokubun cũng cho kết quả tương tự: trước mổ 8,5, khám lại sau 118 năm là 14,8 điểm 7. Chụp X quang kiểm tra được 17 BN (62,9%): liền xương tốt là 17 BN (94,1%). Như vậy, sau gần một thế kỷ phát triển phẫu thuật vẫn là một biện pháp điều trị có kết quả tốt, phục hồi phần lớn các triệu chứng về vận động, cảm giác, rối loạn cơ tròn... vẫn còn những biến chứng trong và sau mổ, cần được nghiên cứu thêm để ngày càng hạn chế các kết quả xấu. 5. KẾT LUẬN 5.1. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng: bệnh nhân đến viện muộn với các triệu chứng đặc trưng: Thoát vị thường xảy ra ở vị trí đĩa đệm C5C6 (50%), C6C7 (19,4%). Hội chứng chèn ép tuỷ (74,1%): gồm các triệu chứng chính: liệt tứ chi hoàn toàn hoặc không hoàn toàn liệt 2 chân (75%), rối loạn cảm giác (95%), rối loạn cơ tròn (60%), đau cổ cơ học (90%). Điểm trung bình trước phẫu thuật là JOA 8,3 điểm. Hội chứng chèn ép rễ (25,9%): gồm các triệu chứng chính: đau kiểu rễ cổ (85,7%), rối loạn cảm giác (85,7%), nghiệm pháp Spurling dương tính (71,4%). Điểm trung bình trước phẫu thuật là JOA 10 điểm. Chụp X quang qui ước cột sống cổ: thoái hoái cột sống cổ (73,3%), hình ảnh gián tiếp của thoát vị đĩa đệm là hẹp khe khớp (53,3%). Chụp cộng hưởng từ: thấy rõ vị trí đĩa đệm thoát vị (100%), tăng tín hiệu tuỷ tại vị trí chèn ép (66,7%). Thoát vị trung tâm (51,9%) chỉ gây chèn ép tuỷ trên lâm sàng, thoát vị bên (18,5%) chỉ gây chèn ép rễ trên lâm sàng, thoát vị cạnh trung tâm (25,9%) có thể gây chèn ép tuỷ hoặc rễ. 5.2. Đánh giá kết quả bước đầu của điều trị phẫu thuật: • Kết quả khi ra viện: một số triệu chứng rối loạn cảm giác, rối loạn cơ tròn bước đầu cải thiện và có ý nghĩa thống kê. • Kết quả khám lại: được 24 BN (88,9%), thời gian khám lại trung bình là 5,5 tháng. Nhóm bệnh nhân có hội chứng rễ: điểm trung bình trước mổ JOA 10 điểm, khám lại là JOA 16,7 điểm, mức hồi phục 85,6%. Nhóm bệnh nhân có hội chứng tuỷ: điểm trung bình trước mổ JOA 8,3 điểm, khám lại là JOA 13,9, mức hồi phục là 81,7%. Chụp X quang kiểm tra (62,9%): Kết xương tốt là 94,1%. 493 Ngoại khoa TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Đức Hiệp (2000): Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Nội trú Bệnh viện. Đại học y Hà Nội. 2. Nguyễn Thị Ánh Hồng (1999): Hẹp ống sống cổ. Giá trị cộng hưởng từ qua khảo sát 300 trường hợp. Y học Việt Nam. Chuyên đề chẩn đoán hình ảnh, 67: 126 129. 3. Hồ Hữu Lương (2003): Thoái hoá cột sống cổ và thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Nhà xuất bản y học. 4. Võ Xuân Sơn Trần Hùng Phong Trần Minh Tâm (1999): “Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: Hồi cứu 64 trường hợp mổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy”. Hội nghị Việt Úc về Ngoại thần kinh. TIẾNG ANH 5. Bucciero A Vizioli L Cerillo A (1998): Soft cervical herviation. An analysis of 187 cases. Journal of Neurosurgical Sciences, 42: 125 130. 6. Kelsey JL Githens PB Walter SD Southwick WO Weil U Holford TR Ossfeld AM Calogeroja O’ Connor T White AA (1984): An epidemiological study of acute prolapsed cervical intervertebral disc. Journal Bone Joint Surgery, 66A: 907 914. 7. Kokubun S Sato T Ishii Y Tanaka Y (1996): Cervical myelopathy in Japanese. Clinical Orthopaedics, 323: 129 138. 8. Lunsford LD Bissonette DJ Jannetta PJ Sheptak PE Zorub DS (1980): Anterior surgery for cervical disc disease. Journal Neurosurgery, 53: 1 19. 9. Tanaka Y, Kokubun S, Sato T (1998): Cervical radiculopathy and its unsolved problem. Clinical Orthopaedics, 13: 504 512 494
Xem thêm

7 Đọc thêm

Cùng chủ đề