LẠM PHÁT MỤC TIÊU NĂM 2013

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LẠM PHÁT MỤC TIÊU NĂM 2013":

BÀI THUYẾT TRÌNH LẠM PHÁT VIỆT NAM TỪ 2007 ĐẾN 2014

BÀI THUYẾT TRÌNH LẠM PHÁT VIỆT NAM TỪ 2007 ĐẾN 2014

...Tỉ lệ lạm phát 2013 là 6,6%.
CPI cả năm 2013 tăng 6,2 6,3%
Tính chung cả năm 2014, lạm phát chỉ tăng 1,84% so với năm 2013. Đây là mức rất thấp so với mục tiêu kiềm chế lạm phát 7% và cũng là mức thấp nhất trong 13 năm trở lại đây.
...
4. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Ngày 942011, NHNN đã ban hành quyết định số 750QĐNHNN điều chỉnh tỉ lệ tăng DTBB đối với ngoại tệ:

Không kì hạn và kì hạn dưới 12 tháng tăng từ 4% lên 6%năm
Kì hạn 12 tháng trở lên tăng từ 2% lên 4%năm


Ngày 16, NHNN lại tiếp tục điều chỉnh, tỉ lệ DTBB của các TCTD bằng ngoại tệ lên mức cao nhất là 7%năm kì hạn dưới 12 tháng. Ngày 19 lại tăng lên 8%năm..
Xem thêm

40 Đọc thêm

môn kinh tế vĩ mô_ quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán....

MÔN KINH TẾ VĨ MÔ_ QUẢN TRỊ KINH DOANH, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN....

Lời mở đầu
Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường, toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động của ngân hàng Việt Nam đã được đổi mới sâu sắc và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Nhờ đổi mới toàn diện chính sách tiền tệ từ hoạch định đến chỉ đạo thực hiện, bằng việc sử dụng các giải pháp tình thế mạnh dạn lúc đầu, đến sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ, lạm phát đã được đẩy lùi và kiềm chế ở mức thấp; yêu cầu ổn định tiền tệ bước đầu được thực hiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phục vụ phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên trong việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp nhiều trở ngại trước hết là sự am hiểu về một phương pháp điều hành mới còn nhiều hạn chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn thiếu những điều kiện để điều hành chính sách tiền tệ theo nghĩa gốc của mỗi công cụ. Vì vậy, việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số và chắc chắn có những bất cập là điều khó tránh khỏi.
Trong đề tài Sử dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam em xin trình bày hai phần chính:
Phần I: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
Phần II: GIẢI PHÁP
Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế xã hội, cho nên ảnh hưởng đến mỗi cá nhân trong xã hội. Mặt khác việc nghiên cứu đề tài Sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát giúp cho bản thân em nắm vững những kiến thức cơ bản của ngành quản trị kinh doanh, nhằm phục vụ tốt cho việc học tập. Do đó đề tài Sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân.
Bài viết của em vẫn còn nhiều thiếu sót. Mong thầy cô hướng dẫn thêm.


MỤC LỤC

Lời nói đầu 1
Mục lục 2
Danh mục chữ viết tắt 3
Tài liệu tham khảo 3
PHẦN I:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM 4
I.Tổng quan nền kinh tế Việt Nam 4
II. Thực trạng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam 6
1. Lãi suất 6
2. Hạn mức tín dụng 8
3. Tái chiết khấu 9
4. Dự trữ bắt buộc 9
5. Tỷ giá 10
6.Hoạt động thị trường mở 10
PHẦN II: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 12
I. Mục tiêu phát triển kinh tế đến 2020 12
II. Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát 12
1. Thực hiện điều chỉnh lãi suất linh hoạt 12
2. Kiểm soát tăng trưởng tín dụng 13
3.Tái chiết khấu. 13
4. Dự trữ bắt buộc 13
5. Điều hành chính sác tỷ giá linh hoạt 14
6. Hoạt động thị trường mở 14
KẾT LUẬN 15


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
CSTT Chính sách tiền tệ
DTBB Dự trữ bắt buộc
GDP Tổng sản phẩm quốc gia
NHNNVN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở
TCTD Tổ chức tín dụng
USD Đồng đô la Mỹ
VND Việt Nam đồng
LSCB Lãi suất cơ bản
NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở





TÀI LIỆU THAM KHẢO
www.4share.vn báo cáo chính sách kiểm soát lạm phát
www.Tailieu.vn chính sách kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
www.KILOBOOKS.com




Phần I
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM
I.Tổng quan tình hình kinh tế tại Việt Nam
Chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới giá xăng dầu và các nguyên liệu đầu vào, hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu những tháng đầu năm tăng vọt đến những giữa năm lại có xu hướng giảm. Tốc độ GDP năm 2008 tăng 6,18% so với năm 2007, lạm phát bình quân tăng 22,97%. Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng trưởng GDP quý I2009 chỉ đạt 3,14% là quý có tốc đọ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II,III và IV của năm 2009, tốc độ tăng GDP đã nâng dần lên lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9%. Tính chung cả năm 2009, GDP tăng 5,32%.Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc đọ tăng 6,18% của năm 2008, nhưng đã vượt qua mục tiêu tăng 5% của kế hoạch.
GDP quý I2010 ước tính tăng 5,38% so với cùng kỳ năm 2009. Tốc độ tăng GDP quý I tuy chưa bằng mục tiêu tăng 6,5% đề ra cho cả năm nhưng cao hơn nhiều so với quý I2009, chứng tỏ nền kinh tế nước ta đang tiếp tục phục hồi và tăng trưởng nhanh dần. CPI tháng 32010 tăng 9,46% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 4,12% so với tháng 122009. Gía tiêu dùng bình quân quý I2010 tăng 8,51% so với giá tiêu dùng bình quân quý I2009. CPI tháng 12012 đã tăng 1% so với tháng trước và tháng 22012 tăng 1,37% tức bằng mức cùng kỳ năm 2009, nhưng là mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua... Mới đây, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 92012 tăng vọt 2,2% so với tháng 8 và tăng 5,13% tính từ đầu năm đến giờ.
CPI tháng 9 tăng ở mức cao nhất kể từ tháng 62011. Trong tám tháng trước đó, CPI chỉ tăng bình quân mỗi tháng 0,2%. Nếu so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9 tăng gần 6,5%. Tất cả thông số này đều cao hơn dự báo của hầu hết chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Trong 11 nhóm hàng hóa tính trong rổ chỉ số CPI, có bốn nhóm giá cả tăng bất thường là thuốc và dịch vụ y tế tăng 17,02%; giáo dục tăng 10,5%; giao thông tăng 3,83%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,28%. Giá cả dịch vụ y tế tăng đột biến do điều chỉnh giá viện phí. Giá cả dịch vụ giáo dục tăng ào ạt do điều chỉnh học phí trong tháng tựu trường. Giá cả hàng hóa giao thông, chất đốt, vật liệu xây dựng tăng có nguyên nhân lớn điều chỉnh giá xăng dầu. Bảy nhóm hàng hóa còn lại giá cả chỉ tăng khoảng 0,07%.
Chỉ số CPI tăng bất ngờ trong bối cảnh các doanh nghiệp độc quyền xăng, dầu, điện, than liên tục đòi tăng giá. Một số nhà hoạch định chính sách và chuyên gia kinh tế bắt đầu có tâm lý phơi phới nhận định CPI cả năm 2012 hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu 7% để phát đi tín hiệu nới lỏng tiền tệ và tài khóa. Đứng trước việc số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng cao, tín hiệu nới lỏng tiền tệ xuất hiện với tần suất nhiều hơn từ các nhà hoạch định chính sách dù các thông điệp vẫn theo điệp khúc “linh hoạt”, “thận trọng” để đề phòng .
Đối với người dân và doanh nghiệp, mùi lạm phát đâu đó và không biết khi nào xuất hiện khiến họ thắt chặt chi tiêu hơn, tiết kiệm nhiều hơn và phòng thủ nhiều hơn. Tâm lý e ngại rủi ro còn được khuếch đại thêm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn khá u ám. Điều này làm dòng tiền bơm ra thị trường qua việc liên tục nới lỏng lãi suất dồn dập và đầu tư công bất chấp khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia kinh tế chỉ khiến tiền chảy lòng vòng đâu đó mà không chảy nhiều vào sản xuất và tiêu dùng. Đây có thể là yếu tố ẩn vẫn chưa được nhận diện thấu đáo về chỉ số CPI tháng 9 vừa qua và từ nay đến cuối năm. Nếu như yếu tố ẩn này chưa được phân tích một cách khoa học và khách quan thì việc nới lỏng dần chính sách tiền tệ và tài khóa có thể dẫn đến hậu quả. Đó là lạm phát cao có khả năng rất lớn xuất hiện trở lại vào năm 2013.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệ theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

HOÀN THIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THEO KHUÔN KHỔ LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM

MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Thực trạng biến động kinh tế của Việt Nam trong vòng 20 năm qua cho thấy những bằng chứng tiêu biểu về tình trạng lạm phát cao cũng như những thành tựu đạt được trong quá trình nỗ lực chống lạm phát thông qua các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam. Nhìn lại giai đoạn lạm phát phi mã với ba chữ số những năm 1976 -1986; lạm phát hơn 50% giai đoạn 1989 - 1991 với sự tàn phá nặng nề đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy trì trệ, sản xuất đình đốn, đời sống nhân dân khó khăn. Đứng trước hiện trạng trên, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp kinh tế vĩ mô, đặc biệt chỉ đạo NHNN điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả để kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Với sự cố gắng đó, lạm phát đã được đẩy lùi, năm 1995 ở mức 12,9%, sau đó giảm xuống mức thấp nhất năm 2000 (-0,5%). Tuy nhiên năm 2004 đánh dấu sự trở lại lần thứ nhất của lạm phát cao sau khi đã ổn định trong một thời gian dài trước đó, tỷ lệ lạm phát trong năm này là 9,5%, vượt xa so với chỉ tiêu kế hoạch là 4- 5%. Lạm phát tiếp tục biến động và tăng lên 12,7% năm 2007; tăng cao giai đoạn sau khủng hoảng tài chính với mức tăng lên tới 19,9% trong năm 2008 và 18,13% năm 2011. Số liệu đánh giá kinh tế 6 tháng đầu năm 2011 của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho thấy Việt Nam có mức tăng CPI tháng 6/2011 lên tới 20,8% so với cùng kỳ năm 2010, cao nhất trong 14 nước Đông Á và gấp đôi so với nước đứng thứ 2 là Lào. Mặc dù từ năm 2012 đến nay cơ bản lạm phát đã được kiềm chế ở dưới mức một con số, tuy nhiên cho dù lạm phát ở mức thấp được duy trì lâu dài nhưng không có sự cam kết nào của NHNN về ổn định giá cả thì những kỳ vọng về tăng giá cả luôn là tiềm ẩn và có thể quay trở lại gây ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bền vững kinh tế của Việt Nam. Hơn thế nữa, quá trình điều hành chính sách của NHNN thời gian qua cũng gặp nhiểu sức ép do cùng lúc phải đạt được nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, vừa ổn định lãi suất thị trường vừa ổn định tỷ giá, đảm bảo thanh toán, xử lý nợ xấu, hỗ trợ ngân sách nhà nước …Chính việc thực hiện quá nhiều mục tiêu (mặc dù thời gian qua NHNN cũng đã có thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu nhưng vẫn chịu nhiều sức ép và gặp khó khăn trong công tác xác định mục tiêu ưu tiên) và giữa các mục tiêu điều hành của chính sách tiền tệ (CSTT) cũng không được xác định một cách rõ ràng, chưa đảm bảo tính nhất quán giữa mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, các mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng đã gây khó khăn và giảm tính hiệu quả trong điều hành CSTT thời gian qua, một số quyết định của NHNN còn mang nặng tính hành chính...
Vấn đề này đặt ra cho Việt Nam tìm kiếm một cơ chế điều hành chính sách tiền tệ cho phép kiểm soát lạm phát hiệu quả hơn, đảm bảo vừa kiềm chế được lạm phát vừa tiếp tục giữ vững tăng trưởng ở mức hợp lý.
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy cơ chế điều hành chính sách tiền tệ trên cơ sở LPMT (CSLPMT) đã từng thành công ở một số nền kinh tế mới nổi với các điều kiện kinh tế vĩ mô có nhiều khó khăn. Một điều tất nhiên là sẽ không có một khuôn khổ CSTT chung nào cho tất cả các quốc gia, có thể ở quốc gia này là thành công nhưng khi áp dụng ở quốc gia khác lại là thất bại, nguyên lý về chính sách tiền tệ chỉ là duy nhất, sự thành công còn phụ thuộc ở “nghệ thuật điều hành” của NHTW. Tuy nhiên, với nhiều ưu điểm của CSLPMT thì đây có thể là một lựa chọn hợp lý cho chính sách tiền tệ Việt Nam trong thời gian tới, theo đó duy trì mức lạm phát hợp lý và ổn định trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII nhấn mạnh trong thời gian tới sẽ “chủ động điều hành thực hiện CSLPMT”. Dự thảo Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng giai đoạn 2011 – 2020 cũng đã xác định việc từng bước thiết lập các điều kiện tiến tới điều hành chính sách tiền tệ theo CSLPMT là một trong các giải pháp hàng đầu nhằm đổi mới căn bản khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của NHNN.
Để có thể đưa những định hướng như vậy trở thành hiện thực, trước tiên cần có sự lý giải đầy đủ về mặt lý thuyết khoa học để làm cơ sở cho từng bước thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Do vậy, Nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Hoàn thiện các điều kiện để áp dụng việc điều hành chính sách tiền tệ theo khuôn khổ LPMT tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án.
2. Tổng quan nghiên cứu
Về các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về CSLPMT, trong đó nhiều công trình tập trung vào các nội dung cơ bản của khuôn khổ này bao gồm: (i) khái niệm, định nghĩa, và phân loại khuôn khổ CSLPMT; (ii) những điều kiện tiên quyết để áp dụng hiệu quả khuôn khổ CSLPMT; (iii) so sánh những lợi thế/bất lợi của việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT so với các mục tiêu truyền thống (tỷ giá hối đoái, cung tiền, v.v.); (iv) tác động của việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT đến các biến số vĩ mô chính; (v) hiệu lực và hiệu quả của khuôn khổ này trong việc ứng phó với các cú sốc bất thường (ví dụ: cú sốc giá hàng hóa, cú sốc khủng hoảng); (vi) kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trong việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT và bài học rút ra; và (vii) các nội dung liên quan khác.
Lợi ích/bất lợi của khuôn khổ CSLPMT
Trong giai đoạn hơn hai thập kỷ vừa qua, nhiều nước công nghiệp và các nền kinh tế thị trường mới nổi áp dụng khuôn khổ CSLPMT, dù có những biến đổi cho phù hợp với thực tiễn của mình. Các nghiên cứu đều chỉ ra lý do chung để các nước đưa ra áp dụng khuôn khổ CSLPMT là khó khăn trong việc sử dụng các neo danh nghĩa khác (mục tiêu tỷ giá và mục tiêu tiền tệ, trong khi các mục tiêu thực như tăng trưởng và thất nghiệp còn phụ thuộc nhiều chính sách khác). Quan trọng hơn, khuôn khổ này giúp neo kỳ vọng lạm phát của người dân và thị trường thông qua một mục tiêu đơn giản có thể quan sát được, qua đó góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh tế và các chính sách điều hành khác.
Mishkin (2000, 2001) đã chỉ ra các lợi ích chính của khuôn khổ CS LPMT, như: (i) cho phép Ngân hàng Trung ương tập trung vào các vấn đề trong nước và phản ứng với các cú sốc tác động lên nền kinh tế; (ii) hiệu quả tương đối dù không cần có mối quan hệ ổn định giữa cung tiền và lạm phát; và (iii) niềm tin của công chúng và thị trường vào mục tiêu mà Ngân hàng Trung ương theo đuổi, do đó tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của CSTT.
Tuy vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra những bất lợi chính của khuôn khổ CS LPMT, bao gồm: (i) việc đánh đổi mục tiêu tăng trưởng và việc làm để đạt được lạm phát ổn định; (ii) giảm trách nhiệm giải trình do lạm phát rất khó kiểm soát và độ trễ chính sách dài; (iii) khuôn khổ CS LPMT không giúp loại bỏ được tính lấn át của chính sách tài khóa; và (iv) khuôn khổ này đòi hỏi tính linh hoạt trong tỷ giá hối đoái, thế nhưng tỷ giá hối đoái linh hoạt có thể làm tăng bất ổn tài chính (ổn định lạm phát không nhất thiết đi kèm với môi trường vĩ mô/tài chính ổn định).
Theo Debelle (1999), những chỉ trích cho rằng mục tiêu chỉ hướng về lạm phát của Ngân hàng Trung ương mà bỏ qua mục tiêu sản lượng và lao động là sai lầm. Trên thực tế, như ở Úc, khuôn khổ CS LPMT được thực hiện đủ linh hoạt để có thể đánh đổi ngắn hạn giữa sản lượng và lạm phát. Ổn định lạm phát trong trung hạn có thể vẫn được duy trì ngay cả khi cho phép những thay đổi lạm phát ngắn hạn. Chính ở đây, biến động về sản lượng sẽ thấp hơn nhiều.
Freedman và Otker-Robe (2010) thì nhận định rằng khuôn khổ CS LPMT cùng với một cơ chế tỷ giá thả nổi sẽ góp phần củng cố nhận thức của các tác nhân kinh tế về rủi ro hai chiều trên thị trường ngoại hối. Theo đó, việc sử dụng và phát triển các công cụ tự phòng ngừa sẽ trở nên phổ biến hơn, giúp giảm sai lệch cơ cấu đồng tiền trên bảng tổng kết tài sản. Thị trường ngoại hối phát triển hơn cũng sẽ giúp các nền kinh tế mới nổi điều hành CS LPMT giải quyết các vấn đề tỷ giá.
Kinh nghiệm vận dụng khuôn khổ CS LPMT trên thế giới
Cho đến nay, các Ngân hàng Trung ương trên thế giới đã thực hiện nhiều nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước trong việc đưa ra áp dụng và thực hiện CSTT theo LPMT. Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào tình hình ứng dụng ở các nước đang phát triển và mới nổi. Những nghiên cứu này đã được tổng thuật trong báo cáo của Tô Ánh Dương và cộng sự (2012), bao gồm Freedman (về trường hợp Canada), Vavra (về Cộng hòa Séc), Schmidt –Hebbel (về Chile), Csermely và Orban (về Hungary), Sokoler (về Israel), Borowski và Rozkrut (về Ba Lan), Bucsa và Codirlasu (về Romania), về Kara (về Thổ Nhĩ Kỳ), v.v.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng hết sức quan tâm đến các vấn đề của khuôn khổ CSTT theo LPMT. Một loạt các nghiên cứu của IMF, bao gồm Masson và cộng sự (1997), Schaechter và cộng sự (2000), Carare và cộng sự (2002), và Stone (2003), đã tập trung vào những khó khăn mà các nền kinh tế mới nổi phải đối mặt nếu/khi vận dụng khuôn khổ CSTT nói trên. Để hạn chế được các khó khăn này, các nghiên cứu đã chỉ ra các điều kiện tiên quyết đối với các nước áp dụng. Tuy nhiên, nhóm điều kiện này là không đồng nhất giữa các nghiên cứu khác nhau, cho thấy sự thiếu đồng thuận giữa các tác giả về khả năng ứng dụng hiệu quả ở các nền kinh tế mới nổi.
Schaechter và cộng sự (2000) đã nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng khuôn khổ CS LPMT của các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi. Từ đó, các tác giả này đưa ra nhận định là những nền tảng để thực hiện khuôn khổ đầy đủ về LPMT là: vị thế tài chính vững mạnh và ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc; hệ thống tài chính phát triển tốt; mức độ độc lập của ngân hàng trung ương và biện pháp truyền thông nhằm đạt ổn định lạm phát; hiểu biết thấu đáo về cơ chế truyền tải của CSTT; phương pháp luận dự báo lạm phát hợp lý nhằm hỗ trợ xác định mục tiêu lạm phát; và tính minh bạch của CSTT nhằm thiết lập trách nhiệm giải trình và niềm tin của thị trường. Quan trọng hơn, những yếu tố này không cần phải được thiết lập tất cả trước khi các nước bắt đầu chuyển đổi sang khuôn khổ LPMT hoàn toàn.
Mishkin (2004) đã phân tích những khía cạnh khuôn khổ CSLPMT mà các nước có nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi (điển hình là Chile và Bra-xin) có thể thực hiện, những khó khăn đã/có thể gặp phải. Những khó khăn và khác biệt chính là: (i) thể chế tài khóa yếu kém; (ii) các định chế tài chính yếu kém; (iii) thể chế tiền tệ không đạt được độ tin cậy cần thiết; (iv) tình trạng Đô la hóa; và (v) mức độ tổn thương của các nước trước sự suy giảm đột ngột của dòng vốn vào. Các nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi nên tập trung vào củng cố/phát triển những thể chế này để đảm bảo chiến lược CSLPMT được thực hiện hiệu quả, góp phần tạo các kết quả vĩ mô tốt hơn.
Schaechter và cộng sự (2000) cũng phân tích sự khác biệt giữa các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi (Bra-xin, Chile, Ba Lan, Séc, Israel, và Nam Phi) trong việc chuẩn bị các nền tảng, các điều kiện để áp dụng khuôn khổ CS LPMT (và khuôn khổ toàn phần) trên các khía cạnh như: (i) khung thể chế; (ii) các vấn đề liên quan đến hoạt động điều hành CSTT; (iii) tổ chức của Ngân hàng Trung ương; và (iv) các vấn đề liên quan đến quá trình chuyển đổi sang khuôn khổ toàn phần.
• Khung thể chế: Các nước thị trường mới nổi thường hướng tới một khuôn khổ thể chế chính thức nhằm hỗ trợ cho việc điều hành theo LPMT. Khuôn khổ pháp lý của tất cả các nước áp dụng khuôn khổ này đều xác định ổn định giá cả hay ổn định tiền tệ là mục tiêu chủ yếu của Ngân hàng Trung ương, và đảm bảo sự độc lập về công cụ của Ngân hàng Trung ương. Các nước thị trường mới nổi thường thay đổi khuôn khổ pháp lý của Ngân hàng Trung ương trước khi áp dụng LPMT, dù tất cả đều có tuyên bố rõ ràng về hạn chế tài trợ của Ngân hàng Trung ương cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ.
Xem thêm

243 Đọc thêm

Chính sách ổn định kinh tê vĩ mô qua mô hình IS LM

CHÍNH SÁCH ỔN ĐỊNH KINH TÊ VĨ MÔ QUA MÔ HÌNH IS LM

Nền kinh tế Việt Nam năm vừa qua tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng nhìn chung chưa thoát khỏi giai đoạn trì trệ. Những dấu hiệu bất ổn vĩ mô được cải thiện so với các năm trước; đặc biệt là nguy cơ lạm phát cao đã được ngăn chặn. Tốc độ tăng CPI từ hơn 18% năm 2011 đã kéo giảm còn 6,81% trong năm 2012; năm 2013 chỉ còn 6,04%. Đây là kết quả nổi bật nhất trong mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Những khó khăn đặt ra trong năm 2013 vẫn tiếp tục kéo dài trong năm 2014. Do đó thực hiện các chính sách vĩ mô đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì yêu cầu đặt ra là phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chính sách vĩ mô trong đó phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tề là mối quan tâm hang đầu của Chính phủ.Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ quan trọng trong điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào, nhất là trong thời điểm nền kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Để giải thích được tại sao phải phối hợp hai chính sách trên, kinh tế vĩ mô đã sử dụng mô hình IS LM để phân tích, lí giải. Đặc biệt với tình hình Việt Nam trong giai đoạn gần đây với rất nhiều biến động thì việc nghiên cứu mô hình IS LM và các chính sách kinh tế vĩ mô càng trở nên cần thiết. Nhận thấy tính cấp thiết trên, tôi lực chọn đề tài “Chính sách ổn định kinh tê vĩ mô qua mô hình IS LM”. Qua đề tài có thể hiểu thế nào mô hình IS LM, qua đó tìm hiểu về thực trạng phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ thời gian qua.
Xem thêm

24 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN tệ của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM để hạn CHẾ lạm PHÁT TRONG năm 2008 2012

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỂ HẠN CHẾ LẠM PHÁT TRONG NĂM 2008 2012

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2
1.1. Khái quát về chính sách tiền tệ và lạm phát 2
1.1.1.Lạm phát 2
1.1.2. Tác động của lạm phát. 2
1.2. Chính sách tiền tệ. 4
1.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ. 4
1.4. Chính sách tiền tệ với kiểm soát lạm phát. 5
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8
2.1. Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012. 8
2.1.1 Năm 2008. 8
2.1.2. Năm 2009. 13
2.1.3. Năm 2010 17
2.1.4. Năm 2011. 21
2.1.5. Năm 2012. 22
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 29
3.1.Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong năm 2013. 29
3.1.1. Tiếp tục phân bổ tín dụng cho từng TCTD. 29
3.1.2. Điều hành linh hoạt các kênh cung ứng tiền. 30
3.1.3. Hỗ trợ thanh khoản cho TCTD thông qua thị trường mở. 30
3.1.4. Điều hành lãi suất. 31
3.1.5. Điều hòa lưu thông tiền mặt. 31
3.1.6. Xây dựng và hoàn thiện đề án xử lý nợ xấu, VAMC. 31
KẾT LUẬN 33
LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói, trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền tệ (CSTT) của ngân hàng trung ương (NHTW) đóng vai trò rất quan trọng. Do nắm trong tay các công cụ đế điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà qua đó có thế tác động đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới sự cân bằng ngân sách nhà nước (NSNN), cán cân thanh toán quốc tế và sự ốn định của nền kinh tế quốc gia.
Trong nền kinh tế phát triến nhanh của nước ta hiện nay luôn tiềm ấn nguy cơ lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như CSTT được tận dụng trước tiên với hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Việc sử dụng CSTT như thế nào và hướng mục tiêu của CSTT ra sao là một trong những vấn đề rất quan trọng mà NHTW cần hướng tới.
Điều hành các giải pháp tín dụng linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của TCTD, phù hợp vói mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đặc biệt là kiềm chế lạm phát.
Để nắm được chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của NHNN và tác động và vai trò của những chính sách đó trong việc ổn định giá cả kiềm chế lạm phát, cùng với những gì đã được học ở trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh em đã chọn đề tài “ Phân tích chính sách tiền tệ của NHNN VN để giảm lạm phát trong giai đoạn 2008 2012 ” . Trong phạm vi bài tiểu luận này em xin phân tích chính sách tiền tệ của NHNN VN , đồng thời phân tích những tác động của CSTT nhằm kiểm soát lạm phát trong những năm gần đây.
Xem thêm

36 Đọc thêm

TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU..................................................................1
1. Lạm phát mục tiêu là gì..............................................................................................1
2. Đặc tính chung của cơ chế lạm phát mục tiêu ..............................................................5
3. Các ưu điểm và hạn chế của cơ chế Lạm phát mục tiêu ................................................7
3.1. Các ưu điểm ....................................................................................................7
3.2. Những hạn chế.................................................................................................8
II. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ................................................................................................................9
CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
I. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ NƯỚC NGOÀI...............................................................................................................11
II. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM .............................................................................................................16
CHƯƠNG III: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ LẠM
PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM
I. LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM..........................................................................................................19
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM ................20
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ỡ VIỆT NAM.................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1. Biểu đồ : Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) cuối kỳ giai đoạn 2001 – 2011 .......................................19
2. Bảng : Lạm phát CPI và tốc độ tăng GDP ở Việt Nam từ 1987 đến 2010 ........................................21
LỜI NÓI ĐẦU
Trước những năm 90 trên thế giới, hầu hết các nước đều chọn khối lượng tiền
(M2, M3…) hoặc tỉ giá làm mục tiêu trung gian trong điều hành chính sách tiền tệ
(CSTT) quốc gia. Tuy nhiên, vào đầu những năm 90, một số nước phát triển đã có
sự thay đổi trong việc lựa chọn các mục tiêu trung gian tương tự, mà tập trung vào
chỉ số lạm phát. Cách tiếp cận mới này tập trung vào nhiệm vụ kiểm soát lạm phát
và được gọi là lạm phát mục tiêu (Inflation Targeting). Chính sách lạm phát mục
tiêu là chính sách mà ngân hàng trung ương (NHTW) sẽ đưa ra mục tiêu lạm phát
trong một thời gian khá dài (thường là 5 năm) và được quyền chủ động sử dụng các
công cụ chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất cơ bản, tỷ giá .v.v
để đạt mục tiêu đó. Một chính sách lạm phát mục tiêu được coi là thành công nếu
rong quá trình thực hiện lạm phát sẽ vận động xoay quanh mức mục tiêu đã đề ra.
Chính sách lạm phát mục tiêu được áp dụng nhiều bởi các nước phát triển và
các nước mới nổi khi lãnh đạo các nước nhận định rằng, lạm phát hay nói cách khác
ổn định giá là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ. Tùy từng thời kỳ, mức lạm phát
mục tiêu có thể có những điều chỉnh theo năm, tuy nhiên mức điều chỉnh không quá
lớn so với định hướng dài hạn đã xác định từ thời gian trước. Từ đầu những năm 90
thế kỷ 20, một số quốc gia đã tiên phong áp dụng nó là NHTW New Zealand
(1990); NHTW Canada (1991); Vuong quốc Anh (1992); Phần Lan, Thụy Ðiển, Úc
(1993)… Ngày nay, có khoảng 30 quốc gia đang áp dụng phương pháp tiếp cận mới
này và gần một nửa trong số đó là các quốc gia thuộc nhóm thị truờng mới nổi hoặc
quốc gia có thu nhập thấp. Ngoài ra, một số NHTW của các nền kinh tế phát triển
hơn bao gồm ECB, FED, Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) và Ngân hàng Quốc gia
Thụy Sỹ đã vận dụng nhiều nội dung trong chính sách mục tiêu lạm phát, và một
số khác thì đang trong quá trình chuyển đổi sang chính sách mục tiêu lạm phát. Việt
Nam cũng đang bắt đầu nghiên cứu và định hướng chuyển đổi sang chính sách tiền
tệ này để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.
Vậy việc theo đuổi một chính sách mục tiêu lạm phát trong trung và dài hạn
hạn cùng với việc sử dụng những công cụ chính sách tiền tệ tác đông vào nền kinh
tế để kiềm chế lạm phát theo mục tiêu đã đặt ra trước này có ảnh hưởng thế nào đến
tăng trưởng kinh tế của quốc gia và cụ thể trong bối cảnh nền kinh tế của nước ta?
Bài tiểu luận của Nhóm 10 sẽ tìm hiểu về mối quan hệ của giữa lạm phát mục tiêu
và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá khả năng áp dụng chính sách lạm phát
mục tiêu ở Việt Nam.
Xem thêm

34 Đọc thêm

TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ NỢ CÔNG

TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ NỢ CÔNG

Theo định kì, nhiều quốc gia thường thông báo các con số về mục tiêu lạm phát trong kế hoạch kinh tế của chính phủ trong năm tiếp theo nhưng không nên phân loại các nước này thuộc nhóm L[r]

14 Đọc thêm

Tiểu luận môn Lý thuyết tài chính tiền tệ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi

TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ NGƯỠNG BỘI CHI

Tiểu luận môn Lý thuyết tài chính tiền tệ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi
Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế dài hạn ở Việt Nam. Quá trình hội nhập quốc tế và tự do hóa tài chính mạnh mẽ trong khi những nền tảng kinh tế vĩ mô còn lỏng lẻo khiến nhiều người hoài nghi về khả năng ổn định và kiểm soát lạm phát trong những năm tới. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận lại cơ chế điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Lạm phát, nguyên nhân gây lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam

LẠM PHÁT, NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT VÀ TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

Lạm phát, nguyên nhân gây lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2003 9 điểm
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Kinh tế học đại cương

Mỗi nước, mỗi nền kinh tế đều có những căn bệnh vĩ mô chưa khi nào giải quyết được một cách triệt để như thất nghiệp, lạm phát, năng suất lao động tăng chậm, cán cân thanh toán thâm hụt triền miên…Trong đó lạm phát là một vấn đề nổi cộm, hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của Chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động. Ở nước ta hiện nay, tình hình lạm phát cũng như các giải pháp chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.


NỘI DUNG

I. Lạm phát và nguyên nhân gây lạm phát

1. Lạm phát

Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác.

Lạm phát nói chung có thể được hiểu là việc giá cả của hàng hóa tăng lên so với mức thời điểm trước (vật giá leo thang). Cần phải hiểu việc tăng giá ở đây là tăng giá chung của hầu hết các hàng hóa dịch vụ, chứ không phải tăng giá một hàng hóa cá biệt.

2. Tỉ lệ lạm phát

Tỷ lệ lạm phát (tiếng Anh: Inflation rate) là tốc độ tăng mặt bằng giá của nền kinh tế. Nó cho thấy mức độ lạm phát của nền kinh tế. Thông thường, người ta tính tỷ lệ lạm phát dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ số giảm phát GDP. Tỷ lệ lạm phát có thể được tính cho một tháng, một quý, nửa năm hay một năm.Tỷ lệ lạm phát là thước đo tỷ lệ giảm xuống sức mua của đồng tiền. Nó là một biến số được sử dụng để tính toán lãi suất thực cũng như để điểu chỉnh mức lương.

3. Nguyên nhân gây lạm phát

Khi giá trị của hàng hóa và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi. Khi đó, với cùng một lượng tiền nhưng người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó.

Lạm phát cũng có thể là do khối lượng tiền lưu hành trong xã hội tăng lên khi Chính phủ không quản lí được khối lượng tiền lưu hành, hoặc do Chính phủ phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Trong khi đó, số lượng hàng hóa xã hôi sản xuất ra vẫn không hề tăng, dẫn đến thừa tiền. Khi thừa tiền sẽ kích thích người tiêu dùng tăng sức mua (tăng cầu) khiến giá cả tăng vọt, có khi đưa đến siêu lạm phát.

Lạm phát cũng có thể do yếu tố bên ngoài, do dòng tiền nước ngoài đổ vào trong nước nhiều dẫn đến thừa tiền, hoặc do giá cả của một số mặt hàng thiết yếu nào đó trên thế giới tăng, chẳng hạn như giá dầu thô tăng, dẫn đến các nước có nhập khẩu dầu sẽ tăng giá điện, cước phí vận chuyển hàng hóa cũng tăng. Điện và cước phí vận chuyển tăng là những chi phí đầu vào chủ yếu của tất cả các ngành hàng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng theo.

Lạm phát cũng có thể do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau, kể cả chính sách tăng lương của Chính phủ cũng có phần tác động đến lạm phát, vì tăng lương, người lao động thu nhập được nhiều tiền hơn và mạnh tay chi tiêu, mua sắm, cầu vượt cung. Ngay cả trong trường hợp các nhà sản xuất, phân phối bản lẻ đua nhau khuyến mãi, kích cầu làm cho thị trường tăng sức mua, tạo ra đòn bẩy cầu tăng vượt cung, dẫn đến thị trường tự điều tiết tăng giá góp phần gây ra lạm phát, nhất là thời điểm giáp tết.

II. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2013

Năm 2013, áp lực lạm phát trong nước được cải thiện không chỉ bởi quyết tâm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát theo tinh thần Nghị quyết 01NQCP và Nghị quyết 02NQCP ngày 712013 của Chính phủ; bởi xu hướng giảm một số hàng hóa, nhất là giá lúa, gạo; bởi người dân tiếp tục thắt chặt chi tiêu khi thu nhập eo hẹp; và bởi sự tiếp tục giảm thuế nhập khẩu, mở cửa thị trường theo cam kết trong ASEAN, WTO; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi suất ngân hàng, cũng như các nỗ lực giảm giá khác của danh nghiệp.

Tuy nhiên cũng như mọi năm, CPI những tháng cuối năm 2013 chịu nhiều áp lực truyền thống, như chu kì tăng giá cuối năm gắn với đẩy mạnh các hoạt động kinh tế để hoàn tất hợp đồng và các dịp lễ, tết và tổng kết của các đơn vị, tổ chức xã hội. Hơn nữa, năm 2013, chu kì truyền thống này đã xuất hiện sớm, khi mức tăng CPI cao trở lại ngay trong tháng 7 so với thời điểm thường chỉ từ cuối quý 3 hằng năm do chịu áp lực mưa bão, đặc biệt là do áp lực tăng giá điện (điều chỉnh từ ngày 182013), giá than cho sản xuất điện (2042013), giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước, giá dịch vụ giáo dục ( học phí), dịch vụ văn hóa, nhà ở…

CPI cuối năm còn chịu thêm áp lực từ sự mất cân đối thu chi ngân sách nhà nước các cấp, với mức bội chi trong chín tháng qua đã lên tới con số 100 nghìn tỉ đồng; trong khi trái phiếu Chính phủ đang khó bán so với đầu năm. Tăng trưởng và tiêu dùng kinh tế ở dưới tiềm năng có thể tạo sức ép cao nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa, kể cả việc tăng mua ngoại tệ để cải thiện dự trữ ngoại hối quốc gia, dẫn đến gia tăng áp lực về lạm phát tiền tệ và cầu kéo.

Ngoài ra, những căng thẳng và xung đột quân sự khu vực có thể tạo áp lực về dự trữ và giá xăng dầu thế giới, từ đó có tác động xấu đến giá xăng dầu trong nước và CPI cả nước cuối năm. CPI trong nước cũng chịu áp lực lạm phát ngoại nhập, do lạm phát khu vực và thế giới. Theo dự bão của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tháng 7 2013, lạm phát tại các nước mới nổi và đang phát triển sẽ là 6,0% trong năm 2013 (tăng 0,1% so với dự báo tháng 4) và đạt 5,5% trong năm 2014 (giảm 0,1% so với dự báo tháng 4).

Theo báo Dân trí số ra ngày 3082013 , tại báo cáo trình Chính phủ trong tháng 82013, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) cho rằng, tình hình lạm phát cho đến thời điểm này vẫn đang tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp so với các năm trước.

So với đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 8 tháng đã tăng 3,53%. Trong đó, CPI tháng 8 tăng cao hơn tháng trước ở mức 0,83% chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá (giá xăng dầu trong tháng 7 và giá dịch vụ y tế tại Hà Nội tăng mạnh trên 60%).

Vừa rồi, nhóm thuốc và dịch vụ y tế trong cả nước có mức tăng cao đột biến xấp xỉ 55% (dịch vụ y tế tăng 75,79%). Riêng trong mức tăng 3,16% của CPI Hà Nội tháng 82013, nếu loại trừ yếu tố xăng dầu và y tế, CPI sẽ chỉ tăng khoảng 0,5%.

Tính toán bóc tách thành phần mùa vụ, UBGSTCQG cho thấy, việc điều chỉnh giá hàng hóa cơ bản và dịch vụ, tỷ giá và dịch vụ công (y tế, giáo dục) là nhân tố chính chi phối lạm phát của năm nay.

Cụ thể, trong tháng 8, lạm phát so với cùng kỳ ở mức khá cao so với các tháng trước (7,5%) nhưng lạm phát loại trừ yếu tố mùa vụ (xăng dầu, điện, dịch vụ công) chỉ ở mức 3,43%.

Theo UBGSTCQG, nếu không có những thay đổi về giá các mặt hàng cơ bản thì nhiều khả năng lạm phát cả năm 2013 sẽ vào khoảng 5% (cao hơn so với mức tương ứng 4,3%) của năm 2012.

Do đó, để đạt mục tiêu CPI cả năm không vượt quá mức 7%, công tác điều hành giá cả trong nững tháng cuối năm sẽ có tính quyết định. UBGSTCQG khuyến nghị Chính phủ, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự điều phối thống nhất, có bước đi và lộ trình thích hợp.

Ngoài ra, Ủy ban cũng đánh giá, ở chỉ tiêu tăng trưởng GDP, việc thực hiện mục tiêu 5,5% trong năm 2013 là một thách thức lớn, nhiều khả năng tăng trưởng GDP cả năm 2013 chỉ ở mức 5,3%.

Như vậy, về tổng thể, có thể khẳng định CPI năm 2013 chắc chắn là sẽ không quá 9% và sẽ giảm dần sau đó, ở mức 7% năm 2014 sẽ và giảm xuống 6,5% trong năm tiếp theo.

Thực tế theo thống kê vào thời điểm cuối năm 2013, lạm phát được ghi nhận là mức tăng thấp nhất trong suốt 10 năm qua, với mức tăng chỉ số tiêu dùng 6,04% so với cuối năm 2012 (6,81%). Đó là con số được công bố tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương diễn ra ngày 23.12.2013.

Báo cáo trước Chính phủ của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Bùi Quang Vinh cho thấy, lạm phát được kiềm chế, chỉ số gia tăng thấp, góp phần đảm bảo kinh tế vĩ mô ổn định. Về tốc độ tăng trưởng GDP, qua thống kê đã có sự gia tăng qua từng quý, cụ thể, GDP cả nước ước tính tăng 5,421%, thấp hơn kế hoạch đề ra là 5,5 % nhưng cao hơn năm 2012 (5,25%).

Đánh giá tổng quan về tình hình kinh tếxã hội năm 2013, theo bộ KHĐT, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số yếu kém, hạn chế như: tái cơ cấu các tổ chức tín dụng triển khai chậm và gặp nhiều khó khăn; nợ xấu của hệ thống ngân hàng cần được xử lý, tỷ lệ nợ xấu vẫn còn ở mức cao; thị trường chứng khoán và thị trương bất động sản giảm mà chưa có nhiều cải thiện; tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chậm…Đặc biệt, tăng trưởng xuất khẩu đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với chỉ tiêu 10% được giao, nhưng chủ yếu dựa vào khu vực FDI và thấp hơn 2012 (mức 18,2 %).

III. Các giải pháp kiềm chế lạm phát

Để kiềm chế lam phát một cách hiệu quả trong thời gian tới, Nhà nước cần thực hiện những biện pháp cụ thể như sau.

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, chính sách tài khóa chặt chẽ. Điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Tăng dư nợ tín dụng phù hợp và bảo đảm chất lượng tín dụng. Điều hành hiệu quả tỷ giá, thị trường ngoại hối, thị trường vàng, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Tăng dự trữ ngoại hối. Thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, tập trung chống thất thu, thực hiện triệt để tiết kiệm, kiên quyết cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết. Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, tiếp tục thực hiện cơ chế giá thị trường đối với các mặt hàng, dịch vụ công thiết yếu như điện, than, xăng dầu, nước, dịch vụ y tế... theo lộ trình phù hợp, bảo đảm yêu cầu kiểm soát lạm phát, công khai minh bạch và có hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người nghèo.

Thứ hai, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Chính phủ cũng cần có giải pháp cụ thể, giúp doanh nghiệp chuẩn bị và nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng cởi mở và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Mặc dù các bước cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện từ nhiều năm, nhưng tốc độ còn chậm và hiệu quả còn thấp. Vì thế, các chương trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành, cổ phần hóa doanh nghiệp cần phải được Chính phủ chỉ đạo thực hiện nhanh và mạnh hơn trong năm 2014. Cùng với đó, giải quyết hiệu quả hơn vấn đề nợ xấu, hoàn thành cơ bản việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khơi thông dòng vốn tín dụng cho doanh nghiệp.

Thứ ba, thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và tiếp tục khai thác tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Trong những năm tới, cần xác định đầy đủ thách thức và lợi thế khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) để từ đó tập trung đầu tư phát triển mạnh những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh với thuế suất giảm sâu.

ThứTư, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 30CTTTg ngày 26112013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Theo đó, các cơ quan quản lý cần kiểm tra và rà soát kỹ các quy định, văn bản trước khi ban hành để tránh có lỗ hổng làm thất thu, lọt thuế. Bên cạnh đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với các doanh nghiệp thực hiện hành vi chuyển giá gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế. Thực hiện tiết kiệm chi tiêu sao cho phù hợp với tình hình khó khăn hiện nay theo hướng ưu tiên cho các chương trình giảm nghèo, nông thôn mới. Bội chi ngân sách cần được kiểm soát chặt chẽ, nâng bội chi phải đi đôi với đầu tư công hiệu quả để tránh lạm phát. Rà soát những khoản chi thường xuyên không hợp lý, gây lãng phí. Bảo đảm tính hiệu quả và nâng cao chất lượng các khoản chi trong đó có chi cho phúc lợi xã hội.

Thứnăm, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan và lộ trình hợp lý về thời điểm tăng giá, mức tăng giá.Lạm phát rất nhạy cảm, thường không bền vững, dễ bị phá vỡ và nếu bùng phát trở lại sẽ rất khó kiểm soát. Do vậy, cần tập trung kiểm soát lạm phát ngay cả khi vẫn ở mức thấp để tránh rủi ro cho những năm tới.

KẾT LUẬN

Như vậy, năm 2013 là 1 bước tiến mới trên con đường đẩy lùi lạm phát, khắc phục tình trạng kinh tế chậm phát triển. Kinh tế ổn định sẽ làm tiền đề cơ sở cho sự thành công của các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, chính trị…Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững Đảng và Nhà nước cần nghiêm túc xem xét lại mô hình kinh tế vừa qua và sớm định hướng một mô hình mới, cùng những thể chế hỗ trợ phù hợp, nếu không các cuộc cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự và Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội đi tới tương lai bằng con đường bằng phẳng. Với những giải pháp nêu trên, cùng với những kết quả bước đầu trong điều hành của Chính phủ năm qua, chúng ta có thể hy vọng CPI sẽ đạt được mục tiêu của Quốc hội đề ra trong năm 2014.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Sự phối hợp của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nửa đầu năm 2012

SỰ PHỐI HỢP CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NỬA ĐẦU NĂM 2012

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hợp thành hệ thống chính sách quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, các công cụ của hai chính sách này vừa có tính độc lập, nhưng vừa có tính tương tác, hỗ trợ nhau trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Sự phối hợp tốt, nhịp nhàng hoạt động của hai chính sách này sẽ giúp chính phủ điều hành đạt được hai mục tiêu quan trọng của kinh tế vĩ mô là tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; nhưng ngược lại, sự phối hợp không nhịp nhàng, không gắn kết sẽ làm giảm hiệu quả điều hành chính sách và thậm chí có thể làm trầm trọng, làm cho kinh tế vĩ mô bất ổn. Việc tìm ra cơ chế phối hợp giữa hai chính sách này luôn được chính phủ, các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Vì vậy nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “ Sự phối hợp của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nửa đầu năm 2012” Đề tài này đề cập tới một số vấn đề phối hợp giữa hai chính sách trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua và đưa ra một số đề xuất nhằm tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong thời gian tới.
II. Nội dung và mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ đúc kết những cơ sở lý luận về lạm phát, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, sự phối hợp của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm phát. Từ đó phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả đạt được của việc phối hợp hai chính sách thông qua các số liệu báo cáo để đưa ra những đánh giá tổng quan và chính xác về các mặt đã đạt được và những mặt còn hạn chế trong việc phối hợp hai chính sách. Trên cơ sở đó đưa ra giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả cho việc phối hợp hai chính sách tiền tệ và tài khóa một cách một cách hữu hiệu và cụ thể nhất.

III. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được tập trung nghiên cứu trong đề tài này là: Sự phối hợp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến nửa đầu năm 2012
IV. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: trong nước Việt Nam
Phạm vi thời gian: từ năm 2008 đến giữa đầu năm 2012
V. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong đề tài này là phương pháp thống kê mô tả với cách tiếp cận hệ thống bằng số liệu thông tin thực tế thu thập tại trang web của Tổng cục thống kê. Chuyên đề này sẽ khái quát và mô tả thực trạng áp dụng, phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nửa đầu năm 2012 . Để từ đó có các giải pháp đưa ra nhằm giúp cho sự vận dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa để kiểm soát lạm phát của Chính phủ ngày càng hiệu quả hơn.



PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT, CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ SỰ PHỐI HỢP CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
I. Lạm phát
1. Khái niệm
Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền.Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác.
Lạm phát cũng có thể là do khối lượng tiền lưu hành trong xã hội tăng lên khi Chính phủ không quản lý được khối lượng tiền lưu hành, hoặc là do Chính phủ phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Trong khi đó, số lượng hàng hóa xã hội sản xuất ra vẫn không tăng, dẫn đến thừa tiền. Khi thừa tiền sẽ kích thích người tiêu dùng tăng sức mua (tăng cầu) khiến giá cả tăng vọt, có khi đưa đến siêu lạ
Xem thêm

30 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Marketing Hỗn hợp Dịch vụ cho thuê mặt bằng kinh doanh tại Trung Tâm Thương Mại Mipec Tower

LUẬN VĂN THẠC SỸ: MARKETING HỖN HỢP DỊCH VỤ CHO THUÊ MẶT BẰNG KINH DOANH TẠI TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI MIPEC TOWER

Thị trường cho thuê mặt bằng bán lẻ tại Việt Nam nhận 700.000m2 mặt bằng trong năm 2013 (Báo cáo nghiên cứu thị trường năm 2012 của Coldwell Banker Richard Ellis CBRE) và con số sẽ là 1,6 triệu m2 tính đến hết năm 2015. Sự gia tăng trên tập trung đến 70% tại hai thành phố lớn của cả nước. Tại khu vực Hà Nội, năm 2013 sẽ đón chào sự hoạt động của Vincom Mega Mall Royal City (230.000m2) và Tràng Tiền Plaza (14.000m2) và một số trung tâm thương mại có quy mô nhỏ khác.Trong khi đó, kể từ năm 2010 đến nay, thị trường liên tục đi xuống với các chỉ số kinh tế cả nước không đạt kế hoạch, lạm phát vẫn còn ở mức cao: 18,31% năm 2011 và 6,81% năm 2012 (Số liệu Tổng cục Thống kê).Với bức tranh kinh tế ảm đạm và chưa có một dự báo chắc chắn cho một tương lai tốt đẹp hơn, dẫn đến nhà đầu tư chần chừ khi chọn dự án, người dân thắt chặt tiêu dùng. Thực trạng này đã được một số báo khai thác thời gian gần đây để miêu tả tình trạng không mấy hấp dẫn của các TTTM trên cả nước. Với sự tác động của các yếu tố Vĩ mô của nền kinh tế, tất cả TTTM, trong đó có Mipec Tower gặp phải nhiều khó khăn: Không thể định hướng phát triển lâu dài có độ chính xác và ổn định cao do liên quan tới những chính sách ngành chưa được cụ thể hóa. Khó khăn trong tiếp cận những chính sách ưu đãi hiện có, nguyên nhân xuất phát từ rắc rối trong thủ tục hay sự không thống nhất trong văn bản hướng dẫn thi hành. Không đạt mục tiêu tăng trưởng đề ra cả về mặt doanh thu lẫn về hình ảnh xây dựng, thể hiện sự bế tắc trong các kế hoạch Marketing cụ thể. Giảm tỷ lệ lấp đầy do các khách thuê gặp khó khăn trong kinh doanh Mất đi khách hàng quen thuộc Sức ép lớn về cạnh tranh để tồn tại…Từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy mục tiêu bức thiết nhất của TTTM Mipec Tower hiện nay là gia tăng sự hài lòng của các khách thuê hiện tại, từ đó tạo cơ sở để tồn tại và phát triển trong tương lai. Từ những điều kiện trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Marketing Hỗn hợp Dịch vụ cho thuê mặt bằng kinh doanh tại Trung Tâm Thương Mại Mipec Tower” để thực hiện Luận văn thạc sỹ Marketing.
Xem thêm

125 Đọc thêm

Kinh tế vĩ mô Lạm phát

KINH TẾ VĨ MÔ LẠM PHÁT

Tỉ lệ lạm phát (gp) được định nghĩa là tốc độ gia tăng của mức giá chung. Tỉ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kì. Quy mô và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng lạm phát.  Lịch sử lạm phát đã chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển thường diễn ra trong thời gian khá dài, và vì thế, hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn. Các nhà kinh tế chia lạm phát ở các nước này thành 3 loại:Lạm phát kinh niên: kéo dài trên 3 năm với tỉ lệ lạm phát đến 50% một năm.Lạm phát nghiêm trọng: kéo dài trên 3 năm với tỉ lệ lạm phát trên 50% một năm.Siêu lạm phát: kéo dài trên 1 năm với tỉ lệ lạm phát trên 200% một năm.
Xem thêm

21 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

- Năm 2010, trong nh ng tháng đ u năm, m c dù kinh t n ữ ầ ặ ế ướ c ta ti p t c ế ụ đ i m t v i nh ng khó khăn và thách th c m i nh ng v i s ch đ ng, linh ố ặ ớ ữ ứ ớ ư ớ ự ủ ộ ho t và th n tr ng, Chính sách ti n t đã đóng góp quan tr ng cho quá trình ạ ậ ọ ề ệ ọ ph c h i kinh t , nâng cao ch t l ụ ồ ế ấ ượ ng tăng tr ưở ng, ngăn ch n l m phát cao ặ ạ tr l i, tăng kh năng b o đ m an sinh xã h i, góp ph n n đ nh kinh t vĩ ở ạ ả ả ả ộ ầ ổ ị ế mô. Ngân hàng Nhà n ướ c Vi t Nam v i vai trò là c quan ho ch đ nh và th c ệ ớ ơ ạ ị ự thi chính sách ti n t , đã th c hi n đi u hành chính sách ti n t ch đ ng, ề ệ ự ệ ề ề ệ ủ ộ linh ho t và th n tr ng nh m ki m soát tăng tr ạ ậ ọ ằ ể ưở ng ti n t m c h p lý, ề ệ ở ứ ợ đi u ti t lãi su t và t giá phù h p v i các cân đ i vĩ mô, đ m b o kh năng ề ế ấ ỷ ợ ớ ố ả ả ả an toàn thanh toán c a h th ng và h tr thanh kho n cho n n kinh t đ m ủ ệ ố ỗ ợ ả ề ế ả b o phù h p v i các Ngh quy t c a Qu c h i và Chính ph , trong đó các ả ợ ớ ị ế ủ ố ộ ủ bi n pháp c b n nh : ệ ơ ả ư
Xem thêm

15 Đọc thêm

Tiểu luận TÀI CHÍNH QUỐC TẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU CÓ LÀM GIẢM HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ TẠI CÁC NƯỚC MỚI NỔI HAY KHÔNG?

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU CÓ LÀM GIẢM HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ TẠI CÁC NƯỚC MỚI NỔI HAY KHÔNG?

Tiểu luận TÀI CHÍNH QUỐC TẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU CÓ LÀM GIẢM HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ TẠI CÁC NƯỚC MỚI NỔI HAY KHÔNG?

Trong bài báo này, nhóm tác giả kiểm tra thực nghiệm tác động của lạm phát mục tiêu lên “hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá đến giá cả” tại các nước đang phát triển. Chúng tôi sử dụng mô hình VAR phân tích dữ liệu của 27 nước đang phát triển (gồm 15 nước có áp dụng lạm phát mục tiêu và 12 nước không áp dụng lạm phát mục tiêu).

21 Đọc thêm

LẠM PHÁT MỤC TIÊU KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

LẠM PHÁT MỤC TIÊU KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

ĐẶC TÍNH CHUNG CỦA CƠ CHẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU Lạm phát mục tiêu có thể được miêu tả như một cơ chế điều hành CSTT dựa trên nền tảng sử dụng việc dự báo lạm phát làm chỉ số mục tiêu trung g[r]

8 Đọc thêm

mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước việt nam giai đoạn 2000-2013

MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2013

mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước việt nam giai đoạn 2000-2013

24 Đọc thêm

ẢNH HƯỞNG của lạm PHÁT đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Đạt Vấn Đề
Có thể nói từ năm 2005 đến nay, Thị Trường Chứng Khoán ở Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng, là kênh huy động động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp và trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của rất nhiều người. Tuy nhiên từ giữa năm 2007, lạm phát đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của nước ta nói chung cũng như góp phần tạo nên một bức tranh đỏ ảm đạm trên Thị Trường Chứng Khoán nói riêng, vi vậy việc hiểu rỏ nhửng ảnh hưởng của lạm phát tác động thế nao toi thị trường chứng khoán từ đó co thể rút ra đươc nhưng kinh ngiệm và lựa chon đau tư thế nào để có được hiệu quả cao. Chính vì thế, nhóm đã chọn nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục.”
2. Mục Tiêu Nghiên Cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ về những ảnh hưởng của lạm phát tới Thị Trường Chứng Khoán và lạm phát đả tác động thế nào tới Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam trong thời gian qua và tìm ra các giải pháp khắc phục các ảnh hưởng ấy
3. Các Vấn Đề Nghiên Cứu
Thị Trương Chứng Khoán là gì
Lạm phát la gì và nhưng nguyên nhân gây ra lạm phát
Tác động của lạm phát tới thị trường chứng khoán như thế nào
Tình hinh của Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam trước va trong thời kỳ lạm phát
Các giai pháp khác phục

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 – CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHỨNG KHOÁN
1.1.1.Khái niệm chứng khoán
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
1.1.2.Đặc điểm và vai trò của chứng khoán
1.1.2.1. Đặc điểm:
Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn.
1.1.2.2. Vai trò của chứng khoán:
Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường
Xem thêm

41 Đọc thêm

Thực trạng nguyên nhân và giải pháp biến động của lãi suất trong năm 2011

THỰC TRẠNG NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP BIẾN ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TRONG NĂM 2011

1. Thực trạng lãi suất Việt Nam năm 2011.
Bước sang năm 2011 lãi suất tiếp tục lên ở mức rất cao, lãi suất cho vay tiêu dùng đã lên tới 2530%, còn lãi suất cho vay sản xuất cũng quanh mức 20% trong 2 tháng đầu năm.
Mặc dù lãi suất cao như vậy nhưng dưới sức ép của lạm phát cao Ngân hàng nhà nước (NHNN) vẫn buộc phải tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ. NHNN đã hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ mức 23% xuống còn dưới 20%, tăng trưởng cung tiền cũng được điều chỉnh giảm 1516%.
Để thực hiện mục tiêu trên ngày 08032011, NHNH ban hành quyết định tăng lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm lên 12%. Mức lãi suất tái chiết khấu chỉ còn kém 1% so với mức đỉnh 13% của thời kỳ ”siêu lạm phát” năm 2009.
Cùng với việc nâng lãi suất chính sách, chỉ trong vòng tháng 2 và tháng 3 vừa qua NHNN đã hút về gần 80 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở.
Xem thêm

7 Đọc thêm

TÌNH HÌNH lạm PHÁT ở VIỆT NAM trong những năm gần đây

TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
I.Khái niệm về lạm phát
Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là Milton Friedman đã khẳng định lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ tăng lên kéo dài làm cho mức giá cả chung tăng nhanh và liên tục trong thời gian dài.
Lạm phát được hiểu đơn giản là mức giá cả chung của nền kinh tế tăng lên. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay là giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác nhau thì lạm phát là sự phá giá của một loại tiền tệ so với một loại tiền tệ khác.
II. Bản chất , nguyên nhân và phân loại của lạm phát
1.Bản chất của lạm phát
Bản chất của lạm phát là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng lên của giá cả tăng lên trong một thời gian dài .
2.Nguyên nhân của lạm phát
a.Nguyên nhân của lạm phát xét theo nguồn gốc:
Nguyên nhân cơ bản và xâu xa: Nền kinh tế quốc dân bị mất cân đối, sản xuất sút kém, ngân sách quốc gia bị thâm hụt dẫn đến lạm phát.
Nguyên nhân trực tiếp: Cung cấp tiền tệ tăng trưởng quá mức cần thiết
Nguyên nhân quan trọng: Là hệ thống chính trị bi khủng hoảng do những tác động bên trong hoặc bên ngoài làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ cửa Nhà Nước bị xói mòn từ đó làm cho uy tín và sức mua của đồng tiền bị giảm sút họ không tiêu xài hoặc đánh giá thấp giấy bạc mà nhà nước phát hành.
b. Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát xét theo chủ quan và khách quan:
Nguyên nhân chủ quan: Bắt nguồn từ những chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của nhà nước
Nguyên nhân khách quan: thiên tai , động đất , sóng thần, chiến tranh, tình hình biến động của thị trường nhiên liệu, thị trường vàng ngoại tệ thế giới
3. Phân loại lạm phát:
Về mặt định lượng, lạm phát được chia làm 3 loại
Lạm phát vừa phải (normal inflation):Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi giá cả tăng chậm, thường xấp xỉ bằng mức tăng số tiền lương hoặc cao hơn chút ít,có thể dự đoán trước được. Mức độ tăng giá trong khoảng một con số.
Lạm phát phi mã (high inflation): Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả bắt đầu tăng nhanh, ở mức hai, ba con số như 50%, 100% và 200%.
Siêu lạm phát (hyper inflation): Siêu lạm phát xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã, có thể lên tới hàng nghìn lần, có sức phá hủy mạnh.
III.Các chỉ số đo lường lạm phát
1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI Consumer Price Index )
CPI phản ánh mức giá cả bình quân của nhóm hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầu tiêu dùng của các hộ gia đình. Để xác định chỉ số giá tiêu dùng, người ta chọn ra một giỏ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình trong một giai đoạn nhất định. Trên cơ sở xác định chỉ số giá của từng hàng húa và dịch vụ trong giỏ, người ta tính được chỉ số giá tiêu dùng theo công thức:
Ip = ∑ ipj dj với j = 1 đến n
Trong đó: I Ip là chỉ số giá của cả giỏ hay chỉ số giá tiêu dùng
Ipj là chỉ số giá của hàng húa hay dịch vụ thứ j
dj là tỷ trọng mức tiêu dùng hàng húa hay dịch vụ thứ j
( ∑ dj = 1 với j = 1 đến n)Hầu hết các quốc gia đều sử dụng chỉ số CPI để tính tỷ lệ lạm phát theo công thức sau:
Gp = ( IP IP 1 ) 100%
Trong đó: G Gp là tỷ lệ lạm phát (%).
Ip là chỉ số giá cả của thời kì hiện tại
Ip 1 là chỉ số giá cả thời kì trước đó.
2. Chỉ số giá cả sản xuất ( PPI – Producer Price Index )
PPI là chỉ số phản ánh giá cả đầu vào, mà thực chất là chi phí sản xuất bình quân của xã hội. Chỉ số PPI được xác định theo phương pháp gần
PHẦN KẾT LUẬN

Qua bài tiểu luận này, nhóm 4 đã nêu ra những đánh giá của mình về thực trạng về tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn năm 2013 – 2014. Lạm phát bắt đầu tăng mạnh từ những tháng cuối năm 2013, phải đến tháng 5 2014 chính phủ mới thực hiện 8 giải pháp hạn chế lạm phát. Tuy nhiên vào các tháng cuối năm 2014 tác dụng của 8 nhóm giải pháp mới dần bộc lộ rõ, chỉ số giá tiêu dùng tuy có tăng đột biến vào tháng 7 lên mức 27.04% nhưng đã giảm dần tới mức – 0,68% tháng 12. Đấy là một điều đáng mừng, tuy nhiên hiện nay vẫn có 2 khả năng đang rình rập xảy ra là có thể là thiểu phát hay lại tiếp tục nguy cơ lạm phát. Nếu năm 2009 giảm phát thì cần phải có biện pháp kích cầu đi theo ngay: như mở rộng tín dụng, kích thích tiêu dùng...
Do thời gian tìm hiểu và thu nhập tài liệu còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo hướng dẫn để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn
Xem thêm

11 Đọc thêm

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty đầu tư tài chính vàng Bắc Á

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀNG BẮC Á

Giai đoạn 2011 2013 là một giai đoạn đầy biến động với nền kinh tế Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: lạm phát cao kèm theo sự trì trệ của thị trường sẽ làm cho tình hình thêm khó khăn. Mặc dù CPI năm 2013 chỉ tăng 3,53% so với năm 2012, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn “rình rập” khi mà nguyên nhân bên trong của nền kinh tế chưa được giải quyết. Tiếp theo đó, tình hình nợ xấu chưa được cải thiện, dòng tín dụng vẫn bị tắc nghẽn, nền kinh tế không hấp thụ được vốn. Tình trạng thừa tiền, thiếu vốn còn kéo dài. Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khả năng giảm lãi suất cho vay không nhiều không đáp ứng được sự mong đợi của Doanh nghiệp. Điều này sẽ không kích thích được các doanh nghiệp mở rộng đầu tư và làm tăng nguy cơ kinh doanh thua lỗ do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu, ghi nhận những biến động chưa từng có của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Chính vì những điều kiện khó khăn trên nên việc quản lý và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả là một yêu cầu hết sức cấp thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là công ty đầu tư tài chính nói riêng trong bối cảnh hiện nay.
Công ty đầu tư tài chính – vàng Bắc Á là một trong những công ty tài chính được xem là có thế lực nhất hiện nay cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của sự thay đổi trong nền kinh tế. năm 2013, công ty đã công bố đây là một năm làm ăn không mấy thuận lợi của mình. Với các hoạt động đầu tư bị xemlà dàn trả với lĩnh vực: kinh doanh vàng, bất động sản, chứng khoán, các dịch vụ tiền tệ....làm cho công ty rơi vào tình trạng lợi nhuận kinh doanh giảm đồng thời có nguy cơ nợ xấu không ngừng gia tăng. Mặc dù công ty vẫn thu lãi nhưng hiệu quả sử dụng vốn chưa thực sự cao như mong đợi.
Xem thêm

62 Đọc thêm

Cùng chủ đề