CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM":

HIỆU QUẢ CAN THIỆP ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

HIỆU QUẢ CAN THIỆP ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

Với mục tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang, một nghiên cứu can thiệp đã được áp dụng. Kết quả cho thấy thực trạng thực phẩm chế biến sẵn mất an toàn cao: tỷ lệ thực phẩm hư hỏng chiếm 21 – 38 %, tỷ lệ sử dụng hàn the từ 77,7% – 83,3%. Sau can thiệp KAP của người sản xuất, kinh doanh, quản lý thực phẩm chế biến sẵn tốt lên nhiều. Tác giả khuyến nghị cần tăng cường truyền thông, giáo dục đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người sản xuất, kinh doanh, quản lý thực phẩm chế biến sẵn tại thành phố Tuyên Quang.
Xem thêm

7 Đọc thêm

QCVN CHỢ CÁ – ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN CHỢ CÁ – ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

Điều kiện chung đảm bảo an toàn thực phẩmb) Chợ cá phải có quy định về vệ sinh, có cán bộ quản lý chuyên trách theo dõi vàgiám sát việc thực hiện.2.5.4. Phế thải phải thu gom vào trong thùng chứa kín, làm bằng vật liệu không bị ănmòn, có nắp đậy. Thùng chứa phế thải phải được vệ sinh và khử trùng sau mỗi chu kỳ hoạtđộng của chợ cá. Phế thải phải được định kỳ chuyển đến nơi qui định. Nơi tập kết phế thảiphải kín, dễ làm vệ sinh, khử trùng.2.5.5. Nước thải phải được xử lý theo đúng qui định trước khi thải ra ngoài.2.6. Xác định lô thủy sản2.6.1. Người tham gia bán buôn tại chợ cá, phải có sổ ghi chép đầy đủ cho mỗi lô thủysản nhập vào và bán ra để thông báo cho Ban quản lý chợ cá. Sổ ghi bao gồm các nội dungsau :- Tên cơ sở cung cấp thủy sản;- Tên thủy sản;- Khối lượng thủy sản;- Nguồn gốc thủy sản;- Ngày, giờ nhập vào chợ và bán ra;91QCVN 02 - 11: 2009/BNNPTNT- Các thông số về chất lượng bao gồm: nhận xét cảm quan về độ tươi và nhiệt độ, quycách bảo quản của lô hàng.3. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ3.1. Chứng nhận hợp quy3.1.1. Cơ sở Chợ cá phải thực hiện chứng nhận hợp quy về điều kiện đảm bảo vệsinh an toàn thực phẩm theo Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 9 năm2007 về “Quy định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và công bố hợpchuẩn, công bố hợp quy”.3.1.2. Tổ chức chứng nhận sự phù hợp được thành lập và hoạt động theo Nghị
Xem thêm

5 Đọc thêm

KẾ HOẠCH ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM 2009

KẾ HOẠCH ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM 2009

™ Giới thiệu trên web site các mô hình tốt, các cơ sở đạt chuẩn, không đạt chuẩn bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ sở bị thanh tra xử phạt… ™ Tổ chức [r]

8 Đọc thêm

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỊT GIA CẦM ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỊT GIA CẦM ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

36 Đọc thêm

Các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại tại Việt Nam: 6

CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM: 6

Trong khi đó, không ít trường hợp TCTD có thể phối hợp với người có tài sản đảm bảo để xử lý hoặc tự xử lý được, nhưng khi tiến hành chuyển quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất cho người mua, thì các cơ quan chức năng từ chối việc thực hiện công chứng, đăng bộ,… với lý do quyền sử dụng đất trong trường hợp này phải thông qua Trung tâm bán đấu giá chuyên trách theo quy định.

25 Đọc thêm

Quản lý chất lượng thủy sản đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THỦY SẢN ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

An toàn vệ sinh thực phẩm là một vấn đề rất nhạy cảm đối với các nước nhập khẩu, đặc biệt là đối với các địa bàn được xem là kỹ tính như EU, Canada, Mỹ… Tuy có những ý nghĩa khác nhau về[r]

34 Đọc thêm

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ÁP DỤNG THỰC HÀNH NÔNG NGHIỆP TỐT CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ÁP DỤNG THỰC HÀNH NÔNG NGHIỆP TỐT CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM

1. Sự cần thiết của nghiên cứu
PHẦN MỞ ĐẦU
An toàn thực phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội. An toàn thực phẩm được coi là một trong các nhóm thuộc tính quan trọng
nhất của chất lượng thực phẩm, ba nhóm thuộc tính khác là các thuộc tính dinh
d
ưỡng, giá trị và đóng gói (Hooker và Caswell, 1996). Theo các tác giả Hooker và
Caswell, các v
ấn đề an toàn thực phẩm bao gồm các vi sinh vật gây bệnh, kim loại
nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm, chất độc tự nhiên và dư
lượng thuốc thú y. WHO và FAO (2009) cho rằng an toàn thực phẩm là khái niệm
ch
ỉ ra thực phẩm sẽ không gây nguy hại cho người tiêu dùng khi được chế biến
ho
ặc sử dụng đúng mục đích. Khi đề cập đến an toàn thực phẩm phải nghĩ ngay đến
s
ự có mặt của các mối nguy an toàn thực phẩm (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007).
Mối nguy an toàn thực phẩm là các tác nhân sinh học, hóa học hoặc vật lý trong
thực phẩm, làm thực phẩm mất an toàn, gây hại sức khỏe người tiêu dùng. Người
tiêu dùng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng rất quan ngại về an toàn
th
ực phẩm do hàng loạt các vụ việc mất an toàn thực phẩm đã xảy ra trong thập kỷ
v
ừa qua và không có dấu hiệu giảm sút (Loc, 2006). Trong thời gian qua, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn đã triển khai các chương trình giám sát tập trung
vào các sản phẩm có nguy cơ cao và nhiều dư luận bức xúc gồm rau, quả, chè, thịt
lợn, thịt gà ở một số địa phương, vùng sản xuất tập trung, cung ứng số lượng lớn
trên th
ị trường. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2014), chương trình
giám sát ô nhi
ễm sinh học và tồn dư hóa chất trong nông sản đã lấy 450 mẫu đối với
ba loại rau (rau ngót, đậu đũa và rau gia vị) trong vùng sản xuất tại thời điểm thu
hoạch của 11 tỉnh/thành phố trong cả nước, trong đó 350 mẫu kiểm tra dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật, 100 mẫu kiểm tra vi sinh vật. Kết quả cho thấy 19/350 mẫu
(5,43%) có dư lượng vượt mức giới hạn cho phép, 21/100 mẫu (21%) không đạt chỉ
tiêu vi khuẩn E. coli. Số liệu này cho thấy thực trạng an toàn thực phẩm ở nước ta
chưa đảm bảo được yêu cầu của người tiêu dùng và thị trường, tỷ lệ mẫu vi phạm một số mặt hàng còn tương đối cao. Theo Caswell (1998), việc đảm bảo chất lượng
thực phẩm, đặc biệt là an toàn thực phẩm, là mối quan tâm ngày càng tăng của các
chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế có liên quan trong việc thiết lập
tiêu chu
ẩn vì các thuộc tính chất lượng thực phẩm đang ngày càng có giá trị cao
trong mọi lĩnh vực liên quan đến sản xuất và chế biến thực phẩm. Ngày nay, ngành
công nghiệp thực phẩm không chỉ chịu trách nhiệm sản xuất ra thực phẩm an toàn
mà còn phải chứng minh rõ ràng an toàn thực phẩm đã được bảo đảm như thế nào
trong quá trình s
ản xuất. Reardon và Farina (2001) khẳng định một công ty sản xuất
thực phẩm có thể tạo ra lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh nếu có áp dụng kỹ thuật
nâng cao an toàn th
ực phẩm.
Theo FAO (2015), rau là s
ản phẩm thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày của con
ng
ười. Sản xuất rau ở Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt vì trực tiếp đóng góp
cho
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông
thôn và xóa
đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, rau là sản phẩm có nhiều nguy cơ về an
toàn thực phẩm và có rất nhiều dư luận xã hội bức xúc về vấn đề VSATTP đối với
s
ản phẩm rau. Việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất rau, quả tươi ở các
qu
ốc gia trên thế giới đã được thực hiện thông qua thực hành nông nghiệp tốt (GAP
- Good Agricultural Practices). Ở Việt Nam, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho
rau, quả tươi (gọi tắt là VietGAP - Vietnamese Good Agricultural Practices) là
nh
ững nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch,
sơ chế bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội,
sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên
nguồn gốc sản phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008). Các bên liên
quan
đến GAP bao gồm nhà nước, các ngành công nghiệp chế biến và bán lẻ thực
phẩm, nông dân - người sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng (FAO, 2003). Từ
quan điểm sản xuất (cung cấp), người nông dân đã áp dụng GAP nhằm mục đích
đạt được lợi ích kinh tế, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì các giá trị
văn hóa, xã hội. Từ quan điểm nhu cầu, người tiêu dùng (liên quan đến cả các nhà
chế biến và các nhà bán lẻ) quan tâm đến chất lượng an toàn thực phẩm và quá trình một số mặt hàng còn tương đối cao. Theo Caswell (1998), việc đảm bảo chất lượng
thực phẩm, đặc biệt là an toàn thực phẩm, là mối quan tâm ngày càng tăng của các
chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế có liên quan trong việc thiết lập
tiêu chu
ẩn vì các thuộc tính chất lượng thực phẩm đang ngày càng có giá trị cao
trong mọi lĩnh vực liên quan đến sản xuất và chế biến thực phẩm. Ngày nay, ngành
công nghiệp thực phẩm không chỉ chịu trách nhiệm sản xuất ra thực phẩm an toàn
mà còn phải chứng minh rõ ràng an toàn thực phẩm đã được bảo đảm như thế nào
trong quá trình s
ản xuất. Reardon và Farina (2001) khẳng định một công ty sản xuất
thực phẩm có thể tạo ra lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh nếu có áp dụng kỹ thuật
nâng cao an toàn th
ực phẩm.
Theo FAO (2015), rau là s
ản phẩm thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày của con
ng
ười. Sản xuất rau ở Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt vì trực tiếp đóng góp
cho
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông
thôn và xóa
đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, rau là sản phẩm có nhiều nguy cơ về an
toàn thực phẩm và có rất nhiều dư luận xã hội bức xúc về vấn đề VSATTP đối với
s
ản phẩm rau. Việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất rau, quả tươi ở các
qu
ốc gia trên thế giới đã được thực hiện thông qua thực hành nông nghiệp tốt (GAP
- Good Agricultural Practices). Ở Việt Nam, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho
rau, quả tươi (gọi tắt là VietGAP - Vietnamese Good Agricultural Practices) là
nh
ững nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch,
sơ chế bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội,
sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên
nguồn gốc sản phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008). Các bên liên
quan
đến GAP bao gồm nhà nước, các ngành công nghiệp chế biến và bán lẻ thực
phẩm, nông dân - người sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng (FAO, 2003). Từ
quan điểm sản xuất (cung cấp), người nông dân đã áp dụng GAP nhằm mục đích
đạt được lợi ích kinh tế, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì các giá trị
văn hóa, xã hội. Từ quan điểm nhu cầu, người tiêu dùng (liên quan đến cả các nhà
chế biến và các nhà bán lẻ) quan tâm đến chất lượng an toàn thực phẩm và quá trình thuyết và đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng
GAP của các cơ sở sản xuất rau, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm duy trì và
nhân rộng việc áp dụng GAP tại các cơ sở sản xuất rau ở Việt Nam.
Xem thêm

244 Đọc thêm

tiểu luận bảo quản thực phẩm

TIỂU LUẬN BẢO QUẢN THỰC PHẨM

A. GIỚI THIỆU
Thực phẩm là một loại sản phẩm để nuôi sống con người và động vật. Hầu hết các đồ ăn, đồ uống mà con người sử dụng được đều có thể gọi là thực phẩm. Tuy nhiên những đồ ăn, đồ uống được sử dụng với mục đích là chữa bệnh thì không được gọi là thực phẩm
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung và của thực phẩm nói riêng đang là vấn đề xã hội bức xúc cần phải giải quyết kịp thời và có hiệu quả. Vấn đề then chốt là làm thế nào để quản lý được tốt nhất chất lượng thực phẩm không bị nhiễm vi sinh, không chứa hóa chất bị cấm, hóa chất ngoài danh mục cho phép để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, góp phần quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Những bất cập trong việc quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân. Thực trạng chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay trên thế giới rất đáng được quan tâm. Đặc biệt là thực phẩm trôi nổi bán ngoài thị trường tìm ẩn nhiều nguy cơ gây bệnh cho người tiêu dùng.Mầm bệnh có thể nhiễm vào thực phẩm từ khâu sản xuất đến vận chuyển và bảo quản. Thực phẩm không an toàn có hóa chất độc hại là nguyên nhân của 35% gây bệnh ung thư tại các nước nghèo trong đó có Việt Nam. Điều đáng nói là không chỉ các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ mới bị vi phạm mà các công ty đa quốc gia cũng có luucs vi phạm nghiêm trọng đặc biệt trong lĩnh vực nước uống đóng chai và thực phảm chế biến sớm có sử dụng chất phụ gia thực phẩm.
Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là người ngộ độc đã hấp thu những thực phẩm độc hại. Ví dụ như thức ăn bị ôi thiu, thức ăn chế biến không hợp vệ sinh, không bảo quản tốt là điều kiện cho vi sinh vật, nấm mốc, kí sinh vật hoành hành. Cũng có trường hợp bị nhiễm độc do các yếu tố tự nhiên có sẵn trong thực phẩm như khoai mì, khoai tây hoặc các chất đị ứng trong một số hải sản. Hạn hữu hơn là trường hợp bị nhiễm độc cho chất dioxin, chất phóng xạ, các kim loại nặng như Fe, Pb, As…Gần đây còn có tình trạng nhiểm độc do 3MCPD trong nước chấm và Melanin trong sữa.
Để đối phó với vấn nạn này, nhiều nước đã luật pháp hóa vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Một hành lang pháp lý được hình thành để kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn. Mặt khác, người tiêu dùng phải biết tự bảo vệ mình bằng cách tự lựa chọn loại thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được bộ y tế kiểm nghiệm và cho phép sử dụng.
Xem thêm

46 Đọc thêm

Tìm hiểu thiết bị tiệt trùng các môi trường dinh dưỡng

TÌM HIỂU THIẾT BỊ TIỆT TRÙNG CÁC MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Ngày nay, sản phẩm thực phẩm rất đa dạng. Việc sản xuất ra các loại sản phẩm thực phẩm này đòi hỏi phải có một qui trình sản xuất cụ thể và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, mà thực phẩm là sự tổng hợp sinh hoá của các chất hoạt hoá sinh học. Một trong những điều kiện có ảnh hưởng lớn nhất tới sự tổng hợp sinh hóa này là bảo đảm độ tiệt trùng trong đó có độ tiệt trùng các cấu tử của môi trường dinh dưỡng. Khi sản xuất các chất hoạt hoá sinh học thường người ta ứng dụng các môi trường dinh dưỡng có nhiều cấu tử khác nhau. Các môi trường này có thể chứa nhiều sinh vật lạ. Cần phải phá huỷ hay loại chúng hoàn toàn ra khỏi môi trường. Quá trình tác động tới môi trường dinh dưỡng nhằm phá huỷ hay tách hoàn toàn vi sinh vật được gọi là tiệt trùng.
Xem thêm

26 Đọc thêm

SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NÓI CHUNG CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC TRẺ NÓI RIÊNG Ở TRƯỜNG MẦM NON THỌ PHÚ NĂM HỌC

SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NÓI CHUNG CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC TRẺ NÓI RIÊNG Ở TRƯỜNG MẦM NON THỌ PHÚ NĂM HỌC

ăn, tuy nhiên điều này còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế địa phương nơitrường đóng và giá cả thị trường khu vực.Hàng ngày, hàng tuần tổ chức kiểm tra việc tổ chức chế biến thực phẩmcho trẻ nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, với những biện pháp kiểm tragiám sát việc thực hiện của tổ nuôi dưỡng và quá trình chăm sóc nuôi dưỡng trẻở các nhóm lớp một cách thường xuyên nên việc thực hiện đạt kết quả tốt.Biện pháp 8. Chỉ đạo giám sát việc thực hiện khâu vệ sinh chăm sócvà vệ sinh an toàn thực phẩm ở các nhóm lớp và của tổ nuôi dưỡng.Hàng tuần, hàng tháng có kế hoạch kiểm tra thực hiện vệ sinh an toànthực phẩm ở các nhóm lớp, đồng thời thường xuyên kiểm tra giám sát việc thựchiện nghiêm ngặt chế độ vệ sinh an toàn thực phẩm ở tổ nuôi dưỡng.Khi mua thực phẩm cần phải biết rõ nguồn gốc để tránh mua phải thựcphẩm có tính độc hại, để đảm bảo vấn đề an toàn thực phẩm cho trẻ thì cần phảigiao trọng trách cho từng người trong tổ nuôi dưỡng, đặc biệt cần đặt mua thựcphẩm cố định ở một nơi để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như giá cảổn định và cũng giám sát được nguồn thực phẩm mà nhà trường dùng để chếbiến các món ăn cho trẻ; Có sổ sách thu, chi tiền ăn của trẻ trong ngày, có hìnhthức kỷ luật nghiêm khắc đối với những hành vi lạm dụng bớt khẩu phần ăn củatrẻ và thiếu trách nhiệm trong việc vệ sinh an toàn thực phẩm, sự công minhcương quyết linh hoạt của người quản lý, là chỗ dựa vững chắc cho cán bộ giáoviên của nhà trường phấn đầu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.Biện pháp 9. Công tác phối hợpNgoài đội ngũ giáo viên trong nhà trường là nòng cốt việc chăm sóc, nuôidưỡng trẻ trong trường Mầm non, thì muốn làm tốt công tác này không thể thiếuđược sự quan tâm, giúp đỡ của cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cơ quan đoàn thể,các tổ chức xã hội đóng trên địa bàn xã, đặc biệt là lực lượng cha mẹ trẻ trongtrườngTrong năm học này Ban giám hiệu nhà trường đã phối hợp với tổ chức Ytế khám sức khoẻ theo định kỳ cho trẻ và cán bộ giáo viên trong trường 2lần/năm; Tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã hỗ trợ kinh phí trả lương cho giáo
Xem thêm

20 Đọc thêm

Chlorophyll trong rau quả và những biến đổi của nó trong quá trình bảo quản và chế biến

CHLOROPHYLL TRONG RAU QUẢ VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN VÀ CHẾ BIẾN

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chất lượng của các sản phẩm thực phẩm không chỉ bao gồm giá trị về mặt dinh dưỡng mà còn cả giá trị về mặt cảm quan cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong đó, màu sắc là chỉ tiêu bắt buộc và rất quan trọng khi đánh giá chất lượng của bất kỳ một sản phẩm thực phẩm nào.
Chính vì vậy mà hiện nay trên thế giới, người ta đang tập trung nhiều nghiên cứu để tìm cách hạn chế tối đa những tổn thất của sắc tố trong quá trình bảo quản, chế biến đồng thời tách chiết các nhóm sắc tố từ những loại nguyên liệu tự nhiên rẻ tiền để thu nhận các nhóm sắc tố làm chất màu tổng hợp và ứng dụng vào ngành công nghệ thực phẩm. Đó là do sắc tố tự nhiên có ưu điểm vượt trội hơn, chúng không gây độc tính cho con người, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hơn mặc dù chúng lại có nhược điểm là rất dễ bị biến đổi và tổn thất trong các điều kiện môi trường…
Đề tài Chlorophyll trong rau quả và những biến đổi của nó trong quá trình bảo quản và chế biến” nhằm tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất và tác dụng của Chlorophyll, tính chất của nó và những biến đổi của chúng trong các sản phẩm rau quả. Từ đó rút ra được các biện pháp để phát huy tối đa giá trị của nhóm sắc tố này trong công nghệ thực phẩm.
Xem thêm

29 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGHIÊN CỨU SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ CỦA THIẾT BỊ SẢN XUẤT DUNG DỊCH SIÊU ÔXY HÓA ĐỂ KHỬ TRÙNG DỤNG CỤ VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG CƠ SỞ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGHIÊN CỨU SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ CỦA THIẾT BỊ SẢN XUẤT DUNG DỊCH SIÊU ÔXY HÓA ĐỂ KHỬ TRÙNG DỤNG CỤ VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG CƠ SỞ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

Thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể,
đảm bảo sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh nếu
không được đảm bảo vệ sinh. Nguồn gây bệnh từ thực phẩm có thể xuất hiện ở
nhiều khâu từ sản xuất đến vận chuyển, bảo quản, chế biến, nấu ăn và cách ăn.
Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm bảo
vệ sinh.
Do đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được đặt lên hàng đầu trong
những chương trình phát triển của các quốc gia. Trong những năm gần đây, tình
hình ngộ độc thực phẩm có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn qui mô tác hại ở
nhiều nước. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam
có 8 triệu người (chiếm xấp xỉ 1/10 tổng dân số) bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ
độc do liên quan đến thực phẩm. Ngộ độc thực phẩm do nhiều nguyên nhân khác
nhau gây ra, nhưng trong số đó có đến 50% các vụ ngộ độc thực phẩm là do tác
nhân vi sinh vật [16].
Hiện nay, xuất khẩu thực phẩm đang chiếm tỷ trọng quan trọng trong nền
kinh tế nước ta. Sự hội nhập kinh tế theo xu hướng toàn cầu hóa có tác động rất lớn
đến các tiêu chuẩn về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc đẩy mạnh xây
dựng qui trình, cải tiến các trang thiết bị trong chế biến thực phẩm đóng vai trò
quyết định giúp nâng cao năng lực kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong đó,
khử trùng nước, dụng cụ và nhà xưởng sản xuất là những khâu thiết yếu của quá
trình bảo đảm vệ sinh sản xuất.
Trong số tất cả các loại dung dịch sát trùng có hoạt tính cao nhưng với độc
tính thấp được biết từ trước đến nay, dung dịch Anolit trung tính sản xuất trên các
thiết bị hoạt hóa điện hóa (HHĐH) có nhiều ưu điểm như: hoạt tính khử trùng vẫn
được duy trì ở mức độ cao, trong khi nồng độ các chất ôxy hóa trong dung dịch
rất thấp và thành phần của chúng luôn biến đổi theo thời gian nên vi khuẩn
không có khả năng thích nghi chống lại.
Xem thêm

79 Đọc thêm

Đánh giá sự nhiễm khuẩn trên thịt lợn ở các lò mổ tiêu thụ nội địa của thành phố vinh nghệ an

ĐÁNH GIÁ SỰ NHIỄM KHUẨN TRÊN THỊT LỢN Ở CÁC LÒ MỔ TIÊU THỤ NỘI ĐỊA CỦA THÀNH PHỐ VINH NGHỆ AN

An toàn thực phẩm là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người. Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Đảm bảo an toàn thực phẩm góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn còn buông lỏng, vẫn còn đó những hiện tượng vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều mà báo chí, truyền hình ngày ngày cảnh báo và hậu quả mà nó mang lại như thế nào thì hẳn mỗi chúng ta ai cũng hiểu qua rõ. Tuy rằng hàng năm đã phát động tháng vì chất lượng và vệ sinh thực phẩm, nhưng các vụ ngộ độc vẫn xảy ra và có chiều hướng không thuyên giảm.
Thịt lợn là nguồn thực phẩm rất giàu năng lượng và là một trong những nguồn thức ăn chính, rất cần thiết cho con người nhưng đây cũng chính là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh. Những năm gần đây, người ta biết đến những vụ ngộ độc thực phẩm mà nguyên nhân chính là thức ăn có tồn tại các nhân tố gây độc. Theo thống kê của Bộ Y tế, trong năm 2010, toàn quốc đã xảy ra 132 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.676 người mắc, 3.281 người nhập viện và 41 trường hợp tử vong.
Thực phẩm an toàn không có nghĩa là chỉ làm tốt việc chăn nuôi sạch mà đó là tổng hợp tất cả các khâu thống nhất và chặt chẽ, liên quan với nhau. Từ công việc chăn nuôi ở trang trại, cơ sở giết mổ và chế biến, lưu thông, phân phối, bảo quản thịt cho đến khi thịt đến tay người tiêu dùng, làm sao để cung cấp thịt sạch, đảm bảo cho sức khỏe người tiêu dùng, đó là câu hỏi lớn đặt ra với mỗi chúng ta. Trong đó, vệ sinh trong quá trình giết mổ và kiểm soát giết mổ là quan trọng nhất vì cơ chế phòng vệ của thịt và sản phẩm động vật phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ sản xuất và hiểu biết của các thành viên tham gia trong quá trình sản xuất thịt. Trong những năm gần đây Nhà nước ta rất chú trọng quan tâm đến công tác thú y mà đặc biệt là công tác kiểm tra kiểm soát giết mổ ở các cơ sở giết mổ tư nhân cũng như tập trung. Tuy nhiên, việc kiểm tra, kiểm soát giết mổ đảm bảo vệ sinh thú y, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm không hề đơn giản. Thực trạng mà chúng ta phải công nhận một điều rằng cơ sở vật chất tại các cơ sở giết mổ gia súc còn rất lạc hậu. Cơ quan thú y quản lý còn lỏng lẻo nên thực phẩm nói chung và thịt lợn nói riêng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh vẫn được tiêu thụ hằng ngày, đe dọa đến sức khỏe của người dân.
Trước tình hình đó, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông lâm Huế, sự hướng dẫn của Thầy giáo, Thạc sỹ Lê Hữu Nghị cùng với sự giúp đỡ của Cơ quan Thú y Vùng III, tôi tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá sự nhiễm khuẩn trên thịt lợn ở các lò mổ tiêu thụ nội địa của thành phố Vinh Nghệ An .
Xem thêm

55 Đọc thêm

VỆ SINH CÔNG NGHIỆP

VỆ SINH CÔNG NGHIỆP

-Tiêu chuẩn GLOBALGAPGlobalGAP là một bộ tiêu chuẩn được xây dựng để áp dụngtự nguyện cho sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi vàthủy sản) trên toàn cầu.Đại diện hợp pháp của Ban thư kýGlobalGAP là tổ chức phi lợi nhuận mangtên FoodPLUS GmbH có trụ sở tại Đức.GlobalGAP là công cụ quản lý trang trạinhằm:Đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩmcho nông sản thực phẩm Hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản Sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn lực sản xuất nông nghiệp Làm giàu nông dân và phát triển nông thôn Bảo vệ môi trường và cảnh quan chung Bộ tiêu chuẩn-Tiêu chuẩn BRCTiêu chuẩn BRC là tiêu chuẩn của Hiệp hội các nhà bán lẻ Anh.Nội dungNội dungcung cấp các yêu cầu giúpTiêu chuẩn được ra đời
Xem thêm

68 Đọc thêm

vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của nước ta hiện nay

VẤN ĐỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY

Đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, nâng cao sức khỏe của con người; góp phần vào việc phòng ngừa, khống chế các nguy cơ gây hại cho sức khỏe và phòng các bệnh nguy hiểm như: ưng thư, huyết áp, tiểu đường,...vì vậy đòi hỏi các nhà sản xuất kinh doanh và người chế biến thực phẩm cần lương tâm và trách nhiệm, có nhận thức đúng đắn về các nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm để làm ra và cung ứng những sản phẩm sạch cho người tiêu dùng, góp phần xây dựng sự an toàn cho xã hội và an ninh con người.
Xem thêm

37 Đọc thêm

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

LỜI NÓI ĐẦU


Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của mỗi người, cho nên vấn đề sản xuất, chế biến kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm an toàn luôn là vấn đề mang tính thời sự.Cĩ thể nói đây là một lĩnh vực phức tạp vì nó không những có sự tham gia của nhiều chủ thể, mà nó còn ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe của mỗi người dân. Và trong giai đoạn hiện nay, vấn đề thực phẩm không an toàn, gây tác hại cho con người đang là nổi bức xúc của toàn xã hội nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Là một địa phương giữ vai trò là đầu tàu của nền kinh tế cả nước, thành phố Hồ
Chí Minh là nơi tập trung với số lượng lớn các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các nhà máy xí nghiệp nên cũng quy tụ đông đảo đội ngũ người lao động tại thành phố cũng như từ các tỉnh và thành phố trên cả nước. Thêm vào đó, tình trạng dân cư từ các tỉnh đổ xô về thành phố để mưu sinh đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải cho chính quyền thành phố. Trong đĩ, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề hết sức cấp bách.

I. KHI QUÁT CHUNG:
1 Các khái niệm có liên quan:
Thực phẩm theo quy định tại điều 31 khoản 1 pháp lệnh vệ sinh an
toàn thực phẩm 2003 (gọi tắt là pháp lệnh 2003), thực phẩm là những
sản phẩm mà con người ăn uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến,
bảo quản. Khái niệm này mang tính khái quát cao, nên sự phân biệt giữa
thực phẩm với các khái niệm mỹ phẩm và dược phẩm chưa rõ ràng.
Hiện nay có rất nhiều sản phẩm vừa được sử dụng như thực phẩm vừa
được sử dụng như dược phẩm như trà thanh nhiệt, các loại sữa chua len
men, viên ngậm vitamin C… và những sản phẩm đó được coi là
dược phẩm khi có thành phẩm hoạt chất với hàm lượng liều dùng có tác
dụng phòng và chữa bệnh, đồng thời được sản xuất công bố có tác
dụng phòng chữa bệnh, đồng thời được nhà sản xuất công bố có tác
dụng phòng chữa bệnh. (Điểm 1 mục 1 Thông tư số 172000TTBYT
ngày 2792000 hướng dẫn đăng ký sản phẩm dưới dạng thuốc, dược
phẩm). Việc hiểu đúng khái niệm về thực phẩm và dược phẩm có ý
nghĩa quan trọng trong việc áp dụng các quy định về sản xuất, đăng ký,
lưu hành đối với các nhà sản xuất.
Vệ sinh an toàn thực phẩm: là các điều kiện và biện pháp cần thiết để
đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người
(khoản 2 điều 3 pháp lệnh 2003). Theo đó vấn đề vệ sinh an toàn thực
phẩm được đặt ra trong tất cả các khâu của chuỗi hình thành thực phẩm
“từ nông trại đến bàn ăn” từ quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển lưu thông trên thị trường và đến khâu cuối cùng là xử lý hậu
quả ngộ độc thực phẩm. Ngoài ra, vệ sinh an toàn thực phẩm,còn phản
ánh chất lượng thực phẩm. Không thể có chất lượng thực phẩm tốt khi
không tuân thủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tạo ra sản phẩm
an toàn, mặc dù trong nó vẫn chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học nhưng ở một mức độ an toàn, không gây hại cho sức khỏe và tính mạng
của con người.
Ngộ độc thực phẩm: là tình trạng bệnh lý xảy ra do ăn uống thực
phẩm có chứa chất độc (khoản 5 điều 3 pháp lệnh 2003).
2. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong mối quan hệ với quyền con người được sống trong môi trường trong lành và vấn đề phát triển bền vững

a. Quyền được sống trong môi trường trong sạch v
lành mạnh là quyền cơ bản của con người. Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về môi trường trong lành trở thành một nguyên tắc chung cho tất cả các quốc gia. Nguyên tắc số 1 của tuyên bố Stockholm nêu rõ:” con người có quyền được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép
cuộc sống có phẩm già và phúc lợi mà con ngừoi có trách
nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay va
mai sau.” Tuân thủ nguyên tắc này với tư cách là thành
viên tham gia ký kết, Việt Nam đã nội luật hóa nguyên tắc
này bằng việc ban hành Luật Bảo vệ sức khỏe cho Nhân
dân ngày 3061989. Tại điều 1 quy định rõ công dân cĩ
quyền được đảm bảo về vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường. Đồng thời, luật này cũng quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tiến hành các biện pháp đảm bảo vệ sinh ăn ở, sinh hoạt cho nhân dân ở địa phương và trong cả nước. Pháp lệnh 2003 cùng các văn bản pháp luật liên quan là sự cụ thể hóa quyền con người được bảo vệ mặt vệ sinh thực phẩm.
b. Vệ sinh an toàn thực phẩm đặt trong mối quan hệ với vấn đề phát triển bền vững.
Theo khoản 4 điều 3 Luật bảo vệ Môi trường, phát triển bền vững là
phát triển để đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại
đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ tương lại trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và
bảo vệ môi trường. Như vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, đứng ở
vị trí nào trong phát triển bền vững?
Như ta đã biết, con người là nguồn lực không thể thiếu trong nền kinh tế. Nguồn lực con người được đảm bảo sẽ góp phần vào sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Nguồn lực con người được nói đến ở đây không
chỉ bao gồm người lao động trong các nhà máy xí nghiệp,mà còn bao
gồm đông đảo người tiêu dùng trên thị trường. Khi vệ sinh an toàn thực
phẩm được đảm bảo, cho ra đời nguồn thực phẩm an toàn, đảm bảo sức
khỏe và tính mạng cho con người. Và khi tính mạng, sức khỏe được
đảm bảo họ sẽ đem sức lực trí tuệ của mình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước. Hơn nữa, thực phẩm có chất lượng tốt còn có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu vào các thị trường màu mỡnhưng khó tính như Hoa Kỳ, Châu Âu Nhật Bản… từ đó mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp và nhà nước. với số lợi nhuận đó, nhà sản xuất sử dụng để đầu tư tái sản xuất, cải tiến công nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm.Hơn nữa, khi thực phẩm an toàn nhà nước không phải tốn kém nhiều chi phí về y tế để khắc phục nhứng tác hại ảnh hương đếntính mạng, sức khỏe người dân do thực phẩm có chất độc gây ra. Thay vào đó nhà nước thực hiện các phúc lợi nâng cao đời sống
cho người dân.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Chlorophyll trong rau quả và những biến đổi của nó trong quá trình bảo quản và chế biến 1

CHLOROPHYLL TRONG RAU QUẢ VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN VÀ CHẾ BIẾN 1

Chlorophyll trong rau quả và những biến đổi của nó trong quá trình bảo quản và chế biếnĐẶT VẤN ĐỀChất lượng của các sản phẩm thực phẩm không chỉ bao gồm giá trị về mặt dinh dưỡng mà còn cả giá trị về mặt cảm quan cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong đó, màu sắc là chỉ tiêu bắt buộc và rất quan trọng khi đánh giá chất lượng của bất kỳ một sản phẩm thực phẩm nào. Chính vì vậy mà hiện nay trên thế giới, người ta đang tập trung nhiều nghiên cứu để tìm cách hạn chế tối đa những tổn thất của sắc tố trong quá trình bảo quản, chế biến đồng thời tách chiết các nhóm sắc tố từ những loại nguyên liệu tự nhiên rẻ tiền để thu nhận các nhóm sắc tố làm chất màu tổng hợp và ứng dụng vào ngành công nghệ thực phẩm. Đó là do sắc tố tự nhiên có ưu điểm vượt trội hơn, chúng không gây độc tính cho con người, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hơn mặc dù chúng lại có nhược điểm là rất dễ bị biến đổi và tổn thất trong các điều kiện môi trường… Đề tài Chlorophyll trong rau quả và những biến đổi của nó trong quá trình bảo quản và chế biến” nhằm tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất và tác dụng của Chlorophyll, tính chất của nó và những biến đổi của chúng trong các sản phẩm rau quả. Từ đó rút ra được các biện pháp để phát huy tối đa giá trị của nhóm sắc tố này trong công nghệ thực phẩm.
Xem thêm

33 Đọc thêm

BỘ CÂU HỎI ÔN THI CÔNG CHỨC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM THỦY SẢN THI VIẾT

BỘ CÂU HỎI ÔN THI CÔNG CHỨC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM THỦY SẢN THI VIẾT

1Câu 11. Hãy cho biết trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm củaBộ Nông nghiệp và PTNT theo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010.Câu 12. Theo luật An toàn thực phẩm năm 2010, hãy cho biết Thanh tra về antoàn thực phẩm và nội dung thanh tra về an toàn phẩm ?Câu 13. Hãy cho biết, những hành vi bị cấm đối với tổ chức, cá nhân có hoạtđộng liên quan đến an toàn thực phẩm, theo quy định của Luật an toàn thực phẩmnăm 2010 ?Câu 14. Hãy cho biết nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý an toàn thựcphẩm trong kiểm tra an toàn thực phẩm theo quy định của Luật An toàn thực phẩmnăm 2010 ?Câu 15. Hãy cho biết các trường hợp thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàntheo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 ?Câu 16. Hãy cho biết các hình thức thu hồi và các hình thức xử lý thực phẩmkhông đảm bảo an toàn theo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 ?Câu 17. Hãy cho biết, theo quy định tại Nghị định 59/2005/NĐ- CP ngày04/5/2005:- Tổ chức, cá nhân chế biến thuỷ sản cần có các điều kiện gì ?- Tổ chức, cá nhân kinh doanh nguyên liệu thủy sản dùng cho chế biến thựcphẩm cần có điều kiện gì ?Câu 18. Hãy cho biết tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn nuôi thuỷ sản theo quyđịnh tại Nghị định 59/2005/NĐ- CP ngày 04/5/2005, phải có đủ các điều kiện gì ?Câu 19. Hãy cho biết tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh (bao gồm cả dịch vụlưu giữ) giống thuỷ sản theo quy định của Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày04/5/2005, phải có đủ các điều kiện gì ?Câu 20. Hãy cho biết theo Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007, kýhiệu quy chuẩn kỹ thuật được quy định như thế nào ?Câu 21. Theo Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ
Xem thêm

5 Đọc thêm

Phân tích tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu chiến lược kinh đô

PHÂN TÍCH TẦM NHÌN, SỨ MỆNH, MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC KINH ĐÔ

. TẦM NHÌN, SỨ MẠNG VÀ MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY KINH ĐÔ
1. Tầm Nhìn Của Công Ty Kinh Đô
Hương vị cho cuộc sống
Kinh Đô mang hương vị đến cho cuộc sống mọi nhà bằng những thực phẩm an toàn, dinh dưỡng, tiện lợi và độc đáo.

a) Phân tích tầm nhìn:
Kinh Đô nhìn nhận được yêu cầu với các loại thực phẩm của khách hàng ngày càng tăng (phải đạt chất lượng cao và đảm bảo an toàn) nên Kinh Đô mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm an toàn về mặt chất lượng cũng như sự tiện lợi khi sử dụng.
 Điều này đã cung cấp một sự hướng dẫn về điều cốt lõi phải bảo toàn, tương lai thôi thúc doanh nghiệp hướng tới từ đó tạo sự cuốn hút động viên nỗ lực của mọi người, làm cho niềm tin và các nguyên tắc của Kinh Đô trở nên rõ ràng hơn.
Với việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng thì Kinh Đô muốn trở thành người dẫn đầu trong lĩnh vực thực phẩm.
 Thể hiện các mục đích, mong muốn khái quát nhất của tổ chức.
 Tuyền bố tầm nhìn của Kinh Đô khá hiệu quả. Nó đảm bảo các yếu tố: rõ rang, tập trung, khả thi, dễ dàng truyền tải và đáng khao khát.

b) Liên hệ thực tế:
Các sản phẩm của Kinh Đô luôn có chất lượng tốt và được người tiêu dùng đánh giá cao so với các loại sản phẩm khác.
Công ty Kinh Đô đã đầu tư máy móc thiết bị, ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến theo tiêu chuẩn Châu Âu, quản lý theo hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001. Bên cạnh đó, Công ty nghiên cứu và phát triển sản phẩm phù hợp với thị hiếu, nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của khách hàng Việt Nam và nước ngoài với hàm lượng đường, chất béo thấp, sản phẩm giàu các loại vitamin, canxi, khoáng chất, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng.
Để đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng thì các sản phẩm của Kinh Đô rất đa dạng phong phú, và giá cả hợp lý. Với nhiều chủng loại sản phẩm như: bánh Cookies, bánh Snacks, bánh Crackers, kẹo Chocolate, kẹo cứng và kẹo mềm các loại, bánh mì và bánh bông lan công nghiệp, các loại bánh kem sinh nhật, bánh cưới…
Sản phẩm của Kinh Đô có sự đột phá về chất lượng, được cải tiến, thay đổi mẫu mã thường xuyên với ít nhất trên 40 sản phẩm mới mỗi năm.
 Kinh Đô đã và đang hướng đến đúng tầm nhìn của doanh nghiệp.

2. Sứ Mệnh Của Công Ty Kinh Đô
Sứ mệnh của Kinh Đô đối với người tiêu dùng là tạo ra những sản phẩm phù hợp, tiện dụng bao gồm các loại thực phẩm thông dụng, thiết yếu, các sản phẩm bổ sung và đồ uống. Doanh nghiệp cung cấp các thực phẩm an toàn, thơm ngon, dinh dưỡng, tiện lợi và độc đáo cho tất cả mọi người để luôn giữ vị trí tiên phong trên thị trường thực phẩm.
Với cổ đông, sứ mệnh của Kinh Đô không chỉ dừng ở việc mang lại mức lợi nhuận tối đa trong dài hạn mà còn thực hiện tốt việc quản lý rủi ro từ đó làm cho cổ đông an tâm với những khoản đầu tư.
Với đối tác, sứ mệnh của Kinh Đô là tạo ra những giá trị bền vững cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng bằng cách đảm bảo một mức lợi nhuận hợp lý thông qua các sản phẩm, dịch vụ đầy tính sáng tạo. Chúng tôi không chỉ đáp ứng đúng xu hướng tiêu dùng mà còn thỏa mãn được mong ước của khách hàng.
Chúng tôi luôn ươm mầm và tạo mọi điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu và kỳ vọng trong công việc nhằm phát huy tính sáng tạo, sự toàn tâm và lòng nhiệt huyết của nhân viên. Vì vậy Kinh Đô luôn có một đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, trung thành, có khả năng thích nghi cao và đáng tin cậy.
Để góp phần phát triển và hỗ trợ cộng đồng, chúng tôi chủ động tạo ra, đồng thời mong muốn được tham gia và đóng góp cho những chương trình hướng đến cộng đồng và xã hội.


a) Phân tích sứ mệnh:
Kinh Đô ra đời là để mang lại lợi ích cho xã hội thông qua việc cung ứng các sản phẩm trên lĩnh vực thực phẩm. Kinh Đô luôn muốn làm tốt mọi khâu trong chu trình sản xuất sản phẩm để cung ứng sản phẩm tới khách hàng.
Công ty hoạt động nhằm phục vụ người tiêu dùng trên thị trường Việt Nam và một số nước xuất khẩu với những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày đảm bảo an toàn, mang lại cho khách hàng sự thoải mái và yên tâm khi sử dụng. Và nhằm chiếm được lòng tin của khách hàng để có thể giữ vị trí là công ty cung cấp thực phẩm hàng đầu Việt Nam.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Báo cáo thực tập tại công ty thủy sản số 5 sản phẩm cá Hồng fillet

BÁO CÁO THỰC TẬP TẠI CÔNG TY THỦY SẢN SỐ 5 SẢN PHẨM CÁ HỒNG FILLET

Báo cáo Thực tập của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh ngành Đảm bảo Chất lượng và Vệ sinh An toàn Thực phẩm tại công ty Cổ phần Thủy sản Số 5
Sản phẩm cá Hồng fillet

105 Đọc thêm