TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA THỜI KỲ 1991 2000 ĐẾN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA THỜI KỲ 1991 2000 ĐẾN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM":

Luận văn sơ bộ: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 2010

LUẬN VĂN SƠ BỘ: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1997 2010

Với những lí do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 2010” làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử. Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ năm 1997 đến năm 2010 bởi vì ngày 111997 tỉnh Hà Nam chính thức được thành lập trên cơ sở tỉnh Nam Hà cũ còn năm 2010 là năm tỉnh hoàn thành kế hoạch 5 năm phát triển KT – XH (2006 2010). Nghiên cứu đề tài này tôi cũng mong muốn được góp công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển của tỉnh Hà Nam, đồng thời đề tài này phục vụ tốt cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông trung học trên địa bàn tỉnh Hà Nam.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀĐóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên việc nghiên cứu về nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trở thành vấn đề được quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: “Giáo trình kinh tế nông nghiệp” của Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, NXB Thống Kê (2002) và “Địa lý kinh tế xã hội đại cương” của Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, NXB ĐHSP Hà Nội (2005). Hai công trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản trong kinh tế nông nghiệp như: đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp; các vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững, sự phân bố địa lý của sản xuất nông nghiệp; vai trò, các điều kiện và đặc điểm phát triển của nông nghiệp ở các nước, các vùng khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam... Đó là những cơ sở quan trọng giúp tác giả đưa ra được những phân tích, nhận định quan trọng trong quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Nam. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam “Môt số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020”, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001); GS.TS Nguyễn Kế Tuấn “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, con đường và bước đi”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (2006); GS.TS Nguyễn Đình Phan “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, (2002); TS Đặng Kim Sơn “Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lí luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001)…Những công trình nghiên cứu này đều tập trung vào phân tích những vấn đề lí luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sự cần thiết và nội dung của công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa nông thôn nói riêng và phương hướng, nội dung, giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp… Các luận văn Thạc sĩ về đề tài công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như:“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 2010” của Cao Thị Hoa, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch Sử, Trường ĐHSP Hà Nội (2011). Trong luận văn này tác giả đã tìm hiểu tình hình nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh trước năm 1996; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 – 2010 và tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong. Hay đề tài “Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa (1991 2007)” của Đào Thị Diệu, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, ĐHSP Hà Nội (2008). Trong luận văn này tác giả đã khái quát huyện Nga Sơn, nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn trước năm 1991; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (1991 2000) và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (2001 2007) từ đó nêu ra vai trò và những tồn tại trong quá
Xem thêm

130 Đọc thêm

Đề tài nghiên cứu khoa học - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử Việt Nam

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển ngành công nghiệp Điện tử (CNĐT) Việt Nam có vai trò quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế, và hội nhập kinh tế thế giới. Công nghiệp điện tử không những là ngành có tốc độ phát triển cao mà còn là ngành kinh tế đóng góp thúc đẩy các sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Liên tục trong nhiều năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của ngành CNĐT trở thành ngành là một trong 10 ngành có kim ngạch cao nhất của Việt Nam.
Từ những năm trước 1990s, CNĐT là ngành kinh tế mới hình thành, nhưng sau thời gian đó liên tục có những thành công lớn trong phát triển: tốc độ phát triển cao qua các năm, số lượng doanh nghiệp đầu tư ở tất cả các thành phần kinh tế tăng nhanh, ngành kinh tế thu hút được số lượng lớn lao động kỹ năng… Đặc biệt, ở Việt Nam hiện nay xuất hiện nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới trong ngành CNĐT.
CNĐT được nhìn nhận là một trong những ngành đã và đang có những bước tiến về năng lực cạnh tranh. Tuy vậy, ngành điện tử Việt Nam, các doanh nghiệp ngành công nghiệp điện tử Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém về vị thế cạnh tranh. Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các nhân tố tác động đến sự phát triển và năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được nhiều nghiên cứu coi là một trong các nhân tố quan trọng. Thực tế, bên cạnh những tác động tích cực, năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử còn chịu ảnh hưởng tiêu cực của FDI.
Kết quả nghiên cứu với tham vọng đề xuất giải pháp về chính sách nhằm phát huy tác động tích cực của FDI đến quá trình cải thiện năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử và hạn chế những tác động tiêu cực. Đồng thời nghiên cứu cũng có thể giúp các doanh nghiệp ngành công nghiệp điện tử có chiến lược kinh doanh sao cho tận dụng những tác động của FDI nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Xem thêm

117 Đọc thêm

ĐÔ THỊ HÓA VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

ĐÔ THỊ HÓA VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

Cùng với sự phát triển nhanh của kinh tế mức đô đô thị hóa ngày càng tăng kéo theo đó là những ảnh hưởng tới môi trường và con người.Đô thị hóa tác động trực tiếp đến môi trường đô thị. Quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, tăng quy mô, mật độ dân số, tăng trưởng kinh tế. Thiên nhiên đô thị bị biến đổi mạnh mẽ dưới áp lực cuộc sống công nghiệp. Sự biến đổi các thành phần môi trường theo hướng xấu đi trong quá trình đô thị hóa của các nước trên thế giới là một hiện tượng mang tính quy luật không thể phủ nhận, đặc biệt với các nước đang phát triển. Mức độ và tốc độ xuống cấp của môi trường tùy thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế và chính sách bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Tiểu luận Phân tích chính sách thuế bảo vệ môi trường

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trong thòi gian qua, tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệp hóa và phát triển đô thị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi trường sinh thái như sự gia tăng phát thải nưóc thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt; gia tăng số lượng chấ thải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp; giatăngphát thải các chất gây ô nhiễm không khí từ cả quá trình sản xuất công ngfiiệp và sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm; ô nhiễm ngày càng gia tăng cả trên mặt đất, trong lòn g đất, nuứ c và trong khôn g khí.Có thể thấy, hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp nêu trên là những thách thức ngfiiêm trọng đối vói sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong thời gian tói.Neu khôngkịp thòi có các giải pháp giảm dần lượngphát thải chất độc hại thì nguy cơ ô nhiễm sẽ ngiy cànggiatăng.Việc đấnh thuế bảo vệ môi trường gpp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường.Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu đùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu dùng sản phẩm (xăng, dầu, than,..). Từ đó, nâng cao ý thúc bảo vệ môi trưòngtrong đầu tự, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử đụng năng lượng tiết kiện, hiệu quả, ặảm bớt cáctác động tiêucực của sảnxiét, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường. Hơn nữa, thuế mang lại nguồn thu nhất định cho ngận sách để đầu tư cải tạo môi trường. Thay đổi nhận thức của ngưòi dân về về vai trò của môi trườnglàmục tiêulón nhất màcác chính sách hướng tới.
Xem thêm

25 Đọc thêm

CƠ SỞ SINH HỌC VÀ HỆ SINH THÁI BIỂN

CƠ SỞ SINH HỌC VÀ HỆ SINH THÁI BIỂN

1.Phát triển công nghiệp và chất lượng môi trường.
Công nghiệp vùng ven biển nên được đặt ở những vị trí có những tác động lên môi trường sống là nhỏ nhất và ko được làm ô nhiễm đến nước. Việc quy hoạch cho sự phát triển ngành công nghiệp nên bao gồm những vùng công nghiệp, cảng và phương tiện tàu thuyền. Báo cáo tác động môi trường phải kết hợp với các chỉ tiêu sử dụng bền vững.
2.Sự chuyển đổi rừng ngập mặn.
Sơ đồ phân vùng nên có nguyên tắc chỉ đạo rõ ràng chọn lựa những vùng cho bảo tồn, bảo vệ và phát triển, đánh giá tài nguyên bao gồm giá thay thế cần phải tính đến khi lập quyết định. Giáo dục cộng đồng cần thiết để năng cao hình ảnh, giá trị đất ngập nước. Môi trường sống rừng ngập mặn nên tính đến trong vc quản lý các kế hoạch sử dụng bền vũng hoặc bảo vệ.
3.Nuôi tôm và nghề nuôi hải sản khác.
Việc sử dụng môi trường sống của rừng ngập mặn cho thủy sản cần đc xem xét lại. Phân vùng sử dụng đất, chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản và tác động môi trường của thủy sản cần đc đề cập trong kế hoạch phát triển quốc gia và địa phương.
4.Bảo vệ rạn san hô.
Việc tuân theo luật đánh bắt vùng san hô là cần thiết. Chương trình giáo dục và sự tham gia của cộng đồng nhằm củng cố sức chịu đựng của địa phương và lựa chọn để các hoạt động phá hủy cần được làm từ đầu.
5.Chất lượng nước.
Việc đưa ra chất tiêu chuẩn chất lượng là cần thiết. Sự hợp thành 1 hệ thống quản lý lưu vực và sông nên đc thực hiện, nếu có thể với kiểm soát ô nhiễm ở vùng cao. Lấy mẫu và kiểm tra cần đc tiêu chuẩn hóa. Những ngành công nghiệp và các ngành vi phạm tiêu chuẩn cần phải đc kiểm soát.
6.Xói lở bờ biển và lắng đọng trầm tích.
Các biện pháp kiểm soát cần phải đc thực hiện ở những vùng có những hst san hô, cỏ biển, rừng ngập măn,cửa sông và bờ biển bị ảnh hưởng bởi xói lở và bồi lắng. Những dự án xây dựng gần biển nên đánh giá tác động môi trường. Nên chấm dứt hoặc có những điều chỉnh sự khai thác mở và nạo vét dọc bờ biển hoặc trên những rạn ngầm san hô.
7.Phát triển du lịch.
Mở rộng hướng dẫn quản lý môi trường về lưu lượng chất thải, đá ngầm san hô và các hệ sinh thái khác... những vùng chung gần du lịch.
8.Năng lực và sự sắp xếp các tổ chức.
Các cơ quan có quyển hạn quản lý bền vững biển. Và các cá nhân được đào tạo cần phân tích các vấn đề quản lý và phát triển các kế hoạch.
9.Mối quan tâm qua các phương tiện truyền thông.
Sinh thái bờ biển và sự bảo tồn cần được ủng hộ bằng các phương tiện truyền thông đại chúng và đưa vào chương trình giáo dục nâng cao sự nhận thức cộng đồng.
10.Củng cố pháp chế.
Các luật lệ hiện hành về quản lý bờ biển cần đc xem xét kỹ càng và cải thiện cho phù hợp với thực tế và có thể đc thi hành, các luật lệ không có tác dụng cần bỏ đi.
Bảo vệ sinh thái biển:
Bảo vệ biển khỏi ô nhiễm do các hđ con người như các hđ phát triển nội địa,vùng biển (du lịch, ngành công nghiệp...) và trên biển (khoan dầu, hàng hải..)
Khu bảo tồn biển là vùng địa lý được thiết kế để bảo vệ các cộng đồng chủ yếu và cung cấp nơi sinh sản cho cá với hy vọng chúng sẽ dần phân tán ra những vùng rộng hơn.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Tiểu luận môn pháp luật với quản lý xã hội tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay

TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ GÓP PHẦN LÀM RÕ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

PHẦN MỞ ĐẦU

Yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi Việt Nam tập trung xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật và chương trình hành động quốc gia để các nhu cầu xã hội, môi trường và kinh tế được tổng hoà và đáp ứng một cách cân đối với nhau. Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản toàn lần thứ IX, khẳng định:‘‘Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và ‘‘Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đưa dạng sinh học”.Điều này đặt ra yêu cầu tìm hiểu về vai trò của pháp luật trong giải quyết các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội trong thời kỳ mới.
Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ, địa hình đa dạng và tiềm năng kinh tế biển to lớn. Tuy vậy, với dân số trên 80 triệu người (đứng hàng thứ 14 trên thế giới), Việt Nam đang đứng trước những thách thức về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng. Tình hình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, nhất là quá trình đô thị hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang ảnh hưởng lớn đến tài nguyên môi trường. Cần phải có những giải pháp để phát triển bền vững, ổn định tối đa tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học đang là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay.
Theo ước tính của Tổng cục Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường” Tổng thiệt hại kinh tế của nước ta do ô nhiễm môi trường gây ra trong thời gian qua chiếm từ 1,53% GDP. Hầu hết môi trường từ đất, nước, không khí, các khu dân cư, khu công nghiệp từ thành thị đến nông thôn đã và đang bị xuống cấp, trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội.
Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và thực trạng môi trường hiện nay, xuất phát từ vai trò của pháp luật với vấn đề xã hội nói chung và vấn đề bảo vệ môi trường nói riêng cho thấy pháp luật về bảo vệ môi trường là một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường.
Trong thời gian qua, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta từng bước được xây dựng và hoàn thiện góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp tới lĩnh vực môi trường. Thực tiễn đã cho thấy vị trí, vai trò của pháp luật đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường là công cụ đảm bảo thực hiện cho các biện pháp bảo vệ môi trường khác. Tuy nhiên, hiện tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn diễn ra phổ biến với tính chất và mức độ khác nhau; môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp đến mức báo động. Việc xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường còn chậm, thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao. Thực trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ở nước ta hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có lý do từ chính bản thân hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn những bất cập, hạn chế nhất định rất cần được nghiên cứu, xây dựng cho hoàn thiện hơn. Do vậy, việc nghiên cứu để: “Tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay” sẽ tìm hiểu về pháp luật bảo vệ môi trường qua đó góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

30 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TOÀN CẦU HÓA ĐẾN MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃ HỘI TRONG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH DU LỊCH VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TOÀN CẦU HÓA ĐẾN MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃ HỘI TRONG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH DU LỊCH VIỆT NAM

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống con người. Thậm chí đối với những người có thu nhập cao, nó là một nhu cầu không thể thiếu. Về phương diện kinh tế, du lịch là một ngành công nghiệp không khói, có thể giải quyết được một lượng lớn công ăn việc làm, đem lại thu nhập cho người lao động, phân phối lại thu nhập quốc dân, ... về mặt xã hội, nó góp phần giao lưu văn hóa giữa các vùng, các địa phương, các quốc gia ...
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng du lịch. Ngoài những thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú, những giá trị nhân văn độc đáo, Việt Nam còn được khách du lịch biết đến như một đất nước anh hùng qua các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc. Đây có thể coi là một trong những điểm thu hút khách quốc tế cũng như khách nội địa của du lịch Việt Nam.
Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, môi trường kinh doanh của tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế nói chung và trong ngành kinh doanh du lịch nói riêng biến động không ngừng và ngày càng phức tạp. Đứng trước tình hình đó, hầu hết các doanh nghiệp đều tiến hành nghiên cứu những tác động của toàn cầu hóa đến môi trường cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để có thể kịp thời ứng phó, đưa ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mình tồn tại và ngày càng phát triển.
Trong đó, môi trường văn hóa – xã hội là cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch; hình thành nên thói quen cư xử của khách hàng trên thị trường. Vì vậy, nó tác động khá mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh du lịch.
Chính vì thế, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của toàn cầu hóa đến môi trường văn hóa – xã hội trong môi trường kinh doanh du lịch Việt Nam” để tìm hiểu cụ thể hơn về những thay đổi của môi trường văn hóa – xã hội dưới tác động của toàn cầu hóa, cũng như sự ảnh hưởng của yếu tố này đến môi trường kinh doanh du lịch, cụ thể là ở Việt Nam như thế nào và đưa ra một số giải pháp để cải thiện tác động của toàn cầu hóa đến môi trường văn hóa – xã hội trong kinh doanh du lịch Việt Nam.
Xem thêm

56 Đọc thêm

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ SỨC KHỎE NGHỀ NGHIỆP TẠI NHÀ MÁY CHẾ TẠO THIẾT BỊ VÀ KẾT CẤU THÉP BẮC NINH

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ SỨC KHỎE NGHỀ NGHIỆP TẠI NHÀ MÁY CHẾ TẠO THIẾT BỊ VÀ KẾT CẤU THÉP BẮC NINH

Trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước, sản xuất trong nền công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng mang tính nền tảng. Công nghiệp nặng là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, không dễ dàng tái phân bố như công nghiệp nhẹ vì nhiều tác động đến môi trường và chi phí đầu tư lớn. Công nghiệp nặng có thể được hiểu là ngành mà sản phẩm dùng để cung cấp cho các ngành công nghiệp khác, vì thế sản xuất thép mang tính đặc trưng cho ngành công nghiệp nặng.Ngày 461959, Hội đồng Chính Phủ ra quyết định thành lập Công trường khu Gang thép Thái Nguyên, từ đó đến nay ngành thép Việt Nam đã trải qua ba thời kỳ xây dựng và phát triển: Thời kỳ vừa sản xuất vừa chiến đấu (19641975); Thời kỳ khắc phục khó khăn sau chiến tranh – thể nghiệm hướng đi mới để duy trì sản xuất trong quá trình cả nước thống nhất cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội (19761985); Thời kỳ đổi mới (1986 đến nay). Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên cho ra mẻ gang đầu tiên vào năm 1963. Trong 57 năm qua, ngành thép Việt Nam có quá trình phát triển nhanh chóng và đã trở thành một ngành sản xuất có đóng góp lớn cho phát triển kinh tế đất nước, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.Sản xuất thép là ngành nghề nặng nhọc và độc hại vì cường độ lao động cao, môi trường lao động nhiều yếu tố tác động xấu tới sức khỏe người lao động, do đó công tác an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) hơn bao giờ hết cần phải được quan tâm và thực hiện nghiêm ngặt. Ngày 2142014, Bộ Công Thương ban hành Chỉ thị 10CTBTC về việc tăng cường thực hiện công tác an toàn – vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ đối với doanh nghiệp sản xuất thép.Thực hiện chương trình cơ khí trọng điểm của chính phủ Việt Nam với chủ trương nâng cao tỷ trọng nội địa hóa các thiết bị cơ khí cho công trình công nghiệp nói chung, các nhà máy nhiệt điện đốt than và sản xuất xi măng nói riêng. Ngay từ năm 2000, công ty cổ phần Lilama 691 đã đầu tư xây dựng một nhà máy thiết bị cơ khí và kết cấu thép tại khu công nghiệp Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Nhà máy có diện tích 6,5 ha; công suất 10.000 tấn sản phẩm năm. Với doanh thu bình quân năm đạt 65 tỷ đồng.Các sản phẩm cơ khí do Lilama 691 chế tạo đảm bảo chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Do vậy, ngoài việc chế tạo, cung cấp thiết bị cơ khí cho các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, xi măng, lọc dầu…trong nước, Công ty cổ phần Lilama 691 còn chế tạo bộ sấy không khí, kết cấu thép của lò hơi các nhà máy nhiệt điện đốt than theo đơn đặt hàng của Sumitomo (Nhật Bản), TKZ (Nga) xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapo, Ấn Độ.Trong đợt thực tập cuối khóa học, em đã được tiếp cận và tìm hiểu về công tác An toàn vệ sinh lao động tại Nhà máy chế tạo thiết bị và kết cấu thép Bắc Ninh. Với đặc thù công việc, trong quá trình sản xuất luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có thể xảy ra nếu không có biện pháp an toàn. Từ những cơ sở đó, em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động và sức khỏe nghề nghiệp tại Nhà máy chế tạo thiết bị và kết cấu thép Bắc Ninh”.Mục tiêu của đề tài:1.Đánh giá thực trạng công tác An toàn vệ sinh lao động, tình hình sức khỏe nghề nghiệp tại Nhà máy thiết bị và kết cấu thép Bắc Ninh.2.Đề xuất biện pháp giảm thiểu bệnh nghề nghiệp.Phương pháp nghiên cứuSử dụng phương pháp hồi cứu số liệu từ tài liệu lưu trữ của công ty.Quan sát mô tả tình hình thực tếĐối tượng nghiên cứu:Công tác an toàn vệ sinh lao động và thực trạng sức khỏe nghề nghiệp tại Nhà máy chế tạo thiết bị và kết cấu thép Bắc Ninh.Nội dung nghiên cứu:Khảo sát tại hiện trường.Hồi cứu số liệu, tài liệu, hồ sơ khám sức khỏe.Xử lý số liệu hồ sơ sức khỏe.Đánh giá thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp.Đề xuất biện pháp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp.
Xem thêm

99 Đọc thêm

báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của dự án quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 2020 có xét đến 2030

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC CỦA DỰ ÁN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC QUỐC GIA GIAI ĐOẠN 2011 2020 CÓ XÉT ĐẾN 2030

TÓM TẮT BÁO CÁO ĐMC
Đánh giá trong nghiên cứu này đã chứng minh ĐMC là một bộ phận quan trọng trong việc Quy hoạch chiến lược cho phát triển ngành điện. ĐMC tạo một cơ chế đánh giá và tìm hiểu toàn bộ
rủi ro tiềm năng liên quan đến các loại nguồn và lưới điện đối với con người và môi trường, trong phạm vi trực tiếp nơi triển khai dự án và khu vực rộng lớn lân cận. ĐMC cũng cung cấp một cơ chế xác định và đánh giá các biện pháp giảm thiểu tác động và đền bù hiệu quả nhất, bao gồm các biện pháp giảm thiểu tác động đến sức khỏe, kinh tế, xã hội, rủi ro và bồi thường đầy đủ
các tác động tiêu cực xảy ra. ĐMC cũng đã bước đầu xác định các chi phí thiệt hại liên quan đến sức khỏe con người, xã hội và môi trường, các biện pháp giảm thiểu và nội hóa các chi phí này vào trong đánh giá tính hiệu quả kinh tế của các dự án điện. Điều này đảm bảo cân bằng giữa hiệu quả kinh tế mà vẫn đảm bảo được môi trường và công bằng xã hội của quá trình thực hiện kế hoạch phát triển tổng thể ngành điện mà trước đây chưa được thực hiện.
Nhiệt điện chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện của hệ thống điện Việt Nam, nên không ngạc nhiên khi nó cũng là nguồn có nhiều tác động đến môi trường và xã hội nhất. Quan trọng hơn cả là các tác động do ô nhiễm không khí từ quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch sử dụng,
đặc biệt là than. Hậu quả của việc phát thải 4 chất ô nhiễm chính (CO2, SO2, NOx và bụi) gây 3 lọai tác động chính: axit hóa, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và biến đổi khí hậu. Theo kế
hoạch phát triển của QHĐ VII, đến năm 2030 tải lượng thải CO2 và bụi sẽ tăng gấp 10 lần, SO2
và NOx tăng gấp vài lần so với hiện nay. Với thải lượng thải của các chất ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng tiêu cực trong phạm vi rộng. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong danh sách các nước dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trên thế giới với 10 triệu người sống ở vùng đồi núi, ven biển và
đồng bằng nơi có thể bị tác động tiêu cực của sự biến đổi khí hậu. Sự axit hóa đất và nguồn nước
đang xảy ra rộng khắp và ngày càng gia tăng ở khu vực sông Mê Kông. Hàng triệu người sẽ phải hứng chịu các mức độ khác nhau và gia tăng của những hiện tượng bất thường của thời tiết và rủi ro do khí hậu. Số người tiếp xúc với các khí ô nhiễm ở mức độ khác nhau ngày càng gia tăng làm tăng tỷ lệ bệnh về hô hấp và các bệnh khác. Mức độ tác động cho thấy nghiêm trọng hơn ở các thành phố lớn và có hoạt động kinh tế phát triển nơi mà chất lượng không khí đã rất kém. Các tác
động khác đã được đánh giá và ước tính khoản chi phí thiệt hại khoảng 9,7 tỷ USD mỗi năm đến 2030 nếu không có các biện pháp nào được thực hiện để giảm thiểu mức phát thải các chất ô nhiễm không khí đặc biệt từ hoạt động của các nhà máy nhiệt điện than.
Thủy điện là nguồn phát điện lớn thứ hai trong hệ thống điện Việt Nam. Nó tiềm ẩn nhiều tác
động tiêu cực đến môi trường và xã hội như mất đất, chia cắt các hệ sinh thái nhạy cảm, di dời người dân và ảnh hưởng đến văn hóa và sinh kế của các cộng đồng ngay cả các cộng đồng không bị di dời, sự phân chia hệ thống thủy văn và hệ sinh thái thủy sinh trên các lưu vực và các ảnh hưởng khác. Đối với thủy điện, hầu hết các tác động đến môi trường và xã hội của các dự án thuộc Quy hoạch điện là: ảnh hưởng đến người dân tái định cư, diện tích vùng đất ngập nước, diện tích rừng cần phải dọn dẹp, thay đổi sinh thái sông. Các dự án thủy điện nằm trong kế hoạch phát triển của QHĐ VII sẽ làm ngập 25.133 ha đất và di dời khoảng 61.571 người (hơn 90% là
Xem thêm

262 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÒNG CHỐNG BỤI

TIỂU LUẬN PHÒNG CHỐNG BỤI

Không khí là một thành phần môi trường quan trọng, có ý nghĩa sống còn để duy trì sự sống trên Trái đất. Sự thay đổi môi trường không khí sẽ tác động đến con người, các sinh vật và phát triển kinh tế xã hội. Việt Nam là quốc gia có địa hình đa dạng, điều kiện khí hậu và thời tiết thay đổi từ Bắc vào Nam, tỷ lệ che phủ rừng hơn 40% diện tích lãnh thổ. Các yếu tố tự nhiên này cùng với quá trình phát triển kinh tế, xã hội chi phối rất lớn đến chất lượng môi trường không khí. Công nghiệp hóa, đô thị hoá phát triển với quy mô dân số đô thị ngày càng cao, tốc độ gia tăng các phương tiện cá nhân ngày càng lớn, cùng với phát triển cơ sở hạ tầng, các hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và làng nghề được đẩy mạnh nhưng thiếu bền vững, chưa có quy hoạch bảo vệ môi trường là những mối đe doạ đối với môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng. Tại Việt Nam, vấn đề ô nhiễm bụi tại các thành phố lớn vẫn tiếp tục tồn tại ở mức cao. Các khu vực đô thị là nơi tập trung các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, đông dân cư, là khu vực có môi trường chịu tác động nhiều nhất từ các hoạt động phát triển. Vấn đề ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, ô nhiễm khói mù do đốt rơm rạ ở khu vực nông thôn… cũng đang gióng lên những hồi chuông báo động. Đặc biệt, trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới đã xuất hiện một số biểu hiện nhất định.Vì vậy, việc phòng chống bụi và hạn chế các tác hại của bụi là việc làm hết sức cần thiết nhằm đem lại cuộc sống khỏe mạnh hơn cho con người và toàn xã hội.
Xem thêm

20 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TIỂU LUẬN CAO HỌC

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TIỂU LUẬN CAO HỌC

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, khi nước ta đang bước vào thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, muốn nhanh chóng thoát khỏi lạc hậu và theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới, một trong những yêu cầu bức thiết đặt ra là phải tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Việt Nam đang ở vào một thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xă hội của Đại hội Đảng lần thứ 9 của Đảng cộng sản Việt Nam đă khẳng định: “Đường lối kinh tế của Đảng ta là “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp” và chỉ rõ “phát triển kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm”. Bởi vậy chỉ có bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta mới có thể thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa VIII xác định rõ: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học công nghệ”, “khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đến Đại hội IX của Đảng điều này lại được khẳng định lại một lần nữa, “phát huy nguồn trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lư kinh tế, xă hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xă hội cao.
Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế chính trị văn hóa lớn của khu vực phía bắc nói riêng vả cả nước nói chung, trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển của mình đã không ngừng hội nhập và phát triển theo xu hướng chung của cả nước. Việc tích cực thực hiện quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đã góp phần quan trọng và to lớn đưa Thái Nguyên chuyển mình trong những năm đất nước đổi mới, trở thành trung tâm kinh tế văn hóa – chính trị quan tròng của khu vực phía bắc cũng như cả nước.Dưới đây là những nội dung, thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên – nơi tôi sinh ra và lớn lên.
Xem thêm

25 Đọc thêm

luận văn thạc sỹ Nghiên cứu đa dạng thủy sinh vật và nghề cá Đầm Vạc, tỉnh Vĩnh Phúc

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỦY SINH VẬT VÀ NGHỀ CÁ ĐẦM VẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

Mở đầu

Bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên đã và đang trở thành vấn đề sống còn của nhân loại, đặc biệt khi đa dạng sinh học ngày một thất thoát, hệ sinh thái (HST) đang bị suy thoái, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng đe doạ cuộc sống của sinh vật và loài người.
Đa dạng về nơi sống và điều kiện tự nhiên đã tạo ra sự đa dạng sinh học, trong đó đầm, hồ là những hệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì ngoài chức năng cấp nước, tưới tiêu cho nông nghiệp, thuỷ điện và phòng hộ, đầm, hồ còn là một “ngân hàng gen” đa dạng cần được bảo vệ.
ở nước ta hiện nay, rất nhiều khu vực ĐNN giữ vai trò quan trọng trong đời sống và có giá trị sinh học cao, một trong số đó là Đầm Vạc ở thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đầm Vạc được xếp là một trong 68 hệ sinh thái đất ngập nước quan trọng của Việt Nam (Bộ khoa học công nghệ và môi trường, 2000). Cho đến nay những nghiên cứu về Đầm Vạc vẫn còn rất hạn chế so với các hệ sinh thái tương tự khác. Mặt khác, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay là một trong những trung tâm kinh tế mới nổi đang trong giai đoạn công nghiệp hoá (CNH) và đô thị hoá (ĐTH). Tốc độ đô thị hoá ngày càng mạnh thì nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học Đầm Vạc khó có thể tránh khỏi.
Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài Nghiên cứu đa dạng thủy sinh vật và nghề cá Đầm Vạc, tỉnh Vĩnh Phúc nhằm góp phần quy hoạch và quản lý hệ thống các khu bảo tồn đất ngập nước thuộc châu thổ Bắc Bộ.
Luận văn được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Bước đầu cung cấp dẫn liệu về đa dạng sinh học và nghề cá tại Đầm Vạc tỉnh Vĩnh Phúc để phục vụ cho những nghiên cứu tiếp theo.
Thông qua cơ sở dữ liệu thu thập làm nổi bật được giá trị và tầm quan trọng của đầm Vạc đối với ĐDSH và môi trường trong quá trình CNH và ĐTH của tỉnh Vĩnh Phúc.
Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của con người đến HST này.
Bước đầu đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển bền vững đầm.
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ chính sau:
Tổng hợp những công trình đã nghiên cứu có liên quan đến khu vực.
Nghiên cứu những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tếxã hội tại khu vực đầm Vạc.
Nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực đầm Vạc.
Nghiên cứu nguồn lợi và nghề cá ở đầm Vạc
Chỉ ra được những áp lực tác động đến đầm, qua đó có thể dự báo xu hướng biến đổi của hệ sinh thái này.
Đưa ra được một số giải pháp định hướng nhằm phát triển bền vững đầm.
Đề tài Nghiên cứu đa dạng sinh học thủy sinh vật và nghề cá ở Đầm Vạc, tỉnh Vĩnh Phúc liên quan đến nhiều vấn đề song những hiểu biết của bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn trong luận văn này còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chia sẻ và lượng thứ của thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Xem thêm

62 Đọc thêm

Tìm hiểu hệ thiết bị phản ứng cao áp dạng màng, ứng dụng cho xử lý phenol có trong nước thải

TÌM HIỂU HỆ THIẾT BỊ PHẢN ỨNG CAO ÁP DẠNG MÀNG, ỨNG DỤNG CHO XỬ LÝ PHENOL CÓ TRONG NƯỚC THẢI

Trong xu thế đổi mới và hội nhập, những năm qua đất nước ta đã tạo ra được những xung lực mới cho quá trình phát triển, đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế xã hội quan trọng, vượt qua tác động của suy thoái toàn cầu và duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao, bình quân 7,2 %năm, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề suy thoái môi trường gay gắt và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu khôn lường. Ô nhiễm môi trường tại các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông trên cả nước và nhiều vấn đề môi trường bức xúc khác đã trở thành những vấn đề nóng và là mối quan tâm của toàn xã hội.Hiện nay, vấn đề xử lý nước thải luôn là bài toán gây đau đầu cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước, cho các nhà quản lý môi trường. Xử lý nước thải ở Việt Nam đang là một vấn đề thời sự nóng hổi mà nước ta đang phải đối mặt trong thời kỳ phát triển hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Đa số nước thải sinh hoạt, nước thải làng nghề cũng như nước thải công nghiệp của các nhà máy, công ty không được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để, cho nên lượng nước bị ô nhiễm các hóa chất, có chứa các chất gây ô nhiễm và lượng nước này được xả trực tiếp vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nước ngầm, tác động xấu đến điều kiện vệ sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng động xã hội. Chính vì vậy, mà việc nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng các quy trình công nghệ vào trong quá trình xử lý nước thải là hết sức cần thiết, nó sẽ góp phần vào công cuộc cải tiến công nghệ trong xử lý nước thải và nâng cao chất lượng nguồn nước.
Ngày nay, đã có rất nhiều công nghệ được áp dụng vào trong quá trình xử lý nước thải trên thế giới và ở Việt Nam nhưng hầu hết các loại công nghệ đó vẫn còn mang đậm những tính chất đặc thù riêng, khả năng và quy mô áp dụng còn nhiều hạn chế. Mỗi công nghệ mang tính đặc trưng của dòng nước thải có chứa những chất thải nhất định, do đó sẽ gặp hạn chế trong việc xử lý những chất thải khác, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào đặc trưng ô nhiễm, cũng như là các thông số ô nhiễm của nguồn nước thải nên việc lựa chọn một quy trình công nghệ xử lý cho dòng nước thải là rất khó khăn, tốn kém và hiệu quả cho quy trình xử lý không cao. Quy trình công nghệ xử lý bằng phương pháp sinh học, hấp phụ đang gặp phải những mặt hạn chế trong việc áp dụng cho những dòng chất thải có nồng độ chất gây ô nhiễm, độ độc cao và là quy trình tốn nhiều thời gia xử lý. Đối với những quy trình công nghệ sử dụng phương pháp Lý – Hóa thì nó có khả năng xử lý tốt đối với những dòng có độ độc và nồng độ chất gây ô nhiễm cao nhưng hiệu quả xử lý thấp, không thể xử lý triệt để chất gây ô nhiễm. Chính vì vậy, chúng ta cần phải mở rộng nghiên cứu và tìm hiểu về những phương pháp cũng như các công nghệ mới trên thế giới để cải tiến và nâng cao quy mô áp dụng, hạn chế những nhược điểm yếu kém của công nghệ. Phân bổ phạm vi ứng dụng của các quy trình công nghệ được thể
Xem thêm

108 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAMY

TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAMY

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là do sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng. Trong đó phải kể đến lực lượng sản xuất là một trong những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế xã hội được triết học Mác xem là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố cấu thành phương thức sản xuất, quyết định xu hướng, tốc độ, nhịp độ vận động của quan hệ sản xuất, thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội. Với vai trò trên, việc làm sáng tỏ nội dung của lực lượng sản xuất được xem là vấn đề quan trọng có tính cấp thiết, đặc biệt là đối với những người học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội, do vậy việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật là vấn đề tất yếu và cần thiết. Việc xây dựng đó phải gắn liền với quá trình phát triển lực lượng sản xuất trong mối quan hệ với quan hệ sản xuất, đó là “Quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Với những nhận định đúng đắn, Đảng ta đã xác định phải gắn liền quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX(2001) đã đề ra đường lối kinh tế của nước ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”.
Trước những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng, phát triển hoàn thiện lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và phát huy có hiệu quả vai trò của lực lượng sản xuất. Việc triển khai đề tài “Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” là một yêu cầu cấp thiết và mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc.
Xem thêm

20 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT: XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO HỆ SINH THÁI TẠI VIỆT NAM

HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT: XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO HỆ SINH THÁI TẠI VIỆT NAM

Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn so với dự báo, đang tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất
nước. Thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng nhiều hơn, gây ra thiệt hại về tài sản và
ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, tác động nhiều mặt lên các hệ sinh thái tự nhiên.
Hệ sinh thái có vai trò hết sức quan trọng, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguồn nước, điều hòa khí hậu,
bảo vệ bờ biển, v.v... Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái là sử dụng đa dạng sinh học và dịch
vụ hệ sinh thái như một phần tổng thể của chiến lược thích ứng giúp cho con người ứng phó hiệu quả hơn
với biến đổi khí hậu.
Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Nhà nước chủ trương chủ
động ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó trọng tâm là các biện pháp thích ứng nhằm giảm thiểu các tác
động bất lợi của biến đổi khí hậu đến con người, kinh tế xã hội và các hệ sinh thái.
Trong khuôn khổ hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên xây dựng Hướng dẫn kỹ
thuật “Xây dựng và thực hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái tại Việt
Nam”. Đây là hướng tiếp cận dựa trên nghiên cứu của nhiều tổ chức quốc tế, thực tiễn ở Việt Nam, tham vấn
nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, có thử nghiệm ở một số địa phương, có khả năng giúp Việt Nam chủ
động hơn và ứng phó có hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu.
Bộ Tài nguyên và Môi trường giới thiệu tài liệu Hướng dẫn kỹ thuật này đến các Bộ, ngành, địa phương và
bạn đọc trong cả nước.
Nguyễn Minh Quang
Xem thêm

53 Đọc thêm

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tài liệu môn học kinh tế chính trị cho các bạn học viên, sinh viên tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như ôn luyện.

22 Đọc thêm

Văn bản quy định của Pháp luật quy định các công cụ kinh tế về quản lý xử lí nước thải. Phân tích một doanh nghiệp hoặc địa phương vi phạm

VĂN BẢN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VỀ QUẢN LÝ XỬ LÍ NƯỚC THẢI. PHÂN TÍCH MỘT DOANH NGHIỆP HOẶC ĐỊA PHƯƠNG VI PHẠM

Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước tiến sau vào nền kinh tế thế giới, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước không ngừng phát triển, đương nhiên theo sau đó là những hệ luỵ về môi trường. Mặt khác, bảo về môi trường là một trong những hoạt động cần được tiến hành đồng thời với quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn các ngành công nghiệp đang phát triển rất mạnh.

Một môi trường thành phần rất cần thiết đối với con người đó là môi trường nước. Vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch cho muôn loài và nhất là cho con người là vô cùng quan trọng. Song song với việc bảo vệ và cung cấp nguồn nước sạch thì cũng cần quan tâm đến vấn đề nước thải, vốn là một thành phần có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường nước.

Mặt khác nước ta lại đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới nên việc xây dựng phát triển các khu công nghiệp là rất cần thiết. Nhưng việc các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp mọc lên một cách ồ ạt và thải ra môi trường một lượng lớn chất thải đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề và không còn khả năng tự làm sạch nữa, làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người dân. Chính vì thế mà hiện nay, việc quản lý nguồn nước thải là một vấn đề đáng quan tâm của các nhà quản lý môi trường trên thế giới và cả ở Việt Nam.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

1. Sự cần thiết của đề tài

Ngay từ khi mới dành được độc lập, Bác Hồ đã đã coi giải phóng phụ nữ là giải phóng được một phần hai sức lao động trong toàn xã hội. Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập, Người đã đề cập đến quyền bình đẳng nam, nữ, trong đó có quyền bình đẳng về lao động. Kể từ đó phụ nữ được tham gia lao động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay lực lượng lao động nữ trong giới trí thức chiếm tới 48%, trong lao động công nghiệp chiếm tới 53%, và trong lao động nông nghiệp là 60%. Lao động nữ giữ một vị trí cao hơn cả nam giới trong rất nhiều ngành nghề. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới vai trò của phụ nữ càng được phát huy trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm lao động nữ là ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ. Bởi thế họ có những đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định. Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản, chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo vệ quyền lợi và quyền bình đẳng cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng.
Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình này, lực lượng lao động nữ không những lớn mạnh cả về số lượng mà cả về chất lượng. Sự chú ý đối với họ ngày càng gia tăng từ các quan điểm nghiên cứu chính sách, nghiên cứu về giới. Lực lượng lao động Nữ đa số còn trẻ, có sức khỏe, chăm chỉ, cần cù, khéo léo… trong công việc cũng như trong đời sống gia đình, đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển của đất nước. Mặt khác, trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay, lao động Nữ đang có nhiều điều kiện được học tập, tiếp xúc với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, làm nâng cao năng suất lao động, giúp giải phóng bớt được sức lao động cho phụ nữ. Nhờ đó, lao động nữ càng có điều kiện thuận lợi hơn để chăm sóc bản thân và gia đình, góp phần vào sự bình ổn của xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của phụ nữ nói chung và nguồn lao động nữ nói riêng. Một bộ phận phụ nữ còn không được học hành cơ bản, thiếu việc làm, thiếu kỹ năng chuyên môn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức khoa học để làm việc và sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó là tình trạng gia tăng các tệ nạn xã hội như bạo hành phụ nữ, buôn bán phụ nữ, mại dâm, nghiện hút,...và sự bất bình đẳng giữa nam, nữ trong một bộ phận xã hội còn biểu hiện tương đối nặng nề. Từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả lao động của lao động nữ. Đồng thời các văn bản, chính sách đối với lao động nữ trước đây đã bộc lộ những hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình đất nước trong thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các chính sách đó chủ yếu mới chỉ nhìn nhận từ góc độ bình đẳng giới, chưa bao quát cả ở góc độ phát triển kinh tế xã hội, và có những điểm không còn phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Do vậy, Nhà nước cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho lao động Nữ, khai thác và sử dụng nguồn lao động nữ có hiệu quả, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ kinh tế, nhằm góp phần làm sáng rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng những kết quả đạt được và hạn chế, yếu kém thông qua việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ để nghiên cứu. Đồng thời mạnh dạn đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ Việt Nam nói chung và lực lượng lao động nữ nói riêng. Ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã đề cập đến bình đẳng giới, và nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ. Có một số đề tài nghiên cứu về chính sách lao động nữ nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề “Hoàn thiện chính sách đối với nguồn lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, để đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chích sách đối với lao động Nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
Phân tích, làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Đánh giá đúng thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ thông qua việc đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém,bất cập trong quá trình thực hiện chính sách
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lao động Nữ đã được triển khai từ trước tới nay và các đối tượng tham gia lao động trong phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam.
Nghiên cứu hệ thống chính sách đối với lao động nữ với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách đối với lao động nữ của Việt Nam. Phạm vi về mặt thời gian chủ yếu là từ giai đoạn sau đổi mới kinh tế, đặc biệt là từ khi có Bộ Luật lao động năm 1995 đến nay, trong đó tập trung đánh giá là từ năm 2000 đến nay. Phần kiến nghị, phương hướng giải pháp cho đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh.. để làm rõ nội dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài là: nghiên cứu và phân tích tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài, nghiên cứu thực tế, phỏng vấn, điều tra xã hội học và phân tích thống kê. Kết hợp với phương pháp tiếp cận liên ngành đối với nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới, lao động và việc làm ở nước ta hiện nay.
6, Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Góp phần khái quát hoá và làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động nữ và chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Phân tích, đánh giá được thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và làm rõ những hạn chế, bất cập của các chính sách cũng như nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất quan điểm và các giải pháp khắc phục được những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai thực hiện, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Tên đề tài :
Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau :
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời gian tới.
Xem thêm

107 Đọc thêm

chỉ thị ô nhiễm không khí

CHỈ THỊ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

Tiểu luận về chỉ thị ô nhiễm không khíMôi trường không khí ở nước ta đặc biệt là ở các khu công nghiệp và đô thị lớn vẫn tồn tại những dấu hiệu ô nhiễm đáng lo ngại. Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp chưa được trang bị các hệ thống xử lý bụi và khí độc hại và hàng giờ hàng ngày thải vào bầu khí quyển một lượng khổng lồ các chất độc hại làm ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa đất nước, khí thải công nghiệp và hoạt động giao thông cũng đang ngày một gia tăng về số lượng, đa dạng về chủng loại gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng. Ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp và hoạt động giao thông gây ra đang là một vấn đề bức xúc của môi trường Việt Nam. Hiện nay các nhà khoa học đã nghiên cứu được một số sinh vật có khả năng thích ứng hoặc rất nhạy cảm với môi trường nhất định gọi là sinh vật chỉ thị. Nhóm chúng tôi chọn đề tài “chỉ thị ô nhiễm không khí” để chỉ ra tác động của ô nhiễm không khí đến sinh vật và các loài sinh vật chỉ thị cho ô nhiễm không khí.
Xem thêm

15 Đọc thêm

luận văn thạc sĩ triết học - GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC - GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Muốn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp đủ sức vượt qua những thách thức và nguy cơ trên con đường phát triển hiện nay, chúng ta phải có những đảm bảo vững chắc về chất lượng con người. Đó là chất lượng toàn diện về sự phát triển thể lực, năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức, ý thức và nhân cách nói chung của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ.
Nước ta đang từng bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó là môi trường đang bị xuống cấp một cách trầm trọng. Nguồn tài nguyên bị khai thác một cách bừa bãi, triệt để, môi trường tự nhiên bị hủy hoại. Nguyên nhân của vấn đề này, ngoài sự tăng trưởng về kinh tế, con người chỉ quan tâm đến lợi nhuận, còn một nguyên nhân nữa đó là ý thức của con người về việc bảo vệ môi trường, về trách nhiệm của mình với môi trường. Một bộ phận không nhỏ người dân hiện nay còn thờ ơ với môi trường sống, vô cảm với sự suy thoái của môi trường, thiếu trách nhiệm với chính cuộc sống của mình và cả thế hệ tương lai.
Sinh viên là một trong những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến môi trường. Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên. Nhưng ý thức của sinh viên về trách nhiệm của mình đối với môi trường như thế nào? Sinh viên cần phải hành động ra sao để bảo vệ môi trường sống xung quanh con người khi mà hàng ngày, hàng giờ chúng ta đang chứng kiến cảnh môi trường tự nhiên - cái nôi cho sự sống của chúng ta - đang bị tàn phá nghiêm trọng.
Đây là lý do thứ nhất thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về vấn đề giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên hiện nay.
Lý do thứ hai, kinh tế thị trường đã và đang được thực hiện trên phạm vi toàn cầu đã ngày càng bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn vốn có của nó trong đối sách trực tiếp với những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội. Tại Việt Nam, việc phát triển các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề đến chóng mặt, hàng năm thải ra môi trường hàng chục ngàn tấn chất thải chưa qua xử lý. Các khu dân cư, du lịch, chợ, đường giao thông có những nơi ngập tràn trong rác thải, môi trường sống ô nhiễm trầm trọng. Bởi vậy, đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường.
Lý do thứ ba, thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên” làm đề tài luận văn là ở chỗ, bấy lâu nay, giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tuy đã được đề cập đến và công bố trong một số công trình nghiên cứu trong nước, song nhìn chung vẫn còn tản mạn và dừng ở mức độ nghiên cứu, mà chưa được ứng dụng và luận giải trong một tình hình cụ thể.
Cuối cùng, hiện trạng về ý thức và giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay càng lôi cuốn và hối thúc tác giả luận giải đúng hiện trạng, xác định rõ nguyên nhân, nhận diện các vấn đề, các tình huống mới xuất hiện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục ý thức môi trường trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Bắc Giang, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến môi trường hiện đã có rất nhiều nghiên cứu, cả từ góc độ lý luận và thực tiễn, cả từ góc độ đơn ngành đến liên ngành. Tuy vậy, từ góc độ khoa học xã hội nhân văn trong đó có triết học có thể thấy đã có những công trình cơ bản sau đây:
Một số vấn đề sinh thái nhân văn Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 1995; Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2002; Hà Huy Thành (chủ biên), Một số vấn đề xã hội, nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Hồ Sỹ Quý (chủ biên), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; Trần Lê Bảo (chủ biên), Văn hoá sinh thái nhân văn, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2001, Phạm Thị Ngọc Trầm “Môi trường sinh thái: Vấn đề và giải pháp” xuất bản năm 1997; Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Phạm Thị Ngọc Trầm, Nhân tố xã hội nhân văn trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2008; Bùi Văn Dũng với đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” năm 1999; Bảo vệ môi trường cần ý thức trong mỗi cá nhân, Báo Vietnamnet 12/8/2008; “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”, Báo Quân đội nhân dân, ngày 10/9/2007; Bài phỏng vấn TS. Trần Hồng Hà, “Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường”, Tạp chí tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007.
Gần đây trực tiếp bàn đến những vấn đề liên quan đến xây xựng ý thức môi trường có các công trình: Phạm Thị Ngọc Trầm, Đạo đức sinh thái: từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí triết học số 2/1999; Phạm Thị Ngọc Trầm, Các giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá, Tạp chí triết học số 7/2001; Phạm Thị Ngọc Trầm, Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường, Tạp chí triết học số 3/2002; tác giả Phạm Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền” năm 2002; tác giả Hồ Sỹ Quý, Về đạo đức môi trường, Tạp chí triết học số 9/2005; Nguyễn Thị Lan Hương, Trách nhiệm môi trường-một phương diện của trách nhiệm xã hội, tạp chí Triết học số 9/2009; Phạm Thị Ngọc Trầm, Xây dựng đạo đức sinh thái-một trách nhiệm xã hội của con người đối với giới tự nhiên, tạp chí Triết học số 6/2009; Nguyễn Văn Phúc, Bảo vệ môi trường nhìn từ góc độ đạo đức, Tạp chí Triết học số 4/2010.
Trong các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề sau:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo ra khối lượng sản phẩm khổng lồ như hiện nay đang tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa xã hội và tự nhiên. Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được nội dung của khái niệm “phát triển lâu bền” và vấn đề ý thức sinh thái cho con người trong quá trình phát triển. Bởi vì muốn bảo vệ được môi trường thì trước hết phải xây dựng được ý thức sinh thái đối với toàn xã hội. Giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản xuất vật chất với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho từng cá nhân trong xã hội, cần phải giáo dục ý thức môi trường, nâng cao trách nhiệm và đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh, sinh viên.
Ngoài ra các công trình trên cũng đã đề cập đến các vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục ý thức môi trường và giải pháp. Vấn đề quản lý nhà nước trong khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường. Trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc xây dựng ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên. Các yếu tố tồn tại trong quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường.
Các nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề liên quan đến bảo vệ tài nguyên môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vấn đề quản lý nhà nước trong bảo vệ môi trường. Tuy nhiên nhìn chung đây là những công trình mang tính lý luận cơ bản. Trên thực tế cần có những nghiên cứu mang tính ứng dụng nhằm góp phần nhằm giải quyết những vướng mắc, những vấn đề đã đang nảy sinh từ thực tiễn.
Xem thêm

86 Đọc thêm

Cùng chủ đề