MÀU SẮC CHỦ ĐẠO CỦA THƯƠNG HIỆU COZY

Tìm thấy 9,047 tài liệu liên quan tới từ khóa "MÀU SẮC CHỦ ĐẠO CỦA THƯƠNG HIỆU COZY":

10 kinh nghiệm sáng tạo nội dung hiệu quả cho fanpage facebook

10 KINH NGHIỆM SÁNG TẠO NỘI DUNG HIỆU QUẢ CHO FANPAGE FACEBOOK

10 Kinh Nghiệm Sáng Tạo Nội Dung Cho Facebook Fanpage Presentation Transcript 1. KINH NGHIỆM SÁNG TẠO NỘI DUNG HIỆU QUẢ CHO FACEBOOK FANPAGE10 2. nội dung cần xem cho mỗi lần cập nhật Facebook 3000 3. 10% nội dung Facebook có cơ hội được xem 4. Số lượng thông tin trên Facebook ngày một nhiều thêm… 5. Số lượng thông tin trên Facebook ngày một nhiều thêm… …nhưng thời lượng online Facebook của mỗi người lại không tăng 6. 86% người dùng Internet không quan tâm tới các nội dung quảng cáo 7. Người dùng truy cập Facebook với mục đích giải trí chứ không phải mua hàng 8. Vậy, làm thế nào để sáng tạo nội dung thu hút trên Facebook? 9. Vậy, làm thế nào để sáng tạo nội dung thu hút trên Facebook? …tham khảo 10 kinh nghiệm sau đây từ Mix Digital 10. 1. TRUNG THÀNH VỚI TIẾNG NÓI THƯƠNG HIỆU •  Xác định rõ phạm vi nội dung. Không nói những gì mà không có sự liên tưởng đến thương hiệu •  Tuân thủ các quy tắc về nhận diện thương hiệu •  Không làm tổn hại đến uy tín thương hiệu 11. Đỏ vàng luôn là màu sắc chủ đạo trong các nội dung trên fan page McDonald’s 12. Sơ suất của US Airways trên Twitter vào 1442014 làm tổn hại không nhỏ đến hình ảnh thương hiệu 13. 2.CHIA SẺ NHỮNG GÌ NGƯỜI ĐỌC CẦN •  Người đọc không quan tâm những lời hay ý đẹp giới thiệu sản phẩmdịch vụ của bạn. •  Người đọc cần những thông tin giúp họ giải quyết nhu cầu mà họ có thể gặp phải. Brand cần giúp họ cung cấp những thông tin đó 14. 3.ĐỪNG MỜI KHÁCH HÀNG MUA, GIÚP HỌ GIẢI TRÍ ĐI •  Người dùng online Facebook với mục đích giải trí, không phải làm việc hay mua hàng. Tại sao không giúp họ giải trí? •  Thông điệp truyền thông rất khô cứng, do đó cần được lồng ghép bằng ý tưởng gợi cảm xúc người xem 15. 4.KHAI THÁC CÁC THÔNG TIN THỜI SỰ •  Mạng xã hội liên tục thay đổi những chủ đề nóng mang tính thời sự, đó là cơ hội tuyệt vời để brand thu hút sự chú ý và giành được sự đồng cảm với khách hàng •  Khai thác những chủ đề nóng •  Chú trọng những ngày lễ hay dịp đặc biệt 16. Nhãn hàng sữa cho bé Profomilk “nóng” cùng dịch sởi ở trẻ em 17. 5.CÀNG NGẮN CÀNG TỐT •  Fan không có đủ thời gian kiên nhẫn để đọc hết những post dài lê thê từ một fan page •  Báo cáo của Facebook cho rằng những post ít hơn 250 ký tự sẽ đưa lại tương tác cao hơn 60% 18. 6.HÌNH ẢNH ẤN TƯỢNG •  Hình ảnh bắt mắt, chuyên nghiệp sẽ thu hút chú ý của người xem. •  Hình ảnh sẽ giúp chuyển tải thông điệp ấn tượng gợi cảm xúc hơn text thông thường •  Hình ảnh chuyên nghiệp sẽ gia tăng uy tín thương hiệu của bạn 19. 7.CHỦ ĐỘNG ĐỀ NGHỊ CHIA SẺ •  Chia sẻ sẽ giúp nội dung của fan page có cơ hội tiếp cận một cách thuyết phục tới nhiều công chúng mục tiêu hơn. •  Chủ động đưa ra những đề nghị chia sẻ trong mỗi post sẽ thúc đẩy người xem hành động. •  Đưa ra đề xuất chia sẻ ngay từ những câu đầu tiên của post 20. 8.HIỂN THỊ TỐT TRÊN MOBILE •  Hình ảnh text trên ảnh cần đủ lớn để người xem dễ dàng đọc được khi sử dụng các thiết bị di động. 21. 9.KHÔNG POST QUÁ DÀY •  Nếu post quá nhiều post trong một ngày, fan sẽ cảm giác bị làm phiền. Bạn chỉ cần từ 12 postngày. •  Bạn vẫn muốn post nhiều? Liệu bạn đủ sức sáng tạo để làm nhiều post chất lượng đến vậy? 22. 10.ĐẦU TƯ CHO QUẢNG CÁO BOOST POST Facebook đã giảm lượng reach tự nhiên (organic reach) xuống còn 12% số fan mà bạn có. Bạn sẽ không muốn những nội dung sáng tạo của mình chỉ tiếp cận được tới 1 “nhúm” người  Bạn cần phải đầu tư vào quảng cáo Facebook để tăng lượng hiển thị tới công chúng mục tiêu 23. Bạn muốn tìm hiểu thêm kinh nghiệm về social media marketing? 24. Bạn muốn tìm hiểu thêm kinh nghiệm về social media marketing? …truy cập blog của Mix Digital: mixdigital.vnblog 25. Phòng 1401, tháp A, Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội +04 62754068 contactmixdigital.vn mixdigital.vn Mix Digital Agency
Xem thêm

32 Đọc thêm

“MÀU sắc và CHẤT LIỆU – NHỮNG yếu tố QUAN TRỌNG TRONG THIẾT kế BAO bì”

“MÀU SẮC VÀ CHẤT LIỆU – NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THIẾT KẾ BAO BÌ”

“MÀU sắc và CHẤT LIỆU – NHỮNG yếu tố QUAN TRỌNG TRONG THIẾT kế BAO bì” PHỤ LỤC A. MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài: “MÀU SẮC VÀ CHẤT LIỆU – NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THIẾT KẾ BAO BÌ” 2 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 3. Phương pháp nghiên cứu 3 B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ MÀU SẮC – CHẤT LIỆU CỦA BAO BÌ 4 1.1. Khái lược về bao bì 4 1.1.1. Quan niệm về thiết kế bao bì 4 1.1.2. Tầm quan trọng của thiết kế bao bì 6 1.1.3. Những chuẩn mực đánh giá một thiết kế bao bì thành công 7 1.2. Màu sắc 10 1.2.1. Tìm hiểu chung về màu sắc 10 1.2.2. Một số đặc tính của màu sắc 10 1.2.3. Cảm giác với màu sắc 11 1.2.4. Phối màu và hoà sắc 12 1.3. Chất liệu 13 1.3.1. Phân loại chất liệu trong thiết kế bao bì 13 1.3.2. Ứng dụng chất liệu trong thiết kế bao bì 14 2. CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA MÀU SẮC VÀ CHẤT LIỆU TRONG THIẾT KẾ BAO BÌ 19 2.1. Màu sắc trong thiết kế bao bì 19 2.2. Chất liệu trong thiết kế bao bì 23 2.3. Ứng dụng màu sắc và chất liệu trong thiết kế bao bì ở một số công ty 24 2.3.1. 24 2.3.2. Vài nét về công ty mì Miliket 25 2.3.3. Nội dung bài thể hiện 25 KẾT LUẬN 27 C. TÀI LIỆU THAM KHẢO 29 PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 30 A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: “MÀU SẮC VÀ CHẤT LIỆU – NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THIẾT KẾ BAO BÌ” Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, trên thị trường xuất hiện vô vàn những hàng hóavà mẫu mã, bao bì, sản phẩm vô cùng phong phú.Sự thể hiện của bao bì chính là những giao tiếp ban đầu đối với khách hàng… Bao bì ít khi được đánh giá một mình, nó thường phải cạnh tranh trực tiếp với bao bì khác của các đối thủ được đặt ngay cạnh trên giá.Bởi vậy, có thể thấy được công việc thiết kế bao bì có một tầm quan trọng rất to lớn. Các yếu tố chính góp phần xây dựng nên sự thành công trong thiết kế bao bì đó là: màu sắc, chất liệu, hình dáng kết cấu, thông tin (chữ) và hình ảnh. Qua tìm hiểu các sản phẩm hàng hoá trên thị trường và tham khảo tài liệu, người viết nhận thấy rằng: trong những yếu tố nói trên thì màu sắc và chất liệu là hai yếu tố quan trọng nhất làm nên sự thành công trong thiết kế bao bì. Tại sao vậy? Đó là do màu sắc có sức thu hút thị giác rất lớn, mắt chúng ta thường nhạy cảm với màu sắc hơn hình khối. Các hiện tượng màu sắc thường có tác động mạnh đến tâm lý và cảm xúc của con người, là phương tiện hữu hiệu giúp khách hàng tiếp cận một cách nhanh chóng tới sản phẩm đang được bày bán. Còn chất liệu? Hàng hoá trên thị trường bao gồm rất nhiều chủng loại phong phú: đó có thể là hàng điện tử, hàng thực phẩm, mỹ phẩm… Mỗi mặt hàng lại có những tính chất riêng nên cũng đòi hỏi phải có những chất liệu bao bì phù hợp. Ta không thể đựng nước trái cây trong bao bì bằng bìa carton cũng như không thể đựng hàng điện tử trong bao bì bằng thuỷ tinh… Cũng chính nhờ chất liệu mà từ đó, ta có thể tạo cho bao bì những hình dáng kích cỡ khác nhau, góp phần cho công việc thiết kế thêm hoàn chỉnh. Chính vì những lý do trên, người viết đã quyết định đi sâu vào nghiên cứu và chọnđề tài “Màu sắc và chất liệu – những yếu tố quan trọng trong thiết kế bao bì” làm đề tài cho tiểu luận của mình. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là màu sắc và chất liệu. Phạm vi nghiên cứu là nghệ thuật thiết kế bao bì. 3. Phương pháp nghiên cứu Đề tài này được trình bày bằng phương pháp tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu, hình ảnh, qua một số thông tin, sách báo, tạp chí, internet liên quan tới bao bì, cũng như kinh nghiệm thực tế, quan sát sản phẩm thực tế. Ghi chép. Tham khảo ý kiến các công ty thiết kế tại TP.HCM. Một số tư liệu nước ngoài nói về thiết kế bao bì. Từ đó có cái nhìn bao quát nhất về vấn đề, đưa ra những lập luận, phân tích và chứng minh vấn đề. B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ MÀU SẮC – CHẤT LIỆU CỦA BAO BÌ 1.1. Khái lược về bao bì 1.1.1. Quan niệm về thiết kế bao bì Bao bì là gì ? Trong suy nghĩ của mọi người, bao bì có thể hiểu nôm na là “cái vỏ bọc bên ngoài” ám chỉ vật liệu dùng để bọc hay phủ lên hàng hoá với các chức năng sau: Một là: bao bì dùng để chứa đựng sản phẩm, để sản phẩm không bị rò rỉ, thất thóat, không thay đổi, biến dạng. Hai là: bao bì dùng để bảo vệ sản phẩm, làm cho sản phẩm không bị hư hỏng trong những điều kiện thay đổi bất lợi như: nhiệt độ, không khí, độ ẩm, ánh sáng... Ba là: bao bì dùng để trưng bày, mô tả, quảng cáo cho sản phẩm. Trên bao bì có hướng dẫn sử dụng, qui định thời hạn sử dụng, mô tả thành phần cấu tạo, nêu lên những lưu ý đặc biệt. Tất cả những yếu tố trên được trình bày một cách hấp dẫn, đẹp đẽ... Từ ba chức năng của bao bì: chứa đựng, bảo vệ, trưng bày quảng cáo, các nhà sản xuất bao bì sẽ phải suy nghĩ nhiều điều cho công việc của mình. Để đáp ứng chức năng chứa đựng sản phẩm, bao bì được phân loại thành: • Bao bì cấp 1: là những bao bì tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm: lon, chai thuỷ tinh, hộp giấy, bao bì nhựa.... • Bao bì cấp 2: là bao bì đóng gói các sản phẩm có bao bì cấp một. Riêng rẽ lại với nhau (thùng carton là một điển hình). • Bao bì cấp 3: là những container, những kiện lớn chứa bao bì cấp 2. Để đáp ứng chức năng này, sản phẩm bao bì cần phải được thiết kế tạo nên sự hấp dẫn, nổi bật sản phẩm bên trong, phân biệt dễ dàng sản phẩm của nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác... Màu sắc, hình ảnh, phải đáp ứng yêu cầu của nhà sản xuất, màu phải bền với thời gian, với ánh sáng, phải giống nhau giữa các đợt in. Khi thiết kế bao bì phải thể hiện đầy đủ các thông tin về sản phẩm bên trong, đáp ứng được yêu cầu của nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng: Ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, nguồn gốc sản phẩm, thành phần, hướng dẫn sử dụng... Trong một số trường hợp yêu cầu này cực kỳ nghiêm khắc (đối với bao bì dược phẩm). Quan niệm về thiết kế bao bì: “Thiết kế bao bì” là sự kết hợp giữa nguyên liệu, cấu trúc, cách trình bày, hình ảnh, màu sắc và những thành phần khác, tạo ra sự thu hút thị giác nhằm mục đích truyền thông và chiến lược marketing của một thương hiệu hay sản phẩm. Một thiết kế thành công sẽ tạo ra mối quan hệ vững chắc, có ý nghĩa giữa khách hàng với sản phẩm bằng cách truyền tải lời hứa của thương hiệu đến với người tiêu dùng. “Thiết kế bao bì” tức là tận dụng “bao bì” để hỗ trợ mục tiêu tiếp thị sản phẩm. Mục tiêu của “thiết kế bao bì” không chỉ đáp ứng được về tính công năng, tính thẩm mỹ mà cũng giúp thu hút khách hàng. Không giống với hội hoạ thông thường, thiết kế bao bì thuộc lĩnh vực thương phẩm, nó có những yếu tố đặc trưng, giá trị sử dụng và hạn chế trong công nghệ in ấn. Vì vậy, người thiết kế buộc phải có những hiểu biết nhiều mặt về văn hoá xã hội, ý đồ kinh doanh của công ty, thị hiếu thẩm mỹ của khách hàng, am hiểu nghệ thuật tạo hình và cả công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại. Để thiết kế bao bì, người hoạ sỹ thiết kế cần nẵm rõ những nguyên tắc sau: Ngôn ngữ thiết kế phải đơn giản nhằm mục đích thông tin tới khách hàng nhanh nhất (lượng thông tin, màu sắc, hình ảnh…). Bao bì nào cũng có ngôn ngữ thiết kế riêng, dù nó là loại bao bì chỉ nhỏ trong lòng bàn tay như bao diêm, hộp dao cạo… đến những bao bì cồng kềnh, đồ sộ như TV, tủ lạnh… Ngôn ngữ thiết kế phải phù hợp và tạo cảm giác gần gũi với người tiêu dùng. Người thiết kế cần hiểu rõ thị hiếu, tâm lý khách hàng để đưa ra các thiết kế phù hợp với từng đối tượng tiêu dùng khác nhau. Người miền xuôi khác với người miền núi, người miền Nam khác với người miền Bắc, người nông thôn khác với người thành thị v.v… Ngoài yếu tố thẩm mỹ, tính ứng dụng của thiết kế cũng rất cần thiết, nhưng cần phải thuận tiện trong việc vận chuyển và quá trình sử dụng. 1.1.2. Tầm quan trọng của thiết kế bao bì Ngoài chức năng bao gói, vận chuyển, bao bì còn là một “người bán hàng thầm lặng”, góp phần vào việc tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu cho mỗi công ty. Thời nguyên thuỷ, bao bì đơn thuần chỉ là vật chứa đựng bằng vỏ cây, lá cây, da thú… Khi con người biết làm ra của cải, vật chất, nhu cầu đời sống ngày càng nâng cao thì nhu cầu về thẩm mỹ, thưởng thức cái đẹp cũng được nảy sinh. Trên thực tế, trong một gian hàng có hàng trăm sản phẩm thì loại sản phẩm nào có bao bì đẹp, phù hợp, tiện dụng, thể hiện sự nghiêm túc trong thiết kế sẽ thu hút và tạo được thiện cảm cho người tiêu dùng hơn.Vì thế, sản phẩm sẽ tiêu thụ được nhiều hơn.Bao bì đẹp cũng góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần nâng cao khả năng tri giác, tinh tế và thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh của con người. Trong thập kỷ vừa qua, bao bì chiếm vai trò cực kỳ quan trọng trong quảng cáo sản phẩm.Khi mua một món hàng, người tiêu dùng không chỉ trả tiền cho sản phẩm của mình cần mua mà còn phải thanh toán một khoản chi phí không nhỏ cho bao bì, nhưng người mua vẫn vui lòng chấp nhận.Vì sao vậy? Khi nhu cầu của con người nảy sinh, họ sẵn sàng trả nhiều hơn một chút cho sự tiện lợi, hình thức bên ngoài, độ tin cậy và vẻ lịch sự cho sản phẩm. Chính vì vậy, bao bì đã làm tăng mức giàu sang cho người tiêu dùng. Bao bì đẹp kích thích người tiêu dùng “muốn dùng thử”, “muốn khám phá”.Qua đó, để thấy bao bì là một yếu tố góp phần lớn vào thành công của các thương hiệu.Bao bì có ảnh hưởng trực tiếp đến người mua.Đó có thể là ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực.Nếu là ảnh hưởng tiêu cực, nó sẽ lái khách hàng tiềm năng đi hướng khác.Việc mất khách là không tránh khỏi. Còn nếu đó là ảnh hưởng tích cực thì sẽ hướng được sự chú ý của khách hàng đến thương hiệu hay sẽ ra quyết định mua sản phẩm. Sự phát triển của bao bì mang tính sáng tạo sẽ nâng cao thương hiệu của sản phẩm trong mắt khách hàng. Nhiều nhà hoạt động thị trường đã không sai khi gọi bao bì là “bước cơ bản thứ 5 của Maketing”, bổ sung cho giá cả, phân phối và khuyến mại sản phẩm. 1.1.3. Những chuẩn mực đánh giá một thiết kế bao bì thành công Vai trò của bao bì ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc xây dựng thương hiệu mạnh và nhất quán.Bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ, mô tả và giới thiệu sản phẩm mà nó còn chứa đựng rất nhiều nhân tố tác động đến khách hàng và việc quyết định lựa chọn mua hàng của họ.Để luôn là lựa chọn số một của khách hàng trước những đối thủ cạnh tranh, thì đâu là yếu tố chính trong việc thiết kế bao bì? Dựa trên cơ sở những nhân tố tác động đến khách hàng khi lựa chọn và so sánh những sản phẩm cùng loại, chúng ta hãy tham khảo 8 yếu tố cơ bản đánh giá một thiết kế bao bì thành công, đó là: • Sự phối hợp nhất quán: Đây là tiêu chuẩn cốt lõi của một bao bì thành công.Sự phối hợp nhất quán là phải thể hiện được một phong cách riêng của thương hiệu sản phẩm. Màu sắc, bố cục, phông nền là những yếu tố giúp cho việc nhận dạng hình ảnh thương hiệu nhanh hơn nhiều lần, và giúp cho khách hàng có thể nhớ riêng được những đặc tính riêng của từng sản phẩm, mặc dù họ có thể mua hàng ở nhiều nơi khác nhau. Một sản phẩm có thể thay đổi màu sắc bao bì theo từng giai đoạn để tạo sự hấp dẫn, nhưng nó phải tuân theo nguyên tắc nhất quán trong việc nhận diện thương hiệu sản phẩm đó. • Sự ấn tượng: Khi tặng quà cho một ai đó thì món quà được gói đẹp và chăm chút trước hết đã gây được một ấn tượng ban đầu tốt đẹp với người nhận, cho dù chưa biết món quà bên trong như thế nào. Bao bì của sản phẩm cũng vậy, cách thiết kế và đóng gói bao bì cũng đã thể hiện được một phần sản phẩm bên trong nó. Tính ấn tượng còn đặc biệt có ý nghĩa với những bao bì cao cấp dành cho những sản phẩm sang trọng. Việc thiết kế bao bì cho những mặt hàng đắt giá đòi hỏi phải có sự chọn lựa kỹ từ chất liệu đến màu sắc thiết kế, thông qua đó, thể hiện được “đẳng cấp” của người mua. • Sự nổi bật: Trên một kệ trưng bày không chỉ có sản phẩm của chúng ta mà còn có các sản phẩm khác cùng loại của đối thủ cạnh tranh.Vì vậy, sự nổi bật là rất quan trọng để tạo sự khác biệt.Nhà thiết kế phải hiểu rằng sản phẩm sẽ được người tiêu dùng so sánh, nhận định với hàng loạt những sản phẩm khác.Và để có thể cạnh tranh được đòi hỏi nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ thị trường từ bước định vị sản phẩm đầu tiên đến việc xây dựng một hệ thống nhận diện thương hiệu hiệu quả. Khả năng sáng tạo cao, cũng sẽ giúp việc thiết kế bao bì tránh được những lối mòn quen thuộc đến nhàm chán của các bao bì ngoài thị trường, để thực sự trở thành một điểm nhấn giữa hàng trăm các sản phẩm cùng loại. • Sự hấp dẫn: Trong một số ngành hàng, đặc biệt trong ngành mỹ phẩm, bao bì phải thể hiện được sự hấp dẫn, lôi cuốn, gây thiện cảm và nhấn mạnh các đặc tính của sản phẩm.Bao bì trong những ngành này có thể được xem như một phần của sản phẩm, tạo ra những giá trị cộng thêm cho khách hàng. Sản phẩm thiết kế dành cho nam giới, bao bì phải thể hiên được sự nam tính, khác hẳn những sản phẩm dành cho nữ giới với những nét mềm mại, quyến rũ. • Sự đa dụng: Thông thường, người ta chỉ nghĩ bao bì dùng để đựng sản phẩm và sử dụng xong rồi bỏ rất lãng phí.Vì vậy trong cuộc cạnh tranh ngày nay người ta thường tìm cách thêm giá trị sử dụng cho bao bì.Những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt đôi khi cũng là một lợi thế cạnh tranh lớn của sản phẩm so với các đối thủ khác. Bao bì sữa tắm ngày nay thường có thêm móc để treo trong phòng tắm, hình dáng thon để cầm nắm được dễ dàng, nắp đậy của những chai Comfort làm mềm vải có thêm chức năng làm mức đo lượng sử dụng. Tất cả những điều này giúp cho sản phẩm trở nên thông dụng và phù hợp hơn trong đời sống hàng ngày của người tiêu dùng. • Chức năng bảo vệ: Đã là bao bì thì luôn phải có chức năng bảo vệ sản phẩm bên trong.Tuy nhiên, không thiếu những bao bì đã không xem trọng chức năng này. Bao bì phải được thiết kế làm sao để bảo vệ đuợc sản phẩm một cách an toàn nhất. Người ta ưa thích dùng bao bì kín hoặc hút chân không để giúp sản phẩm để được lâu hơn, nhất là đối với bao bì dành cho thực phẩm và đồ uống. • Sự hoàn chỉnh: Yếu tố này giúp cho việc thiết kế kiểu dáng bao bì phù hợp với sản phẩm bên trong và điều kiện sử dụng sản phẩm đó. Bao bì dành cho thức ăn phải để được vào tủ lạnh vừa vặn và không tốn không gian. Bút viết để kẹp trên áo khác với bút cất trong cặp.Sẽ có sự lựa chọn nên cần phải biết nhấn mạnh điểm nào giữa sự tiện lợi, nổi bật hay đa dụng để tạo ra sự hoàn chỉnh cho sản phẩm. • Sự cảm nhận qua các giác quan: Một bao bì tốt phải thu hút được cảm nhận tốt của người tiêu dùng về sản phẩm thông qua việc nhìn ngắm tiếp xúc bằng xúc giác với sản phẩm. Chúng ta thường không chú ý đến xúc giác của ngưới tiêu dùng, nhưng nó lại có vai trò quan trọng cảm nhận về kích cỡ, kết cấu sản phẩm, chất liệu bao bì và từ đó ảnh hưởng đến việc nhận xét chất lượng sản phẩm. Để xây dựng được ấn tượng tốt trong tâm lý khách hàng, đánh bại các đối thủ cạnh tranh, sản phẩm cần đạt được những chuẩn mực như đã nêu trên. Tất cả được ấn định trong 5 yếu tố đồ hoạ: Màu sắc, chất liệu, hình dáng kết cấu, chữ và hình ảnh. Trong đó, màu sắc và chất liệu là hai yếu tố quan trọng cho sự thành công của thiết kế bao bì. 1.2. Màu sắc 1.2.1.Tìm hiểu chung về màu sắc Hình vẽ tạo hình thù cho các vật, màu sắc tạo cho chúng sự sống.Đó là hơi thở thần thánh làm cho chúng có sinh khí. Vạn vật trong thế giới dưới con mắt nhìn của chúng ta trở nên sống động, tươi đẹp như vậy sở dĩ là do màu sắc. Vậy màu sắc là gì? Màu sắc là hiện tượng vậy lý mà mắt ta có thể nhìn thấy được do ánh sáng tác động tới các vật thể, các vật thể hấp thụ hoặc phản xạ lại với sóng ánh sáng kích thích vào cơ quan thị giác giúp con người cảm nhận được màu sắc từ thế giới xung quanh. Vòng màu quang phổ gồm 7 màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Trong đó, có 3 màu cơ bản hay còn gọi là màu gốc là: đỏ, vàng và lam. Đây là 3 màu mà không màu nào có thể pha được nhưng chúng lại là nguồn phát sinh vô số màu sắc mới. Sắp xếp theo một trật tự vòng tròn ta sẽ thấy rõ các mối quan hệ màn tính quy luật của màu sắc. Từ 3 màu gốc sẽ tạo ra các màu hữu sắc.Mỗi màu hữu sắc đưa lại những cảm nhận nhất định.Đen và trắng là màu vô sắc.(Hình 1.2.1a) 1.2.2. Một số đặc tính của màu sắc Sắc loại là đặc trưng tiêu biểu của màu hữu sắc. Sắc của các màu gốc là sắc nguyên, sắc của những màu còn lại là sắc trung tính Độ bão hoà là độ thuần khiết của màu.Màu có độ bão hoà thấp sẽ đục hơn. Ngược lại, màu có độ bão hoà cao sẽ sáng và sạch hơn. Độ chói hay độ rực : là cường độ kích thích của màu đối với cơ quan thị giác. những màu có độ chói lớn sẽ gây hiệu quả với thị giác mạnh, gây cảm giác động, có tính va đập. Độ căng của màu: là lượng hạt màu trong một đơn vị diện tích. Độ sáng tối của màu sắc được đánh giá bằng sự chênh lệch với màu trắng. Ví dụ: vàng sáng hơn đỏ, đỏ sáng hơn tím.(Hình 1.2.2a) Tính đối sánh của màu sắc: khi hai màu đặt cạnh nhau hoặc bao quanh nhau thì bản thân của mỗi màu có sự biến đổi, màu này tác động đến màu khác. Ví dụ: cùng một sắc độ ghi, khi ta đặt lên nền trắng, nó lại có vẻ đậm và nhỏ hơn đặt lên nền đen.(Hình 1.2.2b) 1.2.3.Cảm giác với màu sắc Màu sắc đem lại rất nhiều cảm giác cho con người. Đó là sự liên tưởng về cảm giác xa gần.Thực tế cho thấy, những màu nóng như màu đỏ, màu vàng đem lại cảm giác gần hơn, mang tính động hơn.Còn những màu lạnh, như màu xanh, màu tím lại đem đến cảm giác sâu, tĩnh và xa hơn. Màu sắc có sự liên quan nhất định tới hình khối. Các hình khối mang màu nóng gây cảm giác va đập thị giác rất mạnh, nó làm cho hình khối có vẻ phát triển hơn lên. Ngược lại, những màu lạnh, trầm lại có khả năng nhấn mạnh hình khối, tạo tính ổn định, vững chãi. Màu sắc dẫn đến những liên tưởng về nhiệt độ. Các màu đỏ, cam, vàng là màu nóng, làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến không gian xung quanh, làm tăng huyết áp, kích động hệ thần kinh và lôi cuốn sự chú ý. Còn các màu lạnh: lục, lam, tím lại gây cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng, lạnh lẽo. Màu sắc được cảm nhận bằng mắt, nhưng có lẽ chúng ta không để ý rằng nó lại gợi được những liên tưởng về âm thanh. Màu vàng và các màu rực sáng có khả năng gây tiếng vang lớn. Những màu trầm biểu thị những âm thanh trầm đục. Căn cứ vào chất âm và sắc âm của nhạc cụ, mà người ta tạo ra màu sắc cho các lọai nhạc cụ: bộ thổi có màu vàng, đàn dây có màu trà… Không những thế, màu sắc còn gợi những liên tưởng về vị giác. Khi nhìn màu vàng chanh, ta tự nhiên có cảm giác của vị chua, nhìn màu nâu đậm, ta lại có cảm giác vị ngọt hơi đắng của Sôcôla, hay màu cam khiến ta thấy vị ngọt ngào. Khi muốn tạo cảm giác ngon miệng cho các sản phẩm ăn uống, nhà thiết kế thường sử dụng màu nóng, tươi sáng và tránh các màu xanh, trầm vì nó gây cảm giác đắng, chát. Ngoài ra, qua màu sắc, chúng ta còn có những liên tưởng về tình cảm. Các màu nóng được coi là tích cực, kích thích sự hưng phấn. Những màu lạnh trầm lại tạo cảm giác buồn, nhàn hạ, thư thái… Sự liên tưởng về màu đặc biệt ảnh hưởng tới công việc thiết kế, vì đồ hoạ là phục vụ cuộc sống, con người, đáp ứng nhu cầu tình cảm, tâm lý con người. Cao hơn sự liên tưởng là tính tượng trưng của màu sắc. Con người có thị hiếu về màu sắc khác nhau. Sự ưa thích này chịu ảnh hưởng của văn hoá, dân tộc, xã hội, hình thành trên cơ sở tuổi tác, tính cách, trình độ mỗi người. Ví dụ, ở phương Đông, màu đỏ tượng trưng cho may mắn, đại hỷ thì ở phương Tây lại là lễ tế nguy hiểm. Màu trắng ở phương Đông thể hiện sự tang tóc nên thường được dùng trong ma chay, thì ở phương Tây nó lại được sử dụng trong ngày cưới vì nó tượng trưng cho sự tinh khiết, trong trắng… Đối với hoạ sỹ nói chung và hoạ sỹ thiết kế đồ hoạ nói riêng, màu sắc là đối tượng sử dụng quan trọng trong các tác phẩm của mình. Để đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao trong sáng tác, người sử dụng phải có sự cảm nhận tốt, ứng dụng một cánh hợp lý và sáng tạo để mang lại sự thành công cho tác phẩm, truyền đạt được mong muốn của chính mình thông qua tác phẩm đó. 1.2.4.Phối màu và hoà sắc Hòa sắc phải mang sức sống, bởi lẽ màu sắc chính là biểu hiện sự vận động của cuộc sống. Cấu trúc của một hoà sắc đẹp là yếu tố quyết định vẻ đẹp của hình thức biểu hiện.Cấu trúc màu bao gồm những tính chất nội tại, biểu hiện trong quan hệ tự thân của màu sắc.Còn sức căng giữa các màu, vị trí, diện tích, phương hướng, tương quan là những biểu hiện bên ngoài của màu sắc. Trong bố cục có cấu trúc thị giác trên nhẹ, dưới nặng, bên trái nhẹ, bên phải nặng. Nó có quan hệ với độ sáng và đặc tính của màu. Màu đỏ đặt ở phía trên gây cảm giác nặng nề nhưng đặt ở phía dưới lại cho cảm giác vững chắc. Màu lam trong trẻo đặt phía trên cho cảm giác nhẹ nhàng, đặt phía dưới sẽ gây sức nặng. Căn cứ vào tương quan của màu thì những màu đối chọi gây sức nặng tập trung sự chú ý và ngược lại. Tương quan màu kết hợp với cấu trúc thị giác sẽ đem lại sự cân bằng chung trong hoà sắc. Ngoài ra, hoà sắc còn phải chú ý đến quan hệ hình, nền, sắc điệu chung trong quan hệ tổng thể của phối hợp màu sắc. Biết được những vấn đề cơ bản trong nguyên lý hoà sắc để đưa vào các dạng hoà sắc cơ bản.Có hai dạng chính là hoà sắc tương phản và hoà sắc tương đồng. Hoà sắc tương phản bao gồm tương quan của màu nóng và màu lạnh, các cặp quan hệ của những màu bổ túc mang tính kích thích và đối lập mạnh nhất.Tương quan về sắc độ, sắc điệu, độ rực của màu chênh lệch nhau nhiều. Hoà sắc tương đồng gồm tương quan của những màu cùng họ nóng hoặc lạnh.Tương quan của những màu cùng tông là êm ái nhất.Hoà sắc của những màu vô sắc thì thuần khiết và giản dị. 1.3.Chất liệu 1.3.1. Phân loại chất liệu trong thiết kế bao bì Trên thực tế, chất liệu chế tạo bao bì rất phong phú, người viết không thể nào thống kê một cách đầy đủ ở đây, tuy nhiên cũng xin đưa ra một số loại chất liệu phổ biến trong ngành bao bì bởi tính năng ưu việt, dễ kiếm, giá thành phù hợp với sản xuất công nghiệp. Chất liệu bằng gỗ. Chất liệu bằng giấy, carton và bìa. Chất liệu bằng thuỷ tinh, đồ gốm. Chất liệu bằng kim loại. Chất liệu bằng chất dẻo. Chất liệu bằng hàng dệt. Chất liệu bằng mây, nứa, tre đan. Chất liệu bằng các vật liệu nhân tạo, tổng hợp các loại vật liệu, như các loại bao bì được sản xuất từ chất liệu pôlime, cao su nhân tạo, màng chất dẻo, bao bì nhựa cứng... hoặc kết hợp nhiều loại vật liệu khác để sản xuất ra các loại bao bì đảm bảo được yêu cầu trong bảo quản, vận chuyển sản phẩm. 1.3.2. Ứng dụng chất liệu trong thiết kế bao bì • Chất liệu bằng gỗ: Là loại chất liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên, có đặc điểm dễ sản xuất, dễ sử dụng, phạm vi ứng dụng rộng rãi, có độ bền tương đối cao, có khả năng thu hồi sử dụng lại, vật liệu dễ khai thác. Tuy nhiên, gỗ lại có nhược điểm là tương đối nặng, chịu ẩm kém (dễ hút nước), dễ cháy, dễ bị phá hoại bởi các vật gặm nhấm (mối, mọt, chuột...). Trong vài thập kỷ gần đây, gỗ thiên nhiên trở thành loại vật liệu đắt tiền để sản xuất bao bì.Cho nên, những sản phẩm sử dụng bao bì gỗ thường có giá trị rất cao. Bao bì bằng chất liệu gỗ đem đến cho sản phẩm sự mộc mạc, gần gũi với thiên nhiên nhưng lại thể hiện tính sang trọng, lịch lãm, nền nã. Bao bì gỗ thường ở dạng hòm, thùng chứa đóng kín hoặc có các kẽ hở nhất định. Kẹo sôcôla, bao bì ngoài đựng rượu, thùng chứa ngoài đựng bia… thường được sử dụng loại chất liệu này.(Hình 1.3.2a, hình 1.3.2b) • Chất liệu bằng giấy, carton và bìa: Đây là loại bao bì phổ biến hiện nay trên thị trường quốc tế và trong nước.Nó chiếm khoảng 70% các loại bao bì sử dụng. Loại bao bì này có các tính chất sau: Về mặt lý học: chống ẩm (bền với nước), chịu xé, chịu gấp và chịu sự va đập (có độ cứng cao). Về hoá học: bền với hoá chất, bền với nhiệt (chịu nóng tốt), bắt lửa kém, chống được côn trùng, vi trùng. Sinh lý học: không mùi, không vị, không độc. Tâm lý học: bề mặt phẳng, dễ in ấn trang trí, dễ sử dụng. Loại này có khả năng thu hồi vật liệu để tiếp tục quá trình sản xuất các loại bao bì hàng hoá khác. Bạn hãy lấy một tờ giấy và thử xé nó theo hai chiều ngang và dọc. Bạn sẽ thấy rằng có một chiều dễ xé hơn và ở chỗ tờ giấy rách ra, bạn sẽ nhìn thấy những sợi mỏng như tóc.Điều đó có ý nghĩa gì?Thứ nhất, giấy được sản xuất bằng máy, vì nếu không, bạn đã có thể xé dễ dàng ở cả hai chiều.Thứ hai, giấy được cấu tạo từ những hạt xenlulô nhỏ trong lõi của cây, liên kết chặt chẽ nhờ lực phân tử.Ngoài ra, trong thành phần của giấy còn chứa chất độn (giúp mặt giấy kín, nhẵn phẳng, không thấu quang), chất màu (tạo cho giấy có màu sắc cần thiết) và nước (giúp cho giấy không bị khô giòn, nếu không, giấy sẽ kém bắt mực, độ bền cơ học giảm, khó in ấn). Còn bìa carton, về bản chất cũng có thành phần giống giấy nhưng có trọng lượng 1m2 lớn hơn 1m2 giấy.Bìa carton có đặc điểm là kém bền, mặt thô dễ gẫy.Có loại rỗng ở bên trong, có loại bền dùng đóng gói ấn phẩm nặng. Nhìn chung, giấy, carton và bìa có ưu điểm: dễ bao gói, có khả năng gấp tốt, bắt màu tốt, thuận lợi cho việc in ấn vận chuyển, không gây ô nhiễm môi trường và có thể tái tạo được. Nhược điểm của loại chất liệu này là dễ thấm nước, dễ mối mọt, dễ cháy và hư hoại. Hiện nay, nước ta có rất nhiều loại giấy phục vụ cho công việc thiết kế bao bì như giấy Duplex, giấy dầu, các loại giấy có bề mặt nhôm màng P. E. T+, các loại giấy tráng kim, giấy cao cấp của Đức Nhật với bề mặt thô ráp, gồ ghề, trơn nhẵn, phong phú nhiều màu sắc, có thể đáp ứng đầy đủ mục đích thiết kế và thị hiếu của người tiêu dùng. Bao bì bằng chất liệu này đã dành vị trí tuyệt đối trong ngành hàng thực phẩm (bánh Snack, cooktais, bánh quy dòn, thức ăn cho động vật nuôi…) và phi thực phẩm (hoá mỹ phẩm, điện tử…) bởi những tính năng ưu việt của nó nói trên.(Hình 1.3.2c, hình 1.3.2d, hình 1.3.2e) • Chất liệu bằng thuỷ tinh: Thường để chứa đựng các sản phẩm dạng lỏng như dược phẩm, hoá chất, rượu bia, nước giải khát... loại này không độc, không phản ứng với hàng hoá, có độ cứng nhất định, nhưng rất dễ vỡ khi bị va chạm, rung xóc trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ.(Hình 1.3.2f, hình 1.3.2g) Thủy tinh được tạo ra từ những nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như cát, bột sôđa, đá vôi. Vì thuỷ tinh là chất rắn và trơ, không bị thấm nước và không xốp nên nó là đồ chứa tuyệt hảo.Các chất chứa trong bình thuỷ tinh sẽ không bị ảnh hưởng đến chất lượng, mùi vị. Nó là phương tiện bảo quản đảm bảo chất lượng cho sản phẩm trong suốt thời gian sử dụng và được coi là chất liệu bảo quản tiêu chuẩn đối với các sản phẩm dễ bị oxi hoá, ánh sáng tác động và cần bảo quản lâu dài. Sự trong suốt của thuỷ tinh và khả năng truyền ánh sáng theo một hướng duy nhất đã khiến thuỷ tinh trở thành một chất liệu tuyệt vời cho thiết kế. Thuỷ tinh có thể chịu được nhiệt độ rất cao của các máy in nhãn mác trực tiếp.Với chất liệu này, ta có thể tạo được nhiều kiểu dáng bao bì hấp dẫn mang tính trang trí cao nhằm tôn vinh sản phẩm. Chất liệu này đã trở thành sự mê hoặc đối với các sản phẩm của ngành mỹ phẩm mà tiêu biểu là nước hoa… Hơn nữa, với chất liệu thuỷ tinh, bao bì còn có thể được tái chế cho những lần sử dụng sau. • Chất liệu bằng kim loại: Kim loại là loại chất liệu bao bì được dùng khá phổ biến.Loại này khắc phục được các nhược điểm của bao bì bằng gỗ nhưng chi phí vật liệu cao, trọng lượng của một số kim loại nặng, do đó thường sử dụng cho các loại sản phẩm đặc biệt: dễ cháy, nổ, dễ bay hơi, chất độc hại, sản phẩm dạng lỏng.Ví dụ: xăng, dầu, ôxy, hyđrô khí nén, thuốc trừ sâu... Bao bì kim loại có khả năng sử dụng nhiều lần. (Hình 1.3.2h) Các kim loại thường dùng là kim loại đen, nhôm đồng… Kim loại có ưu điểm là kín, không sợ ẩm thấp, không sợ cháy, cho nên nó được dùng để bao gói những loại sản phẩm dễ bốc cháy, có độ bốc hơi lớn, có chất độc hại ở trạng thái hơi (khí nén hoặc lỏng). Chất liệu này cũng có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ sản phẩm chống những va đập từ bên ngoài trong quá trình vận chuyển và sự xâm nhập hoá học gây lên men làm hỏng chất lượng thực phẩm như đồ hộp, sữa, bánh… (Hình 1.3.2i) • Chất liệu bằng chất dẻo: Tiêu biểu là nilon, nhựa cứng, có loại trong suốt, có loại có màu đục tuỳ theo yêu cầu của nhà sản xuất. Loại chất liệu này được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến bởi giá thành rẻ, gọn nhẹ, không mùi vị, không gây ẩm mốc, dễ đóng gói và có thể tạo ra bất cứ hình dáng mong muốn nào. Hiện nay, bao bì bằng chất liệu này có mặt ở rất nhiều nơi: tại các chợ, cửa hàng, siêu thị… Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là chịu xóc, va đập kém nên gây khó khăn trong vận chuyển. Bao bì dễ bị xước, nếu để dưới ánh nắng, ánh sáng mạnh có toả nhiệt sẽ làm cho bao bì nhanh bị giòn đục, thậm chí biến dạng. Chất dẻo cũng rất khó tiêu huỷ, làm ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường. Do đó, các nhà khoa học đang cố gắng tìm một chất liệu thay thế an toàn cho môi trường hơn. Bởi sự tiện dụng của nó mà chất dẻo có tính ứng dụng rất cao, đặc biệt đối với bao bì hàng thực phẩm: bánh kẹo, rau quả hay đối với hàng dược phẩm, hoá mỹ phẩm: dầu gội, sữa tắm, sữa rửa mặt…Khi kết hợp chất liệu này (mica mỏng) với các loại chất liệu khác (giấy bìa cactông) sẽ tạo được hiệu quả thẩm mỹ rất cao đối với các sản phẩm cần tạo cửa sổ như bút màu, son phấn…(Hình 1.3.2j, hình 1.3.2k, hình 1.3.2l) • Các loại chất liệu khác Ngoài ra, để phục vụ cho ý tưởng của nhà thiết kế, chất liệu bằng hàng dệt: là các loại sợi đay, gai , vải, sợi nylon. Đây là loại bao bì mềm, thường chứa đựng các loại sản phẩm dạng hạt rời (được sử dụng chứa đựng loại hàng rời như gạo, muối, ngô…). Loại này có độ bền nhất định, dễ chất xếp nhưng dễ bị côn trùng gặm nhấm và gây bụi bẩn. Chất liệu bằng mây, nứa, tre đan: bao bì này thường ở các dạng giỏ, lẵng, thúng, rổ. Đây là loại bao bì nửa cứng, nguồn vật liệu dồi dào, sản xuất đơn giản, tiện lợi trong sử dụng (được đan thành các loại sọt, lẵng, giỏ…). Bao bì này thường để vận chuyển, chứa đựng sản phẩm rau quả và một số sản phẩm khác.Rất được ưa chuộng đối với nhiều loại sản phẩm mang tính truyền thống.Đây là loại chất liệu có sẵn trong thiên nhiên Việt Nam, dễ sản xuất, dễ sử dụng.Tuy nhiên, độ bền không lớn là nhược điểm của chất liệu này. Trên thế giới, chất liệu da cũng được sử dụng trong thíêt kế là hòm đựng, túi xách tạo sự sang trọng, thời trang lịch lãm… Đơn cử như hãng Louis Vuitton (LV) chuyên sản xuất các loại đồ da tạo được uy tín trên thị trường thế gới. Với nhãn hiệu LV, người viết cho rằng chất liệu da cũng là một yếu tố maketing trong thương hiệu. (Hình 1.3.2m, hình 1.3.2n, hình 1.3.2o) Trong thiết kế bao bì, vai trò của người thiết kế được đánh giá cao bởi nhưng hiểu biết kinh nghiệm của họ trong quá trình tìm kiếm chất liệu. Những câu hỏi luôn được đặt ra cho những nhà thiết kế là: sử dụng loại chất liệu sao cho vừa đảm bảo được an toàn, phù hợp với sản phẩm mà vẫn tạo được vẻ đẹp cho sản phẩm. Tính an toàn của bao bì cũng bao gồm cả việc đảm bảo vệ sinh môi trường. Khi đưa ra một chất liệu bao bì, nhà thiết kế cũng phải chú trọng tới vấn đề này. Song, cho dù được thiết kế bằng chất liệu gì, bao bì vẫn phải đảm bảo được tính thuận tiện trong quá trình in ấn, tính hiệu quả, khoa học và giá trị thẩm mỹ của mỗi sản phẩm. 2. CHƯƠNG2: VAI TRÒ CỦA MÀU SẮC VÀ CHẤT LIỆU TRONG THIẾT KẾ BAO BÌ 2.1. Màu sắc trong thiết kế bao bì Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các hãng, các công ty, các sản phẩm ngày càng trở nên quyết liệt, nó quyết định sự sống còn của mỗi sản phẩm, công ty đó.Thông qua bao bì, các nhà sản xuất đã tiếp cận với người tiêu dùng một cách trực tiếp và nhanh nhất. Màu sắc tạo ra sự thu hút thị giác rất lớn. Có thể nói, nó là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc thu hút khách hàng. Bởi vậy, ứng dụng của màu sắc vào bao bì luôn được các nhà thiết kế không ngừng quan tâm, tìm tòi và ứng dụng. Để thiết kế được một bao bì nhãn mác đẹp, đòi hỏi người hoạ sỹ thiết kế phải có những hiểu biết thấu đáo về màu sắc.Bản thân màu sắc mang rất nhiều ý nghĩa, liên tưởng về cảm xúc khác nhau, cho nên nó rất thuận lợi cho các nhà thiết kế ứng dụng vào từng lĩnh vực sản phẩm hàng hoá. Trong thiết kế bao gói phục vụ sản phẩm ăn uống, các tông màu nâu, vàng, đỏ, cam, trắng hay được sử dụng bởi nó tạo cảm giác hấp dẫn, sạch sẽ, ngon miệng. Trong lĩnh vực này, thì các màu sắc mang sắc thái tự nhiên, gần gũi với sản phẩm, đặc biệt trở thành thế mạnh. Ví dụ: khi thiết kế bao bì cho sản phẩm sữa, bao bì thường có màu trắng ngà, bao bì nước hoa quả thường có màu cam, vàng chanh, đỏ, giống như màu sắc của trái cây đó. Hay khi sản phẩm là kẹo sôcôla, thì bao bì lại được phủ một màu nâu đậm, đem tới cảm giác ngọt ngào, đậm đà. Với các sản phẩm của ngành y tế, thì màu sắc bao bì cần phải được đơn giản để tạo cảm giác an toàn, tin cậy cho khách hàng, tránh việc sử dụng nhiều màu sắc rực rỡ, loè loẹt, vì nó có thể gây hiểu nhầm cho khách hàng. Các tông màu thường được sử dụng trong lĩnh vực này là xanh lục, lơ, đỏ vàng… Còn trong lĩnh vực hàng mỹ phẩm thì sao? Các chuyên gia thiết kế luôn lựa chọn những tông màu nhẹ như tím, hồng, xanh nhạt… cho mặt hàng này, bởi vì nó tạo được cảm giác lôi cuốn, quyến rũ uyển chuyển, nhẹ nhàng, đầy sang trọng. Sản phẩm cho ngành thể thao thì ngược lại với tính chất khoẻ khắn, năng động, bao bì trong lĩnh vực này cần những màu rực rỡ, đối lập, chói gắt đặt cạnh nhau tạo nên sự tương phản mạnh mẽ. Các màu hay được sử dụng là: tím, vàng, đỏ, đen, xanh… tượng trưng cho những yếu tố được coi trọng hàng đầu trong thi đấu, khẳng định sự tự tin, mạnh mẽ, táo bạo… Bao bì chứa các sản phẩm công nghiệp như TV, tủ lạnh, máy tính thường lớn, vỏ hộp phải cấu tạo vững chãi.Việc sử dụng những tông màu ghi kết hợp với màu của bao bì sẽ tạo thuận lợi trong quá trình in ấn và gia công sản phẩm, đồng thời cũng tránh cho sản phẩm bị nặng nề bởi màu sắc choáng ngợp, sặc sỡ. Việc sử dụng những mảng màu đơn giản như: xanh, ghi, đen, đỏ… sẽ đem lại cho những sản phẩm này một sự rõ ràng, mạch lạc, đầy chất công nghiệp. Màu sắc đem lại cho con người nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau (vui, buồn, trẻ trung, sôi nổi). Các lứa tuổi khác nhau cũng có những sở thích, cảm nhận màu sắc khác nhau.Bởi vậy, khi thiết kế bao bì, việc sử dụng màu sắc còn biểu đạt tâm tư, tình cảm đối với người tiêu dùng. Tuỳ theo từng trường hợp mà lựa chọn cho hợp lý. Trẻ em thường thích những màu sắc rực rỡ, vui tươi.những sắc màu tươi sáng thường giúp trẻ phát triển trí óc và khả năng sáng tạo. Với độ tuổi thanh niên thì màu sắc phải trẻ trung, sôi động, hưng phấn, đặc biệt là các màu nóng như đỏ, hay các màu chói hoặc xanh tươi thường phù hợp với thị hiếu trẻ trung, mới lạ của lứa tuổi này. Người cao tuổi thì ngược lại, họ thường có sở thích ổn định nên thương lựa chọn những màu trầm tối như nâu, nâu đen vì nó mang lại cảm giác tĩnh lặng, suy tư. Đa số đối với phái nữ thì những màu tím nhạt, hồng phấn là lựa chọn hàng đầu vì nó đem tới cảm xúc lãng mạn, hẹ nhàng.Còn đối với phái nam, thì bao bì thường sử dụng màu xanh đậm, đỏ đun… bởi nó tượng trưng cho sức mạnh và nam tính. Màu sắc bao bì có thể tác động rất lớn đến nhận thức của khách hàng, mỗi sản phẩm đều có liên hệ nhất định với màu sắc nào đó, nhất là các sản phẩm nổi tiếng thường được nhớ tới và đựơc nhận ra qua dấu hiệu chủ yếu là màu sắc. Các quý bà nội trợ, các bà nhớ tới cái gì khi nhắc đến bột ngọt Ajinomoto? Chắc hẳn câu trả lời sẽ là: “chỉ có hiệu tô đỏ”. Còn các quý ông, điều gì khiến các ông nhớ nhất khi chúng ta nói về hãng bia Heiniken, một hãng bia hàng đầu thế giới? Phải chăng chính là ở màu xanh của những cái chai? Màu sắc trong bao bì là yếu tố quan trọng tạo dựng nên giá trị thương hiệu của công ty.Nó còn giúp người tiêu dùng nhận biết, đánh giá, phân loại sản phẩm để từ dó có những quyết định lựa chọn cho mình. Ví dụ: cùng là sản phẩm film chụp ảnh, nhưng nhìn thấy màu vàng, khách hàng sẽ biết đó là film của hãng Kodak, nhìn màu xanh, khách hàng sẽ biết là sản phẩm film của hãng Fuji. Lấy một ví dụ khác với nước giải khát có ga thì Cocacola có màu bao bì ấn định là màu đỏ, Fanta là màu cam, còn Sprite lại là màu xanh. Sự biến tấu trong màu sắc thể hiện sự độc đáo của sản phẩm sẽ đem đến cho nhà sản xuất sự thành công trong chiến lược quảng cáo, mà ở đó màu sắc trong bao bì đã trở thành những câu khẩu hiệu ”Ajinomoto: chỉ có hiệu tô đỏ”, hay: “Enlene trắng cho con, còn Enlene vàng cho mẹ”. Không những thế, màu sắc còn mang tính quy ước thể hiện quy cách cho sản phẩm.Các hãng thuốc lá đã lấy màu xanh tự nhiên hay xanh nhạt để quy định cho loaị thuốc nhẹ có vị bạc hà, các hãng rượu nổi tiếng lấy màu nâu đậm hay đen tuyền để quy định cho những loại rượu nặng. Việc thay đổi mẫu mã hàng hoá là rất cần thiết nhưng những công ty giàu kinh nghiệm tối kỵ thay đổi màu sắc đột ngột trên bao bì, nhãn mác hay màu sắc sản phẩm.Duy trì một loại màu sắc nhất định có liên hệ mật thiết với lòng tin của khách hàng đối với công ty. Mọi người tìm đến cái đẹp thông qua màu sắc.Các nhà sản xuất đáp ứng thị hiếu làm đẹp thông qua màu sắc. Tuy nhiên, màu sắc trong bao bì không chỉ làm cho sản phẩm nổi bật, thu hút sự chú ý của mọi người mà nó còn có nhiệm vụ kết nối các mặt với nhau (đối với sản phẩm đồ hộp), tạo nên bố cục chặt chẽ, vững chắc cho sản phẩm. Bao bì là phần che chắn, bảo vệ cho sản phẩm.Chính vì thế, nhiệm vụ của bao bì còn là nêu bật nội dung, giới thiệu cho khách hàng sản phẩm bên trong nó. Có nhiều cách để thể hiện: Dùng hình ảnh minh hoạ là biện pháp đạt hiệu quả rõ ràng, chính xác nhất. Tuy nhiên, nó chỉ như một dạng mô phỏng cứng nhắc, gây hiệu qủa thẩm mỹ thấp (vỏ hộp mì có hình bát mì). Dùng màu sắc biểu cảm của sản phẩm kết hợp với những hình ảnh đặc sắc để gợi cảm giác nói lên tính chất của sản phẩm.Nó tạo được hiệu quả thẩm mỹ cao bởi sự chủ động sử dụng màu sác cũng như ý đồ của người thiết kế. Ví dụ: giấy gói màu hồng cho kẹo dâu, màu trắng ngà cho kẹo sữa, màu nâu cho kẹo sôcola… Dùng phương pháp tạo khoảng trống hay còn gọi là cửa sổ trong thiết kế bao bì, để lộ những sản phẩm bên trong. Phương pháp này sử dụng được với những sản phẩm có kiểu dáng, màu sắc độc đáo, hấp dẫn, chịu được ánh sáng (ví dụ: vỏ hộp bút chì màu, vỏ hộp mỹ phẩm…) Màu sắc bao bì cũng có nhịp điệu, trạng thái nên đôi khi ở từng thiết kế, màu sắc có chỗ chói chang rực rỡ, song cũng có những khoảng màu lặng được coi là khoảng nghỉ mắt.Trong những trường hợp như vậy, thì những mảng đen trắng và những sắc màu êm dịu được sử dụng nhiều hơn cả. Trang web www. Cacoloun.comrescarsoh.html cho rằng tất cả mọi người đều có sự đánh giá trong tiềm thức về một môi trường, một người, một vật nào đó trong vòng 90 giây đầu tiên và khoảng 62 đến 90% củaviệc đánh giá đó chỉ dựa trên màu sắc. Màu sắc với thế mạnh của mình đã trở thành đối tượng sử dụng quan trọng của nhà thiết kế. Hơn ai hết, người thiết kế cần phải hiểu rõ tính biểu cảm của màu sắc để cân nhắc, sử dụng màu sắc sao cho hợp lý nhất. Những câu hỏi thường xuyên được đặt ra là:thiết kế cho sản phẩm gì?phục vụ cho đối tượng nào?và màu sắc thiết kế phải sử dụng như thế nào? Màu sắc trên bao bì phải đạt được sức căng, tạo được nhịp điệu phải có sự liên kết với hình với chữ trên cùng một thiết kế, phải ấn định được nó trong một tổng thể chung. Có như vậy, ta mới xây dựng được một bao bì mang giá trị thẩm mỹ cao trở thành biểu tượng cho mỗi thương hiệu. Với vai trò to lớn như vậy, màu sắc chính là phần hồn sáng tạo nên vẻ đẹp trong thiết kế bao bì sản phẩm 2.2. Chất liệu trong thiết kế bao bì Từ thời xa xưa, con người đã biết đến bao bì. Tuy nhiên, bao bì lúc đó chỉ đơn thuần là cái vỏ bọc bên ngoài, chất liệu còn thô sơ, chưa có sự tìm tòi sáng tạo mà chủ yếu được lấy sẵn từ thiên nhiên như vỏ cây, lá cây, da thú gói bọc sơ sài, vụng về…. Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ vật liệu, chất liệu bao bì ngày càng trở nên phong phú, cải tiến và được ứng dụng rộng rãi, đạt hiệu quả cao về thẩm mỹ cũng như kinh tế. Bao bì là một phương tiện có chức năng bảo vệ hàng hoá chống lại những ảnh hưởng có hại trong suốt cuộc hành trình lưu thông, phân phối từ khu vực sản xuất đến khu vực tiêu dùng. Trong qúa trình đó, hàng hoá thương phẩm chịu rất nhiều yếu tố tác động bên trong lẫn bên ngoài làm ảnh hưởng đến giá trị chung và giá trị sử dụng của nó. Vì vậy, ngay từ khâu sản uất, những biện pháp nhằm làm cho hàng hoá không bị mất mát về chất lượng lẫn số lượng phải được nghĩ tới.Đấy chính là chức năng quan trọng nhất của bao bì mà chức năng này lại phcụ thuộc rất nhiều vào chất liệu tạo ra chúng. Chất liệu rất quan trọng trong thiết kế bao bì, mỗi loại sản phẩm tuỳ theo tính chất, ý đồ của nhà thiết kế mà sẽ được sử dụng những loại chất liệu bao bì khác nhau. Để bảo quản các loại dầu mỡ, cần những loại bao bì ít xốp nhất vì dầu mỡ dễ thấm qua bao bì gây hao hụt.Các loại đồ hộp cần những bao bì kín, còn đối với các loại rau quả, khi bảo quản còn diễn ra quá trình sinh hoá cần để trong những bao bì có thể thông khí được.Chính vì thế, khi tạo dáng, thiết kế, nhà sản xuất và người hoạ sỹ phải lựa chon chất liệu có những yếu tố phù hợp với mặt hàng mình định bao gói. Về mặt cấu trúc, chất liệu sẽ tạo được bộ khung, bộ xương cho bao bì.Hình dáng của bao bì được quyết định bởi chất liệu. Về mặt thẩm mỹ và kinh tế: Bao bì phục vụ hoạt động thương mại gắn liền với quá trình sản xuất, in ấn. Vì vậy, tìm hiểu những chất liệu phục vụ hoạt động trong lĩnh vực thiết kế bao bì sẽ giúp người hoạ sỹ có một cái nhìn toàn diện về công việc của mình và có những sáng tạo không ngừng nhằm nâng cao chất liệu bao bì mà vẫn có thể hạn chế được giá sản phẩm. Không những thế, chất liệu cũng là một trong những yếu tố vật chất biểu đạt tình cảm rất lớn. VD: cùng là giấy gói hàng, nhưng loại giấy nhám, sần lại đem đến cho ta cảm giác khác hẳn với loại giấy trơn nhẵn… Mỗi loại chất liệu có ngôn ngữ biểu đạt cảm giác riêng, đó chính là những ưu điểm mà chất liệu đem lại trong thiết kế bao bì. Đến nay, con người vẫn không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra chất liệu phục vụ cuộc sống. 2.3. Ứng dụng màu sắc và chất liệu trong thiết kế bao bì ở một số công ty 2.3.1.Ứng dụng màu sắc của công ty Ajinomoto Cùng với cuộc sống hiện đại, nhu cầu thẩm mỹ của công chúng ngày càng được nâng cao.Để đáp ứng thị hiếu thẫm mỹ đó, việc thay đổi bao bì nhãn mác sao cho đẹp là điều cần thiết, là quy luật tất yếu của sản xuất hàng hoá. Việc xây dựng những biểu tượng màu sắc trong thiết kế sản phẩm không nằm trong quy luật chung đó. Bao bì sản phẩm bột ngọt Ajinomoto hay “chỉ có hiệu tô đỏ” đó là biểu tượng màu sắc mà Ajinomoto xây dựng. Màu sắc đó không hề thay đổi theo thời gian, sắc đỏ thể hiện sự vững bền của công ty và của sản phẩm. Đó là vẻ đẹp không thay đổi, nó ăn sâu vào tâm trí của những thế hệ tiếp theo, từng bước nhịp nhàng cùng con người bước vào kỷ nguyên mới. Từ đó, nhà sản xuất như muốn nói chất lượng của sản phẩm thật tuyệt vời, nó sẽ tồn tại với thời gian.Tùy từng tiêu chí đưa ra của nhà sản xuất mà màu sắc trong sản phẩm có sự thay đổi. Ta có thể bắt gặp trên thị trường những biểu tượng màu như trên: đó là biểu nhãn vàng của chè Lipton, màu đỏ của Coca Cola…(Hình 2.3.1a, hình 2.3.1b) Xây dựng biểu tượng màu sắc là một hình thức quảng cáo hữu hiệu nhất cho mỗi một sản phẩm.Đó là hình thức không mấy dễ dàng cho nhà sản xuất bởi rất nhiều yếu tố tác động.Cùng với thời gian, sản phẩm phải được người tiêu dùng chấp nhận, nên khi chọn màu biểu tượng đòi hỏi người họa sỹ phải có tầm nhìn sao cho màu sắc đó luôn mới mẻ, hiện đại trong con mắt của người tiêu dùng. 2.3.2.Vài nét về công ty mì Miliket Miliket là một công ty kinh doanh mì ăn liền, cung ứng trong cả nước và xuất khẩu ra nước ngoài.Công ty sản xuất và kinh doanh các mặt hàng lương thực thực phẩm chế biến bún, gạo, cháo ăn liền, phở, miến, mì các loại….hiệu MILIKET. Ngoài ra, công ty cũng sản xuất thùng carton, bao bì giấy phục vụ cho đóng gói sản phẩm của công ty. Sản phẩm mì Miliket luôn được tín nhiệm, nhiều loại mì được tặng thưởng huy chương vàng các kỳ hội chợ, triển lãm, nhiều năm liền được bầu chọn vào TOPTEN và Hàng Việt Nam chất lượng cao.Hiện nay công ty đã tổ chức được hơn 600 mạng lưới phân phối khắp cả nước, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng trong nước và xuất khẩu sang một số thị trường như Đông Âu, Châu Âu, Châu Á…(Hình 2.3.2a, hình 2.3.2b) 2.3.3.Nội dung bài thể hiện Để khuếch trương thương hiệu và ngày càng đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hoá, đòi hỏi phải có sự đầu tư vào thiết kế quảng cáo, đặc biệt là thiết kế bao bì để có thể tiếp cận với khách hàng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Thiết kế quảng cáo cho Miliket cần phải hiểu đặc trưng, phương thức hoạt động và chiến lược trong kinh doanh của công ty. Việc tìm hiểu về các yếu tố trong thiết kế bao bì, đặc biệt là màu sắc và chất liệu đã cho người viết những kiến thức bổ ích, không những giúp công việc thiết kế bao bì cho công ty Miliket được thuận lợi mà còn thu được những kết quả nhất định trong hệ thống sản phẩm đặc trưng của đồ hoạ quảng cáo . Với đặc trưng là một công ty sản xuất lương thực, để thể hiện được tính ngon lành, hấp dẫn, người làm đã chọn hai màu đỏ và vàng là gam màu nóng làm sắc màu chủ đạo xuyên suốt cụm bài. Khi bắt tay vào đề tài, ngư¬ời làm đã đặt ra câu hỏi : Làm cho sản phẩm gì? Phục vụ cho đối tượng nào?Và làm như¬ thế nào? Từ đó đư¬a ra những nhận định về tính thực tiễn của đề tài, tìm ra đ¬ược các phư¬ơng án thiết kế logo, áp phích, bao bì và các phần phụ kiện khác sao cho phù hợp với ý tưởng và mong muốn mà đề tài đ¬ặt ra. • Thiết kế logo ( biểu trưng ) Logo là những tín hiệu, kí hiệu có chức năng thông tin thể hiện một đối tượng hoặc một ý niệm nào đó trong cuộc sống, diễn đạt nội dung bằng ngôn ngữ ước lệ, ẩn dụ.Trong hoạt động của bất kỳ một công ty sản xuất hay tổ chức nào, logo cũng giữ vai trò nh¬ư một hình ảnh đặc tr¬ưng, xuyên suốt nên thiết kế logo là bư¬ớc đi quan trọng hàng đầu đối với nhà thiết kế. Có nhiều dạng logo: logo có cấu trúc bằng chữ cái; logo có cấu trúc bằng tên hãng; cấu trúc bằng chữ tắt; cấu trúc bằng hình ảnh ẩn dụ, ký hiệu; cấu trúc tổng hợp. Logo đ¬ược thiết kế phải tuân theo các điều kiện sau: • Phải thích hợp về mặt văn hoá. • Một logo phải chứa đựng hình ảnh mong muốn và bộc lộ bản chất các hoạt động của công ty và thể hiện các mục tiêu th¬ương mại của tổ chức mà nó biểu tr¬ưng . • Phải là một phư¬ơng tiện thông tin về thị giác. • Phải cân bằng về thị giác (bằng màu sắc). • Logo thể hiện nhịp điệu tỷ lệ. • Phải hài hoà về mặt kiểu dáng. • Phải mang tính mỹ thuật, thanh nhã, chân ph¬ương và có một tiêu điểm . • Cần bao gồm những mẫu tự thích hợp để góp phần thể hiện ý đồ thông điệp một cách hợp lý và minh bạch. Áp dụng những kiến thức trên, người thiết kế đã sử dụng chính tên của công ty để nghiên cứu ,cách điệu, làm thành logo cho công ty mì Miliket .Nhằm nói lên tính chất đặc trưng của công ty là chuyên sản xuất lương thực, người thiết kế đã đưa màu đỏ vào logo, nhằm gợi sự ngon miệng, hấp dẫn cho người xem. Trong một tổng thể gồm các chữ đặt ngay ngắn của cụm từ “Miliket”, thể hiện cho sự nghiêm túc trong kinh doanh , sản xuất của công ty, ngưòi viết đã cách điệu chữ “e” giống như một sợi mì mang màu vàng, được lấy từ màu của chính sản phẩm làm điểm nhấn, như một tín hiệu gợi cho ngưòi xem nhận ra đặc trưng của công ty. KẾT LUẬN Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các công ty, thương hiệu, sản phẩm ngày càng trở nên gay gắt.Điều đó đã thúc đẩy thiết kế đồ hoạ, đặc biệt là thiết kế bao bì trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại.Tạo dáng cho bao bì là một phần không thể thiếu trong công việc thiết kế của các hoạ sỹ MTCN.Những sản phẩm đẹp, có chất lượng cao là những sản phẩm mang hoạ, tiết màu sắc, hình dáng, kích thước phù hợp với sở thích, lứa tuổi của người tiêu dùng. Trong bất cứ trường hợp nào, cái đẹp cũng luôn luôn phải phù hợp với quy luật khách quan và nhu cầu xã hội.Vì vậy, thẩm mỹ thiết kế của người hoạ sỹ MTCN chính là cảm nhận cái đẹp của mọi tầng lớp người tiêu dùng. Quá trình nghiên cứu đề tài Màu sắc và chất liệu những yếu tố quan trọng trong thiết kế bao bì là một quá trình lao động sáng tạo, đòi hỏi vận dụng những hiểu biết, những kiến thức về nhiều mặt. Với niềm say mê, yêu thích công việc thiết kế và nghiên cứu những yếu tố đồ hoạ, sinh viên muốn tạo đ¬ược sự mới mẻ trong cách nhìn nhận và đánh giá về tính thẩm mỹ cũng nh¬ư công năng của bao bì trong đời sống. Đồng thời, nêu lên vai trò của nó trong việc tiếp thị và khuyếch tr¬ương thư¬ơng hiệu sản phẩm, khẳng định vai trò to lớn của nhà thiết kế trong quá trình sáng tạo để đ¬ưa tới ng¬ười tiêu dùng những giá trị đích thực của bao bì. Trong quá trình viết lý luận và thực hiện đồ án, sinh viên đã vận dụng những kiến thức đư¬ợc học tập trong bốn năm qua để đư¬a vào cụm bài và rút ra đư¬ợc nhiều kinh nghiệm trong công tác chuyên ngành. Do hạn chế về nhiều mặt nên cụm bài tốt nghiệp sẽ có những thiếu sót khi thể hiện, vì thế, sinh viên rất mong nhận được sự quan tâm đánh giá và nhận xét của các thầy cô, bạn bè để phục vụ tốt hơn cho công việc sau này. C. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Uyên Huy (2009), “ Màu sắc và phương pháp sử dụng”, Nxb Lao Động – Xã Hội (trang 30) 2.Nguyễn Duy Lẫm – Đặng Ngọc Bích Ngân (2007), “Màu sắc”, Nxb Mỹ Thuật – Hà Nội (trang 15) 3.Joe Grimaldi Etal (2008), “Nghệ thuật quảng cáo – Bí ẩn của sự thành công”, Nxb Lao Động – Xã Hội 4.Nh¬ư Thiết (1986), “Đư¬a cái đẹp vào cuộc sống”, Nxb Sự thật – Hà Nội 5.Alex W. White (2011), “The Elements of Graphic Design”, Allworth Press New York 6.Johannes Itten (1997), “The Art of color”, 7. Jenn David Connolly (2011) , “ Các kết nối màu Flavor”, “Graphic design USA”, số 14 8.http:d.violet.vnuploadspreviews599919643preview.swf 9. www.thietke.websitehocthietkeweblayouttypographycobanvenghethuatsapdatchutypography PHỤ LỤC HÌNH ẢNH H.1.2.1a Vòng màu phổ quang Hình 1.2.2a Sắc độ từ đen chuyển sang trắng Hình 1.2.2b Tính đối sánh của màu Hình 1.3.2a Nguồn: http:www.desig
Xem thêm

38 Đọc thêm

tài liệu makeetting thời trang

TÀI LIỆU MAKEETTING THỜI TRANG

Thời trang MD được cảm nhận và thăng hoa từ chất lãng mạn và phóng khoáng, từ sự trẻ trung và hiện đại , từ sự năng động và nữ tính.. đó cũng chính là phong cách chủ đạo của thương hiệu. Các mẫu thiết kế của MD luôn mang đậm phong cách nhẹ nhàng và sự kết hợp hài hoà với các xu hướng mốt của năm đã tạo cho mỗi sản phẩm mang một nét cá tính riêng không bị trùng lặp. Không chỉ đem đến cho khách hàng những sản phẩm mang phong cách và kiểu dáng độc đáo mà còn giới thiệu đến khách hàng những sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất.Các mẫu thiết kế được kiểm duyệt kĩ càng từ khâu chọn chất liệu ,dựng mẫu và hoàn thiện.Chính vì thế , những sản phẩm đến tay khách hàng luôn là những sản phẩm tốt nhất.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Bài giảng môn Quản trị thương hiệu Đại Học Thương Mại

BÀI GIẢNG MÔN QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Bài giảng môn Quản trị thương hiệu Đại Học Thương Mại Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng màu sắc.

90 Đọc thêm

Nghiên cứu tìm hiểu về chiến lược 4p

NGHIÊN CỨU TÌM HIỂU VỀ CHIẾN LƯỢC 4P

Người tiêu dùng Myanmar thích hoa quả và bánh kẹo có độ ngọt cao,vì vậy các sản phẩm xuất sang thị trường này được tăng thêm độ ngọt để thích nghi với “gu” của người tiêu dùng Myanmar.Bao bì của sản phẩm với thiết kế sang trọng bắt mắt mang đặc trưng của thương hiệu sanest, đặc biệt chú trọng đến màu sắc bao bì nhất là màu vàng vì đây là màu đặc trưng của ngôi Chùa Vàng vốn là nét đặc trưng trong tín ngưỡng của người Myanmar, đồng thời với ngôn ngữ quốc tế .sản phẩm được đa dạng trong đóng gói để mang lại nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng.Chất lượng sản phẩm cần cải tiến hơn nữa, giới thượng lưu Myanmar rất sẵn lòng chi trả cho những sản phẩm có chất lượng và việc sử dụng những nguyên liệu bổ dưỡng hơn sẽ được sử dụng cho sản phẩm bánh yến và yến lọ khi xâm nhập thị trường này.2. Giá.Để phục vụ cho chiến lược thâm nhập thị trường của công ty thì chiến lược định giá cao được xem là phù hợp nhất với những lý do sau:Xây dựng nhận thức về chất lượng sản phẩm và thương hiệu đối với sản phẩm dinh dưỡng cao cấp.Sức cạnh tranh của sản phẩm tương tự trên thị trường còn thấp Nhu cầu của người tiêu dùng cao nhưng thị trường hàng hóa còn hạn hẹp.Đảm bảo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, để có thể bù đắp cho chi phí nguyên liệu tốt nhất có giá cao và chi phí vận chuyển tương đối cao.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế Chiến lược kinh doanh sản phẩm phân bón trên thị trường Miền Bắc của Công ty Cổ phần Tổng Công ty Sông Gianh

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH SẢN PHẨM PHÂN BÓN TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY SÔNG GIANH

Công ty Cổ phẩn Tổng Công ty Sông Gianh (SOGICO) nằm trong nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất kinh doanh phân bón. Sản phẩm truyền thống và chủ đạo của SOGICO chính là phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh. Đứng trước những thách thức, cơ hội trên thị trường phân bón hữu cơ sinh học hiện nay, với thế mạnh là doanh nghiệp đi đầu trong công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học. SOGICO đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển trong thời gian tới cũng như phát triển thương hiệu phân bón hữu cơ Sông Gianh vượt qua được các đối thủ cạnh tranh trong ngành đòi hỏi SOGICO phải hoàn thiện, nâng cao hiệu suất chiến lược kinh doanh phù hợp. Liên tục phát triển chiến lược kinh doanh để đối mặt với môi trường kinh doanh diễn biến phức tạp, khó lường. Với thực trạng trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:“ Chiến lược kinh doanh sản phẩm phân bón trên thị trường Miền Bắc của Công ty Cổ phần Tổng Công ty Sông Gianh”
Xem thêm

87 Đọc thêm

Đề án kinh doanh mặt hàng Greenday Tobi

ĐỀ ÁN KINH DOANH MẶT HÀNG GREENDAY TOBI

“Green Tobi ” hình thành trên ý tưởng muốn tạo ra một thương hiệu đồ chơi đặc trưng mang nét văn hóa truyền thống Việt Nam : những mẫu búp bê áo dài, búp bê mặc áo tứ thân, búp bê dân ca quan họ Bắc Ninh, búp bê của gần 54 dân tộc Việt; dòng sản phẩm búp bê quà tặng: búp bê cặp đôi, búp bê cô dâu chú rể... Điểm đặc biệt nhất, tất cả các dòng sản phẩm búp bê đầu tiên của Green Tobi sẽ được nghiên cứu và ứng dụng trên chất liệu “giấy nghệ thuật kết hợp cói, rơm ” vừa mang nét mềm mại, nhẹ nhàng của sản phẩm, vừa đa dạng ở màu sắc thể hiện, mà còn rất gần gũi, thân thiện với môi trường. Sau đó, Green Tobi sẽ tiếp tục nghiên cứu để ứng dụng thêm trên chất liệu gốm và vải bền vững.
Xem thêm

9 Đọc thêm

PHONG THỦY PHÒNG KHÁCH CHO NGÀY TẾT

PHONG THỦY PHÒNG KHÁCH CHO NGÀY TẾT

Màu sắc của trần nên nhạt còn nền nhà lại có màu sắc đậm hơn để phù hợp với ý nghĩa "trời nhẹ, đất nặng".. Màu sắc trong phòng khách mang ý nghĩa chủ đạo, có tác dụng điều hoà tất cả màu[r]

6 Đọc thêm

Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến

CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN

Cảm hứng lãng mạn: + Thể hiện ở cái tôi tràn đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tô đậm cái phi thường, tạo ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ, tuyệt mỹ của núi rừng miền tây. + Bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến. + Sự hoang dại, bí ẩn của núi rừng và những hình ảnh ấm áp, thơ mộng. + Cảnh đêm liên hoan, cảnh sông nước như được phủ lên màn sương huyền thoại. - Tinh thần bi tráng: + Nhà thơ không che giấu cái bi, nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. + Người lính Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất mặc dù chịu mất mát, đau buồn. Cái chết cũng được tác giả bao bọc trong không khí hoành tráng. Trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc khác thường. - Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng hưởng với nhau để làm nên linh hồn, sắc diện của bài thơ, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

DIỄN TIẾN Ý TƯỞNG MÀU SẮC HAY HÌNH DÁNG

DIỄN TIẾN Ý TƯỞNG MÀU SẮC HAY HÌNH DÁNG

Màu sắc hay hình dáng ? Để làm rõ điều này, hãy cùng tôi điểm qua một vài logo nổi tiếng trên thế giới. Bắt đầu với logo của McDonald. Mặc dù logo chỉ đơn giản có mỗi chữ “M”, nó vẫn là logo dễ nhớ nhất khi so sánh với nhiều thương hiệu khác trên thế giới. Dưới góc độ tâm lý thị giác, màu vàng sử dụng cho logo có tác dụng kích thích sự thèm ăn nơi con người. Chẳng lạ gì khi phần lớn các nhà hàng hay quán ăn đều cố gắng sử dụng màu vàng trong logo của họ. Một điểm mạnh khác của màu vàng là nó có khả năng thu hút thị giác mạnh. Điều này càng giúp cho logo của McDonald trở nên hấp dẫn hơn trong mắt của thực khách. Vì vậy, thành công của logo McDonald phần lớn là dựa vào màu sắc của nó hơn là chính bản thân của logo.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Quan điểm tiếp cận thương hiệu. Yêu cầu trong thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu

QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN THƯƠNG HIỆU. YÊU CẦU TRONG THIẾT KẾ HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU

Quan điểm tiếp cận thương hiệu. Yêu cầu trong thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu.LỜI MỞ ĐẦUNgày nay sự cạnh tranh trên thị trường rất khốc liệt, các sản phẩm của các hãng ồ ạt ra đời. Để có thể đứng vững trên thị trường thì đòi hỏi các hãng không chỉ đơn thuần là sản xuất sản phẩm nữa mà còn phải cá biệt hóa sản phẩm của mình. Một sản phẩm có sự lạ mắt, độc đáo thì dễ dàng thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng. Ví dụ như sản phẩm kẹo chip chip của công ty bánh kẹo Hải Hà. Hướng đến tập khách hàng mục tiêu là trẻ em, công ty bánh kẹo Hải hà đã cá biệt sản phẩm của mình bằng hình thức tạo hình dáng, màu sắc, hương vị. sản phẩm để có thể tăng sự kích thích đối với trẻ em. Hay trên thế giới đã cho ra không ít những chiếc xe hơi có hình dáng kỳ lạ, “có một không hai”. Ai cũng mong muốn mình được sở hữu những vật dụng có duy nhất trên đời bởi điều này có thể làm tăng thêm giá trị bản thân. Khi một sản phẩm độc đáo ra đời, thường có thể tạo cho con người sự mong muốn có được sản phẩm đó. Và dù mong muốn có đạt được hay không thể đạt được thì sản phẩm đó cũng để lại trong tâm trí con người một ấn tượng sâu sắc. Từ đó có thể thấy hình thức tạo sự cá biệt trong hình dáng sản phẩm là một cách làm cho người tiêu dùng nhớ đến thương hiệu của mình rất tốt.Vì vậy, nhóm 1 đã thảo luận và đưa ra quyết định lựa chọn đề tài: Quan điểm tiếp cận thương hiệu. Yêu cầu trong thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu.Trong quá trình làm bài thảo luận, nhóm rất cố gắng để bài thảo luận tốt nhất, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi một vài sai sót mong nhận được sự ý kiến từ giảng viên và các bạn. Chương I: Quan điểm tiếp cận thương hiệu1.1. Khái niệm Thương hiệuThương hiệu là một hoặc một tập hợp các dấu hiệu để nhận biết, phân biệt sản phẩm, doanh nghiệp; là hình tượng về một loại, một nhóm hàng hóa, dịch vụ hoặc về doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng và công chúng.1.2. Những quan điểm tiếp cận thương hiệuQuan điểm 1: Thương hiệu là nhãn hiệu.“Nhãn hiệu” là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. (Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung 2009).Nhiều người thầm tưởng rằng thương hiệu và nhãn hiệu chính là một vì trên thực tế, thương hiệu và nhãn hiệu có mối quan hệ khá mật thiết với nhau.Từ đó đưa ra quan điểm thương hiệu chính là nhãn hiệu. Tuy nhiên, có thể nói thương hiệu rộng hơn nhãn hiệu. Bởi vì, nhãn hiệu là dấu hiệu hữu hình có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, các cá nhân với nhau. Thương hiệu không chỉ đơn thuần là các dấu hiệu phân biệt hàng hoá, dịch vụ mà cao hơn nhiều đó là hình ảnh về hàng hoá hoặc hình tượng về doanh nghiệp trong tâm trí của khách hàng, gắn liền với chất lượng hàng hoá và phong cách kinh doanh, phục vụ của doanh nghiệp.Sự nhầm lẫn (hay không rành mạch) giữa 2 khái niệm này xuất phát từ hai từ tiếng anh là “brand” nghĩa là thương hiệu và “trademark” nghĩa là nhãn hiệu. Cũng có người dịch “brand” là nhãn hiệu và “trademark” là thương hiệu. Trên thực tế thì Brand và Trademark cùng tồn tại song song với nhau. Ta thường gặp các cụm từ : “Building Brand”, “Brand Strategy”, “Brand Image”, “Brand Vision”, “Brand Management”… Chứ không gặp các cụm từ : “Building Trademark”, “Trademark Management”, “Trademark Vision”…Trademark – dùng trong pháp lý (TRIPS, BTA, Công ước Paris, luật Sở hữu trí tuệ các nước …) Brand thường được dùng trong marketing, quản trị doanh nghiệp…Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa như Innova, Camry…Xét về tính trực quan (phần nhìn thấy) thì thương hiệu và nhãn hiệu là tương đồng bởi chúng cùng được sinh ra thông qua một cái tên, một biểu tượng. Nhưng xét về nội hàm và chức năng thì chúng khác nhau, như Bitis vừa là nhãn hiệu, vừa là thương hiệu. Theo GS.TS Đặng Đình Đào bản chất của thương hiệu là nhãn hiệu sau khi được thương mại hoá, bởi khi hãng quyết định đưa một sản phẩm dịch vụ (SPDV) hoàn toàn mới ra thị trường, trước tiên hãng phải đặt tên (nhãn hiệu) cho nó đó để nhận biết và phân biệt với SPDV khác trên thị trường và đăng ký bản quyền với Cục Sở hữu Công nghiệp. Lúc này thương hiệu chưa có, sau quá trình thương mại hoá, ngày càng có nhiều người biết đến SP, DV của hãng, một phần của nhãn hiệu chuyển thành thương hiệu và khi nói về tên SP, DV của hãng người ta thường dùng thuật ngữ thương hiệu.Thương hiệu sinh ra còn thể hiện sức cạnh tranh của nhà sản xuất trên thị trường và như vậy nó được sinh ra bởi thị trường, khác với nhãn hiệu được sinh ra bởi nhà sản xuất. Bitis là một trong những hãng sản xuất giày dép rất thành công trong việc xây dựng thương hiệu mạnh. Bên cạnh đó, phần nội hàm của thương hiệu là tương đối rộng và phức tạp, nó không những bao gồm cả nhãn hiệu, mà còn hàm chứa cả các yếu tố như sở hữu trí tuệ.Một sự khác biệt nữa giữa hai khái niệm này là ngoài hai phần giống nhau là tên gọi (name) và biểu tượng (logo) thì thương hiệu thường có khẩu hiệu (Slogan) đi kèm, chẳng hạn như, Bitis Nâng niu bàn chân Việt, Henniken – Chỉ có thể là Henniken..vv.Đôi khi người tiêu dùng hoàn toàn có thể tin tưởng, lựa chọn hàng hóa dựa vào các dấu hiệu như hình ảnh, hình dáng bên ngoài, kết cấu của hàng hóa hoặc cách đóng gói cũng như sự đặc biệt của bao bì. Tuy nhiên quan điểm “Thương hiệu là nhãn hiệu” còn khá hẹp và chưa bao quát hết các dấu hiệu khác của thương hiệu.Quan điểm 2: Thương hiệu là nhãn hiệu đã được bảo hộ và đã nổi tiếng.Trước hết, ta thấy rằng để nhận biết nhãn hiệu được bảo hộ thì ta thường phải dựa vào những cơ sở pháp lý đã được quy định trong luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia còn để xác định thế nào là một thương hiệu nổi tiếng thì quả thực không phải dễ, nó đa số dựa vào sự cảm nhận chủ quan của khách hàng. Năm 2001, tại Nghị định số 062001NĐCP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63NĐCP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp thì vấn đề nhãn hiệu nổi tiếng mới được quy định. “...Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi...”. Quy định này đã nội luật hoá các quy định của điều ước quốc tế vào các văn bản pháp luật Việt Nam đồng thời cũng đánh dấu một bước tiến trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng. Tuy nhiên, Nghị định nêu trên chỉ đưa ra các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng. Điều này đã gây những khó khăn cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu chứng nhận nhãn hiệu nổi tiếng.Vậy vấn đề đặt ra là thương hiệu có phải bắt buộc là nhãn hiệu đã được bảo hộ và đã nổi tiếng không? Nhãn hiệu đã được bảo hộ sẽ giúp doanh nghiệp, cá nhân thể hiện quyền sở hữu đối với sản phẩm mình đăng ký. Nhãn hiệu nổi tiếng lại là một trong những thành quả đầu tư và là một tài sản có giá trị rất lớn của các doanh nghiệp sở hữu nó, đôi khi, nhãn hiệu nổi tiếng còn tạo ra thương hiệu cho mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, vì vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và đăng ký bảo đang là một vấn đề được rất nhiều các doanh nghiệp quan tâm và dày công xây dựng. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa đủ cơ sở để khẳng định thương hiệu là nhãn hiệu đã được bảo hộ và đã nổi tiếng. Vậy nếu nhãn hiệu của một sản phẩm đã được đăng ký bảo hộ nhưng chưa hoặc không nổi tiếng thì nó có được coi là thương hiệu hay ngược lại nếu sản phẩm được cho là đã nổi tiếng mà vẫn chưa đăng ký bảo hộ thì có phải chăng nó không phải là thương hiệu của doanh nghiệp,tổ chức hoặc cái nhân đó? Điều đó chứng minh chưa đủ cơ sở để khẳng định thương hiệu là nhãn hiệu đã được bảo hộ và đã nổi tiếng.Quan điểm 3: Thương hiệu là chỉ chung các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ.Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh donh mang tên gọi khác trong cùng một lĩnh vực kinh doanh (Khoản 21, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).Chỉ dẫn địa lý: là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vũng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (nó bao gồm các yếu tố về khí hậu, thổ nhưỡng, đại hình, đất đai, hay vũng lãnh thổ của quốc gia đó).Tên gọi xuất xứ: là một dạng của chỉ dẫn địa lý, cho biết nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, sản phẩm.Một vấn đề nảy sinh là sẽ xảy ra sự nhầm lẫn giữa tên thương mại và nhãn hiệu, bởi tên thương hiệu có thể được lấy từ phần phân biệt của tên thương mại. Tuy nhiên đây có thể xem là quan điểm được nhiều người ủng hộ hơn cả.Vì nó gần như đã bao hàm nhiều vẫn đề liên quan đến vấn đề phát triển thương hiệu như nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa ký, tên gọi xuất xứ. Tuy nhiên,ở quan điểm này cũng xuất hiện một số vấn đề như thương hiệu không chỉ gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức mà nó còn thể hiện là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức và nó còn là con số chênh lệch giữa giá bán và giá thành, là tổng hợp những phẩm chất của sản phẩm đối với người tiêu dùng.Nếu khẳng định rằng thương hiệu là chỉ chung các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ thì vô hình chung chúng ta đang đánh mất tầm khái quát của khái niệm thương hiệu và ý nghĩa vô cùng lớn của nó đối với doanh nghiệp với sản phẩm.Quan điểm 4: Thương hiệu là dành cho doanh nghiệp còn nhãn hiệu là dành cho hàng hóa.Thương hiệu chính là một phần của tên thương mại, dùng để chỉ hoặc gán cho doanh nghiệp. Ví dụ: Honda, Yamaha…. Thực tế đây là thương hiệu còn các dòng sản phẩm của Honda như Wave, Sh, Dream… mới được coi là nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiện một thực tế là có rất nhiều người hiểu theo quan điểm này.Điều này không đúng vì không thể khẳng định một hàng hóa không thể có thương hiệu hoặc một doanh nghiệp thì không thể có nhãn hiệu. Trong các hoạt động của doanh nghiệp nhằm phát triển thương hiệu thì có cả các hoạt động đưa nhãn hiệu của hàng hóa của doanh nghiệp đến gần hơn với khách hàng,đồng thời nó cũng chính là việc phát triển thương hiệu của sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp. Nếu xét đơn thuần về khía cạnh vật chất,nghĩa là nhận dựa vào tên gọi,logo thì nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu rất khó phân biệt. Khi nói đến thương hiệu người ta thường nói đến cả khẩu hiệu, nhạc hiệu mà gần như không cập nhật đến nhãn hiệu hàng hóa. Ví dụ, chúng ta chỉ cần nói “Nâng niu bàn chân Việt” là nghĩ đến ngay Biti’s. Đặc biệt,Thương hiệu và nhãn hiệu ĐƯợc dùng ở các ngữ cảnh khác nhau.Không thể khẳng định rằng Thương hiệu là dành cho doanh nghiệp còn nhãn hiệu là dành cho hàng hóa.Như vậy trong bốn quan điểm ở trên chúng ta đã thấy đươc một số sai lầm khi tìm hiểu về khái niệm thương hiệu. Đồng thời cũng chỉ ra được những vấn đề cần giải quyết khi chúng ta muốn tổng quát một khái niệm cụ thể về thương hiệu. Sau đây là định nghĩa mà một số tổ chức đã đưa ra về khái nhiệm thương hiệu:Theo Hiệp định các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) của WTO”, thương hiệu là bất cứ dấu hiệu nào hoặc sự kết hợp các dấu hiệu đó, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác, chẳng hạn từ ngữ, kể cả tên cá nhân, chữ số, hình vẽ và sự kết hợp các màu sắc cũng như bất kỳ sự kết hợp nào của các yếu tố đó”.Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả yếu tố kể trên để phân biệt một sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt sản phẩm đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.Ở Việt Nam hiện nay, thương hiệu là một thuật ngữ phổ biến trong marketing thường được người ta sử dụng khi đề cập tới : Nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu sản phẩm). Tên thương mại của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh(thương hiệu doanh nghiệp). Các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá.Bộ Luật Dân sự đã định nghĩa về Nhãn hiệu hàng hoá như sau: Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng màu sắc.Nghị định 542000NĐCP quy định về tên thương mại ở Điều 14: Tên thương mại được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau : Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được; Có thể phân biệt được chủ thể kinh doanh mang tên đó với các chủ thể kinh doanh mang tên khác trong lĩnh vực kinh doanh. Về Tên gọi xuất xứ hàng hoá, điều 786 Bộ luật dân sự quy định: Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.Tóm lại, từ những hạn chế và điểm đúng đắn từ các quan điểm về khái niệm thương hiệu chúng ta có thể hiểu : Thương hiệu một hoặc một tập hợp các dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm, phân biệt doanh nghiệp, là hình tượng về sản phẩm và doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng mục tiêu và công chúng. Thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài, tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong (cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp). Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. Giá trị của một thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho doanh nghiệp trong tương lai. Nói cách khác, thương hiệu là tài sản vô hình nhưng đem lại giá trị hữu hình cho doanh nghiệp.Chương II: Yêu cầu trong thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu.2.1. Các yếu tố cấu thành hệ thống nhận diện thương hiệuHệ thống nhận diện thương hiệu là cách thức mà thương hiệu có thể tiếp cận với khách hàng như: Logo công ty, slogan, card visit, bao bì, tem nhãn mác, biển bảng, băng rôn quảng cáo, các mẫu quảng cáo truyền thông; các vật phẩm và ấn phẩm hỗ trợ quảng cáo như tờ rơi, poster, catalogue, cờ, áo, mũ: các phương tiện vận tải; bảng hiệu công ty; các loại ấn phẩm văn phòng; hệ thống phân phối, chuỗi các cửa hàng và các hình thức PR, sự kiện khác.Hệ thống nhận diện thương hiệu được hình thành từ sự kết hợp sáng tạo các yếu tố hình ảnh và ngôn ngữ. Trong quá trình sáng tạo, hình ảnh và ngôn từ còn phải toát lên nét đẹp thẩm mỹ hàm ẩn trong đó.Khi truyền thông marketing trở thành một phần thiết yếu cho thành công trên thị trường, cả doanh nghiệp và nhà tư vấn thương hiệu nhận ra rằng không nên nghĩ đến các yếu tố thẩm mỹ của tài liệu truyền thông thương hiệu theo cảm tính. Thay vào đó, chúng ta phải học cách đánh giá đặc tính thẩm mỹ của thiết kế và nội dung lời viết theo hướng làm sao để chúng phục vụ tốt cho những mục tiêu marketing đã đề ra. Và nếu những mục tiêu marketing này được thu hẹp lại thành các mục tiêu truyền thông cụ thể thì chúng ta có thể dựa vào đó để đưa ra đánh giá hợp lý về các yếu tố như tên thương hiệu, câu định vị, mẫu logo, kiểu chữ thương hiệu, cách trình bày hoặc bất kỳ thành phần nào khác của các tài liệu truyền thông thương hiệu, xem chúng có theo sát hay chệch hướng mục tiêu truyền thông đã đề ra hay không.Mục tiêu của hệ thống nhận diện thương hiệu không chỉ là tạo sự nhận biết, sự khác biệt, thể hiện cá tính đặc thù doanh nghiệp mà còn nhắm đến việc tác động đến nhận thức, tạo cảm giác về quy mô của doanh nghiệp là lớn, tính chuyên nghiệp là cao của doanh nghiệp đối với khách hàng và công chúng.Để quy trình xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu hiệu quả, các mục tiêu phải được công bố thật rõ ràng và được duyệt trước khi bắt đầu bất kỳ công việc sáng tạo nào. Theo đó, đa số các công ty truyền thông marketing bắt đầu triển khai một tài liệu thường được gọi là “bản mô tả tiêu chí” mặc dù người ta có thể gọi tài liệu này bằng nhiều cái tên khác. Quy trình triển khai các bản mô tả tiêu chí có thể khác nhau, nhưng đối với hoạt động quảng cáo, tài liệu bán hàng, các sự kiện bán hàng hay các hình thức khác của tài liệu truyền thông mang tính chiến thuật, những yêu cầu chính của bản mô tả đều bắt nguồn từ kế hoạch marketing của doanh nghiệp.Tuy nhiên, khi xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu, chỉ duy nhất bản kế hoạch marketing là cần chuẩn bị. Bản mô tả tiêu chí có thể được mở rộng hơn nhiều và thường bao gồm kết quả từ những giai đoạn như nghiên cứu, chiến lược khác biệt hóa, cơ cấu quan hệ thương hiệu, và tính cách thương hiệu. Tất cả những giai đoạn này đều được hoàn tất trước khi các công việc sáng tạo bắt đầu.Do hệ thống nhận diện thương hiệu mang tính chiến lược và dài hạn, nên thiết lập các tiêu chí như thế là yêu cầu hết sức quan trọng đối với quá trình sáng tạo hệ thống nhận diện thương hiệu. Những yếu tố nhận diện như tên thương hiệu, logo, màu sắc, kiểu chữ và mẫu định dạng thương hiệu một khi được tạo ra, chúng sẽ được sử dụng trong hàng chục năm.2.2. Yêu cầu đối với các yếu tố cấu thành hệ thống nhận diện thương hiệu
Xem thêm

25 Đọc thêm

CẤU TRÚC THƯƠNG HIỆU APPLE

CẤU TRÚC THƯƠNG HIỆU APPLE

NỘI DUNG: CÁC BƯỚC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU APPLE BÀI HỌC KINH NGHIỆM Logo hình trái táo khuyết, màu sắc tương phản với màu sắc của sản phẩm. Thiết kế “Unibody” cho tất cả các sản phẩm với các góc bo tròn tạo cảm giác sản phẩm mỏng và chắc chắn. Các nút bấm được đơn giản một cách tối đa. Giao diện “Dock” cho các hệ điều hành của hãng. Dùng chữ “i” là tiền tố cho tên các sản phẩm như iPod, iPhone, iPad…

23 Đọc thêm

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT

của người tiêu dùng.Thứ năm, thiếu sự liên kết giũa các nhà phân phối và giữa nhà phân phối với nhàsản xuấtLiên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp khá quan trọng, giúp các doanh nghiệp san sẻgánh nặng về vốn, trao đổi kinh nghiệm, khoa học- kĩ thuật, khắc phục các nhược điểm,phát huy các ưu điểm vì mục tiêu chung. Nhưng giữa các doanh nghiệp bán lẻ Việt Namhiện nay gần như không có sự liên kết nào, hoạt động độc lập với nhau. Vì vậy, các doanhnghiệp nước ngoài dễ dàng thâu tóm từng doanh nghiệp bán lẻ nội địa. Mặt khác, sự liên2kết giữa nhà phân phối và nhà sản xuất chưa cao, khiến nhiều hàng Việt chất lượng vẫncòn nằm ngoài siêu thị.Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn về vốn, cơ sở hạ tầng (mặtbằng,...) luật pháp, ảnh hưởng của lạm phát và bất ổn về kinh tế. Vì vậy, để chiếm lại ưuthế trên thị trường bán lẻ thì doanh nghiệp Việt cần những hướng đi đúng đắn.Giải pháp cho doanh nghiệp bán lẻ ViệtVề phía doanh nghiệp:Thứ nhất, nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm lợi thếVới lợi thế sân nhà, doanh nghiệp Việt nắm rõ hơn tâm lí tiêu dùng của người Việt, từ đóđưa ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu của khách hàng. Doanh nghiệp có thể phát triểncác siêu thị chuyên doanh, các cửa hàng tiện ích để phân phối hàng hóa đến khu vực dâncư, mở rộng mạng lưới bán lẻThứ hai, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩmThương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ rất quan trọng là yếu tố quyết địnhlượng khách hàng lớn sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp, không chỉ đóng vai trò nhưquảng cáo mà còn gắn liền với hình ảnh của doanh nghiệp. Thương hiệu được xác địnhbởi logo, màu sắc, cách trang trí, chất lượng sản phẩm, dịch vụ,…Vì vậy, để có mộtthương hiệu tốt, thu hút thị hiếu của khách hàng thì doanh nghiệp cần phất triển những
Xem thêm

5 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC VỀ NỘI THẤT NHÀ Ở

NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC VỀ NỘI THẤT NHÀ Ở

đạo cho căn nhà mình. Các nhóm màu được yêu thích tiếp theo lần lượt là “Nhóm màu hạnh phúc”(23.0%) và “Nhóm màu tinh khôi”(17.8%).Khi xét về các nhóm tuổi thì nhóm dưới 25 tuổi lựa chọn “Nhóm màu tinh khôi” là màu sắc nội thấtchủ đạo họ ưu tiên thứ hai, trong khi đối với nhóm từ 25 tuổi trở lên lại là “Nhóm màu hạnh phúc”.[Hình 9]Các sắc màu ấm áp, nhiều năng lượng và sắc màu tinh khôi rất được nữ giới yêu thích. Trong khi namgiới cũng có xu hướng ưa chuộng các sắc màu phong cách và táo bạo. [Hình 10]2. Vật liệu nội thất» Hơn 4/5 người tham gia khảo sát lựa chọn “Gỗ” là chất liệu đồ nội thất họ ưu tiên nhất» “Hoa / cây cảnh”, “Tranh ảnh treo tường” và “Bể cá” là các vật dụng được nhiều người muốn sửdụng để trang trí trong nhà nhất3. Không gian và phong thuỷ» Kết quả khảo sát cho thấy người Việt rất yêu thích các khoảng không gian xanh trong nhà mình,với 97.6% người có cùng quan điểm khi được hỏi.» Hơn 60% những người được hỏi ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam đều cho biết họ có quan tâmđến vấn đề phong thuỷ trong việc trang trí nội thất nhà ở.Thực hiện bởi nhóm NCTT - Công ty TNHH W&S
Xem thêm

7 Đọc thêm

CÁC MẪU THIẾT KẾ NHÀ PHỐ 2 TẦNG ĐƯỢC PHƯƠNG TÂY CA TỤNG

CÁC MẪU THIẾT KẾ NHÀ PHỐ 2 TẦNG ĐƯỢC PHƯƠNG TÂY CA TỤNG

Sắc trắng trong các công trình thiết kế nhà phố, nhà hàng, khách sạn Công ty Kiến An Vinh chuyên thiết kế nhà phố, nhà hàng, khách sạn. Với kinh nghiệm nhiều năm trong ngành, chúng tôi hoàn toàn tự tin và tự hào về những sản phẩm thiết kế của mình. Chúng tôi xin giới thiệu qua những mẫu thiết kế với màu sắc là trắng chủ đạo thường được các kiến trúc sư cũng như khách hàng ưa chuộng làm màu chủ đạo cho các công trình nhà phố, nhà hàng và khách sạn.

3 Đọc thêm

ỨNG DỤNG KHOA HỌC PHONG THỦY TRONG MARKETING

ỨNG DỤNG KHOA HỌC PHONG THỦY TRONG MARKETING

Nhiều doanh nhân trước khi thành lập doanh nghiệp đã rất thận trọng khi xem tuổi của những người hợp tác với mình hay lựa chọn màu sắc cho thương hiệu, văn phòng…Chẳng hạn người có mệnh [r]

5 Đọc thêm

Bài thuyết trình Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi Nhà trẻ

BÀI THUYẾT TRÌNH HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO CỦA LỨA TUỔI NHÀ TRẺ

Là hoạt động của trẻ với thế giới đồ vật dưới sự hướng dẫn của người lớn, nhằm lĩnh hội chức năng của đồ vật và phương thức sử dụng tương ứng. Từ đó trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử xã hội chứa đựng trong các đồ vật, làm cho hoạt động đồ vật của trẻ ngày càng giống với cách sử dụng của người lớn

52 Đọc thêm

MÀU SẮC VÀ TRANG TRÍ

MÀU SẮC VÀ TRANG TRÍ

BƯỚC 2: XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ CÁC BỘ PHẬN VÀ ĐÁNH DẤU CÁC BỘ PHẬN BẰNG CÁC ĐIỂM BƯỚC 3: NỐI CÁC ĐIỂM BẰNG CÁC ĐƯỜNG THẲNG, TẠO HÌNH KỶ HÀ.[r]

6 Đọc thêm

Cùng chủ đề