KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI VỀ CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI VỀ CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH":

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ do công ty hợp danh kiểm toán việt nam thực hiện

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP: HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ DO CÔNG TY HỢP DANH KIỂM TOÁN VIỆT NAM THỰC HIỆN

Sau 2 năm gia nhập vào tổ chức kinh tế lớn nhất hành tinh WTO kinh tế cả nước đã thu được những thành tựu nhất định song bên cạnh đó là những thách thức đòi hỏi chúng ta kịp thời hoàn thiện trong thời gian sắp tới..Trong bối cảnh đó tính trung thực hợp lý của thông tin kiểm toán của các báo cáo tài chính ngày càng đòi hỏi khắt khe thì vai trò của kiểm toán ngày càng được khẳng định.Tính minh bạch của các báo cáo tài chính đã được kiểm toán đem lại độ tin cậy cho những người sử dụng thông tin không chỉ là bản thân các doanh nghiệp,đặc biệt với các nhà đầu tư không chỉ trong nước mà cả từ nước ngoài.Để đáp ứng nhu cầu nhân lực kiểm toán có chất lượng cao từ h đến năm 2010 các trường đại học thuộc khối kinh tế không ngừng nâng cao chất lượng giảng dậy nhằm cung cấp cho xã hội nói chung và ngành kiểm toán nói riêng những sinh viên ra trường không chỉ đáp ứng nhu cầu về chuyên môn sánh kịp các nước trong khu vực mà còn cả trang bị cho sinh viên đạo đức nghề nghiệp.Việc học tập phải đi đôi với thực hanh nhằm hoàn thiện và bồ sung những kiến thức thực tế cho sinh viên.sau 3 tháng thực tập tại công ty hợp danh kiểm toán việt nam_CPA VN em đã giúp em nắm bắt phần nào về công việc của 1 kiểm toán viên cũng như ứng dụng những lý thuyết đã học được trên ghế nhà trường vào thực tế làm việc.
Trong quá trình tiếp xúc với thực tế công việc em nhận thấy doanh thu là khoản mục trọng yếu,nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như người trực tiếp sử dụng thông tin từ báo cáo tài chính.Doanh thu luôn là khoản mục được chú trọng trong mỗi cuộc kiểm toán.Do đó em chon đề tài cho chuyên đề thực tập là “Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ do công ty hợp danh kiểm toán việt nam thực hiện”
Xem thêm

60 Đọc thêm

BÁO cáo thực tập công ty cổ phần xây dựng và tư vấn thiết kế hoà bình

BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ HOÀ BÌNH

Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển nhờ chính sách mở cửa thị trường đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển tuy nhiên bên cạnh nhưng cơ hội đó các doanh nghiệp luôn phải đối đầu với những thách thức không lường trước và điều đó có thể anh hưởng lớn đến nên kinh tế của nước ta vì vậy cần phải quản lý điều hành kinh tế trong công ty doanh nghiệp mình một cách chặt chẽ và thận trọng vì thế mỗi doanh nghiệp luôn có một bộ máy kế toán tái chính để giải quyết những vấn đề cấp thiết đó.
Kế toán tài chính là một bộ phận cấu thành quan trọng của hề thống công cụ quản lý kinh tế tài chính nó đóng vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế là một công cụ quản lý kinh tế kế toán tài chính là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, với một sinh viên kế toán cần phải nắm vững kiến thức cơ bản về chức năng, nhiệm vụ, của hệ thống tổ chức của doanh nghiệp cũng như một số nghiệp vụ của hệ thống này trong thực tiễn .Trong đợt thực tập nghề nghiệp ,em đã chọn công ty CP và lắp máy xây dựng Bắc Hà để đươc tiếp cận và trang bị cho bản thân những kiến thức về kế toán tài chính.
Trong thời gian thực tập tại công ty CP xây dựng và tư vấn thiết kế Hoà Bình em đã đươc sự giúp đỡ nhiệt tình của công ty và sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Hà A đã giúp em thu được những kinh nghiệm ban đầu về chuyên nghành kế toán tài chính để hoàn thành tốt báo cáo thực tập của mình.
Xem thêm

46 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2012

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2012

1. Lý do chọn đề tài

Biển Đông là một vùng biển nửa kín, đây là một trong những khu vực chiến lược quan trọng bậc nhất trên thế giới. Vùng biển này án ngữ nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Biển Đông có môi trường biển đa dạng và nguồn tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu khí và thủy sản. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được ví như hai pháo đài nổi trên biển Đông, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược an ninh quốc phòng của các quốc gia và vùng lãnh thổ ven bờ như Trung Quốc, Đài Loan và bốn thành viên của ASEAN là Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei. Có lẽ vì lý do đó, vùng biển đảo này trở thành đối tượng tranh chấp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ hơn nửa thập kỉ nay – có thể nói đây là một “ điểm nóng” tiềm tàng về an ninh và ổn định của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Kể từ khu Hiệp ước về Quy tắc ứng xử chung trên biển Đông (2002) được kí kết đến trước 2007, chưa có xung đột vũ trang nào xảy ra giữa lực lượng hải quân của các nước liên quan. Rõ rang, tuyên bố này bước đầu góp phần biến biển Đông thành một vùng biển hòa bình và ổn định hơn. Tuy nhiên, căng thẳng va chạm trên biển, đặc biệt liên quan đến vấn đề nghề cá và khai thác dầu khí giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, vẫn tồn tại và gần đây có phần căng thẳng hơn.

Năm 2007, căng thẳng bùng phát khi Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hành động từ phía Trung Quốc gây ra phản ứng dữ dội từ Việt Nam, đặc biệt xảy ra nhiều cuộc biểu tình quy mô phản đối quyết định của nhà cầm quyền Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc liên tục bắt giữ hoặc tấn công các tàu đánh cá và ngư dân, hay gây sức ép buộc các công ty dầu khí nước ngoài phải từ bỏ dự án đối với các đối tác Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam đã có những điều chỉnh nhất định trong cách tiếp cận của họ đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông theo hướng công khai hóa và quốc tế hóa. Một số cuộc tọa đàm, hội thảo quốc gia và quốc tế về vấn đề Biển Đông đã được tổ chức. Các phương tiện truyền thông Việt Nam cũng công khai bình luận các khía cạnh an ninh – quân sự, kinh tế, luật pháp của vấn đề tranh chấp biển, đồng thời đưa tin về hành động bắt bớ, ngăn cản tàu thuyền Việt Nam của các lực lượng Trung Quốc. Ngày 652009, Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về Ranh giới ngoài của thềm lục địa khu vực phía Nam Biển Đông, và một ngày sau, Việt Nam nộp báo cáo riêng lên Ủy ban Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc. Trong một nỗ lực củng cổ quốc phòng, Việt Nam đặt mua một số tàu ngầm và vũ khí tối tân của Nga với số tiền bằng phân nửa ngân sách quốc phòng của Việt Nam.

Tranh chấp ở Biển Đông từ lâu đã trở thành một đề tài tranh cãi sôi nổi trong giới học giả nghiên cứu về an ninh trong nước và quốc tế. Đây cũng là vấn đề đau đầu cho các chính phủ của các quốc gia liên quan đến tranh chấp. Và cho đến nay, có lẽ chưa có một hướng giải pháp nào sáng suốt nhất để giải quyết những mâu thuẫn trên. Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ ở Biển Đông.Tuy nhiên, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ những diễn biến mới ở Biển Đông và những điều chỉnh trong cách tiếp cận của Việt Nam đối với các tranh chấp ở khu vực này.Thêm vào đó, ở một góc độ hoạch định chính sách, cần có thêm những phân tích kĩ lưỡng về tính hiệu quả và dự báo ảnh hưởng ngắn và dài hạn của những điều chỉnh chính sách trên.Đó là những cơ sở khoa học và thực tiễn để tôi chọn lựa đề tài “ Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông giai đoạn 2007 – 2012”.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Lý thuyết kích cầu và khả năng vận dụng ở Việt Nam

LÝ THUYẾT KÍCH CẦU VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

Trong hai thập kỷ trở lại đây, thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian kể trên thế giới đã chứng kiến khá nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính tiền tệ. Chẳng hạn, khủng hoảng tài chính quốc tế nổ ra từ Mexico vào năm 1995, tiếp đến là cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khởi nguồn từ một số nước châu Á gồm Thái Lan, Hàn Quốc và điển hình nhất là Indonesia vào năm 1997. Sau đó không lâu một loạt khủng hoảng cục bộ đã nổ ra ở Brazin, Thổ Nhĩ Kỳ, Achentina và cách đây không lâu vào năm 2008, cuộc khủng hoảng tín dụng thế chấp ở Mỹ đã lan nhanh từ khu vực tài chính sang khu vực kinh tế và từ nước Mỹ ra toàn cầu.
Nhìn lại các cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế kể trên, người ta dễ nhận thấy những nhân tố “châm ngòi” cho khủng hoảng là:
1. Bất ổn về chính trị như trường hợp Mexico (1995), Indonesia (1998) dẫn tới nhiều nhà đầu tư mất lòng tin vào tương lai kinh tế ở hai nước này;
2. Đồng tiền nội tệ bị mất giá, giá trị tài sản giảm sút;
3. Lãi suất tăng cao, đi cùng sụt giảm lòng tin trong đầu tư;
4. Các ngân hàng có vấn đề về tín dụng, mất thanh khoản, sụp đổ hệ thống ngân hàng và lan sang các ngành công nghiệp chủ chốt, giảm lòng tin quốc tế vào nền kinh tế các nước này (trường hợp Thái Lan năm 1997 và Mỹ năm 2008).
Khủng hoảng kinh tế, tài chính xảy ra được ví như những trận bão, lụt tràn về, nó có thể phá hủy nhanh chóng các thành quả phát triển kinh tế không phải trên phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi quốc tế hoặc khu vực. Chẳng hạn, do ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế, tài chính Mỹ các nền kinh tế thuộc khu vực đồng Euro, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước khác đều nhanh chóng bị lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế. Ngân hàng Thế giới nhận định: “GDP toàn cầu năm nay (2009) sẽ giảm lần đầu tiên từ sau đại chiến thế giới lần hai”; nửa đầu năm 2009 sản lượng công nghiệp thế giới sẽ thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm 2008. Thương mại quốc tế giảm nhiều nhất, kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm 2009 của Nhật Bản giảm 46,3%. Mỹ giảm 31%, Trung Quốc giảm 17,5%, Đài Loan giảm 42,9% so với tháng 12008 (theo AFP, Reuteurs).
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã ngày càng gắn kết với nền kinh tế thế giới, ngoài những thuận lợi như thị trường hàng hóa được mở rộng, tăng cường giao lưu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia…thì Việt Nam cũng phải đương đầu với ảnh hưởng bất lợi từ thị trường thế giới và những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đến với Việt Nam là điều khó có thể tránh khỏi.
Như vậy có thể thấy rất rõ, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các nền kinh tế riêng lẻ trong quá trình phát triển, ngoài việc tự đương đầu với các chu kỳ kinh doanh, chúng còn luôn chịu ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực từ các nền kinh tế khác. Khi nền kinh tế thế giới tăng trưởng, các kinh tế riêng rẽ cũng có cơi hội thuận lợi phát triển và có thể được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó. Ngược lại, khi nền kinh tế thế giới hoặc kinh tế của những nước chủ đạo (như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc) chao đảo hay lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng thì các nền kinh tế khác cũng dễ dàng bị ảnh hưởng và tổn thương. Mức độ ảnh “lâm bệnh” suy thoái tùy thuộc vào mức độ quốc tế hóa của nền kinh tế đó.
Ngày nay, để có thể chống đỡ và giảm thiểu đến mức tối đa những ảnh hưởng tiêu cực do khủng hoảng kinh tế gây ra nói riêng hoặc làm dịu bớt biên độ giao động của các chu kỳ kinh doanh mà nền kinh tế phải trải qua, hầu hết chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam, đều sử dụng các công cụ chính sách, đặc biệt là sử dụng chính sách tài khóa và tiền tệ để nhanh chóng “cải thiện” tổng cầu nhằm mục đích cuối cùng là giảm tới mức tối thiểu tình trạng gia tăng thất nghiệp và giảm sút về thu nhập quốc dân. Chẳng hạn, đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong năm 2008 để nhằm hạn chế tác động xấu tới nền kinh tế của nước mình, hàng loạt các nước và nền kinh tế tuyên bố sử dụng các gói cứu trợ và kích thích kinh tế với tổng dự toán lên tới 3000 tỷ USD, chiếm từ 5% đến 30% GDP của các nước này. (Mỹ lên tới 2.500 tỷ USD; Anh 850 tỷ, Trung Quốc 586 tỷ; Liên minh Châu Âu (EU) 200 tỷ; Nhật Bản 255 tỷ; Đài Loan (Trung Quốc) 125,5 tỷ, Hàn Quốc 141 tỷ)
Tương tự như các nước kể trên, Việt Nam đã sử dụng gói kích cầu có trị giá 6 tỷ USD và đây được coi là gói kích cầu lớn nhất đầu tiên trong lịch sử nhằm đối phó với những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới.
Trong thời gian cuộc khủng hoảng đang diễn ra và sau đó (từ 2008 đến 2009), kích cầu đã được trao đổi rộng rãi trên báo chí và trên các diễn đàn, thu hút sự quan tâm của nhiều giới, từ chính phủ đến người dân. Có khá nhiều học giả và các nhà lập chính sách đã thảo luận sôi nổi về các biện pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế ở nước ta và hầu hết các cuộc thảo luận đều tập trung vào 3 vấn đề sau: (i) sự cần thiết của gói kích cầu – tại sao chúng ta lại cần kích cầu trong hoàn cảnh hiện nay? (ii) kích cầu như thế nào – những nguyên tắc của kích cầu để đảm bảo kích cầu hiệu quả; và (ii) kích cầu vào đâu? kinh nghiệm của các nước như thế nào?...
Xuất phát từ lý thuyết kinh tế, khi nền kinh tế trải qua chu kỳ kinh doanh (suy thoái, phục hồi và phát triển) thì hai công cụ chính mà chính phủ thường hay sử dụng là (1) chính sách tài khóa –chính sách thuế và chi tiêu chính phủ (ví như gói kích cầu) và (2) chính sách tiền tệ tăng giảm lãi suất và một số biện pháp khác để điều chỉnh cung tiền trong nền kinh tế. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn thì việc sử dụng hai chính sách công cụ này luôn là vấn đề nhạy cảm và thường gây tranh luận, chẳng hạn như chính sách nào sẽ phát huy hiệu quả hơn? gói kích cầu có kích cỡ bao nhiêu thì vừa đủ? hoặc thời điểm kích cầu khi nào…thời gian kích cầu cần kéo bao lâu?…. Tức là, mọi người không chỉ quan tâm tới cơ sở lý luận, tìm hiểu về những nguyên tắc của kích cầu mà còn rất quan tâm tới việc xém xét các kinh nghiệm cũng như các cách thức ứng phó của chính phủ chẳng hạn như tính kịp thời trong việc sử dụng các chính sách công cụ mà trong đó có kích cầu.
Để góp phần cung cấp cái nhìn đa chiều hơn cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, cũng như giáo viên và sinh viên của các trường đại học giảng dạy về kinh tế, trong đề tài này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau đây:
(1) Cơ sở lý thuyết về kích cầu;
(2) Khảo sát và rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế về kích cầu;
(3) Xây dựng những nguyên tắc kích cầu; và
(4) Đề xuất những việc cần thực hiện và chuẩn bị để kích cầu có thể được áp dụng và phát huy hiệu quả cao nhất trong hoàn cảnh của Việt Nam.
Bài viết của chúng tôi được bố cục như sau: trong chương 1, chúng tôi sẽ nghiên cứu các cơ sở lý luận của kinh tế học xung quanh vấn đề kích cầu, trong chương này chúng tôi sẽ nghiên cứu các cấu phần cơ bản của tổng cầu, tìm hiểu cơ chế tác động của các chính sách tài khóa và tiền tệ để trả lời câu hỏi: Kích cầu cần phải tác động vào đâu, khâu nào? và tác động như thế nào để tăng tổng cầu, từ đó có thể kích thích nền kinh tế khi nó gặp khó khăn.
Trong chương 2, chúng tôi sẽ giới thiệu những kinh nghiệm của một số nước chọn lọc trên thế giới đã thực thi các chính sách kích thích nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng xảy ra từ năm 2008 và rút ra các bài học kinh nghiệm để từ đó có định hướng xác lập các nguyên tắc cơ bản của kích cầu có thể áp dụng cho Việt Nam.
Trong chương 3, nghiên cứu những ảnh hưởng của khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt Nam, nhận định và và đánh giá gói kích cầu vừa qua của Chính phủ, để từ đó tìm kiếm những khả năng có thể áp dụng lý thuyết và kinh nghiệm thực tế của thế giới và Việt Nam trong giai đoạn vừa qua để đề xuất khả năng áp dụng vào Việt Nam.
Xem thêm

98 Đọc thêm

Một số giải pháp hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong chế độ kế toán doanh nghiệp việt nam hiện nay

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuNhững năm gần đây, kinh tế thế giới đang rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Bắt đầu từ năm 2008, hiện tượng một loạt các ngân hàng lớn nhỏ của Mỹ phá sản gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế không chỉ của Mỹ mà của nhiều nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này kéo dài cho đến nay, năm 2013, lạm phát trên thế giới tăng cao, nhiều doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng cao… Một trong những biểu hiện nhìn thấy rõ nhất là sự mất ổn định của tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới. Giá chứng khoán lên xuống thất thường, chủ yếu là giảm, như rơi xuống một vực sâu không đáy khiến các nhà đầu tư hoang mang, không xác định được định hướng đầu tư.Tháng 11 năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng quốc tế trong nhiều lĩnh vực. Để hoà nhập được với kinh tế quốc tế, kinh tế của Việt Nam đã từng bước không ngừng phát triển theo hướng kinh tế thị trường. Các thị trường được hình thành rõ nét và ngày càng phát triển, đặc biệt là thị trường vốn. Một trong các công cụ trợ giúp quan trọng cho sự phát triển của thị trường vốn là các thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các thông tin tài chính của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu bằng việc sử dụng các ghi chép kế toán. Các qui định của chế độ kế toán đóng vai trò quyết định tính hữu ích của các thông tin tài chính, nó đòi hỏi các thông tin tài chính của một doanh nghiệp do kế toán đưa ra ngày càng phải tiến dần đến giá thị trường của doanh nghiệp đó.Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam được sửa đổi như hiện nay nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển của nền kinh tế, nhằm tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của kế toán quốc tê, giúp các doanh nghiệp Việt Nam có đủ điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, giúp các nhà đầu tư nước ngoài có cơ sở để đánh giá tình hình các doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư. Trong quá trình phát triển của mình, dựa vào tình hình thực tế của nền kinh tế Việt Nam và các kinh nghiệm của kế toán quốc tế, Việt Nam đã phát triển Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và các hướng dẫn thực hiện hệ thống chuẩn mực đó. Nhưng hiện nay, các qui định về kế toán doanh nghiệp của Việt Nam chưa đảm bảo tạo ra các thông tin tài chính của doanh nghiệp theo giá trị hợp lý để các tài sản có thể được trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá. Chính vì vậy, các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp gây cho những người quan tâm đến báo cáo tài chính doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn khi đưa ra các quyết định của mình. Không ít các quyết định đầu tư được coi là sai lầm chỉ vì nhà đầu tư chưa hoặc không nhận biết được tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các thông tin tài chính được doanh nghiệp công bố. Để giúp cho các nhà đầu tư có được các thông tin tài chính hữu ích, là nền tảng để phát triển thị trường vốn, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam cần phải được thay đổi để các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp đưa ra tiến dần tới giá trị của doanh nghiệp đó nếu doanh nghiệp được đưa ra mua bán, trao đổi trên thị trường. Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn hiện nay, tính hữu ích của các thông tin tài chính là một đòi hỏi và không thể thiếu được trong hoạt động của các nhà đầu tư. Chính vì các lý do trên đây, đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” là đề tài mang tính thời sự và thực sự cần thiết để hoàn thiện Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam, giúp các nhà đầu tư có các thông tin tài chính hữu ích.2. Mục đích nghiên cứuMục đích của nghiên cứu của đề tài là làm rõ lý luận về giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp, nghiên cứu các qui định về giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế, của một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện và của một số nước có đặc điểm nền kinh tế tương tự của Việt Nam, đặc biệt đi sâu nghiên cứu các qui định về giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra các ưu, nhược điểm, hạn chế nhằm đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định này tại Việt Nam.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng của đề tài là tập trung nghiên cứu lý luận chung về giá trị hợp lý trong kế toán; tổng kết các kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc
Xem thêm

109 Đọc thêm

HÃY CHỈ RA NHỮNG HÀNH VI TIÊU cực TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, LIÊN hệ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM và đề XUẤT một số GIẢI PHÁP

HÃY CHỈ RA NHỮNG HÀNH VI TIÊU CỰC TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, LIÊN HỆ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

LỜI NÓI ĐẦU
Trước tháng 7 97, tức là trước thời điểm xẩy ra cơn bão tài chính tiền tệ ở Châu Á mà tâm điểm là khu vực Đông Nam Á, nhiều nước thành viên ASEAN đã kỳ vọng đến việc rút ngắn thời hạn hoàn thành AFTA vào năm 2000. Đối với Việt Nam, nhiều người cũng hy vọng sẽ rút ngắn tiến trình thực hiện AFTA vào năm 2003 thay cho mốc thời gian dự kiến ban đầu là 2006. Lý do căn bản là Việt nam và các nước ASEAN đều muốn đẩy nhanh tiến trình AFTA nhằm nhanh chóng biến khu vực ASEAN thành một khu vực kinh tế mở có năng lực thích ứng cao nhất với các xu thế do hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng của nền kinh tế thế giới.
Tuy vậy, sau khi cơ bão tài chính tiền tệ xảy ra vào tháng 7 năm 1997 và lan truyền ra toàn khu vực theo hiệu ứng “ Đôminô “ với những tác động hết sức nghiêm trọng đến nền kinh tế các nước ASEAN và nền kinh tế toàn cầu đã khiến không ít người nghi ngờ về tính khả thi của AFTA theo lịch trình đã cam kết của các nước.
Vì vậy đối với Việt nam tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đến tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là điều không tránh khỏi.
Trong một nỗ lực tổng hợp và phân tích, nghiên cứu và đánh giá, bài viết xin trình bày một số những vấn đề về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á.Cụ thể là :
Phần I : Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á và tác động đến Nội dung của đề tài sẽ đi sâu phân tích những nguyên nhân, tác động của cuộc khủng hoảng, từ đó so sánh với hiện trạng của nền kinh tế Việt nam trên các lĩnh vực: đầu tư, xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, thị trường chứng khoán... trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chống đỡ và thoát khỏi cuộc khủng hoảng nhằm thực hiện tiến trình cải cách nền kinh tế, đạt được những mục tiêu đã đề ra: phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy tiến trình hội nhập nền kinh tế Việt nam với các nước trong khu vực và trên. thế giới, đưa nước ta thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Xem thêm

22 Đọc thêm

Hệ thống tài chính của thái lan (1)

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA THÁI LAN (1)

Thái lan hiện nay được đánh giá là một nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung, trong suốt quá trình phát triển nền kinh tế Thái Lan không thể tránh khỏi những lúc thất bại, khó khăn. Tuy nhiên những khó khăn đó đều được Thái Lan vượt qua và coi đó là bài học kinh nghiệm để phát triển kinh tế.
Vào thập niên 90 của thế kỉ XX một cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ đã đổ bộ vào nền kinh tế Châu làm chao đảo cả những nước lớn. Và cuộc khủng hoảng đó bắt nguồn tại Thái Lan. Vào ngày 271997 khủng hoảng đã chính thức bùng nổ khi chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, sau đó cuộc khủng hoảng đã lan rộng ra một số nước trong khu vực đã làm cho nền kinh tế khu vực nói chung và đặc biệt là kinh tế Thái Lan nói riêng thụt lùi về tăng trưởng trong một thời gian khá dài. Cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ đã làm cho Thái Lan lâm vào một tình trạng khó khăn kinh tế chưa từng có trong lịch sử hàng thập kỷ phát triển của mình. Đứng trước những khó khó khăn thách thức to lớn đó chính phủ Thái Lan đã có những chính sách để vực dậy đất nước mình sau cuộc khủng hoảng trên tất cả mọi mặt.
Thái Lan luôn được xem là một nơi thu hút các nhà đầu tư, một nơi mà nền kinh tế có tốc độ phát triển qua từng giai đoạn khá vững chắc và có những bước tiến mạnh trong tiến trình phát triển để khẳng định mình, để không bị tụt lại so với nền kinh tế thế giới, cũng như để tránh những sai làm đáng tiếc dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Và để không một lần nữa lặp lại lịch sử của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Á 1997 1998, Thái Lan cần phải thận trọng trong những bước đi của mình, hướng đến tương lai nhưng không thể bỏ qua quá khứ, vì quá khứ là tiền đề của tương lai.
Vì vậy việc nghiên cứu về “hệ thống tài chính của Thái Lan” có thể giúp tất cả các quốc gia đang trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở Châu Á, mà đặc biệt trong đó có Việt Nam rút ra được bài học kinh nghiệm, tiếp thu những cái tốt và tránh những cái sai lầm mà Thái Lan đã mắc phải.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Xây dựng chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH dịch vụ và thương mại Hòa Sơn

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VÀ THƯƠNG MẠI HÒA SƠN

Xã hội hiện đại không thể nhắc đến vai trò của kinh tế và theo đó là các hoạt động kinh doanh trên khắp thế giới. Một đất nước phát triển luôn gắn tới hình ảnh kinh tế phát triển. Hoạt động kinh doanh trên thế giới hiện nay cực kỳ rộng lớn, và sôi động. Chỉ ở Việt Nam đã có hơn hàng trăm ngàn doanh nghiệp hoạt động.Trong đó có công ty TNHH Dịch vụ và thương mại Hòa Sơncũng là một trong số đó.Nhưng do em vẫn còn là một sinh viên chưa tốt nghiệp nên vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với thực tiễn của công ty và chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn.Nhưng Qua thời gian đầu thực tập, em đã được tìm hiểu sơ bộ về công ty và đưa ra báo cáo tổng hợp với những nội dung cơ bản về công ty và hoạt động kinh doanh của công ty. Báo cáo thực tập của em về công ty TNHH Dịch vụ và thương mại Hòa Sơn bao gồm 4 phần sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nhân lực trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển nhân lực tại Công ty TNHH dịch vụ và thương mại Hòa Sơn
Chương 3: Giải pháp xây dựng chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH dịch vụ và thương mại Hòa Sơn
Xem thêm

55 Đọc thêm

Vận dụng mô hình Hợp tác công tư trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam

VẬN DỤNG MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình cũng như rất nhiều nhà khoa học nghiên cứuhình thức đầu tư PPP (Private-Public-Partnership)- hợp tác Nhà nước-Tư nhân, đã được triển khai hiệu quả tại nhiều nước và được coi là một trong những “cứu cánh” cho việc huy động nguồn vốn trong và ngoài nước, nhà nước và nhân dân cùng làm để xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia nhanh chóng, hiệu quả và bền vững. Kỷ yếu hội thảo Hợp tác công tư PPP, diễn ra tại Hà Nội 5/2008 đã đề cập tới “Kinh nghiệm thực hiện PPP tại các nước thuộc tiểu vùng Mêkông mở rộng khác Thái Lan, Lào và Campuchia", cho thấy để triển khai thành công mô hình PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng:
- Xây dựng phương pháp lý về sự tham gia của khu vực tư nhân vào những công trình nhà nước.
- Thành lập cơ quan quản lý PPP ví dụ Campuchia thành lập cơ quan đầu mối quản lý cơ sở hạ tầng phụ trách việc phát triển các dự án liên ngành theo phương pháp tiếp cận PPP.
- Thành lập một quỹ phát triển dự án, chuẩn bị chính sách và hướng dẫn cho các hoạt động PPP trong các lĩnh vực; các yêu cầu về xã hội và phát luật, môi trường, kỹ thuật riêng của từng lĩnh vực mở rộng. Xác định và giảm nhẹ rủi ro, các phương án cơ cấu dự án PPP, các khung hợp đồng mẫu cho các mô hình PPP khác nhau, lập quỹ chênh lệch lợi suất kinh tế tài chính.
Trong "PPP In toll Roads in PRC - Worldbank 2002" đề cập tới kinh nghiệm của Anh trong quan hệ đối tác công cộng và tư nhân rút ra những bài học như sau:
- Quan hệ đối tác PPP không phù hợp với tất cả các dự án.
- Phân chia rủi ro là then chốt.
- Chính phủ cần tạo môi trường thuận lợi cho quan hệ đối tác PPP.
- Những nền kinh tế có quy mô sẽ cải thiện chất lượng PPP.
Hầu như các bài viết đều đề cập đến kinh nghiệm của các nước trong việc triển khai mô hình PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
Ở trong nước sau hội thảo Hợp tác công tư PPP, tháng 5/2008 Tại Hà Nội,đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý, tuy nhiên rất ítcông trình nghiên cứu về vấn đề này:
+ Bài viết : “Hợp tác công tư trong đầu tư phát triển CSHT giao thông”, đăng trên tạp chí khoa học giao thông số tháng 9 năm 2008, của PGS.TS Nguyễn Hồng Thái đãphân tích sự cần thiết và lợi ích cũng như trách nhiệm Nhà nước nhằm nâng cao khả năng hợp tác giữa Công tư phát triển cơ sở hạ tầnggiao thông tại Việt Nam.
+ Bài viết , “Phân tích lợi ích trong đầu tư phát triển CSHTGT theo hình thức PPP”, của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, đăng trên tạp chí giao thông 10/2008.
Các công trình đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như các đề xuất của các nhà đầu tư tư nhân trong nước và kinh nghiệm của các chuyên gia quản lý trong và ngoài nước đều, cho thấy khó khăn vướng mắc chính đối với vấn đề tham gia đầu tư về CSHT của khối doanh nghiệp tư nhân là do hầu hết các dự án có tính khả thi cao đều được giao cho các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân không có điều kiện tiếp cận thông tin về các dự án lớn, điều đó đã ngăn cản họ tham gia mạnh mẽ vào phát triển CSHT quốc gia.
Tóm lại để đẩy mạnh mô hình hợp tác đầu tư PPP tại Việt Nam, cần xây dựng cơ chế, phương thức hợp tác đầu tư Công-Tư một cách rõ ràng, công khai và minh bạch, cũng như những ưu tiên hỗ trợ về mặt bằng, chính sách thuế, vay vốn ưu đãi, thủ tục đầu tư tạo cơ sở pháp lý cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư xây dựng CSHT.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo của ADB, 10 năm qua, Việt Nam đầu tư vào CSHT ở mức trung bình 9-10% GDP. Sự đầu tư này đã góp phần vào mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người 7% năm và giảm tỷ lệ đói nghèo từ 58% xuống còn 29%. Tuy nhiên, theo ADB, để duy trì mức tăng trưởng này trong thập kỷ tới, Việt Nam phải tăng đầu tư vào CSHT lên khoảng 11-12% GDP. Trong bối cảnh hội nhập WTO, chính phủ Việt Nam đã nỗ lực huy động nguồn lực từ ngân sách và vốn ODA nhưng vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho phát triển CSHT. Riêng lĩnh vực giao thông vận tải, mặc dù vốn từ ngân sách vẫn tăng hàng năm khoảng 15% nhưng tình hình thiếu vốn vẫn xảy ra. Nhiều dự án đang dở dang phải đình hoãn... để đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, từ nay đến 2020 mỗi năm cần bình quân gần 118 nghìn tỷ đồng, tương đương với 7,4 tỷ USD. Trong khi đó khả năng đáp ứng của các nguồn vốn hiện có từ ngân sách, vốn ODA, trái phiếu Chính phủ chỉ tổng cộng khoảng 2-3 tỷ USD. Bộ GTVT chủ trương ngoài các nguồn vốn hiện có thì sẽ thu hút vốn khác từ khu vực tư nhân, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Như vậy nhu cầu đầu tư cho phát triển CSHTGTĐB là rất lớn, trong khi khả năng nguồn lực tài chính của Nhà nước không thể đáp ứng được thì việc khuyến khích đầu tư PPP là mô hình hợp tác tối ưu hoá hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao.
Bằng chứng từ nghiên cứu của ngân hàng JBIC, WB, ADB thực hiện cho thấy rằng trong một môi trường được khuyến khích thoả đáng (có cơ chế pháp luật tốt, các chính sách ưu đãi phù hợp), các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân làm tốt hơn các nhà cung cấp dịch vụ thuộc khu vực công cộng và theo kinh nghiệm thực tiễn cho thấy có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước không thể tham gia trực tiếp. Cụ thể như các dự án về đường cao tốc, giao thông , dịch vụ cảng và các dịch vụ công cộng.
Để đảm bảo sự thành công cho mô hình PPP nói chung và mô hình PPP trong phát triển phát triển CSHTGTĐB, Chính phủ Việt Nam cần phân loại, xác định nhanh những đoạn phát triển CSHTGTĐB cần Nhà nước tham gia đầu tư; Những đoạn cao tốc Nhà nước cùng với tư nhân hợp tác đầu tư; Những đoạn kêu gọi tư nhân trực tiếp đầu tư. Những đoạn đường phát triển CSHTGTĐB cần sớm đầu tư, song chờ nhà đầu tư thấy lợi bỏ tiền ra đầu tư thì sẽ phải chờ lâu. Những đoạn này, cần dùng vốn nhà nước như “vốn mồi” để tăng sức hấp dẫn cho dự án. Nhà nước có thể đầu tư một giai đoạn để tạo sức hấp dẫn rồi bán cho tư nhân đầu tư tiếp, hoặc đầu tư xong bán cho tư nhân để lập tức thu tiền tái đầu tư. Những đoạn có tính hấp dẫn lớn, khả năng hoàn vốn nhanh (ví dụ những đoạn cao tốc nằm sát các khu kinh tế trọng điểm, các trung tâm kinh tế như Hà Nội và TP HCM) có thể đưa vào danh sách dự án kêu gọi tư nhân đầu tư 100%. Hình thành một tổ chức hoặc cơ quan phát triển mạng lưới phát triển CSHTGTĐB cao tốc có thu phí. Vì vậy Hợp tác công tư là mô hình tạo giá trị đồng tiền thông qua việc cùng thực hiện một dự án vì lợi ích công cộng với một cơ quan của nhà nước và một bên tư nhân và khẳng định hiệu quả mà mô hình PPP đem lại là rất lớn cho toàn xã hội.
Bằng chứng từ nghiên cứu của ngân hàng JBIC, WB, ADB và theo kinh nghiệm thực tiễn cho thấy có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước không thể tham gia trực tiếp. Cụ thể như các dự án về đường cao tốc, giao thông , dịch vụ cảng và các dịch vụ công cộng.
Vấn đề này tại diễn đàn Việt Nam – Nhật Bản về Hợp tác công tư tại Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội, các chuyên gia khẳng định: Không một chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro. Đấy là lý do khiến cho sự Hợp tác công tư (Public Private partnership - PPP) ra đời, trong bối cảnh phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ công cộng cũng như cơ sở hạ tầng (CSHT) giao thông rất lớn. Vì vậy, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Vận dụng mô hình Hợp tác công tư trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam”.
Xem thêm

169 Đọc thêm

1. THÔNG TƯ SỐ 29 2012 TT-BGDĐT QUY ĐỊNH VỀ TÀI TRỢ CHO CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC THUỘC HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN.

1. THÔNG TƯ SỐ 29 2012 TT-BGDĐT QUY ĐỊNH VỀ TÀI TRỢ CHO CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC THUỘC HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN.

quan.3. Tài trợ cho giáo dục quy định tại Thông tư này là nguồn tài trợ tự nguyện không hoàn lạibằng tiền, hiện vật từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là các khoản tài trợ)của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (sau đây gọi chung là nhà tài trợ) cho các cơ sở giáodục.4. Trường hợp tài trợ với mục đích trao học bổng, trợ cấp cho người học, thực hiện theoThông tư số 35/2011/TT-BTGDĐT ngày 11/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy địnhvề trao và nhận học bổng, trợ cấp cho người học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dụcquốc dân.Điều 2. Nguyên tắc và yêu cầu tài trợ1. Tài trợ cho giáo dục để tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ hoạt động dạy - học,hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục, thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục.2. Các cơ sở giáo dục không coi huy động tài trợ là điều kiện cho việc cung cấp dịch vụ giáodục và không quy định mức tài trợ cụ thể đối với các nhà tài trợ. Các khoản tài trợ cần được tiếpnhận, quản lý và thực hiện một cách hiệu quả, tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành.13. Các nhà tài trợ không gắn điều kiện ràng buộc việc tài trợ với việc thụ hưởng dịch vụ giáodục hoặc quyền khai thác lợi ích kinh tế phát sinh từ các khoản tài trợ cho cơ sở giáo dục.4. Việc quản lý và sử dụng các khoản tài trợ phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạchtheo quy định tại Thông tư số 19/2005/TT-BTC ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộ Tài chính hướngdẫn việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồntừ các khoản đóng góp của nhân dân và Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệthống giáo dục quốc dân.5. Khuyến khích các nhà tài trợ tự tổ chức thực hiện việc đầu tư xây dựng, mua sắm, lắp đặtthiết bị dạy - học với sự thỏa thuận và hướng dẫn của cơ sở giáo dục.Điều 3. Tiếp nhận tài trợ bằng tiền mặt
Xem thêm

4 Đọc thêm

Phân tích khái quát tình hình tài chính của vinamilk năm 2016

PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA VINAMILK NĂM 2016

Phân tích khái quát tình hình tài chính của vinamilk năm 20132015. Bài viết dựa vào số liệu trên báo cáo tài chính của công ty sữa Việt Nam Vinamilk 3 năm 2013, 2015. Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và thế giới như hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được thì các doanh nghiệp phải luôn trong tư thế sẵn sàng để có thể đối phó với những biến động kinh tế trong và ngoài nước một cách nhanh nhất. Đócũng chính là những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp. Hội nhập giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường, cải tiến được khoa học kỹ thuật, nâng cao tầm nhìn…Nhưng cũng mang lại những rủi ro vô cùng lớn nhất là những cạnh tranh về thị trường, mẫu mã, giá cả…Nếu không nhạy bén, các doanh nghiệp sẽ bị “nuốt chửng” hoặc “ đè bẹp”.Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực với tốc độ khá nhanh và mạnh mẽ. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, Công ty Cổ phần sữa Vinamilk cũng đang cố gắng để có thể vươn xa hơn. Với những nỗ lực không ngừng,Vinamilk đã có rất nhiều danh hiệu, rất nhiều thành công trên thị trường trong và ngoài nước. Có rất nhiều nhân tố giúp Vinamilk có những bước phát triển vượt bậc và một nhân tố quan trọng đó chính là sự quản lý tốt tình hình tài chính doanh nghiệp. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm xin được trình bày đề tài: “Những đánh giá chung về tình hình tài chính Công ty Cổ phần sữa Vinamilk”
Xem thêm

25 Đọc thêm

Đánh giá GCI của Việt Nam về năng lực cạnh tranh toàn cầu 2009-2010 (WEF)

ĐÁNH GIÁ GCI CỦA VIỆT NAM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TOÀN CẦU 2009-2010 (WEF)

I. Cơ sở để xác định chỉ số:
Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index) là một chỉ số đánh giá toàn diện được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) xây dựng và công bố trong các báo cáo cạnh tranh toàn cầu thường niên, nhằm đánh giá và xếp hạng các quốc gia tên toàn thế giới về những nền tảng kinh tế vi mô và vĩ mô tạo nên năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Theo WEF, năng lực cạnh tranh được xác định bởi tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tạo nên mức năng suất của một quốc gia. Mức năng suất đến lượt nó lại quyết định mức độ thịnh vượng mà nền kinh tế có thể đạt được. Nối cách khác,nền kinh tế nào càng có năng lực cạnh tranh cao thì càng có xu hướng tạo ra mức thu nhập cao cho dân chúng. Mức năng suất còn quyết định tới suất sinh lời trên vốn đầu tư của nền kinh tế. Do suất sinh lời là một động lực cơ bản của tốc độ tăng trưởng kinh tế, nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao sẽ có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn ttrong trung và dài hạn. Khái niệm năng lực cạnh tranh bao hàm những yếu tố tĩnh và động: mặc dù năng suất của một quốc gia rõ ràng quyết định khả năng duy trì mức thu nhập của quốc gia đó, năng suất cũng đồng thời là một yếu tố chỉ đạo xác định mức sinh lời của đầu tư – một yếu tố chính tạo nên tiềm năng tăng trưởng của một nền kinh tế.
1. Mục tiêu xây dựng chỉ số GCI:
Theo đó, chỉ số GCI được xây dựng trên cơ sở đo lường các yếu tố có tác động lớn tới năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Xếp hạng của mỗi yếu tố được xác định thông qua hàng loạt những chỉ số thành phần rất chi tiết và cụ thể .
Thông qua chỉ số GCI, bức tranh về cạnh tranh toàn cầu phản ánh một cách khá toàn diện các nền kinh tế , ngày càng trở thành một đánh giá tin cậy và được trích dẫn rất rộng rãi cũng như được sử dụng trong nhiều nghiên cứu. Phần tiếp theo sẽ tóm lược các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia GCI của WEF.
2. Đối tượng và phương pháp điều tra:
Các bảng xếp hạng được tính toán từ cả hai dữ liệu: công khai và chấp hành khảo sát ý kiến, một cuộc khảo sát toàn diện hàng năm tiến hành do Diên đàn Kinh tế Thế giới cùng với mạng lưới của Viện đối tác (viện nghiên cứu hang đầu về các tổ chức,doanh nghiệp) ở các nước được khảo sát trong báo cáo (GCR). Báo cáo cạnh tranh toàn cầu (GCR) bao gồm 139 quốc gia với 12 yếu tố trụ cột là thể chế, hạ tầng, mức độ ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cơ bản, giáo dục và đào tạo bậc cao, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, trình độ thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường, trình độ kinh doanh và đổi mới để khảo sát khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh liên quan đến 113 chỉ tiêu,80% của các chỉ số đều dựa trên tiến hành khảo sát ý kiến và 20% được định lượng trong thực tế như: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) , Chi tiêu Chính phủ, Tỷ lệ lạm phát, chi tiêu cho giáo dục và thuế. Cuộc điều tra được thiết kế để nắm bắt một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của một nền kinh tế. Bản báo cáo cũng bao gồm các danh sách toàn diện những điểm mạnh và điểm yếu chính của các nước, từ đó mỗi quốc gia có thể xác định các ưu tiên chính cho cải cách chính sách của nước mình.
Việc xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu dựa trên chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) , được phát triển cho Diễn đàn Kinh tế thế giới bởi Sala-i-Martin và được giới thiệu vào năm 2004. Chỉ số GCI đánh giá dựa trên 12 trụ cột của khả năng cạnh tranh, cung cấp một bức tranh toàn diện của phong cảnh cạnh tranh ở các nước trên thế giới ở mọi giai đoạn phát triển. Các trụ cột bao gồm các tổ chức, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và iáo dục tiểu học, giáo dục và dào tạo bậc cao hơn, hiệu quả hang hoá thị trường, hiệu quả thị trường lao động, sự phát triển của thị trường tài chính, sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường, sự phát triển của kinh doanh và đổi mới công nghệ.
Bản báo cáo gồm một hồ sơ chi tiết cho từng thành viên trong 139 nền kinh tế nổi bật mà báo cáo này nghiên cứu. Nó cung cấp một bản tóm tắt toàn diện của các vị trí trong bảng xếp hạng tổng thể cũng như các lợi thế cạnh tranh nổi bật nhất và những bất lợi của mỗi nước, mỗi nền kinh tế dựa trên những phân tích bảng xếp hạng được thực hiện trong máy vi tính. Bản báo cáo cũng bao gồm một phần mở rộng của các bảng dữ liệu với bảng xếp hạng toàn cầu cho hơn 113 chỉ tiêu.
3. Mô tả về GCI và phương pháp tính điểm:
GCI được tạo thành từ hơn 113 biến, trong đó khoảng 2/3 đến từ những ý kiến chấp hành khảo sát và 1/3 đến từ các nguồn công khai. Các biến được tổ chức thành 12 cột chỉ số, với mỗi trụ cột đại diện cho một khu vực được coi như là một yếu tố quyết định của khả
Xem thêm

16 Đọc thêm

Tổng quan về gian lận trong kế toán, trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận trong Báo cáo tài chính

TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN TRONG KẾ TOÁN, TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU 3
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu 4
1.3. Phương pháp nghiên cứu 4
1.4. Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2: TỔng quan vỀ gian lẬn trong kẾ toán, thỦ tỤc phát hiỆn gian lẬn và trách nhiỆm của kiỂm toán viên đỐi vỚi gian lẬn trong kiỂm toán báo cáo tài chính 6
2.1. Tổng quan về gian lận trong kế toán 6
2.1.1. Lịch sử gian lận 6
2.1.2. Lịch sử phát triển về gian lận 7
2.2. Lịch sử phát triển các công trình nghiên cứu về gian lận 10
2.2.1. Các nghiên cứu ban đầu: 10
2.2.2. Lý thuyết về Tam giác gian lận (Fraud Triangle) của Donald R. Cressey (19191987) 11
2.2.3. Bàn cân gian lận (Fraud Scale) của D.W. Steve Albert 12
2.2.4. Richard C. Hollinger Clark (1983) 14
2.2.5. Khảo sát về gian lận của công ty kiểm toán KPMG2009 14
2.2.6. Công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) 16
2.3. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận 33
2.3.1. Lịch sử phát triển về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận theo quốc tế 33
2.3.2. Lịch sử phát triển về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận theo chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ 35
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIAN LẬN,THỦ TỤC PHÁT HIỆN GIAN LẬN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 51
4.1. Thực trạng về gian lận trên Báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp Việt Nam 51
4.1.1. Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết: Nhiều sai phạm dẫn đến thua lỗ kéo dài 51
4.1.2. Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông 53
4.1.3. Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) 55
4.1.4. Khảo sát nhỏ về vấn nạn tiêu cực gian lận ở Doanh nghiệp 56
4.2. Thực trạng về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc phát hiện gian lận trên Báo cáo tài chính 59
4.2.1. Những quy định về thủ tục phát hiện gian lận và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận tại Việt Nam 59



CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, nhu cầu tiếp nhận và thu thập thông tin rất quan trọng đối với các quyết định của nhà đầu tư, do đó nhu cầu về sự trung thực của Báo cáo tài chính càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Lịch sử thế giới đã chỉ ra rằng có rất nhiều vụ gian lận đã làm sụp đổ rất nhiều công ty khổnglồ mà người ta tưởng chừng như nó sẽ không bao giờ bị sụp đổ. Bên cạnh đó, sự gian lận ngày càng tinh vi hơn và các hậu quả của gian lận giờ đây không chỉ dừng lại các thiệt hại có thể ước tính được mà còn ảnh hưởng rất lâu dài đến lòng tin của nhà đầu tư và những người sử dụng báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, gian lận cũng đã bao gồm nhiều đối tượng tham gia, trong nhiều lĩnh vực và nó trở thành một vấn đề nang giải đối với rất nhiều tổ chức kinh doanh khác nhau.
Việt Nam đang là một nền kinh tế đang phát triển, hòa vào dòng chảy của nền kinh tế thế giới, vì thế cũng không tránh khỏi những tác động của gian lận. Trong những năm qua, nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán tại Việt Nam đã phát triển không ngừng do có sự gia nhập của các tổ chức nghề nghiệp lâu đời và có uy tín trên thế giới. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn bộ các công ty kiểm toán lớn trên thế giới đề có mặt tại Việt Nam và đó là một tín hiệu vui đối với nền kinh tế nước nhà nói chung và nghề nghiệp kiểm toán nói riêng.
Vì vậy, bài viết tập trung phân tích và chỉ dẫn ra một số nghiên cứu về gian lận phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra nguyên nhân của gian lận và từ đó đề ra các hướng tiếp cận đối phó với gian lận và giúp cho kiểm toán viên có thể kiểm soát được gian lận trên báo cáo tài chính trong mức độ cho phép.
1.2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, trình bày những phát hiện và cách thức của các tổ chức kế toán trên thế giới trong nhận diện gian lận và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận;
Thứ hai, khảo sát thực trạng về trách nhiệm của kiểm toán viên làm việc trong các công ty kiểm toán tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh đối với gian lận tại các công ty trên khu vực thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Thứ ba, tìm ra các nguyên nhân và giải pháp (nếu có) nhằm nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập trong kiểm toán báo cáo tài chính tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, không tập trung vào các kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp quy nạp từ các nghiên cứu về gian lận để tổng hợp các phương thức chính gian lận trên báo cáo tài chính.
Sử dụng phương pháp thống kê đối với việc gửi bảng câu hỏi cho các kiểm toán viên tại khu vục thành phố Hồ Chí Minh nhằm tổng kết các kết quả thu được.
1.4. Kết cấu của đề tài
Phần 1: Tổng quan về gian lận kế toán. Thủ tục phát hiện gian lận và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận;
Phần 2: Thực trạng về gian lận trên Báo cáo tài chính và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh hiện nay;
Xem thêm

58 Đọc thêm

LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN TNHH KPMG VIỆT NAM

LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN TNHH KPMG VIỆT NAM

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Kinh tế Thế giới WTO và trong một tương lai không xa Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn dịch vụ tài chính, đặc biệt là dịch vụ kế toán kiểm toán cho các bên nước ngoài. Điều này dẫn đến một thực tế là thị trường tài chính, đặc biệt là các dịch vụ kế toán, kiểm toán, bảo hiểm cũng như thị trường chứng khoán sẽ có sự tham gia của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Để đáp ứng các đòi hỏi về thông tin tài chính đó yêu cầu đặt ra là phải có một hệ thống Báo cáo tài chính minh bạch và đáng tin cậy. Do đó sự bùng nổ trong lĩnh vực kiểm toán sẽ là điều tất yếu. Sự phát triển nhanh chóng của các công ty kiểm toán độc lập trong những năm qua ở nước ta đã chứng minh cho sự cần thiết đó.
Một cuộc kiểm toán có chất lượng là một cuộc kiểm toán vừa đạt hiệu quả về mặt kinh tế vừa đạt được mục tiêu kiểm toán đề ra, và lập kế hoạch Kiểm toán chính là công việc có ý nghĩa quyết định tới chất lượng kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán là công việc đầu tiên của tổ chức công tác kiểm toán nhằm tạo ra tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hiện kiểm toán..
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động còn hết sức mới mẻ, có khi vừa học vừa làm, vừa tạo nếp nghĩ và thói quen trong kiểm toán. Do vậy Kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm qua cho thấy Kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công của các Công ty kiểm toán.
Việc lập kế hoạch kiểm tóan đã được quy định rõ trong Chuẩn mực kiểm tóan hiện hành, Chuẩn mực kiểm toán thứ tư trong 10 chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận rộng rãi (GAAS) đòi hỏi “công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải được giám sát đúng đắn. Đoạn hai trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách hiệu quả. Như vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành Chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán hiệu quả và chất lượng.
Xem thêm

79 Đọc thêm

Các biện pháp quản lý nguồn lực tài chính phục vụ đào tạo tại Viện Đại học Mở Hà Nội

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH PHỤC VỤ ĐÀO TẠO TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ đặc biệt là giáo dục Đại học, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm cải cách giáo dục đại học của các nước có nền giáo dục phát triển là Chính phủ tăng quyền tự chủ tài chính cho các trường Đại học.
Phát triển tài chính Đại học là một trong những vấn đề chủ yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục Đại học nào trên thế giới. Trong các cuộc thảo luận về giáo dục Đại học, những vấn đề về tài chính thường nổi bật do những quan điểm khác nhau của nhiều bên liên quan. Các nhà hoạch định chính sách đang đặt ra câu hỏi liệu ngân quỹ Nhà nước có thể tiếp tục chi bao nhiêu cho phát triển giáo dục Đại học giữa những đòi hỏi cấp bách và cạnh tranh của rất nhiều mục tiêu khác (giáo dục phổ thông, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển giao thông công cộng….). Nhu cầu về tri thức và đổi mới công nghệ, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng buộc các trường Đại học phải tìm kiếm những nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nước để có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội và vượt qua những thử thách trong xu hướng hội nhập hiện nay.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước cho giáo dục đào tạo, trong đó, có giáo dục đại học. Trong vòng 12 năm qua (từ 1998 - 2010), Nhà nước tăng dần đầu tư giáo dục đào tạo từ mức hơn 13% lên 20% tổng chi Ngân sách Nhà nước. Tổng dự toán chi ngân sách năm 2011 là 5.081,6 tỷ đồng, tăng 2,9% so với năm 2010. Với tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục như trên, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới. Tuy nhiên, do quy mô Ngân sách Nhà nước ta còn bé, nên tổng mức ngân sách giáo dục còn nhỏ, mức chi bình quân cho một học sinh, sinh viên còn rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới
Thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập đã từng bước được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội theo hướng ngày càng nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính. Tuy nhiên, cơ chế đó vẫn chưa gắn với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Ở nước ta, với chủ trương Nhà nước hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập, hỗ trợ cho người học đại học nên học phí chưa được xác định là giá dịch vụ đào tạo mà chỉ là sự chia sẻ chi phí giữa người học với cơ sở đào tạo công lập… Duy trì mức học phí thấp cũng chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến các trường đại học công lập phải ban hành nhiều khoản thu ngoài quy định, dẫn đến thiếu công khai, minh bạch trong việc sử dụng nguồn thu. Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của cơ chế tự chủ tài chính nên có một số giải pháp đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, cần chuyển đổi chính sách học phí sang cơ chế giá dịch vụ. Từng bước tính đủ học phí theo lộ trình; Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, tăng đầu tư cho giáo dục đại học và thực hiện cơ cấu lại chi Ngân sách Nhà nước; tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao hơn cho các trường; từng bước tiến tới thực hiện cơ chế tài chính hạch toán đầy đủ chi phí đầu vào, đầu ra….Bên cạnh đó, các trường đại học công lập cần hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính, tự chủ về định mức chi cần đi kèm cơ chế thu.
Do đó, đảm bảo được nguồn lực tài chính phục vụ đào tạo theo cơ chế tự chủ tài chính là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các cơ sở giáo dục đào tạo. Muốn vậy, các biện pháp quản lý tài chính đối với các cơ sở đào tạo hiện nay, nhất là các trường công lập phải được nghiên cứu và thực hiện ra sao nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả nhất.
Cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đào tạo công lập theo Nghị định số 43 ngày 25/4/2006, quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Mục tiêu hàng đầu là mở rộng hơn nữa quyền chủ động gắn với tự chịu trách nhiệm và các cơ chế khuyến khích việc cung cấp các dịch vụ đào tạo mới có chất lượng cao hơn, đồng thời huy động các nguồn lực nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động này. Mặt khác, tiết kiệm chi phí nâng cao hiệu suất hoạt động cũng là một mục đích đổi mới cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập. Quyền được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của các đơn vị sự nghiệp nói chung và trường Đại học công lập nói riêng đã tạo ra những cơ hội về nhiều mặt để khai thác các nguồn thu hợp pháp của đơn vị.
Viện Đại học Mở Hà Nội là một trường Đại học công lập, được thành lập ngày 3/11/1993, một trong những đơn vị được giao quyền tự chủ về tài chính từ năm 2006 đến nay. Do vậy nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào nguồn thu từ học phí và lệ phí. Trong những năm qua, mặc dù có những khó khăn nhưng Viện đã thực hiện các hoạt động có hiệu quả, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định tài chính của Nhà nước, thực hiện tài chính lành mạnh và bước đầu đã có những tích lũy để phát triển.
Nghị định 43/2006/NĐ- CP đã trao quyền tự chủ từ biên chế, bộ máy đến các hoạt động thu chi tài chính để các đơn vị đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng và hiệu quả cao nhất. Nghị định 43 thực chất chỉ là giao quyền tự chủ cho các trường trong việc tổ chức chi, chưa giao quyền tự chủ về huy động nguồn lực tài chính từ học phí do người học đóng góp. Đây là một bất cập lớn cho các trường trong việc chủ động tìm kiếm, huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, thu hút nhân tài, xây dựng cơ sở vật chất nâng cao chất lượng đào tạo. Thực hiện theo Nghị định này, vấn đề đặt ra là:
- Công tác quản lý tài chính của nhà trường hiện nay như thế nào? Đã phù hợp chưa?
- Nguồn tài chính hiện nay của nhà trường có đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
- Nhà trường có thể huy động các nguồn lực tài chính từ những nguồn nào và bằng cách nào? Sử dụng thế nào cho hợp lý nguồn lực tài chính đó ?
Vì những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài : "Các biện pháp quản lý nguồn lực tài chính phục vụ đào tạo tại Viện Đại học Mở Hà Nội".
Xem thêm

117 Đọc thêm

Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ năm 2013: Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giám sát chuyên ngành đối với thị trường tài chính Việt Nam

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ NĂM 2013: TĂNG CƯỜNG CƠ CHẾ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN GIÁM SÁT CHUYÊN NGÀNH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

Cũng giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, các khu vực tài chính của Việt Nam cũng đang phải chịu sự tác động của các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như những biến động kinh tế tài chính từ thị trường tài chính quốc tế. Một trong những ưu tiên hàng đầu hiện nay trong hoạt động quản lý nền kinh tế của Việt Nam là việc thường xuyên đánh giá và nắm bắt thực trạng hoạt động của các khu vực tài chính trong nền kinh tế, từ đó giúp cho Chính phủ có những chính sách can thiệp kịp thời và đầy đủ khi có những biến động xấu bất thường.
Tuy nhiên, sự tồn tại cơ chế giám sát mang tính chuyên ngành và phân tán hiện nay ở Việt Nam đã và đang trở thành một trở ngại trong việc tổng hợp và đánh giá một cách tổng thể đối với các khu vực tài chính và hệ thống tài chính.
Ngoài ra, chương trình đánh giá khu vực tài chính theo chuẩn mực quốc tế do Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới đề ra đã và đang được thực hiện ở phần lớn các quốc gia trên thế giới. Theo đó, các quốc gia đều thực hiện giám sát tài chính thông qua bộ chỉ số an toàn tài chính – FSIs (Financial Soundness Indicators) nhằm nhanh chóng phát hiện các vấn đề bất ổn hay những nguy cơ tiềm ẩn của thị trường tài chính. Trong khi đó, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia vẫn chưa thực hiện giám sát thị trường tài chính theo bộ chỉ số này và vẫn chưa có các dữ liệu báo cáo cho Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế về các chỉ số này. Một trong các nguyên nhân của việc khó thực hiện tính toán và đo lường các chỉ số an toàn tài chính FSIs chính là vẫn chưa có một cơ chế phối hợp chính thức giữa các cơ quan giám sát chuyên ngành hay chưa thực sự có một cơ quan giám sát tổng hợp và thực hiện điều phối trong giám sát tổng thể thị trường tài chính. Các chỉ số FSIs đòi hỏi phải có một sự tổng hợp dữ liệu và phối hợp chặt chẽ trong hoạt động giám sát giữa các lĩnh vực: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm...
Xem thêm

92 Đọc thêm

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Mục tiêu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới. Từ đó, phân tích những kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán.
Nhiệm vụ của luận văn:
Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm có liên quan tới địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán.
Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới cụ thể là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc.
Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý.
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SỸ: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải nâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế. Theo cam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ 142007, các TCTD nước ngoài sẽ được phép thành lập các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt nam. Niêm yết các cổ phiếu của các NHTM sẽ mở ra giải pháp cho việc tăng cường năng lực tài chính của các NHTM VN, tạo tiền đề cho việc cơ cấu lại tổ chức hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng VN theo hướng minh bạch, công khai và tiếp cận dần các chuẩn mực quốc tế. Việc niêm yết cổ phiếu của các NHTMCP cùng với việc cổ phần hoá các NHTM nhà nước được xem là một cuộc cách mạng kế tiếp trong quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng ở nước ta sau một thời gian củng cố, chấn chỉnh và sắp xếp lại ngành ngân hàng. Do đó, đây là một mục tiêu quan trọng của lộ trình hội nhập quốc tế, cũng là điều kiện tiền đề nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM và thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.Thị trường chứng khoán Việt nam tuy đã có bước phát triển mạnh mẽ trong năm vừa qua nhưng cũng bộc lộ những hạn chế như quan hệ cung cầu mất cân đối, quy mô thị trường còn nhỏ bé, chưa trở thành phong vũ biểu cho nền kinh tế. Lý do là vì hiện nay những doanh nghiệp có những đặc điểm thích hợp cho thị trường chứng khoán như có quy mô lớn, được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, có quá trình kinh doanh lâu dài, có cơ chế quản trị minh bạch ... còn rất ít. Do đặc thù của ngành, các ngân hàng thương mại cổ phần và sắp tới đây là các ngân hàng quốc doanh được cổ phần hoá lại có đủ những yếu tố này và là những doanh nghiệp lý tưởng nhất cho thị trường chứng khoán hiện tại cũng như tương lai những năm sắp đến. Việc các NHTM tham gia niêm yết sẽ giúp thị trường thoát khỏi tình trạng thiếu hàng hiện nay và nhờ đó hoạt động của thị trường chứng khoán sẽ có vai trò lớn hơn trong đời sống kinh tế đất nước.
Xem thêm

86 Đọc thêm

Kinh nghiệm vay nợ nước ngoài của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam

KINH NGHIỆM VAY NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1Phần 1: TỔNG QUAN VỀ VAY NỢ NƯỚC NGOÀI21.Khái niệm22.Phân loại vay nợ nước ngoài22.1 Phân loại theo chủ thể đi vay22.2 Phân loại theo chủ thể cho vay 32.3 Phân loại theo loại hình đi vay32.4 Phân loại theo thời hạn vay33.Vai trò của vay nợ nước ngoài43.1 Vay nợ nước ngoài đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư43.2 Vay nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý43.3 Vay nợ nước ngoài ổn định tiêu dùng trong nước43.4 Vay nợ nước ngoài bù đắp cán cân thanh toán5Phần 2: KINH NGHIỆM VAY NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA61. Châu Mỹ La tinh, Khu vực Đông Á cuối thập kỷ 9061.1 Chiến lược vay nợ và khủng hoảng nợ ở các nước châu Mỹ latinh trong những năm 19809061.2 Sử dụng vốn vay nước ngoài và khủng hoảng tài chính ở khu vực Đông Á cuối thập kỷ 9092. Bài học vay nợ của Nga và Dubai112.1 Thực trạng và các giải pháp trả vay nợ nước ngoài của Nga112.2 Thực trạng và khủng hoảng vay nợ nước ngoài của Dubai133. Bài học vay nợ của Malaysia và Indonesia143.1 Sự thành công từ bài học vay nợ của Malaysia143.2 Công tác quản lý và sử dụng vốn vay ở Indonesia16Phần 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VAY NỢ ĐỐI VỚI VIỆT NAM181.Thực trạng vay nợ của Việt Nam182.Bài học kinh nghiệm vay nợ nước ngoài đối với Việt Nam21KẾT LUẬN23TÀI LIỆU THAM KHẢO24 LỜI MỞ ĐẦUXu hướng toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại hiện nay là điều kiện thuận lợi để những nước chậm và đang phát triển có cơ hội phát triển nhanh, mạnh, rút ngắn khoảng cách với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Nằm trong xu hướng vận động đó, Việt Nam đã từng bước ra khỏi nhóm nước kém phát triển thu nhập thấp, chuyển sang nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Có được thành quả đó, bên cạnh sự phát huy nội lực, Việt Nam đã và đang nhận được sự trợ giúp từ phía các nước phát triển. Hiện nay có trên 50 đối tác đặt quan hệ song phương, đa phương đã và đang nỗ lực hỗ trợ Việt Nam đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc vay nợ nước từ những quốc gia đó nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu đầu tư, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ và đảm bảo phát triển bền vững. Từ những lợi ích trên, có thể nhận thấy kinh nghiệm đi vay là yếu tố quan trọng hàng đầu trước khi có những chiến lược quản lý hay sử dụng vốn vay hiệu quả. Học hỏi từ các bài học đi vay của một số nước trên thế giới, Việt Nam kết hợp với tình hình thực tế của đất nước sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm vay nợ nước ngoài trong hiện tại và tương lai.Từ những lý do trên, nhóm 7 chọn vấn đề “Kinh nghiệm vay nợ nước ngoài của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam” làm đề tài tiểu luận.Tiểu luận gồm 3 phần chính:Phần 1: Tổng quan về vay nợ nước ngoàiPhần 2: Kinh nghiệm vay nợ nước ngoài của một số quốc giaPhần 3: Bài học kinh nghiệm vay nợ nước ngoài đối với Việt NamChúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giảng dạy của TS Nguyễn Thị Kim Chi. Rất mong nhận được sự góp ý và ủng hộ của cô.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam

HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng chế độ kế toán khu vực công Việt Nam còn nhiều cách
biệt so với kế toán khu vực công trên thế giới. Kế toán khu vực công Việt Nam chưa
cung cấp thông tin hữu ích cho trách nhiệm giải trình và ra quyết định. Vì vậy, kế toán
khu vực công chưa là công cụ hữu ích để quản lý, kiểm soát nguồn tài chính công,
NSNN. Chính sự phát triển nhanh chóng khu vực công trong thập kỷ vừa qua và sự
suy thoái mạnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực công nói riêng trong năm
gần đây cộng với xu hướng cải cách quản lý tài chính công theo hướng tăng cường
hiệu quả sử dụng nguồn lực công của Việt Nam đòi hỏi kế toán khu vực công Việt
Nam phải có những cải cách tích cực.
Bên cạnh đó là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành các
mối quan hệ quốc tế. Việt Nam đã gia nhập các điều ước quốc tế, trở thành thành viên
của các tổ chức tài chính WB, IMF, ADB, thành viên ASEAN, tham gia AFTA,
CEPT, APEC… Từ năm 2007 Việt nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Trong những cam kết đa phương mà Việt Nam đã ký kết
buộc phải tuân thủ theo lộ trình đã thoả thuận có cam kết về minh bạch hoá thông tin
kế toán, đặc biệt là minh bạch các thông tin kế toán khu vực công đã tạo ra nhu cầu đòi
hỏi cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và phải được quốc tế
thừa nhận (Bộ tài chính, 2011).
Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam
nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính và phù hợp với thông
lệ kế toán quốc tế là việc làm cấp thiết và rất hữu ích cho Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
+ Hoàn thiện báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công đảm bảo BCTC
khu vực công cung cấp thông tin hữu ích, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế để đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam trong
giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
Xem thêm

247 Đọc thêm

Cùng chủ đề