CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG":

Nguyên nhân bệnh ung thư vòm họng

NGUYÊN NHÂN BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG

Nguyên nhân bệnh ung thư vòm họng:
Hạch cổ nổi một bên là triệu chứng của ung thư vòm họng rất thường gặp, hạch cứng kích thước có thể từ 2 – 3 cm đến 7 – 8 cm, xung quanh không có dấu viêm nhiễm như sưng, nóng đỏ và đau, ban đầu di động sau đó thì dính vào tổ chức xung quanh, vị trí thường là góc hàm, bên cổ.

2 Đọc thêm

phương pháp điều trị ung thư vòm họng phẫu thuật

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG PHẪU THUẬT

Phẫu thuật là việc loại bỏ các khối u và một số mô lành xung quanh, được biết đến như một lề, trong khi hoạt động. Một bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật là một bác sĩ chuyên điều trị ung thư vòm họng bằng phẫu thuật. Mục đích của phẫu thuật là để loại bỏ tất cả các khối u và để lại lợi nhuận tiêu cực, điều đó có nghĩa là không có dấu vết của ung thư trong các mô khỏe mạnh. Đôi khi phẫu thuật tiếp theo là xạ trị và hoặc hóa trị. Tùy thuộc vào vị trí, sân khấu, và bệnh lý của bệnh ung thư, một số người có thể cần nhiều hơn một hoạt động để loại bỏ các bệnh ung thư và giúp khôi phục lại hình dáng và chức năng của các mô bị ảnh hưởng.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nguy cơ dễ mắc các bệnh ung thư từ thực phẩm

NGUY CƠ DỄ MẮC CÁC BỆNH UNG THƯ TỪ THỰC PHẨM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cho đến nay những kết quả nghiên cứu để tìm ra phương pháp điều trị căn bệnh chết người này vẫn chưa có nhiều tiến triển. Trong quá trình nghiên cứu tìm ra phương pháp chữa bệnh, các nhà khoa học đã phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi bất thường của các tế bào. Ngoài các tác nhân vật lý, hoá học, môi trường, vi khuẩn, căng thẳng áp lực, cảm xúc thì chế độ ăn uống cũng là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh chết người này. Từ những nghiên cứu tổng hợp, các nhà khoa học khuyến cáo nên hạn chế ăn những thực phẩm dưới đây: 1. Chất béo Những người ăn nhiều chất béo dễ mắc các bệnh ung thư vú và ung thư ruột. Axit mật có vai trò giúp tiêu hoá lượng chất béo. Loại axit này được chia thành nhiều chất khác nhau bởi vi khuẩn Clostridium trong ruột, trong đó có 3-methylchola-threne được coi như có khả năng gây ung thư ruột già. Nếu càng ăn nhiều chất béo thì lượng acid mật tiết ra càng cao, lượng 3 - methylchola - threne càng nhiều, nguy cơ ung thư ruột già càng cao. Còn với bệnh ung thư vú thì ăn nhiều chất béo làm tăng prolactin - những chất được coi như “bạn đồng hành” của ung thư vú. Những người cùng lúc ăn nhiều chất béo và chất đạm thì nguy cơ ung thư lại càng cao hơn, nhất là ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư thận, ung thư ruột, ung thư tuyến tuỵ. 2. Rượu   Những người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài dễ mắc các bệnh ung thư miệng, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư vòm họng. (Ảnh minh họa) Những người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài dễ mắc các bệnh ung thư miệng, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư vòm họng. Rượu cũng là một trong nhừng nguyên nhân gây ra những bệnh về gan như xơ cứng gan, ung thư gan. Những phụ nữ uống rượu sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn những người không uống. 3. Thuốc lá   Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. (Ảnh minh họa) Dù không phải là thực phẩm nhưng thuốc lá thường gắn liền với thói quen sinh hoạt và được dùng với lượng lớn không kém gì thực phẩm. Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. Hút thuốc lá cũng là nguy cơ ung thư miệng, bọng đái, thận, tụy tạng. Người hít khói thuốc dư cũng chịu nhiều rủi ro cho sức khỏe. 4. Thực phẩm dư thừa hoá chất diệt sâu bọ Nhiều nghiên cứu cho thấy, một số thuốc diệt sâu bọ là nguy cơ gây ung thư khi con người tiếp xúc lâu với phân lượng cao, như là hít qua phổi, ngấm qua da hoặc lẫn trong thực phẩm. 5. Gia vị Hiện nay có rất nhiều loại gia vị thực phẩm được sử dụng để bảo quản, tăng mùi vị và màu sắc cho thực phẩm. Theo quy định thì các gia vị này phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng, nhưng trên thực tế không ít cơ sở đã dùng các gia vị rất độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, đường hóa học cyclamate và saccharin được cho là làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang nhưng vẫn được dùng trên 40 quốc gia. Chất nitrit và nitrat (có trong thực phẩm hun khói) nếu dùng nhiều sẽ gây ung thư gan, ruột già.... 6. Thực phẩm nướng hoặc chiên   Ăn nhiều đồ nướng cũng dễ mắc các bệnh ung thư (Ảnh minh họa) Quá trình chiên kỹ hoặc chiên đi chiên lại nhiều lần sẽ tạo ra sản phẩm phụ gọi là acrylamide. Acrylamide - một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ cả trên não và cả đối với hệ thống sinh sản, tiêu hóa. Do đó, tốt nhất là hạn chế ăn các đồ ăn nướng và chiên. 7. Thực phẩm bị mốc   Thực phẩm bị mốc cũng là mầm mống gây ung thư (Ảnh minh họa) Nhiều người thường cho rằng nấm mốc trong thực phẩm khô đơn giản chỉ là một dạng vi sinh vật vô hại, có thể lau rửa sạch mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, theo cảnh báo của các chuyên gia, chính những nấm mốc này lại mang mầm bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng con người. Gạo, lúa mỳ, đậu, ngô, đậu phộng và các loại thực phẩm khác rất dễ ẩm mốc khi bị ô nhiễm, mốc sẽ sản sinh ra chất độc hại gây ung thư là streptozotocin aflatoxin. Ðể hạn chế mắc các bệnh ung thư, các nhà khoa học đã đưa ra những lời khuyên hữu ích sau đây: - Ăn nhiều rau quả tươi và các  thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật bởi đây là nguồn cung cấp cho cơ thể các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết sẽ giúp cơ thể có được sức đề kháng tốt để chống lại các yếu tố gây ung thư. Mỗi người mỗi ngày nên ăn ít nhất 500g rau tươi và quả chín, nên ăn đa dạng các loại rau xanh, quả tươi để thay đổi khẩu vị và tạo nên sự dồi dào của các vitamin, khoáng chất tự nhiên do chúng mang lại. - Hạn chế ăn thịt màu đỏ, chất béo và muối trong bữa ăn hằng ngày. Nên chọn lọc thực phẩm ít chất béo, có thể sử dụng các loại sữa đã tách bơ, ăn ít các món chiên, xào, hạn chế ăn mặn tối đa. - Chất lượng thực phẩm phải được đảm bảo tươi sống, sạch sẽ, hợp vệ sinh. Ăn chín uống sôi. Không chế biến thức ăn ở nhiệt độ cao, nướng rán thực phẩm quá cháy. - Ðảm bảo cân nặng cơ thể hợp lý: đừng để quá gầy hay quá béo. Thường xuyên rèn luyện thân thể bằng các môn thể thao phù hợp với cân nặng và sức khỏe của mình. - Hạn chế uống rượu bia và các chất kích thích.
Xem thêm

3 Đọc thêm

3 thói quen xấu dễ gây bệnh nguy hiểm ở đàn ông

3 THÓI QUEN XẤU DỄ GÂY BỆNH NGUY HIỂM Ở ĐÀN ÔNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Không ăn bữa sáng Bữa sáng là bữa quan trọng nhất trong ngày. Ai cũng biết rằng bữa sáng rất tốt cho não bộ và cơ thể. Một bữa ăn sáng đầy đủ sẽ cung cấp năng lượng và nhiên liệu cho não bộ, giúp bạn hoạt bát hơn. Ăn sáng giúp cân bằng lượng cholesterol tốt hơn và giúp điều hòa lượng thức ăn sẽ “nạp” trong cả ngày. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, công việc bận rộn hoặc do có thói quen ngủ dậy muộn nên nhiều người thường bỏ bữa sáng. Điều này rất có hại cho cơ thể, nhất là với những người trẻ, lứa tuổi đang trong giai đoạn quan trọng của sự phát triển và hoàn thiện não bộ cũng như thể lực.  Theo các chuyên gia dinh dưỡng, những người không ăn sáng dễ tăng cân và có nhiều thói quen có hại cho sức khỏe hơn những người thường xuyên ăn sáng. Nghiên cứu cho thấy những người bỏ bữa, đặc biệt là bữa sáng, có tỷ lệ trao đổi chất thấp hơn, và nguyên nhân phát sinh nhiều bệnh. Đàn ông ít coi trọng ăn uống đúng giờ, và bữa sáng cũng bị họ bỏ qua nhiều hơn. Không tập thể dục Lười tập thể dục sẽ làm gia tăng đáng kể nguy cơ mắc các bệnh mãn tính và sớm tử vong. Theo các chuyên gia, đối với đàn ông khi ngồi quá lâu một chỗ, những nhân tố như nhiệt độ trong phòng, độ cứng hay mềm của ghế chính là những nhân tố gây ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng sinh lý của họ. Để tránh hiện tượng trên, cách tốt nhất là không nên ngồi quá lâu. Trung bình, bạn chỉ nên ngồi khoảng 40 phút, sau đó hãy đứng lên đi lại thư giãn khoảng 10 phút để đảm bảo sức khỏe cũng như “năng lực đàn ông” của mình.   Theo khuyến cáo của các bác sĩ, đi bộ là bài tập thể dục tốt nhất cho đàn ông (Ảnh minh họa) Theo khuyến cáo của các bác sĩ, đi bộ là bài tập thể dục tốt nhất cho đàn ông. Duy trì đi bộ 30 phút mỗi ngày là cần thiết để bạn thực sự là phái mạnh. Không khám bác sĩ khi cần thiết  Khám sức khỏe định kỳ có thể phát hiện ra nhiều bệnh nguy hiểm như bệnh lao, tim mạch, các rối loạn chức năng hô hấp, cao huyết áp, ung thư phổi, dạ dày, vòm họng hay bệnh viêm gan siêu vi. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng 80% đàn ông mắc những bệnh nghiêm trọng thừa nhận họ không sẵn sàng đến bác sĩ, khiến cho những bệnh vặt phát triển thành bệnh nặng, vì thế bỏ lỡ thời điểm điều trị bệnh tốt nhất. Khám sức khỏe định kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các bệnh ung thư. Trong giai đoạn đầu, bệnh ung thư thường không có biểu hiện triệu chứng gì cả, tuy nhiên có những nhóm bệnh có nguy cơ ung thư cao cần phải đặc biệt chú ý.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là một vấn đề lớn của y học hiện tại và tương lai. Không những thế, nó cũng là vấn đề lớn của thế giới thứ 3 lời khuyên cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) muôn nhắn nhủ mọi người hãy quan tâm đầy đủ đến lĩnh vực này hơn.
Ở nước ta, ngành Ung thư (cancer) có ngay từ đầu thê kỷ XX, song do điều kiện kinh tế và chiến tranh nên hiện nay khả năng đáp ứng nhu cầu và chữa bệnh ung thư còn nhiều hạn chế. Cũng vì thế, chúng ta phải thấy tầm quan trọng để có phương pháp đúng trong dự phòng và điều trị.
Tỷ lệ mới mắc bệnh: Hiện nay, trên thê giới có khoảng 200 trung tâm ghi nhận quốc gia về ung thư trên toàn quốc như Canada, úc, Tân Tây Lan, các nước bắc Âu, Đức, Anh, và xứ Wales...(Pháp và Mỹ mối ghi nhận khoảng 10% số dân). Trong đó có những trung tâm ghi nhận được trên 350.000 trường hợp mỗi năm. Tỷ lệ mới mắc thay đổi rất lớn theo tuôi, giới, loại ung thư và giữa các nước khác nhau.
Trên thế giới:
Bệnh nhân mới ung thư: ước tính 12,7 triệunăm
Tỷ lệ tử vong: khoảng 7,9 triệunăm.
Với bệnh nhân bị mắc ung thư, đó là điều tồi tệ nhất trong cuộc đời nhưng đau do ung thư lại là nỗi khiếp sợ của họ, một cảm giác khó chịu mang tính chủ quan, phức tạp cần được quan tâm và điều trị hiệu quả.
Kiểm soát đau là một nhu cầu bức bách của người bệnh ung thư giai đoạn cuối, nhằm giúp họ không đau trong sinh hoạt thường ngày hoặc hạn chế đau trước khi chết.
Đau do rất nhiều nguyên nhân gây ra nhưng Đau do Ung thư là cơn đau hành hạ thể xác và tinh thần của người bệnh một cách nặng nề nhất
Bệnh nhân ung thư thường không sợ chết nhưng họ thật sự sợ sự đau đớn kéo dài trên đường đi đến giây phút cuối cùng. Trên thế giới đã có nhiều trường hợp Bệnh nhân vì không chịu nổi sự hành hạ của cơn đau đã xin Bác sĩ thực thi quyền được chết để tránh sự dày vò xúc phạm do đau đớn gây ra. Nỗi đau lúc này không chỉ của riêng cá nhân người bệnh mà còn là nỗi bức xúc của cả gia đình khi phải chứng kiến cảnh người thân của mình liên tục chịu đau đớn, họ bị căng thẳng đến mức không thể làm việc được
Bệnh ung thư đa phần không chữa trị khỏi nhưng đau đớn do ung thư gây ra hoàn toàn có thể kiểm soát. Đồng thời các triệu chứng của ung thư và do di căn như: nôn và buồn nôn, táo bón, cổ chướng, khó thở, ăn kém, khô miệng, suy kiệt cơ thể…rất cần được điều trị để đem lại sự thoải mái và dễ chịu cho người bệnh.






CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ UNG THƯ
Trước khi đi sâu về nội dung cụ thể của chuyên đề, chúng ta cần tìm hiểu về bệnh ung thư như khái niệm, nguyên nhân bệnh, cơ chế bệnh sinh, dấu hiệu và triệu chứng:
1.1.1. Khái niệm:
Ung thư là một loại bệnh do sự phát triển không bình thường của tế bào, không tuân theo cơ chế kiểm soát và phát triển của cơ thể.
Với các tế bào lành: có một tuổi thọ nhất định; tuân theo một quy luật chung là phát triển, già và chết; khi các tế bào chết đi lại được thay thế bằng các tế bào mới; cơ thể luôn duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, tổ chức ở mức ổn định.
Như vậy, nếu các tế bào tiếp tục phân chia kể cả khi không cần thiết làm hình thành nên những nhóm mô gọi là khối u. Với những khối u lành (chỉ phát triển tại chỗ thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh) có thể cắt bỏ mà không phát sinh thêm nữa. Còn với những khối u ác, chúng có thể lan toả và hình thành u mới ở các vị trí khác trong cơ thể gọi là ung thư.
Tế bào ung thư khác với tế bào bình thường ở 04 đặc điểm là:
Tăng sinh không kiểm soát
Mất sự biệt hoá và mất chức năng
Xâm lấn: tế bào tiết ra enzym metalloproteinase để phá huỷ các mô xung quanh và thành lập mạch máu riêng để nuôi dưỡng khối u;
Di căn: các tế bào ung thư ở mô nguyên phát có thể theo máu hoặc hệ bạch huyết đến thành lập một mô thứ phát ở các cơ quan khác.
1.1.2. Nguyên nhân gây bệnh:
Yếu tố di truyền
Yếu tố nội tiết;
Tia phóng xạ;
Tia cực tím;
Chế độ ăn uống và ô nhiễm thực phẩm như: ngũ côc bị nấm mốc (Aflatoxin) gây ung thư gan nguyên phát;
Ăn nhiều chất béo động vật làm tăng nguy cơ ung thư vú, đại tràng…
Do tiếp xúc thường xuyên với một số chất trong công nghiệp như: chât dẻo, sản phẩm thô của dầu mỏ…
Virut như: Epstein – Barr gây ung thư vòm họng; virut viêm gan B, C gây ung thư gan…
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh:
Ung thư là kết quả của một chuỗi biến đổi về di truyền ở tế bào. Những tổn thương di truyền chủ yếu là:
Bất hoạt gen ức chế khối u, ví dụ gen P53.
Hoạt hoá Prooncogen thành Oncogen. Oncogen làm tăng sinh tế bào không kiểm soát được do tác động làm lên lực làm tăng phân chia tế bào ung thư như tác động lên yếu tố tăng trưởng, các Cyclin…
1.1.4. Dấu hiệu và triệu chứng:
Ban đầu không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng.
Khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt thường là khi bệnh đã tiến triển trầm trọng.
Thông thường, ung thư có thời gian ủ bệnh khá dài, do đó cách phòng và điều trị ung thư hiệu quả nhất là đi khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần.
Ung thư là tập hợp của nhiều dạng bệnh ung thư khác nhau nên triệu chứng rất đa dạng và khác nhau tuỳ theo từng loại bệnh ung thư. Nó được phân làm ba nhóm chính:
Triệu chứng tại chỗ: các khối u bất thường hay phù nề; chảy máu, đau và hoặc loét. Chèn ép vào các mô xung quanh có thể gây ra các triệu chứng như vàng da.
Triệu chứng di căn (lan tràn): hạch bạch huyết lớn lên, ho, ha ra máu, gan to, đau xương, gãy xương ở những xương bị tổn thương và các triệu chứng thần kinh.
Triệu chứng toàn thân: sụt cân, chán ăn và suy mòn, tiết nhiều mồ hôi (đổ mồ hôi trộm), thiếu máu và các hội chứng cận u đặc hiệu, đó là tình trạng đặc biệt được gây ra đang hoạt động, chẳng hạn như huyết khối hay thay đổi nội tiết tố.

Sau khi tìm hiểu một số nội dung về ung thư, chúng ta cần hiểu thế nào là đau. Vậy đau là gì: định nghĩa, tính chất, cơ chế:
Xem thêm

23 Đọc thêm

TỔNG QUAN về UNG THƯ và dược LIỆU CHỮA UNG THƯ

TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÀ DƯỢC LIỆU CHỮA UNG THƯ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào không theo tổ chức và không kiểm soát được, có khả năng tồn tại và phát triển ở các tổ chức lạ 1. Các tế bào này có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển theo mạch máu đến phát triển ở các mô ở xa (gọi là di căn), gây nguy hiểm cho tính mạng con người 1, 2.
Ngay từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, con người đã đi tìm thuốc điều trị bệnh ung thư. Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (National Cancer Institute, viết tắt là NCI) đã có một dự án lớn là sàng lọc và tìm các hoạt chất có tác dụng chống ung thư để dùng làm thuốc điều trị bệnh này 1. Trong đó có cả việc sàng lọc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư để tìm ra hoạt chất của nó. Một số hợp chất tự nhiên đã được phát hiện và được sử dụng làm thuốc dùng cho điều trị ung thư. Nổi bật nhất trong số các hợp chất tự nhiên tìm được trong chương trình này là taxol (paclitaxel), được phân lập từ cây thông đỏ Taxus brevifolia. Đến năm 1971, Wani và cộng sự công bố phát hiện về hoạt tính chống ung thư của hợp chất này và xác định được công thức hóa học của nó 2. Taxol và các dẫn xuất của nó được dùng điều trị ung thư phổi, buồng trứng, vú, đầu và cổ 3.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Ung thư máu và các liệu pháp điều trị Ung thư máu

UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ MÁU

MỞ ĐẦU



Ung thư máu, còn được gọi là ung thư bạch cầu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Mỗi năm, trên thế giới xuất hiện 300.000 ca ung thư máu mới, chiếm 2,8% trong số tất cả các bệnh ung thư và gây ra 220.000 người chết.
Hiện tại các phương pháp điều trị bệnh ung thư máu chủ yếu vẫn là thay tủy xương của người bệnh với tủy xương của một người hiến có tủy xương phù hợp (thích hợp nhất là người có chung huyết thống với người bệnh) để thay thế phần tủy xương đã bị hư hỏng và kích thích sinh ra hồng cầu cũng như kìm hãm sự gia tăng đột biến của bạch cầu. Tuy nhiên, dù có điều trị bằng phương pháp nào thì khả năng thành công cũng rất thấp, chỉ khoảng 10% và dù cho có thành công thì khả năng bệnh tái phát cũng rất lớn (khoảng từ 3 đến 5 năm)
Hiện nay ngoài cách ghép tủy (cuống rốn, cấy tế bào gốc....) còn có thể dùng hóa trị liệu, cho tới nay cách dùng hóa trị vẫn có triển vọng rất tốt cho các bệnh nhân. Ngoài ra đối với dòng lympho còn có thể xạ trị màng não, ngăn ngừa tế bào phát triển lên não. Đối với những bệnh nhân có quá trình điều trị bệnh tốt, sức đề kháng tốt, thích nghi với môi trường tốt và nằm trong khoảng thời gian điều trị từ 35 năm có thể bình phục hoàn toàn.
Với chủ đề Ung thư máu và các liệu pháp điều trị, tiểu luận này đề cập chủ yếu tới liệu pháp điều trị hoá trị. Tiểu luận gồm có hai phần chính: Vài nét về bệnh ung thư máu và Các liệu pháp điều trị hoá trị bệnh ung thư máu.



I. VÀI NÉT VỀ BỆNH UNG THƯ MÁU:
Bệnh ung thư máu (leukemia) hay bệnh bạch cầu, là bệnh ung thư tế bào bạch huyết cầu được sản xuất từ tủy xương. Danh từ leukemia do hai chữ Hy Lạp ghép lại và có nghĩa là máu trắng. Máu của người khoẻ mạnh thường có màu đỏ vì đa số các tế bào máu là hồng huyết cầu mang sắc tố màu đỏ. Bạch huyết cầu chỉ chiếm thành phần thiểu số. Bệnh ung thư máu bạch cầu là một nhóm bệnh có nhiều điểm tương đồng và dị biệt nhưng đại loại là chúng đều do sự sản xuất quá độ của tế bào bạch cầu ung thư. Những tế bào bạch cầu ung thư này được sản xuất từ tủy của nhiều xương trong cơ thể một cách không trật tự và không thể kiểm soát được. Điều này dẫn đến sự kiện các tế bào bạch cầu ung thư dần dần thay thế thành phần các tế bào trong máu và trong tủy xương và ảnh hưởng đến sự sản xuất của hồng huyết cầu làm cho bệnh nhân thiếu máu, mệt mỏi, xanh xao..., ảnh hưởng đến sự sản xuất của tiểu cầu đảm trách sự đông máu làm cho da bệnh nhân dễ bị bầm tím hoặc máu không đông khi bị chảy máu..., ảnh hưởng đến những tế bào đảm trách hệ thống miễn nhiễm làm cho cơ thể bệnh nhân mất khả năng đề kháng nên dễ bị nhiễm trùng.

1. Các thể bệnh bạch cầu:
Bệnh bạch cầu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh.
Bệnh bạch cầu cấp tính:
Bệnh bạch cầu cấp là tình trạng cấp tính của bệnh ác tính tại tuỷ xương. Bệnh bạch cầu cấp tính có triệu chứng sớm, tiến triển nhanh, nếu không chẩn đoán và điều trị sớm sẽ đưa đến tử vong nhanh.
Tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu cấp trong cộng đồng hiện nay tăng cao so với thống kê của 10 năm trước: từ 35 người100.000 dân đến 89 người100.000 dân, chiếm khoảng 5% tổng số ung thư ở mọi lưa tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh giữa namnữ khoảng 1,51.
Bệnh bạch cầu mãn tính:
Là bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu. Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì. Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn, khi số lượng tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng bệnh xuất hiện.
Ngoài ra, còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa trên dòng bạch cầu bị ảnh hưởng là các tế bào dòng tuỷ hoặc dòng lympho và tiến triển của mối dòng đó.
Bệnh bạch cầu lympho mãn tính: Các tế bào lypmpho bị ảnh hưởng và thường tiến triển chậm. Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi, hầu như không gặp ở trẻ em.
Bệnh bạch cầu lympho cấp tính: Là thể phát triển ác tính của các tế bào dòng lympho và tiến triển rất nhanh. Đây là thể bệnh bạch cầu thường gặp nhất ở trẻ em, người lớn đôi khi cũng có thể mắc.
Bệnh bạch cầu dòng tuỷ mãn tính: Các tế bào dòng tuỷ bị ảnh hưởng và giai đoạn đầu thường tiến triển chậm. Phần lớn gặp ở người lớn.
Bệnh bạch cầu dòng tuỷ cấp tính: Các tế bào dòng tuỷ bị ảnh hưởng và tiến triển nhanh. Có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em.

2. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh:
Hiện nay người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nhân gây bệnh ung thư nói chung, cũng như nguyên nhân gây ung thư máu nói riêng. Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh, bao gồm:
• Tia xạ: Những người tiếp xúc với tia phóng xạ liều cao sẽ có nguy cơ cao hơn bị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, bạch cầu tủy mạn tính, bạch cầu lympho cấp tính. Vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2 đã tạo nên hàm lượng phóng xạ rất cao. Nhiều người sống sót sau vụ nổ bom hạt nhân bị bệnh bạch cầu. Người có tiền sử được điều trị bằng tia xạ trị khi điều trị ung thư hoặc các bệnh khác từ trước cũng có nguy cơ cao hơn bị bệnh bạch cầu. Tuy nhiên, khi chụp tia X trong chẩn đoán răng hàm mặt hoặc các biện pháp chụp X quang chẩn đoán khác (như CT Scan) người ta tiếp xúc tia X với hàm lượng ít hơn nhiều. Hiện tại vẫn chưa xác định mối liên quan giữa sự tiếp xúc với nồng độ tia thấp với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn. Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu mối liên quan nguy cơ mắc bệnh bạch cầu và tiền sử chụp X quang nhiều lần hoặc chụp cắt lớp khi còn nhỏ.
• Hút thuốc lá: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hút thuốc là làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính.
• Benzen: Chất này được sử dụng nhiều trong công nghiệp hóa chất, có nhiều trong khói thuốc lá và khí đốt. Việc tiếp xúc nhiều với Benzen có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu tủy mạn tính, bệnh bạch cầu lympho cấp tính.
• Tiền sử điều trị hóa chất: Một số bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất
Xem thêm

15 Đọc thêm

Đặc điểm hình thái và dược dụng của một số loài cây phòng và chữa bệnh ung thư ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ DƯỢC DỤNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH UNG THƯ Ở HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là một bệnh khá phổ biến và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ
con người. Nó tiềm ẩn trong cơ thể con người, khi phát bệnh sẽ là mối nguy hiểm đến
tính mạng người bệnh, đồng thời còn đem lại ảnh hưởng rất lớn cho gia đình và xã hội.
Cho đến nay, người ta đã biết hơn 200 loại ung thư khác nhau [Chiêu, 1999]. Với con số
như thế, nó sẽ là một trong những căn bệnh gây chết người nhiều nhất trong thế kỷ 21
này. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1984) gọi tắt là WHO, trên thế giới mỗi năm ước tính
có khoảng 5,9 triệu người bị ung thư [Ban, 2002]. Ở Việt Nam, mỗi năm có thêm khoảng
150.000 người mắc bệnh ung thư và trên 60% số bệnh nhân này chết do ung thư [Đức,
1996]. Theo kết quả dự báo ở Việt Nam, số ca ung thư hàng năm sẽ tăng 48% vào năm
2010 (dự báo của WHO là 30%). Nếu các yếu tố nguy cơ gia tăng như: ăn ít rau, ăn nhiều
thịt, chất béo, muối và các chất phụ gia thực phẩm thì số ca ung thư sẽ tăng đến 50%
[Chiêu, 1999]. Cho nên tìm một phương pháp có hiệu quả phòng trị ung thư là đề tài
ngiên cứu quan trọng trong lĩnh vực Y học toàn thế giới.
Cho đến nay, mặc dù Y học thế giới đã có nhiều thành tựu trong việc điều trị bệnh
ung thư, nhưng số người mắc bệnh và chết do bệnh này ngày càng tăng do những yếu tố
gây ung thư xuất hiện ngày càng nhiều và do thói quen ăn uống, sinh hoạt, hút thuốc lá; ô
nhiễm môi trường, khói công nghiệp,… Hơn nữa, việc điều trị bằng Tây y rất tốn kém và
mang lại cho người bệnh nhiều đau đớn sau khi điều trị bằng hoá liệu, phóng liệu hay xạ
trị. Gần đây, việc kết hợp Đông Tây y đã thực sự phát huy tác dụng trong việc phòng và
chữa trị ung thư. Việc điều trị theo Đông y có nhiều ưu điểm như: ít tốn chi phí, dược liệu
dễ tìm, khá hiệu quả và ít gây tác dụng phụ cho người bệnh.
Nước ta là một nước nhiệt đới, thực vật rất đa dạng và phong phú, có nhiều loài
cây có khả năng phòng và trị ung thư khá hiệu quả. Vì thế, từ lâu việc sử dụng hoa, quả
và cây, lá để phòng và chữa ung thư đã được các thầy thuốc quan tâm, chú ý như Đỗ Tất
Lợi [1968 - 2003], Võ Văn Chi [1997]… Cùng với xu thế phát triển chung của tỉnh nhà, huyện Bình Minh đã có những phát
triển vượt bậc về kinh tế, xã hội. Những phát triển đó đã làm cho cuộc sống của người
dân ngày càng bận rộn, mức sống được nâng cao, nhưng môi trường ngày càng bị ô
nhiễm nặng nề, vì thế số bệnh nhân mắc bệnh ung thư cũng tăng lên. Hầu hết những bệnh
nhân này chưa biết rõ công dụng cũng như cách sử dụng những loài thực vật xung quanh
để phòng và trị bệnh này. Do đó, đề tài nghiên cứu “Đặc điểm hình thái và dƣợc dụng
của một số loài cây phòng và chữa bệnh ung thƣ ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh
Long” hy vọng sẽ cung cấp những thông tin bổ ích về đặc điểm hình thái cũng như dược
dụng của một số loài cây chữa bệnh ung thư có phổ biến ở đây, giúp người dân có thể
phân loại và sử dụng hợp lý các cây thuốc xung quanh mình.
Xem thêm

110 Đọc thêm

Nấm hương của Nhật có thể ngăn ngừa ung thư cổ tử cung

NẤM HƯƠNG CỦA NHẬT CÓ THỂ NGĂN NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo tin tức trên Daily Mail, loại nấm hương Nhật Bản này có thể là “chìa khóa” tiêu diệt loại virus gây bệnh ung thư cổ tử cung.  Virus gây u nhú ở người - HPV là loại bệnh lây nhiễm cao, ảnh hưởng đến những vùng da và vùng ẩm ướt của cơ thể, chẳng hạn như cổ tử cung, miệng hay cổ họng. Virus HPV lây lan qua con đường tình dục và có thể gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ cũng như ung thư vòm họng, ung thư hậu môn và ung thư dương vật. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của Mỹ đã phát hiện, một chiết xuất từ nấm hương của Nhật Bản có thể ngăn chặn các căn bệnh ung thư liên quan đến virus HPV.   Nấm hương Nhật Bản chứa một loại chất hóa học mang tên AHCC, có thể tăng cường hệ miễn dịch và ngăn chặn sự phát triển của khối u. (Ảnh minh họa) Nấm hương từng được sử dụng trong y học ở các quốc gia Đông Á trong nhiều thế kỷ. Nấm hương có chứa một chất hóa học đặc biệt mang tên AHCC – một loại hợp chất pha trộn các axit amin, polisaccarit và khoáng chất.  Trong nghiên cứu mới đây, 10 phụ nữ nhiễm virus HPV đã được sử dụng chiết xuất từ nấm hương mỗi ngày trong suốt 6 tháng. Kết quả, 8 người được điều trị thành công và việc thử nghiệm đang được mở rộng với ngày càng nhiều bệnh nhân hơn. “Kết quả rất đáng khích lệ. Chúng tôi có thể xác định ít nhất ba tháng điều trị là cần thiết nhưng một số người cần phải điều trị trong 6 tháng. Do AHCC là một chất dinh dưỡng bổ sung không có tác dụng phụ và lợi ích điều chỉnh miễn dịch khác nên chúng tôi sẽ có kế hoạch điều trị 6 tháng trong giai đoạn hai của nghiên cứu lâm sàng để có kế hoạch điều trị phù hợp”, giáo sư Judith Smith đến từ trường Đại học Texas cho biết. Nghiên cứu trước đó từng chỉ ra rằng, AHCC có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch bằng cách gia tăng số lượng các tế bào giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng và ngăn chặn sự phát triển của khối u. Người ta cho rằng, AHCC cũng có những kết quả tương tự ở nam giới. Chất này có thể chữa trị căn bệnh ung thư dương vật ở nam giới. Trước đó, giáo sư Smith từng công bố kết quả nghiên cứu trên loài chuột rằng, AHCC có thể loại bỏ virus HPV trong vòng 90 ngày, đồng thời làm giảm tỷ lệ phát triển khối u cổ tử cung.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Luận văn tốt nghiệp bệnh ung thư

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BỆNH UNG THƯ

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
š›


Ung thư là một bệnh khá phổ biến và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Nó tiềm ẩn trong cơ thể con người, khi phát bệnh sẽ là mối nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, đồng thời còn đem lại ảnh hưởng rất lớn cho gia đình và xã hội. Cho đến nay, người ta đã biết hơn 200 loại ung thư khác nhau Chiêu, 1999. Với con số như thế, nó sẽ là một trong những căn bệnh gây chết người nhiều nhất trong thế kỷ 21 này. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1984) gọi tắt là WHO, trên thế giới mỗi năm ước tính có khoảng 5,9 triệu người bị ung thư Ban, 2002. Ở Việt Nam, mỗi năm có thêm khoảng 150.000 người mắc bệnh ung thư và trên 60% số bệnh nhân này chết do ung thư Đức, 1996. Theo kết quả dự báo ở Việt Nam, số ca ung thư hàng năm sẽ tăng 48% vào năm 2010 (dự báo của WHO là 30%). Nếu các yếu tố nguy cơ gia tăng như: ăn ít rau, ăn nhiều thịt, chất béo, muối và các chất phụ gia thực phẩm thì số ca ung thư sẽ tăng đến 50% Chiêu, 1999. Cho nên tìm một phương pháp có hiệu quả phòng trị ung thư là đề tài ngiên cứu quan trọng trong lĩnh vực Y học toàn thế giới.
Cho đến nay, mặc dù Y học thế giới đã có nhiều thành tựu trong việc điều trị bệnh ung thư, nhưng số người mắc bệnh và chết do bệnh này ngày càng tăng do những yếu tố gây ung thư xuất hiện ngày càng nhiều và do thói quen ăn uống, sinh hoạt, hút thuốc lá; ô nhiễm môi trường, khói công nghiệp,… Hơn nữa, việc điều trị bằng Tây y rất tốn kém và mang lại cho người bệnh nhiều đau đớn sau khi điều trị bằng hoá liệu, phóng liệu hay xạ trị. Gần đây, việc kết hợp Đông Tây y đã thực sự phát huy tác dụng trong việc phòng và chữa trị ung thư. Việc điều trị theo Đông y có nhiều ưu điểm như: ít tốn chi phí, dược liệu dễ tìm, khá hiệu quả và ít gây tác dụng phụ cho người bệnh.
Nước ta là một nước nhiệt đới, thực vật rất đa dạng và phong phú, có nhiều loài cây có khả năng phòng và trị ung thư khá hiệu quả. Vì thế, từ lâu việc sử dụng hoa, quả và cây, lá để phòng và chữa ung thư đã được các thầy thuốc quan tâm, chú ý như Đỗ Tất Lợi 1968 2003, Võ Văn Chi 1997…
Cùng với xu thế phát triển chung của tỉnh nhà, huyện Bình Minh đã có những phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội. Những phát triển đó đã làm cho cuộc sống của người dân ngày càng bận rộn, mức sống được nâng cao, nhưng môi trường ngày càng bị ô nhiễm nặng nề, vì thế số bệnh nhân mắc bệnh ung thư cũng tăng lên. Hầu hết những bệnh nhân này chưa biết rõ công dụng cũng như cách sử dụng những loài thực vật xung quanh để phòng và trị bệnh này. Do đó, đề tài nghiên cứu “Đặc điểm hình thái và dược dụng của một số loài cây phòng và chữa bệnh ung thư ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long” hy vọng sẽ cung cấp những thông tin bổ ích về đặc điểm hình thái cũng như dược dụng của một số loài cây chữa bệnh ung thư có phổ biến ở đây, giúp người dân có thể phân loại và sử dụng hợp lý các cây thuốc xung quanh mình.
Xem thêm

115 Đọc thêm

đánh giá kết quả xạ trị tiền phẫu ung thư cổ tử cung giai đoạn ib - iia bằng iridium 192 tại bệnh viện k

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XẠ TRỊ TIỀN PHẪU UNG THƯ CỔ TỬ CUNG GIAI ĐOẠN IB - IIA BẰNG IRIDIUM 192 TẠI BỆNH VIỆN K

Đặt vấn đề
Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ, tỷ lệ mắc
bệnh tuỳ thuộc vào từng khu vực địa lý. Tỷ lệ tử vong của ung thư cổ tử cung
ở nữ giới cao chỉ sau ung thư vú, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. ở Việt
Nam, theo thống kê của năm 2001-2004 cho thấy tại Hà Nội ung thư cổ tử
cung đứng hàng thứ tư trong số các ung thư ở phụ nữ, tỷ lệ mắc 7,5/100.000
dân. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ung thư cổ tử cung đứng hàng thứ hai trong
các ung thư gặp ở nữ giới, tỷ lệ mắc 16,5/100.000 dân [6],[7],[8], [51].
Ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu bệnh nhân được chẩn đoán và
điều trị sớm. Tiên lượng bệnh ung thư cổ tử cung phụ thuộc vào kích thước
của khối u, loại mô bệnh học và đặc biệt là giai đoạn của bệnh ung thư cổ tử
cung. Ngày nay với tiến bộ của các phương pháp chẩn đoán và điều trị đã giúp
các phác đồ điều trị bệnh ung thư cổ tử cung đã ngày càng được hoàn thiện.
Thời kì những năm cuối của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ung thư cổ tử
cung chỉ được điều trị bằng phẫu thuật đơn thuần. Xạ trị được ứng dụng điều
trị phối hợp ung thư cổ tử cung ở Mỹ với việc sử dụng Radium 226 lần đầu
tiên vào năm1913 [42]. Đối với ung thư giai đoạn sớm, xạ trị có tác dụng điều
trị triệt để tương đương phương pháp phẫu thuật triệt căn. Phương pháp xạ trị
cổ điển đã được thay đổi qua nhiều năm, nhằm tăng hiệu quả điều trị và giảm
biến chứng của phóng xạ trong điều trị, cũng như cải thiện về mặt an toàn bức
xạ. Vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, kỹ thuật xạ trị áp sát nạp nguồn
sau (afterloading) được Henschke et al đề xuất và áp dụng đầu tiên tại Mỹ
[56]. Kỹ thuật này đã giúp giảm thiểu được nguy cơ bị phơi nhiễm phóng xạ
đối với nhân viên y tế và môi tr
ường xung quanh so với kỹ thuật xạ áp sát nạp
nguồn trực tiếp bằng tay. Tùy theo loại nguồn phóng xạ được sử dụng mà xạ
áp sát lại chia ra hai kỹ thuật chính là: xạ áp sát xuất liều thấp (LDR - sử dụng nguồn phóng xạ Caesium 137…) và xạ áp sát suất liều cao (HDR - sử dụng
nguồn phóng xạ Iridium 192, Cobal 60...) [42], [51], [57], [60].
Kỹ thuật xạ trị áp sát suất liều cao sử dụng nguồn Iridium 192 đã và
đang được ứng dụng rộng rãi ở các trung tâm xạ trị trên thế giới để điều trị
nhiều loại bệnh ung thư. Kỹ thuật này có ưu việt là thời gian cho một lượt điều
trị chỉ từ 8-30 phút, rút ngắn hơn rất nhiều so với thời lượng từ 15 - 48 giờ/
lượt điều trị khi sử dụng kỹ thuật xạ trị áp sát suất liều thấp. Do vậy xạ trị áp
sát suất liều cao giảm thiểu sự khó chịu cho bệnh nhân, giảm bớt sai số do
việc di lệch trong quá trình điều trị, trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị
tương đương với kỹ thuật xạ áp sát suất liều thấp [51], [62], [77], [85].
ở Việt Nam, bệnh viện K là một trong những cơ sở y tế đầ
u tiên ứng
dụng kỹ thuật xạ trị áp sát suất liều cao sử dụng nguồn Iridium 192 để điều trị
bệnh ung thư nói chung và phối hợp trong điều trị bệnh ung thư cổ tử cung giai
đoạn IB - IIA nói riêng. Nhưng hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đánh
giá kết quả điều trị của phương pháp xạ trị tiền phẫu ung thư cổ tử cung bằng
Iridium 192 nạp nguồn sau tại bệnh viện K. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này nhằm mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư cổ tử cung giai
đoạn IB-IIA có xạ trị tiền phẫu.
2. Đánh giá kết quả xạ trị tiền phẫu ung thư cổ tử cung giai đoạn IB -
IIA bằng Iridium 192 tại Bệnh viện K.
Xem thêm

103 Đọc thêm

Tiểu luận UNG THƯ MÁU VÀ LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

TIỂU LUẬN UNG THƯ MÁU VÀ LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

Ung thư là quá trình tăng sinh không kiểm soát, không biệt hóa được của các tế bào ác tính, và các tế bào này có khả năng xâm lấn các cơ quan và di căn. Mục đích điều trị ung thư là tiêu diệt toàn bộ các tế bào ác tính bằng phẫu thuật, tia xạ và thuốc chống ung thư. Thuốc chống ung thư là những thuốc ức chế sự phát triển, nhân lên của tế bào ác tính và thải loại chúng khỏi cơ thể, thông qua phản ứng hủy tế bào và độc tế bào. Ngoài ra, thuốc chống ung thư có khả năng gây đột biến cho nên chính nó lại có thể gây ung thư thứ phát, quái thai. Thuốc chống ung thư được lựa chọn phải đạt hiệu quả cao với bệnh ác tính nhưng độc tính phải tối thiểu.
Ung thư máu, còn được gọi là ung thư bạch cầu hay bệnh bạch cầu, là một kiểu ung thư. Mỗi năm, trên thế giới xuất hiện 300.000 ca ung thư máu mới, chiếm 2,8% trong số tất cả các bệnh ung thư và gây ra 220.000 người chết. Độ tuổi thường gặp đối với bệnh ung thư máu dưới 15 tuổi là 21.7% và trên 15 tuổi là 78.2%. Số lượng bệnh nhân ung thư máu chủ yếu từ 3569 tuổi. Các phương pháp điều trị truyền thống cho bệnh ung thư máu bao gồm hóa trị, xạ trị, chữa trị kháng thể, và ghép tủy xương, truyền máu hay cấy tế bào mầm (tế bào gốc) tạo chất sinh huyết. Các bác sĩ có thể kết hợp từ 2 phương pháp điều trị trở lên tuy nhiên hiệu quả chưa phải là cao lắm so với các căn bệnh ung thư khác.
I.TỔNG QUAN
Ung thư bạch cầu hay còn có tên gọi ngắn gọn là bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá hung dữ, đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu thức ăn và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu).
A.Các tế bào máu bình thường
Hầu hết các tế bào máu đều có nguồn gốc từ các tế bào trong tủy xương được gọi là các tế bào mầm (stem cell). Hình dưới cho thấy cách các tế bào mầm phát triển thành những loại bạch cầu khác nhau. Đầu tiên, các tế bào mầm phát triển thành các tế bào mầm dòng tủy (myeloid) và các tế bào mầm dòng bạch huyết (lymphoid):


• Tế bào mầm dòng tủy sẽ phát triển thành nguyên tủy bào. Nguyên tủy bào sau đó tạo thành hồng cầu, tiểu cầu, và một trong các loại bạch cầu.
• Tế bào mầm dòng bạch huyết sẽ phát triển thành nguyên bào bạch huyết. Nguyên bào bạch huyết sau đó có thể tạo thành một số loại bạch cầu, trong đó có tế bào B hoặc tế bào T.
Các loại bạch cầu được tạo thành từ nguyên tủy bào khác với các loại bạch cầu được tạo thành từ nguyên bào bạch huyết.
B.Các loại chính của bệnh bạch cầu là:
Bệnh bạch cầu chia thành hai dạng tủy bào (myeloid) và Lympho bào (lymphoid).
Xem thêm

18 Đọc thêm

đánh giá một số yếu tố nguy cơ tái phát, di căn của ung thư dạ dày được điều trị triệt căn tại bệnh viện k

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TÁI PHÁT, DI CĂN CỦA UNG THƯ DẠ DÀY ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TRIỆT CĂN TẠI BỆNH VIỆN K

Đặt vấn đề

Ung thư dạ dày cho tới nay vẫn là một trong bốn bệnh ung thư thường
gặp trên thế giới và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư
phổi [70], [32]. Bệnh có sự phân bố không đều giữa các vùng địa lý khác
nhau, tập trung nhiều ở một số nước Đông á, Mỹ La tinh và Đông Âu, tần số
mắc bệnh thấp ở Đông Bắc Phi, Nam á, châu Úc và Bắc Mỹ. Nhật Bản là
nước có tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ung thư dạ dày cao nhất thế giới với
69,2/100.000 dân ở nam và 28,6/100.000 dân ở nữ chiếm 33% các loại ung
thư ở nam và 22% các loại ung thư ở nữ [32], [2].
ở việt Nam, ghi nhận 10 loại ung thư phổ biến tại 5 tỉnh thành giai đoạn
2000 - 2004 cho thấy UTDD đứng vị trí thứ 2 ở cả nam và nữ tại Hà Nội, Hải
Phòng, Thừa Thiên Huế. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ UTDD đứng thứ 4 ở
nam và thứ 6 ở nữ. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của UTDD trên người Hà Nội
giai đoạn 2000 - 2004 ở nam là 30,3 và ở nữ là 15,0/100.000 dân (chiếm
16,6% và 11,5%) [2].
Sự tiến bộ của khoa học đã trợ giúp rất nhiều cho công việc chẩn đoán và
điều trị ung thư nói chung và UTDD nói riêng. Tuy nhiên, kết quả điều trị tuỳ
theo giai đoạn bệnh, ước tính kết quả sống trên năm năm của ung thư dạ dày ở
nước ta vẫn còn thấp (khoảng 30% [15]) do những nguyên nhân sau:
• Khả năng sàng lọc và phát hiện sớm đạt hiệu quả thấp do nhiều lý do
khác nhau, chủ yếu là do điều kiện kinh tế, xã hội.
• Ngay cả khi bệnh nhân được phẫu thuật triệt căn thì thời gian sống
thêm 2 năm chỉ là 41% do tái phát và di căn.
• Bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn, u xâm lấn rộng vượt quá phạm
vi dạ dày, có di căn xa hoặc không còn khả năng phẫu thuật. Di căn và tái phát là một đặc tính căn bản của bệnh ung thư. Đặc biệt là
ung thư dạ dày do đặc điểm giải phẫu và sinh lý nên việc đánh giá chính xác
giai đoạn T, N, M trước mổ để có quyết định phẫu thuật phù hợp là rất khó.
Do vậy tái phát, di căn là một vấn đề lớn đối với các nhà điều trị ung thư dạ
dày. Mặt khác việc phát hiện sớm tái phát, di căn là vấn đề rất quan trọng,
đem đến một cơ hội điều trị tốt hơn cho bệnh nhân sau khi đã thất bại với biện
pháp điều trị ban đầu.
Trong điều trị ung thư dạ dày, phẫu thuật đóng vai trò chủ đạo, được chỉ
định cho tất cả các giai đoạn, việc phối hợp tia xạ và hoá trị giúp làm giảm tỷ
lệ tái phát, di căn.
Đối với các thầy thuốc điều trị ung thư, công việc đặt ra không chỉ là
điều trị tốt bệnh ung thư mà còn kết hợp với phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ,
nhằm xác định các nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao ngay từ khi bắt đầu điều
trị để có những phác đồ điều trị thích hợp, đúng đắn ngay từ ban đầu nhằm
đem lại một hiệu quả điều trị cao nhất giúp cho bệnh nhân có thời gian sống
thêm không bệnh dài hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn đồng thời giảm các
chi phí về y tế đối với việc điều trị do tái phát và di căn gây ra.
Chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tái phát, di
căn của ung thư dạ dày được điều trị triệt căn tại bệnh viện K” nhằm hai
mục tiêu:
1. Nhận xét một số đặc điểm tái phát và di căn của ung thư dạ dày được
điều trị triệt căn tại bệnh viện K năm 2006 – 2009.
2. Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tái phát, di căn của ung thư dạ dày.
Xem thêm

83 Đọc thêm

Tiểu luận: Ung thư máu và các liệu pháp điều trị

TIỂU LUẬN: UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

.ĐẶT VẤN ĐỀ:
Theo thống kê của Viện ung thư Quốc gia Mỹ, ung thư tế bào máu đứng hàng thứ năm trong số các bệnh ung thư gặp tại Mỹ. Theo thống kê của Viện Huyết học và truyền máu Việt Nam nó đứng hàng đầu trong số các bệnh máu gặp tại Viện. Và việc điều trị ung thư máu rất phức tạp. Nó khác nhau tùy theo từng loại và còn tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Việc điều trị không chỉ phụ thuộc vào một số đặc tính nhất định của tế bào bệnh lý, phạm vi của bệnh, và việc bệnh đã được điều trị trước đây hay chưa. Ngoài còn phụ thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân, triệu chứng và tình trạng sức khỏe chung. Để có thể hiểu thêm về bệnh Ung thư máu tôi tiến hành tiểu luận:” Ung thư máu và các liệu pháp điều trị”











B.NỘI DUNG:
I. Bệnh ung thư máu

1. Thế nào là ung thư máu?
Máu bình thường: bao gồm
>Tế bào máu chiếm khoảng 40% thể tích máu. Tế bào máu chia làm ba loại:
Tế bào hồng cầu tạo nên màu đỏ của máu. Một giọt máu chứa 5 triệu hồng cầu. hồng cầu chứa hemoglobin có chức năng vận chuyển oxy từ phổi đến các phần của cơ thể và lấy khí carbonic từ mô quay về phổi.
Tế bào Bạch cầu giúp đỡ cơ thể chiến đấu chống bệnh truyền nhiễm và những bệnh khác. Bao gồm bạch cầu trung tính, bạch cầu base, bạch cầu ưa acid, các tế bào lympho.
Tế bào tiểu cầu giúp đỡ tạo cục máu đông kiểm soát sự chảy máu.
Những tế bào máu được hình thành trong tủy xương, phần trung tâm mềm xốp của xương. Những tế bào máu mới hình thành gọi là tế bào non. Vài tế bào non ở lại xương để trưởng thành. Một số tới những phần khác của cơ thể để trưởng thành.
Bình thường những tế bào máu được sản sinh theo trật tự, được kiểm soát, quá trình này giúp chúng ta khỏe mạnh.
>Huyết tương là phần dịch lỏng của máu chiếm 60% khối lượng máu.Huyết tương chủ yếu là nước, ngoài ra còn chứa nhiều loại protein và các chất hóa học khác như hormon, kháng thể, enzym, gluco, chất béo, muối...
Ung thư máu (Leukemia) là ung thư của cơ quan tạo ra các huyết cầu như tủy xương và hệ thống bạch huyết. Trong ung thư máu các bạch cầu được sản xuất một cách nhanh chóng rối loạn tạo ra các bạch cầu bất thường không hoạt động được và các bạch cầu ung thư này dần dần xâm lấn đến các hồng cầu và tiểu cầu ngăn chặn sản xuất và phá hủy các tế bào này.
2. Phân loại:
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN HÓA TRỊ LIỆU: ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH UNG THƯ

TIỂU LUẬN MÔN HÓA TRỊ LIỆU: ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI







TIỂU LUẬN
MÔN: HÓA TRỊ LIỆU

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH UNG THƯ


Thầy hướng dẫn: TS. Nguyễn Tường Vy
Học viên: Nguyễn Thu Hiền
Mã học viên: 1211023
Lớp: Cao học 17 – Nhóm 5





Hà Nội – Tháng 42013
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hay còn gọi là u ác tính, là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh trên 200 loại khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của tế bào, có thể di căn và lan rộng ra những mô và tế bào khác. Đây là một trong những căn bệnh gây tỷ lệ tử vong cao nhất trên thế giới.
Mục tiêu chính của một chẩn đoán và điều trị ung thư là để chữa bệnh hoặc kéo dài đáng kể tuổi thọ và đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể cho bệnh nhân. Chính vì vậy, điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế thế giới. Tuy nhiên trên thực tế vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ. Chúng ta cần bỏ quan niệm: ung thư giai đoạn muộn, mọi chuyện đã hết. Trong khi chờ đợi hiệu quả chữa bệnh cao hơn nhờ việc phát hiện sớm các thành tựu của y học hiện đại, việc quan tâm làm giảm đau, nâng đỡ sức khỏe và tinh thần tạm thời cũng là công việc rất cần thiết nhằm mang lại cho người bệnh chất lượng sống cao hơn, giảm bớt được nỗi đau thể xác cũng như tinh thần để bệnh nhân được ra đi trong sự thoải mái hơn. Công việc này đầy khó khăn gian khổ nhưng cũng rất vinh quang và nhân đạo, đó là công việc từ trái tim đến trái tim.
Do đó, em đã lựa chọn đề tài “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong bệnh ung thư” cho bài tiểu luận của mình. Trong phạm vi bài tiểu luận này, em tập trung trình bày các triệu chứng của ung thư, nguyên tắc giảm đau và điều trị triệu chứng trong ung thư cũng như đặc điểm một số các thuốc cụ thể thường dùng.
Với mục tiêu như vậy, bài tiểu luận của em được chia thành 2 chương:
1. Triệu chứng của ung thư
2. Nguyên tắc và các thuốc điều trị







NỘI DUNG
1. TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ
Ban đầu, hầu hết bệnh nhân ung thư không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt thường là khi bệnh đã tiến triển trầm trọng. Thông thường,ung thư có thời gian ủ bệnh (tức là thời gian từ khi một tế bào bị đột biến thành tế bào ung thư đến khi các triệu chứng của bệnh được bộc lộ) khá dài, khoảng 10 năm hoặc hơn nữa tùy thể loại ung thư. Do đó cách phòng và điều trị ung thư hiệu quả nhất được khuyến cáo là nên đi khám sức khỏe định kì 6 tháng một lần.
Do ung thư là tập hợp của nhiều dạng bệnh ung thư khác nhau nên triệu chứng của ung thư rất đa dạng và khác nhau ở tùy thể bệnh ung thư. Nói chung triệu chứng của ung thư được phân làm ba nhóm chính:
• Triệu chứng tại chỗ: các khối u bất thường hay phù nề, chảy máu (hemorrhage), đau vàhoặc loét (ulcer). Chèn ép vào mô xung quanh có thể gây ra các triệu chứng như vàng da.
• Triệu chứng của di căn (lan tràn): hạch bạch huyết lớn lên, ho, ho ra máu, gan to, đau xương, gãy xương ở những xương bị tổn thương và các triệu chứng thần kinh. Đau có thể gặp ở ung thư giai đoạn tiến triển, nhưng thông thường đó không phải là triệu chứng đầu tiên.
• Triệu chứng toàn thân: sụt cân, chán ăn và suy mòn, tiết nhiều mồ hôi (đổ mồ hôi trộm), thiếu máu và các hội chứng cận u đặc hiệu, đó là tình trạng đặc biệt được gây ra bởi ung thư đang hoạt động, chẳng hạn như huyết khối (thrombosis) hay thay đổi nội tiết tố.
2. NGUYÊN TẮC VÀ THUỐC ĐIỀU TRỊ
2.1. Giảm đau trong ung thư
2.1.1. Đại cương về đau trong ung thư
Đau là một triệu chứng phổ biến trong ung thư, người bệnh có thể chết vì đau và suy kiệt. Nhiều bệnh nhân ung thư bày tỏ cảm giác không sợ chết bằng sự dằn vặt của đau đớn. Đau do ung thư là đau mạn tính, dai dẳng, có khi kéo dài vài tháng đến vài năm nếu như không có biện pháp kiềm chế.
13 người bệnh ung thư than phiền bị đau trong thời gian bệnh.
70 80% bệnh nhân ở giai đoạn tiến xa: có đau đớn.
Bệnh càng tiến triển nặng, đau đớn càng nhiều hơn nhất là người bệnh ung thư ở giai đoạn cuối.
Nguyên nhân: do bệnh ung thư, liên quan đến điều trị ung thư, rối loạn bệnh đi kèm
Cơ chế đau ung thư: đa dạng và phức tạp.
 Do xâm lấn ung thư: gây hoại tử, nhiễm trùng, xâm lấn chung quanh: 23 trường hợp ung thư có di căn; ung thư di căn xương, chèn ép tủy sống 50%
 Do chèn ép xâm lấn đến các nhánh, rễ thần kinh hoặc tùng, đám rối thần kinh (chiếm 20%).
 Đau dai dẳng sau điều trị: 20%.
 Cảm giác đau của bệnh nhân ung thư còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố tâm lý như lo lắng, hoảng hốt, và yếu tố xã hội. Vì vậy cần phải đánh giá đau trong một bối cảnh chung gọi là đau tổng thể.
Khám lâm sàng và xét nghiệm cần thiết, nhằm xác định:
 Vị trí, tính chất, cường độ đau, thời gian khởi đau…
 Chú ý triệu chứng thần kinh: tê rần, rát bỏng, co giật, hay yếu liệt
 Triệu chứng đi kèm: sốt, ớn lạnh, khó thở, nôn ói, nhức đầu…
 Ảnh hưởng đến: giấc ngủ, ăn uống, sinh hoạt thường ngày…
 Bệnh ung thư và quá trình điều trị.
Đánh giá mức độ đau: Cần lượng hoá mức độ đau và mức độ ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày bằng thang điểm từ 010 (thường dựa vào bộ câu hỏi thang 10 điểm của nhóm nghiên cứu Madison). Một số phương pháp đánh giá đau như sau:
 Dựa vào các hình nét mặt, dáng đi để bệnh nhân đánh giá mức đau đớn của người bệnh
 Dựa hoàn toàn vào chủ quan bệnh nhân qua hỏi về thời gian đau
Xem thêm

13 Đọc thêm

Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn ung thư trực tràng thấp

NGHIÊN CỨU CHỈ ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ TRIỆT CĂN UNG THƯ TRỰC TRÀNG THẤP

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư trực tràng là một trong những bệnh thường gặp và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong bệnh lý ung thư Đại trực tràng. Tỷ lệ mắc bệnh này có xu hướng ngày càng tăng 17, 24, 45, 108. Tại các nước Âu Mỹ, ung thư Đại trực tràng đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hoá và có tỷ lệ tử vong cao. Năm 2011, tại Mỹ có 141.000 trường hợp mắc mới ung thư trực tràng và 49.380 ca tử vong 79. Ở châu Á hàng năm số người bị ung thư Đại trực tràng tăng lên từ 3 5%. Tại Việt Nam, theo thống kê của Viện Ung Thư Trung Ương (Hà Nội) tỷ lệ mắc ung thư Đại trực tràng năm 1992 là 5,1100.000 dân và đến năm 1994 tăng lên 7,5100.000 dân 50. Ở các nước phát triển bệnh ung thư Đại trực tràng đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư, tuy nhiên ung thư Đại trực tràng vẫn được coi là bệnh có tiên lượng tốt hơn các ung thư khác nói chung 17, 24.
Nguyên tắc điều trị ung thư trực tràng là sự phối hợp của nhiều biện pháp: phẫu thuật, hoá trị, xạ trị và miễn dịch trị liệu, trong đó phẫu thuật đóng vai trũ quyết định. Đánh giá kết quả sau phẫu thuật ung thư nói chung và ung thư trực tràng nói riêng có hai vấn đề được quan tâm là thời gian sống và chất lượng cuộc sống, trong đó chất lượng cuộc sống ngày càng được các thầy thuốc quan tâm và chú trọng hơn 17, 24, 38.
Cùng với xu thế phát triển chung của phẫu thuật nội soi, trong những năm gần đây phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng đó đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc. Các Nghiên cứu gần đây cho thấy, phẫu thuật nội soi đó đem lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân như: sớm phục hồi chức năng ruột, giảm mất máu, ít đau sau mổ và thời gian nằm viện khi so sảnh với phẫu thuật mở, kết quả về mặt ung thư học, thời gian sống thêm sau mổ, chất lượng cuộc sống sau mổ cũng cho kết quả tốt hơn, đặc biệt với những ung thư trực tràng cao và ung thư trực tràng giữa. Tuy nhiên, đối với những ung thư trực tràng ở vị trí thấp cách rìa hậu môn ≤ 6cm, chỉ định điều trị phẫu thuật nội soi bảo tồn cơ thắt hay phá hủy cơ thắt đang cũng nhiều vấn đề cần bàn luận 2, 13, 128, 135.
Việc đề ra chỉ định và lựa chọn phương pháp phẫu thuật ung thư trực tràng chủ yếu dựa vào giai đoạn bệnh và vị trí khối u so với rìa hậu môn. Đối với ung thư trực tràng thấp có nhiều phương pháp khác nhau, vấn đề đặt ra là lựa chọn phương pháp nào vừa đảm bảo chất lượng cuộc sống vừa đảm bảo nguyên tắc trong phẫu thuật ung thư nhằm kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh. 105, 123, 124.
Xuất phát từ những vấn đề trên, để ứng dụng những tiến bộ của thế giới và có những luận cứ khoa học trong điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng thấp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn ung thư trực tràng thấp”.
Mục tiêu của đề tài:
1. Nghiên cứu chỉ định phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn ung thư trực tràng thấp.
2. Đánh giá kết quả điều trị triệt căn ung thư trực tràng thấp bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Xem thêm

174 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI




TIỂU LUẬN

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ




Họ tên: Ngô Phương Chung
Mã học viên: 1211006
Lớp: Cao học 17




Hà Nội – 2013

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.
Ung thư là mối lo của nhân loại trong thế kỷ XXI. Đây là căn bệnh gây tử vong đứng thứ hàng thứ hai cho con người sau bệnh lý tim mạch. Đời sống kinh tế xã hội càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao, công nghiệp ngày càng phát triển đồng nghĩa với tỉ lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, theo ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc ung thư nhưng con số tử vong lên tới 60%. Lý do là hầu hết các bệnh nhân phát hiện ung thư đều ở giai đoạn muộn (giai đoạn III hoặc IV), vì vậy nhu cầu về điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng trong ung thư là rất lớn. Điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới, cùng với các ưu tiên khác như: dự phòng ung thư, sàng lọc và phát hiện sớm bệnh ung thư, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ung thư. Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư ở các nước đang phát triển và kể cả ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ.
Với mục tiêu tất cả bệnh nhân phải được điều trị khi có xuất hiện đau để làm giảm sự đau đớn và cải thiện chất lượng cuộc sống tất cả các giai đoạn trong quá trình bệnh tật của họ, chuyên đề “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong điều trị ung thư” này sẽ cung cấp cho các cán bộ y tế, gia đình người bệnh và cộng đồng thêm các thông tin hữu ích để chăm sóc người bệnh tốt hơn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

BÀI TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

BÀI TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN HÓA DƯỢC






BÀI TIỂU LUẬN
UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ




Học viên : TRẦN THỊ BÍCH HỢP
Mã học viên : 1211028
Lớp : Cao học 17


















HÀ NỘI – 2013
ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào do sự phát triển không bình thường của tế bào. Cơ thể của con người được hình thành từ rất nhiều loại tế bào. Bình thường những tế bào được phát triển và phân chia khi cơ thể cần đến. Tuy nhiên đôi khi các tế bào bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.
Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u. Khác với các khối u lành tính chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, các khối u ác tính (ung thư) xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh giống như hình “con cua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc như rễ cây lan trong đất. Các tế bào của các khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tử vong. Cùng với di căn xa, tính chất bệnh ung thư hay tái phát làm cho điều trị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh.
Đa số ung thư là bệnh có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài qua từng giai đoạn. trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gen từ lúc bào thai, còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài, có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng các khối u. Triệu chứng đau thường chỉ xuất hiện khi bệnh ở giai đoạn cuối.
Hiện nay, ung thư là một bệnh có tỷ lệ tử vong cao, đang được cả thế giới quan tâm. Số người mắc bệnh có xu hướng ngày càng tăng. Qua ghi nhận ung thư hàng năm cho thấy, tổng số ca ung thư mới mắc trên thế giới như sau:
Năm 1980: 6,4 triệu
Năm 1985: 7,6 triệu
Năm 2000: 5,3 triệu ung thư ở nam, 4,7 triệu ung thư ở nữ
Năm 2002: có 10,9 triệu người mới mắc ung thư
và tỷ lệ hàng năm là 202100.000 ở nam, 158100.000 ở nữ.
Ung thư phổi là một loại ung thư có ý nghĩa thời sự trong y học nói chung và ung thư học nói riêng vì nhiều lý do. Thứ nhất vì ung thư phổi là ung thư thường gặp nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam và ngày càng có chiều hướng gia tăng theo mức độ ô nhiễm môi trường liên quan đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở hầu hết các nước cũng như nạn hút thuốc lá, nghiện ma túy… Thứ hai, chi phí điều trị lớn song hiệu quả lại rất thấp; mặc dù y học ngày nay đã có những tiến bộ lớn trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi song việc phát hiện bệnh sớm là vô cùng khó khăn, tốn kém, do đó khả năng chữa khỏi hẳn bệnh là rất hạn chế, thời gian sống trung bình trong đa số trường hợp, chỉ trên dưới một năm.
Ung thư phổi là bệnh ung thư hay gặp, tiên lượng còn nhiều hạn chế do đa số bệnh nhân được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn (Thế giới: 6070%; Việt Nam 9093%). Ngay ở Hoa Kỳ, theo thống kê năm 1999, đã có tới 158.800 trường hợp tử vong do loại ung thư này.
Xem thêm

20 Đọc thêm

TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI




TIỂU LUẬN

UNG THƯ PHỔI
VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ




Môn học: Hóa trị liệu
Học viên: Ngô Thị Mỹ Bình
Mã học viên: 1211003
Lớp: Cao học 17










Hà Nội, tháng 4 năm 2013


ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi trên thế giới nói chung và cũng như ở Việt Nam nói riêng là bệnh phổ biến trong tất cả các loại ung thư. Đây là bệnh có tiên lượng xấu bởi tiến triển nhanh, di căn sớm, phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, những năm gần đây, tỉ lệ phát bệnh và tử vong vì ung thư phổi ở các nước trên thế giới ngày càng tăng rõ rệt, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
So với tất cả các loại ung thư khác, đây là loại ung thư có tần số tăng cao hơn cả. Cũng cần nhấn mạnh là loại ung thư này, trước đây ít gặp ở nữ giới thì nay lại là loại ung thư gây nhiều tử vong cho giới này, đứng hàng thứ 4 sau ung thư vú, ung thư đường tiêu hóa và ung thư tử cung.
Mục tiêu của điều trị bệnh lý ung thư là loại bỏ tổ chức ung thư. Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị khác nhau được phát triển và áp dụng trong thực tiễn điều trị bệnh nhân ung thư như: phẫu thuật (bao gồm cả ghép tạng), tia xạ (xạ trị liệu), phẫu thuật bằng tia gamma, điều trị bằng hóa chất (hóa trị liệu), điều trị bằng các phương pháp phân tử (tế bào gốc, gen trị liệu)… Nhưng dù áp dụng biện pháp điều trị nào thì để đạt được hiệu quả điều trị cao, vấn đề cốt lõi là phải phát hiện ra bệnh lý ung thư ở giai đoạn càng sớm càng tốt.
Để có cái nhìn khái quát nhất về vấn đề này, tôi lựa chọn tiểu luận “Ung thư phổi và các liệu pháp điều trị” nhằm 2 mục đích:
1, Trình bày được những đặc tính cơ bản của bệnh ung thư phổi.
2, Trình bày được một số liệu pháp điều trị ung thư phổi hiện nay.

UNG THƯ PHỔI
Ung thư phổi là bệnh lý ác tính xuất phát tại phổi (ung thư phổi tiên phát) hoặc từ nơi khác di căn đến phổi (ung thư phổi thứ phát).
Tùy thuộc vào hình dạng tế bào dưới kính hiển vi, ung thư phổi được chia làm hai loại chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Mỗi loại ung thư phát triển và lan theo những cách khác nhau, do đó cũng được điều trị khác nhau.
Ung thư tế bào nhỏ (smallcell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 20% các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm chỉ có 5%.
Ung thư tế bào không nhỏ (non smallcell carcinoma): thường gặp hơn ung thư phổi tế bào nhỏ (khoảng 80%) và nó thường phát triển và lan chậm hơn. , được chia làm 3 loại và được đặt tên theo loại tế bào từ đó ung thư phát triển:
Ung thư tế bào tuyến (adenocarcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 40 % các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 17%.
Ung thư tế bào sừng (squamouscell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 25% các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 15%.
Ung thư tế bào lớn (largecell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 15% các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 11%.
1. DICH TỄ HỌC 2;4;7
Hiện nay đã có những số liệu ghi nhận về ung thư tương đối chính xác và có thể đại diện cho tình hình ung thư của cả nước. Theo số liệu về tỷ lệ ung thư ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 1995 1996, và từ đó ước tính chung tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam năm 2000, nam giới có khoảng 36.021 người chiếm tỷ lệ 91,5100.000 dân và ở nữ giới có khoảng 32.786 người, chiếm tỷ lệ 81,5100.000 dân. Ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam giới. Ước tính cả nước hàng năm có khoảng 6.905 ca ung thư phổi mới mắc. Trong số các trường hợp ung thư phổi nhập viện, 62,5% không còn khả năng phẫu thuật.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Tiểu luận: Ung thư máu và các liệu pháp trị liệu – Nhóm 9

TIỂU LUẬN: UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP TRỊ LIỆU – NHÓM 9

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau bệnh tim mạch.Đó là tên chung để chỉ một nhóm gồm khoảng 200 bệnh do các tế bào phân chia một cách bất thường. Trong đó ung thư tế bào máu đứng hàng thứ năm trong số các bệnh ung thư gặp tại Mỹ. Theo thống kê của Viện Huyết học và truyền máu Việt Nam nó đứng hàng đầu trong số các bệnh máu gặp tại Viện. Và việc điều trị ung thư máu cũng rất phức tạp. Vì vậy, em làm tiểu luận: “Ung thư máu và các liệu pháp trị liệu” để tìm hiểu rõ hơn về bệnh ung thư máu.



















B. NỘI DUNG
I. Bệnh ung thư máu:
1. Định nghĩa ung thư máu:
Ung thư máu (Leukemia) là ung thư của cơ quan tạo ra các huyết cầu như tủy xương và hệ thống bạch huyết. Trong ung thư máu các bạch cầu được sản xuất một cách nhanh chóng rối loạn tạo ra các bạch cầu bất thường không hoạt động được và các bạch cầu ung thư này dần dần xâm lấn đến các hồng cầu và tiểu cầu ngăn chặn sản xuất và phá hủy các tế bào này.
2. Phân loại:
Bệnh ung thư máu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh:
Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu.Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì.Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện.Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn.
Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường.Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh.
Còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho và tiến triển của mỗi dòng đó:
Bệnh bạch cầu lymphô mạn tính (CLL): Các tế bào lymphô bị ảnh hưởng và thường tiến triển chậm. Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi.Hầu như không gặp ở trẻ em.
Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và giai đoạn đầu thường tiến triển chậm. Phần lớn gặp ở người lớn.
Bệnh bạch cầu lymphô cấp tính (ALL): Là thể phát triển ác tính của các tế bào dòng lymphô và tiến triển rất nhanh. Đây là thể bệnh bạch cầu thường gặp nhất ở trẻ em, người lớn đôi khi cũng có thể bị mắc.
Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và tiến triển nhanh. Có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em.
Bệnh bạch cầu tế bào tóc: là một thể hiếm gặp của bệnh bạch cầu mạn tính.
3. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Hiện nay, người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nhân gây bệnh ung thư nói chung, cũng như nguyên nhân gây ung thư máu nói riêng. Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh, bao gồm:
Xem thêm

19 Đọc thêm

Cùng chủ đề