SIÊU ÂM 2D VÀ TM MẶT CẮT CẠNH ỨC TRỤC DỌC CẮT TM DÒNG HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ DOPPLER MÀU A ĐỘ RỘNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SIÊU ÂM 2D VÀ TM MẶT CẮT CẠNH ỨC TRỤC DỌC CẮT TM DÒNG HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ DOPPLER MÀU A ĐỘ RỘNG":

BỆNH HỌC: HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ

BỆNH HỌC: HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ

thất trái3. Chẩn đoán phân biệt3.1. Với hở van động mạch phổi:Vì hở van động mạch phổi gây ra tiếng thổi tâm trương (tiếng thổi GrahamStill) ở liên sườn II cạnh bờ trái xương ức, rất gần với vùng nghe tạp âm của vanđộng mạch chủ. Hay gặp ở người bị hẹp lỗ van 2 lá có tăng áp lực động mạch phổihoặc các trường hợp hở van động mạch phổi bẩm sinh, bệnh tim-phổi mạn tính...Không thấy có các triệu chứng ngoại biên của hở van động mạch chủ. X quangthường thấy cung giữa trái vồng (hình ảnh của tăng áp lực động mạch phổi).Chẩn đoán xác định bằng siêu âm Doppler màu.3.2. Với hẹp lỗ van 2 lá:Có thể nhầm giữa rùng austin Flint với rùng tâm trương của hẹp lỗ van 2 lá.Khi có hẹp lỗ van 2 lá sẽ thấy T1 đanh ở mỏm, clắc mở van 2 lá phía trong mỏmtim, T2 tách đôi ở đáy tim; điện tim thấy dày thất phải; X quang thấy nhĩ trái to vàthất phải to, tăng áp lực động mạch phổi; siêu âm cho phép chẩn đoán xác định.VI. TIẾN TRIỂNHở van động mạch chủ thường diễn biến thầm lặng trong nhiều năm. Khitriệu chứng cơ năng đã xuất hiện thì bệnh tiến triển nhanh chóng, tiên lượng xấu vàrất dễ tử vong.Nếu đã đau ngực mà không phẫu thuật thì thường bệnh nhân chết sau 4 năm.Khi đã có suy tim thì thường tử vong sau 2 năm.11VII. BIẾN CHỨNG1. Suy tim tráiSuy tim trái xuất hiện muộn với biểu hiện khó thở về đêm và khó thở khigắng sức, hen tim, phù phổi cấp. Sau đó sẽ suy tim toàn bộ. Điều trị nội khoa ít kếtquả.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Nghiên cứu chỉ số tei bằng doppler mô trên bệnh nhân bệnh cơ tim giãn

NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ TEI BẰNG DOPPLER MÔ TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH CƠ TIM GIÃN

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy tim là trạng thái bệnh lý thƣờng gặp, hậu quả của rất nhiều bệnh lý khác
nhau, là vấn đề quan trọng vì tỉ lệ hiện mắc và mới mắc hiện nay vẫn đang gia tăng.
Các nghiên cứu ở bệnh cơ tim giãn cho thấy suy tim là trạng thái xấu dần với 20 -
40% tử vong trong vòng 5 năm sau khi khởi bệnh. Các nghiên cứu khác chứng
minh suy tim xung huyết tiến triển (NYHA IV) có tỉ lệ tử vong hằng năm là 40 -
50%.() Khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa kỳ về suy tim mạn năm 2005 cho thấy
khoảng 20 - 60% bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu tƣơng đối hoặc bình
thƣờng nhƣng có rối loạn chức năng tâm trƣơng. Vì vậy phát hiện sớm suy tim ở
bệnh nhân bệnh cơ tim giãn có ý nghĩa quan trọng trong tiên lƣợng và điều trị.
Một vần đề quan trọng trong đánh giá suy tim là sự nhận biết về rối loạn chức
năng thất trái không triệu chứng đi trƣớc suy tim có triệu chứng. Những nghiên cứu
gần đây cho thấy điều trị rối loạn không triệu chứng làm cải thiện đáng kể diễn tiến
bệnh, làm chậm khởi phát suy tim có triệu chứng và giảm tử suất.()
Siêu âm tim là phƣơng pháp đánh giá chức năng thất không xâm nhập, dễ làm
lại, ít nguy hiểm, tƣơng đối ít tốn kém. Siêu âm tim 2D và doppler có độ tin cậy
cao, đƣợc áp dụng rộng rãi trên lâm sàng trong đánh giá chức năng tâm thu và tâm
trƣơng thất trái. Tuy nhiên phƣơng pháp đánh giá chức năng tim kinh điển này chỉ
đánh giá riêng chức năng tâm thu hoặc chức năng tâm trƣơng. Vấn đề đặt ra là cần
có một phƣơng pháp đánh giá toàn bộ chức năng tâm thu lẫn tâm trƣơng vì hai
chức năng này có tƣơng quan mật thiết với nhau. Năm 1995, Tei và cộng sự lần
đầu tiên đƣa ra phƣơng pháp đánh giá chức năng toàn bộ thất trái gọi là chỉ số hiệu
suất cơ tim MPI (myocardial performance index), hay chỉ số Tei. Chỉ số đƣợc tính
bằng tổng thời gian co và giãn đồng thể tích chia cho thời gian tống máu. Chỉ số
Tei đƣợc đánh giá cao trong thực hành lâm sàng tim mạch và đã đƣợc chứng minh
có liên quan đến mức độ nặng nhẹ của bệnh, tỉ lệ tử vong trong các bệnh suy tim,
bệnh cơ tim giãn, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim… Chỉ số Tei trên doppler qui ƣớc, các khoảng thời gian co và giãn đồng thể
tích, thời gian tống máu đƣợc đo bằng khoảng nghỉ của các sóng của dòng chảy qua
van 2 lá và qua van động mạch chủ, trên doppler mô khoảng thời gian co và giãn
đồng thể tích, thời gian tống máu đƣợc đo trực tiếp trên sự co giãn của cơ tim, do
đó chỉ số Tei ít bị ảnh hƣởng bởi gánh và ƣu điểm thứ 2 là đo chỉ số Tei bằng
doppler mô chỉ đo trên 1 chu kỳ tim trong khi đó trên doppler qui ƣớc cần phải đo
trên 2 chu kỳ tim khác nhau do đó trên doppler mô ít bị ảnh hƣởng bởi tần số tim.
Nhƣ vậy, chỉ số Tei hay chỉ số hiệu suất cơ tim MPI đo bằng doppler mô ít ảnh
hƣởng bởi gánh hơn, ít bị ảnh hƣởng bởi tần số tim hơn trên doppler qui ƣớc. Các
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chỉ số Tei có điểm cắt cao hơn và nhƣ vậy nó chính
xác hơn, nhạy hơn Tei qui ƣớc trong đánh giá chức năng toàn bộ cơ tim. Với các
ƣu điểm này chỉ số Tei đo bằng doppler mô ngày càng đƣợc nghiên cứu ứng dụng
nhiều hơn trên lâm sàng.
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng chỉ số Tei bằng dopler mô
trong đánh giá chức năng thất về các bệnh nhƣ suy tim, tăng áp phổi, tăng huyết áp
nguyên phát, nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim giãn….
Tại Việt nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu chỉ số Tei đánh giá chức năng thất
ở các bệnh nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp nguyên phát, đái đƣờng, bệnh cơ tim
giãn... nhƣng nghiên cứu chỉ số Tei bằng doppler mô thì cũng còn ít, chƣa thấy đề
tài nghiên cứu chỉ số Tei bằng doppler mô trên bệnh cơ tim giãn, do vậy chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chỉ số Tei bằng doppler mô trên bệnh
nhân bệnh cơ tim giãn”, với mục tiêu sau đây:
1. Khảo sát biến đổi chỉ số Tei bằng doppler mô ở bệnh nhân bệnh cơ tim giãn.
2. Tìm hiểu mối tương quan của chỉ số Tei bằng doppler mô với một số chỉ số
đánh giá hình thái, chức năng tâm thu, tâm trương thất trái.
3. Tìm hiểu mối tương quan của chỉ số Tei đo bằng doppler mô với chỉ số Tei
đo bằng doppler qui ước
Xem thêm

80 Đọc thêm

ĐỀ TÀI: KHUẾCH ĐẠI QUANG BÁN DẪN

ĐỀ TÀI: KHUẾCH ĐẠI QUANG BÁN DẪN

3.2 Hoạt động của SOACác hạt tải được bơm vào vùng hoạt tính của SOA từ 1 dòng phân cực được đặt vào.Cáchạt tải phải tạo ra đường đi và đi xuyên qua vùng bao phủ trước khi tới được vùng hoạt tính .Khikhông có sự giam cầm các hạt ,các hạt tải điện sẽ khuếch tán ra toàn bộ thiết bị, mặt khác so vớitổng thể vùng hoạt tính là tương đối nhỏ do vậy chỉ có một phần ít các hạt tải điện được bơmcung cấp độ lợi cho một tín hiệu ánh sáng lan truyền.Điều này làm cho thiết bị hoạt động kémhiệu quả.Để khắc phục nhược điểm này người ta sử dụng các biện pháp giam cầm các hạt trongNguyễn Đình Chương&&Nguyễn Văn Thành: Hệ thống thông tin và truyền thông-Kĩ sư chất lượng cao K5217Tiểu luận khuếch đại quang bán dẫn SOAvùng hoạt tính tránh khuếch tán đi các nơi khác.Trong cấu trúc của SOA đạt được điều này nhờsự chênh lệch độ rộng vùng cấm giữa các vùng hoạt tính và vùng bao phủ.Nhờ có cấu trúc dị tiếpxúc các hạt tải điện sẽ được giam cầm vào vùng giữa các hàng rào.Trong cấu trúc của SOA vùng hoạt tính có chiết suất cao hơn vùng bao phủ vì vậy no cóvai trò như một ống dẫn sóng điện môi tiết diện hình chữ nhật, chính điều này giúp giam cầmánh sáng truyền qua thiết bị vào vùng hoạt tính truyền qua thiết bị vào vùng hoạt tính.Lượng dẫnsóng được đặc trưng bởi hệ số giam cầm quang học Г, được định nghĩa là phần năng lượng củamột mode dẫn sóng nào đó được giam cầm vào vùng hoạt tính. Các mode là nghiệm của phươngtrình Maxwell đối với các trường điện và từ trong ống dẫn sóng tuân theo các điều kiện biên củaống dẫn sóng. Độ rộng của vùng hoạt tính có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động củamode.Nếu ống dẫn sóng đủ hẹp ,sẽ chỉ có một mode ngang với hai chế độ phân cực ,mode điệnngang (TE) trong đó điện trường được phân cực dọc theo mặt phẳng dị tiếp xúc (dọc theo trục xtrong hình 3.1) và mode từ ngang (TM) trong đó từ trường được phân cực dọc theo trục x. Modelà ngang bởi vì các trường điện và từ ứng với nó đều vuông góc với hướng truyền. Hoạt độngđơn của mode ngang giúp giảm sự phụ thuộc độ lợi vào mode vì hệ số giam cầm phụ thuộc vàomode, đông thời cũng cải tiến hiệu suất ghép từ thiết bị quang.
Xem thêm

41 Đọc thêm

Nghiên cứu chức năng tâm thu thất trái bằng siêu âm Doppler mô ở bệnh nhân bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ

NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG TÂM THU THẤT TRÁI BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER MÔ Ở BỆNH NHÂN BỆNH CƠ TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh mạch vành (BMV) theo thống kê hiện nay là nguyên nhân hàng đầu của suy tim ở các nước phát triển (50,3%) [6]. Tại Hoa Kỳ trong 5 triệu bệnh nhân suy tim, có hơn 550000 người được chẩn đoán mắc mới hàng năm [56], suy tim do BMV chiếm 60 - 65% trường hợp. Những người sống sót sau NMCT ngay cả khi không bị biến chứng cũng có một tỉ lệ nhập viện do suy tim, một tiến triển tự nhiên của BMV. Theo điều tra của SOLVE (Studies of LV Dysfunction), trong 6272 bệnh nhân, BMV gây suy tim chiếm 70% trong khi THA chỉ chiếm 7%. Mô hình nguyên nhân của suy tim đã thay đổi. Nghiên cứu của Framingham cho thấy từ năm 1950-1998 NMCT đã trở thành yếu tố nguy cơ chính (tăng 26% mỗi thập kỷ ở nam giới và 48% nữ giới) trái lại nguy cơ suy tim do bệnh van tim đã giảm rõ (giảm 24% mỗi thập kỷ ở nam giới và 17% ở nữ giới) và phì đại thất trái (giảm 13% mỗi thập kỹ ở nam giới và 25% ở nữ giới) [63]. Ngay tại Việt Nam và những nước đang phát triển BMV và THA đã trở thành nguyên nhân chính của suy tim ở người tuổi lớn.
Bệnh cơ tim TMCB và suy tim do các nguyên nhân khác nói chung gây ảnh hưởng nhiều đến quần thể dân cư bất kể giới tính và ngày càng gặp nhiều ở cả người trẻ trong độ tuổi lao động nên ảnh hưởng đến nguồn lực của xã hội. Tại các nước có nền y tế phát triển đã có những chương trình phòng chống bệnh rất tích cực, bên cạnh việc giáo dục dinh dưỡng rèn luyện thể lực ngăn ngừa xơ vữa động mạch phòng bệnh tiên phát, chương trình y tế chăm sóc sức khỏe xã hội cũng phát triển những kế hoạch quản lý giám sát theo dõi sự tiến triển của bệnh.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh chức năng tâm thu thất trái là dấu hiệu tiên lượng quan trọng trong bệnh cơ tim TMCB. Khảo sát chức năng tâm thu thất trái luôn là một phần quan trọng trong quá trình tiếp cận bệnh nhân [4].
Đánh giá chức năng thất trái là một biện pháp theo dõi bệnh nhân, phát hiện tiến triển bệnh để từ đó có biện pháp điều trị. Có nhiều phương pháp đánh giá chức năng thất trái:
CLVG là kỹ thuật kinh điển (với 2 phương pháp Dodge và Simpson) có độ chính xác cao nhưng là phương pháp xâm nhập khó thực hiện nhiều lần, cần đội ngũ chuyên viên và máy móc hiện đại nên không thể là một chỉ định thường quy. MRI và MSCT được chứng minh là 2 phương pháp đánh giá thể tích, khối lượng cơ và phân suất tống máu thất trái chính xác cũng như đánh giá chức năng co bóp từng vùng. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp thông tầm và gặp khó khăn khi có nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp, và có chống chỉ định [52], [90].
Các phương pháp siêu âm tim truyền thống cũng gặp những khó khăn. Siêu âm TM thực hiện đơn giản có độ phân giải cao nhưng khi có rối loạn vận động vùng thì không phản ánh chính xác khả năng co bóp của toàn bộ buồng thất [24]. Với siêu âm 2D được xem là khá chính xác với phương pháp Simpson thì tương quan tốt với thông tin, nhược điểm là khó xác định chính xác màng trong tim [19]. Với siêu âm Doppler việc tính toán cung lượng tim bằng phương pháp Doppler qua các phương chảy không thay đổi theo thời gian, khó chính xác cho hệ cơ tim.
Siêu âm Doppler mô cơ tim là phương pháp bổ sung khắc phục được những nhược điểm của siêu âm truyền thống được sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng ở Việt nam vẫn còn ít nghiên cứu và sử dụng. Vì vậy trên đối tượng là bệnh nhân bệnh cơ tim TMCB chúng tôi tiến hành nghiên cứu.
“Nghiên cứu chức năng tâm thu thất trái bằng siêu âm Doppler mô ở bệnh nhân bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ”
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá chức năng thất trái bằng siêu âm Doppler mô cơ tim ở bệnh nhân bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ.
- Tìm hiểu mối liên quan giữa vận tốc cơ thất trên Doppler mô với các dấu chứng lâm sàng và phân suất tống máu.
Xem thêm

114 Đọc thêm

Nghiên cứu kết quả nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ em dưới 2 tuổi hẹp van động mạch phổi đơn thuần (full text)

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ NONG VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI BẰNG BÓNG QUA DA Ở TRẺ EM DƯỚI 2 TUỔI HẸP VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI ĐƠN THUẦN (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hẹp van động mạch phổi (ĐMP) là bệnh tim bẩm sinh thường gặp,
bệnh đứng hàng thứ tư trong các bệnh tim bẩm sinh, chiếm từ 8 - 12% trong
các bệnh tim bẩm sinh nói chung, với tỷ lệ mắc khoảng 1/1000 trẻ sống sau
sinh [1],[2],[3],[4],[5],[6].
Hẹp van động mạch phổi là tổn thương thực thể bẩm sinh do dính mép
lá van động mạch phổi, gây cản trở dòng máu từ thất phải lên động mạch
phổi. Hẹp van ĐMP đơn thuần là chỉ hẹp van động mạch phổi không bao gồm
hẹp thân, hẹp nhánh phổi hoặc các tổn thương khác trong tim kèm theo [4].
Chẩn đoán hẹp van ĐMP trước đây dựa vào khám lâm sàng và thông
tim để đo áp lực trong buồng thất phải và ĐMP, chụp buồng thất phải để chẩn
đoán hẹp van ĐMP với hình ảnh van ĐMP dày, đóng mở hạn chế. Từ khi có
siêu âm - Doppler tim, việc chẩn đoán bệnh hẹp van ĐMP đã trở nên đơn giản
hơn. Siêu âm - Doppler tim cho phép chẩn đoán xác định hẹp van ĐMP cả
trong thời kỳ bào thai cũng như sau khi trẻ được sinh ra. Đây là phương pháp
chẩn đoán không xâm nhập, không những chẩn đoán xác định bệnh mà còn cho
biết mức độ của bệnh, giúp bác sĩ có quyết định điều trị kịp thời và chính xác
cho bệnh nhân, góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong, đặc biệt ở trẻ nhỏ và trẻ sơ
sinh bị hẹp van ĐMP nặng trong giai đoạn ống động mạch đóng lại nếu không
được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong, với những bệnh
nhi là sơ sinh có hẹp van ĐMP tối cấp phụ thuộc ống động mạch phải được can
thiệp nong van ĐMP cấp cứu không bệnh nhi sẽ tử vong [7].
Có hai phương pháp điều trị hẹp van động mạch phổi: phẫu thuật tách
mép van và thông tim nong van ĐMP bằng bóng qua da. Phương pháp thông
tim nong van ĐMP bằng bóng qua da đã được Kan và cộng sự tiến hành thực nghiệm lần đầu tiên vào năm 1980, và sau đó đã nong van ĐMP thành công
cho trẻ gái 8 tuổi bị hẹp van ĐMP tại bệnh viện Johns Hopkins (Hoa Kỳ) năm
1982 [8].
Từ đó đến nay can thiệp nong van ĐMP bằng bóng qua da là phương
pháp được lựa chọn đầu tiên để điều trị bệnh hẹp van ĐMP vì có hiệu quả cao
[9],[10], phương pháp này có nhiều ưu điểm vượt trội so với phương pháp
phẫu thuật tách mép van ĐMP. Tuy nhiên phương pháp điều trị nào cũng có
thể có nguy cơ và tai biến, thông tim điều trị nong van ĐMP bằng bóng qua
da này cũng có thể gặp tai biến [7],[11],[12],[13],[14],[15],[16],[17]. Các
nghiên cứu còn chỉ ra rằng sau nong van ĐMP bằng bóng có thể có tái hẹp với
tỷ lệ khác nhau, tỷ lệ này cao hơn ở nhóm trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh [9], [11],[13],
[16],[18],[19].
Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả của
phương pháp điều trị hẹp van ĐMP đơn thuần cho trẻ em, đặc biệt trẻ dưới 2
tuổi. Do vậy, đề tài “Nghiên cứu kết quả nong van động mạch phổi bằng
bóng qua da ở trẻ em dưới 2 tuổi hẹp van động mạch phổi đơn thuần”
được thực hiện với hai mục tiêu sau:
1. Đánh giá hiệu quả tức thời và trong 1 năm đầu sau nong van
động mạch phổi bằng bóng qua da cho trẻ dưới 2 tuổi bị hẹp van
động mạch phổi đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
2. Nhận xét các biến cố và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nong
van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ mắc bệnh hẹp van
động mạch phổi đơn thuần dưới 2 tuổi.
Xem thêm

178 Đọc thêm

. Phương pháp đánh giá kết quả siêu âm trong lòng mạch và các thông số nghiên cứu trên IVUS

. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SIÊU ÂM TRONG LÒNG MẠCH VÀ CÁC THÔNG SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN IVUS

2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân có chỉ định chụp ĐMV và kết quả chụp ĐMV cho thấy:
Hẹp ĐMV mức độ vừa, hoặc có:
Tổn thương thân chung ĐMV trái.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Tổn thương không phải ở thân chung ĐMV trái có kết quả chụp ĐMV rõ ràng với mức độ hẹp nhẹ hoặc hẹp nhiều.
Các tổn thương tái hẹp sau can thiệp ĐMV.
Các tổn thương cầu nối từ động mạch chủ tới động mạch vành.
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Cỡ mẫu nghiên cứu: 64 bệnh nhân (căn cứ theo công thức tính cỡ mẫu).
2.3. Phương pháp đánh giá kết quả chụp ĐMV và các thông số nghiên cứu trên QCA: chiều dài tổn thương, đường kính lòng mạch nhỏ nhất, đường kính tham chiếu gần và xa, tỷ lệ phần trăm hẹp lòng mạch theo đường kính, huyết khối, vôi hoá.
2.4. Phương pháp đánh giá kết quả siêu âm trong lòng mạch và các thông số nghiên cứu trên IVUS: chọn 3 mặt cắt tiêu biểu để phân tích, bao gồm một mặt cắt nơi có diện tích lòng mạch nhỏ nhất và hai mặt cắt tham chiếu gần và xa nơi có MXV nhỏ nhất. Phân tích định tính, định lượng trước và sau can thiệp ĐMV.
2.5. Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS 10.0 – 2000 và EPI INFO 2000. Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ
Xem thêm

28 Đọc thêm

Nghiên cứu chỉ số mắt cá cánh tay và siêu âm doppler động mạch 2 chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường

NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ MẮT CÁ CÁNH TAY VÀ SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH 2 CHI DƯỚI Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, không những ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ, mà còn ở các nước châu Á đang phát triển; bệnh có xu hướng tăng nhanh nhất là ĐTĐ týp 2. Nếu phát hiện sớm, nhất là giai đoạn tiền ĐTĐ và điều trị tích cực sẽ cải thiện và bình thường hóa glucose máu tốt. Tuy nhiên, đa phần bệnh ĐTĐ týp 2 được phát hiện chậm, glucose máu quá cao, gây rối loạn chuyển hóa nặng thêm, nhất là rối loạn lipid, tăng các yếu tố viêm, làm dễ xuất hiện nhiều biến chứng nhất là biến chứng mạch máu lớn gây xơ vữa, nghẽn và tắc mạch nhất là động mạch hai chi dưới, gây hậu quả xấu là loét, hoại tử bàn chân, sau cùng là cắt cụt. Ảnh hưởng đến sức lao động và chất lượng sống của bệnh nhân. Tần suất loét bàn chân 4 10% ở bệnh nhân ĐTĐ, nguy cơ loét và cắt cụt gia tăng từ 2 đến 4 lần với tuổi và thời gian mắc bệnh. Theo nhiều tường trình, tần suất cắt cụt chi ở bệnh nhân ĐTĐ là 1,6% ở nhóm 1844 tuổi; 3,4% ở nhóm 4564 tuổi và 3,6% trên 65 tuổi. Viêm tắt động mạch chi dưới nâng tỉ lệ cắt cụt > 5 10 lần so với người không ĐTĐ. Ngoài ra, tiến trình xơ vữa nhiều mạch máu lớn là thường gặp và rất sớm ngay khi ở giai đoạn tiền ĐTĐ. Bên cạnh đó, kèm phối hợp nhiều yếu tố nguy cơ đến bệnh sinh bệnh mạch máu lớn như tăng huyết áp, tăng triglyceride, tăng BMI (thừa cân hay béo phì), thuốc lá, các markers đề kháng insulin làm rối loạn chức năng tế bào nội mạc mạch máu. Do vậy, dù ĐTĐ ở giai đoạn chưa có biểu hiện lâm sàng, cũng phải khám kỹ và dùng nhiều phương pháp thăm dò để phát hiện tổn thương mạch máu ở giai đoạn nhẹ, giúp đánh giá tiên lượng, và điều trị tích cực. Có nhiều phương pháp khám, hoặc bằng lâm sàng hoặc cận lâm sàng, nhằm phát hiện tổn thương mạch máu chi dưới từ nhẹ đến nặng giúp đánh giá yếu tố 2nguy cơ gây loét bàn chân đái tháo đường như: khám nhiệt da mu bàn chân hai bên, bắt mạch mu bàn chân, mạch chày sau, đo huyết áp các chi, tính chỉ số mắt cá cánh tay (ABI), siêu âm Doppler mạch máu, chụp nhuộm động mạch, đo thể tích mạch (plethysmograpgy) …. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn hai phương pháp thăm dò là siêu âm Doppler mạch máu chi dưới và đo huyết áp tâm thu (HATT) cánh tay và huyết áp tâm thu mắt cá, lấy tỉ số HATT ở mắt cáHATT cánh tay sẽ có chỉ số mắt cá cánh tay còn gọi là ABIankle brachial index. Bình thường, HATT mắt cá vượt quá HATT cánh tay 1224 mmHg, và giới hạn bình thường của chỉ số mắt cá cánh tay (ABI) là 11,2 . Mức thấp < 0,9 : xác định bệnh nghẽn động mạch. Đây là test mạch máu không xâm nhập, đánh giá sự hiện hữu và sự trầm trọng của bệnh động mạch (ĐM) ngoại biên, còn được dùng như một thăm khám cơ bản mà Chương trình Hội thảo Liên quốc gia xem như là chỉ số đánh giá bệnh ĐM ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường, giúp tiên lượng loét bàn chân ĐTĐ. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu chỉ số mắt cá cánh tay và siêu âm Doppler động mạch 2 chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường với 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá tỉ lệ tổn thương động mạch hai chi dưới qua chỉ số mắt cá cánh tay (ABI) và siêu âm Doppler động mạch hai chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường. 2. Xác định mối tương quan giữa chỉ số mắt cácánh tay và thông số siêu âm Doppler với tuổi, BMI, VB, thời gian phát hiện bệnh, thành phần lipid máu, glucose máu, HbA1c và độ trầm trọng bệnh lý bàn chân.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Nghiên cứu hình thái chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler trước và sau phẫu thuật đóng thông liên nhĩ

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI CHỨC NĂNG THẤT PHẢI VÀ ÁP LỰC ĐỘNG MẠCH PHỔI BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT ĐÓNG THÔNG LIÊN NHĨ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thông liên nhĩ là bệnh lý thường gặp trong các bệnh lý tim bẩm sinh,
chiếm tỷ lệ khoảng 15-20% trong tổng số bệnh tim bẩm sinh [6]. Mức độ ảnh
hưởng trên tim tùy thuộc vào kích thước lỗ thông cũng như các bệnh tim phối
hợp. Phần lớn trẻ em bị thông liên nhĩ là không có triệu chứng hoặc có triệu
chứng cơ năng không rõ rệt, do đó trẻ thường sống đến tuổi trưởng thành. Sự
quá tải về khối lượng và áp lực trong nhĩ phải, thất phải và động mạch phổi
lâu ngày dẫn đến sự dãn nhĩ phải và thất phải, và trong nhiều trường hợp sự
gia tăng tuần hoàn phổi gây ra những hậu quả nghiêm trọng như tăng áp lực
động mạch phổi và suy tim phải. Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng
như mệt, khó thở, hồi hộp, nhiễm trùng đường hô hấp dưới tái diễn và thậm
chí là thuyên tắc mạch do huyết khối. Đóng lỗ thông liên nhĩ là một chỉ định
điều trị lựa chọn cho bệnh lý thông liên nhĩ có tăng rõ rệt tỷ số lưu lượng máu
phổi và hệ thống, đặc biệt có sự quá tải thể tích thất phải cho dù bệnh nhân có
hoặc không có triệu chứng.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển vượt bật của khoa học
kỹ thuật việc đóng lỗ thông liên nhĩ qua catheter được áp dụng rộng rãi ở các
trung tâm tim mạch ở các nước tiên tiến. Ở Việt Nam đóng lỗ thông liên nhĩ
bằng phẩu thuật vẫn là phương pháp phổ biến nhất do chuyên ngành thông
tim can thiệp chỉ mới bước đầu xây dựng và phát triển. Việc chẩn đoán và
đánh giá các yếu tố về hình thái, chức năng và huyết động trong bệnh lý thông
liên nhĩ ngày càng trở nên chính xác hơn nhờ các phương tiện chẩn đoán và
thăm dò huyết động tiến bộ như siêu âm 2D, siêu âm Doppler, thông tim bằng
catheter Swan-Ganz, MRI… qua đó việc điều trị ngày càng có hiệu quả cao
đem lại chất lượng sống thực sự cho những bệnh nhân thông liên nhĩ. Tuy
nhiên, siêu âm tim Doppler để chẩn đoán, đánh giá và thăm dò chức năng tim mạch vẫn là một sự lựa chọn hàng đầu do tính hiệu quả và sự tiện ích do nó
đem lại trong lĩnh vực thực hành lâm sàng, đặc biệt trong lĩnh vực chẩn
đoán,chỉ định lựa chọn phương thức điều trị cũng như hồi sức sau phẫu thuật
tim,vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hình thái chức
năng thất phải và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler trước và
sau phẫu thuật đóng thông liên nhĩ”, nhằm hai mục tiêu sau:
1. Khảo sát sự biến đổi các thông số siêu âm Doppler tim về hình thái,
chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi trước và sau phẫu
thuật đóng thông liên nhĩ.
2. Tìm hiểu mối liên hệ giữa các thông số siêu âm Doppler về hình thái
và chức năng thất phải với kích thước lỗ thông liên nhĩ và áp lực
động mạch phổi trước phẫu thuật.
Xem thêm

75 Đọc thêm

Nghiên cứu sự biến đổi các thông số áp lực làm đầy thất trái trước và sau phẫu thuật bệnh hở van hai lá

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI CÁC THÔNG SỐ ÁP LỰC LÀM ĐẦY THẤT TRÁI TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT BỆNH HỞ VAN HAI LÁ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hở van hai lá là bệnh phổ biến và thƣờng gặp trên lâm sàng của bác sỹ
tim mạch ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trên thế giới, nguyên nhân chủ yếu
do thấp tim và một số bất thƣờng của cấu trúc van hai lá 5, 6, 7. Nếu
không điều trị và can thiệp kịp thời có thể dẫn đến suy tim và gây tử vong cho
bệnh nhân 14, 29.
Van hai lá là van nối liền nhĩ trái và thất trái giúp máu di chuyển theo
một chiều từ nhĩ xuống thất 29, 60. Hở van hai lá là tính trạng van hai lá
đóng không kìn trong thời kỳ tâm thu làm dòng máu từ thất trái phụt ngƣợc
vào nhĩ trái do tổn thƣơng tại lá van, vòng van hay bộ máy dƣới van 18,
24. Khi van hai lá bị tổn thƣơng sẽ làm ảnh hƣởng đến lƣu lƣợng máu từ nhĩ
trái xuống thất trái, làm dòng máu di chuyển ngƣợc lại xuống nhĩ trái, gây
tăng áp lực nhĩ trái, tăng áp lực thất trái trong thí tâm thu, nếu kéo dài sẽ dẫn
đến suy tim 40, 52.
Trƣớc đây, những định nghĩa kinh điển về suy tim đều nhấn mạnh đến
vai trò của chức năng tâm thu bởi ví suy tim đƣợc hiểu theo nghĩa là tính
trạng giảm cung lƣợng tim so với nhu cầu của cơ thể do giảm khả năng co
bóp của cơ tim 42, 62. Thế nhƣng có những trƣờng hợp suy tim trên lâm
sàng nhƣng chức năng tâm thu thất trái vẫn bính thƣờng 52. Có thể nói đây
là trƣờng hợp suy tim do suy chức năng tâm trƣơng và một trong những
nguyên nhân gây suy chức năng tâm trƣơng là do tăng áp lực làm đầy máu
thất trái, ngƣời ta thấy rằng giai đoạn muộn của suy tim do suy chức năng tâm
trƣơng, chức năng tâm thu cũng bị ảnh hƣởng, làm tiên lƣợng bệnh nhân càng
nặng nề hơn 37, 52.
Bên cạnh điều trị nội khoa bằng thuốc thí phẫu thuật van hai lá là một biện
pháp giúp khôi phục trạng thái hoạt động hiệu quả của van hai lá 1,3. Hiện
nay có nhiều phƣơng pháp phẫu thuật van hai lá nhƣ sửa van hai lá, thay van hai 2

lá bằng van sinh học hoặc van cơ học, giúp điều trị triệt để bệnh van hai lá, cải
thiện huyết động của tim, giúp giảm bớt hoặc loại trừ các yếu tố làm ảnh hƣởng
đến huyết động của tim, ảnh hƣởng đến sự co bóp của thất trái, cải thiện tính
trạng suy tim do bệnh hở van hai lá gây nên 18, 27.
Ngày nay, siêu âm tim và đặc biệt siêu âm tim màu giúp đánh giá và
chẩn đoán chình xác bệnh van hai lá cũng nhƣ mức độ và tính trạng của lá van
10. Bên cạnh đó nhờ sự phát triển kỹ thuật siêu âm Doppler mô 30,44,
góp phần đánh giá khá khách quan các yếu tố ảnh hƣởng của bệnh van tim lên
quá trính hoạt động của tim, nhất là các yếu tố ảnh hƣởng đến sự co bóp của
thất trái nói chung và các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng làm đầy thất trái nói
riêng 21, 34.
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trính nghiên cứu, đánh giá chức
năng tâm trƣơng thất trái cũng nhƣ áp lực làm đầy thất trái trong các bệnh lý
tim mạch nhƣ bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh hẹp hở van hai lá
16, 22, 42.
Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay vẫn chƣa có các công trính nghiên
cứu áp lực làm đầy thất trái trong bệnh lý van tim, mặc dù phẫu thuật van hai
lá đã thực hiện từ lâu. Ở Bệnh viện Trung ƣơng Huế phẫu thuật van hai lá
thực hiện từ năm 2000 và đến nay đã giúp điều trị tốt cho bệnh nhân bệnh lý
van tim 3.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài
luận văn: “Nghiên cứu sự biến đổi các thông số áp lực làm đầy thất trái
trước và sau phẫu thuật bệnh hở van hai lá”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Khảo sát các thông số đánh giá áp lực làm đầy thất trái trước và sau
phẫu thuật bệnh hở van hai lá tại Bệnh Viện Trung ương Huế.
2. Đánh giá mối liên quan giữa các thông số áp lực làm đầy thất trái
với mức độ suy tim trước và sau phẫu thuật.
Xem thêm

85 Đọc thêm

Bài Thí Nghiệm: SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM

BÀI THÍ NGHIỆM: SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM

Bài Thí Nghiệm:SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂMI.Mục ĐíchNắm được cách sử dụng cơ bản đối với một máy siêu âm.Kết nối đầu dò, khởi động máy, thao tác với đầu dò, thu nhận hình ảnh.Cải thiện chất lượng hình ảnh, đo lường tính toán trên ảnh thu được.II.Thiết Bị Máy siêu âm trắng đen Medison SonoAce 3200. Đầu dò Linear tần số 7.5Mhz (ngang). Đầu dò Convex tần số 3.5Mhz (rẽ quạt).III.Yêu Cầu1.Đối với Động mạch cảnhThực hiện với đầu dò Linear.Thu nhận hình ảnh mặt cắt và đồ thị chuyển động của: 1. Động mạch cảnh chung.2. Động mạch cảnh trong và ngoài.Cải thiện hình ảnh thu được (lưu lại hình ảnh tốt nhất có được).Đo lường các thông số sau cho đối tượng hình ảnh thu được:(chỉ đo đối với động mạch cảnh chung)A.Với B và BB Mode.+ Đường kính (D – mm).+ Chu vi (C – mm).+ Diện tích (A – mm2).B.Với BM và M Mode.+ Chu kỳ (T – s).+ Vận tốc (V – mms).+ Nhịp đập (H – bm).2.Đối với GanThực hiện với đầu dò Convex.Thu nhận hình ảnh mặt cắt của:1.Mặt cắt dọc của gan.2.Mặt cắt chéo hạ sườn của gan.Cải thiện hình ảnh thu được (lưu lại hình ảnh tốt nhất có được).Đo lường các thông số sau cho đối tượng trên:+ Bề rộng động mạch chủ (D – mm).+ Chu vi túi mật (C – mm).+ Diện tích túi mật (A – mm2).IV.Trình Tự1.Đối với Động mạch cảnh1. Tĩnh Mạch Sau Hàm2. Động Mạch Cảnh Ngoài3. Động và Tĩnh Mạch Mặt4. Động và Tĩnh Mạch Lưỡi5. Động Mạch Cảnh Ngoài6. Tĩnh Mạch Cảnh Trong7. Tĩnh Mạch Cảnh Ngoài1. Tĩnh Mạch Sau Hàm2. Động Mạch Cảnh Ngoài3. Tăng Âm (bề mặt xương hàm)4. Tuyến Mang Tai5. Cơ CắnPhần 1: A:Dựa vào kiến thức giải phẫu học, đặt đầu dò lên cơ thể sao cho thu nhận được hình ảnh mặt cắt ngang đối với động mạch cảnh. Lưu ý: không đặt đầu dò đè quá sát, sẽ làm hẹp động mạch.Dùng phím FREEZE để giữ hình ảnh cần thu nhận.Tiến hành tiếp phần 2 và phần 3A.B:Chọn chế độ BM Mode để dễ quan sát.Dựa vào kiến thức giải phẫu học, đặt đầu dò lên cơ thể sao cho thu nhận được hình ảnh mặt cắt ngang đối với động mạch cảnh là rõ nhất, phía M Mode có đồ thị chuyển động rõ nét nhất.Giữ nguyên đầu dò, chuyển sang M Mode để dễ đo lường.M Mode có hình ảnh toàn vẹn và đều nhất > ấn FREEZE.Tiến hành tiếp phần 2 và 3B.Phần 2: Nếu hình ảnh thu được là chưa tốt, dùng các volume ngoài, hoặc các công cụ cải thiện ảnh của máy để thu và lưu giữ (chụp) lại ảnh chất lượng tốt nhất.Phím MENU > IMAGEPRO > Sel.+ GAMMA: 4 mức màu có sẵn của máy.+ FRM.AVR: 4 mức tốc độ thu nhận hình ảnh của máy.+ NEGA: hoán đổi trắng và đen.+ WINDOW: đồ thị màu trắng đen.+ HISTOGRAM: đồ thị thang xám.+ ZOOM: phóng to vùng quan sát.Dùng máy ảnh, điện thoại,… chụp và lưu giữ lại hình ảnh từ màn hình máy siêu âm.Phần 3:A:Từ hình ảnh thu nhận được, thực hiện đo lường tính toán đối với đối tượng.Thực hiện đo đường kính mặt cắt động, tĩnh mạch:Phím MEAS > DISTANCE > Sel.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm đầu của đường kính, ấn Sel để chọn điểm đầu.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm cuối của đường kính, ấn Set để kết thúc đối tượng.Kết quả đường kính (D – mm) được hiển thị bên phải màn hình.Thực hiện đo chu vi mặt cắt động, tĩnh mạch:Phím MEAS > TRANCE > Sel.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm đầu của chu vi, ấn Sel để chọn điểm đầu.Lăn bi cẩn thận khoanh vùng cần đo chu vi, ấn Set để kết thúc đối tượng.Kết quả chu vi (C – mm) được hiển thị bên phải màn hình.B:Thực hiện đo vận tốc động mạch cảnh:Phím MEAS > VELOCITY > Sel.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm cực tiểu thứ nhất, ấn Sel để chọn điểm đầu.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm cực tiểu thứ ba, ấn Set để kết thúc đối tượng.Kết quả vận tốc (V – mms) được hiển thị bên phải màn hình.Thực hiện đo chu kỳ và nhịp đập của động mạch cảnh:Phím MEAS > HRATE > Sel.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm cực đại thứ nhất, ấn Sel để chọn điểm đầu.Lăn bi đưa con trỏ đến điểm cực đại thứ ba, ấn Set để kết thúc đối tượng.Kết quả chu kỳ (T – s) và nhịp đập (H – bm) được hiển thị bên phải màn hình.2.Đối với Gan và Mật Trình tự thực hiện tương tự với Động Mạch Cảnh, chụp ảnh, tính các số liệu.3.Đối với ThậnXác định hình ảnh mặt cắt ngang của thận, chụp ảnh lại, không cần tính toán.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Nghiên cứu thay đổi chức năng tim ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

NGHIÊN CỨU THAY ĐỔI CHỨC NĂNG TIM Ở BỆNH NHÂN VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

Đặt vấn đề

Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis) là một bệnh viêm mạn
tính có tính chất hệ thống. Ngoài tổn thương viêm mạn tính màng hoạt dịch
khớp, tổn thương tim ngày càng được giới y học quan tâm. Cobb và CS (dẫn
theo [43]) dường như là những tác giả đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này.
Ngay từ những năm 1953, các tác giả này nhận thấy thời gian sống của bệnh
nhân viêm khớp dạng thấp ngắn hơn, chất lượng sống của họ kém hơn so với
người dân nói chung và so với những người không mắc bệnh viêm khớp dạng
thấp nói riêng [43]. Sau đó, nhiều tác giả ở các quốc gia khác nhau trên thế
giới đK có chung một nhận định về tầm quan trọng của các nguy cơ tim mạch
trên đối tượng này (Mutru -1989 [50], Corrao-1995 [30], Rexhepaj-2006 [55],
Udayakumar- 2007 [62]).
Viêm màng ngoài tim, rối loạn dẫn truyền, viêm động mạch vành, tổn
thương van tim, viêm động mạch chủ, viêm cơ tim, nhồi mỏu cơ tim, suy tim
sung huyết, tăng áp lực động mạch phổi... là các biểu hiện tim mạch của bệnh
viêm khớp dạng thấp đK được nhiều tác giả đề cập đến [31], [33]. Các yếu tố
nguy cơ về tim mạch liên quan đến quá trình viêm trong bệnh này đK được
biết đến là CRP và tốc độ máu lắng [55], [62], và sự có mặt của yếu tố dạng
thấp RF [50].
Nếu không được chẩn đoán sớm, không được điều trị đúng và kịp thời,
tổn thương tim sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, là gánh
nặng cho gia đình và xK hội và là nguy cơ tử vong của bệnh nhân viêm khớp
dạng thấp. Tuy nhiên, các tổn thương tim mạch ở bệnh nhân viêm khớp dạng
thấp không phải luôn có biểu hiện lâm sàng. Từ những năm 1990, siêu âm
Dopler tim- một phương pháp thăm dò không chảy máu- đK trở thành xét
nghiệm thường quy, có khả năng khảo sát đồng thời các biến đổi về hình thái,
chức năng và huyết động trong các bệnh lý tim mạch. Nghiên cứu siêu âm Doppler tim trên 54 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp không có các bằng chứng
về bệnh tim mạch trên lâm sàng, có so sánh với nhóm chứng tương đồng về số
lượng, tuổi và giới, Montecucco và CS (1999) [48] đK nhận thấy có sự giảm rõ
rệt, có ý nghĩa thống kê về các chỉ số chức năng tâm trương của thất trái, bao
gồm tỷ lệ E/A và chỉ số đỉnh của đường kính thất trái. Alparslan và CS (2007)
[19] nghiờn cứu siờu õm Doppler tissue trờn 60 bệnh nhõn VKDT khụng cú
biểu hiện bệnh lý tim mạch trờn lõm sàng, kết quả cho thấy thời gian giảm tốc
súng E (DT) và thời gian gión ủồng thể tớch (IVRT) kộo dài cú ý nghĩa thụng
kờ so với nhúm chứng. Tác giả cũng thấy có mối liên quan giữa các chỉ số
chức năng tâm trương của thất trái với tuổi bệnh nhân, mối liên quan này độc
lập với thời gian mắc bệnh. Theo Montecucco (1999) [48], mối liên quan giữa
các chỉ số tâm trương và thời gian mắc bệnh trong VKDT tiến triển mở ra một
hướng nghiên cứu mới đối với các bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có kết hợp
với bệnh lý tim mạch.
Tại Việt Nam, đK có một vài nghiên cứu bước đầu quan tâm đến tổn thương
tim mạch trong các bệnh khớp như lupus ban đỏ [13], xơ cứng bì [12]... Riêng
đối với bệnh viêm khớp dạng thấp mới chỉ có vài nhận xét ban đầu về các tổn
thương tim [11]. Nguyễn Vĩnh Ngọc và CS (1999) [11], nghiên cứu trên 38
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đK nhận thấy mặc dù không có các biểu hiện
lâm sàng về tim, song có 36% số bệnh nhân có các bất thường được phát hiện
trên siêu âm tim như hở (hoặc kết hợp với dày) van hai lá, van ủộng mạch chủ,
van ba lá, van động mạch phổi; dày thất trái, tăng áp lực động mạch phổi.
Chưa có nghiên cứu nào về chức năng thất trái trên siêu âm Doppler ở bệnh
nhân viêm khớp dạng thấp nước ta. Do đó chúng tôi tiến hành đề tài nhằm hai
mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu thay đổi chức năng thất trái ở bệnh nhân viêm khớp
dạng thấp.
2. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thất trái ở các đối
tượng trên.
Xem thêm

99 Đọc thêm

Nghiên cứu tỷ số giữa thời gian tâm thu và thời gian tâm trương ở người bình thường và người tăng huyết áp bằng siêu âm Doppler tim

NGHIÊN CỨU TỶ SỐ GIỮA THỜI GIAN TÂM THU VÀ THỜI GIAN TÂM TRƯƠNG Ở NGƯỜI BÌNH THƯỜNG VÀ NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp đã trở thành mối đe dọa không chỉ đối với người dân
nước ta mà còn đối với nhân dân ở nhiều khu vực trên thế giới bởi tỷ lệ mắc
bệnh ngày càng nhiều và tỷ lệ tử vong ngày một cao do các biến chứng của
bệnh. Ngày nay, tăng huyết áp được xác định là một yếu tố nguy cơ tim mạch
quan trọng. Suy tim vẫn là một biến chứng kinh điển nếu tăng huyết áp không
được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Có tới 1/3 số bệnh nhân suy tim do tăng
huyết áp có dấu hiệu lâm sàng của suy tim khi chức năng tâm thu thất trái vẫn
còn trong giới hạn bình thường [
4], [20], [21].
Siêu âm tim là phương pháp thăm dò không chảy máu hữu ích trong
chẩn đoán và theo dõi tiến triển bệnh nhân suy tim. Đặc biệt, siêu âm Doppler
tim có thể đánh giá chính xác tình trạng suy tim tâm trương rất đặc trưng của
của bệnh nhân suy tim do tăng huyết áp [
3], [21], [23], [24].
Siêu âm tim đánh giá chức năng thất trái thông qua những chỉ số được sử
dụng như: chỉ số co ngắn sợi cơ (%D), phân suất tống máu (EF)…(trong đánh
giá chức năng tâm thu thất trái) và dốc tâm trương EF, các chỉ số dòng chảy qua van hai lá trong thì tâm trương,…(trong đánh giá chức năng tâm trương
thất trái). Đối với chức năng thất phải, thường được đánh giá dựa vào đường
kính của thất phải, dạng di động của vách liên thất và dấu hiệu tăng áp lực
động mạch phổi [
6]. Gần đây, một số tác giả ứng dụng thêm hai chỉ số
Doppler mới trong đánh giá chức năng toàn bộ của tâm thất: chỉ số chức năng
cơ tim (Tei index), tỷ số giữa thời khoảng tâm thu và thời khoảng tâm trương
tâm thất (ratio of systolic to diastolic duration).
Từ vài năm nay, chỉ số chức năng cơ tim (hay còn gọi là chỉ sốTei) đã
được ứng dụng trong siêu âm Doppler tim để đánh giá cả chức năng tâm thu và
chức năng tâm trương của tâm thất. Chỉ số này đã có nhiều nghiên cứu đề cập.
Đánh giá chức năng thất trái bằng chỉ số Tei ở bệnh nhân tăng huyết áp cũng
đã được một số tác giả tiến hành nghiên cứu và cho thấy có giá trị trong chẩn
đoán suy tim [1], [
38].
Tỷ số giữa thời khoảng tâm thu và thời khoảng tâm trương
(S (systolic)/D (diastolic)) gần đây được coi là chỉ số hữu ích để đánh giá
chức năng toàn bộ của tâm thất đối với những bệnh nhân suy tim do một số
bệnh lý tim mạch. Chỉ số này đã được nghiên cứu trên trẻ em và những người
chưa trưởng thành bị suy tim do bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim hạn chế…[
31],
[
32]. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng tôi chưa tham khảo được tài liệu nào
nghiên cứu về tỷ số S/D ở người trưởng thành mắc bệnh tim mạch. Ở bệnh
nhân suy tim, người ta nhận thấy rằng thời khoảng tâm thu (được xác định là
thời khoảng của dòng hở van nhĩ thất) bị kéo dài ra và thời khoảng tâm trương
(được xác định là khoảng giữa hai dòng hở của van nhĩ thất hay là phần còn
lại của chu chuyển tim) ngắn lại [31], [32]. Thời khoảng tâm thu kết hợp cả
thời gian co và giãn đồng thể tích. Chỉ số này tương đối dễ thực hiện về mặt
kỹ thuật, ít sai số trong quá trình tiến hành và có thể dùng để chẩn đoán, theo
dõi tiến triển của bệnh nhân suy tim [11], [35]. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tỷ số giữa thời gian
tâm thu và thời gian tâm trương ở người bình thường và người tăng huyết
áp bằng siêu âm Doppler tim”, nhằm mục tiêu:
1- Nghiên cứu tỉ số giữa thời gian tâm thu và thời gian tâm trương (tỷ số
S/D) ở người bình thường và người tăng huyết áp.
2- Nghiên cứu sự tương quan của tỷ số S/D với một số thông số lâm sàng
và siêu âm Doppler tim.
Xem thêm

78 Đọc thêm

Bài báo cáo: Báo Cáo Thí Nghiệm: SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM

BÀI BÁO CÁO: BÁO CÁO THÍ NGHIỆM: SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM

Bài báo cáo:
Báo Cáo Thí Nghiệm:
SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM




























I. Động Mạch Cảnh

Hình ảnh mặt cắt của động mạch cảnh chung, trong và ngoài:



















































































Bảng số liệu đo được:

Tâm Thu Tâm Trương
Đường kính (D – mm) 9mm 9mm
Chu vi (C – mm) 24m 26mm
Diện tích (A – mm2) 47mm2 25mm2
Chu kỳ (T – s) 1,86s 1,86s
Vận tốc (V – mms)
Nhịp đập (H – bm) 64,5(bm) 64,5(bm)


Câu hỏi báo cáo:
1. Vì sao phải siêu âm động mạch cảnh?
2. Nêu cách phát hiệu bệnh Tai biến mạch máu não bằng chẩn đoán siêu âm?
Trả lời:
1: Phải siêu âm động mạch cảnh vì động mạch cảnh là nơi dễ tìm thấy nhất,có chuyển động rõ nhất,dễ xác định trong việc đưa đầu dò để siêu âm
2:Cách phát hiện bệnh Tai BIến mạch máu não là siêu âm,khi phát hiện các dấu hiệu bất thường ở động mạch vành như đập mạnh,đập lâu,hoặc không đập đó có thể là dấu hiệu của bệnh tai biến mạch máu não hoặc hình ảnh có thể thấy nhận biết được xơ vữa đọng lại ở động mạch vành
























II. Gan và Túi mật

Hình ảnh của gan và túi mật:





































Số liệu đo được:

+ Bề rộng động mạch chủ (D – mm): 54mm
+ Chu vi túi mật (C – mm): 140mm
+ Diện tích túi mật (A – mm2): 1611mm2

Câu hỏi báo cáo:
1. Kể tên các bệnh lý thường gặp trong chẩn đoán siêu âm gan?
2. Làm sao nhận biết gan nhiễm mỡ, xơ gan thông qua siêu âm?
3. Trong những trường hợp nào, siêu âm không thể nhìn thấy túi mật?
4. Vì sao túi mật đột nhiên to hơn mức thông thường?

Trả lời:
1. Các bệnh lý thường gặp trong chẩn đoán siêu âm gan:Ung thư gan,gan nhiễm mỡ,xơ gan,viêm gan cấp và mãn tính, ápxe gan, sán lá gan, nang gan, u máu trong gan …
2. Siêu âm có thể phân định được các thùy, phân thùy và hạ phân thùy của gan, dựa trên mối liên quan với động mạch chủ và tĩnh mạch dưới, tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch trên gan. Siêu âm có thể phát hiện nhiều loại thương tổn gan.
Đối với bệnh nhân viêm gan cấp tính và mạn tính, siêu âm gan có thể thấy được các tổn thương của gan, kích thước gan tăng nhưng hình nhu mô gan chưa thấy có biến đổi rõ rệt.
Ở bệnh gan nhiễm mỡ, khi siêu âm sẽ thấy một phần hay toàn bộ nhu mô gan sáng, từ đó có thể đánh giá được tình trạng gan nhiễm mỡ của người bệnh.
Xơ gan: chẩn đoán siêu âm dự vào kích thước gan và nhu mô gan. Kích thước gan lúc đầu tăng lên, về sau ở giai đoạn muộn gan teo nhỏ. Ở giai đoạn muộn của xơ gan, siêu âm còn có thể thấy gan có hình nốt nhỏ và vừa đường kính dưới 1cm.
Ngoài ra, siêu âm còn có thể phát hiện các hậu quả của xơ gan như cổ trướng, dãn tĩnh mạch, lách to.
Ung thư gan: ung thư gan có thể phát triển trên nhu mô gan lành nhưng đa số (63 – 83%) xuất hiện trên gan xơ do rượu hoặc do hậu quả của viêm gan virus. Ở người lớn, đại đa số là ung thư biểu mô tế bào gan, ở trẻ em nhất là dưới 2 tuổi thường là ung thư phôi bào gan. Dấu hiệu siêu âm của ung thư gan thường thấy là gan to toàn bộ hoặc riêng 1 thùy hay phân thùy, mặt gan gồ ghề nếu u nằm ở lớp nông, góc dưới và góc bên của gan mở rộng và tù. Trong thể 1 ổ hình siêu âm của u là 1 khối đặc bờ đều hoặc không đều, xung quanh thường có 1 bờ viền giảm âm, kích thước ở giai đoạn sớm dưới 3cm, ở giai đoạn muộn có thể trên 10cm. Trong trường hợp u bị hoại tử, sẽ thấy hình 1 khối đặc ở giữa rỗng, bờ hốc rỗng dày và không đều.

Nếu ung thư gan phát triển trên gan lành, hình nhu mô gan xung quanh bình thường, còn nếu ung thư xuất hiện trên gan xơ sẽ có dấu hiệu siêu âm của xơ gan kèm theo.

3. Trong những trường hợp nào, siêu âm không thể nhìn thấy túi mật?
Bất thường bẩm sinh của túi mật: Bất sản túi mật > Không nhìn thấy túi mật > Tỷ lệ 0,01 đến 0,04% có thể chuẩn đoán xác định bằng chụp đường mật.
Ngoài ra còn một số yếu tố chủ quan như: nằm không đúng tư thế, bị che khuất bởi gan, tránh bóng cản khí của ruột, để tránh các nhiễu ảnh dội ở túi mật nằm nông, cchs đặt dầu dò chưa chính xác



4. Vì sao túi mật đột nhiên to hơn mức thông thường?
Túi mật bình thường có thể chứa từ 30 đến 5mL . Tuy nhiên đo thể tích trên siêu âm rất khó, giá trị thể tích đã báo cáo chỉ từ 17 đến 27 ml. Túi mật giãn khi đường kính ngang lớn hơn 4cm (đo trên trục dọc) ở người lớn. Các nguyên nhân: viêm túi mật cấp, tắc đường mật chung hoặc ống túi mật, nhịn đói kéo dài, giãn sau phẫu thuật, đái tháo đường. Ở trẻ em, túi mật giãn có thể do bệnh Kawasaki (hội chứng nốt lympho niêm mạcda). Ứ dịch túi mật ở trẻ con cũng gặp trong nuôi dưỡng ngoài ruột, và ít gặp hơn trong nhiễm khuẩn hô hấp trên, viêm chẩn đoán phân biệt với màng trong lòng túi mật: viêm túi mật hoại thư, polype cholesterole























III. Thận

Hình ảnh của thận trái và phải:








































Câu hỏi báo cáo:
1. Sỏi thận khi siêu âm, có màu trắng hay đen trên ảnh siêu âm?
2. Nêu một số bệnh lý chẩn đoán được khi siêu âm thận?

Trả lời:
1.Sỏi thận khi siêu âm màu đen trên ảnh siêu âm.
2.Một số bệnh lý chẩn đoán được khi siêu âm thận:
Bệnh lý chủ mô thận.
Hẹp động mạch thận.
Các khối u thận.
Và các vấn đề kết hợp với ghép thận
Xem thêm

8 Đọc thêm

Trắc nghiệm về suy tim

TRẮC NGHIỆM VỀ SUY TIM

Suy tim là:
A. Một trạng thái bệnh lý.
B. Tình trạng cơ tim suy yếu nhưng còn khả năng cung cấp máu theo nhu cầu của cơ thể.
C. Tình trạng cơ tim suy yếu cả khi gắng sức và về sau cả khi nghĩ ngơi.
D. Do tổn thương tại các van tim là chủ yếu.
E. Do tổn thương tim toàn bộ.
Nguyên nhân kể sau không thuộc nguyên nhân suy tim trái:
A. Tăng huyết áp.
B. Hở van hai la.
C. Còn ống động mạch.
D. Hở van hai lá.
E. Thông liên nhĩ.
Nguyên nhân kể sau không thuộc nguyên nhân suy tim phải:
A. Hẹp hai lá.
B. Tứ chứng FALLOT.
C. Viêm phế quản mạn.
D. Tổn thương van ba lá.
D. Hẹp động mạch phổi.
E. Bệnh van động mạch chủ.
Xem thêm

4 Đọc thêm

HỞ VAN HAI LÁ (CHUYÊN KHOA 1)

HỞ VAN HAI LÁ (CHUYÊN KHOA 1)

• Dãn nhĩ trái: P&gt;=0.12s ở DII, P 2 đỉnh khoảngcách 2 đỉnh &gt; 0.04s, P hai pha, pha âm &gt; phadương ở V1.• Rung nhĩ• Dấu dãn thất trái: (1/3) S ở V1 + R ởV5(V6)&gt;=3.5mV• Dấu dày thất phải: (15%) R ở V1 + S ởV5(V6)&gt;=1.1mVĐiỆN TÂM ĐỒ:CẬN LÂM SÀNG• XQ PHỔI:• Nhĩ trái to• Thất trái toCẬN LÂM SÀNG• SIÊU ÂM TIM• Giúp chẩn đoán xác định, lượng giá độ nặng,CĐ phẩu thuật, phương pháp PT, theo dõi kếtquả, quyết định sử dụng thuốc trong điều trịnội khoa.• Doppler xung: độ nhạy 90%, độ chuyên biệt95%• Doppler màu: độ nhạy 94%, độ chuyên biệt100%• Doppler liên tục: phổ tâm thu 5-6m/s
Xem thêm

24 Đọc thêm

Nghiên cứu vai trò của phương pháp đo huyết áp tầng trong chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới có đối chiếu với siêu âm doppler và chụp mạch

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP TẦNG TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI SIÊU ÂM DOPPLER VÀ CHỤP MẠCH

Đặt vấn đề
Bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
ở các nước phát triển và đang phát triển, trong đó các bệnh lý về động mạch là
loại bệnh lý rất phổ biến trong nhóm bệnh này, bệnh mạch vành và bệnh mạch
não là hai nhóm bệnh về mạch máu đã được chú ý nhiều nhất.
Ngoài ra bệnh lý động mạch ngoại biên đang thu hút được nhiều sự
quan tâm vì xu hướng phát triển của các bệnh lý chuyển hoá làm bệnh lý động
mạch ngoại biên ngày càng tăng cao. Bên cạnh những gánh nặng mà bản thân
bệnh gây ra, bệnh động mạch ngoại biên còn là yếu tố độc lập dự báo nguy cơ
mắc các biến cố tim mạch tăng cao hơn từ 1,05 – 3,77 lần so với nhóm không
bị bệnh [7][27][41][42].
Bệnh động mạch chi dưới là bệnh lý phổ biến nhất trong nhóm bệnh
động mạch ngoại biên. Tại Mỹ, ước tính có khoảng 8,4 triệu người mắc bệnh
lý này, từ mức độ không có triệu chứng lâm sàng đến biểu hiện lâm sàng
nặng của bệnh như hoại tử và mất tổ chức[27][41][42]. Bệnh gây ảnh hưởng
nghiêm trọng chất lượng cuộc sống và khả năng lao động của bệnh nhân. Họ
thường xuyên phải chịu đựng những cơn đau, giảm khả năng làm việc, điều trị
tốn kém, phải phẫu thuật tháo khớp và cuối cùng thành tàn phế.
Bên cạnh việc thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng, hiện nay những phương
pháp chẩn đoán không xâm nhập đã góp phần quan trọng trong chẩn đoán
sớm và chẩn đoán xác định căn bệnh này. Trong đó siêu âm Doppler mạch và
chụp động mạch là hai phương pháp giúp chẩn đoán xác định và cho kết quả
chính xác cao. Siêu âm Doppler là phương pháp thăm dò không chảy máu, cho
kết quả nhanh. Khi so sánh với tiêu chuẩn vàng là chụp động mạch thì siêu âm
tỏ ra là một phương pháp chẩn đoán tin cậy có độ nhạy và độ đặc hiệu
cao[38][43][50][59]. Mặt khác, việc kết hợp siêu âm Doppler với chụp mạch sẽ giúp đánh giá chính xác tổn thương cả về mặt hình thái và huyết động để có
thể đưa ra quyết định điều trị đúng đắn.
Tại Việt Nam, bệnh động mạch chi dưới ngày càng được quan tâm
nhằm phát hiện sớm và có biện pháp điều trị kịp thời (điều trị nội khoa, mổ
bắc cầu nối động mạch, can thiệp động mạch) qua đó cải thiện chất lượng
cuộc sống cho bệnh nhân.Với mong muốn tìm hiểu giá trị của một số phương
pháp thăm dò không chảy máu trong chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới,
chúng tôi thực hiện đề tài “nghiên cứu vai trò của phương pháp đo huyết áp
tầng trong chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới có đối chiếu với Siêu âm
Doppler và chụp mạch”, với mục tiêu:
1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân có bệnh lý
động mạch chi dưới.
2. Nghiên cứu vai trò của phương pháp đo huyết áp tầng trong chẩn
đoán bệnh động mạch chi dưới có đối chiếu với Siêu âm Doppler và
chụp mạch.
Xem thêm

96 Đọc thêm

HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ VÀ ĐIỀU TRỊ

HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ VÀ ĐIỀU TRỊ

Trong những trường hợp hở van động mạch chủ nặng, thì lưu lượng tâm thu qua lỗđộng mạch chủ tăng lên mạnh: mặc dù van động mạch chủ không bị hẹp thực thể,nhưng vẫn nghe thấy tiếng thổi tâm thu ở ổ van này, đôi khi kèm theo tiếng rung tâmthu, và trong những trường hợp nặng hơn nữa thì cả tiếng rung tâm trương.Xét nghiệm bổ sung•X quang: động tính của tâm thất tăng, quai động mạch chủ giãn mạnh trong thìtâm thu. Tâm thất phì đại rõ rệt với tỷ số tim- lồng ngực lớn hơn 0,5 là dấu hiệu hở vanđộng mạch chủ đã ở giai đoạn muộn. Động mạch chủ giãn to và duỗi ra. Hiếm khi thấycác van động mạch chủ có vết vôi hoá. Những vết vôi hoá hình đường thẳng ở độngmạch chủ lên là đặc điểm của bệnh giang mai, còn những vết vôi hoá hình tròn ở nútvà quai động mạch chủ lại là đặc điểm của bệnh xơ vữa động mạch. Tâm nhĩ trái giãnto với các dấu hiệu ứ trệ ở phổi là biểu hiện của hở van động mạch chủ nặng.•Chụp động mạch: cho phép ước lượng mức trào ngược của phân số tông máu.Những bệnh nhân trên 40 tuổi nếu có ý định đặt van giả thì còn cần phải chụp độngmạch vành.•Điện tâm đồ:nếu không có tật van hai lá kết hợp, thì nói chung tim đập theo nhịpxoang. Khoảng P-R có thể kéo dài. Những dấu hiệu phì đại thất trái thường xuất hiệnmuộn.•
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nghiên cứu sự biến đổi dòng chảy qua van nhĩ thất bằng siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim trước và sau chọc hút dịch

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI DÒNG CHẢY QUA VAN NHĨ THẤT BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN TRÀN DỊCH MÀNG NGOÀI TIM TRƯỚC VÀ SAU CHỌC HÚT DỊCH

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tràn dịch màng ngoài tim là tình trạng tăng lượng dịch ở trong khoang
màng ngoài tim. Tràn dịch màng ngoài tim có thể là dịch vàng chanh, dịch máu,
dịch mủ, dịch dưỡng chấp. Tràn dịch màng ngoài tim do rất nhiều nguyên nhân
khác nhau gây ra.
Tràn dịch màng ngoài tim (TDMNT) là tình trạng bệnh lý khá thường gặp
trên lâm sàng. Bệnh có thể tiến triển hoàn toàn thầm lặng, không có triệu chứng
nhưng cũng có thể nguy kịch tới tính mạng bệnh nhân trong trường hợp ép tim
cấp [
8][9][16][32].
Tại Mỹ 3,4% các trường hợp giải phẫu tử thi có TDMNT số lượng ít và
TDMNT là nguyên nhân gây tử vong 86% ở những bệnh nhân ung thư [
76].
Ở Việt Nam theo nghiên cứu gần đây thì tỷ lệ bệnh lý màng ngoài tim
chiếm 2,4% trong tổng số những bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch
Việt Nam trong thời gian 2003-2007 [
15].
Về mặt sinh lý bệnh, ảnh hưởng của tràn dịch màng tim đến hoạt động của
tim có liên quan đến số lượng dịch và thời gian tiến triển cấp tính hay mạn tính.
Ép tim xẩy ra khi áp lực trong khoang màng ngoài tim cao hơn áp lực trong
buồng tim. Ép tim thường xẩy ra ở bên phải rất hiếm khi ở bên trái do thành tim
phải mỏng hơn bên trái và áp lực trong buồng tim phải thấp hơn trong buồng tim
trái. Việc đánh giá lượng dịch và ảnh hưởng huy
ết động rất quan trọng trong
chẩn đoán và điều trị tràn dịch màng tim. Khi có ép tim xảy ra, chỉ định bắt buộc
là chọc tháo dịch màng tim [
11][12][28][62][68].
Siêu âm tim TM, 2D và Doppler tim cho thấy là phương pháp tốt giúp
chẩn đoán xác định, đánh giá lượng dịch và ảnh hưởng đến huyết động của dịch
màng tim thông qua dòng chảy qua các van tim hai lá, ba lá [
5][8][11][32][76]. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy siêu âm có vai trò quyết định trong
chẩn đoán TDMNT, siêu âm có độ chính xác cao trong đánh giá lượng dịch.
Năm 1991 Rishi KS và cộng sự đã tiến hành theo dõi sự biến đổi dòng chảy
qua van hai lá bằng siêu âm Doppler màu ở những bệnh nhân ép tim cấp [
64].
Leeman DE và cộng sự đã tiến hành đánh giá sự biến đổi theo hô hấp của
vận tốc dòng chảy qua các van tim ở bệnh nhân ép tim bằng siêu âm Doppler
[
42]. Burstow DJ và cộng sự đã nghiên cứu về các đặc tính của siêu âm Doppler
trên bệnh nhân ép tim [
25]. Appleton và cộng sự đã nghiên cứu sự biến đổi vận
tốc dòng chảy qua các van tim theo hô hấp bằng siêu âm Doppler tim ở bệnh
nhân ép tim và TDMNT [
23].
Năm 1999 Mercé J và các cộng sự đã nghiên cứu mối liên quan giữa lâm
sàng và siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân TDMNT mức độ vừa và nhiều gợi ý
cho chẩn đoán chèn ép tim cấp [
54]
Các nghiên cứu đã cho thấy thay đổi các dòng chảy qua van hai lá, van ba lá
so sánh hít vào thở ra có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán ép tim.
Việt Nam đã có một số nghiên cứu về vấn đề bệnh lý màng ngoài tim [
3],
tuy nhiên chưa có nghiên cứu toàn diện nào về siêu âm tim trong TDMNT.
Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi dòng chảy
qua van nhĩ thất bằng siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân tràn dịch màng
ngoài tim trước và sau chọc hút dịch”. Với mục tiêu nghiên cứu là:
Mục tiêu nghiên cứu

1. Nghiên cứu sự biến đổi một số thông số dòng chảy qua van hai lá,
van ba lá bằng siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim
trước và sau chọc hút dịch màng tim.
2.Nghiên cứu mối liên quan giữa những thông số dòng chảy qua van
nhĩ thất với một số triệu chứng lâm sàng và một số thông số siêu âm khác.
Xem thêm

111 Đọc thêm

nghiên cứu các chỉ số doppler mô cơ tim bình thường của thất trái theo phân vùng dọc và ngang cạnh ức

NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ SỐ DOPPLER MÔ CƠ TIM BÌNH THƯỜNG CỦA THẤT TRÁI THEO PHÂN VÙNG DỌC VÀ NGANG CẠNH ỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ


Siêu âm tim là phương pháp đánh giá chức năng tim không xâm nhập, là phương tiện chẩn đoán có giá trị quyết định trong nhiều bệnh lý tim mạch và là sự tiếp nối hợp lý của khám lâm sàng và đọc điện tim của bệnh nhân tim mạch, giúp chúng ta lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp nhất.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các phương pháp siêu âm tim truyền thống (2D, TM, doppler các dòng chảy qua các van tim) cũng gặp các khó khăn do tình trạng tăng áp lực đổ đầy thất trái, tăng áp lực nhĩ trái tạo các hình ảnh giả bất thường khi đánh giá chức năng tâm trương, hoặc do ảnh hưởng của tiền gánh, tình trạng rung nhĩ, cũng như nhịp tim nhanh. Còn khi đánh giá chức năng tâm thu thất trái theo phương pháp Simpson lại gặp khó khăn do không xác định chính xác được màng trong tim. Siêu âm Doppler mô cơ tim (Tissue Doppler Imaging – TDI) là phương pháp bổ sung khắc phục được những nhược điểm của siêu âm truyền thống đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.[ ]
Siêu âm Doppler mô cơ tim cho biết vận động của thành tim trong các kỳ tâm thu và tâm trương, tức là những thông tin liên quan đến chức năng tâm thu và tâm trương của tâm thất. Doppler mô vòng van hai lá là kỹ thuật tốt, đánh giá khả năng dãn của cơ tim và không như doppler quy ước dòng chảy qua van hai lá; nó ít chịu ảnh hưởng của tiền gánh và hậu gánh.[21 nav]Một số ứng dụng hiện nay: đánh giá chức năng tâm thu thất trái, đánh gía áp lực đổ đầy thất trái và suy tim tâm trương, nhận diện mẫu Doppler giả bình thường trong giảm chức năng tâm trương thất trái, đánh giá chức năng thất phải, phân biệt viêm màng ngoài tim co thắt với bệnh cơ tim hạn chế, chẩn đoán sớm bất thường gene, chẩn đoán sự mất đồng vận của thất . [21 nav].
Muốn nhận biết được những bất thường vận động thành tim thì phải nắm vững được các chỉ số bình thường.
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có công bố đầy đủ về các chỉ số Doppler mô tim bình thường. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu các chỉ số Doppler mô cơ tim bình thường của thất trái theo phân vùng dọc và ngang cạnh ức” nhằm các mục đích:
1. Khảo sát các chỉ số Doppler mô vòng van 2 lá và một số phân vùng dọc và ngang cạnh ức của thất trái ở ngườii bình thường từ 18 đến 59 tuổi.
2. Xác định mối tương quan giữa các chỉ số Doppler mô với tuổi, giới , chỉ số Doppler qui ước (chỉ số VE/VA).
Xem thêm

91 Đọc thêm

Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số Doppler của động mạch trung tâm võng mạc ở bệnh nhân chấn thương đụng dập nhãn cầu

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT SỐ CHỈ SỐ DOPPLER CỦA ĐỘNG MẠCH TRUNG TÂM VÕNG MẠC Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG ĐỤNG DẬP NHÃN CẦU

đặt vấn đề

Chấn thương mắt là cấp cứu hay gặp trong nh n khoa. Cho đến nay, chấn
thương mắt vẫn là một trong những nguyên nhân chính gây ra mù loà đặc biệt
mù một mắt [10]. ở Canada, chấn thương mắt là nguyên nhân dẫn đầu gây tổn
hại thị lực [18], trong khi đó, ở Mỹ lại là nguyên nhân đứng thứ hai sau đục
thể thuỷ tinh [2]. ở Việt Nam, theo báo cáo thống kê trong hội nghị ngành
mắt tháng12/2000 và tháng 7/2002 nguyên nhân chấn thương đứng hàng thứ
năm sau các nguyên nhân gây mù khác [10].
Tỷ lệ chấn thương so với các bệnh về mắt chiếm khoảng 6,2-15%, bao
gồm chấn thương đụng dập và chấn thương xuyên. Chấn thương đụng dập
nh n cầu là loại chấn thương rất thường gặp chiếm 20-50% chấn thương mắt
nói chung [11][13]. Cơ chế đụng dập rất khác nhau, có thể tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp. Sau khi bị va đập, tất cả các bộ phận của mắt đều có thể bị tổn
thương, đều chịu một quá trình bệnh lý thứ phát: quá trình viêm, thoái hoá,
liên quan mật thiết đến rối loạn tuần hoàn và dinh dưỡng làm cho cơ chế bệnh
sinh phức tạp, bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, điều trị nan giải, kết quả hạn chế
và đặc biệt tiên lượng sau chấn thương gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, vấn đề
xoay quanh chấn thương đụng dập được rất nhiều nhà nh n khoa trong và
ngoài nước quan tâm.
Trên thế giới, đ có rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh bệnh học
của chấn thương đụng dập nh n cầu và cho thấy những rối loạn huyết động
của các mạch máu tại mắt sau khi va đập nh n cầu là một trong những mắt
xích quan trọng trong cơ chế tổn thương [59]. Trong những năm gần đây, nhờ
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đ có nhiều phương pháp khác nhau được
sử dụng để thăm khám các mạch máu ở mắt. Trong đó, siêu âm Doppler màu
sử dụng hiệu ứng Doppler, với đầu dò có độ phân giải cao cho phép đo được tốc độ dòng chảy của các mạch máu nhỏ ở mắt như: ĐMTTVM, TMTTVM,
động mạch mắt, động mạch mi ngắn sau…[3], giúp thăm dò tuần hoàn mạch
máu ở mắt nói chung và mắt chấn thương nói riêng một cách dễ dàng hơn.
Phương pháp này mở ra triển vọng trong nghiên cứu cơ chế sinh bệnh học, sự
rối loạn huyết động của chấn thương đụng dập, qua đó phần nào giúp cho việc
chẩn đoán, tiên lượng và điều trị ngày càng đem lại nhiều kết quả tốt hơn. Đây
là một phương pháp chẩn đoán không xâm nhập, ít tốn kém, dễ thực hiện và ít
gây ra khó chịu cho bệnh nhân.
ở nước ta siêu âm Doppler màu đ được ứng dụng để nghiên cứu
ĐMTTVM ở người bình thường, bệnh nhân đái tháo đường và bệnh nhân
Glôcôm [3][7]. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
ĐMTTVM trên bệnh nhân chấn thương đụng dập nh n cầu bằng siêu âm
Doppler màu nào được công bố. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu sự biến đổi một số chỉ số Doppler của động mạch trung tâm võng
mạc ở bệnh nhân chấn thương đụng dập nhãn cầu”, với mục tiêu:
Đánh giá sự biến đổi một số chỉ số Doppler của động mạch trung tâm
võng mạc ở bệnh nhân chấn thương đụng dập nh)n cầu.
Xem thêm

89 Đọc thêm

Cùng chủ đề