CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO Ở TRẺ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO Ở TRẺ":

Nghiên cứu kết quả mở nắp sọ giảm áp trong chấn thương sọ não

Nghiên cứu kết quả mở nắp sọ giảm áp trong chấn thương sọ não

ðẶT VẤN ðỀ Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ người dân sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân cao nhất thế giới, luật giao thông chưa được người dân chấp hành một cách tự giác nên tai nạn giao thông đang là một vấn đề được các cấp chính quyền và toàn xã hội quan tâm, chấn thương sọ não là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp và chấn thương sọ não nặng chiếm khoảng 30%, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong hoặc di chứng nặng nề, là gánh nặng cho gia đình và xã hội [17]. Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia trong năm 2007 cả nước xảy ra 14624 vụ tai nạn giao thông làm chết 13150 người và bị thương 10546 người; như vậy trung bình mỗi ngày có 36 người chết do tai nạn giao thông và thiệt hại lên đến 885 triệu USD mỗi năm [22]. Số trường hợp chấn thương sọ não ngày càng tăng, hay gặp ở người trẻ đang trong độ tuổi lao động, tỷ lệ tử vong cao, di chứng nặng nề và chi phí điều trị tốn kém [17]. Thương tổn hay gặp trong chấn thương sọ não gồm các biến chứng thường gặp là các loại máu tụ trong sọ, giập não, phù não hậu quả làm tăng áp lực trong sọ gây tử vong cho người bệnh. ðiều trị chấn thương sọ não nặng ngày càng tiến bộ, đặc biệt từ khi sử dụng máy chụp cắt lớp giúp cho các thầy thuốc chẩn đoán chính xác tổn thương, chỉ định phẫu thuật và xử trí kịp thời đạt hiệu quả cao. Hồi sức là một khâu rất quan trọng trong điều trị chấn thương sọ não nặng bao gồm sơ cứu ngay sau tai nạn, vận chuyển đúng kỹ thuật, điều trị trước - trong và sau phẫu thuật đến khi đảm bảo bệnh nhân thoát khỏi tình trạng nguy hiểm tính mạng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chấn thương sọ não nặng, hồi sức nội khoa đơn thuần không thể khống chế được tình trạng tăng áp lực trong sọ. Vì vậy các phẫu thuật viên thần kinh áp dụng kỹ thuật phẫu thuật giảm áp trong chấn thương sọ não nặng; phẫu thuật này không chỉ giải quyết các thương tổn trong sọ mà còn làm giảm áp lực trong sọ tối đa do bỏ nắp xương sọ ra ngoài kèm theo để hở hay tạo hình màng cứng. ðể đánh giá kết quả của phương pháp này chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kết quả mở nắp sọ giảm áp trong chấn thương sọ não ” với hai mục tiêu: 1. ðánh giá kết quả phẫu thuật giảm áp bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội. 2. Rút ra nhận xét về chỉ định mổ giảm áp ở những bệnh nhân chấn thương sọ não và kỹ thuật áp dụng.
Xem thêm

Đọc thêm

SỰ THAY ĐỔI CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO QUA THEO DÕI 3 NGÀY ĐẦU

SỰ THAY ĐỔI CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO QUA THEO DÕI 3 NGÀY ĐẦU

Header Page 1 of 133.ĐẶT VẤN ĐỀChấn thương sọ não là loại cấp cứu thường gặp nhất trong tất cả cấp cứuchấn thương ngoại khoa hàng ngày và là nguyên nhân gây tỷ lệ tử vong cao. Theothống kê, tỷ lệ tử vong do CTSN tại bệnh viện Việt Đức là 17,4%. những nước phát triển CTSN là nguyên nhân thứ ba gây tử vong sau bệnhung thư và bệnh tim mạch. Tỷ lệ tử vong Mỹ (45%), Anh (52%), Pháp(50-70%)[12].Để tránh tỷ lệ tử vong cũng như các di chứng nặng xảy ra sau chấn thương,những bệnh nhân trong khi nằm viện cần phải được theo dõi về lâm sàng và cận lâmsàng một cách tỷ mỉ, chặt chẽ để phát hiện kịp thời những dấu hiệu bất thường giúpcho công tác điều trị và chăm sóc nội hoặc ngoại khoa được tốt hơn.Người điều dưỡng theo dõi bệnh nhân chấn thương sọ não bao gồm các dấuhiệu về tri giác đó là đánh giá theo thang điểm Glasgow coma Score; những dấuhiệu thần kinh khu trú đó là liệt nửa người hay giãn đồng tử một bên; mức độ chảymáu qua dẫn lưu sau mổ cần phải được tiến hành hàng giờ.Tình trạng huyết động và hô hấp, nhiệt độ cơ thể cũng là những yếu tố cầntheo dõi chặt chẽ trong công tác điều trị & chăm sóc bệnh nhân chấn thương sọ não.Giữ được các chức năng sống của bệnh nhân trong giới hạn bình thường sẽgiúp cho khả năng phục hồi tốt hơn, ít di chứng sau chấn thương hơn.Nhận thấy vai trò của người điều dưỡng ngoại khoa với bệnh nhân sau phẫuthuật thần kinh và tầm quan trọng của việc chăm sóc và theo dõi toàn diện, chúngtôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“ Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng của bệnh nhân sau mổ chấn thươngsọ não qua theo dõi 3 ngày đầu”Với mục tiêu sau:1. Mô tả các dấu hiệu lâm sàng của các bệnh nhân CTSN trước mổ tạikhoa phẫu thuật Thần kinh - Bệnh viện Việt Đức.2. Đánh giá sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng của bệnh nhân CTSNsau mổ tại khoa phẫu thuật Thần kinh – Bệnh viện Việt Đức.
Xem thêm

Đọc thêm

CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NGUYỄN THANH THẢO

CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NGUYỄN THANH THẢO

•  Xuyên qua hai bản xương sọ•  Bờ rõ nét•  Cắt ngang các dấu ấn mạchmáu, khớp sọCHẤN THƯƠNG SỌ NÃO - LÚN SỌ•  Các loại đường gãy•  Đường nứt sọ•  Lún sọ•  Vỡ nhiều mảnh•  Đặc điểm•  Đường sáng•  Xuyên qua hai bản xương sọ•  Bờ rõ nét•  Cắt ngang các dấu ấn mạchmáu, khớp sọCHẤN THƯƠNG SỌ NÃO - LÚN SỌ•  Các loại đường gãy•  Đường nứt sọ•  Lún sọ•  Vỡ nhiều mảnh•  Đặc điểm•  Đường sáng•  Xuyên qua hai bản xương sọ•  Bờ rõ nét•  Cắt ngang các dấu ấn mạchmáu, khớp sọ
Xem thêm

55 Đọc thêm

Nghiên cứu vai trò của theo dõi liên tục áp lực oxy tổ chức não trong hướng dẫn hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng

Nghiên cứu vai trò của theo dõi liên tục áp lực oxy tổ chức não trong hướng dẫn hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng

1. ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương sọ não (CTSN) là nguyên nhân gây tử vong chính ở những người trẻ tuổi. Trong thực tế, tình trạng thiếu oxy tổ chức não đã được quan sát thấy trong hơn 90% bệnh nhân (BN) tử vong do CTSN. Các tổn thương thứ phát này thường kết hợp với tình trạng suy giảm chuyển hóa gây ra hậu quả rất phức tạp, có thể không hồi phục được. Mối tương quan giữa kết cục xấu trong điều trị BN, đặc biệt là tỷ lệ tử vong với tăng ALNS đã được chứng minh rõ ràng. Phác đồ hướng dẫn điều trị hiện tại của Tổ chức kiểm soát CTSN nặng nhấn mạnh vai trò của theo dõi áp lực nội sọ (ALNS) trong hướng dẫn điều trị CTSN nặng, cho thấy sử dụng theo dõi ALNS trong hướng dẫn điều trị BN CTSN nặng có liên quan đến kết cục tốt hơn. Tuy nhiên, tổn thương não thứ phát không phải luôn liên quan với những thay đổi bệnh lý trong ALNS hoặc áp lực tưới máu não (ALTMN) mà còn có những cơ chế khác có thể là nguyên nhân của tình trạng thiếu oxy tổ chức não như cơ chế thiếu máu cục bộ, tắc vi mạch, phù nề do gây độc tế bào, hoặc rối loạn chức năng ty thể. Phương pháp theo dõi trực tiếp chuyển hóa oxy não như là theo dõi áp lực oxy tổ chức não (Pressure brain tissue oxygenation – PbtO2) cho phép đánh giá khả năng oxy hóa của mô não cũng như phát hiện sớm tình trạng thiếu oxy tổ chức não sau chấn thương. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa giá trị PbtO2 thấp với kết cục xấu cũng như tỉ lệ tử vong của BN và biện pháp điều trị dựa trên hướng dẫn của PbtO2 có thể cải thiện kết quả điều trị của BN sau CTSN. Ở Việt Nam, phương pháp theo dõi chuyển hóa oxy não trước đây vẫn chỉ dừng lại ở mức đánh giá một cách gián tiếp thông qua theo dõi bão hòa oxy tĩnh mạch cảnh trong (Saturation jugular venous oxygenation – SjO2). Phương pháp theo dõi trực tiếp áp lực oxy tổ chức não trong CTSN vẫn còn là một vấn đề mới, chưa được áp dụng trong lâm sàng cũng như vẫn chưa có một nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của nó. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: "Nghiên cứu vai trò của theo dõi liên tục áp lực oxy tổ chức não trong hướng dẫn hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng" với các mục tiêu:
Xem thêm

Đọc thêm

Bài giảng Khám và theo dõi bệnh nhân chấn thương sọ não bác sĩ Đàm xuân Tùng Bộ

BÀI GIẢNG KHÁM VÀ THEO DÕI BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO BÁC SĨ ĐÀM XUÂN TÙNG BỘ

Qua bài giảng Khám và theo dõi bệnh nhân chấn thương sọ não sinh viên có khả năng: trình bày cách khám bệnh nhân CTSN.; trình bày thang điểm tri giác; nêu được cách theo dõi bệnh nhân CTSN trong 24 giờ đầu những ngày sau.

20 Đọc thêm

TỔN THƯƠNG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

TỔN THƯƠNG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Toån thöôngCHAÁN THÖÔNG SOÏ NAÕOPHÂN LOẠI TỔN THƯƠNG TRONGCHẤN THƯƠNG SỌ NÃOTổn thương trong trục>Tổn thương nguyên phát >Cấu trúcliên quansọ-màngnão-nhumô nãoTỔN THƯƠNG TRONG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃOTrong trụcNhu mônãoNgoài trụcMàngmềmMàngnhện

39 Đọc thêm

SƠ CỨU KHẨN CẤP CHO NGƯỜI BỊ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

SƠ CỨU KHẨN CẤP CHO NGƯỜI BỊ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Phòng ngừa chấn thương sọ nãoĐối với trẻ em, chấn thương sọ não dù nặng hay nhẹ, đều có thể để lại di chứng vềtâm thần hoặc vận động. Do đó cần hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ gây tai nạncho trẻ. Trong sinh hoạt hay vui chơi, lúc nào trẻ cũng phải trong tầm kiểm soátcủa người lớn, tránh cho trẻ chơi gần cầu thang, gác lửng hay ban công không cólưới rào an toàn. Ngoài ra, nên có các biện pháp chống trơn trợt trong nhà tắm, nềnnhà, cầu thang,... như lót các vật liệu chống trơn, ốp thanh nhôm bậc cầu thang,..Khi tham gia giao thông nên đội mũ bảo hiểm, thắt dây an toàn cho trẻ. Chấp hànhnghiêm luật lệ giao thông như không vượt đèn đỏ, không chạy ngược chiều, khôngchạy xe quá tốc độ. Khi lao động trên cao hoặc nơi công trường, nên đội nón bảovệ để bảo vệ đầu phòng khi té ngã hoặc vật liệu rớt xuống đầu.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nghiên cứu áp lực nội sọ trong hồi sức cấp cứu và đề xuất giải pháp giảm tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng điều trị tại bệnh viện trung ương huế

Nghiên cứu áp lực nội sọ trong hồi sức cấp cứu và đề xuất giải pháp giảm tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng điều trị tại bệnh viện trung ương huế

ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương sọ não đã được nghiên cứu từ lâu. Từ thời Hyppocrat (460377 trước Công nguyên) đã có những công trính nghiên cứu về chảy máu hộp sọ. Đến đầu thế kỷ thứ 18, người ta mới hiểu được cơ chế chèn ép do máu tụ trong chấn thương sọ não. Trong vòng 20 năm trở lại đây ngành ngoại khoa thần kinh đã có những tiến bộ nhanh chóng, đáng kể nhất là nhờ máy X quang cắt lớp vi tình vào năm 1972 và nhờ các tiến bộ về kỹ thuật ngoại khoa nhất là vi phẫu, Gây mê Hồi sức, vấn đề chẩn đoán và điều trị đã có nhiều bước tiến đáng kể[8],[33],[34]. Chấn thương sọ não (CTSN) là vấn đề thường gặp trong cấp cứu chấn thương, hàng năm loại tai nạn này đã gây hàng trăm ngàn trường hợp tử vong, hàng chục ngàn người tàn phế, để lại một gánh nặng cho gia đính và xã hội. Số lượng bệnh nhân bị CTSN ngày càng tăng , theo số liệu của BV Chợ Rẫy đã có 18.000 bệnh nhân CTSN nhập viện/năm, số bệnh nhân này đã tăng lên 35.000 trong năm 1996. - Tai nạn giao thông là nguyên nhân chình gây CTSN ở lứa tuổi dưới 40, do hệ thống an toàn giao thông không đáp ứng kịp thời với sự gia tăng ào ạt số lượng xe gắn máy và xe ô tô. Các nguyên nhân thường gặp của chấn thương sọ não là: Tai nạn giao thông, đây là nguyên nhân hàng đầu gây chết người do chấn thương sọ não[72]. Theo Ủy ban An toàn Giao thông Quốc Gia Việt Nam, mỗi năm có khoảng 13.000 người chết ví tai nạn giao thông (trung bính mỗi ngày có khoảng 35 người chết), trong đó đa phần là do chấn thương sọ não. Tai nạn do xe gắn máy gây ra chiếm đa số, kế đến là xe ô tô. Bệnh viện Việt Đức thường xuyên tiếp nhận các trường hợp chấn thương sọ não và riêng khoa Phẫu thuật Thần kinh, mỗi năm có khoảng 700 bệnh nhân tử vong. Bệnh viên TW Huế mỗi năm có khoảng 2000 bệnh nhân CTSN trong đó CTSN nặng (Glasgow ≤ 8 điểm) chiếm khoảng 30,0% Vấn đề chình của điều trị CTSN là nhằm giảm thấp tỉ lệ tử vong và thương tật[34]. Đây là vấn đề lớn của cộng đồng, đòi hỏi sự liên kết của nhiều ngành; đối với ngành y tế việc sơ cứu bệnh nhân có ảnh hưởng quan trọng, cần có ê- kìp cấp cứu tốt tại nơi xảy ra tai nạn, nhằm giảm thiểu nguy cơ thiếu oxy máu, hạ huyết áp, sau đó là chuyển lên tuyến có chuyên khoa sọ não kịp thời “thời gian vàng”. Theo Narayan RK, 1994 tỉ lệ tử vong CTSN nặng đã giảm từ 50% trong năm 1970 xuống 36% trong những năm 1980 là nhờ những biện pháp cấp cứu và điều trị săn sóc đặc biệt có hiệu quả hơn. Ngày nay bên cạnh những phương tiện chẩn đoán hính ảnh hiện đại như chụp cắt lớp sọ não để chẩn đoán chình xác, trong quá trính điều trị việc theo dõi áp lực nội sọ đã mở ra một hướng mới đã giúp các bác sĩ hồi sức cấp cứu và các bác sĩ ngoại thần kinh có thể điều trị cho bệnh nhân CTSN nặng rất hiệu quả, tăng tỉ lệ sống giảm tỉ lệ tử vong cũng như tàn phế[34][12]. Xuất phát từ những nội dung trên, chúng tối tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu áp lực nội sọ trong hồi sức cấp cứu và đề xuất giải pháp giảm tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân chấn thƣơng sọ não nặng điều trị tại Bệnh viện Trung ƣơng Huế” nhằm 3 mục tiêu: - Xác định được giá trị của áp lực nội sọ ở các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng - Xác định được mối liên quan giữa áp lực nội sọ với thang điểm Glasgow, kết quả khì máu động mạch, glucose, interleukin-6, cortisol máu, điện giãi đồ và kết quả chụp cắt lớp vi tình sọ não. - Áp dụng phác đồ điều trị phù hợp và đánh giá kết quả của phác đồ đó trên bênh nhân chấn thương sọ não nặng.
Xem thêm

Đọc thêm

SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ CORTISOL MÁU, HOC MON TĂNG TRƯỞNG, TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN SINH DỤC Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ CORTISOL MÁU, HOC MON TĂNG TRƯỞNG, TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN SINH DỤC Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

1.1.2. Sinh lý bệnh của CTSNTổn thương não do chấn thương có thể chia làm 2 loại chính: tổnthương tiên phát và tổn thương thứ phát; tổn thương tiên phát gây nên do cơchế đụng dập mô não xảy ra ngay sau chấn thương; tổn thương thứ phát xuấthiện vài giờ hoặc vài ngày sau chấn thương ban đầu tạo nên những tổn thươnglan rộng và những dự hậu thần kinh nặng nề về sau. Tình trạng phù não sauchấn thương, rối loạn tuần hoàn tại chỗ, giảm oxy mô, tăng áp lực nội sọ lànhững yếu tố gây nên tổn thương thứ phát [46],[47]. Phù não có hai loại: phùtế bào và phù do nguyên nhân mạch máu; có nhiều yếu tố làm cho phù nãonặng hơn: rối loạn thông khí, sốt cao, động kinh [4]… Những chất trung giancủa quá trình viêm (cytokine, các gốc tự do, acid amin và nitric oxide…) cũngcó vai trò trong tạo lập tổn thương thứ phát [46]. Cytokine, đặc biệt làcytokine 6 kích thích bài tiết vasopressin, có liên quan trong sinh bệnh họccủa hội chứng tiết ADH không thích hợp sau CTSN [46],[47].Tổn thương tiên phát hoặc thứ phát có thể khu trú hoặc lan tỏa; tổnthương khu trú thường liên quan đến lực tác động trực tiếp; tổn thương lan tỏathường gây nên chấn động dội hoặc chấn động xoay, những lực này thườnggây các tổn thương dạng sợi trục, chất trắng và làm lan rộng tổn thương. Tổnthương kiểu đứt gãy thường thấy cấu trúc đường giữa của não và có thể làcơ chế gây nên rối loạn chức năng tuyến yên bệnh nhân chấn thương sọ não[46]. Ngoài ra tổn thương xương sọ vùng đáy não cũng có thể làm tổn thươngtrực tiếp tuyến yên, cuống tuyến yên và hạ đồi [14],[56].61.1.3. Các rối loạn sau CTSNCTSN do tai nạn giao thông đang là một thảm họa, gây thất thoát nhiềutiền của con người; các di chứng CTSN là gánh nặng cho gia đình và xã hội.Chi phí điều trị cho các di chứng CTSN gấp nhiều lần so với chi phí điều trị
Xem thêm

144 Đọc thêm

Nghiên cứu đưa vào sản xuất mũ chống chấn thương sọ não

Nghiên cứu đưa vào sản xuất mũ chống chấn thương sọ não

Mũ chống chấn thương sọ não còn có tên là mũ bảo vệ, thực chất là một loại che chắn an toàn có tác dụng làm gián đoạn mối quan hệ không gian giữa đầu người và mối nguy hiểm xuất hiện trong quá trình sản xuất.

Đọc thêm

Nghiên cứu sự thay đổi nồng độ cortisol máu, hoc mon tăng trưởng, hoc mon tuyến giáp và hoc mon tuyến sinh dục ở bệnh nhân chấn thương sọ não

Nghiên cứu sự thay đổi nồng độ cortisol máu, hoc mon tăng trưởng, hoc mon tuyến giáp và hoc mon tuyến sinh dục ở bệnh nhân chấn thương sọ não

ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương sọ não (CTSN) là một trong những nguyên nhân gây tử vong và tàn phế nhiều nhất, với nhiều hậu quả nghiêm trọng như: mất ý thức, thay đổi hành vi, rối loạn tâm thần… Tại Mỹ, có khoảng 180-250 người bị chấn thương sọ não mỗi năm trên 100.000 dân [23]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt trong năm 2013 cả nước đã xảy ra 31.266 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9.805 người, bị thương 32.253 người (trung bình mỗi ngày có 27 người chết, 88 người bị thương) trong đó chủ yếu là chấn thương sọ não. Tại bệnh viện Chợ Rẫy, trong 06 tháng đầu năm 2014 có 7.183 bệnh nhân chấn thương sọ não nhập viện, trong đó có 521 bệnh nhân tử vong, chiếm tỷ lệ 7,3%. Chấn thương sọ não có thể dẫn đến suy tuyến yên. Phẫu thuật tử thi trên những bệnh nhân chết do chấn thương sọ não nặng đã phát hiện hoại tử tuyến yên trên 1/3 các trường hợp [30],[31],[76]. Nhiều nghiên cứu hồi cứu, báo cáo ca bệnh và các nghiên cứu tiền cứu gần đây đã chứng minh có tình trạng suy tuyến yên cấp hoặc mạn tính sau chấn thương sọ não [25],[54]. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo sát chức năng tuyến yên trên bệnh nhân chấn thương sọ não. Nghiên cứu của tác giả Fatih Tanriverdi (2006) cho thấy tỷ lệ thiếu hụt hoc mon ACTH, FSH/LH, TSH trong giai đoạn cấp của chấn thương sọ não lần lượt là 9,8%, 41,6%, 5,8%; và tỷ lệ này sau 12 tháng theo dõi là 19,2%, 7,7%, 5,8% [96]. Hoạt động của tuyến yên là cơ chế bảo vệ quan trọng trong giai đoạn cấp sau chấn thương sọ não, đặc biệt là trục hạ đồi - tuyến yên - thượng thận. Rối loạn của trục này có thể đe dọa tính mạng người bệnh; suy thượng thận không được điều trị có thể làm tình trạng huyết động không ổn định và dự hậu xấu. Nghiên cứu của tác giả Bernard [26] cho thấy việc dùng hydrocortisone trên bệnh nhân suy thượng thận sau chấn thương sọ não sẽ cải thiện di chứng (đánh giá bằng thang điểm tiên lượng Glasgow) sau 6 tháng. Ngoài ra, thiếu hụt các hoc mon khác của tuyến yên như hoc mon tăng trưởng, hoc mon hướng giáp và hoc mon hướng sinh dục có thể xảy ra trong giai đoạn cấp hoặc giai đoạn di chứng sau chấn thương sọ não. Tỷ lệ mới mắc suy tuyến yên gia tăng theo thời gian sau chấn thương sọ não, những bệnh nhân có chức năng tuyến yên bình thường trong giai đoạn cấp có thể trở nên suy tuyến yên sau 03 – 06 tháng. Suy tuyến yên, đặc biệt là suy thượng thận thứ phát, trong giai đoạn cấp CTSN có thể đe dọa tính mạng người bệnh; trong khi suy tuyến yên giai đoạn di chứng sau CTSN có thể làm suy giảm quá trình hồi phục và giảm chất lượng cuộc sống bệnh nhân [48],[54],[88]. Suy tuyến yên sau chấn thương sọ não vẫn chưa được quan tâm trong khi số lượng bệnh nhân chấn thương sọ não ở Việt Nam rất nhiều. Tại Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá chức năng tuyến yên trên bệnh nhân chấn thương sọ não trong giai đoạn cấp, cũng như trên bệnh nhân bị di chứng sau chấn thương sọ não. Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ của suy tuyến yên trong giai đoạn cấp và giai đoạn 06 tháng sau chấn thương sọ não. Mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và cần chẩn đoán sớm suy tuyến yên sau chấn thương sọ não tại Việt Nam. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ suy thượng thận thứ phát, giảm hoc mon tăng trưởng, suy giáp thứ phát và suy sinh dục thứ phát ở bệnh nhân chấn thương sọ não giai đoạn cấp. 2. Xác định mối liên quan của thiếu hụt các hoc mon tuyến yên giai đoạn cấp và tử vong trong vòng 06 tháng sau chấn thương sọ não. 3. Xác định tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hồi phục suy thượng thận thứ phát, giảm hoc mon tăng trưởng, suy giáp thứ phát và suy sinh dục thứ phát ở bệnh nhân chấn thương sọ não giai đoạn sau 06 tháng. 4. Xác định mối liên quan của độ nặng chấn thương sọ não, di chứng chấn thương sọ não, tuổi, giới tính với tỷ lệ suy tuyến yên.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân chấn thương sọ não tại khoa thần kinh bệnh viện việt đức
Xem thêm

Đọc thêm

Bài GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ

Bài GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ

BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ BAIG GIẢNG CHẤN THƯƠNG sọ não TRƯỜNG đại học y dược cần THƠ
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá hiệu quả của phương pháp ghép tự thân mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu trên thực nghiệm và ở người

Đánh giá hiệu quả của phương pháp ghép tự thân mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu trên thực nghiệm và ở người

ĐẶT VẤN ĐỀ Ghép xương ngày càng phổ biến trên thế giới, tại Mỹ có hàng triệu đơn vị xương bảo quản theo qui trình của Hiệp hội ngân hàng mô Hoa Kỳ đã được phân phối để ghép cho các bệnh nhân [1],[2]. Ở Việt Nam, nhu cầu ghép xương ngày càng tăng ở các lĩnh vực phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật tạo hình…[3],[4]. Hộp sọ có chức năng bảo vệ não và có vai trò quan trọng về thẩm mỹ. Khuyết sọ là mất sự toàn vẹn của hộp sọ, có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng thường gặp sau phẫu thuật mở hộp sọ để can thiệp thương tổn bên trong do chấn thương hoặc các bệnh lý ngoại khoa của não. Tại vị trí khuyết vòm sọ, não chỉ được che phủ bởi da và một lớp mô mỏng dưới da, do đó ảnh hưởng khả năng bảo vệ não và gây đau đầu, suy nhược thần kinh… Khuyết sọ còn ảnh hưởng thẩm mỹ, làm bệnh nhân lo âu, mất tự tin trong cuộc sống, giảm khả năng lao động và hoà nhập xã hội. Phẫu thuật tái thiết khuyết sọ nhằm tái tạo sự toàn vẹn hộp sọ để bảo vệ não, dự phòng và điều trị hội chứng khuyết sọ, khôi phục thẩm mỹ, sự tự tin, hoà nhập cuộc sống của bệnh nhân [5]. Nhiều năm qua, ở Việt Nam, tỷ lệ nạn nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông thường ở mức rất cao, trong đó rất nhiều trường hợp phẫu thuật mở hộp sọ là những người trẻ, đang ở độ tuổi lao động, do đó nhu cầu điều trị khuyết sọ ngày càng nhiều [6],[7],[8],[9]. Vật liệu và phương pháp phẫu thuật ảnh hưởng quan trọng đến thành công của việc tái thiết khuyết sọ. Nhiều loại vật liệu đã được nghiên cứu nhưng không có vật liệu nào là duy nhất tối ưu, việc tiếp tục nghiên cứu tìm ra các phương pháp hiệu quả về kinh tế và công nghệ để ghép xương sọ luôn là việc làm hết sức cần thiết. Cho đến nay, các nhà phẫu thuật thần kinh vẫn thường ưu tiên lựa chọn ghép tự thân mảnh xương sọ do vật liệu này có những ưu điểm như: sẵn có, rẻ tiền, tránh được sự thải loại mảnh ghép và sự lây nhiễm các bệnh…[10],[11],[12],[13],[14],[15],[16]. Trong thời gian chờ được ghép lại, mảnh xương sọ phải được bảo quản tạm thời. Có nhiều phương pháp bảo quản như: vùi dưới da bụng, bảo quản đông khô…, nhưng các phương pháp này lại có những hạn chế như: dễ nhiễm trùng, tiêu xương, bệnh nhân phải chịu hai vết mổ hoặc kỹ thuật phức tạp, chỉ sử dụng được cho những khuyết tổn nhỏ. Phương pháp được sử dụng nhiều hiện nay là bảo quản lạnh sâu [17],[18],[19],[20],[21],[22],[23]. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có những nghiên cứu đánh giá ghép tự thân xương sọ bảo quản lạnh sâu, nhưng vấn đề các nhà khoa học và lâm sàng quan tâm là số phận, diễn biến quá trình liền sau ghép mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu ở mức vi thể và siêu vi thể, thì đến nay vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ, Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Do đó nghiên cứu được thực hiện để góp phần cung cấp thêm những thông tin mới cho chuyên ngành mô học, cũng như giúp cho các nhà lâm sàng có thêm cơ sở thông tin khi lựa chọn vật liệu tái thiết hộp sọ nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân là cần thiết. Tuy nhiên, việc nghiên cứu diễn biến mô học quá trình liền xương không thực hiện được trên người vì lý do đạo đức trong nghiên cứu y học nên phải tiến hành trên thực nghiệm. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài gồm các mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu quá trình liền xương sau ghép tự thân mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu trên thỏ thực nghiệm. 2. Nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc hình thái của các mảnh xương sọ người được bảo quản lạnh sâu theo thời gian. 3. Đánh giá hiệu quả ghép tự thân mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu ở bệnh nhân chấn thương sọ não.
Xem thêm

Đọc thêm

Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân tai biến mạch não (FULL TEXT)

Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân tai biến mạch não (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch não (TBMN) là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 cho người bệnh chỉ sau bệnh ung thư và tim mạch [4]. TBMN để lại những di chứng nặng nề tinh thần và thể chất, là gánh nặng tài chính cho gia đình BN và xã hội. Ngày nay khi xã hội phát triển, tỷ lệ TBMN ngày càng gia tăng cùng với các bệnh tiểu đường, rối loạn mỡ máu và bệnh tăng huyết áp. Hạ Natri máu là rối loạn điện giải thường gặp ở BN TBMN [46] triệu chứng của hạ Natri máu bao gồm các triệu chứng thần kinh thường lẫn với triệu chứng của TBMN. Do đó hạ Natri máu là một rối loạn điện giải thường bị bỏ sót, hậu quả gây nên tình trạng phù não [21] và làm nặng thêm tình trạng của bệnh nhân (BN) dẫn tới tăng tỷ lệ tử vong, giảm khả năng bình phục của bệnh nhân TBMN [46]. Trong TBMN hai hội chứng gây hạ Natri máu cấp: hội chứng tăng tiết hormon chống bài niệu không tương xứng (SIADH: Syndrome of inappropriate antidiuretic hormone) và hội chứng mất muối não (CSWS: Cerebral salt wasting syndrome). Hai hội chứng này có cơ chế bệnh sinh và phương pháp điều trị khác nhau. Ở nước ngoài hạ natri máu là một biến chứng thường gặp ở các bệnh nhân sau chấn thương sọ não, và xuất huyết dưới nhện nằm điều trị ở các đơn vị chăm sóc tích cực chuyên khoa thần kinh (Neurologic intensive care unit) [46] [47]. Các nghiên cứu đã chứng minh hạ natri máu là nguyên nhân gây tăng áp lực nội sọ kéo dài ở bệnh nhân bị chấn thương sọ não, tăng tỷ lệ co thắt mạch não ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện, kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân [40].Từ 1998 có các nghiên cứu nhằm phát hiện sớm hạ natri máu ở bệnh nhân xuất huyết dưới nhện[38] và các thử nghiệm thuốc trên lâm sàng để điều trị rối loạn điện giải này[51]. 2 Ở Việt Nam các nghiên cứu rối loạn natri máu chưa nhiều chỉ tập trung đối tượng nhi khoa, từ 2002 bệnh nhân hạ natri máu ở đơn vị Hồi sức cấp cứu hạ natri ở bệnh nhân TBMN gặp thường xuyên hơn[20], tuy nhiên ở nước ta do điều kiện kỹ thuật còn hạn chế chưa tiến hành xét nghiệm các marker giúp phát hiện sớm hạ natri máu. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân TBMN ” nhằm mục đích: - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hạ Natri máu ở bệnh nhân TBMN. - Nhận xét kết quả điều trị hạ Natri máu ở bệnh nhân TBMN
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chụp CLVT của chấn thương tháp mũi (FULL TEXT)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chụp CLVT của chấn thương tháp mũi (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Mũi là cơ quan đầu tiên của đường hô hấp, đồng thời có chức năngcộng hưởng khi phát âm, ngửi và thẩm mỹ. Chức năng thẩm mỹ ngày càngđược coi trọng trong cuộc sống hiện đại. Nằm ở vị trí chính giữa và nhô ra của mặt, mũi là bộ phận rất dễ bị vachạm khi có chấn thương. Xương chính mũi nằm ở dưới da và phần cố địnhnằm ở vị trí cao nhất của tháp mũi, các khớp của xương chính mũi với cấutrúc xung quanh khá lỏng lẻo 19. Tỷ lệ gãy xương chính mũi đứng thứ 3trong các trường hợp gãy xương, sau gãy xương đòn và xương cổ tay 27.Ngày nay cùng với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, các hoạt động của conngười ngày càng trở nên phong phú. Các loại phương tiện giao thông với tốcđộ cao ngày càng nhiều, các công trình xây dựng liên tục gia tăng... làm cho các chấn thương nói chung và chấn thương tháp mũi nói riêng ngày càngphong phú và phức tạp. Chấn thương tháp mũi tuy ít nguy hiểm đến tính mạng người bệnhnhưng xương mũi gãy nếu không xử lý kịp thời và đúng đắn sẽ liền nhanhlàm biến dạng tháp mũi, để lại di chứng nặng nề về mặt chức năng và thẩmmỹ. Chấn thương tháp mũi nhất là khi phối hợp với các chấn thương khác(chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương mắt...) phải đặc biệtchú ý vì rất dễ bị bỏ qua 8, 42. Nếu được xử trí từ đầu, phần lớn tháp mũiđều được phục hồi ngay sau chấn thương tránh được các biến chứng như dịdạng mất thẩm mỹ 19. Chấn thương tháp mũi không chỉ xảy ra đơn thuần mà còn phối hợp cácchấn thương khác. Do vậy việc điều trị chấn thương tháp mũi không chỉ còn là mối quan tâm riêng của thầy thuốc TMH mà còn cần có sự phối hợp củacác chuyên khoa khác như răng hàm mặt, mắt, sọ não... Việc ưu tiên cứu sống bệnh nhân sau đó phục hồi lại chức năng thẩmmỹ, sinh lý của mũi đảm bảo hình dáng cho khuôn mặt đồng thời tránh đượccác biến chứng lâu dài sau này như: Viêm mũi xoang, ngạt mũi, rối loạn ngửi,sập vẹo sống mũi... Trong những năm gần đây, sự phát triển của những phương tiện chẩnđoán hình ảnh (đặc biệt chụp CLVT) cho biết chính xác vị trí, tính chất, mứcđộ của chấn thương.... Phương tiện này giúp cho điều trị chấn thương thápmũi ngày càng tốt hơn. Với mục đích tìm hiểu các hình thái lâm sàng chấnthương tháp mũi, tìm hiểu hình ảnh XQ thông thường và đặc biệt chụp cắt lớpvi tính trong chấn thương tháp mũi giúp cho chẩn đoán và điều trị, chúng tôitiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chụp CLVT của chấnthương tháp mũi với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, CLVT của chấn thương tháp mũi. 2. Đối chiếu đặc điểm lâm sàng, nội soi và chụp CLVT để rút kinh nghiệm cho chẩn đoán
Xem thêm

Đọc thêm

CHUẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH HỆ THẦN KINH

CHUẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH HỆ THẦN KINH

HƯỚNG DẪN THỰC TẬP Y3THẦN KINHMỤC TIÊUKĩ thuật hình ảnhH.a chấn thương sọ nãoH.a tai biến mạch máu nãoMỤC TIÊUKĩ thuật hình ảnh- X quang (XQ)- Chụp cắt lớp điện toán (CT)- Chụp cộng hưởng từ (MRI)H.a chấn thương sọ nãoH.a tai biến mạch máu não1. SIÊU ÂM2. X QUANG3. CHỤP CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN (CT SCAN)

Đọc thêm

Bài giảng Bể sàn sọ trước dò dịch não tủy ở mũi sau chấn thương Phùng Văn Đức

Bài giảng Bể sàn sọ trước dò dịch não tủy ở mũi sau chấn thương Phùng Văn Đức

Trong chấn thương sọ não hở có bể sàn sọ trước, rách màng cứng và dò dịch não tủy ở mũi, luôn luôn có nguy cơ nhiễm trùng trong hộp sọ. Xuất phát từ thực tế trên mà Bài giảng Bể sàn sọ trước dò dịch não tủy ở mũi sau chấn thương đã được thực hiện để có được những biện pháp phòng tránh và điều trị.

Đọc thêm

Vận dụng những kiến thức, kỹ năng công tác xã hội nói chung và công tác xã hội với người khuyết tật nói riêng trong can thiệp, trợ giúp trẻ em nghèo khuyết tật vận động

VẬN DỤNG NHỮNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NÓI CHUNG VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT NÓI RIÊNG TRONG CAN THIỆP, TRỢ GIÚP TRẺ EM NGHÈO KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG

Theo các con số điều tra cho thấy, trong 5,4 triệu người khuyết tật cả nước thì số lượng người khuyết tật vận động chiếm hơn một phần ba, tức là khoảng 1,8 triệu người. Về nguyên nhân, trước đây chủ yếu là do hậu quả của chiến tranh, các vết thương do bom mìn, còn ngày nay, đó là những thương tích do tai nạn giao thông. Theo thống kê của ủy ban Quốc gia về An toàn giao thông, mỗi ngày ở nước ta có khoảng trên 30 người chết vì hàng trăm người bị thương. Số nạn nhân bị thương này phần lớn thường bị chấn thương sọ não, liệt chi, gãy chân tay và để lại những hậu quả rất nặng nề cho bản thân, gia đình và cả xã hội. Cùng với đó, còn phải kể đến một bộ phận không nhỏ những người là nạn nhân của chất độc da camdioxin đã qua nhiều thế hệ mà những thương tích loại này rất phức tạp như khiếm khuyết bộ phận cơ thể, thiểu năng trí tuệ v.v… Ngoài ra, do điều kiện phát triển của nền kinh tế, tuổi thọ của nhân dân ngày càng cao, kéo theo số người cao tuổi tăng lên và nguy cơ tàn tật vận động cũng tăng theo. Bên cạnh đó lượng trẻ em khuyết tật cũng tăng cao điển hình là tại các vùng quê nghèo về điều kiện kinh tế, việc sàng lọc trước sinh không được phổ biến dẫn đến tình trạng khuyết tật của trẻ khi sinh ra. Một nguyên nhân nữa dẫn đến khuyết tật vận động ở trẻ là sự thiếu hiểu biết của gia đình khi để trẻ biến chứng của một số bệnh mà không chạy chữa kịp thời. Người khuyết tật vận động bao gồm các khiếm khuyết, dị tật ở tứ chi hoặc hậu quả của tổn thương nơi khác như sọ não… có thể do nguyên nhân bẩm sinh hoặc mắc phải, đỏi hỏi phải có can thiệp về y học, phục hồi mang tính chuyên khoa sâu, đồng bộ và thời gian dài.
Xem thêm

18 Đọc thêm