HƯỚNG DẪN CÁCH CHO TRẺ SƠ SINH BÚ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HƯỚNG DẪN CÁCH CHO TRẺ SƠ SINH BÚ":

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh

CÁCH TRỊ TÁO BÓN CHO TRẺ SƠ SINH

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh – Táo bón ở trẻ sơ sinh là một bệnh rất phổ biến ở nhiều trẻ nhỏ. Táo bón ở trẻ sơ sinh làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bé, mặt khác cũng gây nhiều khó khăn và lo lắng cho cha mẹ. Vậy cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh như thế nào cho hiệu quả? Bạn hãy tham khảo cách tri táo bón cho trẻ sơ sinh nhé.
http:wapmaster.vncachtritaobonchotresosinh.html
http:wapmaster.vn

6 Đọc thêm

Chương trình hướng dẫn dạy trẻ sơ sinh theo phương pháp glenn doman

CHƯƠNG TRÌNH HƯỚNG DẪN DẠY TRẺ SƠ SINH THEO PHƯƠNG PHÁP GLENN DOMAN

Nuôi dạy trẻ sơ sinh nhiều bà mẹ thường chú trọng vào cái ăn cái mặc của bé mà quên đi việc dạy trẻ. Trẻ sơ sinh biết gì mà dạy? Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Theo Glenn Doman trẻ sơ sinh giai đoạn từ 0 đến 3 tháng tuổi là giai đoạn trẻ có năng lực tiếp thu lớn nhất. Trẻ sơ sinh học qua 5 giác quan chính: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác. Theo Giáo sư Glenn Doman – trẻ sơ sinh mới đẻ ra chỉ nhìn được màu đen và trắng. Đến 3 tháng tuổi chúng mới nhìn được màu đỏ và các màu sắc khác. Màu đỏ là màu kích thích thị giác từ sau 3 tháng tuổi. Trước đó chúng ta chỉ nên kích thích bằng màu đen và màu trắng. Có lẽ không cần nói nhiều thì các bậc cha mẹ quan tâm đến giáo dục sớm cũng đã biết đến tầm quan trọng của việc kích thích các giác quan cho bé ngay từ lúc sinh ra. Lúc mới sinh, bé đã có các phản ứng đối với môi trường. Có thể nhận diện và quan sát các phản ứng ngay sau khi sinh. Trong số 5 giác quan, thị giác, thính giác và xúc giác là những đường dẫn quan trọng dần chuyển hóa thành khả năng đọc, hiểu và nhận thức bằng sờ mó. “Do các giác quan là không thể thay thế, nên ta cần nuôi dưỡng chúng bằng những hình thức kích thích hợp lý” – Glenn Doman khẳng định. Ngoài ra, cũng như Giáo sư Glenn Doman nói, những bài tập kích thích sẽ “hình thành ổn định các phản ứng thị giác, thính giác và xúc giác. Đây là những phản ứng bảo vệ mạng sống của bé trong suốt cuộc đời về sau.” Các mẹ hãy mang đến cho bé những tương tác như vậy bằng cách sử dụng phương pháp giáo dục trẻ sơ sinh Glenn Doman cho bé nhé.
Xem thêm

19 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH

TRANG 17 _CALL YOUR BABY’S DOCTOR_ _IF YOU NOTICE ANY OF _ _THE FOLLOWING:_ ■ Vomiting more than occasionally, or vomit that is green or bloody ■ Severe or persistent diaper rash ■ Const[r]

40 Đọc thêm

Cách cho con bú mẹ bầu CẦN biết

CÁCH CHO CON BÚ MẸ BẦU CẦN BIẾT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chúng ta đều biết rằng việc cho con bú sữa mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu đời là vô cùng quan trọng bởi trong sữa mẹ có chứa rất nhiều kháng thể mà không loại thực phẩm nào có được. Nuôi con bằng sữa mẹ còn là một nghệ thuật, giúp hình thành mối quan hệ gần gũi yêu thương. Bằng chứng khoa học đã khẳng định, sữa mẹ giúp giảm tần suất và mức độ trầm trọng của bệnh tiêu chảy, viêm đường hô hấp, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não và viêm ruột hoại tử, đồng thời cải thiện sự phát triển và nhận thức của trẻ. Tuy nhiên, sự lúng túng trong những ngày đầu làm mẹ có thể khiến chị em vô tình làm mất đi hoặc không thể cho con bú ngay từ khi bé mới ra đời. Hiểu được khó khăn này, các lớp tiền sản đã ra đời nhằm hướng dẫn chị em bầu cách cho con bú đúng chuẩn và chăm sóc ngực đúng cách để sữa về sớm, về nhiều ngay sau sinh. Hãy cũng nghe bác sĩ chuyên khoa 1 Trần Thị Bích Hà (Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc) hướng dẫn chi tiết hơn về vấn đề này.   Lớp học tiền sản thu hút sự quan tâm của rất nhiều bà bầu.   Chủ đề của buổi học này là cách cho con bú và đối mặt với các vấn đề ở "núi đôi" sau sinh.   Tháp tùng vợ bầu còn có rất nhiều đức lang quân cũng tham gia lớp tiền sản. Theo bác sĩ Bích Hà, ngày xưa các cụ thường quan niệm trẻ sơ sinh không được bú sữa non nhưng sữa này rất quan trọng. Ngay sau khi chào đời khoảng 1-2 giờ, mẹ đã có thể cho bé bú và cho con bú càng sớm càng có lợi cho bé cũng như tuyến sữa của mẹ. Về nguyên tắc cho con bú, các mẹ cần tuân thủ là: cho bé bú theo nhu cầu. Khi thấy bé có dấu hiệu đòi bú như xoay xở, không nằm yên, há miệng, ngọ nguậy, mút tay… là lúc bé đã đói. Mẹ hãy cho bé bú và để bé ăn cho đến khi trẻ tự nhả vú ra, ít nhất 15-20 phút cho mỗi bên vú. Mẹ cũng cần lưu ý là cho trẻ bú hết bên ngực này rồi mới chuyển sang bên kia để đảm bảo trẻ nhận được đủ lượng nước và dưỡng chất cần thiết trong sữa để phát triển. Thông thường, sữa đầu chỉ giúp trẻ bớt khát, muốn trẻ nhanh tăng cân, mẹ cần cho trẻ bú đến những giọt sữa sau đó khi chúng có màu nước gạo đục. Trẻ sơ sinh cần được bú cả ngày lần đêm khoảng 8-10 lần/ngày và dấu hiệu của trẻ bú đủ là khi trẻ đi tiểu từ 6 lần/ ngày trở lên.   Bác sĩ chuyên khoa I Trần Thị Bích Hà đang hướng dẫn các mẹ về cách cho con bú ngay sau sinh. Cách cho trẻ sơ sinh bú Không phải mẹ nào vừa đẻ con ra cũng biết cách cho bé bú ngay. Không ít mẹ vụng về còn gặp khó khăn khiến trẻ không thể ngậm được ti mẹ hoặc làm tịt mũi trẻ. Đây là vấn đề hết sức bình thường, tuy nhiên lại dễ dàng khắc phục nếu mẹ biết cách cho con bú. Theo bác sĩ Bích Hà, trẻ ngậm bắt vú đúng cách là: - Quầng vú phía trên còn nhiều hơn phía dưới - Cằm trẻ chạm vào vú mẹ - Môi dưới của trẻ hướng ra ngoài - Miệng trẻ mở rộng Ngoài ra, mẹ cần chú ý đến tư thế nằm của bé: Đầu và thân trẻ đảm bảo nằm trên cùng một đường thẳng, bụng trẻ áp sát vào bụng mẹ, mặt trẻ quay vào vú mẹ, mũi trẻ đối diện với núm vú. Để hỗ trợ bé bú, mẹ nên đặt ngón tay tựa vào thành ngực phía dưới vú, ngón tay trỏ nâng vú và ngón tay cái để ở phía trên. Tuy nhiên, các ngón tay của bà mẹ không nên để quá gần núm ti khiến trẻ khó ngậm đầu ti.   Một y tá đang thực hành cách bế và cho bé bú.   Khi cho con bú, chị em nên dùng một tay để bế bé còn tay kia để đỡ ngực. Các vấn đề thường gặp khi cho con bú mẹ Trong thời gian cho con bú, hầu hết các mẹ sẽ gặp phải một trong những vấn đề dưới đây. Để không ảnh hưởng đến nguồn sữa cho con bú cũng như giúp mẹ bớt đau đớn, chị em cần tham khảo những lời khuyên dưới đây của bác sĩ Bích Hà. Không đủ sữa cho con Đây là vấn đề phổ biến nhất đối với mẹ mới sinh, đặc biệt những người sinh mổ. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do sức khỏe người mẹ không tốt, mệt mỏi, xúc động, stress… Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra với các bà mẹ trẻ là làm thế nào để nhận biết được dấu hiệu trẻ không nhận đủ sữa. Câu trả lời là: - Tăng cân kém: dưới 600gram/ tháng -  Đi tiểu ít và nước tiểu vàng: dưới 6 lần/ ngày - Trẻ không thỏa mãn sau mỗi bữa bú - Khóc thường xuyên - Đi ngoài phân rắn hoặc xanh, ít phân - Mẹ vắt sữa không thấy sữa chảy ra, 2 bầu vú không to lên, sữa không “về”… Trong trường hợp này, các mẹ cần lưu ý cách xử trí là: - Cho bú nhiều hơn, bất kì khi nào trẻ muốn, ngày hay đêm, đánh thức trẻ dậy nếu trẻ ngủ nhiều. - Mẹ cần vắt cạn sữa sau khi cho bú để kích thích tạo sữa mới. Nghỉ ngơi, ăn uống bồi dưỡng, uống nhiều nước và nước hoa quả hay sữa. Tạo sự tự tin cho mẹ là mình có thể đủ sữa cho con.   Y tá tiếp tục hướng dẫn cách massage bầu ngực để sữa nhanh về sau sinh.   Khi bé ngủ quá say giấc, để đánh thức bé dậy ăn, mẹ nên xoa nhẹ vào thái dương, trán và lòng bàn chân, tay của bé. Căng sữa Khoảng 2 - 3 ngày sau khi sinh thường xảy ra hiện tượng căng sữa do sữa bắt đầu tiết nhiều, các mẹ sẽ cảm thấy căng và nặng ở vú. Khi sờ nắn ngực thấy căng cứng và có thể nổi cục. Tuy nhiên sữa vẫn chảy ra tốt. Đây là hiện tượng bình thường. Xử trí: Bà mẹ cần cho bé bú thường xuyên hơn. Có thể nặn bỏ bớt sữa nếu bé bú không hết. Xoa day cho hết nổi cục. Trong vòng 1 - 2 ngày, sự tiết sữa sẽ tự điều chỉnh theo nhu cầu của trẻ và vú sẽ hết căng. Nếu không đỡ thì chị em nên đi khám bác sĩ. Đau núm vú, Nứt đầu vú (Nứt cổ gà) Nguyên nhân của hiện tượng này thường do không cho trẻ bú sớm, không cho bú đúng cách, vệ sinh "núi đôi" không tốt. Dấu hiệu để nhận biết là đầu vú có những vết nứt, vết rạn nhỏ trên bề mặt, vết loét ở đầu vú hay chân núm vú. Toàn bộ núm vú bị đỏ rực, chảy máu và đau rát mỗi khi cho bú. Xử trí: Chị em cần giữ khô, để hở, bôi mỡ. Tạm ngưng cho bú bên vú bệnh (6 - 12 giờ), để hở vú ra ngoài, vắt sữa bằng tay, tiếp tục cho bú bên vú lành. Đảm bảo trẻ ngậm đầu vú đúng cách. Ngoài ra, sau mỗi lần trẻ bú, mẹ nên vắt một ít sữa bôi xung quanh núm và đầu vú sẽ rất nhanh chóng liền vết nứt.   Y tá hướng dẫn cách lau rửa "núi đôi" hàng ngày và cách day nhẹ ngực để không bị tắc tuyến sữa trong trường hợp sữa mẹ quá nhiều.   Dụng cụ cần thiết để vệ sinh "núi đôi" là khăn sạch và bát nước ấm để giặt khăn. Ngực cương tức Dấu hiệu nhận biết là "núi đôi" cương to, phù nề kèm theo đau vú nhiều, có thể sốt. Nặn sữa thấy sữa chảy ra ít. Nguyên nhân là do mẹ quá nhiều sữa, không cho con bú sớm, do trẻ ngậm, bắt vú kém, không đúng cách, hạn chế thời gian các bữa bú. Xử trí: bắt đầu cho bú mẹ ngay sau khi sinh, dùng khăn ấm đắp lên bầu vú, xoa bóp vú nhẹ nhàng, kích thích da núm vú (vật lí trị liệu), vắt sữa bằng tay hay bằng ống hút sữa nhằm thoát sữa ra.  Ngoài ra, mẹ cần cố gắng cho trẻ bú thường xuyên, không hạn chế, cho trẻ bú đúng cách. Núm vú bẹt, tụt vào trong Có không ít mẹ gặp khó khăn trong việc cho con bú khi bị hai đầu núm vú bẹt, tụt vào trong. Xử trí: Mẹ nên dùng tay kéo nhẹ, kích thích núm vú, dùng bơm hút sữa bằng tay để kéo núm vú ra. Mẹ nên thực hiện kiên trì và thường xuyên. Có thể dùng dụng cụ trợ ti (tạo núm vú). Tập cho bé bú đúng cách: mút sữa từ vú mẹ chứ không phải từ núm vú, trẻ cần ngậm vú đầy miệng, khi trẻ bú sẽ kéo vú và núm vú ra ngoài. Khuyến khích bé tiếp xúc vú mẹ càng nhiều càng tốt. Nếu trẻ không thể bú mẹ hiệu quả trong 1-2 tuần đầu: vắt sữa và cho trẻ ăn bằng cốc hoặc vắt một ít sữa trực tiếp vào miệng trẻ nhằm kích thích trẻ cố gắng bú hơn.     Tại lớp học tiền sản, các mẹ còn được thực hành cách bế trẻ sơ sinh.   Bác sĩ Hoàng Tân Cương (Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc) tận tình hướng dẫn các mẹ bầu bế con. Viêm vú Viêm vú là hậu quả của cương tức tuyến vú hoặc tắc ống dẫn sữa trước đó mà không được xử trí một cách hiệu quả, bị phù nề cứng với đủ triệu chứng viêm sưng đỏ, nóng, đau tại vùng vú. Viêm vú thường khu trú một bên vú còn cương tức tuyến vú thường cả hai bên và không có sưng đỏ. Xử trí: cần khám bác sĩ và điều trị ngay vì có thể thành áp-xe trong vòng 48 – 72 giờ. Ngoài ra mẹ có thể đắp mát trên vùng vú viêm. Điều quan trọng nhất trong điều trị viêm vú là cải thiện sự lưu thông sữa ở phần vú ảnh hưởng. Cần chú ý nếu thành áp-xe thì phải rạch để thoát mủ và dùng kháng sinh liều cao.
Xem thêm

4 Đọc thêm

11 cách giúp bạn tăng chỉ số IQ

11 CÁCH GIÚP BẠN TĂNG CHỈ SỐ IQ

Sữa mẹ là “thức ăn” bổ não cơ bản nhất. Các nghiên cứu chỉ ra rằng lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đang ngày càng nhiều hơn, không chỉ có ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm và cung cấp các dưỡng chất cần thiết. Các nhà nghiên cứu Đan Mạch phát hiện ra rằng những em bé sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ khỏe mạnh và thông minh hơn, Nghiên cứu cho thấy trẻ sơ sinh được bú mẹ trong chín tháng lớn lên thông minh hơn hẳn những bé chỉ được bú mẹ trong khoảng một tháng trở xuống.
Vậy nên: nuôi con bằng sữa mẹ tức là bạn đang thực hiện những đầu tư ban đầu vào sức khỏe của con, và khoản đầu tư này có giá trị và sinh lợi lâu dài.
Từ bỏ thức ăn nhanh
Cắt giảm đường, chất béo bão hòa và các loại thức ăn nhanh khỏi khẩu phần ăn của con, thay thế vào đó những lựa chọn nhiều chất dinh dưỡng hơn có thể đem lại điều kỳ diệu cho sự phát triển cơ bắp lẫn trí tuệ của trẻ nhỏ – đặc biệt trong hai năm đầu đời. Ví dụ, trẻ cần chất sắt cho sự phát triển khỏe mạnh của các tế bào não do các xung động thần kinh truyền đi chậm hơn nếu trẻ thiếu chất sắt. Những trẻ thiếu dinh dưỡng cũng thường khó chống lại các bệnh nhiễm trùng, khiến chúng thường phải nghỉ học và bị tụt lại sau bạn bè. Hãy quan tâm đến những món mà con ăn, rồi điểm số của con có thể cải thiện.
Ăn sáng giống nhà vô địch
Nghiên cứu vững chắc từ những năm 1970 đã cho rằng ăn sáng giúp cải thiện trí nhớ, sự tập trung và khả năng học tập. Một đứa trẻ không ăn sáng sẽ dễ bị mệt, dễ cáu kỉnh và phản ứng không được nhanh nhạy bằng những trẻ bắt đầu ngày mới với một bữa sáng đầy đủ chất. Với lịch trình bận rộn như ngày nay, ngồi xuống ăn một bữa cho đàng hoàng không phải lúc nào cũng là việc có thể thực hiện được, nhưng một thanh ngũ cốc và một ly sữa thôi cũng đã có thể góp phần đáng kể giúp con duy trì sự tập trung nhiều giờ và tiếp thu bài học tốt hơn.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá sự phát triển ở trẻ sơ sinh đủ tháng vàng da phải thay máu

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN Ở TRẺ SƠ SINH ĐỦ THÁNG VÀNG DA PHẢI THAY MÁU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vàng da tăng bilirubin gián tiếp là một hiện tượng thường gặp ở trẻ sơ
sinh, có thể chiếm 85% số trẻ sơ sinh sống, do đặc điểm về chuyển hóa
bilirubin của trẻ trong những ngày đầu sau sinh. Tuy nhiên, có một tỷ lệ nhất
định trẻ sơ sinh bị vàng da nặng, do nồng độ bilirubin gián tiếp trong máu
tăng cao quá mức, có thể gây tổn thương hệ thần kinh dẫn đến tử vong trong
giai đoạn cấp hoặc để lại di chứng nặng nề (bại não) sau này, ảnh hưởng đến
sự phát triển thể chất, tâm thần và vận động của trẻ, là một gánh nặng cho gia
đình, xã hội [1]. Do đó, bệnh cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.
Tỷ lệ trẻ sơ sinh vàng da tăng bilirubin gián tiếp bệnh lý ở các nước
Châu Âu và Hoa Kỳ chiếm khoảng 4 - 5% tổng số trẻ sơ sinh, ở Châu Á
khoảng 14 - 16% [2]. Nghiên cứu của Wong năm 2013 ở Malaysia, tỷ lệ vàng
da sơ sinh bệnh lý chiếm 16,4% [3]. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Khu Thị
Khánh Dung tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2007, vàng da tăng bilirubin
gián tiếp chiếm 21,26% tổng số sơ sinh nhập viện điều trị [4].
Thay máu là phương pháp điều trị cấp cứu khi chiếu đèn không hiệu
quả, hoặc khi nồng độ bilirubin gián tiếp tăng quá cao có nguy cơ tổn thương
não. Ở nhiều nước phát triển, do việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, tỷ lệ
vàng da nặng ở trẻ sơ sinh đã giảm đáng kể, tỷ lệ vàng da nhân chiếm từ 0,4
đến 2,7 trường hợp trên 100.000 trẻ sơ sinh sống đủ tháng và trẻ sinh non
muộn ≥ 35 tuần tuổi thai [5]. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ vàng da sơ
sinh nặng cao gấp 100 lần so với các nước phát triển, khoảng 3% trẻ sơ sinh
nhập viện đã có dấu hiệu bệnh não cấp do bilirubin [6]. Các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam, thay máu và di chứng vàng da nhân còn chiếm tỷ
lệ cao, nghiên cứu của Owa JA ở Nigeria năm 2009 thay máu chiếm 5,3% và
vàng da nhân là 30% trên tổng số trẻ phải thay máu [7]. Zhi Zhonghua ở Trung Quốc năm 2012, trong số 348 trường hợp vàng da nhân có 37,6% đã
được thay máu [8]. Nghiên cứu của Trần Liên Anh tại bệnh viện Nhi Trung
ương năm 2002 thay máu chiếm 24,6% tổng số sơ sinh vàng da, sau theo dõi
9 tháng di chứng chậm phát triển tâm thần vận động là 25% [9].
Trong thập niên gần đây, tỷ lệ sơ sinh vàng da nặng ở trẻ sơ sinh đủ
tháng có xu hướng tăng, có lẽ do các trẻ sơ sinh đủ tháng thường được xuất
viện sớm (thường 1 - 2 ngày sau sinh) và sau đó lại không được giám sát về
vàng da, cho đến khi trẻ có một số dấu hiệu nặng (li bì, bú kém…) thì mới
đưa trẻ đến bệnh viện. Điều này lý giải vì sao tỷ lệ vàng da nhân thường gặp
ở trẻ sơ sinh non tháng, nhưng vẫn xảy ra ở trẻ sơ sinh đủ tháng.
Nghiên cứu các biện pháp giúp phát hiện và điều trị sớm vàng da ở trẻ sơ
sinh đủ tháng, để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm tỷ lệ phải thay máu
và giảm di chứng là cần thiết. Trẻ sơ sinh vàng da đã được thay máu, tương
lai sẽ phát triển về thể chất, tâm thần và vận động như thế nào, đồng thời tìm
hiểu các biện pháp để giảm thiểu các di chứng, cần được quan tâm giúp trẻ có
thể hòa nhập cộng đồng. Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực
này, chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự phát triển của trẻ sơ sinh đủ tháng
sau thay máu do vàng da. Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá sự phát triển ở trẻ sơ sinh đủ tháng
vàng da phải thay máu, với ba mục tiêu cụ thể sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ sơ sinh đủ tháng vàng
da phải thay máu.
2. Đánh giá sự phát triển thể chất, tâm thần và vận động trẻ sơ sinh đủ
tháng vàng da phải thay máu.
3. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ở trẻ sơ sinh
đủ tháng vàng da phải thay máu trong hai năm đầu đời.
Xem thêm

187 Đọc thêm

Nghiên cứu kiến thức và kỹ năng của bà mẹ cho trẻ bú sớm tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2009

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CỦA BÀ MẸ CHO TRẺ BÚ SỚM TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG, NĂM 2009

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khoẻ sơ sinh hiện đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm
của các quốc gia trên toàn thế giới. Trong những năm qua, tỷ lệ tử vong trẻ
em nói chung đã giảm mạnh nhưng tỷ lệ tử vong sơ sinh không giảm hoặc
giảm không đáng kể.
Ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong.
Ở Việt Nam, theo Điều tra Dân số và Sức khỏe 2002, tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5
tuổi giảm từ 55/1000 trẻ đẻ sống xuống 30/1000 trẻ đẻ sống trong những năm
đầu của thế kỷ này, nhưng tử vong sơ sinh hầu như không thay đổi và ở mức
0,15% [21].
Mặc dù hậu quả do bệnh tật và tử vong sơ sinh rất nặng nề nhưng các
can thiệp sẵn có trong phạm vi các chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ- trẻ
em có thể cứu sống sinh mạng của hầu hết trẻ sơ sinh [21]. Trong đó, cho trẻ
bú sữa mẹ sớm trong 1 giờ đầu sau khi sinh là can thiệp đơn giản, dễ thực
hiện góp phần bảo vệ, phát triển, nâng cao sức khoẻ và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ.
Cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giúp cung cấp chất dinh
dưỡng và miễn dịch, làm tăng tỷ lệ và thời gian bú mẹ hoàn toàn ở trẻ sau
này, giúp trẻ tăng cân tốt hơn, giảm bệnh tật và tử vong ở trẻ [5].
Bà mẹ cũng có lợi khi cho trẻ bú sớm vì giúp sữa về sớm hơn, giảm
được băng huyết sau sinh, giúp bà mẹ tránh thai trong thời kỳ đầu hậu sản. Về
lâu dài, cho trẻ bú sữa mẹ giảm tỷ lệ ung thư vú và ung thư buồng trứng.
Mặc dù đơn giản và hiệu quả như vậy nhưng không phải những can
thiệp này được thực hiện thường xuyên và rộng khắp ở nhiều nước trên thế
giới. Sự chậm trễ thực hành ở các nước phát triển là do sự sẵn có của các phương tiện và kỹ thuật chăm sóc tiên tiến. Ở các nước đang phát triển, còn
thiếu các nghiên cứu chứng minh ích lợi của việc cho trẻ bú sớm.
Nuôi con bằng sữa mẹ được khuyến khích và chấp nhận rộng rãi ở Việt
Nam, ước tính có tới 98% trẻ nhỏ được bú mẹ. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu
trước đây, chỉ có khoảng 57% các bà mẹ thực hiện cho bú mẹ ngay sau đẻ [13].
Hiện nay, chúng ta đang triển khai rộng rãi chương trình “Làm mẹ an
toàn” trong cả nước, trong đó có việc nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ bú
sớm. Để góp phần nâng cao chất lượng nuôi con bằng sữa mẹ, chúng ta cần
tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc cho trẻ bú sớm.
Muốn thực hiện tốt kỹ năng cho trẻ bú sớm ngay sau sinh, đòi hỏi phải
nâng cao hơn nữa hiểu biết về lợi ích, tác dụng của phương pháp này, cũng
như sự chuyển biến lớn về kiến thức- kỹ năng- thái độ của bà mẹ và cán bộ y
tế hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sơ sinh. Đây là những vấn đề
quan trọng của y tế cộng đồng nhưng lại chưa được áp dụng và nghiên cứu
đầy đủ ở Việt Nam và cả trên thế giới [23].
Việc thực hiện tốt cho trẻ bú sớm tại các cơ sở y tế và tuyến Trung
ương sẽ góp phần quan trọng vào việc áp dụng và nâng cao chất lượng của
vấn đề cho trẻ bú sớm trong cả nước. Để góp phần cung cấp thông tin nhằm
cải thiện sức khỏe trẻ sơ sinh, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiến
thức và kỹ năng của bà mẹ cho trẻ bú sớm tại bệnh viện Phụ sản Trung
ương, năm 2009” nhằm mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức, kỹ năng của bà mẹ trong việc cho trẻ bú sớm tại
bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2009.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến vấn đề cho trẻ bú sớm.
Xem thêm

98 Đọc thêm

Tìm hiểu kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế

TÌM HIỂU KIẾN THỨC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ ngàn đời nay các bà mẹ Việt Nam đều mong muốn nuôi con bằng chính dòng sữa của mình, đó là điều phù hợp với tập quán nuôi con và đúng khoa học.
Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời mỗi trẻ. Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi. Sữa mẹ là nguồn tài sản vô giá mà mẹ dành cho con và cũng là quyền lợi mà mọi trẻ sơ sinh đều được quyền hưởng. Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời hạn chế những bệnh nguy hiểm như suy dinh dưỡng, các bệnh bề đường tiêu hóa và hô hấp do trong sữa mẹ chứa nhiều bạch cầu và kháng thể. Nuôi con bằng sữa mẹ là cơ sở nãy nở tình cảm gắn bó mẹ con, giúp cho trẻ chóng thích nghi với cuộc sống. Chính vì vậy mà không một loại sữa nào có thể so sánh và thay thế được sữa mẹ.
Cho bú sữa mẹ không những tốt cho trẻ mà còn mang lại rất nhiều lợi ích cho bản thân người mẹ như: bảo vệ sức khỏe bà mẹ (giúp tử cung go hồi tốt và hạn chế chảy máu sau sinh, giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng sau này, giúp phụ nữ lấy lại vóc dáng như trước khi mang thai nhanh hơn và làm giảm tỉ lệ béo phì cho người mẹ ngoài ra cho bú mẹ hoàn toàn cũng là một phương pháp tránh thai tự nhiên có tác dung bảo vệ tới 98% trong 6 tháng đầu sau sinh).
Tuy vậy trong thực tế, nhiều trẻ em sinh ra không được nuôi dưỡng đầy đủ bằng sữa mẹ do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sau sinh mẹ không đủ sữa để thỏa mãn nhu cầu của trẻ hoặc nếu cho con bú sẽ bất lợi về sức khỏe cho mẹ và con(mẹ bị bệnh tim, HIV, lao phổi,..), mẹ thiếu hiểu biết trong cách nuôi con bằng chính dòng sữa của minh. trong thời đại ngày nay người phụ nữ còn phải tham gia nhiều vào công tác xã hội, công việc nhiều nên làm cho học không có thời gian để nuôi con bằng sữa mẹ đầy đủ hơn, thêm vào đó trên thị trường có nhiều quảng cáo về các sản phẩm thay thế sữa mẹ đã làm cho một số bà mẹ ngộ nhận sữa bò là thức ăn tốt nhất cho trẻ. Ngoài ra vì nhu cầu thẩm mỹ một số bà mẹ trẻ lo ngại rằng cho con bú sau này sẽ làm xấu bộ ngực của họ vì thế họ không muốn nuôi con bằng sũa mẹ từ đó trẻ kém phát triển về thể chất lẫn tinh thần, dễ mắc nhiều bệnh tật theo ước tính mỗi năm có hơn 1 triệu trẻ em chết vì tiêu chảy và suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn hô hấp do không được bú mẹ đầy đủ. Do vậy tổ chức y tế thế giới và quỹ nhi đồng liên hiệp quốc khuyến nghi việc nuôi con bằng sũa mẹ hoàn toàn ngay từ khi sinh cho đến 4 – 6 tháng tuổi và duy trì cho bú cùng với ăn bổ sung đầy đủ cho đến 24 tháng tuổi
Chính vì vậy mà tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế” với mục tiêu:
Tìm hiểu kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh.
Xem thêm

29 Đọc thêm

bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh

BỆNH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ SƠ SINH

CÁC DẤU HIỆU THƯỜNG GẶP Ở TRẺ SƠ SINH TRONG TUẦN LỄ ĐẦU, Trẻ sơ sinh sức đề kháng còn non yếu nên có thể bé sẽ gặp phải một số bệnh thường gặp như rôm sảy, tưa lưỡi, hăm, sốt, nôn trớ, Bài viết này sẽ giúp các mẹ biết cách nhận biết các bệnh tho6g thường ở trẻ, và cách xử trí

27 Đọc thêm

XEM CÁC BỐ LÓNG NGÓNG HỌC CÁCH TẮM CHO CON

XEM CÁC BỐ LÓNG NGÓNG HỌC CÁCH TẮM CHO CON

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay, những lớp học tiền sản cho các cặp vợ chồng chuẩn bị lên chức bố mẹ không còn là hiếm. Việc học tiền sản là vô cùng quan trọng bởi tại đây bố mẹ sẽ được học cách chăm sóc thai kỳ, cách rặn đẻ, cách chăm sóc sau sinh và cách tắm rửa, chăm sóc trẻ sơ sinh... Việc học tiền sản không chỉ thu hút sự quan tâm của các mẹ bầu mà các ông bố cũng hồ hởi tham gia. Mới đây, một lớp tiền sản tương tự như vậy đã được tổ chức tại Trung Quốc. Lớp học đã thu hút sự tham gia của rất nhiều cặp đôi chuẩn bị có con. Đặc biệt, tại lớp học này các ông bố còn được tận tay học cách tắm rửa, quấn tã cho con. Hãy cùng xem các bố lóng ngóng học cách chăm sóc trẻ sơ sinh như thế nào nhé!   Tất cả các vật dụng như chậu tắm, búp bê, khăn tắm đã được chuẩn bị sẵn sàng.   Việc đầu tiên các bố được học là gội đầu và rửa mặt cho con. Vừa theo dõi màn hình hướng dẫn, các ông bố vừa tự tay thực hành trên búp bê.   Các chuyên gia luôn ở bên cạnh để hướng dẫn các ông bố trẻ.   Sau đó đến bước tắm cho bé.   Một ông bố bế con khá chuyên nghiệp   Niềm hạnh phúc của ông bố trẻ khi được tập bế và tắm cho con yêu.   Sau đó các bố học cách lau người cho con bằng khăn mềm.   Em bé được đặt trên khăn rất cẩn thận.   Bước tiếp theo, các bố học cách quấn tã cho con sau tắm.     Bên dưới các mẹ bầu hồ hởi xem chồng trổ tài     Khuôn mặt ông bố này khá căng thẳng khi lần đầu tập quấn tã cho con.   Và đây là thành quả họ đã làm được.   Một mẹ bầu đang chụp lại những hình ảnh của chồng để làm kỷ niệm.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Không nên dùng mật ong điều trị nấm lưỡi

KHÔNG NÊN DÙNG MẬT ONG ĐIỀU TRỊ NẤM LƯỠI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Con tôi bị nấm lưỡi, được mọi người mách dùng mật ong để điều trị. Xin chuyên mục giúp cho tôi biết cách làm này có nguy hại gì không? Mai Phương (Gia Lộc, Hải Dương) Trả lời: Nấm lưỡi được dân gian gọi là tưa lưỡi do nhiều loại nấm gây ra, nhưng chủ yếu vẫn là Candidas albicans. Bệnh hay gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ…   Trẻ cũng cần được vệ sinh răng miệng cẩn thận khi bị nấm lưỡi (Ảnh minh họa) Biểu hiện là những màng giả màu trắng ở niêm mạc miệng, đặc biệt là mặt trên của lưỡi. Nhiều người thường mách nhau cách dùng mật ong bôi vào lưỡi trẻ rồi dùng tay hoặc miếng gạc miết hết màng trắng. Tuy nhiên cách dùng mật ong điều trị nấm lưỡi có thể gây hại cho trẻ. Bởi trong mật ong thường có độc tố của loại vi khuẩn có tên là clostridium botulium tiết ra. Trong khi đó, nguồn gốc của mật ong hiện nay khó kiểm soát, nhiều loại kém chất lượng. Hơn nữa, màng giả bám chặt vào niêm mạc sẽ khiến trẻ bị đau rát khi đánh lưỡi. Trẻ có thể bỏ bú, biếng ăn vì đau rát. Tốt nhất khi trẻ bị nấm lưỡi nên cho trẻ uống nystatin – loại thuốc kháng nấm có tác dụng đặc hiệu với Candida albicans theo chỉ định của bác sĩ. Ngoài ra, trẻ cũng cần được vệ sinh răng miệng cẩn thận. Hàng ngày nên vệ sinh miệng bằng dung dịch muối vài lần để giữ miệng sạch, phòng nhiễm khuẩn. Bên cạnh đó, cần có chế độ ăn uống tốt, đầy đủ chất dinh dưỡng. Tránh các thức ăn ngọt, dính hoặc cho trẻ ăn đêm…
Xem thêm

1 Đọc thêm

thiếu vi chất dinh dưỡng ở mẹ và con và hiệu quả bổ sung đa vi chất trên trẻ suy dinh dưỡng bào thai tại bệnh viện phụ sản trung ương

THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG Ở MẸ VÀ CON VÀ HIỆU QUẢ BỔ SUNG ĐA VI CHẤT TRÊN TRẺ SUY DINH DƯỠNG BÀO THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

MỞ ĐẦU
Từ nhiều thập kỷ nay, tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã được chứng minh rõ là vấn đề có YNSKCĐ ở nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [127]. Lý do là tỷ lệ mắc thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn còn cao và những hậu quả nặng nề của nó đối với tỷ lệ tử vong, bệnh tật, cũng như nguy cơ giảm khả năng phát triển ở những giai đoạn sau này và ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống của trẻ. Trên thực tế các đối tượng nguy cơ thường bị thiếu đa vi chất dinh dưỡng chứ không phải chỉ thiếu đơn độc một vi chất dinh dưỡng [98].
Do vậy giải pháp bố sung đa vi chất dinh dưỡng theo những phương pháp khác nhau hiện nay đang được Tổ chức Y tế thể giới (TCYTTG-WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) quan tâm và khuyến nghị như một trong những giải pháp ưu tiên để phòng chống một cách hiệu quả vấn đề thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt ở đối tượng trẻ suy dinh dưỡng ngay từ khi sinh [84]. Để đạt hiệu quả cao trong phòng chống thiếu dinh dưỡng và đa vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, ngày nay rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh nhiều phương pháp, trong đó có những hình thức can thiệp sớm từ trước và trong giai đoạn mang thai [125]. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi sẽ tập trung vào tìm hiểu giải pháp can thiệp cho những trẻ sinh ra đã bị suy dinh dưỡng bào thai: là những trường hợp đã không có được cơ hội phát triển đầy đủ từ trong bụng mẹ, nhằm mong muốn cải thiện tình trạng thiếu dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới một tuổi.
Giai đoạn từ khi sinh đến 2 tuổi là giai đoạn quan trọng quyết định tiền đề cho sự phát triển của những giai đoạn sau của cuộc đời. Nếu giai đoạn này bị liên tục kém phát triển sẽ dẫn tới tăng cao tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi [30]. Chính vì tốc độ phát triển nhanh này nên thời kỳ hai năm đầu đời thường là thời kỳ dễ bị ảnh hưởng nhất, cũng là một trong những giai đoạn rất quan trọng và có nguy cơ cao nhất. Bởi vậy trong giai đoạn này trẻ cần được nuôi dưỡng hợp lý và cần nhận được sự chăm sóc đặc biệt để giúp trẻ phát triển và có thể có cơ hội bù đắp những thiếu hụt nếu có về dinh dưỡng mà trẻ đã không được nhận đủ từ trong bụng mẹ.
Tóm lại việc bổ sung đa vi chất theo những cách khác nhau đã được khuyến nghị như là một trong những giải pháp thiết thực để giải quyết tình trạng thiếu da vi chất dinh dưỡng [106]. Nhưng cho đến nay những nghiên cứu cải thiện tình trạng vi chất của trẻ sơ sinh thông qua người mẹ với kỳ vọng tăng ci chất (sắt, kẽm) đã không cho những kết quả tích cực [108]. Vì vậy những thử nghiệm bổ sung trực tiếp vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng bào thai là chủ đề đang được các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng trên thế giới hết sức quan tâm [98] vì những lý do sau: (1) đây là đối tượng trẻ bệnh có khuyến cáo điều trị của TCYTTG bên cạnh bú mẹ, (2) các tổng kết nghiên cứu của TCYTTG đã cho thấy bổ sung yếu tố vi lượng cho bà mẹ không làm tăng được nồng độ trong sữa mẹ, (3) việc chẩn đoán trẻ suy dinh dưỡng bào thai rất đơn giản nên nếu đề tài đưa ra được giải pháp can thiệp trên đối tượng này thì việc áp dụng trên đúng đối tượng sẽ rất khả thi.
Cùng với tất cả những điều trình bày trên, mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu về tình trạng của một số vi chất dinh dưỡng trên trẻ mới sinh và trên bà mẹ lúc mang thai 3 tháng cuối, đánh giá mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng của Mẹ-Con và đánh giá hiệu quả của biện pháp bổ sung trực tiếp vi chất dinh dưỡng trên những trẻ sơ sinh bị suy dinh dưỡng bào thai.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ sơ sinh đủ tháng có cân nặng thấp đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và mối liên quan với tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ trong giai đoạn mang thai
2. Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vi chất dinh dưỡng (sắt, acid folic, kẽm, vitamin A) trên trẻ sơ sinh bị suy dinh dưỡng bào thai.
Giả thuyết nghiên cứu
1. Trẻ sơ sinh nhẹ cân có tỷ lệ cao thiếu vitamin A, Kẽm, Sắt và thiếu cùng một lúc các vi chất dinh dưỡng trên. Có mối liên quan chặt giữa tình trạng dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng của phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh.
2. Bổ sung vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, kẽm) cho trẻ sơ sinh thiếu vi chất dinh dưỡng sẽ cải thiện được tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ.
Xem thêm

185 Đọc thêm

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa nhi bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ HẠ ĐƯỜNG MÁU GIAI ĐOẠN SƠ SINH SỚM TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạ glucose máu sơ sinh là tình trạng giảm nồng độ glucose trong máu, đây là hội chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là những ngày đầu sau sinh [58], nguyên nhân gây bệnh thường là sự suy giảm sản xuất glucose hoặc dự trữ glycogen ở gan trong thời kỳ bào thai, hoặc sự gia tăng nhu cầu sử dụng glucose, rối loạn tân tạo glucose, phân hủy glycogen. Bình thường mức độ sử dụng glucose ở trẻ sơ sinh cao hơn người lớn trong đó não là nơi sử dụng glucose như một nguồn năng lượng chủ yếu. Đối với trẻ sơ sinh non tháng, thấp cân, dự trữ glycogen thường giảm, khả năng phân hủy glycogen tạo đường cũng giảm nên trẻ dễ bị hạ đường máu trong những giờ đầu sau sinh [53].
Từ trong bào thai glucose là loại thức ăn cung cấp năng lượng duy nhất, chính vì vậy sau sinh theo thời gian lượng đường trong máu trẻ giảm hoàn toàn là sinh lý, chính sự giảm này sẽ cân bằng hormone trong cơ thể đặc biệt là insulin. Khi mọi thứ hoạt động nhịp nhàng thì đường trong máu được duy trì, nếu không hạ đường máu sẽ xảy ra. Tuy nhiên, ở những trẻ có nguy cơ cao, chẳng hạn trẻ sinh ra từ mẹ đái tháo đường, do có quá nhiều nồng độ insulin trong máu nên trẻ luôn bị hạ đường máu sau sinh. Ngoài ra, những trẻ có yếu tố nguy cơ như dự trữ glucose kém, những trẻ được cung cấp dồi dào nguồn glucose trong thai kỳ hoặc trong thời gian chuyển dạ hoặc trẻ bị mắc bệnh lý giai đoạn sơ sinh sớm đều là những trẻ có nguy cơ hạ đường máu sau sinh [37].
Hạ đường máu trẻ sơ sinh triệu chứng rất nghèo nàn và không điển hình, có thể gây nhầm lẫn với các nguyên nhân khác trong giai đoạn sơ sinh đặc biệt là trong giai đoạn sơ sinh sớm. Glucose là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tổ chức thần kinh và não sử dụng cho quá trình trao đổi chất nên thiếu glucose cũng như thiếu oxy nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời sẽ gây rối loạn chức năng tế bào não [58] và tổn thương não ngay cả không có triệu chứng lâm sàng của hạ đường máu [71], để lại di chứng nặng nề thậm chí có thể tử vong. Theo nghiên cứu hồi cứu của tác giả Kerstjens JM và cộng sự cho thấy trẻ đẻ non bị hạ đường máu thì nguy cơ chậm phát triển ở độ tuổi mẫu giáo gấp 2,19 lần [46]. Do đó kiểm soát đường máu ở trẻ sơ sinh đặc biệt trẻ sơ sinh giai đoạn sơ sinh sớm là rất quan trọng nhằm tránh những hậu quả nặng nề và đáng tiết xảy ra [71]. Tuy nhiên rối loạn này có thể phát hiện và tầm soát sớm bằng xét nghiệm đường máu mao mạch ở trẻ sơ sinh và xử lý theo phát đồ của tổ chức y tế thế giới.
Cho đến nay trong điều kiện kinh tế phát triển vấn đề phát hiện và tầm soát hạ đường máu trẻ sơ sinh rất đơn giản. Điều quan trọng là phải tiên lượng trước vấn đề cũng như các yếu tố nguy cơ gây hạ đường máu ở trẻ sơ sinh và có kế hoạch để đối phó kịp thời bằng cách sàng lọc tất cả những trẻ có nguy cơ hạ đường máu trong giai đoạn sơ sinh sớm. Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa nhi bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế’’ nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả tỉ lệ hạ đường máu theo loại sơ sinh và một số bệnh lý thường gặp giai đoạn sơ sinh sớm.
2. Xác định một số yếu tố nguy cơ từ mẹ, con liên quan đến hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Một số nhận xét về đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh tại khoa sơ sinh bệnh viện nhi trung ương

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở TRẺ SƠ SINH TẠI KHOA SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

ĐẶT VẤN ĐỀ Trẻ em là đối tƣợng đƣợc quan tâm ở mọi thời đại. Sự phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần của trẻ em hôm nay là sự hứa hẹn cho sự phát triển của xã hội sau này. Ở Việt Nam cuộc sống của 26 triệu trẻ em ngày nay đã đƣợc cải thiện hơn nhiều so với cách đây hai thập kỷ. Tuy nhiên, công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em kế hoạch hóa gia đình mặc dù đƣợc nhà nƣớc, ngành y tế và toàn xã hội quan tâm, nhƣng tử vong ở trẻ em đặc biệt ở lứa tuổi sơ sinh còn ở mức khá cao và NKH là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở trẻ sơ sinh, chiếm khoảng 30 – 50% tử vong sơ sinh mỗi năm ở các nƣớc đang phát triển 25. Khi mới đẻ, đứa trẻ non nớt cả về vật chất và trí lực, rất dễ bị tác động của bệnh tật, nuôi dƣỡng, chăm sóc, môi trƣờng xã hội.Ở các nƣớc chậm phát triển và đang phát triển tỷ lệ tử vong ở lứa tuổi này còn rất cao, do điều kiện kinh tế văn hóa còn bị hạn chế nờn cỏc bệnh nhiễm trùng vẫn còn phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em đặc biệt là NKH sơ sinh.Theo nguồn tài liệu của tổ chức NNPD năm 2002 , tỷ lệ mắc NKH sơ sinh chiếm 30 trong số 1000 trẻ sinh ra 25. Khi trẻ bị NKH, đặc biệt là trẻ sơ sinh, ngoài nguy cơ tử vong cao việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn, chƣa kể đến những di chứng để lại ở một số trẻ đƣợc cứu sống. Do đặc điểm về thiếu hụt miễn dịch ở trẻ mới đẻ nên sơ sinh rất dễ bị NKH. Hơn nữa, các dấu hiệu lâm sàng trong nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh rất nghèo nàn, không có triệu chứng đặc hiệu. Vì vậy việc nắm chắc các đặc điểm lâm sàng, yếu tố nguy cơ, các kết quả cận lâm sàng để giúp chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời là việc làm rất quan trọng. 2 Với lý do trờn tụi quyết định chọn đề tài: “Một số nhận xét về đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh tại khoa sơ sinh Bệnh viện nhi trung ương” làm khóa luận tốt nghiệp với những mục đích sau: 1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng ở trẻ sơ sinh mắc NKH. 2. Mô tả các đặc điểm cận lâm sàng ở trẻ sơ sinh mắc NKH. 3. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng tới quá trình mắc NKH sơ sinh.
Xem thêm

67 Đọc thêm

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và kết quả điều trị hạ thân nhiệt trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HẠ THÂN NHIỆT TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạ thân nhiệt ở trẻ em là triệu chứng thường gặp, đặc biệt ở trẻ sơ sinh non tháng và cân nặng thấp. Nguyên nhân của triệu chứng gồm nhiều yếu tố: môi trường, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, rối loạn chuyển hóa… thậm chí do bất cẩn trong công tác khám và điều trị, ngay cả khi để bệnh nhân lạnh trong quá trình làm thủ thuật hoặc truyền dịch lạnh.
Tùy theo mức độ hạ thân nhiệt mà gây ra các hậu quả khác nhau trên lâm sàng và xét nghiệm. Mức độ hạ thân nhiệt nặng là rối loạn trao đổi chất dẫn đến suy chức năng các tạng, có thể dẫn tới tử vong. Cần có phát hiện sớm và điều trị thích hợp giúp làm giảm bớt rối loạn chuyển hóa, hạn chế suy chức năng các cơ quan, kết hợp điều trị bệnh chính có thể hồi phục được sức khỏe cho bệnh nhân.
Tỉ lệ hạ thân nhiệt ở trẻ sơ sinh lúc nhập viện ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển còn cao. Ở Việt Nam, theo Tô Thanh Hương (1981) thấy có 31,8% trẻ sơ sinh bị hạ thân nhiệt lúc nhập viện [3]. Theo Phạm Văn Thắng, Phạm Văn Dương, Vũ Thị Thuỷ (2005) thấy 43,28% trẻ sơ sinh bị hạ thân nhiệt khi đến bệnh viện [5]. Ở Brazil, Argentina, Ấn Độ, Nepal, Nigeria tỉ lệ trẻ sơ sinh hạ thân nhiệt nhập viện từ 31 đến 85% [14], [18], [28], [32], [35].
Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng: Hạ thân nhiệt ở trẻ sơ sinh lúc nhập viện là yếu tố độc lập và làm tăng nguy cơ tử vong. Theo Phạm Thị Xuân Tú (2009) nghiên cứu trên đối tượng trẻ sơ sinh bị bệnh màng trong thấy: nguy cơ tử vong của nhóm trẻ sơ sinh non yếu có hạ thân nhiệt so với trẻ sơ sinh non yếu không hạ thân nhiệt cao gấp 3 lần [6]. Theo S.M. da Mota Silveira và cs (2003) nghiên cứu 320 trẻ sơ sinh nhập IMIP, Recife, Brazil thấy hạ thân nhiệt sơ sinh lúc nhập viện là một yếu tố nguy cơ độc lập, quan trọng trong tử vong sơ sinh [14].
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Hạ thân nhiệt ở trẻ sơ sinh chủ yếu do thiếu hiểu biết hơn là do thiếu trang thiết bị ủ ấm [41].
Nghiên cứu về hạ thân nhiệt nhằm nâng cao hiểu biết cho cán bộ y tế và góp phần giảm tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh hạ thân nhiệt và góp phần giảm tỉ lệ tử vong trẻ em nói chung.
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu một cách hệ thống về dịch tễ, lâm sàng và điều trị hạ thân nhiệt. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và kết quả điều trị hạ thân nhiệt trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương” với hai mục tiêu sau:
1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của trẻ hạ thân nhiệt lúc nhập Bệnh viện Nhi Trung ương.
2.Nhận xét kết quả điều trị hạ thân nhiệt ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Xem thêm

96 Đọc thêm

Cách chăm sóc ngực "chuẩn" khi bầu bí

CÁCH CHĂM SÓC NGỰC "CHUẨN" KHI BẦU BÍ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chăm sóc ngực khi mang thai Trong thời kỳ mang thai, một trong những thay đổi của thai phụ là ngực căng to và lớn dần cùng với thời gian mang thai. Đó là do sự đồng kích thích của tuyến yên, nhau thai sinh ra sữa, estrogen, progetogen, làm tăng ống tuyến sữa và tiểu thùy để chuẩn bị cho quá trình nuôi con bằng sữa mẹ. Ngoài ra còn có biểu hiện núm ti to và chuyển sang màu đen, quầng vú có màu đậm, xung quanh quầng vú có rải rác những đốm lồi dạng nút thắt, có thể tiết ra vài giọt thể dịch loãng màu vàng trong giai đoạn cuối thai kỳ,… Trong giai đoạn này cần lưu ý chăm sóc ngực như sau: Lựa chọn áo nịt ngực thích hợp, thoáng mát, tránh xệ ngực hay làm tổn thương mô ngực. Tốt nhất nên sử dụng áo ngực dành riêng cho bà bầu. Thường xuyên tắm rửa, vệ sinh bầu ngực, mỗi ngày nên dùng nước sạch rửa núm ti một lần để loại bỏ những chất khô được tiết ra tích tụ trên núm ti. Không nên dùng xà phòng diệt khuẩn để vệ sinh ngực vì có thể khiến da bị khô và làm nứt núm ti.   Bà bầu cần chú ý chăm sóc ngực. (ảnh minh họa) Nếu một số thai phụ có hiện tượng núm ti ở một bên hay cả hai bên bị lõm vào, nên có biện pháp xử lý kịp thời tránh ảnh hưởng đến việc bú sữa của trẻ sau sinh. Trước tiên nên rửa sạch đầu ngực và bầu ngực. Đầu tiên là kéo lên xuống, sau đó là sang trái và phải, nhẹ nhàng kéo da quầng vú xuống phía dưới, sau đó thực hiện theo hướng ngược lại. Làm nhiều lần, mỗi lần 5 phút. Khi cho con bú Trước và sau mỗi lần cho con bú, cần sử dụng nước ấm cùng khăn mềm để lau rửa đầu ngực và xung quanh bầu ngực thật sạch sẽ, khô thoáng. Cho trẻ bú đúng cách, bú đều hai bên ngực. Nếu sữa nhiều mà bé bú ít, bạn nhớ nhẹ nhàng vắt cạn lượng sữa thừa để tránh tình trạng ứ đọng sữa gây viêm tắc tuyến sữa. Không nên cho con vừa ngủ vừa ngậm ti. Khi trẻ vừa bú vừa ngủ thường nhay, cắn vào đầu vú, có thể gây tổn thương dẫn đến viêm nhiễm đầu ti. Sau khi sinh, ngực của bà mẹ thường căng, to và chảy xệ, do đó cần mặc áo ngực vừa vặn, phù hợp với kích cỡ ngực, không nên mặc áo ngực có gọng kim loại để dòng sữa được lưu thông dễ dàng và tránh tổn thương nhũ hoa do cọ xát. Nếu ngực có biểu hiện sưng đau, nhức bầu ngực, nứt núm ti,…  bà mẹ cần tạm thời ngừng cho con bú và đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để các bác sĩ hướng dẫn cách chăm sóc ngực và điều trị nếu có viêm nhiễm.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ ĂN DẶM Ở TRẺ MẸ NÊN BIẾT

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ ĂN DẶM Ở TRẺ MẸ NÊN BIẾT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cho trẻ ăn dặm là giai đoạn làm quen với "thực đơn" mới lạ của bé ngoài sữa mẹ - một giai đoạn thú vị nhưng đầy khó khăn cho cả trẻ và người mẹ. Khi bắt đầu cho trẻ tiếp xúc với đồ ăn dặm, các mẹ đã phải dày công nghiên cứu và học hỏi từ các bà mẹ khác hay thậm chí là hỏi ý kiến chuyên gia.  Những lời khuyên vàng  của mọi người thường luôn là ‘cứu cánh’ cho các bà mẹ nuôi con nhỏ, đặc biệt là chị em lần đầu làm mẹ. Tuy nhiên, các mẹ cần biết rằng không phải ý kiến nào cũng chính xác, điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình phát triển của trẻ. Dưới đây là 3 quan niệm sai lầm khi cho trẻ ăn dặm mà các mẹ nên biết để tránh. 1. Nếu trẻ cố gắng với tay đến đồ ăn người lớn đang dùng, điều đó có nghĩa bé đã sẵn sàng để ăn thức ăn đặc Sự thật: Một số bé trong giai đoạn 4 - 5 tháng bắt đầu biểu hiện rất háo hức khi thấy người lớn ăn, nhưng điều đó không có nghĩa là bé đã sẵn sàng ăn dặm. Đây chỉ là mốc phát triển rất bình thường, khi bé muốn bắt chước những gì mà người lớn làm. Tuy nhiên để các mẹ yên tâm và năm bắt được đúng thời điểm cho trẻ ăn dặm, các mẹ có thể dựa vào một số dấu hiệu của trẻ dưới đây: - Bé có thể ngồi vững: Khi trẻ đã sẵn sàng cho giai đoạn ăn dặm cũng là lúc xương cổ của bé đã có thể đỡ được đầu và bé đủ kiểm soát mình trong tư thế ngồi. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một biểu hiện không thuộc số đông mà chỉ đúng với một số trường hợp. - Bé trông rất hứng khởi khi người lớn ăn: khi người lớn ăn bé  có biểu hiện nhóp nhém mồm và dường như muốn đưa tay với lấy thức ăn mà mẹ đang cầm. - Bé có thái độ hợp tác: khi mẹ thử đút thức ăn trong đĩa của mình cho bé và nhận thấy bé sẵn sàng há miệng và chồm đến để đón bằng được thức ăn. - Trằn trọc về đêm: Bình thường, nhu cầu ăn đêm chỉ có ở trẻ sơ sinh và kéo dài tối đa đến 3 tháng. Sau thời gian này hầu như trẻ không còn duy trì thói quen thức đêm. Vì thế, khi những trẻ đã dần bước đến mốc 6 tháng lặp lại tình trạng này rất có khả năng trẻ đã ăn không đủ no vào ban ngày. Mẹ có thể dựa vào sự thay đổi này để đoán biết bé đã sẵn sàng để được ăn dặm. - Bé đòi bú thêm: Trong những tháng đầu đời, trẻ bú liên tục theo nhiều cữ trong ngày. Mỗi cữ bú của trẻ có thể cách nhau từ 2-3 tiếng tùy thuộc đó là sữa công thức hay sữa mẹ. Khi dần đến mốc 6 tháng, trẻ bú thưa hơn và số lượng sữa mỗi cữ sẽ tăng lên. Nếu sau mỗi cữ bú trẻ vẫn khó chịu, khóc rứt và chỉ nín khi được cho bú thêm chứng tỏ trẻ đã có nhu cầu khẩu phần cao hơn 2. Khi mới cho trẻ ăn dặm nên cho trẻ tập ăn hoa quả trước khi ăn rau sẽ tốt cho răng Sự thật: Đây cũng là một trong những quan niệm sai lầm khi cho trẻ ăn dặm bởi khi đến tuổi ăn dặm rau, củ, quả là một trong những thực phẩm không thể thiếu bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Ở rau xanh có chất xơ và các loại vitamin mà ở hoa quả không đủ để thay thế do đó cha mẹ hãy lựa chọn hoa quả như một thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng bên cạnh rau xanh bổ dưỡng cho các bé.   Khi đến tuổi ăn dặm rau, củ, quả là một trong những thực phẩm không thể thiếu bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ (Ảnh minh họa) Ngoài ra, trong độ tuổi từ 6-9 tháng tuổi, lượng sắt trong cơ thể bé có thể giảm, do đó mẹ nên chọn cho bé ăn bổ sung một số loại ngũ cốc tăng cường chất sắt như bột yến mạch, thịt xay nhuyễn, cá...Sữa chua cũng là một trong những thực phẩm rất tốt cho trẻ ăn dặm bởi nó có chứa nhiều canxi và protein. Khi mới đầu cho trẻ ăn dặm, các mẹ chỉ nên cho ăn từng ít một để xem trẻ có bị dị ứng hay không. 3. Nên tránh cho trẻ ăn những thực phẩm dễ gây dị ứng trong khoảng thời gian bé ăn dặm Sự thật: Không có bằng chứng rõ ràng về việc này. Tháng 2/ 2013,  Học viện Nhi khoa Mỹ (APP) đã ra một thông báo rằng ngoại trừ sữa bò thì trẻ từ 4 đến 6 tháng tuổi có thể tiêu thụ được các loại thực phẩm dễ gây dị ứng như đậu phộng, sữa, trứng, lúa mì, đậu nành, cá và động vật có vỏ. Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên gia cũng khuyến cáo rằng, khi muốn cho trẻ làm quen với các loại thực phẩm này, người lớn nên tìm hiểu trước xem gia đình mình có tiền sử bị dị ứng hay không để có biện pháp an toàn nhất khi cho trẻ ăn. Không những vậy, khi mới đầu cho trẻ ăn, mẹ nên quan sát kỹ biểu hiện của trẻ, nếu thấy trẻ có dấu hiệu bất thường thì nên dừng lại ngay.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Luận văn đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin ở trẻ sơ sinh bằng liệu pháp ánh sáng

LUẬN VĂN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀNG DA TĂNG BILIRUBIN Ở TRẺ SƠ SINH BẰNG LIỆU PHÁP ÁNH SÁNG

Vàng da do tăng bilirubin tự do (bilirubin gián tiếp) là một bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh, nhất là trẻ sơ sinh non tháng. Đa số các trường hợp vàng da sơ sinh là sinh lý, vàng da tăng bilỉubin bệnh lý khi có sự tăng sản xuất quá mức bilirubin trong những ngày đầu sau sinh. Vàng da sơ sinh bệnh lý tuy thường gặp nhưng dễ bị bỏ qua, một số trường hợp khi phát hiện đã quá muộn. Xác định và điều trị được nguyên nhân là cần thiết, song việc điều trị triệu chứng vàng da rất quan trọng vì có thể diễn biến từ vàng da tăng bilirubin tự do nặng sang giai đoạn vàng nhân não thường xảy ra rất nhanh và phức tạp có khi chỉ trong vòng vài giờ. Mục đích của điều trị vàng da là làm giảm nhanh nồng độ bilirubin tự do trong máu xuống để tránh biến chứng vàng nhân não.
Đề tài nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống và toàn diện về kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin tự do ở trẻ sơ sinh bằng liệu pháp ánh sáng do sử dụng nhiều loại đèn và yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Xem thêm

74 Đọc thêm

Chăm sóc em bé mới sinh

CHĂM SÓC EM BÉ MỚI SINH

Trẻ sơ sinh rất non yếu và nhạy cảm, cần có sự chăm sóc đặc biệt. Để chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách, cần có những kiến thức nhất định về các hiện tượng, các bệnh thường gặp ở trẻ để có cách xử trí thích hợp.

99 Đọc thêm

CHO ĂN DẶM MUỘN MỚI LÀ MẸ “KHÔN”

CHO ĂN DẶM MUỘN MỚI LÀ MẸ “KHÔN”

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hiện nay tôi thấy rất nhiều mẹ có con chậm tăng cân sốt ruột và muốn cho bé tập ăn hoa quả, ăn bột ngọt, ăn dặm ngay từ giai đoạn 4-6 tháng tuổi. Không nói đâu xa, ngay bản thân tôi cũng đã từng chịu sức ép rất lớn khi mới 3 tháng tuổi, bà nội cháu đã giục giã tôi pha nước cháo cho con ăn. Tôi cũng là dâu mới, lần đầu làm mẹ, vậy nhưng tôi đã kiên quyết giữ vững quan điểm rằng đợi con qua mốc 6 tháng rồi “con muốn ăn gì thì ăn”. Lý do vì sao ư? Là một người mẹ, tôi luôn muốn dành như thứ tốt nhất và khoa học nhất cho con mình. Tôi đã mất nhiều thời gian để tìm hiểu các tài liệu nước ngoài về ăn dặm cho trẻ nhỏ. Trong quá trình tìm hiểu, tôi đã phát hiện ra những lợi ích bất ngờ của việc cho trẻ ăn dặm muộn. Chính những thông tin này đã góp phần giúp tôi thuyết phục được mẹ chồng ủng hộ mình và bây giờ, tôi muốn chia sẻ lại với các chị em. Hầu hết các bé sẽ trưởng thành về độ phát triển và sinh lý để sẵn sàng ăn cơm vào khoảng từ 6-9 tháng tuổi. Chuyên gia y tế và các chuyên gia về trẻ em đồng ý rằng cách tốt nhất là chờ đợi đến khi bé được khoảng sáu tháng tuổi mới cho con tập ăm dặm. Có rất nhiều tổ chức (WHO, UNICEF) đã đưa ra đề nghị tất cả các trẻ sơ sinh nên được bú sữa mẹ hoàn toàn (không ngũ cốc, nước trái cây, sữa pha nước cháo hoặc bất kỳ loại thực phẩm khác) trong 6 tháng đầu đời ( không trong 4-6 tháng đầu). Lý do vì sao? Ăn dặm muộn giúp bé được bảo vệ khỏi bệnh tật tốt hơn Mặc dù trẻ sơ sinh vẫn tiếp tục nhận được kháng thể từ sữa mẹ miễn là bé còn được cho bú, tuy nhiên, khả năng miễn dịch của trẻ tuyệt vời nhất khi bé được bú mẹ hoàn toàn trong ít nhất 6 tháng đầu đời. Sữa mẹ có chứa hơn 50 yếu tố miễn dịch và có lẽ còn nhiều hơn mà ta chưa rõ. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu bị nhiễm trung ít 40% so với những trẻ bú sữa mẹ có chế độ ăn được bổ sung các loại thực phẩm khác. Xác suất của các bệnh vệ đường hô hấp – một loại bệnh rất hay xảy ra ở trẻ sơ sinh cũng sẽ  được giảm đáng kể nếu đứa trẻ được cho ăn sữa mẹ hoàn toàn trong ít nhất 15 tuần và không có đồ ăn dặm nào trong thời gian này.  Ăn dặm muộn giúp hệ tiêu hóa của bé có thời gian để hoàn thiện Các protein làm nhiệm vụ tiêu hóa chưa được hoàn thiện ngay lập tức khi bé chào đời. Nếu mẹ cho bé ăn dặm trước khi hệ tiêu hóa của con sẵn sàng để xử lý, bé sẽ bị khó tiêu và có thể gặp các phản ứng khó chịu như (đầy bụng, đau bụng, táo bón, tiêu chảy…). Ví dụ: Acid dạ dày và pepsin được tiết ra ngay khi bé mới chào đời với số lượng vừa đủ để giúp trẻ tiêu hóa sữa và chỉ gia tăng số lượng trong vòng 3 đến 4 tháng sau sinh. Các amylase men tụy không đạt đến mức đủ số lượng để tiêu hóa được tinh bột cho đến khoảng 6 tháng. Các enzym có carbohydrate như Maltase, isomaltase, và sucrose không đạt được mức độ trưởng thành cho đến khoảng 7 tháng. Thậm chí, emzym lipase giúp tiêu hóa chất béo cũng chỉ được đầy đủ khi trẻ được 6-9 tháng. Cho ăn sớm tức là mẹ đã vô tình bắt hệ tiêu hóa của con làm việc quá sức và rất hại dạ dày sau này.   Mẹ nên kiên nhẫn đợi đến khi trẻ tròn 6 tháng tuổi mới nên cho con ăn dặm (ảnh minh họa) Ăn dặm muộn giúp giảm nguy cơ dị ứng thực phẩm.  Từ khi sinh ra cho đến khi đạt 4-6 tháng tuổi, hệ tiêu hóa của trẻ mới chỉ ở trạng thái “đường ruột mở”. Điều này có nghĩa là không gian giữa các tế bào của ruột non sẽ dễ dàng cho phép các đại phân tử nguyên vẹn, bao gồm toàn bộ các protein và tác nhân gây bệnh, vượt qua và đi trực tiếp vào máu. Điều này có hai mặt: Nó rất tốt cho trẻ bú sữa mẹ vì nó cho phép các kháng thể có lợi trong sữa mẹ xâm nhập  trực tiếp vào máu trẻ. Tuy nhiên, nó cũng có nghĩa là các protein từ thực phẩm dễ gậy dị ứng và các mầm bệnh có thể xâm nhập và khiến trẻ bị dị ứng và dễ ốm đau nếu mẹ cho con ăn dặm sớm.  Ăn dặm muộn giúp trẻ giảm nguy cơ thiếu máu vì thiếu sắt Nghe lạ lùng nhưng là đúng thật. Việc cho con ăn bổ sung sắt và các loại thực phẩm tăng cường chất sắt, đặc biệt là trong sáu tháng đầu tiên, lại làm giảm khả năng hấp thụ sắt của em bé. Thực sự là những trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu luôn có đủ lượng sắt cần thiết và chỉ bị thiếu hụt khi bước qua tháng thứ 6,7. Ăn dặm muộn giúp duy trì nguồn sữa mẹ.  Có thể giải thích đơn giản: trẻ bắt đầu được thêm thức ăn dặm vào khẩu phần ăn hàng ngày của mình, đương nhiên bé sẽ uống ít sữa đi. Bé càng ăn nhiều bột sẽ càng bỏ sữa sớm. Nhu cầu sữa của trẻ ít đi khiến cơ thể người mẹ cũng không còn sản xuất được nhiều nữa. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những trẻ ăn dặm sớm thường có xu hướng cai sữa sớm hơn những bé khác. Ăn dặm muộn sẽ giúp bé ăn hợp tác hơn  Được ăn dặm đúng với thời điểm cơ thể muốn và cần sẽ khiến trẻ hợp tác hơn, có hứng thú hơn với thức ăn và ăn ngon miệng hơn. Nết ăn ngoan ngay từ những ngày đầu sẽ theo trẻ suốt về sau, giúp bé đỡ rơi vào tính trạng chán ăn và khiến mẹ bớt căng thẳng. Trẻ còn ăn cháo, ăn cơm cả cuộc đời sau này, do đó, mẹ không cần phải vội vã cho con ăn dặm sớm 1,2 tuần. Điều đó hoàn toàn không thiết thực
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề