VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT":

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Vật chất là phạm trù xuất phát điểm của triết học. Đây là phạm trù có nội hàm rộng đến cùng cực. Việc nắm vững nội dung của phạm trù có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, làm cơ sở cho giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

20 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

về phạm trù nền tảng của CNDV.* Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của Lênin+ Nó đã khắc phục triệt để thiếu sót chủ yếu của CNDV cũ và những biến tớng của nó trong quan niệm về vậtchất của các nhà triết học t sản hiện đại; tạo cơ sở khoa học cho quan niệm duy vật về xã hội, cho sự thống nhất giữaCNDVBC và CNDVLS.+ Nó là cơ sở khoa học, là vũ khí t tởng để đấu tranh chống CNDT và “thuyết không thể biết” một cách hiệu quả,bảo đảm sự đứng vững của CNDV trớc sự phát triển mới của KHTN.+ Nó trang bị TGQ và PPL khoa học cho các nhà khoa học trong nghiên cứu về thế giới vật chất; động viên, cổ vũhọ tin vào khả năng nhận thức của con người tiếp tục đi sâu khám phá những thuộc tính mới của vật chất. Do vậy, nócó tác dụng thúc đẩy KHTN và nhất là vật lý học thoát khỏi cuộc khủng hoảng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đểtiến lên.+ Đến nay, định nghĩa vật chất... vẫn còn nguyên giá trị, là tiêu chuẩn căn bản nhất để phân biệt TGQDV vàTGQDT.II. Các hình thức tồn tại của vật chấtVấn đề vật chất tồn tại, hay không tồn tại, nếu có tồn tại thì tồn tại ở đâu ?Xung quang vấn đề này đã có nhiều quan điểm khác . Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin : vật chất tồn tạitrong ( VĐ- KG- TG )991. Vận động của vật chất* Vận động là gì?Vận động gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả từ sự thay đổi vị trí giảnđơn cho đến tư duy.VĐ là phương thức tồn tại của vật chất, một thuộc tính cố hữu của vật chấtNhư vậy, vận động, trong triết học đợc hiểu là mọi sự biến đổi nói chung, không phải chỉ là sự di chuyển vị trí giản đơn, cơgiới như trong quan niệm thông thường
Xem thêm

17 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC

ý thức sai lầm, trái quy luật khách quan của con ngời có tác động tiêu cực thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan, kéo lùi lịch sử. Bởi mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ tác động qua lại. Không nhận thức đợc điều này sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thờngvà bệnh nảo thủ trì trệ trong nhận thức và hành động.4Tiểu luận triết họcNói tới vai trò của ý thức về thực cất là nói tới vai trò của con ngời bởi ý thức là ý thức của con ngời.Trái với các nhà triết học duy tâm muốn biến ý thức của con ngời thành động lực của lịch sử, Cácmac và Ph.Ăngghen đã khẳng định: Xa nay, t tởng không thể đa ngời ta vợt ra ngoài trật tự thế giới cũ đợc, trong bất cứ tình huống nào, t tởng cũng chỉ có thể đa ngời ta vợt ra ngoài phạm vi t tởng của trật tự thế giới cũ mà thôi. Thật vậy, t tởng căn bản không thể thực hiện đợc cái gì hết. Muốn thực hiện t tởng thì cần có những con ngời sử dụng lực lợng thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là con ngời muốn thực hiện các quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn các quy luật đó, phải có ý chí và phơng pháp để tổ chức hành động. Nh vậy vai trò của ý thức là ở chỗ nó giúp con ngời đề ra chủ trơng, đờng lối, chính sách, những mục đích, kế hoạch, biện pháp, phơng hớng phù hợp với thực tế khách quan. Nói nh vậy có nghĩa là cũng có những ý thức khoa họcvà những ý thức không khoa học so với hiện thực khách quan, tơng ứng với nó là hai tác động trái ngợc nhau tích cực và tiêu cực của ý thức đối với vật chất. Vai trò tích cực của ý thức, t tởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế khách quan từ đó hình thành đợc mục đích, phơng hớng, biện pháp đúng đắn đồng thời có ý chí, quyết tâm cần thiết cho hoạt dộng của mình. Sức mạnh cuả ý thức con ngời không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan, mà là biết dựa vào điều kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan một cách chủ động, sáng tạo với ý chí và quyết tâm cao nhằm
Xem thêm

18 Đọc thêm

BÀI 2 THẾ GIỚI VẬT CHẤT TỒN TẠI KHÁCH QUAN

BÀI 2 THẾ GIỚI VẬT CHẤT TỒN TẠI KHÁCH QUAN

CSNTCHNLPKTBCN-CNXHTheo em , yếu tố chủ yếu nào đã tạo nên sự biến đổi của xã hội ? Sự phát triển kinh tế ! Sự biến đổi của giới tự nhiên !Vì sao nói xã hội là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên ?Vì xã hội là hình thức tổ chức cao nhất của giới tựnhiên ! Có cơ cấu xã hội mang tính lịch sử riêng , có nhữngquy luật riêng !?????????Kết luận :Sự ra đời của con người và xã hội loài người làđồng thời . Kết cấu quần thể của loài vượn cổ ,chính là tiền đề tự nhiên hình thành xã hội loài
Xem thêm

16 Đọc thêm

CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT

CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT

Chuyển hóa vật chất là tập hợp các phản ứng sinh hóa xảy ra bên trong tế bào. Nhờ chuyển hóa vật chất. Chuyển hóa vật chất là tập hợp các phản ứng sinh hóa xảy ra bên trong tế bào. Nhờ chuyển hóa vật chất, tế bào thực hiện được các đặc tính đặc trưng khác của sự sống như sinh trưởng, cảm ứng và sinh sản. Chuyển hóa vật chất luôn kèm theo chuyển hóa năng lượng.Chuyển hóa vật chất bao gồm 2 mặt: tổng hợp các chất hữu cơ phức tạp từ các chất đơn giản (được gọi là đồng hóa) và phân giải các chất hữu cơ phức tạp thành chất đơn giản hơn (được gọi là dị hóa). Hình 13.2 cho thấy quá trình dị hoá cung cấp năng lượng để tổng hợp ATP từ ADP. ATP ngay lập tức được phân hủy thành ADP và giải phóng năng lượng cho quá trình đồng hóa cũng như các hoạt động sống khác của tế bào. Hình 13.2. Quá trình tổng hợp và phân giải ATP (®. : phôtphat vô cơ) Các quá trình dị hóa và đồng hóa sẽ được trình bày trong các bài 16 và 17.
Xem thêm

1 Đọc thêm

TÌM HIỂU VỀ VẬT CHẤT VÀ PHẢN VẬT CHẤT

TÌM HIỂU VỀ VẬT CHẤT VÀ PHẢN VẬT CHẤT

Tìm hiểu về vật chất , phản vật chất

5 Đọc thêm

Giá trị , vai trò của vật chất ý thức trong đời sống và trong việc rèn luyện sinh viên hiện nay

GIÁ TRỊ , VAI TRÒ CỦA VẬT CHẤT Ý THỨC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TRONG VIỆC RÈN LUYỆN SINH VIÊN HIỆN NAY

Giá trị , vai trò của vật chất ý thức trong đời sống và trong việc rèn luyện sinh viên hiện nay “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,vật chất tồn tại độc lập với cảm giác,ý thức, còn cảm giác,ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh khách quan. Kết cấu của ý thức cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm vềý thưc theo các trường phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng: Ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất , là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần ý thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó
Xem thêm

16 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI. VẬN DỤNG LÝ GIẢI MỘT SỐ PHONG TỤC TẬP QUÁN Ở VIỆT NAM

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI. VẬN DỤNG LÝ GIẢI MỘT SỐ PHONG TỤC TẬP QUÁN Ở VIỆT NAM

welcomeMối Quan Hệ Giữa Tồn Tại Xã Hội Và Ý ThứcXã Hội.Vận Dụng Lý Giải Một Số Phong Tục Tập QuánỞ Việt NamBài thuyết trình nhóm 6Đề tài : Mối quan hệ giữa tồn tại xãhội và ý thức xã hội.T.S TạThị VânVận dụngGVHD:lý giảimộtsốHàNhóm 6phong tục tập quán ở Việt NamĐố bạn đời sống vậtchất và tinh thần gọilà gì triết học ?Tôi đâu phải conngười làm sao trả lờiđược, bạn hỏi cácanh chị trong lớp nè !Danh Sách thành viên

39 Đọc thêm

Sự khác nhau giữa ba hình thức của chủ nghĩa duy vật

SỰ KHÁC NHAU GIỮA BA HÌNH THỨC CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT

Sự khác nhau giữa ba hình thức của chủ nghĩa duy vật
Trong triết học, chủ nghĩa duy vật là một hình thức của thực hữu luận (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất.

Cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật để được hình thành và phát triển vói ba hình thức cơ bản là: Chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng.

1. Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại. Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này để lý giải toàn bộ sự hình thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới

Ưu điểm: Lấy giới tự nhiên để giải thích giới tự nhên, không viện đến thần linh hay Thượng Đế.

Hạn chế: Những lý giải về thế giới còn mang nặng tính trực quan nên những kết luận về thế giới về cơ bản còn mang tính ngây thơ, chất phác.

Ví dụ: Quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit

2. Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII và đỉnh cao vào thế kỉ thứ XVII, XVIII. Đây là thời kì mà cơ học cổ điển thu được những thành tựư rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc của cơ học cổ điển. Do đó theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gây ra

Tích cực: Góp phần không nhỏ vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang thời Phục Hưng ở các nước Tây Âu

Hạn chế: Chưa phản ứng đúng hiện thực trong mỗi liên hệ phổ biến và sự phát triển

Ví dụ: Các quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII

3. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác và Ănghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỉ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đ• khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó là kết quả của quá trình đúc kết, khái quát hoá những tri thức của nhân loại về nhiều lĩnh vực để xây dựng nên hệ thống quan điểm lý luận chung, đồng thời định hướng cho các lực lượng x• hội tiến bộ trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình

Tích cực: Phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn tại, là công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạ hiện thực ấy

Hạn chế:

Ví dụ:

Trên cơ sở phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua các hình thức lịch sử của nó, trong đó chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử. Bên cạnh những mặt khác nhau, cả 3 hình thức trên đều thống nhất ở cùng một đặc điểm đó là: Khi giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học đều khẳng định vật chất là cái có trước và quyết định ý thức.
Xem thêm

3 Đọc thêm

VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

với đủ các kích cỡ chủng loại, chứ không phải bằng phơng pháp thủ công xa xa. VD2. Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nớc. T sản đại hội VI, đảng ta chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tế thị trờng, nhờ đó mà sau gần 20 năm đất mới bộ mặt đất nớc ta đã thay đổi hẳn.ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con ngời trong quá trình cải tạo thế giới quan. VD. Nhà máy sử lý rác thải của Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việc không khảo sát thực tế khách quan hay đúng hơn nhận thức về việc sử lý rác vô cơ và rác hữu cơ là cha đầy đủ vì vậy khi vừa 4mới khai trơng nhà máy này đã không sử lý nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần đợc thanh lý.II. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với con đờng đi lên xã hội chủ nghĩa của nớc ta.1. Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết định ý thức là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó.Trơc thời kì đổi mới, khi cơ sở vật chất con cha có chúng ta nôn nóng muôn đốt cháy giai đoạn nên đã phải trả giá. ở thời kì này chúng ta phát triển quan hệ sản xuất đi trớc lực lợng sản xuất mà không nhìn thấy vai trò quyết định của lực lợng sản xuất. Sau giải phóng đất nớc ta là một đất nớc nông nghiệp với số dân tham gia vào ngành này tới hơn 90%. Nhng chúng ta vẫn xây dựng các nhà máy công nghiệp trong khi để nhanh chóng trở thành nớc công nghiệp hoá trong khi lực lợng sản xuất cha phát triển, thêm vào đó là sự phân công không hợp lý về quản lý nhà nớc và của xã hội, quyền lực quá tập trung vào Đảng, và Nhà nớc quản lý quá nhiều các mặt của đời
Xem thêm

13 Đọc thêm

THẾ GIỚI VẬT CHẤT VÀ PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA THẾ GIWOIS VẬT CHẤT

THẾ GIỚI VẬT CHẤT VÀ PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA THẾ GIWOIS VẬT CHẤT

thận linh. nhìn chung cũng giống như các nhà duy vật cùng thời khác, đa phần là nhịnguyên luận.+ Bước tiến quan trọng nhất trong quan niệm về vật chất là thuyết nguyên tử luậncủa thày trò Lơxíp (500-440) và Đêmôcrít (460-370 TCN): Theo các ôn nguyên tử làbản nguyên đầu tiên sinh ra mọi SVHT trong thế giới.Theo tư tưởng này: Nguyên tử là những hạt nhỏ bé nhất, không thể phân chia,không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp. Nguyêntử tồn tại vĩnh viễn, không do ai sáng tạo ra, cũng không bị tiêu diệt. Mọi sự vật hiệntượng của thế giới là do sự kết hợp và phân giải của các nguyên tử mà thành.Có thể thấy rằng ; quan niệm của Thày trò Đêmôcrit là rất tiến bộ, ông đã thểhiện lập trường duy vật, phủ nhận thượng đế, coi thượng đế là do trí tưởng tượngcủa con người. Cũng chính vì vậy học thuyết nguyên tử luận đã trở thành giới hạn tộtcùng trong nhận thức của loài người trong nhiều thế kỷ từ lúc ra đời đến tận dầuTK19. khi những phát minh khoa học có tính vạch thời đại xuất hiện thì học thuyếtnguyên tử luận mới bị phá vỡ.Nhìn chung : các nhà duy vật thời kì cổ đại có nhiều tư tưởng tiến bộ, đã dùngbản thân thế giới vật chất để giải thích về thế giới vật chất.Không giống như các nhàduy tâm coi tinh thần là cơ sở của thế giới. Khuynh hướng chung của họ là đi tìmmột loại vật chất cụ thể nào đó và coi đó làn nguồn gốc tạo nên vạn vật của thế giới.7- Thời kì cận đạiCác nhà triết học duy vật thời kì cận đại vẫn có khuynh hướng giải thích vật chấtgiống như các nhà triết học cổ đại, đồng nhất vật chất với thuộc tính tồn tại của vậtchất. Tuy nhiên dựa trên những thành tựu của khoa học đương thời, các nhà triết họcthời kì này có cách giải thích khác về vật chất.Vật chất là khối lượngVật chất là năng lượngVật chất là nguyên tử
Xem thêm

23 Đọc thêm

bài tiểu luận vật chất và ý thức

BÀI TIỂU LUẬN VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật và hiện tượng phong phú và đa dạng. Nhưng dù phong phú và đa dạng đến đâu thì cũng quy về hai lĩnh vực: vật chất và ý thức. Có rất nhiều quan điểm triết học xoay quanh vấn đế về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nhưng chỉ có quan điểm triết học Mác Lênin là đúng và đầy đủ đó là: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức, đồng thời ý thức tác động trở lại vật chất.
























I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.
2.1. Vật chất
2.1.1. Định nghĩa vật chất
 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất: Chủ nghĩa duy vật trước Mác có rất nhiều định nghĩa về vật chất, trong đó nổi lên các định nghĩa điển hình sau đây:
Thời kì cổ đại: đồng nhất vật chất với một dạng vật cụ thể:
Talet cho rằng vật chất là nước.
Anaximen cho rằng vật chất là không khí.
Đêmôcrit cho rằng vật chất là nguyên tử.
=> Quan niệm vật chất thời kì cổ đại mang tính trực quan, cảm tình. Nó chỉ có tác dụng chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
Thời kí cận đại thế kỷ XVII – XVIII: đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc thuộc tính của vật thể.
VD: Niutơn cho rằng khối lượng là vật chất.
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: xem xét thế giơí trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại do sự tác động của phương pháp tư duy siêu hình, tư duy máy móc do sự phát triển của cơ học
Đại biểu: ph.Bêcơn, T.Hốpxơ….
=> Những nhận định trên không hiểu chính xác bản chất của các hiện tượng ý thức cũng như mối quan hệ ý thức với vật chất
 Định nghĩa vật chất của Lênin
Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó. Nhưng theo Lênin định nghĩa: “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan bên ngoài ý thức, người trong cảm không phụ thuộc vào ý thức, vật chất là cái gây nên cảm giác khi tác động vào các giác quan, còn cảm giác, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học, Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là khái niệm rộng nhất, muốn phân biệt tư cách là phạm trù triết học, là kết qủa của sự khái quát và trừu tượng với những “hạt nhân cảm tính”. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được. Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có, không thể tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan. Khác với quan niệm ý niệm tuyệt đối của chủ nghĩa duy tâm khách quan, “thượng đế” của tôn giáo…Vật chất không phải là lực lượng siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó, trái lại phạm trù vật chất kết quả của sự khái quát sự vật, hiện tượng cụ thể, và do đó các đối tượng vật chất là có thật, hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác, và nhờ đó mà ta có thể biết được, hiểu được và nắm bắt sự vật này. Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học.
Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khẳng định như vật một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết định của nó với vật chất, và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người. Nó không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt chủ nghĩa duy vật với nhị nguyên luận.
Như vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để, nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội, có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào các dạng cụ thể của vật chất trong giới vi mô. Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
2.1.2. Các đặc tính của vật chất
 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là sự biến đối nói chung chứ không phải là sự dịch chuyển trong không gian. Ph.Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, gồm tất cả mọi sự thay đổi trong mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ. Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơhóalýsinhxã hội. Các hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình thức vận động khác, trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thức vận động cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.
Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng, không thể có vật chất không vận động, tức vật chất tồn tại. Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất, chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể lấy được thuộc tính của nó. Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.
Bất cứ một dạng vật chất nào cũng có thể là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau, cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đối. Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong, vận động vật chất là tự thân vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên ngoài vật chất. nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu
Xem thêm

17 Đọc thêm

vận động là phương thức tồn tại của vật chất

VẬN ĐỘNG LÀ PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hưữ của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

Theo quan niệm của Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”, vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vật chất.

Dựa trên thành tựu khoa học trong thời đại mình, Ăngghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản: vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội.

Các hình thức vận động nói trên được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao tương ứng với trình dộ kết cấu của vật chất. Các hình thức vận động khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó: hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có.

Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại, phân ngành, hợp ngành khoa học. tư tưởng về sự thống nhất nhưng khác nhau về chất của các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hướng đánh đồng các hình thức vận động hoặc quy hình thức vận động này vào hình thức vận động khác trong quá trình nhận thức.

Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ đã khẳng định vận động là vĩnh viễn. Điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cân bằng; song đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động.

Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một số quan hệ nhất định chứ không xảy ra với tất cả mọi quan hệ; đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một hình thức vận động chứ không phải xảy ra với tất cả các hình thức vận động. Đứng im là tam thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ xét trong một hay một số quan hệ nhất định, ngay trong sự đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định.

Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi căn bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật.
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT

ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT

Trong quá trình sinh sống, người nguyên thủy thời Sơn Vi - Hòa Bình - Bắc Sơn - Hạ Long thường xuyên tìm cách cải tiến công cụ lao động. Trong quá trình sinh sống, người nguyên thủy thời Sơn Vi - Hòa Bình - Bắc Sơn - Hạ Long thường xuyên tìm cách cải tiến công cụ lao động. Nguyên liệu chủ yếu là đá. Ban đầu, người thời Sơn Vi chỉ biết ghè đẽo các hòn cuội ven suối làm rìu, nhưng đến thời Hoà Bình - Bắc Sơn - Hạ Long, họ đã biết mài đá, dùng nhiều loại đá khác nhau để làm công cụ các loại như rìu, bôn , chày. Họ còn biết dùng tre, gỗ, xương, sừng làm công cụ và đồ dùng cần thiết, sau đó biết làm đồ gốm. Hình 25 - Các loại rìu đá thuộc văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn Người nguyên thủy đã biết trồng trọt và chăn nuôi. Nguồn thức ăn ngày càng tăng lên. Ngoài cây củ kiếm được, họ còn trồng rau, đậu, bí, bầu... Ngoài thú rừng săn được, họ còn nuôi thêm chó, lợn.Người nguyên thủy sống chủ yếu ở các hang động, mái đá. Họ cũng biết làm các túp lều lợp bằng cỏ hoặc lá cây.
Xem thêm

1 Đọc thêm

VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐỂ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐỂ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tính chất năng động sáng tạo của sự phản_ _ánh ý thức còn được thể hiện quá trình con người tạo ra những giả tưởng, giả_ _thuyết, huyền thoại,… trong đời sống tinh thần của mình hoặc khá[r]

28 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác Lênin
1. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất (định nghĩa phạm trù vật chất; vật chất và vận động, không gian và thời gian).
2. Nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò tác dụng của ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
3. Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật (nguyên lý mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển).

2 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ RUỘT MÈO

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ RUỘT MÈO

Tài liệu Ctrị tốt nghiệpPhần I : Triết họcCâu 1 : Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? Ý nghĩa của định nghĩa?Tóm tắt các quan niệm của các nhà duy vật trước Mác về vật chất như : Hy Lạp cổ đại đặc biệt là thuyết nguyên tử của Đêmôcrit, các nhà duy vật thế kỷ 1718, và cuộc khủng hoảng vật lý cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 khi những phát minh mới trong khoa học ra đời. Năm 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X. 1986 Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. 1987 Tốmsơn phát hiện ra điện tử. 1901 Kaufman chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử.Lênin đã khái quát những thành tựu khoa học tự nhiên và chỉ rõ rằng vật chất không bị tiêu tan. Cái bị tiêu tan bị bác bỏ chính là giới hạn trước đây về vật chất theo quan điểm siêu hình. Đồng thời ông cũng chỉ ra sự thay thế khái niệm này bằng một số khái niệm khoa học khác về thế giới chứng tỏ sự phản ánh hiện thực khách quan cứ hoàn thiện mãi lên. Sự khủng hoảng đó nằm ngay trong quá trình nhận thức của con người.1.Định nghĩa vật chất của LêninTrong tác phẩm “chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy vật phê phán”, Lênin đã đưa ra định nghĩa về “vật chất” như sau : “Vật chất lf một phạm trù triết học dung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”2, Phân tích định nghĩaCách định nghĩa : Phạm trù vật chất là phạm trù rất rộng, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận chưa vượt qua được, khi định nghĩa phạm trù này không thể quy nó về vât thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộng hơn vì đến nay chưa có phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất. Do vậy, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ 2.Trong định nghĩa này, Lênin phân biệt 2 vấn đề :Thứ nhất : cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, còn các đối tượng, cấc dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn. Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất như các nhà triết học duy vật trong lịch sử Cổ đại và Cận đại.Thứ hai : là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan trọng để nhận biết vật chất là thuộc tính khách quan. Khách quan theo Lênin là “cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người”. Trong đời sống xã hội, “vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người”. Về mặt nhận thức luận thì khái niwmj vật chất chính là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và được ý thức con người phản ánh”.PT. Ngân SơnTài liệu Ctrị tốt nghiệpPhần I : Triết họcCâu 1 : Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? Ý nghĩa của định nghĩa?Tóm tắt các quan niệm của các nhà duy vật trước Mác về vật chất như : Hy Lạp cổ đại đặc biệt là thuyết nguyên tử của Đêmôcrit, các nhà duy vật thế kỷ 1718, và cuộc khủng hoảng vật lý cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 khi những phát minh mới trong khoa học ra đời. Năm 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X. 1986 Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. 1987 Tốmsơn phát hiện ra điện tử. 1901 Kaufman chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử.Lênin đã khái quát những thành tựu khoa học tự nhiên và chỉ rõ rằng vật chất không bị tiêu tan. Cái bị tiêu tan bị bác bỏ chính là giới hạn trước đây về vật chất theo quan điểm siêu hình. Đồng thời ông cũng chỉ ra sự thay thế khái niệm này bằng một số khái niệm khoa học khác về thế giới chứng tỏ sự phản ánh hiện thực khách quan cứ hoàn thiện mãi lên. Sự khủng hoảng đó nằm ngay trong quá trình nhận thức của con người.1.Định nghĩa vật chất của LêninTrong tác phẩm “chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy vật phê phán”, Lênin đã đưa ra định nghĩa về “vật chất” như sau : “Vật chất lf một phạm trù triết học dung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”2, Phân tích định nghĩaCách định nghĩa : Phạm trù vật chất là phạm trù rất rộng, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận chưa vượt qua được, khi định nghĩa phạm trù này không thể quy nó về vât thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộng hơn vì đến nay chưa có phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất. Do vậy, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ 2.Trong định nghĩa này, Lênin phân biệt 2 vấn đề :Thứ nhất : cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, còn các đối tượng, cấc dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn. Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất như các nhà triết học duy vật trong lịch sử Cổ đại và Cận đại.Thứ hai : là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan trọng để nhận biết vật chất là thuộc tính khách quan. Khách quan theo Lênin là “cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người”. Trong đời sống xã hội, “vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người”. Về mặt nhận thức luận thì khái niwmj vật chất chính là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và được ý thức con người phản ánh”.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Câu hỏi ôn tập CN MacLenin có đáp án

CÂU HỎI ÔN TẬP CN MACLENIN CÓ ĐÁP ÁN

Câu 2: Định nghĩa vật chất của Lênin? Ý nghĩa phương pháp luận?Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb. Tiến bộ, M., 1980, tr.151).1. Định nghĩa vật chất của Lênin+ “Vật chất là một phạm trù triết học”. Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày.+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (Tính thức hai). Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”. Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạn cụ thể, bằng “cảm giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được và “thực tại khách quan” (vật chất) chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác” (ý thức).Định nghĩa của Lênin về chật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.2. Định nghĩa vật chất của Lênin có ý nghĩa1. Chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất như: (Đối chiếu với các quan điểm duy tâm đã học ).2. Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về chất chất của các nhà triết học tư sản hiện đại. Do đó, định nghĩa này cũng đã giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình3. Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.3. Ý nghĩa phương pháp luận.– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy con người phải tôn trọng tính khách quan, đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình. Nếu không tôn trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh chủ quan.– Ý có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan. Nếu quá coi trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh bi quan.=> Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phụ bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động. ỷ lại hoặc bênh chủ quan duy ý chí.– Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:– Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác– Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.Câu 3: Nguồn gốc và bản chất của ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận?Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử – xã hội. Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội.I. Nguồn gốc của ý thức1. Nguồn gốc tự nhiên (Thuộc tính phản ánh của vật chất và sự ra đời của ý thức)– Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Đó là năng lực giữa lại, tái hiện của hệ thống vật chất này, những đặc điểm của hộ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại.– Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất.– Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não con người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người.2. Nguồn gốc xã hội (Vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành và phát triển của ý thức)– Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác.+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ và sử dụng các công cụ để tạo ra của cải vật chất.+ Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.+ Trong quá trình lao động, bộ não người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cùng ngày càng phát triển.– Lao động sản xuất còn là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ.+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu cần trao đổi kinh nghiệm. Từ đó nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động.+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quát sự vật, tổng kết kinh nghiêm thực tiễn và trao đổi chung giữa các thế hệ. Chính vì vậy, Ăngghen coi: lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bộ não của con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Lao động và ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành và phát triển ý thức.II. Bản chất của ý thứcTrong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất.Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người thông qua thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất.– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm.– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới.+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định. Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiệu được cái được phản ánh. Trên cơ sở đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan, Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh.+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dự trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩn của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức là có tính xã hội.Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập vớichủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý tức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản ánh giản đơn, thụ động về thế giới vật chất.III Ý nghĩa phương pháp luận1. Do ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan. Cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí.2. Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nên cần chống tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tiễnCâu 4: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận?1. Phạm trù vật chất và phạm trù ý thứcLênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại trong lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb. Tiến bộ, M., 1980, tr.151).Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử – xã hội. Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội.2. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thứca) Vật chất quyết định ý thức:– Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất sinh ra ý thức, ý thức là chức năng của óc con người – dạng vật chất có tổ chức cao nhất của thế giới vật chất– Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người. Thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức.b) Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất:– Ý thức có thể thức đẩy hoặc kìm hãm với một mức độ nhất định sự biến đổi của những điều kiện vật chất.– Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người. Con người dựa trên các tri thức về những quy luật khách quan mà đề ra mục tiêu, phương hướng thực hiện; xác định các phương pháp và bằng ý chí thực hiện mục tiêu ấy.Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù có đến mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất.c) Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội. Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ khác nhau như: chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan v.v..3. Ý nghĩa phương pháp luận– Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.– Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chung trong hoạt động thực tiễn của con người.
Xem thêm

33 Đọc thêm

GIAO AN TRUNG CAP CHINH TRI

GIAO AN TRUNG CAP CHINH TRI

1. Quan điểm duy tâm về bản chất của thế giới
+ Quan điểm duy tâm cho rằng: trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau; ý thức quyết định vật chất; ý thức là cơ sở, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật và hiện tượng.
+ Chủ nghĩa duy tâm (CNDT) có 2 loại: CNDT khách quan và CNDT chủ quan.
CNDT khách quan cho rằng: ý thức tinh thần nói chung như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là cái có trước, tồn tại khách quan bên ngoài con người, từ đó sinh ra thế giới. (Tiêu biểu: Hêghen nhà triết học cổ đại Hy Lạp và Platon nhà triết học cổ điển Đức).
CNDT chủ quan: ý thức, cảm giác của con người là cơ sở quyết định sự tồn tại của các sự vật hiện tượng trong thế giới. (Tiêu biểu: nhà triết học người Anh thế kỉ XVIII là Béccơly và Hium).
2. Quan điểm duy vật về bản chất của thế giới.
+ Quan điểm duy vật khẳng định rằng bản chất của thế giới là vật chất. Ngoài thế giới vật chất không có thế giới nào khác. Các sự vật, hiện tượng chỉ là biểu hiện những dạng vật cụ thể của thế giới vật chất mà thôi.
+ Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất quyết định ý thức, còn ý thức chỉ là sự phản ánh thế giới vật chất vào đầu óc con người mà thôi.
Xem thêm

149 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC

“Vật chất là một phạm trù TH dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.Phân tích định nghĩa :Vật chất là 1 phạm trù TH, thì nó khác với vật chất trong KHTN và trong đời sống hàng ngày:Vật chất trong KHTN, trong đời sống hàng ngày là các dạng vật chất cụ thể, tồn tại hữu hình, hữu hạn; có sinh ra có mất đi, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Chúng bao gồm vật chất dưới dạng hạt, trường, trong TN, XH, dưới dạng vĩ mô, vi mô rất phong phú đa dạng.Vật chất với tính cách là 1 phạm trù TH tức là vật chất đã được khái quát từ tất cả các sinh vật cụ thể. Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi đầu, không có kết thúc, không được sinh ra, không bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế không thể quy nó vào các vật cụ thể để hiểu nó.Vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Nghĩa là vật chất là tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức. Đây là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không là vật chất. Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức.Vật chất tồn tại không huyền bí mà nó là “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
Xem thêm

30 Đọc thêm

Cùng chủ đề