THÔNG LIÊN THẤT PHẦN MÀNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "THÔNG LIÊN THẤT PHẦN MÀNG":

TĂNG HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI TRONG CÁCBỆNH TIM BẨM SINH

TĂNG HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI TRONG CÁCBỆNH TIM BẨM SINH

X quang: động mạch phổi giãn rất to, trái ngược với độ sáng của trường phổingoại vi, ở đây các vệt mạch máu khó nhìn thấy. Chụp động mạch cho thấy bản chất vàvị trí của dị tật.Siêu ăm tim: phát hiện phì đại thất phải.•Điện tâm đồ: có những dấu hiệu phì đại thất phải (sóng R rộng ở đạo trình bênphải của diện trước tim), trục tim lệch sang trái, nếu có thông liên nhĩ thuộc typ lỗ thứphát.•Thông tim: áp suất và lực cản mạch máu ở phổi tăng, trong khi áp suất maomạch phổi bị chặn (phản ánh áp lực trong tâm nhĩ trái) bình thường.Chẩn đoánPhân biệt với tăng huyết áp động mạch phổi nguyên phát (xem phần trên), không nghethấy có tiếng thổi ở tuổi trẻ em. Cũng phải phân biệt với tăng huyết áp động mạch phổithứ phát (bệnh tâm phế mạn), trong đó bệnh cảnh lâm sàng nổi trội bởi các triệu chứngcủa bệnh phổi là nguyên nhân. Hẹp van hai lá rất khít, hãn hữu là u nhày ở tâm nhĩ tráivà viêm trung thất xơ cứng với tắc các tĩnh mạch phổi cũng là những trường hợp có thểnhầm với hội chứng Eisenmenger.Tiên lượngTăng huyết áp động mạch phổi tiến triển dần dần, nhưng tuổi thọ trung bình cũng đượcquá 40-50 năm. Biến chứng huyết khối nghẽn mạch và đột tử hay xảy ra.Điều trị
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG THẤT PHẢI Ở BỆNH NHÂN THÔNG LIÊN NHĨ BẰNG SIÊU ÂM ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM

ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG THẤT PHẢI Ở BỆNH NHÂN THÔNG LIÊN NHĨ BẰNG SIÊU ÂM ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM

tiện cận lâm sàng.Trên siêu âm tim 2D, thất phải có hình dạng trăng lưỡi liềm ôm lấy thất trái(mặt cắt ngang cạnh ức trái trên siêu âm 2D) và hình tam giác (mặt cắt dọc cạnh ức).Hình ảnh thất phải cũng bị ảnh hưởng bởi vị trí của vách liên thất với giải phẫu bìnhthường vách liên thất lồi về phía thất trái cả hai kỳ tâm tr ương và tâm thu. T rong cácbệnh lý tim bẩm sinh, người ta thường chia thất phải ra làm 3 thành phần : đường vào(van 3 lá, dây chằng và cơ nhú ); cơ bè vùng mỏm; phần phễu/ cổ (vùng cơ trơn đườngra thất phải). Khi nghiên cứu về giải phẫu thất phải, người ta chú ý đến ba dải cơchính: dải cơ thành, dải cơ vách bờ và dải cơ giữa. Dải vách bờ trải dài xuống dướivà nối với dải giữa. D ải cơ giữa dính vào đường ra thất phải chạy từ vách liên thấttới thành trước thất phải. Phần mỏm thất phải bè hóa mạnh và ít vận động.Một đặc tính nữa của thất phải là có nếp gấp phễu- thất, phân chia van ba lávà van động mạch phổi. Thể tích vùng đường ra chiếm khoảng 20-30% của thất phải .Do hình dạng phức tạp của thất phải cho nên khó đánh giá chính xác th ể tích thấtphải. Ở mặt cắt bốn buồng, có thể đáng giá thể tích thất phải do c ó mối tương quan tốtgiữa thể tích thất phải và đo trên mặt phẳng đơn đường kính trục ngang c ực đại vàdiện tích thất phải. Tuy vậy, tổn tại vùng chồng chéo giữa bình thường và tăng thểtích vừa và nhẹ. Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp chiều dài-diện tích sử dụngkiểu hình tháp hoặc elip cho kết quả tốt hơn phương pháp Simpson [18].131.6.2. Các phương pháp cận lâm sàng đánh giá chức năng thất phải1.6.2.1. Thông tim – thăm dò huyết độngTrước đây, thông tim được coi là "tiêu chuẩn vàng", giúp đánh giá các thông sốcung lượng tim, độ bão hoà oxy, áp lực buồng tim, áp lực động mạch phổi, kháng trởmạch phổi, đánh giá khả năng đảo ngược – đáp ứng của hệ mạch phổi. Qua đó, thầythuốc có thể đánh giá khả năng hồi phục mạch máu phổi khi dùng thu ốc giãn m ạch
Xem thêm

43 Đọc thêm

 THÔNG LIÊN THẤT

THÔNG LIÊN THẤT

thông. Trong nhiều yếu tố khác nhau, cần chú ý 2 yếu tố: Tăng áp sau mao mạch (hypertension post-capilaire) gây ra do mộtlợng máu lớn đổ vào nhĩ trái nhng van hai lá vẫn đóng và do tắcnghẽn chức năng van hai lá khi đã mở. Loại tăng áp này hình thànhbởi sự phản ứng do co thắt mạch phổi, lúc đầu chỉ có tính chứcnăng, về sau chuyển thành thực thể. áp lực cao dồn vào động mạch phổi mà mức độ áp lực phụ thuộctrớc hết vào kích thớc của lỗ thông. Đối với những trờng hợpthông liên thất rộng, áp lực cao này có thể làm mở giờng mạchphổi và gây co các tiểu động mạch phổi. Do vậy, trong một sốtrờng hợp ngời ta thấy tồn tại cấu trúc phổi bào thai với thànhđộng mạch dày, lòng động mạch hẹp và sức cản mạch phổi gầnbằng sức cản hệ thống. Ngợc lại phần lớn các trờng hợp, cấu trúcphổi bào thai mất đi làm tụt giảm sức cản mạch phổi và cho dùthông liên thất rộng, lúc này luồng thông trái - phải sẽ xuất hiện,đôi khi rất lớn gây suy tim nặng. Với khả năng giãn nở, mạch phổicó thể thích nghi với tình trạng tăng cung lợng máu mà không gâyra những thay đổi về áp lực phổi. Nhng đến một mức độ nào đómạch phổi không thể tiếp tục giãn ra đợc nữa và khi đó sẽ hìnhthành loại tăng áp phổi kiểu động - cinétique do cung lợng phổităng. Sau giai đoạn giảm xuống ban đầu này, sức cản mạch phổi sẽtăng dần trong 10 - 15% số trờng hợp: tăng cung lợng phổi dớiáp lực cao làm phì đại cơ lớp áo giữa của các tiểu động mạch (giaiđoạn I của Wagenvoort) rồi đến giai đoạn tăng sinh lớp áo trong(giai đoạn II), hyalin hoá và xơ hoá (giai đoạn III), sau cùng lànhững tổn thơng kính hoá với hoại tử và giãn khu trú (giai đoạnIV và V). Cung lợng luồng thông trái - phải giảm và có thể mất đinhng áp lực động mạch phổi vẫn cao. Tăng áp động mạch phổichuyển sang dạng tắc nghẽn. Những tổn thơng mô học này khôngthấy trớc 9 - 18 tháng tuổi (Hoffman, Rudolph).
Xem thêm

24 Đọc thêm

nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật không mở thất phải trong điều trị phẫu thuật triệt để tứ chứng fallot tại bệnh viện tim hà nội (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT KHÔNG MỞ THẤT PHẢI TRONG ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ TỨ CHỨNG FALLOT TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tứ chứng Fallot (viết tắt là TOF- Tetralogy of Fallot) là bệnh tim bẩm
sinh có tím thường gặp nhất chiếm xấp xỉ 1‰ trẻ sinh ra còn sống. Bệnh đặc
trưng bởi 4 tổn thương chính: hẹp động mạch phổi (ĐMP), thông liên thất
(TLT), động mạch chủ (ĐMC) cưỡi ngựa trên vách liên thất, phì đại thất phải.
Hậu quả của những bất thường giải phẫu là: lượng máu lên phổi giảm
đáng kể, có sự pha trộn giữa máu đen và đỏ trong tâm thất làm giảm bão hoà
oxy máu động mạch (ĐM). Bệnh nhân tím, tăng sinh hồng cầu, rối loạn đông
máu... có thể dẫn đến những cơn tím ngất, tử vong hoặc những biến chứng
nguy hiểm khác như tắc mạch não, áp xe não, viêm nội tâm mạc... Theo
Kirklin, nếu không được phẫu thuật, 25 % trẻ mắc bệnh chết trong năm đầu,
40% chết lúc 3 tuổi và 70 % chết lúc 10 tuổi. Nếu được phẫu thuật triệt để,
người bệnh sẽ có trái tim và cuộc sống gần như bình thường [75].
Những tiến bộ khoa học đã tạo ra cuộc cách mạng trong ngành phẫu thuật
tim. Năm 1954 và 1955, lần lượt Lillehei và Kirklin công bố những thành
công đầu tiên trong việc sửa triệt để TOF với những nguyên tắc cơ bản sau:
mở rộng đường ra thất phải qua mở phễu thất phải, vá TLT. Đây được coi là
phương pháp kinh điển và được áp dụng ở nhiều trung tâm mổ tim trên thế
giới cũng như ở Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại.
Tuy nhiên, tỷ lệ biến chứng và tử vong sau mổ TOF còn khá cao [9],
[10], [12]. Gần đây, dù có những tiến bộ vượt bậc trong gây mê, tuần hoàn
ngoài cơ thể và hồi sức hậu phẫu giúp cải thiện đáng kể kết quả phẫu thuật
nhưng những biến chứng và tỷ lệ tử vong cao vẫn là một thách thức đối với
các nhà phẫu thuật. Nguyên nhân được xác định là do việc mở thất phải đã
làm mất đi sự toàn vẹn của khối cơ thất, dẫn tới suy thất phải ngay sau mổ, về
lâu dài đó cũng là nguyên nhân của hở van ĐMP, trào ngược ĐMP, làm giảm khả năng gắng sức của bệnh nhân cũng như tăng tỷ lệ mổ lại để thay van
ĐMP [19], [24], [27], [37], [38], [39], [41], [70]. Một câu hỏi được đặt ra là:
có phương pháp phẫu thuật nào có thể khắc phục được tình trạng trên? Để trả
lời cho câu hỏi này, năm 1963 Hudspeth đã công bố phương pháp phẫu thuật
triệt để TOF không mở thất phải (TP): vá TLT và cắt bỏ phần cơ phì đại gây
hẹp đường ra TP được thực hiện qua van ba lá và van ĐMP. Kĩ thuật này đã
làm cho quy trình mổ TOF trở nên hoàn thiện vì đảm bảo sự toàn vẹn của tim
và thực sự nó đã đem lại những kết quả kì diệu cho bệnh nhân, tỉ lệ tử vong
sau mổ TOF chỉ còn rất thấp, về lâu dài cũng giảm được đáng kể các biến
chứng [52], [54], [91], [109].
Hiện nay, phẫu thuật triệt để TOF được triển khai tại nhiều trung tâm ở
Việt Nam đã mang lại cuộc sống bình thường cho hàng nghìn bệnh nhân.
Song song với phương pháp có mở thất phải, từ năm 2004, tại Viện Tim
Thành phố Hồ Chí Minh và bệnh viện Tim Hà Nội đã áp dụng thường qui
phương pháp không mở TP với kết quả ngắn hạn rất đáng ghi nhận. Tuy
nhiên, việc đánh giá xa sau mổ về hoạt động cơ năng, nguy cơ tái hẹp đường
ra TP, hở van ĐMP, tỷ lệ mổ lại và tử vong xa... còn chưa đầy đủ. Mặt khác,
phẫu thuật triệt để TOF của các trung tâm mổ tim lớn trên thế giới hiện nay
chủ yếu ở trẻ dưới một tuổi trong khi ở Việt Nam, với nhiều lý do mới chỉ tiến
hành chủ yếu ở trẻ trên một tuổi. Vậy việc áp dụng kĩ thuật này trên bệnh
nhân Việt Nam kết quả ra sao và có gì cần chú ý? Xuất phát từ thực tế trên,
chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật không mở thất
phải trong điều trị phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot tại bệnh viện Tim
Hà Nội” nhằm hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phẫu thuật triệt để tứ chứng
Fallot không mở thất phải.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot không mở thất
phải tại bệnh viện Tim Hà Nội.
Xem thêm

341 Đọc thêm

nghiên cứu các chỉ số doppler mô cơ tim bình thường của thất trái theo phân vùng dọc và ngang cạnh ức

NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ SỐ DOPPLER MÔ CƠ TIM BÌNH THƯỜNG CỦA THẤT TRÁI THEO PHÂN VÙNG DỌC VÀ NGANG CẠNH ỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ


Siêu âm tim là phương pháp đánh giá chức năng tim không xâm nhập, là phương tiện chẩn đoán có giá trị quyết định trong nhiều bệnh lý tim mạch và là sự tiếp nối hợp lý của khám lâm sàng và đọc điện tim của bệnh nhân tim mạch, giúp chúng ta lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp nhất.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các phương pháp siêu âm tim truyền thống (2D, TM, doppler các dòng chảy qua các van tim) cũng gặp các khó khăn do tình trạng tăng áp lực đổ đầy thất trái, tăng áp lực nhĩ trái tạo các hình ảnh giả bất thường khi đánh giá chức năng tâm trương, hoặc do ảnh hưởng của tiền gánh, tình trạng rung nhĩ, cũng như nhịp tim nhanh. Còn khi đánh giá chức năng tâm thu thất trái theo phương pháp Simpson lại gặp khó khăn do không xác định chính xác được màng trong tim. Siêu âm Doppler mô cơ tim (Tissue Doppler Imaging – TDI) là phương pháp bổ sung khắc phục được những nhược điểm của siêu âm truyền thống đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.[ ]
Siêu âm Doppler mô cơ tim cho biết vận động của thành tim trong các kỳ tâm thu và tâm trương, tức là những thông tin liên quan đến chức năng tâm thu và tâm trương của tâm thất. Doppler mô vòng van hai lá là kỹ thuật tốt, đánh giá khả năng dãn của cơ tim và không như doppler quy ước dòng chảy qua van hai lá; nó ít chịu ảnh hưởng của tiền gánh và hậu gánh.[21 nav]Một số ứng dụng hiện nay: đánh giá chức năng tâm thu thất trái, đánh gía áp lực đổ đầy thất trái và suy tim tâm trương, nhận diện mẫu Doppler giả bình thường trong giảm chức năng tâm trương thất trái, đánh giá chức năng thất phải, phân biệt viêm màng ngoài tim co thắt với bệnh cơ tim hạn chế, chẩn đoán sớm bất thường gene, chẩn đoán sự mất đồng vận của thất . [21 nav].
Muốn nhận biết được những bất thường vận động thành tim thì phải nắm vững được các chỉ số bình thường.
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có công bố đầy đủ về các chỉ số Doppler mô tim bình thường. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu các chỉ số Doppler mô cơ tim bình thường của thất trái theo phân vùng dọc và ngang cạnh ức” nhằm các mục đích:
1. Khảo sát các chỉ số Doppler mô vòng van 2 lá và một số phân vùng dọc và ngang cạnh ức của thất trái ở ngườii bình thường từ 18 đến 59 tuổi.
2. Xác định mối tương quan giữa các chỉ số Doppler mô với tuổi, giới , chỉ số Doppler qui ước (chỉ số VE/VA).
Xem thêm

91 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TIM THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TIM THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thất phải hai đường ra (TPHĐR) là bệnh tim bẩm sinh bất thường kết
nối giữa tâm thất và đại động mạch, trong đó hai đại động mạch xuất phát
hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn từ thất phải [1]. Bệnh tim bẩm sinh phức
tạp này bao gồm rất nhiều thay đổi đa dạng về hình thái giải phẫu bệnh học
cũng như sinh lý bệnh học [2]. Sự không đồng nhất trong các hình thái của
bệnh lý TPHĐR đã dẫn tới nhiều tranh cãi trong lịch sử của chuyên ngành tim
mạch bẩm sinh. Tùy theo hình thái giải phẫu bệnh học và các thương tổn phối
hợp của từng trường hợp TPHĐR cụ thể mà dẫn đến các biểu hiện bệnh khác
nhau. Ví dụ như một số thể bệnh gần giống với tứ chứng Fallot nếu có hẹp
đường ra thất phải (ĐRTP) kèm theo, hoặc thương tổn của một thông liên thất
(TLT) nặng nếu không kèm theo hẹp ĐRTP, hay có thể tương tự như chuyển
gốc động mạch kèm theo TLT [3],[4]. Những trường hợp TPHĐR phối hợp
với các thương tổn phức tạp khác trong tim như bất tương hợp nhĩ - thất hoặc
những bệnh lý một tâm thất không nằm trong nhóm nghiên cứu này.
TPHĐR là bệnh lý ít gặp với tần suất từ 1-1,5% trong các bệnh tim bẩm
sinh. Trong 1 triệu trẻ ra đời sống sót thì trung bình có khoảng 157 trẻ bị bệnh
TPHĐR [5]. Hình thái học của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mối liên
quan giữa lỗ TLT với các van nhĩ thất, tương quan giữa động mạch chủ
(ĐMC) và động mạch phổi (ĐMP), giải phẫu của động mạch vành (ĐMV), có
hay không thương tổn tắc nghẽn đường ra của hai thất, khoảng cách giữa van
ba lá và vòng van ĐMP, và các bất thường tim bẩm sinh khác phối hợp với
bệnh [6],[7],[8],[9]. Theo phân loại năm 2000 của Hiệp hội các phẫu thuật
viên lồng ngực - Society of Thoracic Surgeon (STS) và Hiệp hội phẫu thuật
tim mạch lồng ngực Châu Âu - European Asociation of Cardiothoracic
Surgery (EACTS), bệnh TPHĐR được phân loại thành 4 thể khác nhau bao
gồm thể TLT, thể Fallot, thể chuyển gốc động mạch và thể TLT biệt lập với
những biểu hiện lâm sàng tương đối giống với các bệnh đó [1]. Siêu âm tim với xung và thăm dò Doppler màu giúp chẩn đoán xác định
và đánh giá tương đối toàn diện cho phần lớn các trường hợp bệnh nhân
TPHĐR [10],[11]. Các thăm dò như thông tim chẩn đoán, chụp CT đa dãy
hoặc MRI cũng góp phần bổ sung cho siêu âm tim trong chẩn đoán bệnh
[12],[13],[14].
Phẫu thuật sửa chữa toàn bộ của bệnh TPHĐR đầu tiên đã được Kirklin
tiến hành vào tháng 5 năm 1957 tại Mayo Clinic với chẩn đoán TPHĐR thể
TLT dưới van ĐMC [15]. Những báo cáo đầu tiên về phẫu thuật thành công
TPHĐR thể chuyển gốc động mạch được ghi nhận vào những năm 1967 và
1969 [16]. Bệnh lý TPHĐR có nhiều phương pháp phẫu thuật sửa toàn bộ
khác nhau tùy theo từng thể bệnh và thương tổn trên từng bệnh nhân cụ thể.
Kết quả điều trị phẫu thuật của bệnh này tại các trung tâm tim mạch lớn trên thế
giới đạt được tỷ lệ sống còn sau phẫu thuật sửa chữa toàn bộ khoảng 80% - 95%
sau 10 năm tùy theo từng thể bệnh [17],[18],[19],[20],[21].
Tại Việt Nam chỉ một vài bệnh viện có khả năng phẫu thuật sửa chữa
toàn bộ cho các bệnh nhân TPHĐR, do vậy còn nhiều bệnh nhân vẫn chưa
được điều trị kịp thời và thậm chí tử vong trước khi được tiến hành phẫu thuật.
Đồng thời cũng chưa có nghiên cứu cụ thể nào đánh giá về hình thái giải phẫu,
lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị bệnh lý này ở Việt Nam
hiện nay. Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị
bệnh lý này, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu lâm
sàng và kết quả sớm điều trị phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tim thất phải
hai đƣờng ra” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng theo thể tổn thương giải phẫu của bệnh lý
thất phải hai đường ra
2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật sửa toàn bộ điều trị bệnh thất
phải hai đường ra
Xem thêm

164 Đọc thêm

Đắng lòng thai nhi bị tật bẩm sinh

ĐẮNG LÒNG THAI NHI BỊ TẬT BẨM SINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Dị tật bẩm sinh là một chủ đề khá nhạy cảm mà ít mẹ bầu nào muốn nhắc đến, nhưng với con số thống kê của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu á – Thái Bình Dương (ESCAP) vào năm 2002, hiện trong 5 triệu người tàn tật tại Việt Nam có đến 34,2% là do dị tật bẩm sinh, 1 con số không hề nhỏ, thì mẹ bầu cần phải quan tâm hơn đến các nguyên nhân gây dị tật cho bé ngay trước hoặc trong thai kỳ, để phòng tránh tối đa các rủi ro có thể xảy ra. Nhất là trong khoảng 60 – 70% dị tật bẩm sinh không rõ nguyên nhân vẫn bắt nguồn từ yếu tố môi trường hoặc di truyền. Do đó, hiểu biết về các loại dị tật bẩm sinh sẽ giúp mẹ bầu chủ động trong việc phòng ngừa dị tật cho bé yêu nhà mình, đồng thời cũng an tâm và bình tĩnh hơn khi đối diện với những nguy cơ cảnh báo dị tật được phát hiện trong những lần thăm khám tiền sản suốt thai kỳ và cả sau khi sinh bé. Sau đây là những dị tật bẩm sinh phổ biến nhất, nguyên nhân, biểu hiện cũng như 1 số cách phát hiện, phòng tránh và điều trị mà mẹ bầu cần phải biết.   Thăm khám trước thụ thai và trong suốt thai kỳ giúp mẹ phát hiện và can thiệp kịp thời các dị tật bẩm sinh nếu có ở thai nhi (hình minh họa) 1. Hội chứng Down Là một chứng rối loạn nhiễm sắc thể, hội chứng Down xảy ra khi tế bào của bé có 3 nhiễm sắc thể 21 thay vì thông thường là 2. Cứ 800 – 1000 trẻ mới sinh thì có 1 bé bị bệnh này. Nguy cơ sinh con bị Down sẽ tăng theo tuổi tác của người mẹ. Theo thống kê cho thấy, trong 350 ca sinh ở người mẹ ngoài 35 tuổi sẽ có 1 trẻ bị Down. Ở tuổi 40, tỷ lệ này tăng vọt lên 1/100 và tuổi 45 là 1/30. Khoảng 85 – 90% thai bị Down chết từ giai đoạn phôi, những trẻ sinh và sống sót phần lớn mắc bệnh do bất thường ngẫu nhiên trong quá trình thụ tinh, chỉ khoảng 5% di truyền. Trẻ mắc bệnh Down thường có đặc điểm như: lưỡi như bị thò ra, mắt lệch về phía góc trong, mặt có các nếp gấp. Phần ót của đầu thẳng và 2 tai không bình thường. Bé khá yếu ớt, 2 bàn tay, bàn chân ngắn và bè. Lòng bàn tay, bàn chân có nếp gấp ngang. Thêm vào đó bé có thể bị tim bẩm sinh hoặc bị tâm thần. Tuy vậy bệnh Down cũng được chia ra thành nhiều cấp độ và có nhiều trẻ mắc hội chứng Down vẫn bình thường gần như các bé khác, 1 số trẻ còn có thể sống độc lập nhờ vào sự hỗ trợ và giáo dục ân cần của cha mẹ ngay từ bé. 2. Hội chứng bàn chân vẹo Có thể được phát hiện qua siêu âm ngay từ giai đoạn bào thai, hội chứng bàn chân vẹo chủ yếu do di truyền và chiếm tỷ lệ 1/1000 ca sinh. Đây là dị tật chiếm tỷ lệ cao nhất so với các dị tật khác ở cơ quan vận động. Bé sinh ra với 1 hoặc cả 2 chân có lòng bàn chân quay xuống và quay vào trong, hoặc quay lên trên và quay ra ngoài.   Tham vấn di truyền trước khi quyết định thụ thai giúp mẹ bầu có nhiều cơ hội tránh được dị tật bẩm sinh như hội chứng bàn chân vẹo (hình minh họa) Cách điều trị phổ biến là thực hiện bó bột nhằm nắn chỉnh dáng bàn chân và chân cho bé, gồm các lần nắn chỉnh nhẹ nhàng bàn chân, rồi bó bột từ bàn chân lên đến đùi. Các lần nắn bó bột cách nhau 1 tuần, được lặp lại trong 5 – 8 tuần nhằm chỉnh dần các xương vào đúng vị trí. Để tránh tái phát, sau khi nắn và bó bột, bé sẽ được cho mang 1 đôi giày cao cổ, hở các ngón chân và gắn vào 1 thanh kim loại nhằm giữ bàn chân xoay ra ngoài, kết hợp tập luyện thêm để phục hồi chức năng. Thời điểm điều trị lý tưởng là sau khi sinh bé từ 1 – 2 tuần, vì đây là lúc các gân, dây chằng của bàn chân còn mềm dẻo. 3. Chứng lỗ niệu lệch cao và thấp Xuất hiện ở bé trai với tỷ suất 1/1000. Với chứng lỗ niệu lệch cao thì lỗ dẫn tiểu nằm phía bên trên của dương vật, dương vật có thể cong lên trên, còn với chứng lỗ niệu lệch thấp, lỗ dẫn tiểu lại nằm ngay phía dưới qui đầu và dương vật có thể cong xuống dưới. Một hình thức lỗ  niệu lệch thấp nghiêm trọng nhưng hiếm gặp là lỗ niệu nằm giữa 2 tinh hoàn và hậu môn, do đó bộ phận sinh dục của bé có thể giống như bé gái. Hầu hết các dị tật này đều có thể can thiệp bằng phẫu thuật sớm, với tỷ lệ thành công cao mà không ảnh hưởng đến chức năng tiểu tiện và hoạt động tình dục sau này. 4. Tật sứt môi và hở hàm ếch Tại Việt Nam, dị tật sứt môi, hở hàm ếch ở trẻ sơ sinh khá phổ biến, với tỷ lệ khoảng 1/800 – 1000 ca sinh. Dị tật này xảy ra do sự phát triển không đầy đủ của phần môi trên, vòm miệng, hoặc cả hai, và có thể được phát hiện qua siêu âm trong thai kì. Hầu hết các trường hợp không xác định được nguyên nhân chính xác, tuy nhiên các bác sĩ tin rằng dị tật này là sự kết hợp của yếu tố di truyền và môi trường (như mẹ sử dụng một loại thuốc nào đó, mẹ bệnh, hút thuốc hoặc uống rượu khi mang thai …). Nguy cơ trẻ mắc bệnh này càng cao khi tiền sử gia đình có người mắc tật sứt môi, hở hàm ếch.   Tật sứt môi, hở hàm ếch hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu can thiệp sớm trong vòng 12 – 18 tháng sau khi sinh bé (hình minh họa) Các khuyết tật này có thể làm bé bú khó, chỗ hở có thể dẫn sữa vào đường mũi làm bé bị sặc và ngạt thở. Ngoài ra, trẻ còn có thể mắc thêm các bệnh về răng như thiếu, thừa, dị hình, răng mọc lộn xộn .v.v…, đặc biệt rất dễ bị nhiễm trùng tai. Thông thường, trẻ sẽ được phẫu thuật để kiến tạo lại môi trong vòng 12 – 18 tháng sau sinh để sửa chữa khiếm khuyết và cải thiện hình thể khuôn mặt. 5. Bệnh tim bẩm sinh (chứng thông liên thất) Thông liên thất là hình thức thông thường nhất của chứng tim bẩm sinh, có thể phát hiện qua siêu âm trong thai kỳ, hoặc thường khoảng 4 tuần sau sinh sẽ xuất hiện các triệu chứng như sắc xanh xanh trên da, đặc biệt da xung quanh miệng, bé thở yếu hoặc thở khó, hay không thể thở được lúc đang bú. Nguyên nhân là do quá trình phát triển thai nhi gặp trục trặc dẫn đến 1 lỗ nhỏ xuất hiện trong vách tim, là vách ngăn giữa 2 tâm thất phải và trái, làm các tâm thất được thông với nhau thay vì phải ngăn cách ra. Bệnh có thể gặp ở 2 – 6 trẻ/1000 ca sinh, chiếm tỷ lệ khoảng 30 – 60% trẻ sơ sinh. Thường trẻ mắc dị tật này không cần mổ do cái lỗ ấy sẽ bít lại 1 cách tự nhiên, chỉ can thiệp phẫu thuật trong các trường hợp: thông liên thất kích thước lớn, thông liên thất có tăng áp lực động mạch phổi trung bình, thông liên thất vùng phễu v.v…   Chứng thông liên thất ở bé có thể phát hiện được qua siêu âm trong những lần mẹ bầu khám tiền sản (hình minh họa) 6. Nứt đốt sống Mặc dù chưa có thống kê cụ thể, nhưng tỷ lệ trẻ sinh ra mang dị tật nứt đốt sống tại Việt Nam Khá cao, khoảng 1/ 250 – 500 ca sinh. Nứt đốt sống là một dị tật ống thần kinh xảy ra do 1 vài đốt xương sống không khép kín trên tủy sống làm lộ tủy sống, màng và dịch não tủy dưới dạng 1 “túi thần kinh” mềm sẫm màu mọc ở trên lưng dọc theo cột sống. Túi này được phủ 1 lớp màng mỏng nên có thể bị rò rỉ làm thoát dịch não tủy ra ngoài. Nứt đốt sống được chia thành 2 dạng: nứt đốt sống dạng đóng là dạng nhẹ nhất, biểu hiện ở việc xuất hiện đám lông bất thường, hoặc có tình trạng tụ mỡ dưới da, một vết lõm hoặc vết chàm phía trên da vùng đốt sống bị nứt; nứt đốt sống dạng mở bao gồm 2 loại là thoát vị màng não và thoát vị màng não – tủy. Người mẹ thiếu axit folic trước và trong thai kỳ, gia đình có tiền sử bị dị tật ống thần kinh, mẹ dùng 1 số loại thuốc khi mang thai, mẹ bị tiểu đường thai kì hoặc trong những tháng đầu mang thai, mẹ bị tăng nhiệt độ cơ thể do sốt cao, tắm hơi, tắm trong bồn nước nóng v.v… là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc tật nứt đốt sống ở trẻ. Nứt đốt sống gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe của bé như dễ bị nhiễm trùng, viêm màng não, co cơ, bị liệt, bàn chân bị khèo, khó kiểm soát đại tiểu tiện, não úng thủy, tổn thương não (dẫn đến mù, chậm trí, động kinh hoặc bại não), dị ứng chất latex (nhựa cao su) v.v…Trẻ sinh ra bị tật nứt đốt sống sẽ có nhiều cơ hội sống nếu được mổ sớm trong vòng 48 giờ sau sinh, kết hợp điều trị vật lý trị liệu, thần kinh, tiết niệu, tiêu hóa v.v… Có thể phòng ngừa tật nứt đốt sống và các dị tật ống thần kinh nói chung bằng cách bổ sung axit folic trước khi thụ thai 1 tháng và kéo dài suốt 3 tháng đầu của thai kì, khoảng từ 0,4 – 1 mg/ngày. Với những mẹ có nguy cơ cao sinh con bị loại dị tật này như đã sinh con bị dị tật ống thần kinh, đang sử dụng thuốc chống động kinh v.v… cần dùng liều cao hơn theo đúng chỉ định của  bác sĩ.   Uống axit folic trước và trong khi mang thai giúp mẹ bầu hạn chế cho bé chứng nứt đốt sống  cũng như các dị tật ống thần kinh khác (hình minh họa) 7. Hậu môn không lỗ Dù là dị tật hiếm gặp, với tỷ lệ 1/5000 trẻ sơ sinh, nhưng hậu môn không lỗ vẫn là loại dị tật gây nhiều hoang mang cho các bậc phụ huynh nếu chẳng may bé sinh ra mắc phải tật này. Đến nay khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân cụ thể của tật hậu môn không lỗ, nhưng tỷ lệ mẹ bị nhiễm virus, tiếp xúc với tia phóng xạ hoặc dùng thuốc trong thai kỳ sinh con bị tật này khá cao. Hậu môn không lỗ là tình trạng hậu môn bị bít lại, hoặc do 1 màng da mỏng bao lấy lỗ ra, hoặc bởi vì ống nối giữa hậu môn và ruột già không phát triển. Túi trực tràng cũng có thể nối với âm đạo, với niệu đạo hoặc bàng quang. Khi phát hiện dị tật này, ngay lập tức phải được can thiệp bằng phẫu thuật vì để lâu có thể ảnh hưởng đến tính mạng của bé.
Xem thêm

5 Đọc thêm

ĐIỆN TÂM ĐỒ TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

ĐIỆN TÂM ĐỒ TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

Quyển sách mô tả chi tiết cách tiếp cận điện tâm đồ nhồi máu cơ tim cấp cho người mới học, các chú giải nâng cao, dễ hiểu và áp dụng.
PHẦN I: CÁC DẠNG ECG VÀ CHẨN ĐOÁN AMI
1 Các Nguyên Lý Cơ Bản và Điện Sinh Lý
2 Thuật Ngữ Và Các Loại ECG Trong Hội Chứng Vành Cấp
3 Vai Trò Của ECG Trong Liệu Pháp Tái Tưới Máu
4 Tương Quan Giải Phẫu và ECG
5 ECG Bình Thường và Không Đặc Trưng
6 Nhồi Máu Cơ Tim Cấp và Đoạn ST Chênh Lên
7 ST Chênh Xuống Soi Gương
8 ST Chênh Xuống và Sóng T Âm
9 ECG Bất Thường Khó Thấy và Sóng T Cao Cấp Tính
10 So Sánh Chuỗi ECG và Theo Dõi Đoạn ST Liên Tục
11 Sóng Q
PHẦN II: CÁC DẠNG ECG TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
12 Nhồi Máu Cơ Tim Thành Trước
13 Nhồi Máu Cơ Tim Thành Dưới
14 Nhồi Máu Cơ Tim Thành Bên
15 Nhồi Máu Cơ Tim Thành Thất Phải
16 Nhồi Máu Cơ Tim Thành Thành Sau
PHẦN III. CÁC TÌNH TRẠNG CHE LẤP CHẨN ĐOÁN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
17 Block Nhánh Phải và Block Phân Nhánh
18 Block Nhánh Trái
19 Nhịp Thất Nhân Tạo Bằng Máy Tạo NhịpPHẦN IV: CÁC HÌNH ẢNH ECG GIẢ NHỒI MÁU VÀ GIỐNG NHƯ NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
20 Sự Thay Đổi Bình Thường: Tái Cực Sớm Lành Tính và Sóng T Đảo Lành Tính
21 Đau Ngực Liên Quan Cocaine
22 Phì Đại Thất Trái
23 “Phình Thất”: ST Chênh Lên Duy Trì Sau Nhồi Máu Cơ Tim Trước Đó
24 Viêm Màng Ngoài Tim và Viêm Cơ Tim
25 Tăng Kali Máu
PHẦN V: CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
26 Khó Thở, Phù Phổi, và Ngừng Tim
27 Tái Tưới Máu và Tái Tắc Nghẽn
28 Thủng Tim và Viêm Màng Ngoài Tim Vùng Sau Nhồi Máu Cơ Tim
29 Giá Trị Của Men Tim Trong Việc Chẩn Đoán và Chọn Lựa Biện Pháp Tái Tưới Máu
30 Chức Năng Của Siêu Âm Tim Trong Việc Chỉ Định Tái Tưới Máu
PHẦN VI: ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
31 Tiêu Huyết Khối và ECG Trước Nhập Viện
32 Rút Ngắn Thời Gian Cửa Sổ Bóng và Thời Gian Cửa Sổ Kim
33 Thời Gian Cửa Sổ Của Liệu Pháp Tái Tưới Máu
34 Nguy Cơ Đột Quỵ và Chống Chỉ Định Của Tiêu Huyết Khối
35 Tóm Tắt Phân Tích Tỷ Số Lợi ÍchNguy Cơ Của Tiêu Huyết Khối
36 Liệu Pháp Tái Tưới Máu Cho Bệnh Nhân STEMI
37 Liệu Pháp Tái Tưới Máu Cho Bệnh Nhân Có Hội Chứng Vành Cấp Không Có ST Chênh Lên (UANSTEMI
Xem thêm

287 Đọc thêm

Nghiên cứu hình thái chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler trước và sau phẫu thuật đóng thông liên nhĩ

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI CHỨC NĂNG THẤT PHẢI VÀ ÁP LỰC ĐỘNG MẠCH PHỔI BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT ĐÓNG THÔNG LIÊN NHĨ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thông liên nhĩ là bệnh lý thường gặp trong các bệnh lý tim bẩm sinh,
chiếm tỷ lệ khoảng 15-20% trong tổng số bệnh tim bẩm sinh [6]. Mức độ ảnh
hưởng trên tim tùy thuộc vào kích thước lỗ thông cũng như các bệnh tim phối
hợp. Phần lớn trẻ em bị thông liên nhĩ là không có triệu chứng hoặc có triệu
chứng cơ năng không rõ rệt, do đó trẻ thường sống đến tuổi trưởng thành. Sự
quá tải về khối lượng và áp lực trong nhĩ phải, thất phải và động mạch phổi
lâu ngày dẫn đến sự dãn nhĩ phải và thất phải, và trong nhiều trường hợp sự
gia tăng tuần hoàn phổi gây ra những hậu quả nghiêm trọng như tăng áp lực
động mạch phổi và suy tim phải. Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng
như mệt, khó thở, hồi hộp, nhiễm trùng đường hô hấp dưới tái diễn và thậm
chí là thuyên tắc mạch do huyết khối. Đóng lỗ thông liên nhĩ là một chỉ định
điều trị lựa chọn cho bệnh lý thông liên nhĩ có tăng rõ rệt tỷ số lưu lượng máu
phổi và hệ thống, đặc biệt có sự quá tải thể tích thất phải cho dù bệnh nhân có
hoặc không có triệu chứng.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển vượt bật của khoa học
kỹ thuật việc đóng lỗ thông liên nhĩ qua catheter được áp dụng rộng rãi ở các
trung tâm tim mạch ở các nước tiên tiến. Ở Việt Nam đóng lỗ thông liên nhĩ
bằng phẩu thuật vẫn là phương pháp phổ biến nhất do chuyên ngành thông
tim can thiệp chỉ mới bước đầu xây dựng và phát triển. Việc chẩn đoán và
đánh giá các yếu tố về hình thái, chức năng và huyết động trong bệnh lý thông
liên nhĩ ngày càng trở nên chính xác hơn nhờ các phương tiện chẩn đoán và
thăm dò huyết động tiến bộ như siêu âm 2D, siêu âm Doppler, thông tim bằng
catheter Swan-Ganz, MRI… qua đó việc điều trị ngày càng có hiệu quả cao
đem lại chất lượng sống thực sự cho những bệnh nhân thông liên nhĩ. Tuy
nhiên, siêu âm tim Doppler để chẩn đoán, đánh giá và thăm dò chức năng tim mạch vẫn là một sự lựa chọn hàng đầu do tính hiệu quả và sự tiện ích do nó
đem lại trong lĩnh vực thực hành lâm sàng, đặc biệt trong lĩnh vực chẩn
đoán,chỉ định lựa chọn phương thức điều trị cũng như hồi sức sau phẫu thuật
tim,vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hình thái chức
năng thất phải và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler trước và
sau phẫu thuật đóng thông liên nhĩ”, nhằm hai mục tiêu sau:
1. Khảo sát sự biến đổi các thông số siêu âm Doppler tim về hình thái,
chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi trước và sau phẫu
thuật đóng thông liên nhĩ.
2. Tìm hiểu mối liên hệ giữa các thông số siêu âm Doppler về hình thái
và chức năng thất phải với kích thước lỗ thông liên nhĩ và áp lực
động mạch phổi trước phẫu thuật.
Xem thêm

75 Đọc thêm

GIÁO ÁN TÍCH HỢP LIÊN MÔN SINH HỌC 9 BÀI PROTEIN VÀ SỰ SỐNG

GIÁO ÁN TÍCH HỢP LIÊN MÔN SINH HỌC 9 BÀI PROTEIN VÀ SỰ SỐNG

biết các tác nhân gây hại cho hệ tiêu hóa và biết tuyên truyền vận động bạn bè và1những người thân biết cách bảo vệ hệ tiêu hóa của bản thân phòng tránh các bệnh vềtiêu hóa như bệnh gout, bệnh suy dinh dưỡng, hiểu được cơ sở khoa học của quytrình sản xuất đậu phụ an toàn, biết bảo vệ môi trường sống; biết ăn uống khoa họchợp vệ sinh….+ Giải thích được tại sao cần phải uống sữa sau khi tiếp xúc với hóa chất độc hại, tạisao không nên giặt quần áo bằng vải lụa tơ tằm hoặc áo len lông cừu bằng xà phònggiàu tính kiềm….3.Thái độ và tình cảm:- Qua phần tổng hợp kiến thức liên môn, học sinh thấy các kiến thức ở các bộ môntrên có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất. Từ đó HS hiểu bài sâu sắc hơn, do đótạo hứng thú học tập bộ môn và niềm đam mê khoa học.- Qua phần dạy học theo chủ đề Protein và sự sống, tích hợp kiến thức liên môn, họcsinh hiểu rằng protein là thành phần cấu tạo nên chất nguyên sinh, các bào quan vàmàng sinh chất của mọi tế bào.Vì vậy con người nói riêng và động vật nói chung,muốn tồn tại và phát triển cần phải được cung cấp đầy đủ protein trong các bữa ănhàng ngày theo đúng tiêu chuẩn cho 1 người/ 1 ngày để phòng bệnh suy dinh dưỡngvà bệnh gout.- Qua phần tích hợp kiến thức về thức ăn và sự tiêu hóa thức ăn học sinh hiểu rằngthức ăn là những chất thô, cơ thể chưa hấp thụ được vì vậy phải qua quá trình tiêuhóa biến thức ăn thành những chất đơn giản dễ hấp thu vào cơ thể. Muốn sự tiêu hóathức ăn được thuận lợi và các chất được hấp thụ tối đa để tạo ra năng lượng giúp cơthể tồn tại thì các em phải biết cách vệ sinh hệ tiêu hóa bảo vệ hệ tiêu hóa khỏi cáctác nhân có hại và đảm bảo tiêu hóa có hiệu quả, như: ăn chín, uống sôi, ăn đúng giờ,đúng bữa.Từ đó HS tự giác thực hiện tốt việc phòng bệnh tiêu hóa nâng cao sức khỏe và thểlực, biết ăn uống khoa học hợp vệ sinh, đồng thời tuyên truyền hướng dẫn cho người
Xem thêm

20 Đọc thêm

TRẮC NGHIỆM DINH DƯỠNG TUẦN HOÀN TRẺ EM

TRẮC NGHIỆM DINH DƯỠNG TUẦN HOÀN TRẺ EM

B. Gần bằng người lớnC. Không thay đổi theo tuổi@D. Thay đổi theo tuổiE. Thay đổi theo cân nặngĐể đo huyết áp ở trẻ em cần tuân thủ:A.Trẻ phải được giữ cố định, băng quấn đo huyết áp phải không quá nhỏB.Trẻ không vùng vẫy, băng quấn đo huyết áp phải không quá lớnC.Trẻ nằm yên, băng quấn đo huyết áp không lớn hơn 1/2 chiều dài cánh tay@D.Trẻ nằm yên, băng quấn đo huyết áp bằng 2/3 chiều dài cánh tayE. Tất cả đều saiDị tật nào dưới đây sẽ làm cho trẻ chết ngay sau sinh:A.Thân chung động mạchB. Đảo gốc động mạch kèm thông liên thất@C. Đảo gốc động mạch đơn thuầnD.Một tâm thất chungE.Một tâm nhĩ chungDị tật nào dưới đây của tim luôn đi kèm với tồn tại ống động mạch sau sinh:A.Thông liên nhĩB.Thông liên thấtC.Thông sàn nhĩ thất@D.Teo tịt van động mạch phổiE.Thân chung động mạchCông thức Molchanov dùng để tính huyết áp tối đa của trẻ em > 1 tuổi là:A. 80 + n (n: là số tuổi)B. 80 + 10(n-1)@C. 80 + 2nD. 80 + (10-n)E. 80 + 2(n-1)Sau khi ra đời động mạch rốn thoái hoá thành:A. dây chằng động mạch
Xem thêm

3 Đọc thêm

BIẾN CHỨNG NHỒI MÁU CƠ TIM

BIẾN CHỨNG NHỒI MÁU CƠ TIM

Bài giảng chuyên đề BIẾN CHỨNG NHỒI MÁU CƠ TIM của tác giả Nguyễn Lân Việt là tài liệu giúp cho người học nắm được những kiến thức có liên quan như: Biến chứng cơ học, Các rối loạn nhịp, Suy chức năng thất trái và sốc tim, Nhồi máu cơ tim thất phải, Đau ngực tái phát sau nhồi máu cơ tim, Các biến chứng tắc mạch, Biến chứng viêm màng ngoài tim.

25 Đọc thêm