NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NÚT MẠCH HÓA DẦU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NÚT MẠCH HÓA DẦU":

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NÚT MẠCH HÓA DẦU (TT)

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NÚT MẠCH HÓA DẦU (TT)

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư biểu mô tế bào gan (UBTG) là một bệnh lý ác tính khá
phổ biến của hệ tiêu hóa. Theo thống kê của hiệp hội ung thư Hoa
Kỳ năm 2008 ung thư gan là ung thư phổ biến, đứng hàng thứ 6 ở
nam giới và hàng thứ 7 ở nữ, với tần suất nam/nữ là 2,4; có tỉ lệ tử
vong cao đứng hàng thứ 2 ở nam và thứ 6 ở nữ trong các loại ung thư
nói chung.
Ở Việt Nam, ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư phổ
biến trên cả nước. Theo nghiên cứu của Trần Văn Huy ung thư biểu
mô tế bào gan đứng hàng thứ hai sau ung thư dạ dày nhưng lại là ung
thư tiêu hóa phổ biến nhất ở nam giới.
Ung thư biểu mô tế bào gan nếu phát hiện muộn tiên lượng bệnh
rất xấu, tỷ lệ tử vong rất cao và tử vong trong một thời gian ngắn kể
từ khi phát hiện được bệnh. Cho đến nay đã có nhiều phương pháp
điều trị ung thư biểu mô tế bào gan như: cắt gan, ghép gan, thắt động
mạch gan, phóng xạ, hóa chất, tiêm cồn vào khối u, đốt nhiệt cao tần,
nút mạch gan... Trong đó nút mạch gan là một phương pháp điều trị
phổ biến, nhẹ nhàng và có hiệu quả tốt.
Việc chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tế bào gan và theo dõi
sau điều trị nút mạch là một nhu cầu cần thiết và cấp bách, trong đó
có sự trợ giúp quan trọng của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.
Siêu âm và chụp cắt lớp vi tính (CLVT) là hai kỹ thuật khảo sát
thường quy. Tuy nhiên khảo sát sự tăng sinh mạch của khối u sau nút
còn nhiều hạn chế. Trong những năm gần đây vai trò của cộng hưởng
từ (CHT) trong chẩn đoán xác định và đánh giá sau điều trị ung thư
biểu mô tế bào gan ngày càng được khẳng định. Từ đó chúng tôi
thực hiện đề tài này nhằm ba mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của ung thư
biểu mô tế bào gan.
2. Xác định giá trị chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan của
cộng hưởng từ.
3. Xác định vai trò cộng hưởng từ trong đánh giá kết quả điều
trị ung thư biểu mô tế bào gan bằng phương pháp nút mạch hóa dầu.

MỘT SỐ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đây là công trình đầu tiên có hệ thống nghiên cứu về đặc điểm
hình ảnh và giá trị CHT 1,5 Tesla áp dụng cùng lúc nhiều chuỗi xung
như: T2W, T1W in-phase, out-of-phase, CHT động học, Diffusion và trị số hệ số khuếch tán biểu kiến ADC trong chẩn đoán UBTG

cũng như đánh giá kết quả điều trị nút mạch hóa dầu.
Kết quả nghiên cứu đã đưa lại một số đóng góp mới cho chuyên
ngành bao gồm: cộng hưởng từ có độ nhạy, độ đặc hiệu rất cao trong
chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan, đánh giá xâm lấn tĩnh mạch
cửa rất tốt. Đánh giá rất tốt tình trạng khối u hoại tử, còn nhu mô
sống sót hoặc tái phát, chẩn đoán khối u có tăng sinh mạch sau nút
mạch rất tốt. Cộng hưởng từ đánh giá tình trạng tăng sinh mạch của
khối u sau nút mạch tốt hơn nhiều so với chụp cắt lớp vi tính. Cộng
hưởng từ phát hiện tổn thương thứ phát ở gan, chẩn đoán huyết khối
tĩnh mạch cửa ác tính tốt hơn chụp cắt lớp vi tính.

CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trong 129 trang (không kể tài liệu tham
khảo và phụ lục), bao gồm các phần: đặt vấn đề (2 trang); tổng quan
tài liệu (36 trang); đối tượng và phương pháp nghiên cứu (20 trang);
kết quả nghiên cứu (31 trang); bàn luận (36 trang); kết luận (3 trang);
kiến nghị (1 trang).
Luận án gồm 48 bảng, 10 biểu đồ. Trong 275 tài liệu tham
khảo có 34 tài liệu tiếng Việt, 241 tài liệu tiếng Anh. Phụ lục gồm
các hình ảnh minh họa, bệnh án nghiên cứu, danh sách bệnh nhân.
Xem thêm

50 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong phát hiện sớm và dự báo tiên lượng của ung thư tế bào gan nguyên phát trên bệnh nhân nhiễm virut viêm gan b (HBV)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC KỸ THUẬT SINH HỌC PHÂN TỬ TRONG PHÁT HIỆN SỚM VÀ DỰ BÁO TIÊN LƯỢNG CỦA UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM VIRUT VIÊM GAN B (HBV)

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư tế bào gan nguyên phát (viết tắt là UTG) hay là ung thư biểu mô
tế bào gan (Hepatocellular Carcinoma, HCC) là bệnh lý thường gặp đứng hàng
thứ 5 trên thế giới, có tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ 3 trong các tử vong liên quan
đến ung thư 1, 2.
UTG thường được chẩn đoán xác định ở giai đoạn muộn khi có triệu
chứng như biểu hiện mệt mỏi, đau bụng, gầy sút cân, thậm chí khi đã có khối
khu trú sờ được trên thành bụng, khi có tổn thương tế bào gan hoặc muộn hơn
khi không còn khả năng can thiệp phẫu thuật cũng như sử dụng các phương
pháp trị liệu khác 3. Nguyên nhân chẩn đoán UTG muộn là do sự hạn chế về
các phương pháp phát hiện hiện nay. Các phương pháp chẩn đoán UTG đang
được sử dụng tại các cơ sở y tế bao gồm: khám xét lâm sàng phát hiện thấy gan
to, đau, gầy sút cân nhanh…, các xét nghiệm máu phát hiện dấu ấn ung thư
AFP, siêu âm, X quang, nội soi, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng
từ (Magnetic Resonany Imaging, MRI), sinh thiết gan chẩn đoán mô bệnh học ...
Tuy nhiên, tất cả các phương pháp trên thường phát hiện được UTG ở giai đoạn
muộn của bệnh. Khi đó các biện pháp can thiệp điều trị ít mang lại hiệu quả, thời
gian sống của bệnh nhân sau khi chẩn đoán UTG chỉ kéo dài từ 6 tháng đến 1
năm. Vì vậy, nghiên cứu tìm hiểu các dấu ấn sinh học, các biện pháp chẩn đoán
mới để phát hiện sớm và tiên lượng UTG là nhu cầu cần thiết hiện nay.
Kết quả các nghiên cứu trước đây đã chứng minh nhiễm virut viêm gan B
(HBV) là nguyên nhân chủ yếu gây UTG. Tuy nhiên không phải tất cả các bệnh
nhân nhiễm HBV đều tiến triển thành UTG. Nhiễm HBV có thể gây viêm gan
cấp tính tự hồi phục, hoặc tiến triển thành viêm gan mạn tính, xơ gan, viêm gan
ác tính, hoặc trở thành người mang HBV mạn tính không triệu chứng 4.
Nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt đó vẫn còn nhiều tranh luận. Liên quan
đến UTG người ta thấy rất nhiều các bệnh nhân được phát hiện bệnh một cách tình cờ, nghĩa là UTG thường xuất hiện trên các bệnh nhân trước đây hoàn toàn
khỏe mạnh nhưng mang HBV mạn tính không triệu chứng.
UTG cũng như tất cả các bệnh ung thư khác nói chung là hậu quả của
biến đổi nhiều gene, tương tác qua lại của nhiều protein, DNA trong các tế bào.
Do đặc điểm bộ gene và vòng đời của HBV có liên quan chặt chẽ đến sự hình
thành UTG nên việc tìm ra các dấu ấn phân tử của HBV như đột biến gene, mức
độ biểu hiện gene HBV và gene người là một trong những hướng nghiên cứu
đang rất được quan tâm 4.
Việt Nam là nước có người nhiễm HBV đứng hàng cao nhất thế giới, tỷ lệ
HBsAg (+) ở người lớn khoẻ mạnh từ 10 – 20% có nơi lên tới 26% 5. Như
vậy, ước tính có hơn 10 triệu người đang mang HBV mạn tính ở nước ta và
nguy cơ phát sinh UTG ở những người này là rất lớn.
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ và mối liên quan giữa đột biến gene của HBV và bệnh
nhân ung thư tế bào gan nguyên phát.
2. Xác định các phương pháp phát hiện sớm ung thư tế bào gan nguyên
phát trên bệnh nhân nhiễm HBV.
Xem thêm

159 Đọc thêm

Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh một số ung thư gan thường gặp.PDF

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH MỘT SỐ UNG THƯ GAN THƯỜNG GẶP.PDF

I. ðẶT VẤN ðỀ
Ngày nay, giá trị của các thông tin mang lại từ các kỹ thuật chẩn ñoán hình
ảnh ñã ñược xác lập không chỉ trong bệnh lý toàn thân nói chung mà còn chuyên
sâu trong các bệnh lý gan mật nói riêng. Các bác sĩ ñiều trị ngày càng thấy rõ ích
lợi mang lại từ các chỉ ñịnh xét nghiệm chẩn ñoán hình ảnh trong công việc ñiều
trị cho bệnh nhân; ñặc biệt là các bác sĩ Ngoại khoa gan mật và bác sĩ Ung thư
ñã không thể ñiều trị tốt cho các bệnh nhân ung thư gan của họ nếu không cầu
viện ñến kết quả của các xét nghiệm chẩn ñoán hình ảnh trước ñiều trị; một khối
u ñược phân ñộ là T1N0M0 sẽ có thái ñộ ñiều trị hoàn toàn khác với một khối u
ñược phân ñộ T2N1M1. Trong một khuynh hướng khác mang ý nghĩa rất lớn,
tác ñộng lên kết quả ñiều trị của các kỹ thuật chẩn ñoán, là các phương tiện chẩn
ñoán hình ảnh (mà hàng ñầu là tầm soát của siêu âm chẩn ñoán) giúp phát hiện
thương tổn ung thư gan còn trong giai ñoạn sớm, khuynh hướng tầm soát này
giúp cải thiện tiên lượng bệnh và khả năng sống còn cho bệnh nhân. Thật vậy,
theo tác giả LIVRAGI
[74]
thì tỷ lệ còn sống 3 năm và 5 năm ở bệnh nhân bị ung
thư biểu mô tế bào gan có kích thước nhỏ hơn 5 cm trên một nền gan xơ có mức
ñộ là CHILD A ñược ñiều trị bằng tiêm cồn vào khối u thì lần lượt là 79 % và
47 %; nhưng hai tỷ lệ này rơi xuống còn 53 % và 30 % khi u lớn hơn 5 cm và
nền gan xơ mức ñộ CHILD A, thậm chí hai tỷ lệ trên còn rơi xuống thấp hơn
nữa là 12% và 0% khi u có kích thước tuy nhỏ hơn 5 cm nhưng nền gan xơ có
mức ñộ là CHILD C.
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, với sự ra ñời của hàng loạt các kỹ thuật ghi
hình theo mặt cắt như Siêu âm hình ảnh ñộng, Cắt lớp vi tính (CLVT), Cộng
hưởng từ (CHT), các kỹ thuật này ñã mở ra hướng khảo sát cơ thể theo mặt cắt,
từ ñó ñem lại thông tin về giải phẫu và cấu trúc của các cơ quan và các bệnh lý
của các cơ quan. Các khảo sát của phương tiện chẩn ñoán ñã không dừng lại ở
mức ñộ cung cấp thông tin về hình thái và cấu trúc mà còn hướng ñến khả năng
cung cấp thông tin về tưới máu và cao cấp hơn nửa là thông tin về chức năng
nhờ vào những cải tiến về mặt kỹ thuật trong các phương tiện này, chẳng hạn như Siêu âm Doppler trong khảo sát huyết ñộng, chụp mạch máu bằng CLVT
trong kỹ thuật CLVT và khảo sát ñộng học sau tiêm chất cản quang, chụp mạch
máu bằng CHT trong kỹ thuật CHT và khảo sát ñộng học sau tiêm chất cản từ.
Gần ñây hơn, thông qua những hiểu biết về chuyển hoá ở mức tế bào của các
loại u gan mà các nhà nghiên cứu ñã ñi vào các ứng dụng khảo sát chuyên sâu
về hoạt tính chức năng ở tầm vi mô, khi mà các biến ñổi chưa thể ñược phát hiện
bằng các kỹ thuật hình ảnh nói trên, nhờ thế ñã góp phần chẩn ñoán sớm ung thư
gan, cũng như góp phần theo dõi ñiều trị các loại ung thư gan nhằm phát hiện tái
phát sớm. Hai kỹ thuật ñược dùng ghi hình chuyển hoá của tế bào là PET và
SPECT ñược ñề cập ngày càng nhiều trong các xét nghiệm về gan mật và nhất là
trong ung thư gan.
Trong khuôn khổ bài viết này, bài viết sẽ lần lượt trình bày các kỹ thuật chẩn
ñoán hình ảnh của một số loại ung thư gan thường gặp (ung thư biểu mô tế bào
gan, ung thư biểu mô ñường mật và các ung thư gan thứ phát) qua các phần sơ
lược kỹ thuật bàn về qui trình (protocol) tiến hành kỹ thuật, kế ñến là phần trình
bày kết quả của từng kỹ thuật và cuối cùng là ñề cập ñến giá trị của mỗi kỹ thuật
thông qua bàn luận ưu và khuyết ñiểm của từng kỹ thuật.
Xem thêm

38 Đọc thêm

nhận xét đặc điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư bàng quang nông tại bệnh viện k (2006-2008)

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI, MÔ BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BÀNG QUANG NÔNG TẠI BỆNH VIỆN K (2006-2008)

đặt vấn đề

Ung thư bàng quang là một loại ung thư thường gặp trong các bệnh ung
thư đường tiết niệu. Bệnh hay gặp ở nam giới, chiếm tỷ lệ khoảng 10% trong
các loại ung thư nam giới. Nữ giới ít gặp hơn, đứng vị trí thứ chín trong các
bệnh ung thư ở nữ [4].
Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. ở Việt Nam, ung thư bàng quang
chiếm khoảng 2% trong tổng số các loại ung thư. Theo ghi nhận ung thư tại
Hà Nội giai đoạn 2001-2004, tỷ lệ mắc ung thư bàng quang chuẩn theo tuổi
là 1,3/100.000 dân, đứng hàng thứ hai mươi trong các bệnh ung thư tính chung
cho cả hai giới [21]. Tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội, theo thống kê trong 15
năm (1982
- 1996) chỉ có 436 trường hợp ung thư bàng quang vào điều trị.
Nhưng trong vòng ba năm gần đây (2000
-2002) đs có 427 trường hợp, trong
đó 51,75% là u tái phát và 48,25% là u mới phát hiện [20]. Tại Bệnh viện K,
những năm gần đây số lượng bệnh nhân ung thư bàng quang đến khám và điều
trị cũng tăng lên do khả năng chẩn đoán và điều trị bệnh ngày càng được cải
thiện.
Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư, ung thư bàng quang nông là loại
mà thương tổn còn giới hạn ở lớp niêm mạc hoặc màng đáy chưa xâm lấn lớp
cơ, gồm các giai đoạn Ta, Tis và T1[6],[26],[49],[72].
Ung thư bàng quang ở giai đoạn sớm triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn,
việc chẩn đoán ung thư bàng quang chủ yếu dựa vào siêu âm và nội soi bàng
quang, trong đó nội soi cho phép phát hiện sớm và đánh giá khối u trong bàng
quang cùng với sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học. Nếu được chẩn đoán sớm
và điều trị kịp thời thì tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư bàng quang có thể lên
tới 80-95 % [3], [40], [60], [71]. Ung thư bàng quang xâm lấn chỉ có 20
-25%
bệnh nhân sống được 5 năm và khi đs di căn thời gian sống của bệnh nhân chỉ
kéo dài được 12-33 tháng [60]. Vì vậy, một số tác giả cho rằng những người thuộc nhóm nguy cơ cao và có những triệu chứng báo hiệu cần phải đi khám
ngay để khám phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
Trong ung thư bàng quang, loại ung thư tế bào chuyển tiếp là loại hay
gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng 90%, ung thư biểu mô vẩy, ung thư biểu mô
tuyến ít gặp. Về điều trị đối với u bàng quang nông, phương pháp chuẩn hiện
tại là phẫu thuật cắt u qua nội soi kết hợp với bơm hoá chất tại chỗ hoặc BCG.
Hai phương pháp này được áp dụng phổ biến trên thế giới làm giảm tái phát u
và ung thư xâm lấn sau phẫu thuật [59], [77], [81].
ở nước ta, phẫu thuật nội soi cắt u qua niệu đạo được áp dụng từ những
năm 80 của thế kỷ trước. Đến nay phương pháp phẫu thuật cắt u qua niệu đạo
đs được áp dụng phổ biến để điều trị ung thư bàng quang nông [25]. Tuy vậy,
tỷ lệ tái phát, tỉ lệ ung thư xâm lấn sau phẫu thuật cắt u qua niệu đạo còn cao
[5], [11], [76]. Để giảm tỉ lệ tái phát và ung thư xâm lấn sau phẫu thuật cắt u
qua niệu đạo, một số tác giả đs tiến hành bơm hoá chất vào bàng quang
(Thiotepa, Doxorubicin, Epirubicin, Mitomycin C, BCG…) [2], [22], [27],
[35]. Theo Vũ Văn Lại nghiên cứu điều trị ung thư bàng quang nông bằng
phẫu thuật nội soi và bơm BCG vào bàng quang, kết quả làm giảm tỉ lệ tái
phát (33,6%), thời gian tái phát muộn hơn (10,3 tháng) và ung thư ở giai đoạn
xâm lấn muộn hơn (14 tháng) so với phẫu thuật cắt u qua niệu đạo đơn thuần.
Tại Bệnh viện K còn ít tác giả quan tâm nghiên cứu hiệu quả của phẫu
thuật nội soi kết hợp với bơm BCG, chúng tôi tiến hành đề tài “Nhận xét đặc
điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư bàng
quang nông tại Bệnh viện K” với hai mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô bệnh học của ung thư bàng
quang nông.

2. Nhận xét kết quả bước đầu điều trị ung thư bàng quang nông bằng phẫu
thuật nội soi kết hợp với bơm BCG vào bàng quang.
Xem thêm

108 Đọc thêm

Nghiên cứu bộc lộ một số dấu ấn hoá mô miễn dịch và mối liên quan với đặc điểm mô bệnh học trong ung thư biểu mô đại trực tràng

NGHIÊN CỨU BỘC LỘ MỘT SỐ DẤU ẤN HOÁ MÔ MIỄN DỊCH VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ ĐẠI TRỰC TRÀNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là bệnh lý khá phổ biến trên thế giới,
mỗi năm có gần 800.000 người mới mắc ung thư đại tràng và khoảng nửa
triệu người chết vì bệnh này [1]. Ở Bắc Mỹ và Châu Âu, số người chết vì
bệnh đứng thứ 2 sau ung thư vú và phổi ở nữ [2]. Tỷ lệ mắc UTĐTT khác
nhau đáng kể giữa các vùng trên thế giới. Ở các nước phát triển tỷ lệ này cao
gấp 4-10 lần các nước đang phát triển [3]. Ở Việt Nam, UTĐTT đứng thứ 5
sau ung thư dạ dày, phổi, vú, vòm. Theo thống kê của bệnh viên K, tỷ lệ mắc
ung thư đại trực tràng là 9% tổng số bệnh nhân ung thư [4].
Có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới UTĐTT như: địa lý, chế độ ăn
uống, vai trò của muối mật, pH phân, nghề nghiệp và hội chứng đa polyp gia
đình... Đặc biệt các yếu tố như kích thước u, loại mô học, độ mô học (ĐMH),
tình trạng hạch, là các yếu tố tiên lượng kinh điển đã được rất nhiều các nhà
khoa học nghiên cứu và áp dụng trong những năm qua, đã chứng minh lợi ích
rõ rệt của nó liên quan đến kết quả lâm sàng [5]. Trong vòng 20 năm trở lại
đây, kỹ thuật hóa mô miễn dịch (HMMD) đã có bước phát triển vượt bậc do
nhuộm HMMD thành công trên các mẫu bệnh phẩm chuyển đúc paraffin, sản
xuất nhiều kháng thể đơn dòng. Đây có thể coi là một cuộc cách mạng trong
nghiên cứu bệnh học phân tử để tìm ra cơ chế bệnh sinh của khối u và phương
pháp điều trị. Người ta cũng đã tìm được những u có đột biến gen p53, có vai
trò quan trọng trong căn nguyên bệnh sinh ung thư [6]; tìm ra gen Her 2/neu(cerbB-2)

có vai trò như yếu tố phát triển biểu mô [7]; các yếu tố liên
quan đến sự tăng sinh khối u như Ki -67, kháng nguyên nhân tế bào tăng
sinh... liên quan đến tiên lượng UTĐTT [8]. Ưu điểm của phương pháp
nhuộm HMMD trên các tiêu bản đúc paraffin là dễ thực hiện, độ chính xác
cao và có thể nghiên cứu hồi cứu trong vài chục năm Để điều trị UTĐTT có hiệu quả, người ta phải dựa vào việc đánh giá các
yếu tố tiên lượng. Bên cạnh các yếu tố tiên lượng kinh điển như giai đoạn
bệnh, loại mô học, độ mô học, ngày nay các nhà nghiên cứu đang đi sâu
nghiên cứu bệnh học phân tử và gen để tìm ra các yếu tố tiên lượng khác liên
quan đến kết quả lâm sàng [5]. Kỹ thuật hoá mô miễn dịch ra đời giúp ích cho
phân loại mô bệnh học của UTĐTT và là phương pháp rất có ích cho chẩn
đoán, phân loại, điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh, đặc biệt là những khối u
rất biệt hoá hoặc kém biệt hoá, không biệt hoá. Trong ung thư biểu mô tuyến
đại trực tràng (UTBMTĐTT), sự phân bố của các dấu ấn cytokeratin (CK) tuỳ
thuộc vào loại mô bệnh học và giai đoạn biệt hoá của các tế bào u [9]. Sự bộc
lộ sản phẩm đột biến gen p53 và chỉ số tăng sinh nhân Ki-67 trong ung thư
nói chung và UTĐTT nói riêng phản ánh tính chất ác tính và tiên lượng xấu
của bệnh [8]. Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về UTĐTT,
chủ yếu tập trung vào các khía cạnh dịch tễ học, lâm sàng và phương pháp
điều trị..., nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về UTBMĐTT theo
phân loại của WHO năm 2000, cũng như nghiên cứu về sự bộc lộ các dấu ấn
miễn dịch trong UTBMĐTT bằng nhuôm hoá mô miễn dịch (HMMD) và
mối liên quan với các typ mô bệnh học, với một số yếu tố tiên lượng của
chúng trong UTĐTT. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu bộc lộ một số dấu ấn hoá mô miễn dịch và mối liên quan với
đặc điểm mô bệnh học trong ung thư biểu mô đại trực tràng”. Với các mục
tiêu sau:

1. Xác định các týp mô bệnh học của ung thư biểu mô đại trực tràng
theo WHO năm 2000.
2. Đánh giá liên quan của một số dấu ấn hoá mô miễn dịch với đặc
điểm mô bệnh học trong ung thư biểu mô đại trực tràng.
Xem thêm

158 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PEGINTERFERON ALPHA-2B KẾT HỢP RIBAVIRIN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VIRUS C MẠN TÍNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA FIBROSCAN TRONG CHẨN ĐOÁN XƠ HÓA GAN (FULL TEXT)

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PEGINTERFERON ALPHA-2B KẾT HỢP RIBAVIRIN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VIRUS C MẠN TÍNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA FIBROSCAN TRONG CHẨN ĐOÁN XƠ HÓA GAN (FULL TEXT)

Bệnh viêm gan virus C (VGVRC) đã được xác định trong hơn 3 thập
kỷ qua, nhưng cho đến nay VGVRC vẫn đang là một trong những nguyên
nhân hàng đầu gây viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư tế bào gan [1],[2].
Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), trên toàn cầu có
khoảng 130 - 170 triệu người nhiễm virus viêm gan C (HCV) và theo ước tính
khoảng 80% các trường hợp nhiễm HCV sẽ tiến triển thành viêm gan mạn tính
[3]. Trong quá trình tiến triển của bệnh viêm gan virus C mạn tính
(VGVRCMT) có sự tích tụ quá mức các chất cơ bản giàu protein và collagen ở
khoảng gian bào, gây rối loạn cấu trúc nhu mô gan, xơ gan, bệnh gan mất bù
[4],[5]. Vì vậy, các y văn đều nhận định việc xác định tình trạng xơ hóa gan là
một trong những yếu tố quan trọng để tiên lượng sự tiến triển của bệnh. Cho
đến nay sinh thiết gan vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá tình trạng
xơ hóa gan [6],[7]. Tuy nhiên, đây là một thủ thuật xâm lấn nên có một số hạn
chế như gây đau, có một số tai biến như chảy máu,… ngoài ra còn được ghi
nhận là có thể có sai số [8]. Để khắc phục các hạn chế của kỹ thuật sinh thiết
gan, một số phương pháp không xâm nhập đã được khuyến cáo nghiên cứu áp
dụng vào thực hành điều trị bệnh. Năm 2014, TCYTTG đã khuyến cáo sử
dụng các phương pháp không xâm nhập như Fibroscan và APRI để theo dõi
tiến triển của xơ hóa gan trên bệnh nhân VGVRCMT thay thế cho các giải
pháp xâm nhập [9].
Về điều trị, hiện tại các Hiệp hội gan mật quốc tế và TCYTTG đang
khuyến cáo nghiên cứu các giải pháp điều trị VGVRCMT bằng thuốc kháng
virus phù hợp với sự phân bố của các kiểu gen HCV ở mỗi khu vực
[9],[10],[11]. Mục tiêu được đề ra cho điều trị là đạt được tiêu chuẩn đáp ứng

virus bền vững (ĐƯVRBV) [9],[12]. Tiêu chuẩn này được xem là tiêu chuẩn
khỏi bệnh, giúp giữ vững hoặc cải thiện mức độ xơ hóa tổ chức nhu mô gan, cải
thiện tiên lượng bệnh [13],[14]. Tại Việt Nam từ năm 2015 trở về trước, phác đồ
peginterferon alfa-2b phối hợp ribavirin (pegIFN alfa-2b + RBV) vẫn đang là
phác đồ cơ bản cho hiệu quả điều trị cao. Hiện đã có một số nghiên cứu đánh giá
hiệu quả của phác đồ trên dựa trên các chỉ số sinh hóa, virus học [15],[16].
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại các nghiên cứu vẫn chưa có bằng
chứng về hiệu quả của phác đồ pegIFN alfa-2b + RBV cũng như giá trị của kỹ
thuật Fibroscan dựa trên bằng chứng về thay đổi mô bệnh học ở bệnh nhân
VGVRCMT tại Việt Nam.
Cho đến nay nhiều phác đồ mới điều trị cho bệnh nhân VGVRCMT
đang được nghiên cứu tuy nhiên việc đánh giá kết quả điều trị của từng phác
đồ bằng các phương pháp nghiên cứu chặt chẽ, các minh chứng khoa học
cũng như áp dụng các kỹ thuật mới trong thực hành chẩn đoán và điều trị sẽ
có ý nghĩa to lớn trong thực hành lâm sàng cũng như có giá trị khoa học.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá kết quả điều trị của peginterferon alpha-2b kết hợp ribavirin ở bệnh
nhân viêm gan virus C mạn tính và giá trị của Fibroscan trong chẩn đoán
xơ hóa gan” với các mục tiêu sau:
1. Đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm gan virus C mạn tính bao gồm
cả xơ gan còn bù bằng phác đồ peginterferon alpha-2b kết hợp
ribavirin
2. Đánh giá giá trị của Fibroscan so sánh với bằng chứng mô bệnh học
trong xác định mức độ xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus C
mạn tính.
Xem thêm

186 Đọc thêm

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

Luận văn tốt nghiệp BSCK2 Nguyễn Văn Thưởng T62015 Bệnh Viện Việt Đức
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong các loại ung thư phổ biến trên thế giới 1, với hơn 90% là ung thư biểu mô (UTBM). Trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc UTDD thuộc hàng cao. Tại bệnh viện Việt Đức, trong nhiều năm qua, số bệnh nhân (BN) được phẫu thuật do UTDD đứng hàng đầu trong số các loại ung thư đường tiêu hóa. Cho tới nay, phương pháp điều trị UTDD bằng phẫu thuật vẫn là lựa chọn hàng đầu khi khối u vẫn còn khả năng cắt bỏ. Các biện pháp khác như hóa chất, miễn dịch, xạ trị… chỉ được coi là những phương pháp điều trị hỗ trợ tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân và giai đoạn bệnh.
Trên thế giới, trong những năm gần đây, với việc ứng dụng phương pháp phẫu thuật nội soi (PTNS) trong điều trị UTDD đã có những tiến bộ vượt bậc với những ưu điểm của loại hình phẫu thuật này là không thể phủ nhận 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16.
Tại Việt Nam, PTNS điều trị UTDD cũng đã được thực hiện từ năm 2004 và cho tới nay đã đạt được số lượng BN được PTNS cũng như kết quả rất đáng khích lệ. Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố về loại hình phẫu thuật này 17, 18, 19, 20, 21, 22…
Do đa số bệnh nhân UTDD ở nước ta đến viện khám thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, số BN được phát hiện UTDD ở giai đoạn sớm còn rất hạn chế. Vì vậy, vấn đề đặt ra là tính khả thi của PTNS liệu có thể áp dụng cho tất cả những trường hợp UTDD từ giai đoạn sớm đến giai đoạn tiến triển đã có di căn hay chỉ áp dụng cho một số trường hợp nhất định. PTNS để điều trị UTDD đến giai đoạn nào là đảm bảo an toàn và triệt căn? kết quả điều trị thực tế ra sao?
Cho đến nay, vẫn còn một số ý kiến quan ngại rằng, loại hình phẫu thuật này không đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của phẫu thuật ung thư, đặc biệt là khả năng nạo vét hạch rộng rãi và lấy bỏ khối u nguyên vẹn. Thêm vào đó, thời gian mổ bằng nội soi thường kéo dài hơn so với mổ mở, phẫu thuật viên (PTV) phải là người có kinh nghiệm mổ nội soi mới có thể thực hiện tốt được loại hình phẫu thuật này.
Trên cơ sở thực tế đó, với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ tính khả thi của PTNS để điều trị UTDD ở giai đoạn tiến triển, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn từ tháng 062010 đến tháng 62014.
Xem thêm

132 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG SÓNG CAO TẦN

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG SÓNG CAO TẦN

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là một bệnh ác tính khá phổ biến. Hàng năm, trên thế giới có thêm khoảng một triệu người mới mắc và gây tử vong cho hơn 250.000 người. Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng, ước tính đạt mức cao nhất vào năm 2015-2020 [55]. Theo đánh giá mới nhất, HCC đứng hàng thứ năm trong các loại ung thư [35],[55]. Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau giữa các khu vực và có liên quan với tình hình nhiễm virus viêm gan B và C [28],[35],[61],[45],[73],[81]. Số bệnh nhân HCC ở châu Á chiếm khoảng 70% tổng số bệnh nhân HCC trên thế giới [55]. Ở Việt Nam hiện nay chưa có số liệu trên phạm vi toàn quốc nhưng theo thống kê ở một số tỉnh thành thì HCC là một bệnh khá thường gặp.
Ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư có tiên lượng xấu, gây tử vong nhanh. Kết quả nghiên cứu của hai chương trình giám sát dịch tễ quốc tế SEER (Surveillance, Epidemiology and End Results) và Eurocare cho thấy bệnh nhân HCC có thời gian sống thêm thấp nhất trong 11 loại ung thư thường gặp [30]. Thời gian sống trung bình của bệnh nhân HCC nếu để tiến triển tự nhiên là 5 tháng (2-8 tháng) [45]. Tiên lượng bệnh có liên quan với kích thước khối u và chức năng gan [45],[74],[72]. Okuda và cộng sự đã phân chia ung thư gan theo ba giai đoạn. Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân ở các giai đoạn I, II, III lần lượt là 8,3 tháng, 2 tháng và 0,7 tháng trong trường hợp không được can thiệp [72]. Với tính chất phổ biến và ác tính của bệnh, HCC thực sự là một thách thức lớn đối với y học hiện đại.
Ngày nay, y học đã có những tiến bộ lớn trong chẩn đoán và điều trị HCC. Những phương pháp điều trị mới đã giúp kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Trong các phương pháp điều trị HCC, phẫu thuật cắt bỏ khối u gan được đánh giá là phương pháp điều trị tốt nhất. Tuy nhiên chỉ có khoảng 15-20% bệnh nhân còn khả năng phẫu thuật do phát hiện ở giai đoạn muộn, bệnh thường xuất hiện trên nền gan xơ và một số bệnh nhân từ chối phẫu thuật [45],[73],[28],[81]. Do vậy phần lớn bệnh nhân HCC được điều trị bằng các phương pháp không phẫu thuật. Trong đó các phương pháp loại bỏ khối u bằng tác nhân vật lý, hóa học như nút hóa dầu động mạch gan, phá hủy khối u qua da bằng tiêm cồn tuyệt đối, tiêm axit axetic, bằng đông lạnh hoặc bằng nhiệt của sóng cao tần được sử dụng rộng rãi.
Năm 1993 lần đầu tiên phương pháp điều trị khối u gan bằng đốt sóng cao tần (Radio frequency ablation) được Rossi báo cáo. Cho đến nay phương pháp này được sử dụng ở nhiều trung tâm trên thế giới và trở thành phương pháp chủ yếu để điều trị khối u gan nhá [55],[81]. Đã có nhiều tiến bộ về kỹ thuật, phương tiện giúp nâng cao hiệu quả điều trị và có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Các kết quả nghiên cứu cho thấy đây là phương pháp khá an toàn, hiệu quả và tương đối dễ áp dụng [33], [45], [46], [97], [74], [81].
Từ tháng 8/ 2002 tại khoa Tiêu hóa bệnh viện Bạch Mai, phương pháp điều trị ung thư gan bằng nhiệt sóng cao tần được tiến hành cho khá nhiều bệnh nhân. Cho đến nay đã có một vài nghiên cứu trong nước về ứng dụng đốt nhiệt cao tần trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, song mới chỉ là những nhận xét bước đầu do hạn chế về thời gian và số lượng bệnh nhân. Chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ hiệu quả điều trị và đặc điểm kỹ thuật của phương pháp. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng điều trị ung thư biểu mô tế bào gan bằng sóng cao tần” với mục tiêu sau:
1. Đánh giá kết quả ứng dụng điều trị ung thư gan nguyên phát bằng nhiệt của sóng cao tần.
2.Nhận xét những ưu- nhược điểm về kỹ thuật của phương pháp.
Xem thêm

108 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cộng hưởng từ 1,5 Tesla trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não giai đoạn cấp tính

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ 1,5 TESLA TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG NHỒI MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TÍNH

ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1990 tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về tai biến
mạch não (TBMN) như sau: “Tai biến mạch máu não là sự xẩy ra đột ngột với
các thiếu sót chức năng thần kinh thường khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại trên 24
giờ hoặc gây tử vong trong vòng 24h. Các thăm khám loại trừ nguyên nhân do
chấn thương”.[1]
Tai biến mạch máu não (TBMMN) bao gồm thiếu máu não (thiếu máu
não bao gồm vùng nhồi máu thực sự và vùng nguy cơ nhồi máu) và chảy máu
não, trong đó có khoảng 85% là tai biến thiếu máu. Đây là bệnh lý hết sức
thường gặp đặc biệt là các nước phát triển và là một trong những nguyên nhân
gây tử vong hàng đầu trên thế giới, nếu qua khỏi thì thường để lại di chứng
nặng nề và là gánh nặng cho gia đình và cho xã hội. Trên toàn thế giới, năm
1990, bệnh lý mạch máu não gây tử vong 4,3 triệu người. Ở Mỹ, tần suất tai
biến mạch não hiện nay là khoảng trên 795.000/năm. Qua nhiều năm nỗ lực
với tiến bộ chẩn đoán và điều trị đã hạ thứ tự tử vong từ thứ 3 xuống thứ 4
(sau bệnh tim mạch ung thư và bệnh phổi mạn tính) [2]. Theo ước tính, cứ
khoảng 40 giây có một người Mỹ bị tai biến mạch não và cứ khoảng 4 phút có
một người tử vong vì bệnh lý này, chi phí trực tiếp và gián tiếp cho bệnh lý
này năm 2009 là 38,6 tỷ đôla [2]. Tần suất bệnh lý này tăng dần theo tuổi và
có xu hướng ngày càng tăng. Việt nam là một nước đang phát triển và tuổi thọ
ngày càng tăng kèm theo sự gia tăng các bệnh lý tim mạch, huyết áp và tiểu
đường cũng sẽ không nằm ngoài quy luật trên.
Trong những năm gần đây, nhờ các tiến bộ trong điều trị thiếu máu
não, đặc biệt là điều trị theo cơ chế bệnh sinh để giải quyết nguyên nhân như
tiêu sợi huyết bằng đường tĩnh mạch, đường động mạch hay lấy huyết khối
bằng dụng cụ cơ học đã mang lại những cải thiện đáng kể về sự hồi phục lâm
sàng. Vấn đề đặt ra là nhu mô não rất nhạy cảm với sự thiếu oxy, chỉ cần
trong một thời gian ngắn không cung cấp đủ oxy các tế bào thần kinh sẽ mất chức năng, vì vậy việc điều trị ngay trong những giờ đầu là một trong những
nhân tố quyết định thành công. Muốn điều trị được sớm không chỉ là nhiệm
vụ của các nhà thần kinh học mà là sự phối kết hợp của các chuyên khoa như
hồi sức cấp cứu, chẩn đoán hình ảnh, bên cạnh đó còn phải kết hợp thông tin
truyền thông để nâng cao nhận thức người dân để họ có thể tới ngay các cơ sở
y tế chuyên khoa càng sớm càng tốt. Đối với chuyên ngành chẩn đoán hình
ảnh, một trong những yêu cầu đặt ra là phải có một phương pháp chẩn đoán
sớm, nhanh và chính xác vùng nhồi máu, vị trí mạch não bị tắc và đánh giá
tính sống còn của nhu mô não để có phương pháp điều trị thích hợp. Cộng
hưởng từ, trong đó các xung khuyếch tán, cộng hưởng từ tưới máu và cộng
hưởng từ mạch não đáp ứng được các yêu cầu bức thiết trên.
Trên thế giới có rất nhiều báo cáo và các công trình nghiên cứu trong
chẩn đoán cũng như trong tiên lượng thiếu máu não bằng cộng hưởng từ cho
thấy đây là phương pháp có giá trị cao và có khả năng phân biệt vùng tổn
thương nhồi máu thực sự (vùng lõi hay vùng tổn thương không hồi phục) và
vùng nguy cơ (có khả năng hồi phục hay vùng tranh tối, tranh sáng-
penumbra) giúp ích nhiều trong chẩn đoán cũng như trong tiên lượng nhồi
máu não, để có kế hoạch điều trị thích hợp. Cộng hưởng từ còn giúp cho việc
nới rộng cửa sổ điều trị trong một số trường hợp từ 3h lên tới 6h giúp cho tỷ
lệ bệnh nhân được điều trị đặc hiệu tăng lên đáng kể. Tuy nhiên ở Việt Nam
chưa có công trình nghiên cứu sâu nào trong lĩnh vực này vì vậy chúng tôi
tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cộng hưởng từ 1,5 Tesla
trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não giai đoạn cấp tính” với 02
mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ nhồi máu não giai đoạn cấp tính.
2. Đánh giá vai trò cộng hưởng từ trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi
máu não cấp.
Xem thêm

181 Đọc thêm

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát ống tiêu hóa tại bệnh viện Việt Đức

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U LYMPHO NGUYÊN PHÁT ỐNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ
U lympho (ULP) là một nhóm không đồng nhất những tổn thương ác
tính xuất phát từ tổ chức lympho, các khối u này chiếm 3% các ung thư trên
thế giới. Hầu hết ULP có nguồn gốc từ tế bào B, một phần nhỏ từ tế bào T.
ULP chia làm 2 loại lớn là ULP Hodgkin (HL) và ULP không Hodgkin
(NHL) [43]. Hầu hết ULP phát triển từ mô lympho nằm trong hạch bạch
huyết. Khoảng 20-40% ULP phát triển từ mô lympho ngoài hạch. ULP ống
tiêu hóa (ÔTH) chiếm 1/3 ULP ngoài hạch và 30 năm gần đây tỷ lệ loại u này
tăng dần trên thế giới nhưng nguyên nhân chưa rõ ràng [56], [99].
Ung thư ÔTH chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến, ULP nằm trong tỷ lệ
nhỏ nhóm các ung thư không biểu mô [1]. ULP nguyên phát ÔTH có thể gặp
ở tất cả các đoạn của ống tiêu hóa. Khối u này chiếm khoảng 2-8 % trong các
tổn thương ác tính ở dạ dày [27]; 20% ở ruột non [90], [54]; 0.2-1.2% ở đại
tràng và 0.1-0.6 ở trực tràng [91], [94]. ULP nguyên phát ở thực quản hiếm
gặp nhất, chỉ chiếm nhỏ hơn 1% tổng số các ULP nguyên phát ÔTH [10].
Điều trị là sự kết hợp giữa phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Giai đoạn IIIE và
IVE thường được điều trị bằng hóa chất đơn thuần, phẫu thuật rất ít được đặt
ra và thường chỉ được chỉ định trong những biến chứng của u. Tuy nhiên ở
giai đoạn sớm của bệnh phương pháp điều trị hiệu quả nhất vẫn còn được
tranh cãi. Hóa trị, phẫu thuật và kết hợp của 2 phương pháp này đã được
nghiên cứu và so sánh cho kết quả tương tự nhau với tỷ lệ sống 70-90%. Xạ
trị cũng đã được thử nghiệm và cho kết quả tốt [20].
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về ULP nguyên phát ÔTH. Các
thể mô bệnh học, hệ thống phân loại giai đoạn bệnh ngày càng rõ ràng và hợp
lý hơn cho chỉ định điều trị. Các phương pháp điều trị với hiệu quả và chỉ
định của chúng còn nhiều tranh cãi nhưng cũng đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ. Tại Việt Nam, trước năm 2000 ULP ÔTH chỉ được nhận xét trong nghiên cứu
cùng với các thể ung thư khác của ÔTH. Năm 2000 Trịnh Hồng Sơn và cộng
sự nghiên cứu tổng kết 13 trường hợp ULP ruột non trong vòng 10 năm ở
bệnh viện Việt Đức trên các khía cạnh lâm sàng, mô bệnh học và điều trị.
Những năm gần đây đã có thêm nhiều nghiên cứu về ULP ngoài hạch nói
chung và ULP ÔTH nói riêng nhưng chủ yếu dừng lại ở khía cạnh mô bệnh
học. Gần đây nhất năm 2005 tác giả Phạm Văn Thái nghiên cứu ULP ÔTH
trên các khía cạnh đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị với đối
tượng nghiên cứu là tất cả bệnh nhân được chẩn đoán qua soi và phẫu thuật.
Chưa có nghiên cứu nào sâu về bệnh lý này trên khía cạnh phẫu thuật [8], [10],
[13], [17], [4].
Mặc dù chiếm tỷ lệ rất ít so với ung thư biểu mô tuyến và điều trị chủ
yếu bằng hóa chất tuy nhiên trên lâm sàng chúng ta vẫn gặp những trường
hợp có biến chứng nặng (thủng, xuất huyết tiêu hóa, tắc ruột) cần phẫu thuật
cấp cứu và nhiều trường hợp không chẩn đoán được trước phẫu thuật đòi hỏi
phẫu thuật viên cũng phải có hiểu biết về loại ung thư này. Trên cơ sở giúp
thầy thuốc tăng tỷ lệ chẩn đoán trước mổ, có chỉ định phẫu thuật và kế hoạch
điều trị sau phẫu thuật đúng đắn nhằm hạn chế biến chứng và kéo dài tối đa
thời gian sống cho bệnh nhân. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này
nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u
lympho nguyên phát ống tiêu hóa được phẫu thuật tại bệnh viện
Việt Đức giai đoạn từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2010 .
2. Đánh giá kết quả sớm điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát
ống tiêu hóa.
Xem thêm

129 Đọc thêm

đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát ống tiêu hóa tại bệnh viện việt đức

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U LYMPHO NGUYÊN PHÁT ỐNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ
U lympho (ULP) là một nhóm không đồng nhất những tổn thương ác
tính xuất phát từ tổ chức lympho, các khối u này chiếm 3% các ung thư trên
thế giới. Hầu hết ULP có nguồn gốc từ tế bào B, một phần nhỏ từ tế bào T.
ULP chia làm 2 loại lớn là ULP Hodgkin (HL) và ULP không Hodgkin
(NHL) [43]. Hầu hết ULP phát triển từ mô lympho nằm trong hạch bạch
huyết. Khoảng 20-40% ULP phát triển từ mô lympho ngoài hạch. ULP ống
tiêu hóa (ÔTH) chiếm 1/3 ULP ngoài hạch và 30 năm gần đây tỷ lệ loại u này
tăng dần trên thế giới nhưng nguyên nhân chưa rõ ràng [56], [99].
Ung thư ÔTH chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến, ULP nằm trong tỷ lệ
nhỏ nhóm các ung thư không biểu mô [1]. ULP nguyên phát ÔTH có thể gặp
ở tất cả các đoạn của ống tiêu hóa. Khối u này chiếm khoảng 2-8 % trong các
tổn thương ác tính ở dạ dày [27]; 20% ở ruột non [90], [54]; 0.2-1.2% ở đại
tràng và 0.1-0.6 ở trực tràng [91], [94]. ULP nguyên phát ở thực quản hiếm
gặp nhất, chỉ chiếm nhỏ hơn 1% tổng số các ULP nguyên phát ÔTH [10].
Điều trị là sự kết hợp giữa phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Giai đoạn IIIE và
IVE thường được điều trị bằng hóa chất đơn thuần, phẫu thuật rất ít được đặt
ra và thường chỉ được chỉ định trong những biến chứng của u. Tuy nhiên ở
giai đoạn sớm của bệnh phương pháp điều trị hiệu quả nhất vẫn còn được
tranh cãi. Hóa trị, phẫu thuật và kết hợp của 2 phương pháp này đã được
nghiên cứu và so sánh cho kết quả tương tự nhau với tỷ lệ sống 70-90%. Xạ
trị cũng đã được thử nghiệm và cho kết quả tốt [20].
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về ULP nguyên phát ÔTH. Các
thể mô bệnh học, hệ thống phân loại giai đoạn bệnh ngày càng rõ ràng và hợp
lý hơn cho chỉ định điều trị. Các phương pháp điều trị với hiệu quả và chỉ
định của chúng còn nhiều tranh cãi nhưng cũng đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ. Tại Việt Nam, trước năm 2000 ULP ÔTH chỉ được nhận xét trong nghiên cứu
cùng với các thể ung thư khác của ÔTH. Năm 2000 Trịnh Hồng Sơn và cộng
sự nghiên cứu tổng kết 13 trường hợp ULP ruột non trong vòng 10 năm ở
bệnh viện Việt Đức trên các khía cạnh lâm sàng, mô bệnh học và điều trị.
Những năm gần đây đã có thêm nhiều nghiên cứu về ULP ngoài hạch nói
chung và ULP ÔTH nói riêng nhưng chủ yếu dừng lại ở khía cạnh mô bệnh
học. Gần đây nhất năm 2005 tác giả Phạm Văn Thái nghiên cứu ULP ÔTH
trên các khía cạnh đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị với đối
tượng nghiên cứu là tất cả bệnh nhân được chẩn đoán qua soi và phẫu thuật.
Chưa có nghiên cứu nào sâu về bệnh lý này trên khía cạnh phẫu thuật [8], [10],
[13], [17], [4].
Mặc dù chiếm tỷ lệ rất ít so với ung thư biểu mô tuyến và điều trị chủ
yếu bằng hóa chất tuy nhiên trên lâm sàng chúng ta vẫn gặp những trường
hợp có biến chứng nặng (thủng, xuất huyết tiêu hóa, tắc ruột) cần phẫu thuật
cấp cứu và nhiều trường hợp không chẩn đoán được trước phẫu thuật đòi hỏi
phẫu thuật viên cũng phải có hiểu biết về loại ung thư này. Trên cơ sở giúp
thầy thuốc tăng tỷ lệ chẩn đoán trước mổ, có chỉ định phẫu thuật và kế hoạch
điều trị sau phẫu thuật đúng đắn nhằm hạn chế biến chứng và kéo dài tối đa
thời gian sống cho bệnh nhân. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này
nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u
lympho nguyên phát ống tiêu hóa được phẫu thuật tại bệnh viện
Việt Đức giai đoạn từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2010 .
2. Đánh giá kết quả sớm điều trị phẫu thuật u lympho nguyên phát
ống tiêu hóa.
Xem thêm

129 Đọc thêm

Đánh giá kết quả điều trị các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Trung Ương Huế

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CÁC TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung trước đây gọi là dị sản cổ tử cung hay nghịch sản cổ tử cung hay loạn sản cổ tử cung là những tổn thương tiền ung thư của tế bào biểu mô cổ tử cung. Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có thể tồn tại lâu hay tự khỏi nhờ hệ miễn dịch của bệnh nhân. Một số nhỏ trường hợp có thể tiến triển thành ung thư, điều trị tổn thương ở giai đoạn tiền ung thư thì có thể phòng ngừa ung thư cổ tử cung.
Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung là tình trạng tế bào bao phủ cổ tử cung phát triển bất thường. Những thay đổi này mới diễn ra ở phần trên lớp tế bào đáy, chưa xâm lấn vào mô đệm cổ tử cung. Đa số tổn thương xảy ra ở vùng chuyển tiếp của cổ tử cung (vùng biểu mô chuyển sản tái tạo). Từ thập niên 90, qua nhiều nghiên cứu dịch tể người ta đã xác định vai trò gây bệnh dẫn đến tổn thương tiền ung thư của HPV (Human Papilloma Virus), là tác nhân gây biến đổi tế bào cổ tử cung( loạn sản cổ tử cung) và tổn thương tiền ung thư thường phát hiện trong khoảng 25-35 tuổi[ 35],[36],[17], [18], [28].
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tần suất mắc ung thư cổ tử cung có xu hướng tăng lên. Nếu không đưa ra các biện pháp dự phòng, can thiệp sàng lọc định kỳ và có hệ thống để phát hiện các tổn thương tiền ung thư cũng như điều trị kịp thời và hiệu quả thì trong vòng 10 năm nữa, tỷ lệ mới và chết do ung thư cổ tử cung sẽ tăng thêm 25 % [39]. Tỷ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật là 90 % đối với ung thư CTC tại chỗ và giảm đáng kể còn 14 % đối với ung thư cổ tử cung giai đoạn IV. Tỷ lệ ung thư CTC xâm lấn đã giảm đáng kể trong 40 năm qua do những chương trình tầm soát phát hiện sớm[45].
Theo thống kê, trên thế giới mỗi năm có khoảng 260.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung với 85% phụ nữ ở những nước nghèo, là ung thư đứng hàng thứ hai sau ung thư vú [41]
Ở Pháp, theo thống kê năm 2000 có khoảng 3387 ca ung thư cổ tử cung ở giai đoạn xâm nhập và 1004 ca tử vong do ung thư cổ tử cung [41].
Tại Mỹ, trong năm 2001 có 12.900 ca mới và tử vong 4.400 ca, tỷ lệ mắc bệnh có giảm dần trong 30 năm qua nhờ chương trình sàng lọc rộng rãi, 50% ung thư cổ tử cung gặp ở phụ nữ đã không kiểm tra tế bào âm đạo định kỳ trong 5 năm ở thời điểm chẩn đoán.Yếu tố xã hội thấp kém cũng là một nguyên nhân đáng kể [29]
Năm 2010, tại Việt nam có 5.664 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung và tỷ lệ mới mắc ung thư cổ tử cung là 13,6 /100.000 phụ nữ [39], cho dù có thể dự phòng và phát hiện sớm. Sở dĩ như vậy là vì tất cả phụ nữ chưa được sàng lọc định kỳ và có hệ thống để phát hiện sớm ung thư bằng các xét nghiệm thích hợp, dễ làm. Nhất là khi đã phát hiện tổn thương tiền ung thư thì cũng chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả. Ở nước ta, tỉ lệ tổn thương tiền ung thư cổ tử cung chiếm tỉ lệ khoảng 3,4%-24,8%[19]
Người ta nhận thấy tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có đặc điểm là tiến triển chậm từ 8 đến 10 năm, qua từng mức độ nặng dần có thể dẫn đến ung thư nhưng kết quả điều trị của nó phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn phát hiện. Nếu các tổn thương tiền ung thư được phát hiện sớm thì việc điều trị ít tốn kém nhưng lại rất hiệu quả.
Tuy nhiên, hiện nay tại Bệnh viện Trung ương Huế các công trình nghiên cứu về các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung còn ít và chưa đầy đủ nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết quả điều trị các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Trung Ương Huế” nhằm mục đích:
1.Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung.
2.Đánh giá kết quả điều trị các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Đánh giá kết quả điều trị ung thư bàng quang giai đoạn II bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần tại bệnh viện K

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BÀNG QUANG GIAI ĐOẠN II BẰNG PHẪU THUẬT CẮT BÀNG QUANG BÁN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN K

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư bàng quang là bệnh ung thư thường gặp nhất trong các bệnh
ung thư của hệ tiết niệu. Trên thế giới, năm 2008 có khoảng hơn 450.000 ca
ung thư bàng quang mới mắc, đứng hàng thứ 5 trong tổng số các bệnh ung
thư thường gặp ở cả 2 giới với tỷ lệ 8% và số bệnh nhân tử vong vào khoảng
130.000 trường hợp [1]. Ở Mỹ năm 2008 có khoảng 53.000 bệnh nhân ung
thư bàng quang mới mắc, tỷ lệ mới mắc này tăng hơn 20% trong vòng 20 năm
trở lại đây. Ung thư bàng quang gặp ở mọi lứa tuổi, đỉnh cao là nhóm tuổi từ
60 tới 70 và tỷ lệ nam/nữ là 2,5/1[2], [3].
Ở Việt Nam theo ghi nhận ung thư Hà Nội (2000 – 2001), tỷ lệ mắc
ung thư bàng quang là 2,2/100 000 dân, đứng sau các bệnh ung thư phổi, dạ
dày, gan, vú và vòm mũi họng. Bệnh hay gặp ở nam giới hơn nữ giới, đứng
vị trí thứ 4 trong các bệnh ung thư ở nam giới và thứ 9 ở nữ giới [4], [5].
Triệu chứng lâm sàng ung thư bàng quang nghèo nàn, bệnh nhân thường
vào viện vì đái máu. Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi bàng quang,
sinh thiết u và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.Nội soi bàng quang có giá
trị xác định vị trí, hình dáng, kích thước u, qua nội soi sinh thiết u để chẩn
đoán mô bệnh học. Tuy nhiên để xác định mức độ xâm lấn của u tại thành
bàng quang hoặc ra tổ chức xung quanh và tình trạng hạch vùng thì CT và
MRI có vai trò quan trọng với độ chính xác cao [6], [7].
Về mô bệnh học, loại ung thư tế bào chuyển tiếp là loại hay gặp nhất
chiếm tỷ lệ khoảng 90%, ung thư biểu mô vảy, ung thư biểu mô tuyến ít gặp.
Trong ung thư bàng quang, 75% là ung thư bàng quang nông, phương
pháp điều trị chủ yếu là cắt u qua nội soi kết hợp với bơm hóa chất tại chỗ
hoặc BCG, phương pháp này được áp dụng phổ biến trên thế giới và Việt
Nam đã làm giảm tái phát u[8], [9]. Ung thư bàng quang xâm l ấn cơ chiếm 20 – 25%, phương pháp điều trị chủ yếu của giai đoạn này là cắt bàng
quang toàn bộ, vét hạch chậu bịt hai bên, tuy nhiênviệc mất đi bàng quang
sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sống của người bệnh, đặc biệt khi họ phải
mang túi thu nước tiểu hai bên mạng sườn. Để hạn chế việc phải mang túi
nước tiểu do cắt bàng quang toàn bộ và bảo tồn được chức nă ng bàng
quang, kiểm soát việc đi tiểu, trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu
phẫu thuật cắt bàng quang bán phần đối với ung thư bàng quang xâm lấn cơ
mà vẫn đảm bảo nguyên tắc điều trị ung thư [10], [11].
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về ung thư bàng quang nói chung,
tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở nhóm ung thư bàng quang
nông và phẫu thuật cắt bàng quang toàn bộ trong ung thư bàng quang xâm
lấn cơ. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả điều trị đối với
ung thư bàng quang xâm lấn cơ bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần.
Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị ung thư bàng
quang giai đoạn II bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần tại bệnh
viện K” với hai mục tiêu sau:


1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư biểu mô
bàng quang giai đoạn II.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt bàng quang bán phần do ung thư biểu mô
bàng quang giai đoạn II tại bệnh viện K từ năm 2008 đến 2013.
Xem thêm

106 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ GAN BẰNG PHẪU THUẬT CẮT GAN NỘI SOI

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ GAN BẰNG PHẪU THUẬT CẮT GAN NỘI SOI

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư gan (UTG) nguyên phát mà chủ yếu là ung thư biểu mô tế bào
gan là một bệnh ác tính phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới, một vấn đề lớn
đối với sức khỏe toàn cầu. Năm 2008, trên thế giới ước tính có khoảng
748.000 ca mới mắc và 696.000 người chết vì căn bệnh này. Bệnh gặp nhiều
ở Châu Phi, Châu Á, trong khi ở Châu Âu và Bắc Mỹ ít gặp hơn. Việt Nam
cũng là quốc gia có tỷ lệ mắc UTG cao do liên quan đến tình trạng nhiễm
virus viêm gan B và virus viêm gan C [5], [8], [57].
Nhờ sự tiến bộ của y học, chúng ta đã hiểu biết rõ hơn về căn nguyên,
cơ chế bệnh sinh và tìm ra nhiều phương pháp chẩn đoán, điều trị, phòng
bệnh hiệu quả hơn, nhưng UTG vẫn là bệnh lý ác tính, tiến triển nhanh, tiên
lượng xấu, tỷ lệ tử vong cao [5], [19], [109].
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị UTG được áp dụng như: phẫu
thuật cắt gan, ghép gan, đốt nhiệt cao tần, tiêm cồn qua da, các phương pháp
điều trị tắc mạch…Tuy nhiên, phẫu thuật cắt gan vẫn được đánh giá là
phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả nhất [19], [38], [79].
Gan là tạng lớn, nằm dưới vòm hoành, được cố định bởi tĩnh mạch chủ
dưới, mạc chằng hoành gan, các nếp phúc mạc, mạc chằng tam giác, mạc
chằng liềm...Do đó, khi cắt gan, phẫu thuật viên phải mở đường mổ rộng rãi
mới có thể di động gan để thực hiện phẫu thuật. Chính vì vậy, sau mổ bệnh
nhân đau nhiều, sẹo mổ lớn với nhiều nguy cơ dính ruột, thoát vị thành bụng,
nhiễm khuẩn vết mổ…[3], [4], [92].
Sự phát triển mạnh mẽ của phẫu thuật nội soi vào những năm gần đây
đã có ảnh hưởng lớn tới phẫu thuật gan mật. Năm 1992 , Gagner và cộng sự
thực hiện trường hợp cắt gan nội soi (CGNS) đầu tiên. Năm 1996, Azagra và
cộng sự là những người tiên phong tiến hành cắt thùy gan trái điển hình qua
nội soi [92]. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về phẫu thuật CGNS điều trị
UTG [48], [53], [85]. Hầu hết các tác giả đều nhận định rằng, phẫu thuật
CGNS soi có ưu điểm hơn so với mổ mở như: giảm đau sau mổ, thời gian
nằm viện ngắn, sẹo mổ nhỏ, tính thẩm mỹ cao, người bệnh nhanh chóng trở
lại hoạt động bình thường. Bên cạnh đó, phẫu thuật nội soi còn giúp chẩn
đoán, đánh giá giai đoạn ung thư, giúp bệnh nhân tránh được cuộc mổ không
cần thiết. Tuy nhiên, vẫn còn những ý kiến khác nhau về chỉ định phẫu thuật,
xác định và tiếp cận khối u trong khi mổ, kiểm soát cầm máu...[1], [3], [73],
[79], [92].
Tại Việt Nam, phẫu thuật CGNS điều trị UTG vẫn còn nhiều tồn tại: số
lượng các trung tâm y tế có khả năng CGNS điều trị UTG còn ít, chỉ định
CGNS điều trị UTG tại các trung tâm khác nhau cũng khác nhau, những
nghiên cứu về kết quả phẫu thuật CGNS điều trị UTG chưa được đầy đủ.
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu điều trị ung thư gan
bằng phẫu thuật cắt gan nội soi” với 2 mục tiêu:
1. Nhận xét một số đặc điểm bệnh nhân ung thư gan được chỉ định cắt
gan nội soi.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt gan nội soi điều trị ung thư gan và
xác định một số yếu tố liên quan đến thời gian sống thêm, thời gian
tái phát.
Xem thêm

159 Đọc thêm

báo cáo Thực tập dịch tễ học ung thư gan

BÁO CÁO THỰC TẬP DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ GAN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN



LỚP ĐH Y KHÓA 5. TCDY025220211516
TIỂU NHÓM 3

TÊN ĐỀ TÀI

“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH HIỆN MẮC UNG THƯ GAN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ DẪN ĐẾN UNG THƯ GAN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU CẦN THƠ TRONG NĂM 2016”






Đề cương luận văn chuyên ngành Y
Người hướng dẫn khoa học: ThS.BS Trần Lê Minh Thái

HẬU GIANG 2016


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tiếng Việt
BN Bệnh nhân
FNH U tăng sản dạng khối lành tính
HCC Ung thư biểu mô tế bào gan
UTG Ung thư gan
UTGNP Ung thư gan nguyên phát
UTGTP Ung thư gan thứ phát
UTTBG Ung thư tế bào gan

Tiếng Anh
ALT Aspartate Amino Transferase
AST Alanin Amino Transferase
CCC Cholangiocarcinoma
FNH Focal Nodular Hyperplasia
HBV Hepatitis B virus
HCC Hepatocellular carcinoma
HCV Hepatitis C virus
IARC International Agency for Research on Cancer
NCEP – ATP III National Cholesterol Education Program – Adult Treatment Panel III 2001
WHO World Health Organization










MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược về ung thư gan
1.1.1. Định nghĩa UTG
1.1.2. Các loại UTG
1.1.3. Các giai đoạn UTG
1.1.4. Các yếu tố nguy cơ
1.1.5. Giải phẫu bệnh
1.1.6. Triệu chứng cơ năng và thực thể
1.1.7. Chẩn đoán
1.1.8. Các phương pháp điều trị UTG
1.2. Tình hình ung thư trên thế giới
1.3. Tình hình ung thư gan ở Việt Nam
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.3. Thiêt kế
2.1.4. Cỡ mẫu
2.1.5. Phương pháp chọn cỡ mẫu
2.1.6. Trình bày phương pháp thu thập số liệu
2.1.7. Các biến số nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang
1
3
3
3
4
4
8
8
9
10
11
12
15
15
15
15
15
15
16
16
19






ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là khối mô tân tạo, với những đặc điểm riêng biệt, hình thành do tế bào tăng sản quá mức bình thường, phát triển rất nhanh, lan rộng hủy hoại, có thể di căn khắp nơi trong cơ thể, dễ tái phát và có thể làm chết người 7. Theo Globocan 2008, trên Thế giới có 12,7 triệu ca mới mắc ung thư trong đó ung thư gan đứng hàng thứ 6 chiếm 5,9% và 7,6 triệu ca chết do ung thư trong đó tử vong do ung thư gan đứng hàng thứ 3 chiếm 9,2% 8. Theo Globocan 2012, trên toàn Thế giới có 14,1 triệu ca mới mắc ung thư và 8,2 triệu ca tử vong, nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ung thư là ung thư gan (745.000 ca) đứng hàng thứ 2 chỉ sau ung thư phổi (1,6 triệu ca), ung thư dạ dày đứng thứ 3 (723.000 ca). Hiệp hội nghiên cứu ung thư quốc tế IARC cũng cho biết, khoảng 21,4 triệu trường hợp mắc mới ung thư sẽ được phát hiện vào năm 2030 và sẽ tập trung chủ yếu tại các nước nghèo, nơi có mức sống thấp và Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất thế giới 3.
Năm 2004, ở Thành phố Hồ Chí Minh trong 10 loại ung thư thường gặp nhất thì ung thư gan đứng hàng thứ nhất ở nam (xuất độ 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm) và đứng hàng thứ 6 ở nữ (xuất độ 8,3 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm) 2. Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ 3 ở nam và hàng thứ 7 ở nữ trong 10 loại ung thư thường gặp nhất 1. Theo tiên đoán Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ thì nước Mỹ năm 2016 khoảng 39.230 ca sẽ mắc bệnh ung thư gan (28.410 nam và 10.820 nữ), trong đó khoảng 27.170 (18.280 nam và 8.890 nữ) người sẽ chết vì ung thư gan 9.
Theo tác giả Mai Trọng Khoa (2012) ung thư gan là loại ung thư đứng thứ 2 về số ca ở nam và thứ 3 ở nữ. Tỷ lệ tử vong hàng đầu ở cả 2 giới, nam nhiều hơn nữ. Đặc biệt, căn bệnh ung thư này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Năm 2012, cả nước ghi nhận gần 22.000 ca ung thư gan thì gần 21.000 người tử vong trong cùng năm ấy 4. Theo thống kê mới nhất từ GLOBOCAN 2012, nước ta hiện nay ung thư gan là ung thư đứng hàng thứ 2 chỉ sau ung thư phổi, và là loại ung thư gây tử vong hàng đầu ở nam giới 10.
Ung thư gan là căn bệnh có tiên lượng khá thấp nếu được phát hiện muộn. Theo tác giả, đa số bệnh nhân đến phòng khám khi đã muộn, 60% đã ở giai đoạn trung gian và tiến triển. Vì thế tỷ lệ tử vong rất cao, thời gian sống trung bình không quá 1 năm 4.
Điều kiện sống thay đổi, thói quen sinh hoạt, kèm theo đó là sự thay đổi khí hậu toàn cầu dẫn tới sự khắc nghiệt của thời tiết, môi trường bị ô nhiễm nặng nề, là một trong những nguyên nhân khiến số người mắc ung thư gan tăng trong những năm gần đây. Nồng độ các phân tử phóng xạ tự do trong môi trường tăng cao khiến cho nguy cơ tiếp xúc với lượng phóng xạ gia tăng và là điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của ung thư. Ung thư gan là một vấn nạn nghiêm trọng của con người nên việc điều trị rất quan trọng trong chương trình Phòng chống ung thư ở mọi quốc gia. Muốn nâng cao chất lượng điều trị, không chỉ hoàn chỉnh về kĩ thuật của mỗi phương pháp, thiết bị, mà còn phải có kinh nghiệm, kiến thức, chẩn đoán chính xác, xây dựng phác đồ điều trị cho mỗi bệnh nhân một cách hợp lý.
Quan trọng hơn hết là tìm hiểu các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ung thư gan để tư vấn cho người dân nhằm mục đích giảm thiểu số lượng người mắc trong tương lai. Vì thế nên nhóm chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu tình hình hiện mắc ung thư gan và các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong năm 2016” với mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ bệnh nhân ung thư gan tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong năm 2016.
2. Khảo sát các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong năm 2016.




Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược về ung thư gan
Ung thư gan là ung thư thường gặp nhất của hệ gan mật. Ung thư gan có thể nguyên phát hoặc thứ phát, trong đó UTGNP chiếm 80% trường hợp 17. Do đó chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về ung thư gan nguyên phát
1.1.1. Định nghĩa ung thư gan nguyên phát
Ung thư gan nguyên phát là ung thư xuất phát từ tế bào biểu mô của nhu mô gan gồm ung thư biểu mô tế bào gan và ung thư biểu mô tế bào ống mật trong gan 5.
1.1.2. Các loại ung thư gan (UTG):
a. Ung thư gan nguyên phát (UTGNP):
Là dạng ung thư bắt đầu trong tế bào gan, được chia thành các loại khác nhau dựa trên các loại tế bào trở thành ung thư. Các loại bao gồm:
 Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC): Đây là hình thức phổ biến nhất của ung thư gan nguyên phát ở cả trẻ em và người lớn.
 Cholangiocarcinoma: Đây là loại ung thư bắt đầu trong ống giống như ống mật nhỏ trong gan, đôi khi được gọi là ung thư ống mật.
 U nguyên bào gan: Đây là loại hiếm của ung thư gan ảnh hưởng đến trẻ em dưới 4 tuổi. Hầu hết trẻ em bị u nguyên bào gan có thể được điều trị thành công.
 Angiosarcoma hoặc hemangiosarcoma: Những bệnh ung thư hiếm bắt đầu vào các mạch máu của gan và phát triển rất nhanh chóng 7.
b. Ung thư gan thứ phát (UTGTP):
Là tình trạng khối u từ các khu vực khác trên cơ thể đã lan tới gan. Đặc biệt, gan là một “mảnh đất màu mỡ” cho ung thư lan rộng vì tại đây có nguồn cung cấp máu dồi dào và có các chất dịch cơ thể giúp thúc đẩy quá trình tăng trưởng tế bào.
Nguy cơ ung thư gan thứ phát phụ thuộc vào vị trí ban đầu của khối ung thư. Ví dụ, ung thư đường tiêu hóa thường lây lan đến gan qua các mạch máu. Ung thư gan thứ phát có thể xảy ra khi được chẩn đoán vị trí ung thư ban đầu, hoặc nhiều tháng, nhiều năm sau khi khối u ban đầu đã được điều trị.
Hầu hết ung thư gan thứ phát có nguồn gốc từ đại tràng, trực tràng, tụy, dạ dày, thực quản, vú, phổi và một số vị trí khác.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc ung thư di căn gan, bao gồm độ tuổi, giới tính của bệnh nhân, vị trí ung thư ban đầu, loại mô học, và thời gian phát triển của khối u. Một số loại ung thư, như ung thư đại tràng, ung thư biểu mô tế bào gan, di căn được giới hạn ở gan. Trong khi, hầu hết các khối u di căn đến gan, như ung thư vú và phổi, lây lan sang các vị trí khác tại cùng một thời điểm.
1.1.3. Các giai đoạn của ung thư gan
Giai đoạn I: Ở giai đoạn này, ung thư gan là một khối u đơn hạn chế trong gan mà không phát triển để xâm nhập bất kỳ mạch máu.
Giai đoạn II: Ung thư gan ở giai đoạn này có thể là một khối u duy nhất đã phát triển để xâm nhập vào mạch máu ở gần đó, hoặc nó có thể nhiều khối u nhỏ trong gan.
Giai đoạn III: Giai đoạn này có thể cho thấy ung thư bao gồm một số khối u lớn hơn. Hoặc ung thư có thể là một khối u lớn đã phát triển để xâm nhập tĩnh mạch chính của gan hoặc xâm lược cấu trúc gần đó, chẳng hạn như túi mật.
Giai đoạn IV: Ở giai đoạn này, ung thư gan đã lan tràn ra ngoài gan đến các khu vực khác của cơ thể.
1.1.4. Các yếu tố nguy cơ
1.1.4.1 Virus viêm gan B (HBV)
Nguy cơ của những người mang HBV mạn tính bị UTG cao hơn người bình thường rất nhiều – từ hàng chục đến hàng trăm lần. Trên thế giới khoảng từ 350 – 400 triệu người mang HBV mạn tính. Con số này ở nước ta ước tính dao độngt ừ 8 – 10 triệu người.



Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan virus B:
o Thể vàng da điển hình:
Có tiền sử truyền máu hay các chế phẩm của máu, tiêm chích, quan hệ tình dục không an toàn trong khoảng từ 4 tuần đến 6 tháng.
Lâm sàng: có thể có các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, vàng da, tiểu ít sẫm màu, đau tức vùng gan, nôn, buồn nôn, phân bạc màu...
Cận lâm sàng: AST, ALT tăng cao (thường tăng trên 5 lần so với giá trị bình thường); Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp; HBsAg (+) hoặc () và antiHBc IgM (+).
o Một số thể lâm sàng khác:
Thể không vàng da:
+ Lâm sàng: có thể có mệt mỏi, chán ăn, đau cơ.
+ Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, antiHBc IgM (+) và HBsAg (+).
Thể vàng da kéo dài:
+ Lâm sàng: Có các triệu chứng lâm sàng giống như thể điển hình, kèm theo có ngứa. Tình trạng vàng da thường kéo dài trên 6 tuần, có khi 34 tháng.
+ Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp, HBsAg (+) hoặc () và antiHBc IgM (+).
Thể viêm gan tối cấp:
+ Lâm sàng: Người bệnh có biểu hiện suy gan cấp kèm theo các biểu hiện của bệnh lý não gan.
+ Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp, HBsAg (+) hoặc () và antiHBc IgM (+), thời gian đông máu kéo dài, giảm tiểu cầu.
1.1.4.2 Virus viêm gan C (HCV)
Cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ung thư tế bào gan. Có khoảng 170 – 200 triệu người mang virus HCV mạn tính. Tỷ lệ bị nhiễm HCV ở người UTG khá cao: ở nước Ý – từ 44 – 66%; Tây Ban Nha – từ 60 – 75%; Nhật Bản – từ 80 90%. Tỷ lệ UTG ở người xơ gan do HCV sau 25 – 30 năm là khoảng 25 – 30%.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan virus C:
o Chẩn đoán xác định viêm gan virus C cấp
HCV RNA dương tính, antiHCV có thể âm tính hoặc dương tính: HCV RNA thường dương tính 2 tuần sau khi phơi nhiễm, trong khi anti HCV xuất hiện sau 8 12 tuần.
AST, ALT bình thường hoặc tăng.
Thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng: Người bệnh được theo dõi có chuyển huyết thanh từ anti HCV âm tính thành dương tính, có thể có biểu hiện lâm sàng hoặc không.
o Chẩn đoán xác định viêm gan virus C mạn
Anti HCV dương tính, HCV RNA dương tính;
Thời gian mắc bệnh > 6 tháng, hoặc có biểu hiện xơ gan (được xác định bằng chỉ số APRI, hoặc sinh thiết gan có hình ảnh viêm gan mạn và xơ hóa có ý nghĩa, hoặc FibroScan, Fibrotest có xơ hóa > F2) mà không do căn nguyên khác.
o Chẩn đoán viêm gan C ở trẻ em
Xét nghiệm antiHCV khi trẻ 18 tháng tuổi trở lên
Xác định HCV RNA ở thời điểm 1 2 tháng sau sinh để chẩn đoán sớm hơn.
1.1.4.3 Rượu
Nghiện rượu được xác định là một yếu tố gây UTG. Khi lượng Alcohol dùng > 80gngày và kéo dài, nguy cơ UTG tăng lên. Tuy nhiên, cơ chế chủ yếu là thông qua xơ gan. Ít có bằng chứng tác động trực tiếp gây UTG của rượu. Cũng đã có bằng chứng về tác động hiệp đồng giữa rượu và nhiễm HBV, HCV trong việc làm tăng nguy cơ UTG.
1.1.4.4 Aflatoxin B1 (AFB1)
Là một độc tố được tạo ra bởi nấm Aspergillus, loại nấm này phát triển rất nhanh chóng trong các loại lương thực – thực phẩm: ngô, sắn, đậu, gạo, chuối,…khi bảo quản trong môi trường nóng, ẩm. AFB1 là một chất gây ung thư rất mạnh. Trong quá trình chuyển hóa, nó gắn vào DNA gây tổn thương tế bào và đột biến gen P53.
1.1.4.5 Xơ gan
Đa số ung thư tế bào gan phát triển trên nền xơ gan (Châu Á: 70 – 90%). Xơ gan càng nặng thì khả năng UTG càng cao.
Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan:
o Giai đoạn còn bù:
Dựa vào các biểu hiện lâm sàng: gan chắc, cứng.
Cận lâm sàng:
Siêu âm
+ Nhu mô không đồng nhất, gan sáng hơn bình thường, phân thùy đuôi to, bờ mấp mô không đều.
+ Tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên bị giãn.
+ Lách tăng kích thước, có thể có cổ trướng.
+ Tràn dịch màng phổi.
Chụp cắt lớp vi tính
Cộng hưởng từ
Sinh thiết gan
o Giai đoạn mất bù:
Lâm sàng:
+ Hội chứng suy tế bào gan:vàng da, vàng mắt, dấu sao mạch , lòng bàn tay son, phù chi, báng bụng, sức khỏe sa sút, ăn uống kém.
+ Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Lách to, tuần hoàn bàng hệ, báng bụng…
Cận lâm sàng: siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, sinh thiết gan.
1.1.4.6 Một số yếu tố khác
Đang được xem xét đó là: gan nhiễm mỡ, béo phì, đái tháo đường, thuốc lá và thuốc tránh thai.

1.1.5. Giải phẫu bệnh
 Đại thể: tùy thuộc vào kích thước và số lượng u mà gan có thể to vừa hoặc rất to. Thông thường, khối ung thư có màu vàng nhạt hoặc vàng hơi xám, các khối u lớn thường bị hoại tử ở giữa, xung quanh u có thể có một vỏ xơ. Theo phân loại Eggel, UTG về hình thái học được chia làm 3 thể:
Thể một nhân: tùy theo kích thước, khối lớn có thể chiếm gần hết gan.
Thể nhiều nhân: trong gan có nhiều khối to nhỏ khác nhau.
Thể lan tỏa: tổ chức ung thư không rõ ranh giới xâm lấn vào nhu mô và các mạch máu trong gan.
Ở Việt Nam, phần lớn ung thư tế bào gan đều xuất hiện trên nền gan xơ (80 – 90%).
 Vi thể: theo cấu trúc và sắp xếp, người ta chia các thể: thể bè, thể giả nang tuyến, thể đảo, thể nang, thể đặc, thể tế bào sang. Các tế bào ung thư còn có sự biến đổi của bào tương, có các không bào và giọt mật, nhân to nhưng nhìn chung khá giống các tế bào gan bình thường. Căn cứ vào đặc điểm này người ta cũng phân chia về mặt vi thể ung thư tế bào gan với độ biệt hóa khác nhau 6.
1.1.6. Triệu chứng cơ năng và thực thể
1.1.6.1 Cơ năng
Giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt : Phần lớn các bệnh nhân được phát hiện một cách tình cờ.Một số bệnh nhân có khối u gan khá lớn : 45 cm cũng không có triệu chứng rõ rệt hoặc dễ lầm với các triệu chứng của bệnh gan mạn tính như : mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu ,đau nhẹ hạ sườn phải , sốt nhẹ, đau xương khớp .
Giai đoạn có triệu chứng : khi có triệu chứng lâm sàng, bệnh thường đã ở giai đoạn muộn. Các triệu chứng thường gặp là :
• Gầy sút nhanh : có thể trong thời gian ngắn giảm tới 45 kg.
• Đau hạ sườn Phải : ban đầu đau ít, thường là đau âm ỉ, về sau có thể đau rất mạnh suốt ngày đêm, một số có cơn đau dữ dội do vỡ nhân ung thư.
• Mệt mỏi, ăn kém , bụng đầy trướng.
1.1.6.2 Thực thể
• Gan to, thường không đều,mặt có thể nhẵn hoặc lổn nhổn, mật độ chắc cứng, ấn có thể đau, một số trường hợp nghe thấy có tiếng thổi.
• Các triệu chứng đi kèm : cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ, vàng da, xuất huyết dưới da 6.
1.1.6.3 Cận lâm sàng
Alphafetoprotein (αFP): là một protein bào thai. Ở người bình thường < 10ngml. Khi > 20 ngml được coi là cao. Có giá trị chẩn đoán xác định khi > 400 ngml. Khoảng 70 – 75% các trường hợp UTG ở nước ta có αFP cao nhưng chỉ khoảng 50 – 60% đạt ngưỡng có giá trị chẩn đoán.
Siêu âm: là một kỹ thuật khá phổ biến và tin cậy trong chẩn đoán UTGNP. Hình ảnh khối u khu trú trong gan có các dạng giảm âm, tăng âm, hay hỗn hợp. Có thể phối hợp với siêu âm Doppler để tăng thêm hiệu quả của chẩn đoán.
Chụp cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI): cho phép phát hiện các khối ung thư bé. Đặc điểm trên CT và MRI các khối u gan > 2cm ngấm thuốc rất mạnh ở thì động mạch và thoát thuốc rất nhanh ở thì tĩnh mạch.
Chụp cản quang động mạch gan (Angiography): thường được sử dụng để chẩn đoán khối u gan bé, chẩn đoán phân biệt và kết hợp với điều trị nút mạch hóa chất.
Sinh thiết gan dưới sự hướng dẫn của siêu âm: CT hoặc MRI bằng kim bé hoặc kim lớn 6.
1.1.7. Chẩn đoán
Để giúp cho chẩn đoán, tiên lượng và điều trị các bệnh nhân nghi ngờ UTG cần có thêm các thông tin:
Bệnh sử: viêm gan B, C hoặc bệnh gan mạn tính như viêm gan mạn, xơ gan, nghiện bia rượu.
Đánh giá toàn trạng, tình trạng gan, cổ trướng, vàng da, xuất huyết dưới da.
Xét nghiệm bổ sung: ALT, AST, γGT, Albumin, Bilirubin, đông máu, HBsAg và AntiHCV (nếu dương tính – định lượng HBVDNA hoặc HCVRNA).
Chụp XQ phổi thẳng hoặc CT phổi (Chẩn đoán phân biệt với UTG thứ phát).
Chẩn đoán xác định
Có bằng chứng về mô bệnh học hoặc tế bào học.
U gan
 αFP > 400 ng
 Nhiễm HBV hoặc HCV
Kiểm tra trên siêu âm thấy có u :
+ U < 1 cm : Kiểm tra 3 tháng1 lần – trong 18 tháng
• U to ra : thực hiện theo quy trình với các u >1 cm
• U giữ nguyên kích thước : sau 18 tháng kiểm tra thường quy: 6 tháng – 12 tháng 1 lần.
+ U: 1 – 2 cm : Chẩn đoán xác định khi:
• Hình ảnh điển hình với 2 phương pháp chẩn đoán hình ảnh động (siêu âm có thuốc cản âm, CT. MRI, chụp động mạch gan).
• Hình ảnh điển hình với một phương pháp + αFP > 200ngml.
+ U >2 cm : hình ảnh điển hình với một phương pháp chẩn đoán hình ảnh
• Hình ảnh không điển hình + αFP > 400ngml 6.
1.1.8. Các phương pháp điều trị ung thư gan
Hóa trị đường toàn thân
Phương pháp tắc mạch kết hợp hóa trị
Xạ trị
Các phương pháp hủy u gan qua da
Phẫu thuật cắt gan 5.
Xem thêm

29 Đọc thêm

nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cắt lớp vi tính vòng xoắn 3 thì trong chẩn đoán một số ung thư gan thường gặp

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA CẮT LỚP VI TÍNH VÒNG XOẮN 3 THÌ TRONG CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ UNG THƯ GAN THƯỜNG GẶP

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư biểu mô tế bào gan (UTTBGNP) đã trở thành vấn đề được
quan tâm đến nhiều ở nước ta do bởi nước ta được xếp vào vùng dịch tể của
viêm gan B và C, là những tác nhân được chứng minh có liên quan đến ung
thư biểu mô tế bào gan, theo số liệu của tác giả Nguyễn Chấn Hùng và cộng
sự [5], ở các tỉnh phía Nam, trong 10 loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới
thì ung thư gan nguyên phát đứng hàng thứ hai vớ
i tần suất 25,4 trường hợp/
100000 dân/ năm. Ở trên thế giới, số ca tử vong do bệnh này hàng năm vào
khoảng 1,250,000.00 trường hợp! [103]
Ung thư biểu mô tế bào đường mật cùng với ung thư biểu mô tế bào gan
trở thành hai loại ung thư chiếm tuyệt đại đa số trong nhóm các loại ung thư
gan nguyên phát, tỷ lệ này được ước tính khoảng từ 93,1% đến 98% tổng số
ung thư gan nguyên phát [28], trong đó ung thư biể
u mô tế bào gan chiếm
khoảng từ 82,3% đến 90% tổng số ung thư gan nguyên phát, ung thư biểu mô
tế bào đường mật chiếm khoảng 9,7% - 12% tổng số ung thư gan nguyên phát.
Bên cạnh đó, vấn đề về ung thư gan thứ phát cũng thu hút sự chú ý
khi mà ngày càng có nhiều tiến bộ trong trị liệu các ung thư nguyên phát ở
các cơ quan khác nhau làm cho tỷ lệ sống còn của nhóm bệnh nhân này
ngày một cao hơn, cùng với thời gian sống còn kéo dài thì cơ may ung thư
thứ phát (UTGTP) tại gan ngày mỗi cao. Quả vậy, theo thống kê [36] thì ở
19.208 trường hợp mổ tử thi ở bệnh nhân có ung thư nguyên phát các loại
có đến 7.299 trường hợp đã có di căn tại gan.
Ung thư biểu mô tế bào gan nguyên phát, ung thư biểu mô tế bào
đường mật và các ung thư gan thứ phát làm nên 3 nhóm ung thư có tỷ lệ cao
nhất trong nhóm bệnh lý ác tính của gan. Về mặt ung thư học, thì việc phát
hiện sớm và đầy đủ các thương tổ
n mang một ý nghĩa rất lớn lao trong điều trị và thái độ xử trí đối với bệnh nhân. Bên cạnh đó, việc phát hiện và chẩn
đoán ra các loại u, cũng như phân biệt các loại u này với thương tổn khác
(nhất là các thương tổn được phát hiện tình cờ qua khám xét bằng các
phương tiện hình ảnh) là rất quan trọng không những về mặt thực hành mà
còn về mặt khoa học. Từ lâu người ta đã hiểu rõ về huyết động học của các
lo
ại u gan, phần lớn những u này được nuôi dưỡng chủ yếu bởi nguồn động
mạch tân sinh bất thường, các mạch tân sinh này được hình thành từ các yếu
tố sinh mạch được chi phối bởi các gen trong tế bào u, mỗi loại u sẽ tạo ra
cho hệ thống cấp máu đến nó một nét đặc thù riêng. Từ những nhận xét này,
rõ ràng là việc khảo sát động học tưới máu u là rất quan trọng, vì những hiểu
biết về
động học tưới máu này sẽ giúp đi sâu tìm hiểu bản chất từng loại u,
từ đó sẽ giúp phân loại, định hướng chẩn đoán cho từng loại u.
Tại các trung tâm y khoa lớn, trong một vài năm trở lại đây, kỹ thuật
chụp cắt lớp vi tính (CLVT) nhiều thì đã được xem như qui trình chuẩn mực
để khảo sát huyết động học của một cơ quan hay của một cấu trúc, nh
ất là khi
sử dụng các máy cắt lớp vi tính thế hệ mới với ưu điểm là thời gian quét được
rút ngắn lại nhờ vào khả năng chụp xoắn vòng và thời gian của mỗi vòng
xoay nhỏ hơn hay bằng 1 giây. Với kỹ thuật này, thì người ta có thể khảo sát
sự tăng tỷ trọng sau ngấm thuốc của một cấu trúc trong 3 giai đoạn tưới máu
riêng biệt là: giai đoạn
được tưới máu bởi động mạch gan, giai đoạn được
tưới máu bởi tĩnh mạch cửa và giai đoạn bão hoà của nồng độ thuốc cản
quang giữa khoang ngoại mạch và nội mạch. Qua các tài liệu nước ngoài, thì
kỹ thuật chụp CLVT nhiều thì đã không những có giá trị trong phát hiện mà
còn giúp chẩn đoán các loại u gan [56,79,98].
Tuy vậy, hiện tại trong nước ta có rất ít nghiên cứu về đánh giá hiệu
quả của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính trong khảo sát động học của u gan nói
chung hay các loại ung thư gan nói riêng. Trước đây, phần lớn các nghiên cứu u gan bằng kỹ thuật chụp CLVT đều sử dụng kỹ thuật cắt từng lát một và
không khảo sát được tưới máu từng giai đoạn động mạch hay tĩnh mạch cửa
hay giai đoạn cân bằng như nêu trên [14]; chính do hạn chế về mặt kỹ thuật
này mà giá trị của thông tin chẩn đoán mang lại thường là không cao: theo
báo cáo của Văn Tần [10] và cộng sự, tác giả khảo sát trên 749 trường hợp
UTTBGNP được mổ tại Bệnh viện Bình dân từ năm 1991 đến 1999 thì chỉ có
43% trường hợp CLVT chẩn đoán phù hợp với quan sát đại thể lúc mổ.
Từ các nhận xét trên, tôi thực hiện đề tại nghiên cứu này với chú tâm
đi sâu khảo sát động học tưới máu u gan qua kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính
xoắn vòng 3 thì ngấm thuốc, nhằm:
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1/ Mô tả đặc điểm hình ả
nh cắt lớp vi tính vòng xoắn 3 thì ngấm thuốc
của các loại ung thư gan thường gặp là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung
thư gan thứ phát và. ung thư biểu mô đường mật nguyên phát thể trong gan.
2/ Xác định giá trị của kỹ thuật cắt lớp vi tính vòng xoắn 3 thì ngấm
thuốc trong việc phát hiện cũng như chẩn đóan phân biệt từng loại ung thư
nói trên.
Xem thêm

154 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc lâm sàng, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc và mô bệnh học của ung thư biểu mô tế bào gan

NGHIÊN CỨU ĐẶC LÂM SÀNG, SIÊU ÂM, CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH XOẮN ỐC VÀ MÔ BỆNH HỌC CỦA UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN

Đặt Vấn Đề

Ung thư gan nguyên phát (UTGNP) là một trong các bệnh lý ác tính
phổ biến nhất trên thế giới, chẩn đoán khó, thường phát hiện muộn, tiên lượng
rất xấu, tử vong rất cao và trong thời gian ngắn kể từ khi phát hiện được bệnh.
Theo WHO năm 2000, UTGNP đứng thứ 5 ở nam và thứ 9 ở nữ [84]. Số
lượng bệnh nhân UTGNP mới mắc trên thế giới ước tính trong năm là 564.000
người (398.000 nam và 166.000 nữ) [87], trong đó trên 80% là ung thư biểu
mô tế bào gan (UTBMTBG). Tỷ lệ tử vong do bệnh này trên toàn thế giới hàng
năm vào khoảng 1.250.000 trường hợp. Tỷ lệ phát bệnh UTBMTBG khác nhau
tùy theo khu vực địa lý, cao nhất là châu á (Đông á, riêng Trung Quốc chiếm
trên 50%) và châu Phi (đặc biệt Nam sa mạc Sahara) chiếm 12%, trong khi đó
châu Âu chỉ chiếm 9% và Bắc Mỹ chiếm 2% tổng số trường hợp [76].
ở Việt Nam, chưa có thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc bệnh UTBMTBG
trên toàn quốc. Nhưng theo thống kê tại các bệnh viện và các khu vực cho thấy
UTBMTBG là một loại ung thư phổ biến. Theo Nguyễn Chấn Hùng và cộng sự
[9], ở các tỉnh phía Nam, trong 10 loại ung thư thường gặp nhất thì
UTBMTBG đứng hàng thứ nhất ở nam và hàng thứ 6 ở nữ giới. Tại Hà Nội,
Nguyễn Bá Đức và cộng sự [33] đc ghi nhận tần suất 18,1 trường hợp/
100.000 dân/ năm cho nam và 4,7 trường hợp/ 100.000 dân/ năm cho nữ giới.
Nguyên nhân gây UTBMTBG có rất nhiều, khác nhau giữa các khu vực
trên thế giới. ở Việt Nam và các nước Đông Nam châu á, UTBMTBG liên
quan chặt chẽ với nhiễm virus viêm gan B, C mạn tính và xơ gan.
Những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, y học Việt Nam đc có sự phát
triển vượt bậc trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh (CĐHA). Các phương pháp
CĐHA từ thông dụng như siêu âm thường, siêu âm Doppler cho đến các
phương tiện chẩn đoán cao cấp như chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp vi
tính (CT) đa dcy đầu dò ngày càng được sử dụng phổ biến. Việc áp dụng các phương pháp này đc làm tăng độ chính xác trong chẩn đoán. Siêu âm Doppler
và CT xoắn ốc ngoài việc đưa ra các thông tin cơ bản về khối u còn đánh giá
tương đối chính xác mức độ tăng sinh mạch máu trong khối, làm cơ sở cho
chúng ta đưa ra những biện pháp can thiệp hợp lý. Tuy nhiên, trong các
phương pháp chẩn đoán phân loại u gan, mô bệnh học vẫn giữ vai trò chủ đạo
và là tiêu chuẩn vàng, giúp cho các nhà lâm sàng có cơ sở lựa chọn phương
pháp điều trị và tiên lượng bệnh.
Chẩn đoán UTBMTBG bằng chọc hút tế bào dưới hướng dẫn của siêu
âm đc được áp dụng từ lâu và hiện nay vẫn còn phổ biến rộng rci. Tuy nhiên
phương pháp này mới chỉ dừng lại ở việc trả lời câu hỏi có tế bào ác tính hay
không, chứ chưa đi sâu vào đánh giá được bản chất mô học của các khối u
gan. Sinh thiết gan bằng kim dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT cho đến
nay vẫn là phương pháp chính xác nhất để chẩn đoán các khối u trong gan.
Phương pháp này vừa đảm bảo đủ khối lượng bệnh phẩm cho chẩn đoán mô
bệnh học, vừa cho phép đánh giá đúng bản chất mô học của khối u với độ
nhạy đạt 90 - 95% và độ đặc hiệu tới 95 - 98% [19].
ở Việt Nam đc có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác
nhau của các khối UTBMTBG, nhưng chưa có một cách nhìn tổng thể và
chính xác về mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, hình ảnh siêu âm, CT
xoắn ốc và mô bệnh học của gan qua sinh thiết.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc lâm
sàng, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc và mô bệnh học của ung thư
biểu mô tế bào gan” nhằm mục tiêu:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, hình ảnh siêu âm và chụp cắt lớp vi
tính xoắn ốc ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan.
2. Nhận xét đặc điểm mô bệnh học của ung thư biểu mô tế bào gan.
Xem thêm

106 Đọc thêm

TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN HÓA DƯỢC






BÀI TIỂU LUẬN
UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ


Học viên : Phạm Thùy Linh
Mã học viên : 1211044
Nhóm : 11
Lớp : Cao học 17




HÀ NỘI– 2013

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư phổi là một loại ung thư có ý nghĩa thời sự trong y học nói chung và ung thư học nói riêng vì nhiều lý do. Thứ nhất vì ung thư phổi là ung thư thường gặp nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam và ngày càng có chiều hướng gia tăng theo mức độ ô nhiễm môi trường liên quan đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở hầu hết các nước cũng như nạn hút thuốc lá, nghiện ma túy… Thứ hai, mặc dầu y học ngày nay đã có những tiến bộ lớn trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi song việc phát hiện bệnh sớm là vô cùng khó khăn, tốn kém, do đó khả năng chữa khỏi hẳn bệnh là rất hạn chế, thời gian sống trung bình trong đa số trường hợp , chỉ trên dưới một năm.
Ngay ở Hoa Kỳ , theo thống kê năm 1999, đã có tới 158.800 trường hợp tử vong do loại ung thư này.Tại Việt Nam mỗi năm có 150.000 bệnh nhân ung thư tử vong. Hơn 200.000 người được chẩn đoán mắc ung thư, trong đó ung thư phổi là căn bệnh gây tử vong hàng đầu. Ung thư phổi là một căn bệnh có nguy cơ tử vong rất cao. Trung bình mỗi năm tại Singapore có 1.176 người được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư phổi và 1.028 người qua đời vì nó, có nghĩa là chỉ có 12,5% số người được xác định ung thử phổi khỏi bệnh sau quá trình điều trị và theo dõi.
Khoảng 15% bệnh nhân ung thư phổi mắc phải dạng ung thư phổi tế bào nhỏ (dạng nguy hiểm nhất) mà nguyên nhân chủ yếu là thuốc lá. Loại tế bào này có tốc độ lan rất nhanh, nó có thể di căn tới rất nhiều bộ phận khác trên cơ thể nên rất khó có thể loại bỏ triệt để các khối u bằng phương pháp phẫu thuật. Hóa trị và xạ trị là những biện pháp thường được lựa chọn trong việc điều trị loại tế bào này.85% bệnh nhân ung thư phổi còn lại thuộc dạng ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, có thể chia thành ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô vảy và ung thư tế bào lớn. Những loại tế bào này phát triển chậm hơn loại tế bào nhỏ. Tỷ lệ chữa trị thành công đối với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến là cao nhất, sau đó đến ung thư biểu mô vảy và cuối cùng là ung thư tế bào lớn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì phương pháp điều trị thường là tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ khối u và như vậy cơ hội chữa trị triệt để sẽ cao hơn rất nhiều.


NỘI DUNG

I. BỆNH UNG THƯ PHỔI
Ta gọi là ung thư phổi vì bệnh bắt nguồn từ nhóm tế bào tại phổi, các tế bào này tăng trưởng ngoài tầm kiểm soát, lấn át tế bào bình thường.
Ung thư phổi là bệnh ung thư hay gặp, tiên lượng còn nhiều hạn chế do đa số bệnh nhân được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn (Thế giới: 6070%; Việt Nam 9093%).
II. NGUYÊN NHÂN MẮC UNG THƯ PHỔI
Các nguyên nhân chính gây ra ung thư phổi bao gồm các tác nhân gây ung (như khói thuốc lá), bức xạ ion hoá, và nhiễm virus. Sự phơi nhiễm lâu dài với các yếu tố này gây tích tụ các thay đổi trong DNA của mô lát bên trong phế quản của phổi (tức biểu mô phế quản). Khi ngày càng nhiều mô bị tổn thương, cuối cùng sẽ dẫn đến ung thư.
Theo WHO, thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ung thư phối. Việt Nam có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất thế giới: 56,1% ở nam, 1,8% ở nữ . Và 10% nam thanh niên Việt Nam bắt đầu hút khi mới 1315 tuổi. Vì vậy bệnh ung thư phổi trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu. Ở Việt Nam có hơn 40.000 người chết vì bệnh liên quan đến hút thuốc lá, cao gấp 4 lần số tử vong do tai nạn giao thông.
III. TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ PHỔI
3.1. Triệu chứng lâm sàng
Ho không khỏi và ngày càng nặng hơn.
Thường xuyên thấy đau ngực.
Ho ra máu.
Khó thở, ngạt mũi, khàn giọng.
Viêm phổi và viêm phế quản tái đi tái lại.
Xem thêm

16 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VẬT LIỆU NANO TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ KHỐI U THỰC NGHIỆM

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VẬT LIỆU NANO TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ KHỐI U THỰC NGHIỆM

8Luận văn Thạc sỹ Khoa họcSinh học thực nghiệmnhững người ta có thể hạn chế các tác dụng phụ nguy hiểm nảy sinh trong quá trìnhđiều trị mà còn có thể giảm thiểu tối đa liều lượng thuốc đưa vào cơ thể. Hầu hếtcác nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật sử dụng từ trường để giữ các hạt từ “mangthuốc” ở vị trí các mô tế bào xác định, tránh không cho chúng trôi theo dòng máu.Hình 2. Minh hoạ về nguyên lý vận chuyển và tập trung thuốc [4].Cơ sở của phương pháp dựa trên việc sử dụng các phân tử thuốc (thường làđộc đối với tế bào - cytotoxic) được gắn các hạt từ tương hợp sinh học (có thể đượcgọi là hạt mang). Hỗn hợp thuốc/hạt mang này được đưa vào cơ thể qua hệ tuầnhoàn. Sau khi thâm nhập vào mạch máu, chúng được giữ lại ở các vùng mong muốnbằng một từ trường ngoài (nam châm). Khi đã được định vị, các phân tử thuốc cóthể được giải phóng theo cơ chế hoạt động của emzym hoặc do sự khác biệt về cácđiều kiện sinh lý ở vùng khối u như độ pH, độ thẩm thấu hoặc nhiệt độ [5]. Nguyênlý vận chuyển thuốc vào khối u dưới tác dụng từ trường của một nam châm vĩnhcửu. được minh hoạ trên hình 2. So với các mô bình thường, khối u có số lượngmạch máu nuôi lớn hơn rất nhiều, do vậy khả năng cung cấp khối lượng thuốc cũngcao hơn [4].Cấu trúc của một hạt từ kích thước nano mang thuốc gồm hai phần: (i) lõi hạttừ (thường là sắt ôxít) được bọc bởi (ii) một lớp polymer tương hợp sinh học. Cácpolymer thông dụng hiện nay là PVA hoặc dextran. Trong một số trường hợp ngườita còn sử dụng lớp bọc vô cơ như silic ôxít. Ngoài tác dụng bảo vệ các hạt khỏi ảnhhưởng của môi trường xung quanh, đặc điểm quan trọng nhất của lớp bọc là làm
Xem thêm

83 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU XƠ HÓA GAN Ở BỆNH NHÂN BỆNH GAN MẠN BẰNG ĐO ĐÀN HỒI GAN THOÁNG QUA ĐỐI CHIẾU VỚI MÔ BỆNH HỌC (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU XƠ HÓA GAN Ở BỆNH NHÂN BỆNH GAN MẠN BẰNG ĐO ĐÀN HỒI GAN THOÁNG QUA ĐỐI CHIẾU VỚI MÔ BỆNH HỌC (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh gan mạn tính luôn có diễn tiến liên tục sự phá hủy và hồi
phục chủ mô gan, cuối cùng, dẫn đến xơ hóa gan và xơ gan,là nguyên nhân
chính gây tử vong ở nhiều nước trên thế giới.
Bệnh gan mạn tính bao gồm một số các bệnh cảnh lâm sàng có bệnh
nguyên khác nhau,trong đó, nguyên nhân dovirus viêm gan B, virus viêm gan
C và viêm gan do rượu đóng vai trò quan trọng. Trên toàn thế giới, có khoảng
400 triệu người nhiễm HBV. Đa số người nhiễm HBV mạn tính thuộc các
nước Châu Á, Châu Phi và Địa Trung Hải [7].
Hiện nay, các nhà lâm sàng xem xét xơ hóa gan với cái nhìn mới.
Trước đây, xơ hóa gan được cho là một quá trình không thể đảo ngược do các
tế bào chủ mô gan bình thường được thay thế bởi các tổ chức mô giàu
Collagen; Ngày nay, nhờ những tiến bộ trong hiểu biết về xơ hóa gan mức độ
phân tử trong hai thập niên qua cho phép mở ra hướng điều trị kháng xơ hóa
[50], tiến trình xơ hóa gan có khả năng ngừng hoặc hồi phục nếu được điều trị
thích hợp [16].
Trước thực tế này, việc xác định mức độ xơ hóa gan sớm và chính xác
đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, tiên lượng cũng như chỉ định và đáp
ứng điều trị trong quá trình theo dõi bệnh nhân bệnh gan mạn tính. Cho đến
nay, để phát hiện sớm xơ hóa gan cần phải sinh thiết gan, nó được xem là
“tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán giai đoạn xơ hóa gan.Sinh thiết gan là một
kỹ thuật xâm lấn nên cả bệnh nhân và bác sĩ đều ngại thực hiện.
Trong số các phương pháp không xâm lấn đang được quan tâm hiện
nay, đo độ đàn hồi gan thoáng qua (FibroScan
®
) là một kỹ thuật có nhiều hứa hẹn. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để khảo sát tính khả thi và
tính chính xác của phương pháp này trong đánh giá mức độ xơ hóa gan.
Đo độ đàn hồi gan thoáng qua là phương pháp mới - không xâm lấn,
nhanh chóng, dễ thực hiện và có thể lặp lại - cho phép đánh giá mức độ xơ
hóa gan. Sử dụng các chỉ số để đo độ đàn hồi gan bằng siêu âm định lượng
trong chẩn đoán mức độ xơ hóa gan là phương pháp khoa học khách quan,
không phụ thuộc vào tính chủ quan của người thực hiện cũng như đối tượng
nghiên cứu nhưng lại cho ra giá trị chính xác.
Dựa vào các chỉ số đo độ đàn hồi gan nhằm chẩn đoán mức độ xơ hóa
gan, từ đó đưa ra phương án điều trị chính xác và dự phòng thích hợp.Theo
dõi và tiên lượng mức độ xơ hóa gan trong bệnh lý bệnh gan mạn tính.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mục tiêu 1: Xác định giá trị ngưỡng, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên
đoán dương tính, giá trị tiên đoán âm tính của đo đàn hồi gan thoáng
qua đối chiếu với mô bệnh học ở bệnh nhân bệnh gan mạn tính.
- Mục tiêu 2: Đánh giá mối tương quan của đo đàn hồi gan thoáng qua
theo các mức độ xơ hóa của gan với một số chỉ số huyết học và hóa
sinh ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
Xem thêm

150 Đọc thêm