CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU

Tìm thấy 9,845 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU":

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU CỦA CAO LỎNG ĐẠI AN

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU CỦA CAO LỎNG ĐẠI AN

thải trừ lipid (chất tạo phức với acid mật ; chất ức chế hấp thucholesterol) và nhóm làm giảm tổng hợp lipid (niacin; fibrat; statin).Ngoài ra còn có acid béo omega-3 (dầu cá) và Alirocumab vàEvolocumab (những kháng thể đơn dòng nhân bản, mới được FDA phêduyệt).1.2. Quan niệm của YHCT về rối loạn lipid máu1.2.1. Chứng đàm thấp, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinhĐàm thấp là sản phẩm bệnh lý, đàm là chất đặc, thấp khôngđặc như đàm, đàm thấp sau khi sinh sẽ gây ra những chứng bệnh mới.Nguồn gốc sinh ra đàm thấp do sự vận hoá bất thường của tân dịch, tândịch ngưng tụ biến hoá mà thành. Bình thường sự vận hoá thủy thấptrong cơ thể được điều hoà bởi 3 tạng tỳ, phế, thận. Bởi vậy đàm thấp cóliên quan đến 3 tạng này. Chứng thuộc tỳ là chứng quan trọng nhất trongvấn đề cơ chế sinh chứng đàm trệ. Đàm thấp do tỳ dương mất chức năngvận hoá, làm chuyển hoá tân dịch bị ngưng trệ lại thành thấp, thấp thắngsinh ra đàm. Có 2 loại đàm: đàm hữu hình và đàm vô hình. Đàm hữuhình là chất đàm sinh ra từ phế và thận. Hội chứng RLLPM theo YHCTlà do đàm vô hình gây bệnh. Biểu hiện trên lâm sàng rất đa dạng, đàmthấp thì người béo phì, đi lại nặng nề.1.2.2. Sự tương đồng giữa hội chứng RLLPM và chứng đàm thấpCăn cứ trên các biểu hiện lâm sàng, người ta thấy giữa hội chứngRLLPM và chứng đàm thấp có một sự tương đồng khá sâu sắc về bệnhnguyên, bệnh sinh và trị liệu, ví dụ về yếu tố bệnh nguyên như sau:+ Yếu tố thể chất: thường là tiên thiên bất túc. Tương tự như nguyênnhân di truyền của YHHĐ.+ Yếu tố ăn uống: ăn uống quá nhiều các chất cao lương, thức ăn ngọtbéo làm tổn thương tỳ vị khiến vận hoát hất điều, đàm thấp nội sinh gâybệnh. Tương tự như việc ăn quá nhiều thức ăn mỡ động vật và phủ tạngmà YHHĐ thường đưa ra khuyến cáo trong chế độ ăn.+ Yếu tố ít vận động thể lực: YHHĐ cũng đề cập đến một trong các nguy
Xem thêm

25 Đọc thêm

Nghiên cứu độc tính và hiệu quả điều trị của viên nang Lipidan trong điều trị hội chứng rối loạn lipid máu

NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA VIÊN NANG LIPIDAN TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lipid máu (RLLPM) là yếu tố quan trọng cho việc hình thành
và phát triển của bệnh vữa xơ động mạch (VXĐM), bệnh động mạch vành
(ĐMV), động mạch não... Vữa xơ động mạch gây ra nhiều biến chứng
nghiêm trọng, đe dọa tính mạng như: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến
mạch máu não... [1], [2], [3]. Bệnh vữa xơ động mạch và động mạch vành là
nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước phát triển và tỷ lệ tử vong ngày
một gia tăng [1].
Ở Mỹ, hàng năm có khoảng 1 triệu người chết về bệnh lý tim mạch,
trong đó tử vong liên quan tới VXĐM chiếm 42,6%. Ở Pháp, mỗi năm có
khoảng 10.000 ca nhồi máu cơ tim và 50.000 ca tử vong liên quan đến
VXĐM. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, năm 2010, Việt Nam có
100.000 người tử vong do bệnh ĐMV (khoảng 300 người tử vong do bệnh
này mỗi ngày) và dự báo đến năm 2020, các bệnh tim mạch, đặc biệt là
VXĐM sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gánh nặng bệnh tật trên toàn thế
giới [1], [4], [5], [6], [7], [8].
Y học hiện đại (YHHĐ) đã áp dụng nhiều biện pháp để điều trị RLLPM:
chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, rèn luyện thể lực và dùng thuốc. Có nhiều
nhóm thuốc có tác dụng điều chỉnh RLLPM như các dẫn xuất statin, nhóm
fibrat, acid nicotinic, các chất gắn acid mật,... [6], [9]. Các thuốc trên đều đạt
hiệu quả điều trị tốt nhưng có nhiều tác dụng không mong muốn như gây rối
loạn tiêu hóa, đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, suy giảm nhận thức, phản ứng
ngoài da…, đặc biệt là gây tăng enzym gan, viêm cơ, tiêu cơ vân và có một tỷ
lệ gây đột biến ảnh hưởng đến quá trình phát triển thai nhi [6], [9], [10]. Bên
cạnh đó, chi phí điều trị bằng các thuốc này còn khá cao, trong khi bệnh
thường phải điều trị dài ngày. Vì thế, một trong những xu hướng hiện nay là
hướng về các thuốc có nguồn gốc tự nhiên, vừa mang lại hiệu quả điều trị, vừa hạn chế các tác dụng không mong muốn và giảm chi phí điều trị cho
người bệnh [11].
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã và đang nghiên cứu để tìm ra các loại
thuốc có nguồn gốc từ thảo dược để phòng và điều trị RLLPM [11], [12]. Tuy
nhiên, trong xã hội hiện đại, do cuộc sống bận rộn, việc sử dụng các thuốc Y
học cổ truyền (YHCT) dưới dạng thuốc sắc truyền thống không mang lại sự
thuận tiện cho người bệnh. Việc phải tốn nhiều thời gian cũng như công sức
trong quá trình sử dụng đã khiến nhiều người bệnh dù muốn dùng thuốc
YHCT cũng không thể lựa chọn. Để việc sử dụng thuốc YHCT trở nên đơn
giản, thuận lợi hơn, nhiều nghiên cứu đã thành công trong việc chuyển từ
dạng thuốc sắc sang các dạng bào chế khác như dạng viên, chè … và đã được
người bệnh đón nhận.
Bài thuốc điều trị RLLPM gồm: Trần bì, Bạch linh, Mộc hương nam, Ngũ
gia bì, Xa tiền tử, Bán hạ chế, Hậu phác nam, Sơn tra và Sinh khương, do
lương y Nguyễn Đình Tích xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của YHCT để
điều trị cho bệnh nhân mắc chứng đàm thấp theo YHCT và rối loạn lipid máu
theo YHHĐ [13], [12]. Bài thuốc được dùng dưới dạng thuốc sắc, đã điều trị
cho người bệnh từ năm 2005 và đạt kết quả khả quan. Góp phần hiện đại hóa,
mang lại sự thuận tiện cho người sử dụng, bài thuốc được sản xuất dưới dạng
viên nang và đặt tên là “Lipidan”. Và để đánh giá đầy đủ tác dụng cũng như
độc tính của bài thuốc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu
độc tính và hiệu quả của viên nang Lipidan trong điều trị hội chứng rối
loạn lipid máu” nhằm 3 mục tiêu sau:
1. Xác định độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của viên nang Lipidan.
2. Đánh giá tác dụng của viên nang Lipidan trên mô hình gây rối loạn
lipid máu thực nghiệm.
3. Đánh giá tác dụng của viên nang Lipidan trong điều trị rối loạn lipid
máu ở người bệnh.
Xem thêm

181 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA VIÊN NANG LIPIDAN TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU (TT)

NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA VIÊN NANG LIPIDAN TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN LIPID MÁU (TT)

Đỗ Quốc Hương, Vũ Thị Ngọc Thanh, Phạm Vũ Khánh(2015): Đánh giá tác dụng của viên nang Lipidan trongđiều trị hội chứng rối loạn lipid máu. Y học thực hành, 980,57- 59.ĐẶT VẤN ĐỀ4Rối loạn lipid máu (RLLPM) là yếu tố quan trọng cho việc hìnhthành và phát triển của bệnh vữa xơ động mạch (VXĐM), bệnh độngmạch vành (ĐMV), động mạch não...VXĐM đã gây ra nhiều biếnchứng nghiêm trọng đe dọa đến tính mạng con người như: tăng huyếtáp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não...Bệnh động mạch vành vàbệnh lý vữa xơ động mạch là các nguyên nhân gây tử vong chính ở cácnước phát triển và tỷ lệ tử vong ngày một gia tăng.Ở Mỹ, hàng năm có khoảng 1 triệu người chết về bệnh lý timmạch, trong đó tử vong liên quan tới VXĐM chiếm 42,6%. Theo sốliệu của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2010, Việt Nam có 100.000 ngườitử vong do bệnh ĐMV và dự báo đến năm 2020, các bệnh tim mạch vàđặc biệt là VXĐM sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gánh nặng bệnhtật trên toàn Thế giới.Bài thuốc nghiên cứu gồm: Trần bì, Bạch linh, Mộc hương nam,Ngũ gia bì, Xa tiền tử, Bán hạ chế, Hậu phác nam, Sơn tra, Sinhkhương. Bài thuốc đã được nghiên cứu, sản xuất dưới dạng viên nangvà kí hiệu là “Lipidan”.Mục tiêu của đề tài:1. Xác định độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của viênnangLipidan.
Xem thêm

55 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA GEN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VỚI RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở TRẺ 6 11 TUỔI TẠI HÀ NỘI

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA GEN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VỚI RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở TRẺ 6 11 TUỔI TẠI HÀ NỘI

test đối với các biến phân phối không chuẩn. Các biến định tính được so sánh bằngkiểm định Chi-square test hoặc Fisher Exact test.Ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến RLLM được phân tích bằng phươngpháp hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Mô hình dự đoán tối ưu đối với RLLMđược xác định bằng phương pháp phân tích backward liên tục. Xác định xác xuất cácyếu tố nguy cơ được đưa vào các mô hình dự đoán RLLM bằng phân tích Bayesianmodel average (BMA).Đường cong ROC được vẽ với trục tung biểu diễn độ nhạy (Se), trục hoành biểudiễn 1 trừ độ đặc hiệu (1-Sp). Đồng thời xác định diện tích dưới đường cong AUC(Area Under the Curve) để đánh giá độ chính xác của một test chẩn đoán và giá trị sửdụng của mô hình dự đoán. Các giá trị có ý nghĩa thống kê khi P 2.9. Đạo đức nghiên cứuĐề tài 01C-08/05-2011-2 đã được Hội đồng Đạo đức Viện Dinh dưỡng Quốc giathông qua. Các đối tượng tham gia nghiên cứu phải có sự đồng ý của phụ huynh.7CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN3.1. Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứuKhông có sự khác nhau về giới và tuổi giữa hai nhóm nghiên cứu (P > 0,05).Trong khi đó, tỷ lệ béo phì, BMI, chu vi vòng eo, chu vi vòng mông và tỷ lệ eo/môngở nhóm bệnh cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (P TG, cholesterol và LDL-C cao hơn; nồng độ HDL-C thấp hơn so với nồng độ này ởnhóm chứng với P 3.2. Mối liên quan của bốn SNP thuộc gen APOA5, APOC3 và APOE với rối loạnlipid máu ở trẻ 6 - 11 tuổi tại Hà Nội3.2.1. Tỷ lệ kiểu gen và alen ở 4 SNP nghiên cứuTỷ lệ kiểu gen và alen của đa hình APOE rs429358 và rs7412 đều tuân theo quyluật Hardy-Weinberg ở cả nhóm bệnh và nhóm chứng với giá trị P > 0,05. Ở SNP
Xem thêm

27 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến thông thường (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ CỦA SIMVASTATIN TRÊN BỆNH VẢY NẾN THÔNG THƯỜNG (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vảy nến là một bệnh viêm mạn tính qua trung gian miễn dịch rất hay gặp
ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới [1],[2]. Bệnh gây tổn
thƣơng ở da, móng, khớp và một số cơ quan nội tạng, tác động xấu đến chất
lƣợng cuộc sống bệnh nhân và hiện vẫn chƣa có phƣơng pháp điều trị đặc
hiệu [1],[3]. Trƣớc đây, bệnh vảy nến chỉ đƣợc xem là một tình trạng viêm da
nhƣng hiện nay đƣợc biết nhƣ là một bệnh viêm có tính hệ thống, giống nhƣ
viêm khớp dạng thấp và bệnh Crohn [2],[4]. Với những bằng chứng mới ủng
hộ cơ chế viêm trong xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành, nhiều nghiên
cứu giả thuyết rằng quá trình viêm hệ thống có thể là một trong những cơ chế
liên kết các bệnh viêm mạn tính với xơ vữa động mạch và bệnh tim mạch
[5],[6]. Vì vậy gần đây có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa vảy
nến và bệnh tim mạch, theo đó vảy nến là yếu tố nguy cơ độc lập của nhồi
máu cơ tim, đột quỵ, bệnh mạch vành, mạch máu não, mạch máu ngoại biên
và tử vong do bệnh tim mạch [2],[4].
Trong khi đó, rối loạn lipid máu có vai trò rất quan trọng trong quá trình
xơ vữa động mạch và là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính yếu
[7]. Đã có nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân vảy nến cho thấy sự biến đổi nồng
độ các lipid gây xơ vữa nhƣ tăng triglyceride, cholesterol toàn phần, LDL-C
(low-density lipoprotein cholesterol), VLDL-C (very-low-density lipoprotein
cholesterol), và giảm nồng độ HDL-C (high-density lipoprotein cholesterol). Tỷ
lệ rối loạn lipid máu trên bệnh nhân vảy nến thay đổi với biên độ dao động rộng
giữa các nghiên cứu (từ 6,4-50,9%) trên khắp thế giới [4],[8],[9]. Tuy các báo
cáo về rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến xuất hiện từ lâu và có nhiều trên y
văn nhƣng cho kết quả không thống nhất, thay đổi theo từng vùng, từng thiết kế
nghiên cứu. Ngoài ra, ngƣời ta vẫn chƣa xác định đƣợc mối quan hệ nguyên
nhân - kết quả giữa vảy nến và rối loạn lipid máu. Điều đó cho thấy lĩnh vực này
vẫn còn mới mẻ và cần đƣợc làm sáng tỏ nhiều hơn nữa.
Nhóm statin, trong đó có simvastatin, là loại thuốc điều trị rối loạn lipid

máu qua cơ chế giảm tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế 3hydroxy-3-3methylglutaryl
coenzyme
A (HMG-CoA).
Các
hƣớng
dẫn
về
điều

trị
tăng
cholesterol
của
Hoa
Kỳ
tán
thành
việc
sử
dụng
statin

lựa
chọn
đầu

tiên
để
hạ
lipid
máu

kết
luận
rằng:
“điều
trị
bằng
statin
giảm
nguy

biểu

hiện
lâm
sàng
của
quá
trình

vữa
động
mạch;
thuốc
dễ
sử
dụng,
bệnh
nhân

chấp

nhận tốt, ít tƣơng tác với thuốc khác, và tính an toàn cao” [10],[11].
Ngoài tác dụng hạ lipid máu, statin còn điều hòa miễn dịch, kháng viêm, có
ích trong xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành [12],[13],[14]. Từ đặc tính
nói trên, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng loại thuốc này điều trị một số
bệnh tự miễn và cho thấy có hiệu quả cao trong bệnh đa xơ hóa, viêm khớp
dạng thấp, lupus đỏ hệ thống [15],[16], cũng nhƣ các bệnh da viêm mạn tính
[17],[18],[19]. Dựa vào cơ chế bệnh sinh của vảy nến, statin có thể có ích
trong điều trị bệnh lý này thông qua những tác động điều hòa miễn dịch,
kháng viêm. Nghĩa là, sử dụng statin điều trị vảy nến với hai tác dụng: kháng
viêm và hạ lipid máu. Trên y văn, chúng tôi thấy một số báo cáo về sử dụng
statin trong điều trị vảy nến với kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên những
nghiên cứu nói trên chỉ có số lƣợng mẫu hạn chế và không theo dõi nồng độ
lipid máu trong quá trình điều trị [20],[21],[22],[23].
Theo hiểu biết của chúng tôi, tại Việt Nam, hiện chƣa có báo cáo nghiên
cứu với số lƣợng mẫu đủ lớn để khảo sát nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vảy
nến cũng nhƣ chƣa có thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác dụng của statin trong
điều trị bệnh vảy nến.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở
bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh
vảy nến thông thường” với những mục tiêu sau:
1. Khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trên bệnh vảy
nến tại bệnh viện Da liễu Tp. Hồ Chí Minh.
2. Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và các yếu tố liên quan trên bệnh vảy nến.
3. Đánh giá hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến
thông thường.
Xem thêm

156 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG THUỐC BÁN HƯƠNG CHI THEO HƯỚNG TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG THUỐC BÁN HƯƠNG CHI THEO HƯỚNG TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU

Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu Nghiên cứu phương thuốc bán hương chi theo hướng trị rối loạn lipid máu
Xem thêm

68 Đọc thêm

Ngưng tập tiểu cầu và một số yếu tố đông máu ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn lipid máu

NGƯNG TẬP TIỂU CẦU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ĐÔNG MÁU Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP CÓ RỐI LOẠN LIPID MÁU

Tăng huyết áp (THA) và rối loạn lipid máu (RLLP) là hai yếu tố nguy cơ quan trọng của bênh lý vữa xơ đông mạch. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới đều xác nhận có môt tỷ lê cao THA kết hợp RLLP xảy ra trên cùng môt bênh nhân. Tỷ lê này theo Cobbe S.M. là 64% 32, nghiên cứu của Trương Thanh Hương tại Viên Tim mạch Việt nam là 78,2% 5.Sự kết hợp hai yếu tố nguy cơ THA và RLLP trên cùng môt bênh nhân làm cho tình trạng bênh nặng lên bởi những biến chứng tắc hẹp mạch như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não . 1, 71, 79. Kết quả của nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy có tình trạng tăng hoạt hoá tiểu cầu, tăng đông máu ở bênh nhân THA có RLLP. 23, 27, 61, 82, 109. Chính vì vậy, mặc dù ở bênh nhân THA kết hợp RLLP có tình trạng áp lực máu ở đông mạch tăng cao và kéo dài nhưng các biến chứng thường gặp ở những bênh nhân này chủ yếu liên quan đến huyết khối tắc hẹp đông mạch chứ không phải là chảy máu 38, 50, 72.Trong thực tiễn lâm sàng cũng đã khẳng định hiêu quả của các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu, các thuốc chống đông, thuốc tiêu sợi huyết trong dự phòng cũng như điều trị huyết khối ở những bênh nhân này 53, 63, 76.Ở Viêt nam, đã có môt số công trình nghiên cứu đánh giá hê thống đông cầm máu ở tăng huyết áp, rối loạn lipid máu: Nguyễn Thị Viền, nghiên cứu ngưng tập tiểu cầu ở nhân viên ngành Bưu điên tăng huyết áp được phát hiên qua kiểm tra sức khoẻ định kỳ 18; Vũ Hồng Điêp nghiên cứu ngưng tập tiểu cầu ở người cao tuổi tăng huyết áp và thiếu năng lượng trường diễn tại một số địa phương của Thái Bình 3; Đào Thị Hồng Nga nghiên cứu một số chỉ số đông máu huyết tương ở những đối tượng được phát hiên rối loạn lipid khi đến kiểm tra sức khoẻ định kỳ tại Bênh viên Quân đội 108 10. Hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam về lĩnh vực này trong thời gian qua được tiến hành trên những đối tượng tăng huyết áp chưa có tổn thương cơ quan đích, chưa có các biến chứng tắc hẹp động mạch.Chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện đông cầm máu ở bệnh nhân thuộc nhóm “nguy cơ cao”: Tăng huyết áp kết hợp rối loạn lipid máu.Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích: Nghiên cứu sự thay đổi ngưng tập tiểu cầu với ADP và một sô yếu tô đông máu ở bệnh nhân tăng huyết áp có kết hợp rôi loạn lipid máu. Tìm hiểu mối liên quan giữa những thay đổi ngưng tập tiểu cầu, đông máu với một sô yếu tô nguy cơ tim mạch và tổn thương cơ quan đích ở những bệnh nhân này.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid máu và hiệu quả điều trị Atorvastatin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ATORVASTATIN Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN LỌC MÁU CHU KỲ

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy thận mạn là tình trạng suy giảm chức năng thận một cách thường xuyên, liên tục, là hậu quả của các bệnh thận mạn tính do giảm sút từ từ số lượng nephron làm giảm mức lọc cầu thận. Tỉ lệ mắc suy thận mạn giai đoạn cuối tăng lên dần có khuynh hướng gia tăng theo thời gian, phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến suy thận mạn[4],[24].
Trên thế giới theo số liệu của Ủy ban Quốc gia về đánh giá sức khỏe ở Pháp năm 2005: tỉ lệ mới mắc suy thận mạn giai đoạn cuối là 120 trường hợp/1triệu dân/năm, ở Mỹ và Nhật là 300 trường hợp/1 triệu dân/năm và từ nguồn dữ liệu của Hội Thận Quốc Gia Hoa Kỳ (NKF) tính đến cuối năm 2007 trên toàn thế giới số lượng bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị là 2.150.000 người. Số bệnh nhân được lọc máu nhiều nhất trên thế giới là Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản [24],[21].
Tại Việt nam theo nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng và cộng sự suy thận mạn ở các vùng có tỉ lệ khác nhau, dao động từ 0,06 – 0,81% dân được khảo sát [21].
Ngày nay với sự tiến bộ của các thế hệ máy, các kỷ thuật lọc máu tiên tiến ra đời đã góp phần làm cho tuổi thọ bệnh nhân suy thận mạn được kéo dài hơn, thay đổi chất lượng cuộc sống của người bệnh. Mặc dù có những tiến bộ đáng kể trong các kỷ thuật lọc máu, nhưng trong một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mới mắc của xơ vữa mạch máu vẫn không giảm, tỉ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch ở các bệnh nhân lọc máu chu kỳ tăng cao. Thống kê năm 2011 tại Mỹ tử vong do bệnh tim mạch là nguyên nhân đứng hàng đầu ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn [3],[77].
Ở những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối và đặc biệt là bệnh nhân lọc máu, tỷ lệ lâm sàng bệnh tim động mạch vành là 40% và tỷ lệ tử vong bệnh tim mạch là cao hơn 10 đến 30 lần so với dân số chung cùng giới, tuổi và chủng tộc [89].
Nhiều tác giả nghiên cứu tình trạng rối loạn lipid máu và mối liên quan với biến chứng tim mạch ở bệnh nhân suy thận mạn nhằm góp phần giảm tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên tỉ lệ tử vong do biến chứng tim mạch ở bệnh nhân lọc máu cao gấp ba lần so với không lọc máu, những biến chứng tim mạch ở bệnh nhân suy thận mạn vẫn là nguyên nhân gây tử vong chính [24]
Rối loạn lipid máu trên bệnh nhân suy thận mạn đã được nhiều công trình nghiên cứu y học trong nước và trên thế giới nói đến. Tuy nhiên tại Việt Nam vấn đề điều trị dự phòng nguy cơ tim mạch do tăng lipid máu bằng atorvastatin chưa có tác giả nào nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu rối loạn lipid máu và hiệu quả điều trị Atorvastatin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ ”
Với 02 mục tiêu:
1. Khảo sát rối loạn một số thành phần lipid máu và xác định mối tương quan giữa các thành phần lipid máu với các yếu tố: Mức lọc cầu thận, hemoglobine máu, protid máu, protein niệu ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ.
2. Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của Atorvastatin sau 3 tháng điều trị trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ có rối loạn lipid máu.
Xem thêm

112 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU TẠI VIỆN Y HỌC HÀNG KHÔNG

ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU TẠI VIỆN Y HỌC HÀNG KHÔNG

dụng statin1ĐẶT VẤN ĐỀRối loạn lipid máu (RLLM) là một trong những nguy cơ hàng đầu gâytử vong trong các bệnh lý tim mạch. Yếu tố rối loạn chuyển hóa này đang cóxu hướng tăng nhanh trong thời gian gần đây, góp phần đáng kể vào gánhnặng bệnh tật và tử vong tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, trongđó có Việt Nam.Hiện nay, RLLM được ghi nhận khá phổ biến trong cộng đồng thôngqua các khảo sát dịch tễ học nhưng chưa được quan tâm đúng mức và điều trịđầy đủ, do vậy khả năng đạt mục tiêu điều trị còn rất thấp. Kết quả từ nghiêncứu CEPHEUS khảo sát tình hình điều trị RLLM tại 8 quốc gia châu Á chothấy gần 50% bệnh nhân không đạt mục tiêu LDL-C với phác đồ statin đơn trịtheo khuyến cáo của NCEP-ATP III. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhânđạt mục tiêu LDL-C của Việt Nam cũng chỉ đạt 40,1% [45].Điều trị RLLM đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa tiên phátbệnh tim mạch, giúp làm chậm tiến triển xơ vữa mạch máu ở các bệnh nhânđã xác định có bệnh lý động mạch vành [48]. Kiểm soát RLLM bao gồm thayđổi lối sống và sử dụng thuốc, tùy theo mức độ RLLM và nguy cơ bệnh timmạch để đưa giá trị LDL-C về giá trị mục tiêu. Việc lựa chọn thuốc hạ lipidmáu hợp lý, sử dụng thuốc với liều tối ưu, đánh giá định kỳ khả năng đạt mụctiêu điều trị, quản lý tương tác thuốc, giám sát tác dụng không mong muốn lànhững nội dung cơ bản của thực hành dược lâm sàng trong điều trị RLLMViện Y Học Hàng Không là viện nghiên cứu có giường bệnh, phục vụcác đối tượng quân đội, bảo hiểm y tế, dịch vụ y tế, trong đó, bệnh nhân chủyếu là người cao tuổi. Số bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, nội tiết và chuyển
Xem thêm

Đọc thêm

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCHMAI (TỪ THÁNG 6 2010 ĐẾN THÁNG 12 2010)

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCHMAI (TỪ THÁNG 6 2010 ĐẾN THÁNG 12 2010)

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạchmai (từ tháng 6 2010 đến tháng 12 2010)
Xem thêm

65 Đọc thêm

RỐI LOẠN LIPID MÁU

RỐI LOẠN LIPID MÁU

RỐI LOẠN LIPID MÁU

31 Đọc thêm

Khảo sát kiến thức về rối loạn lipid máu và thói quen ăn uống của người trưởng thành tại phường Tây Lộc và phường Thuận Hoà - Thành phố Huế (FULL)

KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ THÓI QUEN ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI PHƯỜNG TÂY LỘC VÀ PHƯỜNG THUẬN HOÀ - THÀNH PHỐ HUẾ (FULL)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lipid máu (RLLM) là tình trạng tăng các thành phần lipid có hại cho cơ thể như: Cholesterol toàn phần, Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-c) và triglycerid (TG), và giảm thành phần lipid có lợi cho cơ thể là lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-c) [10]. Rối loạn lipid trong máu là vấn đề sức khỏe khá phổ biến hiện nay [10]. RLLM ít có biểu hiện triệu chứng rõ rệt nhưng rất nguy hiểm bởi nhiều hậu quả khó lường trước được [17]. Đó là bệnh về tim mạch, một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các nước phát triển chiếm tỷ lệ khá cao (cụ thể do xơ vữa động mạch 32%, do tai biến mạch máu não 13% ...). Vấn đề sức khoẻ này được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển, kể cả khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ở Việt Nam với bệnh xơ vữa động mạch có các biểu hiện như suy vành, đột tử, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não ... trước đây ít gặp, hiện nay có xu hướng tăng và tăng nhanh. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho sức khỏe [17].
Bệnh lý về tim mạch có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây ra như: Đái tháo đường, tăng huyết áp, hút nhiều thuốc lá, béo phì, ít vận động, lớn tuổi. Đặc biệt do rối loạn lipid máu là một trong những vấn đề rất phổ biến nhưng chưa được truyền thông giáo dục rộng rãi trong nhân dân [9]. Rối loạn lipid máu là nguy cơ chính của nhiều bệnh nguy hiểm như: xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, tăng huyết áp ... [10].
Rối loạn lipid máu là mối lo ngại của những người có tình trạng thừa cân cân nặng. Rối loạn lipid máu không phải là nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch nói trên mà đây cũng là một trong những yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch. Như vậy vấn đề điều trị và phòng ngừa bệnh tim mạch và các bệnh lý có liên quan bao gồm việc phát hiện và điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có thể có trên một bệnh nhân bao gồm RLLM. RLLM do nguyên nhân tự phát (di truyền) và nguyên nhân thứ phát do thói quen ăn uống, vận động thứ phát sau một số bệnh lý và sử dụng thuốc… những nguyên nhân thứ phát là trọng tâm của sức khoẻ cộng đồng, chúng ta có thể điều chỉnh được như thay đổi ché độ ăn, giảm cân nếu thừa cân, tăng cường tập thể dục, dưỡng sinh, vận động đi bộ… là vấn đề vô cùng quan trọng ít tốn kém, không gây hại và hiệu quả cao. Để thực hiện được vấn đề này, kiến thức và hành vi của người dân là vô cùng quan trọng.
Chính vì vậy nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Khảo sát kiến thức về rối loạn lipid máu và thói quen ăn uống của người trưởng thành tại phường Tây Lộc và phường Thuận Hoà - Thành phố Huế".
Nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức về rối loạn lipid máu và thói quen ăn uống của người trưởng thành tại phường Tây Lộc và phường Thuận Hoà thành phố Huế.
2. Xác định mối liên quan giữa kiến thức về rối loạn lipid máu và thói quen ăn uống nhằm dự phòng, điều trị rối loạn lipid máu.
Xem thêm

49 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân tiền đái tháo đường

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

ĐẶT VẤN ĐỀTheo dự báo của các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới thì Thế kỷ 21 là Thế kỷ của các bệnh không lây nhiễm, trong đó có bệnh nội tiết và chuyển hoá đang ngày một gia tăng, đặc biệt là chuyển hóa glucid và lipid.Rối loạn lipid máu là tình trạng thay đổi một hay nhiều thành phần lipid máu dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh, chủ yếu là bệnh lý tim mạch. Rối loạn lipid máu hiện là vấn nạn của y tế Thế giới, tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, trở thành vấn đề sức khỏe đáng lo ngại. Ở Mỹ, theo NCEP ATP II năm 1993 59 thì 25% người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên có cholesterol toàn phần 6,2 mmoll. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số lipid máu ở người bình thường, người đái tháo đường. Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự 18 ở Viện Tim mạch học Việt Nam trên 236 người từ 25 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên tại cộng đồng ở Hà Nội năm 2001 cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu khá cao: 54,7% tăng cholesterol (5,2 mmoll), 41,9% tăng triglycerid (1,7 mmoll), 40,7% giảm lipoprotein tỷ trọng cao ( 1,0 mmoll) và 51,3% tăng lipoprotein tỷ trọng thấp ( 3,4 mmoll). Nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2006) 2 cho thấy: tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân lần đầu tiên phát hiện đái tháo đường tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương là 65,3%, trong đó 40% tăng cholesterol, 53% tăng triglycerid, 20% giảm lipoprotein tỷ trọng cao, 42,9% tăng lipoprotein tỷ trọng thấp, Phạm Thị Hồng Hoa (2010) 17, tỷ lê rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường là 68%.Qua nghiên cứu, các tác giả đều thống nhất: Rối loạn lipid máu, đái tháo đường thường đi kèm và tác động tương hỗ lẫn nhau, thực chất là sự liên quan giữa các thành phần lipid và dung nạp glucose. Từ năm 2002 khái niệm tiền đái tháo đường ra đời để chỉ tình trạng đường huyết cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán bệnh đái tháo đường. Theo báo cáo gần đây của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, khoảng 4% dân số nước ta mắc bệnh đái tháo đường và tỷ lệ tiền đái tháo đường chiếm khoảng 10% dân số 3.Tiền đái tháo đường có thể tiến triển thành bệnh đái tháo đường thực sự sau 5 10 năm. Tuy nhiên những người có yếu tố nguy cơ nếu thay đổi lối sống, chế độ ăn uống và tập luyện phù hợp sẽ giảm khả năng mắc bệnh đái tháo đường.Để góp phần ngăn chặn tiền đái tháo đường tiến triển thành bệnh đái tháo đường và hạn chế các biến chứng của bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
Xem thêm

97 Đọc thêm

Tương quan giữa chỉ số khối cơ thể và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân tăng huyết áp

TƯƠNG QUAN GIỮA CHỈ SỐ KHỐI CƠ THỂ VÀ RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

ĐẶT VẤN ĐỀ Khi tăng huyết áp (HA) phối hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác sẽ làm tăng nguy cơ tử vong và thương tật do bệnh tim mạch (10) . Vì thế, khi đánh giá một bệnh nhân (BN) tăng huyết áp luôn luôn phải xét đến các yếu tố nguy cơ đi kèm như: đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá (10) . Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp. Các nghiên cứu này đã công bố rằng tăng trọng lượng và béo phì có ảnh hưởng rõ rệt đối với tăng huyết áp và nồng độ cholesterol máu và có sự tương quan chặt chẽ giữa rối loạn lipid máu và chỉ số khối cơ thể (body mass index=BMI). Ở Việt Nam, tỉ lệ tăng huyết áp ngày càng cao nhưng số người béo phì chưa nhiều. Không có béo phì nhiều như vậy thì rối loạn lipid máu có nhiều hay không? Mối tương quan giữa BMI và rối loạn lipid máu trên người tăng huyết áp như
Xem thêm

8 Đọc thêm

Hiệu quả của tư vấn dinh duỡng tới rối loạn lipid máu ở người trưởng thành 55 - 65 tuổi tại phường Kim Liên - Hà Nội 2

HIỆU QUẢ CỦA TƯ VẤN DINH DUỠNG TỚI RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH 55 - 65 TUỔI TẠI PHƯỜNG KIM LIÊN - HÀ NỘI 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn chuyển hoá lipid là vấn đề sức khoẻ được quan tâm của nhiều
nước trên thế giới bởi sự tác động của nó tới sức khoẻ và liên quan đến các
bệnh mạn tính khác như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tắc
mạch và đột qụy là gánh nặng của bệnh tật và tử vong. Tổ chức Y Tế Thế giới
đã chỉ ra rằng mối quan tâm đến vấn đề sức khoẻ này không chỉ đối với các
nước công nghiệp phát triển mà còn đối với các quốc gia đang ở trong thời kỳ
chuyển tiếp về kinh tế xã hội, nơi diễn ra sự thay đổi nhanh chóng về chế độ
dinh dưỡng và lối sống.
Với nền kinh tế mở cửa, phát triển theo cơ chế thị trường, đời sống của
nhân dân ta đã được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ thiếu dinh dưỡng đã giảm xuống
đáng kể. Tuy nhiên tỷ lệ các bệnh mạn tính như thừa cân béo phì, đái tháo
đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch… xu hướng ngày càng gia tăng. Các
bệnh mạn tính liên quan chặt chẽ tới tình trạng dinh dưỡng - lipid đó là đái
tháo đường typ 2, bệnh tim mạch, tăng huyết áp. Rối loạn chuyển hoá lipid
máu là nguyên nhân dẫn tới vữa xơ động mạch. Đây cũng là nguyên nhân gây
tăng huyết áp và các biến chứng của nó, yếu tố tác động của tăng lipid máu
đối với tăng huyết áp thực chất là tác động qua lại với nhau giữa: tăng lipid
máu ⇔ vữa xơ động mạch ⇔ tăng huyết áp.
Nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng (2007) ở người trưởng thành tuổi từ
25 - 64 bị thừa cân béo phì có yếu tố HDL-C thấp chiếm tỷ lệ cao (52,5%),
yếu tố triglycerid máu cao là 30,2% và tăng huyết áp (29,5%) [34].
Ở nước ta, các nghiên cứu về tình trạng rối loạn mỡ máu thực hiện tại
cộng đồng còn rất ít. Các biện pháp can thiệp tập trung chủ yếu vào điều trị
các rối loạn lipid máu mà chưa có nghiên cứu nào về mô hình truyền thông
giáo dục sức khỏe để cải thiện tình trạng rối loạn mỡ máu. Trong khi mạng lưới y tế phường còn ít hoạt động tư vấn dinh dưỡng, tài liệu truyền thông về
rối loạn mỡ máu còn thiếu. Tư vấn dinh dưỡng giúp người dân nâng cao kiến
thức thực hành từ đó thực hiện chế độ ăn hợp lý và tăng cường luyện tập thể
dục, góp phần quan trọng để cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu. Chính vì
vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Hiệu quả của tư vấn dinh dưỡng tới
rối loạn lipid máu ở người trưởng thành 55 - 65 tuổi tại phường Kim Liên -
Hà Nội” với mục tiêu:
1. Nghiên cứu tình trạng rối loạn lipid máu ở người trưởng thành
55 - 65 tuổi tại phường Kim Liên.
2. Đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp cải thiện kiến thức thực hành,
thói quen dinh dưỡng và khẩu phần ăn hợp lý, tăng cường hoạt động thể lực
để cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu ở người trưởng thành 55 - 65 tuổi tại
phường Kim Liên.
Xem thêm

100 Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có tăng huyết áp

NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 CÓ TĂNG HUYẾT ÁP

ĐẶT VẤN ĐỀĐái tháo đường (ĐTĐ) là một nguyên nhân gây rối loạn lipid máu. Rối loạn lipid máu này có liên quan đến thiếu insulin và đề kháng insulin. Vì vậy, bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ xơ vữa động mạch, tăng HA gấp 26 lần so với người không ĐTĐ, kiểm soát rối loạn lipid máu tốt sẽ giảm tỷ lệ tử vong do tim mạch. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích sau:1. Khảo sát nồng độ một số thông số lipid máu và tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp (HA).2. Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ các thông số lipid máu với glucose máu đói ở bệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp (HA).ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐối tượng179 bệnh nhân ĐTĐ có tăng HA điều trị nội trú tại khoa Nội tiếtThần kinh Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 9 2007 đến tháng 92009.Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu Chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu chẩn của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ (American Diabetes Association: ADA) được Tổ chức Y tế Thế giới cộng nhận (1998), trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng glucose máu lúc đói: ≥ 7mmoll. Chẩn đoán tăng HA theo tiêu chuẩn của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ (2009) đối với bệnh nhân ĐTĐ: HA ≥ 13080mmHg.
Xem thêm

10 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI PHƯỜNG VĨNH NINH VÀ TRƯỜNG AN, THÀNH PHỐ HUẾ

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI PHƯỜNG VĨNH NINH VÀ TRƯỜNG AN, THÀNH PHỐ HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lipid máu là vấn đề sức khoẻ của các quốc gia trên thế giới, vì rối loạn lipid máu gây nên tình trạng xơ vữa mạch máu và bệnh mạch vành. Làm sao để dự phòng, phát hiện sớm và điều trị sớm được đặt ra trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Rối loạn lipid máu ít có biểu hiện triệu chứng rõ rệt nhưng rất nguy hiểm bởi nhiều hậu quả khó lường trước được [1], [10], [23], [27]. Đó là bệnh về tim mạch, một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các nước công nghiệp phát triển chiếm tỷ lệ khá cao (cụ thể do xơ vữa động mạch 32%, do tai biến mạch máu não 13% ...) Vấn đề được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển, kể cả khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ở Việt Nam với bệnh xơ vữa động mạch có các biểu hiện như suy vành, đột tử, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não. Song song những bệnh lý‎ đó hiện tượng thừa cân ở tuổi trẻ, rối loạn lipd máu ở phụ nữ tuổi mãn kinh và bệnh Đái tháo đường.. trước đây ít gặp, hiện nay có xu hướng tăng và tăng nhanh. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho sức khỏe [1], [6], [10], [13], [15], [26].
Rối loạn lipid máu là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh mạch vành nhưng chưa được truyền thông giáo dục sức khỏe rộng rãi [29]. Điều trị và dự phòng rôí loạn lipid máu để giãm nguy cơ bệnh mạch vành.
Do đó điều trị và dự phòng rối loạn lipid máu bằng cách thay đổi thói quen ăn uống và luyện tập thể dục, bỏ thuốc lá, giảm cân là vấn đề vô cùng quan trọng ít tốn kém, không gây hại và hiệu quả cao.
Để có những giải pháp dự phòng rối loạn lipid máu cụ thể cần nghiên cứu kiến thức và thói quen ăn uống, hoạt động thể lực của người dân.


Chính vì vậy nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng và điều trị rối loạn lipid máu ở người trưởng thành tại phường Vĩnh Ninh và Trường An, thành phố Huế"
Nhằm mục tiêu:
1. Tìm hiểu về kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng và điều trị rối loạn lipid máu ở người từ 20 tuổi trở lên tại phường Trường An và Vĩnh Ninh thành phố Huế.
2. Xác định mối liên hệ giữa kiến thức rối loạn lipd máu với hành vi xét nghiệm dự phòng và điều trị
Xem thêm

55 Đọc thêm

Nghiên cứu tăng huyết áp ở bệnh nhân tai biến mạch máu não có rối loạn lipid máu và không rối loạn lipid máu

NGHIÊN CỨU TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CÓ RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ KHÔNG RỐI LOẠN LIPID MÁU

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là trình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi, do tắc hoặc vở mạch máu não. Ngày nay, TBMMN là vấn đề thời sự cấp thiết do ngày càng gia tăng, tỷ lệ tử vong cao, để lại nhiều di chứng, là gánh nặng cho gia đình và xã hội, việc điều trị còn nhiều hạn chÕ ngay cả ở các nước phát triển 6, 1. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế giối, Tại Mỹ, TBMMN là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 chỉ sau bệnh tim mạch và ung thư. Tại Việt Nam, theo một số thống kê từng thời kỳ 35 năm ở các tỉnh thành cho thấy BN nội trú TBMMN tăng từ 1,7 đến 2,5 lần. Tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai (2007), sè BN TBMMN chiếm 27,3% tổng số BN của khoa.14.Dự đoán đến năm 2020, tai biến mạch máu não có thể là bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới.6. Dự phòng TBMMN trước hết phải dự phòng và điều trị THA và RLLP máu. Tăng huyết áp (THA) có xu hướng tăng cao và nhanh; các số liệu thống kê điều tra tăng huyết áp ở Việt Nam cho thấy: năm 1982 là 1,9% dân số và năm 1992 tăng lên 11,79% dân số và năm 2002 ở miền Bắc là 16,3% 35. Điều này, kéo theo tỷ lệ mới mắc TBMMN cũng có xu hướng gia tăng. Khi tỷ lệ THA càng cao sẽ càng làm gia tăng tỷ lệ TBMMN.28.Trong khuyến cáo của ủy ban chuyên trách về TBMMN thuộc hội tim mạch Hoa Kỳ. Người ta làm giảm đáng kể nguy cơ TBMMN ở người THA bằng điều trị THA. Ở bệnh nhân THA, giảm HA tâm trương trung bình 6mmHg sẽ làm giảm 42% nguy cơ TBMMN. Trong nghiên cứu về điều trị THA tâm thu đơn độc >160mmHg kết quả so với nhúm khụng điều trị giảm 36% nguy cơ TBMMN 1.
Xem thêm

113 Đọc thêm

Rối loạn chuyển hoá lipid và mối liên quan với đông – cầm máu

RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ LIPID VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐÔNG – CẦM MÁU

1. Hội chứng rối loạn chuyển hoá lipid:
1.1. Đại cương về lipid và các thành phần lipid trong máu:
Lipid là một trong những thành phần cơ bản của cơ thể, là nguồn cung
cấp năng lượng cho tế bào, là tiền chất của các hormon steroid và acid
mật. Về cấu trúc hoá học, lipid là sản phẩm của sự kết hợp giữa acid béo
và alcol nhờ liên kết este, sự kết hợp này tạo ra các lipid đơn giản hoặc
mỡ trung tính, còn nếu kết hợp thêm với acid phosphoric, các base nitơ
hoặc các loại monosaccarid thì cho các lipid phức tạp. Lipid đơn giản
thường gặp trong cơ thể là các glycerid (có thể ở dạng monoglycerid,
diglycerid hoặc triglyceride) và cholesterid mà alcol là cholesterol. Lipid
phức tạp là phospholipids và glucolipid.[3],[12]
Trong cơ thể , lipid được phân bố trong 3 khu vực:[16],[29]
+ Khu vực cấu trúc: có trong tất cả các tổ chức và tham gia cấu trúc màng
tế bào, bao gồm nhiều loại lipid phức tạp, có hoạt tính chuyển hoá yếu và
có hàm lượng tương đối ổn định.
+ Khu vực dự trữ: tạo nên lớp mỡ dự trữ mà thành phần chủ yếu là
triglycerid (TG). ở khu vực này, hàm lượng mỡ luôn thay đổi tuỳ thuộc
trạng thái sinh lý và bệnh lý của cơ thể.
+ Khu vực lưu hành: lipid được kết hợp với một loại protein gọi là
apoprotein để tạo thành các tiểu phân lipoprotein (LP) hoà tan lưu hành
trong máu. Đây là dạng vận chuyển lipid máu trong cơ thể.
Các lipid quan trọng nhất tuần hoàn trong máu (lipid toàn phần) là
cholesterol (tự do và este hoá), các triglycerid, phospholipid và các acid
béo tự do (FFA-free fatty acids) đều không tan trong nước, vì vậy để tuần
hoàn được chúng phải kết hợp với các protein (gọi là apoprotein-Apo)
dưới dạng phức hợp phân tử lớn gọi là lipoprotein. Các lipoprotein là các
Xem thêm

31 Đọc thêm

Rối Loạn Chuyễn Hóa Các Chất

RỐI LOẠN CHUYỄN HÓA CÁC CHẤT

rối loạn chuyển hóa lipid
rối loạn chuyển hóa lipid máu
rối loạn chuyển hóa
rối loạn chuyển hóa mỡ
rối loạn chuyển hóa lipid máu là gì
rối loạn chuyển hóa lipid là gì
rối loạn chuyển hóa bẩm sinh
rối loạn chuyển hóa glucid
rối loạn chuyển hóa là gì
rối loạn chuyển hóa porphyrin
rối loạn chuyển hóa acid amin
rối loạn chuyển hóa acid uric
rối loạn chuyển hóa acid nucleic
rối loạn chuyển hóa axit béo
sơ đồ rối loạn chuyển hóa acid amin
sơ đồ rối loạn chuyển hóa axit amin
rối loạn chuyển hóa nước và điện giải
sơ đồ về rối loạn chuyển hóa acid amin
chế độ ăn rối loạn chuyển hóa
rối loạn chuyển hóa tinh bột
rối loạn chuyển hóa đường bẩm sinh
rối loạn chuyển hóa tế bào cơ tim
hội chứng rối loạn chuyển hóa bẩm sinh
bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh
bệnh rối loạn chuyển hóa là gì
bệnh rối loạn chuyển hóa
bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu
rối loạn chuyển hóa canxi
rối loạn chuyển hóa citrin
rối loạn chuyển hóa chức năng gan
rối loạn chuyển hóa cholesterol
rối loạn chuyển hóa cơ thể
rối loạn chuyển hóa chu trình ure
rối loạn chuyển hóa chất
rối loạn chuyển hóa nước và chất điện giải
chữa rối loạn chuyển hóa tinh bột
rối loạn chuyển hóa đường
rối loạn chuyển hóa đồng
rối loạn chuyển hóa đường huyết
rối loạn chuyển hóa đường khi mang thai
rối loạn chuyển hóa đạm
rối loạn chuyển hóa đường galactose
bệnh rối loạn chuyển hóa đường
rối loạn chuyển hóa nước điện giải
rối loạn chuyển hóa galactose
rối loạn chuyển hóa glucose
rối loạn chuyển hóa gluxit
rối loạn chuyển hóa gan
rối loạn chuyển hóa glucid thường gặp
trẻ rối loạn chuyển hóa galactose
bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen
rối loạn chuyển hóa hemoglobin
rối loạn chuyển hóa insulin
rối loạn chuyển hóa porphyrin là gì
rối loạn chuyển hóa mỡ là gì
rối loạn chuyển hóa lipoprotein là gì
rối loạn chuyển hóa lipoprotein
rối loạn chuyển hóa kali
rối loạn chuyển hóa kiềm toan
không dùng cho trẻ rối loạn chuyển hóa galactose
rối loạn chuyển hóa lipid trong máu
rối loạn chuyển hóa năng lượng
rối loạn chuyển hoá lipid là gì
bệnh lý rối loạn chuyển hóa
sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa glucid
sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa lipid
sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa protid
rối loạn chuyển hóa mỡ máu
rối loạn chuyển hóa muối nước
rối loạn chuyển hóa mỡ nhẹ
rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu
bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu
bị rối loạn chuyển hóa mỡ
rối loạn chuyển hóa natri
rối loạn chuyển hóa nội tiết
bệnh rối loạn chuyển hóa ở người là gì
rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh
rối loạn chuyển hóa ở trẻ
bệnh rối loạn chuyển hóa ở trẻ em
rối loạn chuyển hóa sắt ở trẻ sơ sinh
bệnh rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh
rối loạn chuyển hóa protein
rối loạn chuyển hóa protid
rối loạn chuyển hóa purin
rối loạn chuyển hóa propionic
rối loạn chuyển hóa sắt
rối loạn chuyển hóa sắc tố mật
rối loạn chuyển hóa sphingolipid
rối loạn chuyển hóa trẻ sơ sinh
bệnh rối loạn chuyển hóa sắt
rối loạn chuyển hóa ty thể
rối loạn chuyển hoá ure
rối loạn chuyển hóa vitamin
rối loạn chuyển hóa xương
tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid
Xem thêm

36 Đọc thêm