PHÁP LUẬT THỪA KẾ CỦA VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHÁP LUẬT THỪA KẾ CỦA VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN":

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀTHỰC TIỄN

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀTHỰC TIỄN

- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: ở nhóm này, trước tiên phải kể đến cuốn sáchchuyên khảo "Luật Thừa kế Việt Nam" của Tiến sĩ Phùng Trung Tập, Nxb Hà Nội, 2008 và cuốn"Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luậnthực tiễn" của Nguyễn Minh Tuấn đượcxuất bản vào năm 2009. Ngoài ra, còn có một số giáo trình và sách bình luận khoa học Luật dân sựViệt Nam. Hầu hết các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định củapháp luật thừa kế chứ chưa hoặc ít đề cập đến thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về vấnđề trên.- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu thuộc nhóm này chủyếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạpchí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học… Trong đó phải kể đến bài viết "Hoàn thiện chế địnhthừa kế trong Bộ luật Dân sự" của Nguyễn Văn Mạnh, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4,5 năm 2002; "Hoàn thiện quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự" của Phạm Văn Tuyết, đăngtrên Tạp chí Luật học (số Đặc san), năm 2003; "Về việc cháu, chắt nội, ngoại thừa kế thế vị vàhưởng di sản thừa kế theo hàng của ông, bà nội ngoại, các cụ nội, ngoại" của Phùng Trung Tập,đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24 năm 2005; "Di sản không có người thừa kế hoặc từ chốinhận di sản - vấn đề cần có hướng dẫn" của Đỗ Văn Chỉnh, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số20, năm 2006; hay bài viết của tác giả Phùng Trung Tập "Tiến trình phát triển pháp luật thừa kếViệt Nam trong 60 năm qua", được đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2, năm 2006.Đây thực sự là những công trình có giá trị lớn trong cả khoa học lý luậnthực tiễn. Tuynhiên, những công trình nghiên cứu này hoặc đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát chungvề chế định thừa kế qua các thời kỳ hoặc chỉ đi sâu vào phân tích một quan hệ thừa kế nhất địnhchứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về vấn đề thừa kế theo pháp luật hiện hành. Thừakế theo pháp luật không phải là đề tài mới nhưng với sự thay đổi từng ngày từng giờ của các quanhệ xã hội, quan hệ tài sản đòi hỏi phải có những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh. Do đó, việcnghiên cứu kịp thời để có hướng đề xuất các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này cho phù hợpvới thực tiễn là hết sức cần thiết.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứuMục đích nghiên cứu
Xem thêm

5 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

LỜI NÓI ĐẦU1. Lý do chọn đề tài:Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa ngày một lớn mạnh tạo điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, đã làm gia tăng hết sức mạnh mẽ các giao lưu về dân sự có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, trong đó có một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Khi vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài phát sinh thì đặt ra vấn đề là có thể có nhiều pháp luật của các nước khác nhau liên quan đến quan hệ đó đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ này, bởi vậy mà dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật giữa các nước cần được giải quyết.Xuất phát từ những lý do trên đã tác động cho người viết chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài” để làm đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp những kiến thức pháp luật về thừa kế cho mọi người, đồng thời người viết cũng mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào hoàn thiện các chế định và thừa kế để điều chỉnh kịp thời những vấn đề về thừa kế thực tế phát sinh.2. Phạm vi nghiên cứu:Đối với đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài”, người viết đi vào tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt người việt đi sâu vào phân tích một số vấn đề liên quan đến thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Qua đó đề cập đến một số thực trạng trong qui định về các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện một số vấn đề về quan hệ thừa kế đó.3. Mục đích nghiên cứu:Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, các quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Trong khi đó, về vấn đề này pháp luật của các nước lại có quan điểm, giải pháp rất khác nhau, điều đó đã tạo ra hiện tượng xung đột pháp luật trong lĩnh vực này. Do đó việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp để hoàn thiện hơn chế định này trong pháp luật mỗi quốc gia là điều hết sức cần thiết.Bởi vậy, nghiên cứu về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó và xuất phát từ những nhu cầu và thực tiễn của pháp luật hiện nay, đề tài này nhằm phân tích rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, qua đó đánh giá thực trạng pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời nêu lên những quan điểm, và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quan hệ thừa kế ở nước ta hiện nay.4. Phương pháp nghiên cứu:Đề tài được hoàn thành dựa trên các phương pháp như: phân tích câu chữ của luật viết, so sánh, diễn dịch, tổng hợp các vấn đề đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể, thu thập thông tin dựa trên những qui định của pháp luật, các sách, tạp chí…, để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra và giải quyết trong tiểu luận.5. Bố cục của đề tài:Ngoài lời nói đầu và kết luận, tiểu luận được chia ra làm 03 chương:Chương 1: Những lý luận về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.CHƯƠNG 1NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEODI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúcTheo pháp luật của Việt Nam thì chế định thừa kế hình thành từ rất sớm, thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người. Ăng – ghen viết: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những người cùng huyết tộc với người mẹ ”.Trong xã hội cộng xã nguyên thuỷ, dù chỉ là một nền sản xuất đơn giản nhưng cũng nằm trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Mác đã chỉ ra rằng: “Bất cứ một nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thức đó”. Vì vậy, “Nơi nào, không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó cũng không có một xã hội nào cả ”. Và cũng chính vì thế mà sở hữu xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và với thừa kế chúng phát triển cùng với xã hội loài người. Ở khía cạnh khác thì quan hệ sở hữu là một quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề đầu tiên để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.Theo pháp luật của tất cả các nước trên thế giới thì đều thừa nhận quyền thừa kế theo di chúc. Còn theo pháp luật ở Việt Nam, tại Điều 646 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Từ định nghĩa về thừa kế và di chúc ta có thể hiểu thừa kế theo di chúc như sau: Thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản (chuyển dịch di sản thừa kế) của người chết cho những người khác theo sự định đoạt một cách tự nguyện (bằng di chúc) của người đó khi còn sống. 1.1.2. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoàiThừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là thừa kế được nghiên cứu trong phạm vi Tư pháp quốc tế. Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ thừa kế được xác định theo quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lá quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, theo định nghĩa này thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài gồm có 3 yếu tố sau: Yếu tố thứ nhất về mặt chủ thể: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Yếu tố thứ hai về mặt khach thể: Những căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; và Yếu tố thứ ba về sự kiện pháp lý: Có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Như vậy, có thể định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là: “Quan hệ thừa kế theo di chúc mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc quan hệ thừa kế theo di chúc giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó (di sản thừa kế) ở nước ngoài”.Từ định nghĩa trên thì quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có những đặc trưng sau đây:Về chủ thểThứ nhất, cá nhân. Cá nhân thì bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài. Công dân Việt Nam tức là người có quốc tịch Việt Nam, cụ thể theo Điều 49 – Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi má họ đang cư trú, như vậy có thể nói bất kỳ người nào sống trên lãnh thổ của một nước nhất định mà không có quốc tịch của nước đó thì được gọi là người nước ngoài . Người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 1382006NĐCP ngày 15 tháng 11 năm 2006, quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài . Qua đây nói lên nếu cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài một khi có tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc thì đây là một đặc trưng để nhận biết rằng có yếu tố nước ngoài, tức đây là một quna hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Thứ hai, pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức được thành lập theo pháp luật của một nước nhất định, thông thường một tở chức được xem là một pháp nhân khi nó được thành lập theo một trình tự nhất định và có đầy đủ các điều kiện của một pháp nhân theo pháp luật mỗi nước. Pháp nhân bao gồm pháp nhân Việt Nam và pháp nhân nước ngoài, pháp nhân Việt Nam là pháp nhân được thành lập theo Điều 85 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về “thành lập pháp nhân” và phải đáp ứng đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005 ; pháp nhân nước ngoài là một pháp nhân hoạt động ở một nước khác nhưng không có quốc tịch ở nước đó thì pháp nhân này được gọi là pháp nhân nước ngoài . Pháp nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định 1382006NĐCP . Thứ ba, Quốc gia là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Quốc gia là một thực thể được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và xã hội, tức gốm có các thành phần như lãnh thổ, dân cư, chính phủ và chủ quyền quốc gia đã cấu thành một quốc gia. Quốc gia khác với các chủ thể khác trong tư pháp quốc tế, biểu hiện là quốc gia được xem là một chủ thể đặc biệt trong tư pháp quốc tế. Tính chất đặc biệt này được thể hiện ở chỗ quốc gia luôn luôn có chủ quyền, chủ quyền là một thuộc tính chính trị và pháp lý không thể tách rời khỏi một quốc gia độc lập. Cụ thể là khi quốc gia tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, tức khi quốc gia tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài thì cũng được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp tuyệt đối. Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối này được thể hiện trước hết là về quyền miễn trừ xét xử, nội dung của quyền này chủ yếu nói lên một quốc gia này sẽ không bị xét xử bởi Toà án của quốc gia khác nếu chưa được sự đồng ý của quốc gia này; quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia còn thể hiện ở chỗ: Khi quốc gia đã đồng ý cho Toà án nước ngoài xét xử vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài mà quốc gia là bên bị đơn thì Toà án được quyền xét xử vụ tranh chấp này, nhưng Toà án này bị hạn chế là không được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế sơ bộ đối với đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của Toà án. Toà án nước ngoài chỉ được quyền cưỡng chế khi được quốc gia đó cho phép. Ngoài ra thì quốc gia còn có quyền đứng tên trong vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài với cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài với tư cách là bên nguyên đơn. Trong trường hợp này, Toà án nước ngoài được quyền giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài chỉ được phép phản kiện khi được sự đồng ý của quốc gia là bên nguyên đơn.Về mặt khách thểKhách thể là một trong các yếu tố cơ bản để xác định một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài. Dựa theo định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, thì khách thể của quan hệ này lá tài sản thừa kế (di sản) theo di chúc đang tồn tại ở nước ngoài.Về sự kiện pháp lýTương tự như chủ thể và khách thể, thì sự kiện pháp lý cũng là một trong ba yếu tố đễ nhận biết một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Sự kiện pháp lý trong định nghĩa thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý có căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế theo di chúc theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Và sự kiện pháp lý này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài.1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.2.1. Khái niệmNguồn luật được hiểu là phương thức tạo ra quy tắc pháp lý, đồng thời là hình thành chứa đựng quy tắc đó. Quy tắc được tạo ra, muốn được gọi là luật, phải mang đầy đủ tính chất của chuẩn mực ứng xử được người nắm quyền luật công thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy công lực . Còn nguồn của tư pháp quốc tế, về mặt lý luận chung nguồn là nơi xuất phát, là nơi chứa đựng, cụ thể nguồn của tư pháp quốc tế là hình thức chứa đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế . Dựa vào nguồn của Tư pháp quốc tế ta có thể định nghĩa nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng, vì quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Vì vậy, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.1.2.2. Các loại nguồn luậtDo là một bộ phận của tư pháp quốc tế, nên nguồn quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài hạn hẹp hơn so với nguồn của tư pháp quốc tế, chủ yếu gồm có hai loại nguồn sau: Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia.1.2.2.1. Điều ước quốc tếĐiều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thoả thuận của các chủ thể pháp luật quốc tế (trước hết là các quốc gia) trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế .1.2.2.2. Pháp luật quốc giaPháp luật quốc gia là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định, bao gồm tất cả các hình thức nguồn chứa đựng bên trong hệ thống: văn bản, tập quán và án lệ. Pháp luật quốc gia được coi là loại nguồn khá phổ biến của tư pháp quốc tế so với các loại nguồn khác nói chung và cũng lá nguồn luật điều chỉnh cơ bản của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng và được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, tại khoản 1 Điều 759 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Ở Việt Nam các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cụ thể như Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, …. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã dành một số điều để quy định các nguyên tắc để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, cụ thể các nguyên tắc đó là: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 75), Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 81).1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.3.1. Khái niệmPhương pháp điều chỉnh là cách thức ngành luật tác động lên các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh đặc thù khác nhau. Ví dụ: ngành luật dân sự: thoả thuận; ngành luật hành chính: mệnh lệnh; ngành luật hình sự: quyền uy phục tùng, … .Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng đều là một bộ phận của tư pháp quốc tế nên ta có thể dựa vào các phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà định nghĩa phương pháp điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Cụ thể, phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ tư pháp quốc tế) làm cho các quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị . Tương tự, phương pháp điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị.1.3.2. Các phương pháp điều chỉnhCác phương pháp điều chỉnh là các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được biểu hiện ở hai phương pháp cụ thể là: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất)Đây là phương pháp dùng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết nội dung của các quan hệ pháp luật (quyền và nghĩa vụ của các bên) theo một hệ thống pháp luật nhất định . Hay nhằm tác động trực tiếp lên quan hệ tư pháp quốc tế nói chung, quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, phương pháp này quy định một cách cụ thể cách thức hành xử của các chủ thể liên quan (trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên chủ thể), được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế người ta gọi là các quy phạm thực chất thống nhất, còn các quy phạm thực chất xây dựng trong các văn bản pháp quy của mỗi nước gọi là quy phạm thực chất trong nước . Các quy phạm thực chất thống nhất tồn tại dưới dạng các tập quán quốc tế như: FOB (free on board), CIP (Cost Inssurance freight), CAF (Cost and freight) .1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp (còn gọi là phương pháp xung đột)Đây là phương pháp dùng các quy phạm xung đột để giải quyết vấn đề. Các uy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ nhất định mà nó chỉ làm động tác dẫn chiếu (chọn luật) đến một hệ thống pháp luật của một nước nào đó nhằm để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vị của các bên . Qua trên cho thấy quy phạm xung đột dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật mà các quy phạm thực chất giải quyết quan hệ một cách dứt điểm. Điều này chứng minh rằng giữa quy phạm thực chất và quy phạm xung đột có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng nhau phối hợp sẽ mang lại hiệu quả cao trong thực tế.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Văn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Văn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễnVăn bản quy phạm pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn
Xem thêm

104 Đọc thêm

PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sự tác động giữa pháp luật và luật tục được thể hiện ở nhiều khía cạnh,trong một số trường hợp luật tục là cơ sở cho việc xây dựng pháp luật, nhấtlà trong vấn đề điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồngngười dân tộc thiểu số. Luật tục cũng góp phần bảo đảm cho pháp luật đượcthực hiện nghiêm chỉnh trong cộng đồng của đồng bào các dân tộc thiểu sốnước ta. Cùng với đó, pháp luật cũng có sự tác động mạnh mẽ tới luật tục.Pháp luật ghi nhận, củng cố và phát huy những quy định tiến bộ, loại trưcnhững quy định phản tiến bộ không phù hợp với sự phát triển chung của xãhội và còn ngăn chặn sự hình thành những quy định phản tiến bộ và gópphần hình thành những quy định tiến bộ trong luật tục của các dân tộc.Với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩavà yêu cầu hội nhập kinh tế của nước ta hiện nay, việc giải quyết mối quanhệ giữa pháp luật và luật tục là nhu cầu cần thiết. Đảng và Nhà nước ta đãxác định: Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng các phong tục,tập quán truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam - màtrong đó có luật tục của các dân tộc. Do đó, mối quan hệ giữa pháp luật vàluật tục của các dân tộc càng phải được quan tâm và nghiên cứu một cách cóhệ thống để góp phần vào công cuộc quản lý xã hội công dân hiện đại.Từ nghiên cứu thực tiễn của mối quan hệ pháp luật và luật tục ở ViệtNam hiện nay, có một số giải pháp đưa ra nhằm góp phần tăng nâng caochất lượng hiệu quả việc kết hợp pháp luật và luật tục cũng như vận dụng tốtmối quan hệ này. Trước hết, cần nhận thức đúng vị trí, vai trò của pháp luật,luật tục và mối quan hệ giữa chúng. Từ đó có hướng khắc phục những hạnchế và phát huy những ưu điểm trong mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục;xem xét tới vấn đề tổ chức nghiên cứu và xây dựng luật tục hiện nay vàcuối cùng là nâng cao vai trò của người đứng dầu trong cộng đồng ngườidân tộc thiểu số trong quá trình phát huy mối quan hệ pháp luật và luật tục.Trong quá trình nghiên cứu, dù có nhiều cố gắng song khóa luận khôngthể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Rất mong được sự góp ý của cácthầy, cô giáo và những người quan tâm để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo HĐTTTP việt nam nga và việt nam ba lan, thừa kế có YTNN theo pháp luật australia

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO HĐTTTP VIỆT NAM NGA VÀ VIỆT NAM BA LAN, THỪA KẾ CÓ YTNN THEO PHÁP LUẬT AUSTRALIA

Tiểu luận Giài quyết XĐPL về thừa kế có YTNN theo HĐTTTP Việt NamNga, Việt NamBa Lan, Thừ kế có YTNN theo pháp luật Australia.
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT (XĐPL) VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 4
I.1. Khái niệm XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế 4
I.2. Nguyên tắc giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong hiệp định tương trợ tư pháp (Hiệp định TTTP) Việt Nam kí kết với các nước 5
CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT XĐPL VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO HIỆP ĐỊNH TTTP GIỮA VIỆT NAMNGA, VIỆT NAM – BA LAN. 6
II.1. Giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo Hiệp định TTTP giữa Việt NamNga 6
II.1.1. Quy định chọn luật 6
II.1.2. Thẩm quyền giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong Hiệp định TTTP Việt Nam Nga 9
II.1.3. Vấn đề di sản không người thừa kế trong Hiệp định TTTP giữa Việt Nam Nga 10
II.2. Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam – Ba Lan 11
II.2.1. Quy định chọn luật 11
II.2.2. Thẩm quyền giải quyết vấn đề thừa kế 13
CHƯƠNG III: THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT AUSTRALIA 14
III.1. Nguyên tắc giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Australia 14
III.2. Thẩm quyền chung của Tòa án 14
III.3. Công nhận và cho thi hành di chúc của tòa án nước ngoài hoặc tòa án của các quốc gia thuộc khối Thịnh Vượng Chung tại Australia 16
III.4. Những quy định chung về người đại diện cá nhân 19
III.4.1. Người quản lý và người thi hành 19
III.4.2. Trách nhiệm quản lý di sản 20
III.5. Thực hiện quyền chỉ địnhmột quyền đặc biệt của thừa kế có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Australia 22
III.5.1. Quyền chỉ định là một quyền khái quát và đặc biệt 22
III.5.2. Hiệu lực pháp luật 22
III.5.3. Năng lực pháp luật 22
III.5.4. Sự hủy bỏ 23
III.6. Di sản 23
III.6.1. Di sản thừa kế theo di chúc 23
III.6.2. Giải quyết di sản thừa kế không theo di chúc 30
III.6.3. Giải quyết di sản không có người thừa kế 30
III.6.4. Thừa kế bắt buộc 31
Xem thêm

28 Đọc thêm

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Xem thêm

26 Đọc thêm

Xây dựng điều lệ công ty những vấn đề lý luận và thực tiễn

XÂY DỰNG ĐIỀU LỆ CÔNG TY NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Xây dựng điều lệ công ty_Những vấn đề lý luận và thực tiễn bao gồm:
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG: Khái niệm, vai trò, quy định của pháp luật về xây dựng Điều lệ trong công ty.
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT VÀ QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG: Thực trạng quy định pháp luật về việc xây dựng và áp dụng Điều lệ Công ty, thực trạng xây dựng và áp dụng Điều lệ tại các công ty.
CHƯƠNG III. NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN: Nguyên nhân, hướng hoàn thiện.
Xem thêm

39 Đọc thêm

4 tên doanh nghiệp những vấn đề lý luận và thực tiễn

4 TÊN DOANH NGHIỆP NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Những vấn đề lý luận chung về chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại các ngân hàng thương mại.Những vấn đề lý luậnnhững vấn đề lý luậnvận dụng lý luận và thực tiễn trong giáo dụctội cướp giật tài sản những vấn đề lý luận và thực tiễntổ chức quản lý và điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên những vấn đề lý luận và thực tiễnpháp luật thừa kế của việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễnmột số vấn đề lý luận và thực tiễn về xét xử sơ thẩm vụ án hành chínhnhững vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá tringf xây dựng cnxh hiện naynhững vấn đề lý luận và thực tiễn
Xem thêm

21 Đọc thêm

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ) NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUỐC HỘI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ) NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUỐC HỘI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

(Luận án tiến sĩ) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam
Xem thêm

24 Đọc thêm

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Xem thêm

27 Đọc thêm

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Thừa kế di sản chính là sự dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Với ý nghĩa như vậy, vấn đề thừa kế có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật các nước trên thế giới.Trong bối cảnh hiện nay, sự hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú,thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp, vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời. Hiện nay, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài đã không còn là quan hệ hiếm gặp trong cuộc sống mà ngày càng phổ biến.Ở Việt Nam, mặc dù quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài đã ít nhiều được Bộ luật dân sự 2005 điều chỉnh tại phần VII, nhưng thực tiễn áp dụng vẫn còn bộc lộ nhiều vướng mắc, hạn chế nhất định. Điều này đã xâm phạm đến quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng, xã hội và ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia.Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một trong những chế định quan trọng của tư pháp quốc tế và cũng là một quan hệ phức tạp, liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Chính vì vậy, việc xác định luật áp dụng cho các quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài là một trong những vấn đề quan trọng trong tư pháp quốc tế Việt Nam và các nước. Tại Việt Nam, những quy định về pháp luật áp dụng cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được quy định như thế nào và thực tiện áp dụng ra sao là lý do người viết chọn đề tài “ Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Xem thêm

29 Đọc thêm

HÀNG THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

HÀNG THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Bên cạnh đó, quy định một số ng-ời thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai và thứ ba theo pháp luật hiện nay mặc dù có ý nghĩa về mặt đạo đức xã hội song ch-a đảm bảo đ-ợc ý nghĩa về kinh tế [r]

17 Đọc thêm

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỊNH THỜI HIỆU THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỊNH THỜI HIỆU THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TRANG 15 _Thứ nhất, về một số điểm giống nhau cơ bản:_ hai chế định này chỉ áp dụng đối với ng-ời phạm tội và tội phạm mà đ-ợc quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, và khi hế[r]

24 Đọc thêm

SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI QUYỀN TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI QUYỀN TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

Nguyễn Ngọc Điện; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Đại học Luật Hà Nội v.v… Tuy nhiên, có thể nói c[r]

8 Đọc thêm

THI HÀNH PHÁP LUẬT CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM

THI HÀNH PHÁP LUẬT CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM

Chính vì vậy, việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Thi hành pháp luật cổ phần hoá DNNN hiện nay ở nước ta nói chung và ở Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam nói riêng[r]

5 Đọc thêm

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Mục tiêu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới. Từ đó, phân tích những kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán.
Nhiệm vụ của luận văn:
Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm có liên quan tới địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán.
Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới cụ thể là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc.
Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý.
Xem thêm

Đọc thêm

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào

KHI GẶP HIỆN TƯỢNG DẪN CHIẾU NGƯỢC VÀ DẪN CHIẾU ĐẾN PHÁP LUẬT NƯỚC THỨ BA THÌ SẼ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NHƯ THẾ NÀO

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào

Nhắc tới tư pháp quốc tế là nhắc tới vấn đề áp dụng các quy phạm xung đột. Một trong những vấn đề rất phức tạp trong việc áp dụng quy phạm xung đột đó là vấn đề dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba. Trong phạm vi bài viết này, em xin làm rõ vấn đề “khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào”.

NỘI DUNG.

I. Khái quát về hiện tượng dẫn chiếu trong tư pháp quốc tế:

1, Dẫn chiếu:

Dẫn chiếu ngược hay dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là hiện tượng khi cơ quan có thẩm quyền của nước A áp dụng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài (nước B), nhưng pháp luật nước B lại quy định vấn đề phải được giải quyết theo pháp luật nước A hoặc được giải quyết theo pháp luật của một nước thứ ba.

Theo BLDS Việt Nam “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập”. Doanh nghiệp A là doanh nghiệp nước ngoài và thành lập tại Đức. Vậy pháp luật Đức là pháp luật điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự của doanh nghiệp A. Nhưng theo pháp luât Đức, vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở thực tiễn và trong thực tế thì doanh nghiệp A có trụ sở tại Bỉ. Do đó, pháp luật Đức dẫn đến pháp luật Bỉ. Vậy hiện tượng dẫn chiếu đến pháp luật nước thừ ba có thể xảy ra ở Việt Nam.

2, Nguyên nhân của hiện tượng dẫn chiếu:

Thứ nhất, quy phạm xung đột có hai bộ phận cấu thành: phần phạm vi và phần hệ thuộc. Hiện tượng dẫn chiếu xuất hiện khi một vấn đề pháp lý thuộc phần phạm vi của hai quy phạm xung đột của hai nước có phần hệ thuộc khác nhau hay là do có sự quy định khác nhau trong các quy phạm xung đột của các nước về nguyên tắc chọn luật áp dụng cho cùng một vấn đề pháp lý.

Nguyên nhân thứ hai có khả năng làm phát sinh dẫn chiếu là việc giải thích các hệ thuộc luật của các nước có thể rất khác nhau. có thể dẫn đến khả năng một vấn đề pháp lý sẽ được hệ thống pháp luật của hai nước đều cho rằng, sẽ được áp dụng (gọi là xung đột tích cực), hoặc cả hai nước đều từ chối áp dụng, cho ràng pháp luật của nước mình không có thẩm quyền áp dụng (gọi là xung đột tiêu cực).

Một số tác giả cho rằng, có sự “ủy quyền” của pháp luật trong nước cho pháp luật nước ngoài trong việc áp dụng giải quyết tình huống pháp lý phát sinh. Và như vậy, có thể coi các quy phạm xung đột nước ngoài dẫn chiếu ngược chở lại pháp luật nước có tòa án thụ lý là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của nước có tòa án đó.

II. Áp dụng pháp luật khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba.

1, Chấp nhận dẫn chiếu:

Một số nước không chấp nhận dẫn chiếu như Siry (BLDS 1949), Ai Cập (BLDS 1948)… bởi quan điểm của họ thì khi dẫn chiếu là chỉ dẫn chiếu tới các quy phạm luật thực chất của nước đó chứ không phải toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó như các nước chấp nhận dẫ chiếu như Anh, Nhật Bản (BLDS 1898), Thụy Điển.

Ở Việt Nam về nguyên tắc thì dẫn chiếu được chấp nhận. Khoản 3 Điều 759 BLDS 2005: “nếu pháp luật nước đó (pháp luật nước ngoài được quy định hoặc viện dẫn) dẫn chiếu trở lại pháp luật nước CHXHCN VN, thì áp dụng pháp luật CHXHCN VN”. Tương tự theo Điều 5 nghị định số 682002NĐCP ngày 1072002 cũng quy định về vấn đề này.

Pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến dẫn chiếu ngược trở lại pháp luật VN và không cho biết dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba có được chấp nhận hay không. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 nghị định số 1382006NĐCP thì dẫn chiếu ngược trở lại và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba được chấp nhận ở Việt Nam. Thực tế vấn đề này rất hiếm gặp, do các quy phạm xung đột cũng có giới hạn và nhìn chung các quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế là thống nhất. Đa phần phụ thuộc vào cách giải thích và ý chí của tòa án thụ lý vụ việc.

2, Các trường hợp không chấp nhận dẫn chiếu:

Thứ nhất là trong lĩnh vực hợp đồng, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều không chấp nhận dẫn chiếu trong lĩnh vực này. Điều 15 Công Ước Rome 1961980 về quy phạm xung đột thống nhất trong lĩnh vực hợp đồng đối với một số nước châu Âu và Điều 2 Công Ước Lahaye 761955 về hợp đồng mua bán quốc tế động sản, dẫn chiếu không được chấp nhận bởi nó sẽ làm đảo lộn những dự tính, đi ngược lại ý chí của các bên khi họ thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng (luật nội dung, luật thực chất của hệ thống luật này) cho hợp đồng. Khoản 1 Điều 769 BLDS 2005: “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước mà các bên đã thỏa thuận chọn”. nhưng không phải sự loại trừ dẫn chiếu là đương nhiên, tự động mà cần dung hòa ý chí các bên và các quy phạm xung đột một cách thống nhất.

Thứ hai là khi có Điều ước quốc tế quy định. Theo Điều 39 Hiệp đinh tương trợ tư pháp giữa Nga và Việt Nam, “quan hệ pháp luật về thừa kế động sản do pháp luật của bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết điều chỉnh”. Ví dụ: một công dân Nga sống và làm ăn ở VN nhiều năm, công dân này có vợ người VN và có một số động sản ở VN và Nga. Công dân Nga qua đời đột ngột ở VN do tai nạn không để lại di chúc. Vậy pháp luật Nga điều chỉnh quyền thừa kế vì khi người chết để lại tài sản thừa kế là công dân của Nga dù tại Điều 1224 Khoản 1 BLDS Nga quy định: “thừa kế (động sản) được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng”.

KẾT LUẬN

Qua việc tìm hiểu ở trên, có thể thấy dẫn chiếu là vấn đề rất quan trọng, phổ biến nhưng cũng rất khó, rất phức tạp trong tư pháp quốc tế. Trong thời gian tới, khi các Điều ước quốc tế ngày một gia tăng, việc thiết lập các quy phạm xung đột thống nhất trong các Điều ước này sẽ làm mất đi những điều kiện tồn tại của dẫn chiếu, có thể hiện tượng dẫn chiếu không cần phải đặt ra trong tư pháp quôc tế nữa. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, dẫn chiếu vẫn được áp dụng một cách thường xuyên và phổ biến, vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ về vấn đề này để có thể áp dụng pháp luật hiệu quả nhất.
Xem thêm

4 Đọc thêm

bài thuyết trình luật thừa kế ( theo bộ luật hình sự 2005)

BÀI THUYẾT TRÌNH LUẬT THỪA KẾ ( THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2005)

Bài thuyết trình Pháp luật đại cương. Đề tài: luật thừa kế ( theo bộ luật dân sự 2005). Một số vấn đề của thừa kế, các loại thừa kế: thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật. email: giomuadongnamay299gmail.com

43 Đọc thêm

thực hiện pháp luật về quyền sở hữa trí tuệ đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian ở việt nam hiện nay

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮA TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT DÂN GIAN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài có mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
thực hiện pháp luật về QSHTT đối với TPVHNTDG ở Việt Nam hiện nay; xác
định các quan điểm và giải pháp bảo đảm sao cho pháp luật về QSHTT đối với
TPVHNTDG ở Việt Nam được thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh và đồng
bộ, thông qua đó góp phần lưu giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị cao quý của
TPVHNTDG trong tiến trình xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để thực hiện mục đích nói trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
Một là: Phân tích nội hàm khái niệm thực hiện pháp luật về QSHTT đối với
TPVHNTDG; phân tích đặc điểm của thực hiện pháp luật về QSHTT đối với
TPVHNTDG; làm rõ vai trò của thực hiện pháp luật về QSHTT đối với
TPVHNTDG; phân tích các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về QSHTT đối
với TPVHNTDG; Rút ra một số bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu thực hiện
pháp luật về QSHTT đối với TPVHNTDG ở một số nước trên thế giới.
3
Hai là: Phân tích những ưu điểm, hạn chế của pháp luật về QSHTT đối với
TPVHNTDG; làm rõ kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập trong thực hiện
pháp luật về QSHTT đối với TPVHNTDG ở Việt Nam thời gian qua, đồng thời
chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế và bất cập đó.
Ba là: Xác định các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về
QSHTT đối với TPVHNTDG ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là việc thực hiện pháp luật về
QSHTT đối với TPVHNTDG cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu thực hiện pháp luật về QSHTT
đối với TPVHNTDG từ năm 2006 khi có Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) được ban
hành đến nay.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những luận điểm cơ bản của
Đảng và Nhà nước ta đối với VHNTDG và bảo hộ QSHTT đối với TPVHNTDG
ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác Lênin, luận án có sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp lô gich,
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương
pháp tổng hợp.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Về phương diện lý luận
Lần đầu tiên luận án xây dựng khái niệm thực hiện pháp luật về QSHTT
đối với TPVHNTDG; làm rõ đặc điểm, hình thức, vai trò và các điều kiện bảo
đảm thực hiện pháp luật về QSHTT đối với TPVHNTDG;
Từ pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và thực hiện pháp luật về QSHTT
đối với TPVHNTDG của một số nước, luận án đã rút ra một số bài học kinh
nghiệm có giá trị tham khảo đối với nước ta.
5.2. Về phương diện thực tiễn
Luận án là công trình đầu tiên làm rõ thực trạng pháp luật về QSHTT đối
với TPVHNTDG, phân tích những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập,
nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật về QSHTT đối với
TPVHNTDG ở Việt Nam thời gian qua.
4
Luận án luận chứng các quan điểm, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực
hiện pháp luật về QSHTT đối với TPVHNTDG ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hiện pháp luật về QSHTT đối với TPVHNTDG ở Việt Nam, là tài liệu để các cơ
quan Nhà nước có liên quan tham khảo, ban hành các văn bản pháp luật về
QSHTT đối với TPVHNTDG ở Việt Nam hiện nay.
Luận án cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã
hội giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật về QSHTT đối
với TPVHNTDG ở Việt Nam.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị, bộ, ngành có liên
quan trong việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy, nhất là trong lĩnh vực VHNTDG
và bảo hộ QSHTT đối với TPVHNTDG.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án
gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Xem thêm

27 Đọc thêm

Báo cáo tiểu luận: thừa kế theo di chúc

BÁO CÁO TIỂU LUẬN: THỪA KẾ THEO DI CHÚC

A.THỪA KẾ:1.Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế ở Việt Nam.1.1.Thừa kế.Thừa kế là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền nghĩa vụ của người thừa kế.Quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu.Vì vậy, quan hệ thừa kế đơn giản được hiểu là để duy trì quan hệ sở hữu. Đây là một khái niệm quen thuộc về cả mặt xã hội lẫn pháp lý:Về phương diện xã hội: Kể từ khi chưa có nhà nước và pháp luật, con người với số tài sản chiếm được đã có nhu cầu dịch chuyển lại cho người khác khi qua đời. Đó chính là thừa kế quá trình dịch chuyển tài sản của một người sau khi chết cho người khác.Về phương diện pháp luật:Thừa kế là một phạm trù pháp lý mà bao gồm các quy định của pháp luật nhằm tác động điều chỉnh quá trình để lại và nhận lại di sản thừa kế; là cớ sở phát sinh quyền thừa kế.1.2.Quyền thừa kế:Theo nghĩa khách quan : Quyền thừa kế là một chế định của pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra và thừa nhận điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người có quyển hưởng di sản. Dựa vào quy định của pháp luật về thừa kế. Việc thực hiện các quyền năng này phải phù hợp với mức độ và phạm vi mà pháp luật cho phép. Theo nghĩa chủ quan: Quyền thừa kế là những quyền dân sự cụ thể của người để lại di sản và những người nhận di sản thừa kế. Các quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật về thừa kế.2.Các nguyên tắc của quyền thừa kế.Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ.Điều 58 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định điều đó và trong Chương I phần 4 của BLDS đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản về thừa kế như sau:
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề