CA DAO DÂN CA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CA DAO DÂN CA":

CA DAO DÂN CA

CA DAO DÂN CA

Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi và thân thương. Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền. Tất cả cùng hòa vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành dòng ca dao dân ca Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng. Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau. Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha. Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam. Với cội nguồn lịch sử và chữ viết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cũng như các nhà khoa học có liên quan đã khẳng định một trong những dấu tích của ca dao cách chúng ta khoảng trên dưới 2.500 năm. Điều này được thể hiện rất rõ qua các hoa văn trên trống đồng và các hiện vật khảo cổ cùng niên đại. Phân tích các họa tiết hoa văn trên trống đồng, nhiều người đã tìm thấy ở đây hình ảnh lễ thờ nữ thần Mặt Trời cũng là nữ thần Nông nghiệp. Trong lễ hội này đã sử dụng các hình thức âm nhạc, thanh nhạc múa hát và các nhạc khí. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn học phát biểu: "Tất cả các dân tộc trên thế giới suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca và ca dao. Vì thế nói về ca dao dân ca của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung là vấn đề rất lớn. Nó tồn tại rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên. Những điều đó được gọi là ca dao". Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đời sống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã được nhân dân sưu tập và gìn giữ. Cùng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đời sống xã hội và trí tuệ của nhân dân đúc kết nên. Qua lời ca, câu hát, ca dao và dân ca Việt Nam là những câu nói đúc kết những kinh nghiệm sống, những quan niệm về nhân cách, nhân đức ở mỗi con người. Càng đi sâu vào tìm hiểu ca dao dân ca, chúng ta sẽ thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ. Tuy nhiên ở mỗi loại hình lại có những đặc điểm riêng biệt. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn học phát biểu: "Các cụ ngày xưa có nói bỏ ca đi thì còn lại dao, có nghĩa là ca dao và dân ca ra đời cùng một lúc. Nhưng cũng không phải tất cả câu hát của dân ca là ca dao. Đi sâu vào nghiên cứu thì thấy dân ca phát triển rất nhiều, còn ca dao chỉ có một số chức năng nhất định". Ca dao dân ca là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn hóa dân gian đã có từ rất lâu. Nó có thể là một câu nói triết lý bao hàm một nội dung giáo dục của ai đó. Trải qua thời gian, mọi người thấy đúng và nghe theo, thậm chí họ có thể thêm vào hoặc bớt đi để đúng với từng hoàn cảnh cụ thể. Vì vậy, có thể nói ca dao dân ca là của quần chúng nhân dân sáng tác nên và họ có thể sáng tác trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong lễ hội, trong lao động sản xuất. Như Giáo sư Vũ Ngọc Phan đã viết: "Nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ xưa và hình thức thô sơ của nó đã được sửa đổi qua các thế hệ của loài người". Có một câu ca dao rất ý nghĩa, không chỉ nói lên quan niệm triết lý của người Việt Nam mà đó còn là một câu nói thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau, thể hiện sức mạnh của tập thể. "Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại thành hòn núi cao". Chất trí tuệ, giàu tư tưởng tình cảm trong ca dao dân ca là những nguồn nhựa sống bổ sung cho văn hóa dân gian thêm phong phú và đậm đà bản sắc. Tuy cũng là câu nói, giọng điệu cùng với một cái nôi xuất phát nhưng không phải câu ca dao nào cũng có thể trở thành dân ca và ngược lại, ở mỗi thể loại lại có thêm những ưu thế bổ sung ứng dụng trong từng hoàn cảnh của thực tế đời sống. Theo cách hiểu thông thường, ca dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca. Như vậy giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ ràng. Ca dao là những câu nói phổ thông trong dân gian. Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục bát, một thể thơ rất âm điệu tiếng Việt. Khi có nhiều câu kết thành một đoạn ngắn thì gọi là dân ca, vì vậy ranh giới giữa ca dao và dân ca là một sợi chỉ rất mỏng manh. Ca dao là lối văn truyền khẩu, trước tiên là do một người vì xúc cảm mà phát hiện ra, rồi vì lời hay, ý đẹp mà lan truyền trong dân gian và truyền mãi từ đời này qua đời khác. Tuy ca dao xuất phát trong giới bình dân nhưng nhiều câu rất nên thơ và ý nghĩa đậm đà, dễ xúc cảm người nghe nên được nhiều người để tâm sưu tầm. "Có cha, có mẹ có hơn Không cha, không mẹ như đàn không dây. Mẹ cha như nước, như mây, Làm con phải ở cho tầy lòng con". Câu thơ không chỉ nói về công đức sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ mà còn khuyên nhủ, răn dạy mọi người phải ăn ở sao cho đúng đạo làm con. Âu đó cũng là triết lý, quan điểm sống của mỗi con người chúng ta. Hoặc đó cũng có thể là những câu nói khuyên răn về quan hệ giữa anh em, bạn bè. "Anh em như chân, như tay Như chim liền cánh, như cây liền cành". Hoặc là những câu ngợi ca tình yêu lao động, trân trọng những giá trị của sự lao động. "Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần". Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, ca dao đã đi vào đời sống của nhân dân một cách rất tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh. Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê, quê hương là cánh đồng lúa thơm ngát, luỹ tre xanh trải dài dọc bờ đê, là những hình ảnh thân thương nhất đối với cuộc sống mỗi con người. Hai tiếng quê hương nghe gần gũi và thân thương, đó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Qua ca dao dân ca những hình ảnh của miền quê như trở nên gần gũi hơn, lung linh hơn nhờ những ca từ đầy hình ảnh. Khi nói đến dân ca, chúng ta không thể quên những lời ru con thiết tha trìu mến, qua tiếng ầu ơ mẹ ru con, những hình ảnh của miền quê yêu dấu của biển rộng non cao, của gió Lào cát cháy, những người mẹ năm tháng tảo tần một nắng hai sương nuôi dậy con khôn lớn. Những lời hát ru của mẹ đã hòa đồng với tâm hồn trẻ thơ, vừa đằm thắm nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần trầm tư sâu lắng. Trong câu hát của mẹ có ánh trăng soi rọi như đưa con vào giấc ngủ êm đềm, có áng mây trôi bồng bềnh trên đỉnh núi, có dòng sông bên lở bên bồi, có mặt biển long lanh ánh bạc và những con thuyền thấp thoáng ngoài khơi xa. Nghe lời ru của mẹ, trẻ thơ như được tiếp thêm nguồn dự trữ lớn lao về lòng yêu quê hương, đất nước, chắp cánh cho tuổi thơ của con thêm vững bước và sáng ngời niềm tin. Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao dân ca được sáng tạo nên, đó là lời ăn, tiếng nói của ông cha ta tích lũy từ ngàn đời. Đó là những câu nói đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất răn dậy con cháu, bao hàm những nội dung mang ý nghĩa triết lý dậy bảo rất sâu sa. Đó là những câu hát được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Giống như đại thi hào Macxingocki đã nhận định: "con người không thể sống mà không vui sướng được. Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhẩy múa". Bởi vậy, ca dao dân ca là sản phẩm văn hoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người.
Xem thêm

2 Đọc thêm

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN TRONG CA DAO DÂN CA.

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN TRONG CA DAO DÂN CA.

I.THỜI GIAN NGHỆ THUẬT:   Trong ca dao, tác giả với tư cách là một cá nhân- cá thể, là một cái tôi trữ tình riêng biệt, tách biệt với cộng đồng không được biểu lộ ra. Chính đó là điều tạo ra sắc điệu trữ tình độc đáo của ca dao so với thơ trữ tình bác học. Tính độc đáo ấy cũng được thể hiện cả ở cách xử lí thời gian của ca dao.   Trong những cuộc hát ca dao được cất lên.Tác giả bài ca hoàn toàn vắng mặt, trong thời điểm hiện tại của cuộc hát, ca dao được cất lên từ cửa miệng những người khác, ca dao được cả người diễn xướng lẫn người thưởng thức cùng như thể đang diễn đạt những cảm xúc- tâm lí nảy sinh từ chính trái tim mình ở vào khoảnh khắc dương thời đang tiếp diễn. Rút cục, trong ca dao, thời gian của tác giả và thời gian của người diễn xướng và cả thời gian của người thưởng thức hòa lẫn làm một. Thời gian đó luôn luôn là thời gian hiện tại (Điều này khác với thời gian trong truyện cổ tích luôn luôn là thời gian quá khứ phiếm định, khác với thời gian trong truyền thuyết luôn luôn là thời gian quá khứ xác định.)   Ca dao sử dụng hàng loạt cụm từ để chỉ thời gian: “bây giờ”, “hôm nay”, “chiều chiều”, “đêm đêm”, “hôm qua”, “ đêm qua”, “sáng ngày”, “khi xưa”…Nói chung thời gian nghệ thuật trong ca dao vừa là thời gian thực tại khách quan, lại vừa là thời gian của sự tưởng tượng, hư cấu mang tính chủ quan của nhân vật trữ tình.   Khi thời gian thuộc về đối tượng phản ánh thì đó là thời gian thực tại được ca dao tái hiện lại. Ví dụ như cách tính thời gian trong những bài ca nông lịch.:   “Tháng chạp là tháng trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà…” .   Ở đây chu kìthời vụ được tính bằng tháng. Bài ca cho thấy tính chất dồn dập của công việc nhà nông hết tháng này sang tháng khác trong năm, đồng thời cũng hé lộ tính lặp lại đều đều của thứ “nông lịch” ấy từ năm này sang năm khác. Qua đó, bài ca diễn đạt, một cách nghệ thuật, tính cách kiên nhẫn, bền bỉ, sự chịu đựng không biết mệt mỏi của người làm ruộng.   Nhưng khi cần diễn đạt một sự dồn dập với tốc độ nhanh hơn, đòi hỏi một cường độ làm việc căng hơn, đơn vị thời gian sẽ không còn là tháng nữa, mà là ngày:   “Một ngày hai bận trèo non, Lấy gì mà đẹp mà giòn hỡi anh.”   Thậm chí đơn vị thời gian còn ngắn hơn cả ngày:   “Thân anh khó nhọc trăm phần, Sớm đi ruộng lúa, tối nằm ruộng dưa. Vội đi quên cả ăn trưa, Vội về quên cả trời mưa ướt đầu.”   Khi thời gian chỉ là một yếu tố góp phần tạo nên hoàn cảnh, là một phương tiện nghệ thuật được mượn đến để làm phát lộ cảm xúc- tâm lí của nhân vật trữ tình thì thời gian hoàn toàn do chủ quan của nhân vật tưởng tượng hư cấu mà nên. Về cách sử dụng thời gian nghệ thuật hư cấu như thế này, chúng ta có một ví dụ thú vị sau:   “Tìm em đã tám hôm nay, Hôm qua là tám, hôm nay là mười”   “Những con số này rõ ràng là rất cụ thể, song đặt trong tương quan cả câu lại có thể không chính xác. Ở câu trên, tương quan giữa ba con số thời gian là một con số thiếu logic. Tại sao đã “tám hôm nay” rồi lại còn cộng thêm “hôm qua” và “hôm nay” lần nữa? Việc thiếu logic ở đây chỉ có thể giải thích bằng logic tâm trạng: sự bồn chồn của người đang yêu. Như vậy, thời gian ở đây chỉ là cái cớ, con số dù cụ thể song không nhất thiết phải chính xác.”(Trần Thị An. “Về một phương diện nghệ thuật của thơ ca tình yêu”,Tạp chí văn học,số 6-1990.)   Trong những trường hợp như thế, thời gian thường mang tính tượng trưng, ước lệ để có thể dùng chung cho nhiều người, ở nhiều địa điểm và thời điểm khác nhau. Chẳng hạn:   “Chiều chiều ra đứng bờ ao, Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ”   Với câu trên, chẳng ai lại bắt bẻ tại sao “chiều chiều” lại không thể trông thấy sao được? tất nhiên, có khi người hát mở đầu bằng “đêm qua’- nghe có vẻ hợp lí hơn. Nhưng thực ra ở đây ca dao không nhằm bảo đảm “cái lí thông thường” mà chỉ cốt biểu đạt ‘cái lí của lòng người”, “ cái logic1 của tâm trạng”. Và như vậy cũng là đảm bảo “cái lí của nghệ thuật”. Chính vì thời gian ở đây chỉ là ước lệ nên có thể thay thế “chiều chiều” bằng “đêm qua” và ngược lại, tùy người hát và thời điểm hát, cốt sao đảm bảo thể hiện được cảm xúc trữ tình trong bài hát,câu hát, tạo sự cảm thông, gần gũi giữa những người đang tham gia cuộc hát trong hiện tại.   II.KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT   Không gian trong ca dao cũng mang tính hai mặt: vừa là không gian thực tại khách quan như nó vốn tồn tại, vừa là không gian chỉ có trong hư cấu, tưởng tượng của nhân vật trữ tình.   Khi không gian là đối tượng phản ánh trực tiếp thì đó sẽ là không gian được tái hiện đúng như ngoài thực tại. Dó là những “xứ Huế”, xứ Nghệ”, xứ Quảng’, là “nước non Cao bằng”, là “núi Nùng – sông Nhị”, là “sông Hương- núi Ngự”…Trong ca dao những địa danh đó vanglên như những “m thanh của đất” gợi nhớ đến các miền quê với những đặc điểm điển hình về phong thổ, cảnh vật, sản vật, những nghề truyền thống nổi tiếng. Nói chung, trong ca dao, “những không gian vật lí” ấy “là những không gian bình dị của làng quê” với cây đa, giếng nước, sân đình, ngõ chùa, ao sen, cánh đồng, lũy tre…tất cả hợp thành những “hoàn cảnh điển hình”, những bối cảnh không gian trữ tình cho sự nảy sinh cảm xúc- tâm lí của con ngừoi lao động chân chất, cần cù, giàu tình cảm cộng đồng.   Trong ca dao cũng còn có cả “không gian xã hội” nơi diễn ra mọi hoạt động đời sống, mọi mối quan hệ giữa người với người.Trong những câu hát than thân hay những câu hát yêu thương, nghĩa tình, nhất là trong những câu hát giao duyên, không gian xã hội ấy trở thành “không gian tâm trạng”:   – “Qua đình ngả nón trông đình, Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”   – “Gặp nhau đường vắng thì chào, Gặp nhau giữa chợ lao xao xin đừng”   – “Đất đâu đất lạ đất lùng, Đi làm lại có thổ công ngồi bờ.   Ngồi bờ lại chả ngồi không, Hai tay chống gối, mắt trông người làm”…   Không gian tâm trạng ấy nhiều khi mang tính tượng trưng, hoặc không phải là tấm ảnh chụp nguyên xi không gian vật lí đúng như nó ở ngoài thực tại. Không gian ấy được chủ quan nhà nghệ sĩ dân gian sắp xếp lại sao cho “khớp” với cảm xúc- tâm lí của nhân vật trữ tình:   – “Chiều nay có kẻ thất tình, Tựa mai-mai ngả, tựa đình- đình xiêu”   – “Ra đi anh có lời thề, Dù đất Thổ Sơn có mất máu đỏ anh cũng trở về với em”   – “Ước gì sông rộng một gang,  Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi”   Ngay cả không gian xã hội cũng có thể sắp xếp lại được:   “Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa thì quét lá đa. Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa”   Phần lớn không gian trong ca dao mang tính phiếm chỉ với những “cầu”, “quán”, “cây đa”, “bến đò”…:   – “Qua cầu ngả nón trông cầu, Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu”   – “Cây đa cũ, bến đò xưa, Bộ hành có nghĩa nắng mưa vẫn chờ”.   Đó là những không gian mang tính cá thể hóa có thể được nhiều “nhân vật diễn xướng” sử dụng trong những bối cảnh khác, thích hợp với những gì chung nhất của cảm xúc- tâm lí của nhiều người đến mức trở thành không gian ước lệ mở ra khoảng không rộng lớn cho sự cộng cảm giữa người sáng tácvới người diễn xướng, giữa người diễn xướng với người thưởng thức. Đó là một trong những “điều bí mật” tạo nên sức hấpdẫn muôn đời của ca dao.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Vẻ đẹp của con người Việt Nam qua ca dao, dân ca

VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM QUA CA DAO, DÂN CA

Ca dao không những là tiêng nói chứa đựng tâm tư, tình cảm của người lao động mà còn là những kho tàng kinh nghiệm sống quý giá của muôn đời. Bài làm Ca dao không những là tiêng nói chứa đựng tâm tư, tình cảm của người lao động mà còn là những kho tàng kinh nghiệm sống quý giá của muôn đời. Đọc từng trang ca dao, chúng ta thấy hiện lên cuộc sống của người xưa trong sương mờ quá khứ. Trong đó, lời ăn tiếng nói của con người trong giao tiếp được người xưa coi trọng và hiển nhiên đó là một trong những chuẩn mực đức của con người. Một trong những "tiêu chuẩn" hàng đầu của vẻ đẹp con người là "ăn nói” phải mặn mà, phải có nét duyên: "Một thương tóc bỏ đuôi gà. Hai thương nói mặn mà, có duyên". Quan niệm xưa cho rằng "tóc bỏ đuôi gà, má lúm đồng tiền" là vẻ đẹp hình thể, vẻ đẹp bề ngoài; còn "ăn nói mặn mà có duuyên” là vẻ đẹp của tâm hồn bên trong, luôn bền vững với năm tháng, với thời gian. Song song đó, hình ảnh "người khôn" được nhắc đi nhắc lại với tần suất cao trong ca dao cũng là một điều cần lưu ý. "Người khôn" ở đây không phải hạng người "khôn lỏi, khôn vặt"; sống ích kỷ, nhỏ nhen mà là những người sống có nhân nghĩa, biết đối nhân xử thế đúng mực, đúng chuẩn ở đời. Người xưa từng nói "lạt mềm buộc chặt" – lời nói ngọt ngào, dịu dàng giờ cũng mang ấn tượng tốt, mang lại cảm tình, niềm vui giao tiếp cho người được tiếp xúc: "Chim khôn kêu tiếng rảnh rang. Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe". Ca dao còn nhắc nhở, khuyên nhau khi nói phải lựa lời, chọn lời, cân nhắc ý tứ. Lời nói luôn có sẵn, đối với từng trường hợp cụ thể chúng ta dành những "lời hay ý đẹp" cho nhau. Có niềm vui nào hơn khi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được nghe những lời nói đẹp, những lời nói hay, sâu sắc, để cho con người thương nhau hơn, gần gũi nhau hơn: "Lời nói chẳng mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Có môi trường sống tốt ắt có nhiều lời nói hay, nói đẹp. Bởi môi trường sống ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách con người: "Đất tốt trồng cây rườm rà. Những người thanh lịch nói ra dịu dàng". Người thanh tiếng nói cũng thanh. Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu”. Mỗi cử chỉ, mỗi hành vi, mỗi việc làm, lời nói đều bộc lộ phần nào phẩm đạo đức, nhân cách của con người. Một khi lời nói đã thốt ra thì không giờ lấy lại được nữa! Câu "nhất ngôn hạ xuất, tứ mã nan truy" đủ để biết trọng đến nhường nào trong lời ăn tiếng nói! Vì vậy, phải giữ đúng lời không vì lý do gì mà thay đổi. Bởi giữ lời hứa là giữ uy tín, danh dự, thể diện của bản thân: "Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Có khi người xưa khuyên răn nên "nói ít làm nhiều", đừng "nói nhiều ít" kẻo mang tiếng cười, tiếng chê bai: "Nói chín thì phải làm mười. Nói mười làm chín kẻ cười người chê". Mặt khác, cũng cần tránh lối nói lấp lửng, nửa úp nửa mở; khiến cho người áy náy, phân vân, không rõ thực hư thế nào, gây phiền muộn cho nhau: Người khôn ăn nói nửa chừng. Để cho người dại nửa mừng nửa lo. "Bên cạnh người xưa dạy những điều thật thấm thìa: đó là khi nói, cần biết dừng lại khi cần; đừng nói dông dài "con cà, con kê" ắt sẽ làm cho người nghe nhàm chán, mất hứng thú: "Rượu lạt uống lắm cũng say. Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm "Trong gia đình, trong làng xóm, trong quan hệ cộng đồng - sự hài hòa, nhường nhịn là cái gốc của cuộc sống yên vui. Xưa có đôi câu đối rằng: “Nhất cần thiên hạ vô nan sự. Bách nhẫn đường trung hữu thái hòa" (Chăm thiên hạ không việc khó. Tốt nhịn, gia đình lắm vẻ vui). Bài học mà ca dao chúng ta thật nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc: "Kim vàng ai nỡ uốn câu. Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời". Đúng vậy, nói nhau làm chi nặng lời bởi trong tình huống nào cũng rất cần chữ "nhẫn" như người xưa khuyên nhủ “một câu nhịn, chín câu lành". Trong cuộc sống, biết bao điều phức tạp nảy sinh và lời ăn tiếng nói có tầm trọng hàng đầu. Tìm hiểu ca dao, chúng ta càng cảm phục cha ông, càng thấm thìa những lời dạy được truyền từ đời này qua đời khác mà luôn luôn nguyên giá trị của nó trong sự nghiệp xây dựng con người mới hiện nay. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Giáo án ngữ văn 7 tuần 3, 4

Giáo án ngữ văn 7 tuần 3, 4

CA DAO DÂN CA NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH A. Mục tiêu cần đạt 1) Về kiến thức: Giúp HS: Hiểu khái niệm CD, DC Nắm được ND, YN và một số hình thức NT tiêu biểu của CD, DC qua những bài ca thuộc chủ đề tình cảm gia đình.. Thuộc những bài ca trong văn bản và biết thêm một số bài ca thuôc hệ thống của chúng. Lưu ý: Chỉ dạy bài 1 và bài 4 2) Kỹ năng: Biết phân tích những hình ảnh ca dao và hiệu quả của các BPTT 3) Tư tưởng: Giáo dục lòng yêu gia đình, tự hào về gia đình yêu dân ca B. Phương pháp Sử dụng phương pháp quy nạp gợi mở, nêu vấn đề, thảo luận. C. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh 1. Chuẩn bị của giáo viên Giáo án, Bảng phụ, tranh ảnh liên quan đến bài học , tuyển tập ca dao dân ca 2. Chuẩn bị của học sinh Soạn bài, sưu tầm những bài ca dao về tình cảm gia đình. D. Tiến trình bài dạy 1. Ổn định tổ chức (1p): GV gọi cán bộ lớp báo các sĩ số và việc chuẩn bị bài 2. Kiểm tra bài cũ (3p): Nêu cảm nghĩ của em sau khi học xong truyện “cuộc chia tay.....” GV gọi HS trình bày. Gv nhận xét, cho điểm GV kiểm tra phần BTVN của HS có thể cho điểm với những bài làm tốt 3. Bài mới (40p)
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG

Một vài kinh nghiệm giảng dạy bài: “Chương trình đòa phương”(Phần Văn và Tập làm văn)phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào tiết dạy nên chưa phát huy được tính chủ động,tích cực sáng tạo của học sinh. Học sinh chưa thể hiện được là “Người làm chủ kiến thức”của mình.1.3.3. Kiến thức trong tiết học sơ sài, chưa phong phú:So với các bài học khác, thì bài Chương trình địa phương ở sách giáo khoa cũng nhưsách giáo viên, khâu biên soạn có phần khái qt, đơn giản hơn các dạng bài khác trongchương trình. Hơn nữa về cách biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn các nhà soạn sách đã rảiđều bài học Chương trình địa phương ở các lớp, với thời lượng từ 5- 6 tiết trên năm học.Tài liệu tham khảo kiến thức về Văn học địa phương Bình Định khơng tập trung, mà nằm rảirác ở những tài liệu, những bài báo của nhóm tác giả hoặc cá nhân. Hơn nữa, trên các tàiliệu, các báo và tạp chí địa phương nếu có đề cập thì cũng chỉ nói tới một vài khía cạnh nhỏ.Trong khi đó Sở Giáo dục- Đào tạo Bình Định lại chưa biên soạn sách để làm tài liệu dạyriêng cho bài Chương trình địa phương như các tỉnh thành khác trong nước. Chính vì vậygiáo viên nào biết nhiều thì dạy nhiều, giáo viên nào biết ít thì dạy ít, thậm chí có giáo viên vìhạn chế về kiến thức nên dạy khơng đảm bảo u cầu, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.Ví dụ:Dạy tiết 70 Chương trình địa phương Ngữ văn lớp 6: Khác với mảng ca dao dân ca kháphong phú và có tài liệu để tham khảo, mảng truyện dân gian khó tìm kiếm hơn nên nhiềugiáo viên cũng chưa xác định được các truyện dân gian của địa phương Bình Định là gồmnhững truyện nào vì vậy trong giáo án soạn chung chung còn trên lớp thì lướt qua, có khikhơng dạy, HS có thể kể bất kì truyện nào cũng được có khi kể lại các truyện đã học trongsách giáo khoa giáo viên cũng khơng góp ý sửa chữa.Dạy tiết 121 Chương trình địa phương Ngữ văn lớp 8: Trình bày các vấn đề được đòaphương quan tâm hiện nay. Kiến thức trong tiết học là những vấn đề nổi trội của địa phương(mơi trường, dân số, an tồn giao thơng), vấn đề đó có liên quan đến nội dung của các vănbản nhật dụng được học trong chương trình. Để dạy tốt tiết học này đòi hỏi giáo viên và họcsinh phải điều tra tìm kiếm thơng tin, đưa ra các số liệu chính xác để thuyết phục đượcngười nghe. Tuy nhiên trong thực tế do điều kiện khách quan và chủ quan nên giáo viên và
Xem thêm

44 Đọc thêm

ĐỀ THI H ỌC SINH GI ỎI V ỀBÀI VI ỆT B ẮC T ỐH ỮU

ĐỀ THI H ỌC SINH GI ỎI V ỀBÀI VI ỆT B ẮC T ỐH ỮU

+ Chất nhạc của bài thơ được tạo nên từ nhịp điệu của cảm xúc,tâm trạng của thi nhân:~ Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ.~ Kết cấu theo lối đối đáp, hô ứng kết hợp với cặp đại từ “mìnhta” thường gặp trong ca dao dân ca đã biến cuộc chia tay tập thểmang ý nghĩa lịch sử trở thành cuộc tình tự nồng nàn, tha thiếtvừa ngân nga vừa sâu lắng giữa kẻ ở người đi.+ Chất nhạc của bài thơ được tạo nên bởi những yếu tố hình thức:~ Thể thơ lục bát truyền thống chuẩn trong cách gieo vần, phốithanh, gần gũi với ca dao dân ca tạo nên âm điệu ngọt ngào~ Nhịp thơ có sự thay đổi phù hợp với cảm xúc: chậm rãi, thathiết, lắng sâu trong hoài niệm về thiên nhiên, con người; nhanh,mạnh, hối hả gấp gáp khi tái hiện những tháng ngày kháng chiếnhào hùng và niềm vui chiến thắng -> Việt Bắc là một bản nhạc đadạng về tiết tấu, có nhẹ nhàng sâu lắng, có cao trào hào sảng,hân hoan.~ Nghệ thuật dùng từ láy, điệp từ ngữ, điệp cấu trúc cú pháp…~ Nghệ thuật tiểu đối…* Đánh giá, nhận xét:– Ý kiến của Chế Lan Viên không chỉ đánh giá đúng đắn, ghi nhậnvà tôn vinh tài năng thơ Tố Hữu mà còn có tư cách là một địnhnghĩa về thơ nói chung.– Bài thơ Việt Bắc hài hòa giữa “nhạc” và “ý”, vì vậy một vấn đềlịch sử chính trị vốn khô khan, khó viết, qua ngòi bút Tố Hữu đãthành những vần thơ đến với người đọc bằng con đường của tráitim; thêm một lần nữa chứng tỏ: Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữtình chính trị
Xem thêm

4 Đọc thêm

GIÁO ÁN CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG NGỮ VĂN 7 TUẦN 20 36

GIÁO ÁN CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG NGỮ VĂN 7 TUẦN 20 36

khó tìm tòi.- Để có thể sưu tầm được các bài ca - Hỏi cha mẹ, người địa b. Cách sưu tầm:dao, dân ca, tục ngữ ở địa phương Bắc phương, người già cả,Giang cần làm như thế nào?nghệ nhân, các nhà vănđịa phương…- Lục tìm trong sách báoở địa phương.- Tìm trong những bộ sưutập lớn về tục ngữ, ca daonói về địa phương BắcGiang.- Để tập hợp được những câu ca dao - Phải có vở bài tập để c. Yêu cầu khi sưudân ca, tục ngữ theo đúng nội dung, ghi chép. Ghi chép cẩn tầm:cần đảm bảo yêu cầu gì?thận, chính xác nhất là2những bài phiên âm tiếngdân tộc, những bài phiênâm phải có dịch nghĩa,hoặc dịch thành câu tụcngữ, ca dao.- Phải biết phân loạithành ca dao, dân ca, tụcngữ.- Các câu cùng loại xếptheo thứ tự A, B, C chữ
Xem thêm

6 Đọc thêm

Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người

NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI

I. VỀ THỂ LOẠI, Ca dao, dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Hiện nay còn phân biệt ca dao và dân ca: Dân ca là những sáng tác kết hợp giữa lời và nhạc, ca dao là lời thơ của dân ca, ngoài ra còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca. 2. Ca dao, dân ca thuộc loại trữ tình, phản ánh tâm tư tình cảm, thế giới tâm hồn của con người (trữ: phát ra, bày tỏ, thể hiện ; tình: tình cảm, cảm xúc). Nhân vật trữ tình phổ biến trong ca dao, dân ca là những người vợ, người chồng, người mẹ, người con,… trong quan hệ gia đình, những chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu, người nông dân, người phụ nữ,… trong quan hệ xã hội. Cũng có những bài ca dao châm biếm phê phán những thói hư tật xấu của những hạng người và những sự việc đáng cười trong xã hội. Ca dao châm biếm thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam. 3. Bên cạnh những đặc điểm chung với thơ trữ tình (có vần, nhịp, sử dụng nhiều biện pháp tu từ,…), ca dao, dân ca có những đặc thù riêng: + Ca dao, dân ca thường rất ngắn, đa số là những bài gồm hai hoặc bốn dòng thơ. + Sử dụng thủ pháp lặp (lặp kết cấu, lặp dòng thơ mở đầu, lặp hình ảnh, lặp ngôn ngữ,…) như là một thủ pháp chủ yếu để tổ chức hình tượng. 4. Ca dao, dân ca là mẫu mực về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm và khả năng lưu truyền. Ngôn ngữ ca dao, dân ca là ngôn ngữ thơ nhưng vẫn rất gần với lời nói hằng ngày của nhân dân và mang màu sắc địa phương rất rõ. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đáp án đúng là: b) Bài ca có hai phần: phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần sau là lời đáp của cô gái. c) Hình thức đối đáp rất phổ biến trong ca dao. Ví dụ: - Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng.         Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng - Chàng hỏi thì thiếp xin vâng.        Tre non đủ lá, nên chăng hỡi chàng?… 2. Trong bài 1, chàng trai và cô gái lại dùng những địa danh với nhưng đặc điểm của từng địa danh như vậy để hỏi – đáp nhau, vì đây là lời mà các chàng trai và các cô gái hát giao duyên trong chặng hát đố – chặng hát thử tài hiểu biết của nhau về lịch sử, địa lí,…của các vùng miền. Những địa danh trong bài 1 là những địa danh ở vùng Bắc Bộ nước ta. Nó gắn với những đặc điểm lịch sử, địa lí, văn hoá của nhiều vùng đất. Người hỏi đã chọn được nhiều nét tiêu biểu để đố, trong khi đó, người đáp cũng trả lời rất đúng. Cuộc hỏi đáp diễn ra như vậy chính là cơ sở để các chàng trai và các cô gái bày tỏ tình cảm với nhau. 3. Ca dao có nhiều bài mở đầu bằng cụm từ “Rủ nhau”: Rủ nhau đi cấy đi cày…, Rủ nhau đi tắm hồ sen… Người ta thường “rủ nhau” khi người rủ và người được rủ có quan hệ gần gũi, thân thiết và cùng chung mối quan tâm, cùng muốn làm một việc gì đó. Điều này là một trong những yếu tố thể hiện tính chất cộng đồng của ca dao. Trong bài 2 có cảnh Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ. Kiếm Hồ tức Hồ Hoàn Kiếm (hay còn gọi là Hồ Gươm), một thắng cảnh thiên nhiên đồng thời cũng là một di tích lịch sử, văn hoá, gắn với truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nơi Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần từng giúp Lê Lợi đánh tan giặc Minh hung bạo ngày nào. Câu “Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ” thực ra là một câu dẫn, hướng người đọc, người nghe đến thăm hồ Gươm với những tên gọi nổi tiếng (cầu Thê Húc, chùa Ngọc Sơn, Đài Nghiên, Tháp Bút), góp phần tạo nên vẻ đẹp hài hoà, đa dạng vừa thơ mộng vừa thiêng liêng. Thủ pháp ở đây là gợichứ không tả, hay nói cách khác là tả bằng cách gợi. Chỉ dùng phương pháp liệt kê, tác giả dân gian đã gợi lên một cảnh trí thiên nhiên tuyệt đẹp ngay giữa thủ đô Hà Nội. Những địa danh và cảnh trí đó gợi lên tình yêu, niềm tự hào về cảnh đẹp, về truyền thống lịch sử, văn hoá của đất nước, quê hương. Câu cuối bài 2 (Hỏi ai xây dựng nên non nước này) là một câu hỏi tu từ, có ý nghĩa khẳng định, nhắc nhở về công lao xây dựng non nước của ông cha ta. Hồ Gươm không chỉ là một cảnh đẹp của thủ đô, nó đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp, cho truyền thống văn hoá, lịch sử của cả đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở các thế hệ mai sau phải biết trân trọng, gìn giữ, xây dựng và tiếp nối truyền thống đó. 4. Cảnh trí xứ Huế trong bài 3 được tác giả dân gian phác hoạ qua vẻ đẹp của con đường. Đó là con đường được gợi nên bằng những màu sắc rất nên thơ, tươi tắn (non xanh, nước biếc). Cảnh ấy đẹp như trong tranh vẽ (“tranh hoạ đồ”) – ngày xưa cái gì đẹp thường được ví với tranh (đẹp như trong tranh). Bức tranh xứ Huế như thế vừa khoáng đạt, lại vừa gần gũi quây quần. Biện pháp so sánh vẫn là biện pháp tu từ chủ đạo tạo nên vẻ đẹp trong những câu ca dao này. Đại từ “Ai” trong lời mời, lời nhắn gửi (“Ai vô xứ Huế thì vô”) là một từ phiếm chỉ (đa nghĩa, có thể chỉ trực tiếp người mà tác giả quen nhưng cũng có thể hiểu đó là lời nhắn gửi đến mọi người). Lời mời ấy vừa có hàm ý tự hào về cảnh thiên nhiên xứ Huế, vừa như muốn chia sẻ nó với tất cả mọi người. 5. Trong nhóm bài ca dao này, hầu hết các câu được sáng tác theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể. Riêng hai câu đầu của bài 4 lại có hình thức khác thường. Mỗi câu được kéo dài ra thành 12 tiếng để gợi sự to lớn, rộng rãi của cánh đồng. Bên cạnh đó, các biện pháp điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ, đối xứng giữa câu 1 với câu 2 càng tô đậm cảm giác về một không gian rộng rãi, tràn đầy sức sống. 6. Hai câu cuối của bài 4 có nhiều cách hiểu. Cách hiểu phổ biến hơn cả cho rằng đây là hai câu ca dao miêu tả vẻ đẹp của cô gái. Trước cánh đồng mênh mông, bát ngát, hình ảnh cô gái có vẻ nhỏ bé nhưng cô chính là người làm ra cánh đồng “mênh mông bát ngát” đó, và hình ảnh của cô “như chẽn lúa đòng đòng – Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai” thật đẹp, vẻ đẹp kết tinh từ sắc trời, hương đất, từ cánh đồng “bát ngát mênh mông” kia. 7. Theo cách hiểu trên thì đây là lời chàng trai đang ngắm cô gái đứng trên cánh đồng. Chàng trai thấy cánh đồng mênh mông bát ngát và thấy cô gái hồn nhiên, trẻ trung, đầy sức sống. Nhưng ngoài ra, còn có cách hiểu khác cho rằng đây là lời của cô gái. Đứng trước cánh đồng “bát ngát mênh mông” rợn ngợp, nhìn đâu cũng không thấy bờ, cô gái cất lên những tiếng than về thân phận nhỏ bé, vô định. III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc Có thể coi phần lớn các bài ca dao này được viết theo thể lục bát nhưng một số dòng được kéo dài ra: Sông nào / bên đục / bên trong. Núi nào thắt cổ bồng / mà có thánh sinh? Do đó, cách hiệp vần cũng không hoàn toàn theo kiểu bình thường: Nước sông Thương / bên đục / bên trong. Núi Đức Thánh Tản / thắt cổ bồng / lại có thánh sinh. 2. Khác với chùm bài ca dao về tình cảm gia đình đã học, ở nhóm bài này ngoài thể thơ lục bát còn có loại lục bát biến thể (bài 1 và bài 3 – tự khảo sát từng câu để nhận ra sự khác biệt) và thể thơ tự do (hai câu đầu bài 4). Mỗi thể loại như đã nêu lại có những ưu điểm khác nhau trong việc thể hiện tình cảm cảm xúc (xem lại phần phân tích ở trên). 3. Tình cảm chung thể hiện trong các bài ca dao là tình yêu quê hương, đất nước, con người.  loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 7 TUẦN 3

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 7 TUẦN 3

GVHDHS sưu tầm những câu ca bày.dao nói về môi trường hiện nay.4. Củng cố :GV nhắc lại nội dung ghi nhớ.5. Hướng dẫn học bài, soạn bài mới :- Học bài, làm phần luyện tập.- Sưu tầm một số bài ca dao, dân ca nói về môi trường hiện nay và học thuộc.- Chuẩn bị bài “Từ láy”.IV. RÚT KINH NGHIỆM :………………………………………………………………………………………………......………………………………………………………………………………………………Tiết 11TỪ LÁYI. MỤC TIÊU : Giúp HS1. Kiến thức :- Khái niệm từ láy.- Các loại từ láy.2. Kĩ năng :- Phân tích cấu tạo từ, giá trị tu từ của từ láy trong văn bản.- Hiểu nghĩa và biết cách sử dụng một số từ láy quen thuộc để tạo giá trị gợi hình, gợi tiếng,biểu cảm, để nói giảm hoặc nhấn mạnh.3. Thái độ :- Biết vận dụng những hiểu biết về cấu tạo và cơ chế tạo nghĩa của từ láy để sử dụng tốt từláy.- Có ý thức rèn luyện, trau dồi vốn từ láy.II. CHUẨN BỊ :- GV : soạn giáo án, sgk, sgv, bảng phụ.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Thi pháp ca dao và vận dụng tìm hiểu một số bài ca dao cụ thể theo thi pháp thể loại

THI PHÁP CA DAO VÀ VẬN DỤNG TÌM HIỂU MỘT SỐ BÀI CA DAO CỤ THỂ THEO THI PHÁP THỂ LOẠI

Ca dao là thể loại văn học dân gian được các nhà nghiên cứu để tâm đến nhiều bởi giá trị nhiều mặt của nó. Có thể nói, mảnh đất ca dao rộng lớn và sâu sắc nhiều mặt vẫn là khoảng đất rộng rãi và hấp dẫn, đôi khi bí ẩn cho nhưng ai quan tâm, yêu thích vẻ đẹp ca dao. Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”. Nxb Khoa học xã hội, 1978, đã “coi đó là tiếng tơ đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”. Mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó nhằm biểu đạt nội dung riêng của nó. Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Đối với ca dao cũng vậy, vì thế nắm được thi pháp ca dao ta mới có thể giải mã được những bài ca dao xưa nay còn nhiều tranh cãi.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Biểu tượng dòng sông trong ca dao trữ tình người việt (KL07168)

BIỂU TƯỢNG DÒNG SÔNG TRONG CA DAO TRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT (KL07168)

... trên, ngƣời viết lựa chọn đề tài Biểu tƣợng dòng sông ca dao trữ tình ngƣời Việt Mục đích nghiên cứu Chọn đề tài Biểu tƣợng dòng sông ca dao trữ tình ngƣời Việt , ngƣời viết mong muốn đóng... hình ảnh dòng sông đƣợc gợi nhắc ca dao nhƣ lẽ tất yếu để qua nói lên nỗi lòng Trong viết: “Hình tƣợng sông nƣớc ca dao trữ tình Nam Bộ”, Trần Thị Diễm Thúy có nói: Trong ca dao dân ca Việt Nam... thuyết biểu tƣợng biểu tƣợng dòng sông Chƣơng 2: Dấu ấn địa – văn hóa biểu tƣợng dòng sông ca dao Chƣơng 3: Các dạng thức ý nghĩa biểu trƣng dòng sông ca dao NỘI DUNG Chƣơng GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU
Xem thêm

60 Đọc thêm

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 7 BÀI 9

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 7 BÀI 9

H: Qua VB “Cuộc chia tay của những con búp bê” tác giả muốn nhắn gửi đến mọingười điều gì?(Tổ ấm gia đình là vô cùng quý giá và quan trọng. Mọi người hãy cố gắng bảo vệgiữ gìn, không nên vì bất kỳ lí do gì làm tổn hại đến những tình cảm tự nhiên trongsáng ấy. Biết thông cảm chia sẻ với những bạn nhỏ chẳng may rơi vào hoàn cảnh bấthạnh...).3. Tiến trình tổ chức các hoạt độngTGHoạt động của thầy và tròNội dung chínhHoạt động 1: Khởi động1pEm hãy cho biết trong hai ví dụ sau,câu nào là tục ngữ, câu nào là ca dao?(1) Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.(2)Anh em như thể tay chânRách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.1GV: Tuổi thơ ta lớn lên cùng những lời rucủa mẹ, của bà. Khúc tâm tình đó thấmsâu vào tiềm thức mỗi người mà nămtháng không thể phai mờ. Đó chính lànhững làn điệu dân ca Việt Nam được lưutruyền trong dân gian mà nhiều hơn cả làtình cảm gia đình, con người. Để hiểu rõvề ca dao dân ca và những câu hát về tìnhcảm gia đình, chúng ta cùng tìm hiểu bài
Xem thêm

19 Đọc thêm

ÔN TẬP PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ÔN TẬP PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

chia tay giữa những người kháng chiến đối với đồng bào Việt Bắc mà tái hiện lại mộtViệt Bắc trong kháng chiến đầy gian khổ hy sinh nhưng thấm đẫm nghĩa tình quầnchúng giữa cách mạng với nhân dân, lãnh tụ với dân tộc, miền ngược với miền xuôi,quá khứ, hiện tại, tương lai như hoà quyện vào nhau. Điều đó dã được thể hiện ngaytrong 8 câu thơ mở đầu bài thơ.Vì là 1 phong cách trữ tình chính trị nên thơ Tố Hữu luôn gắn liền với những vấn đềthời sự, luôn kết tinh trong tác phẩm hơi thở của cuộc sống. Nhờ thế Việt Bắc đã ra đờitrong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Đó là vào tháng 10/ 1954, sau khi kháng chiến vĩ đạicủa dtộc ta kết thúc bằng một chiến thắng rạng rỡ khắp 5 châu 4 biển, làm chấn độngđịa cầu, đất nước đã hoà bình, Bác Hồ và các cơ quan trung ương Đảng, cùng với phầnlớn các tổ chức kháng chiến, những người kháng chiến đã hồ hởi trở về tiếp quản thủđô. 1 cuộc chia tay lớn mang tính chất lịch sử đã diễn ra trên khắp vùng quê nẻo đường.Nhân sự kiện ấy Tố Hữu muốn làm một cuộc tổng kết về quá trình chiến thắng, VB- thủđô của kháng chiến. Nhưng Tố Hữu đã không thể hiện nó như bản tổng kết quân sự haynhững trang sử về kháng chiến hoặc một báo cáo chính trị thông thường. Tố Hữu đã trữtình hoá cuộc chia tay lớn này bằng việc thể hiện nó như một cuộc chia tay của đôi lứa,của “mình với ta”, “ta với mình” trong ca dao dân ca của mọi miền đất nước đặc biệttrong ca dao dân ca của đồng bằng Bắc Bộ.Hoàn cảnh đã tạo nên cấu trúc trữ tình tác phẩm, cái âm hưởng dìu dặt, lưu luyến, bịnrịn bao trùm bài thơ đó là cái âm hưởng của những câu thơ lục bát đều đặn nhịp nhàngvà những thanh bằng thanh trắc đắp đổi cho nhau như trong câu thơ lục bát truyềnthống. Cấu trúc trữ tình tạo nên cái tứ trữ tình, uốn vào nó thiên nhiên rất giàu giá trịbiểu cảm, trực tiếp bày tỏ cảm xúc với rất nhiều chữ “nhớ” lan toả khắp bài thơ rồinhững từ “tha thiết”, “bâng khuâng” với hình ảnh người yêu. Có thể nói hoàn cảnh rađời chính là sự khơi gợi cảm hứng, từ cảm hứng khơi gợi giọng điệu, từ giọng điệu nhưmột thanh nam châm hút vào tác phẩm những từ ngữ cùng một trường biểu cảm.Việt Bắc là một những hoài niệm lớn của những ngày kháng chiến, những hoài niệmđược đặt trong không gian thấm đẫm chất trữ tình. Cho nên ngay từ những dòng thơ mở
Xem thêm

65 Đọc thêm

CA DAO VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI MÀ CA DAO THỂ HIỆN

CA DAO VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI MÀ CA DAO THỂ HIỆN

I. GIỚI THIỆU VỀ CA DAO VÀ TIẾNG ĐÀN MÀ NÓ THỂ HIỆNDân tộc Việt Nam của chúng ta có một nền ca dao lâu đời và rất phong phú.Trải qua bốn ngàn năm thăng trầm,người Việt đã đúc kết một kho tàng dân ca thấmđẫm tình yêu Quê hương đất nước. Nghệ thuật gìn giữ và phát triển ca dao từ ngànxưa đã trở thành nét văn hoá đặc biệt của người Việt Nam.Ca dao từ ngàn xưa gắn với cuộc sống vất vả và những sinh hoạt đời thườngnhất của người dân Việt Nam. Nó là những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn,đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lý dân gian sâu sắc.Có ý kiến cho rằng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”.Không vội vàng nói về tính đúng sai của ý kiến này mà chúng ta hãy đi tìm hiểuxem nó có phải là muôn điệu không? Và điều gì đã tạo ra tính muôn điệu của cadao?Ca Dao là cây đàn muôn điệu của đời sống tâm hồn quần chúng. Hình ảnh sosánh ví von ca dao như một cây đàn thật là đặc biệt. Cây đàn thì trong chúng takhông một ai là không biết nó như thế nào rồi. Nhưng ở đây chúng ta hãy nói vềtiếng đàn khi những sợi dây đàn hay phím đàn vang lên. Khi dây đàn chưa rung,phím đàn chưa đánh thì chúng ta chưa thể biết rằng cái gì sẽ đến tiếp theo nữa đây.Tiếng đàn, lúc trầm, lúc bổng, khi thì ngân lên những khúc tráng ca anh hùng,mạnh mẽ, đôi khi lại ngân lên những khúc ca thê lương, ai oán. Số phím, số dâyđàn trên một cây đàn thì ta có thể đếm được, đoán được nhưng những tình cảm,tâm tư trong một giai điệu không ai có thể đếm cho hết được cả. Khi nó vang lênhùng hồn, mãnh liệt, khi thì lại ai oán tới não lòng. Nó rất phù hợp với ca dao bởivì chưa có một mảng nào trong đời sống con người mà ca dao không phản ánhđược hết cả. Ca dao chính là tiếng lòng của con người, là tiếng cười của cuộc sốnghàng ngày và tiếng than thân trách phận.Để nói về tính muôn điệu của ca dao chúng ta hãy đi tìm hiểu về những đề tàimà ca dao thể hiện. Những đề tài mà ca dao thể hiện bắt nguồn từ thực tế cuộcsống lao động, sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tếtrước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động. Chính vìvậy, những hình ảnh của ca dao mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình,những nổi niềm thân phận. Toát lên từ những lời ca, ý thức về phẩm giá, nhân
Xem thêm

25 Đọc thêm

SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP MANG DÂN CA ĐẾN GẦN VỚI TRẺ MG 3 4 TUỔI

SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP MANG DÂN CA ĐẾN GẦN VỚI TRẺ MG 3 4 TUỔI

nhiều loại hình khác nhau, nó rất đa dạng và phong phú như: Âm nhạc, câu đố,thơ ca, hò vè , ca dao, đồng dao, trò chơi dân gian, dân ca…và nhiều loại hìnhkhác nữa. Trong đó có thể nói rằng dân ca cũng là một di sản văn hóa quý báucủa dân tộc. Nó được kết thành qua quá trình lao động, sản xuất và sinh hoạtcủa con người, trong đó nó tích tụ cả trí tuệ và niềm vui , nỗi buồn của bao thếcon người. Đặc biệt đối với trẻ em dân ca với những xúc cảm đặc biệt nó manglại cho thế giới trẻ thơ nhiều điều thú vị và bổ ích, đồng thời thể hiện được nhucầu giải trí, vui chơi, được chia sẻ niềm vui chơi của các em với bạn bè, vớinhững người xung quanh và cộng đồng, đưa các em về với tuổi thơ đúng nghĩacủa nó "Tuổi thơ đầy sự hồn nhiên và trong sáng". Nó làm cho thế giới xungquanh của các em đẹp hơn rộng mở hơn, tuổi thơ của các em sẽ trở thành kỷniệm quý báu theo suốt cuộc đời, dù đi đâu về đâu hình bóng cây đa, bến nước,con đò với hình ảnh đàn em nhỏ tập hát các làn điệu dân ca không thể phai mờ.Không những thế những làn điệu dân ca làm giàu nguồn tình cảm ,phát triển trítuệ và ngôn ngữ cho các em đặc biệt ở tuổi lên ba. Chính vì vậy dân ca rất cầnthiết được lựa chọn, giới thiệu, tổ chức trong trường Mầm non tùy theo từnglứa tuổi.Đúng như lời của một Giáo sư ở Giám đốc bảo tàng dân tộc Việt Nam đãnói "Cuộc sống của trẻ em không thể thiếu những làn điệu dân ca. Dân cakhông đơn thuần là một bài hát của trẻ con mà chứa đựng cả nền văn hóa dântộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Dân ca không chỉ chắp cánh cho tâmhồn trẻ, giúp trẻ phát triển tư duy sáng tạo mà còn giúp trẻ hiểu về bạn bè, tìnhyêu gia đình, quê hương đất nước. Ngày nay, các em đang sống trong điều kiệnnền kinh tế phát triển, chỉ làm quen với máy móc và không có một khoảng thờigian chơi cũng là một thiệt thòi. Thiệt thòi hơn khi các em không được làmquen và hát những bài dân ca của thiếu nhi ngày trước nó đang ngày càng bịmai một và lãng quên, không chỉ ở các thành phố mà còn các vùng quê. Vì thế2
Xem thêm

23 Đọc thêm

ca dao và những đề tài mà ca dao thể hiện

CA DAO VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI MÀ CA DAO THỂ HIỆN

Dân tộc Việt Nam của chúng ta có một nền ca dao lâu đời và rất phong phú. Trải qua bốn ngàn năm thăng trầm,người Việt đã đúc kết một kho tàng dân ca thấm đẫm tình yêu Quê hương đất nước. Nghệ thuật gìn giữ và phát triển ca dao từ ngàn xưa đã trở thành nét văn hoá đặc biệt của người Việt Nam. Ca dao từ ngàn xưa gắn với cuộc sống vất vả và những sinh hoạt đời thường nhất của người dân Việt Nam. Nó là những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn, đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lý dân gian sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”. Không vội vàng nói về tính đúng sai của ý kiến này mà chúng ta hãy đi tìm hiểu xem nó có phải là muôn điệu không? Và điều gì đã tạo ra tính muôn điệu của ca dao?
Xem thêm

24 Đọc thêm

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Các khoản thu nhập sau đây sẽ không thuộc diện chịu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao:  _CÁC KHOẢN PHỤ CẤP DO NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH ÁP DỤNG ĐỐI VỚI THU _ _NHẬP PHÁT SINH [r]

17 Đọc thêm

Cùng chủ đề